1. Có bột mới gột nên hồ…
Thì đúng rồi, người ta không thể gột hồ từ nước
lã. Nhưng vấn đề là có bột rồi thì gột như thế nào để thành hồ có giá trị, chứ
hồ cũng có nhiều loại lắm, từ hàng chợ giá rẻ đến thương hiệu cao cấp. Trong
văn chương, bột là hiện thực cuộc sống, hồ là tác phẩm mà văn nghệ sĩ sáng tạo
ra. Cũng là sách cả, nhưng có cuốn được tác giả kính tặng mà người ta cũng tiếc
thời gian đọc, nhưng có cuốn người ta lại bỏ tiền ra mua, phải tìm cho bằng
được để đọc. Cái thời đánh đồng mọi người viết, mọi cuốn sách đã qua rồi. Tuy
nhiên, thời nào cũng có mặt phải và mặt trái của nó. Thời buổi kinh tế thị
trường cũng phải cảnh giác với nhiều giá trị ảo, những tác phẩm được lăng xê
vượt quá xa giá trị thực.
Để tạo nên một tác phẩm có giá trị, hiện thực cuộc
sống có cần nhiều không? Thực ra là tùy thuộc tạng của từng người
viết. Có người viết văn chuyên đi nước ngoài như đi chợ, tức là biết rất nhiều,
biết cả thế giới nhưng cũng có viết được gì đâu. Nguyễn Du viết Truyện
Kiều, kỳ thực là chuyển thể tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Trung
Quốc thành thơ lục bát Việt Nam, tất nhiên phải hòa vào bột Việt Nam,
mà thành ngọc, thành kim cương. Nhà thơ trào phúng Tú Xương thì phải trào
phúng trên cơ sở hiện thực rồi, đó là những bức tranh lố lăng của xã hội nửa
Tây nửa ta đầu thế kỷ XX. Nhưng tác phẩm thành ngọc của ông thì lại lắng đọng,
đông kết từ hồn ông, chứ hiện thực ở đây cần rất ít, rất sơ sài: Sông
kia giờ đã nên đồng/ Chỗ thành nhà cửa chỗ trồng ngô khoai/ Vẳng nghe tiếng ếch
bên tai/ Giật mình lại tưởng tiếng ai gọi đò (Sông lấp).
Còn cậu bé Trần Đăng Khoa lúc mười tuổi, chắc
cũng còn ngây thơ chưa có vốn sống vốn thực tế gì nhiều, đã viết bài Đêm
Côn Sơn có hai câu thơ đáng để tung lên trời trong ngày thơ Việt Nam: Ngoài
thềm rơi cái lá đa/ Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng. Cái lá đa là
chất liệu hiện thực thì làm gì tìm thấy ở trước thềm chùa Côn Sơn… Thế thì phải
hiểu bột ở đây là như thế nào mà đã gột nên hồ có giá trị
cao? Những lý thuyết cứng nhắc, quá đề cao tôn sùng hiện thực đều không thể
lý giải được. Vậy nên lời nói của Gơttơ: Mọi lý thuyết đều màu xám mà
cây đời mãi mãi xanh tươi mới truyền được đi khắp thế giới. Cho nên ông
cha ta, ngoài việc khẳng định Có bột mới gột nên hồ lại có một câu lơ
lửng Nước lã mà vã nên hồ/ Tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan. Tư duy của
ông cha ta, tuy ảnh hưởng bởi cửa Khổng sân Trình, nhưng vẫn giữ được tư duy
mở. Có thế thời nay con cháu mới nhanh chóng hội nhập được với thế giới. Đây
cũng là bài học cho những ai làm công tác lý luận, làm công tác quản lý và cả
những ai muốn hiểu biết và sáng tạo trên mọi lĩnh vực.
Làm thế nào mà chỉ cần ít bột mà được nhiều hồ,
và hồ có giá trị cao? Đây là điều đặc biệt khó, bởi nó vượt ra ngoài quy luật.
Thì văn chương nghệ thuật chính là chuyện vượt ra ngoài quy luật, vượt lên
trên quy luật. Có điều, muốn bay được thì trước hết phải biết đi, rồi biết chạy.
Muốn có được vàng, ngọc thì phải tìm được những mạch sa thạch. Muốn có được
tác phẩm hay thì trước tiên phải biết viết, biết sáng tạo tác phẩm. Không thể
xuất hiện những đỉnh núi cao mà bốn phía chỉ là đầm lầy. Cụ Nguyễn Trãi tuy
không phải là một nhà triết học, nhưng thơ của cụ cũng mang nặng tinh khí của
đất trời: Họa phúc có nguồn phải đâu một buổi. Đó là quy luật, mà cũng
là vượt trên quy luật.
2. Chỉ miêu tả cũng bất tử
Có lẽ tả cảnh, tả người là thủ pháp nghệ thuật
đơn giản nhất của người làm thơ, viết văn. Nên các nhà thơ thường không để
tâm nhiều đến điều này, mà tập trung vào những điều cao siêu, sâu xa của tư
tưởng, tình cảm. Nhưng thực tế cho thấy thể hiện những điều to tát cao siêu
mà nghệ thuật không cao thì cũng không được ai nhớ đến. Ngược lại, chỉ miêu tả
thôi nhưng đặc sắc, độc đáo thì cũng sống với muôn đời.
Bài thơ Hoàng hạc lâu của Thôi Hiệu đời
Đường (Trung Quốc) còn lưu truyền đến mai sau, thực chất chỉ là một bài thơ
miêu tả. Tả cảnh, tả tình. Kim Thành Thán đã bình rồi. Mọi người yêu thơ ai
ai cũng thuộc qua bản dịch của Tản Đà.
Có gì cao siêu đâu, chỉ có 8 câu thơ miêu tả trực
tiếp, nhưng mỗi câu là một thanh minh châu dựng thành một lầu ngọc cho nghìn
năm ngắm mãi không chán.
Đại thi hào nguyễn Du có nhiều đoạn thơ tả cảnh đặc
sắc mà những người mê Kiều nhiều thế hệ vẫn truyền tụng. Nhưng có lẽ tài năng
của Tố Như đặc sắc nhất là miêu tả vẻ đẹp hai chị em Thúy Kiều để nhiều người
mê mẩn. Đẹp như Kiều đã thành câu cửa miệng của lời khen. Nhưng cụ
Nguyễn không trực tiếp tả Thúy Kiều mà dùng phương pháp vẽ mây nảy trăng,
tức là cụ đi tả Thúy Vân:
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da
Từ đó mà gián tiếp tôn thêm vẻ đẹp Thúy Kiều: Kiều
càng sắc sảo mặn mà/ So bề tài sắc lại là phần hơn. Rồi cụ tập trung vào đôi
mắt, bởi vì “thần tại lưỡng mục”: Làn thu thủy, nét xuân sơn, và so sánh Hoa
ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh... Thế là đủ để người đẹp sống muôn đời.
Miêu tả trực tiếp, miêu tả gián tiếp đều có những
sức mạnh riêng. Thậm chí chỉ ký họa thôi, nhưng biết thổi hồn vào từng nét
thì bức tranh vẫn lung linh. Đó là trường hợp nhà thơ Tố Hữu miêu tả Bác Hồ
trong bài thơ “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”. Tác giả chỉ vẽ có một vài nét, thực
ra là chỉ có một nét chính: Bác đang cúi xuống bản đồ. Một nét thật tài
tình bắt đúng được cái thần của vị tổng tư lệnh cuộc cách mạng. Còn mấy nét mờ
phỏng đoán và tưởng tượng về Bác chứ Tố Hữu lúc này có ở cạnh Bác đâu mà miêu
tả trực tiếp. Có điều mấy nét phụ này cũng tự nhiên như nét chính nên hình ảnh
Bác vừa độc đáo vừa sống động. Không chắc những trường ca về Bác có thể vượt
qua.
Chỉ miêu tả cũng bất tử, chứ đâu cần cao siêu. Miễn
là nhà thơ bằng tài năng phải như người họa sĩ vẽ chim, khi bức vẽ hoàn hảo
chỉ cần nhỏ một chấm mực cuối cùng vào mắt chim là chim vỗ cánh bay lên.
3. Tính thời sự và giá trị vĩnh cửu
Là người làm thơ viết văn ai cũng muốn những gì
mình viết ra có giá trị vĩnh cửu. Nhưng điều ấy khó vô cùng. Đối với những
nhà thơ nhà văn đích thực, mong ước ấy có khi cũng không đạt được một phần
trăm. Còn văn chương trong cơ chế thị trường này, phấn đấu để một phần nghìn
số tác phẩm xuất bản còn lại với thời gian e rằng cũng rất khó. Thì cứ thử
tính, mỗi năm nước ta có một nghìn tác phẩm gọi là văn chương được in ấn, sao
còn lại được một tác phẩm sống mãi với thời gian đã quý lắm rồi. Nếu mỗi
năm có một tác phẩm bất tử thì sau hơn hai chục năm đổi mới, nền văn chương
nước nhà phải có được hơn hai mươi tác phẩm đặc sắc. Các nhà văn và những người
yêu văn chương thử đếm xem có được không?
Nhưng làm thế nào để có được những tác phẩm hay,
tác phẩm sống mãi với thời gian thì không ai có thể trả lời quả quyết được.
Chúng ta có thể biết những yếu tố chung nhất, đường hướng, phương pháp để tác
phẩm hay có thể ra đời. Nhưng cuộc sống luôn luôn có những yếu tố bất ngờ. Có
khi có đầy đủ các yếu tố để người tài, tác phẩm hay xuất hiện, nhưng thực tế
thì nó vẫn không xuất hiện. Mà nó lại xuất hiện một cách bất ngờ ở những nơi
còn thiếu những yếu tố thuận lợi đó. Thì đấy bao nhiêu nhà thơ ở thành phố đầy
tri thức, đầy không khí văn chương nhưng đã không đẻ ra thần đồng thơ ca. Trần
Đăng Khoa thì lại ra đời ở một vùng quê không có gì đặc sắc, mà bố mẹ thần đồng
hoàn toàn là nông dân thuần túy.
Còn có nhiều người viết văn, làm thơ đã khôn
ngoan chỉ sáng tác về những chủ đề bất tử như tình yêu, thân phận con người.
Tưởng rằng có thể bám vào đề tài, chủ đề muôn thuở để sống với muôn đời.
Nhưng nếu để bất tử mà dễ thế thì rồi để đâu cho hết tên tuổi và tác phẩm mà
các thế hệ sau phải mang vác? Thực tế, những người cố tình lựa chọn đề tài
sáng tác thì tác phẩm của họ may ra cũng chỉ được nhắc đến trong văn học sử
khi nhắc đến đề tài đó mà thôi. Mà người đẹp thật sự thì không thể là của
riêng làng nào, ngõ phố nào cả!
Lại nhiều người sợ viết về những đề tài thời sự.
Làm như thể viết theo yêu cầu của cuộc sống thì tác phẩm chỉ có giá trị nhất
thời. Thật là một sự nhầm lẫn to lớn. Tất cả những tác phẩm bất tử đều là những
tác phẩm ra đời theo yêu cầu của cuộc sống. Cuộc sống cần có tác phẩm ấy thì
tác phẩm ấy ra đời. Lựa chọn thế nào được! Chính cuộc sống đẻ ra những tài
năng và tác phẩm danh tiếng. Mà những tác phẩm kết tinh giá trị văn chương của
một thời thì sẽ có giá trị mãi mãi. Này nhé tác phẩm Chinh phụ ngâm là
tiếng nói oán thán chiến tranh phi nghĩa của thế kỷ XVII – XVIII, mà thế kỷ
XX với hai cuộc kháng chiến chính nghĩa chống Pháp và chống Mỹ, sao tác phẩm
này vẫn được đề cao?
Tôi không đồng tình với Trần Đăng Khoa khi anh viết
trong tác phẩm Chân dung và đối thoại rằng: Còn không ít những
cuốn sách khác được gọi là tiểu thuyết chỉ là sản phẩm của một thời, thậm chí
hạn hẹp hơn là sản phẩm của một cơ chế. Khi hợp tác xã nông nghiệp chia ruộng
đất cho từng gia đình, làm ăn cơ bản như thời chưa có hợp tác xã, những cuốn
sách viết về nó còn có ma lực cho các thế hệ sau nữa không? Và như thế toàn bộ
sự nghiệp của ông Đào Vũ, ông Chu Văn và bà Nguyễn Thị Ngọc Tú sẽ được đưa
lên cái cân bé tý đầy sóng gió này. Thực ra, cân một tác phẩm văn chương là
cân ở tài năng chứ không phải ở đề tài. Thì bây giờ các chiến sĩ cộng sản có
còn ai bị tù đày đâu, chẳng nhẽ vì thế mà giá trị của tác phẩm Nhật ký
trong tù và Viết dưới giá treo cổ lại giảm đi?.
Nguồn: Vănnghệ
Theo http://www.bichkhe.org/
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét