Bàn thêm về nguồn gốc người Việt
Phải nói rằng, công trình nghiên cứu Ða dạng di truyền
người Hán (Chinese Human Genome Diversity Project) của nhóm nhà khoa học
Trung Quốc và Mỹ do giáo sư Y. Chu chủ trì, được công bố cuối năm
1998 đã làm đảo lộn nhận thức của giới khoa học về nguồn gốc của người Ðông
Á. Một số nhà nghiên cứu người Việt ở nước ngoài đã mau chóng chuyển tải
thông tin này. Hai bài viết của luật sư Cung Ðình Thanh và giáo sư Nguyễn
Văn Tuấn sống tại Úc là những khảo cứu có giá trị.
Tuy nhiên, nếu nhìn lại, cả hai bài viết đó, bên cạnh những
ưu điểm rất lớn vẫn còn những lý giải chưa thuyết phục, dễ gây ngộ nhận.
Trong chuyên khảo "Nhờ tiến bộ của di truyền học
(DNA), phải chăng đã đến lúc chúng ta có thể khẳng định được nguồn gốc dân tộc
Việt Nam?" đăng trên tập san Tư Tưởng, sau đó được lưu
giữ tại mạng Linhnam, tác giả Cung Ðình Thanh viết: "Câu hỏi cần được đặt
ra là: Tại sao cũng từ Ðông Nam Á ra đi mà người ra hải đảo thì da sậm, tóc
xuăn; trong khi người ngược phía Bắc lại thuộc da vàng, tóc đen? Cần phải có
sự nghiên cứu về di truyền học và có thêm tài liệu khảo cổ để trả lời câu hỏi
này cho xác đáng. Trong hoàn cảnh tài liệu hiện có, chỉ có thể giả thiết, người
Phi châu đến Ðông Nam Á rồi tiện đường (lúc này nước biển thấp nên có nhiều cầu
nối liền Ðông Nam Á đến hải đảo) ra hải đảo Thái Bình Dương trước. Trong khi
trụ lại Ðông Nam Á, họ đã hội đủ các yếu tố khoa học để có được một
cấu trúc di truyền lần hai, biến từ giống da đen sang giống da vàng trước khi
họ tiến lên phia Bắc. Vậy phải chăng người Hắc chủng từ Phi Châu đến Ðông Nam
Á rồi nhờ hội đủ yếu tố khoa học, đủ cơ duyên, đã biến đổi thành người da
vàng mà sau này nhân chủng học gọi bằng tên Mongoloid. Từ đó họ đã tỏa lên
phía Bắc vượt sang châu Mỹ tạo thành người Da Ðỏ."
Còn trong bài viết: Nguồn gốc người Việt theo di truyền
học, đăng tên Tập san Tư Tưởng rồi được đưa lên mạng Linhnam, giáo
sư Nguyễn Văn Tuấn nghi ngờ phát hiện rất quan trọng của Ballinger(1):
"Người Ðông Á là người Mông Cổ phía Nam." Ông cho rằng nghiên cứu
này do thực hiện trên quá ít mẫu nên không đủ độ tin cậy. Và ông đề nghị phải
có công trình nghiên cứu di truyền học lớn hơn để có kết luận thỏa đáng.
Chính sự "trục trặc" ở những người tiên phong
trong việc giới thiệu quan điểm mới này ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức và
tâm lý của người đọc.
Chúng tôi, trong khả năng hạn chế của mình muốn thử bàn lại
chuyện này.
VỀ BÀI VIẾT CỦA LUẬT SƯ CUNG ÐÌNH THANH:
"Tại sao cũng từ Ðông Nam Á ra đi mà người ra hải đảo
thì da sậm, tóc xuăn; trong khi người ngược phía Bắc lại thuộc da vàng, tóc
đen?" Câu hỏi đặt ra là đúng, nhưng cho rằng: "Trong khi trụ lại
Ðông Nam Á, họ đã hội đủ các yếu tố khoa học để có được một cấu trúc di truyền
lần hai, biến từ giống da đen sang giống da vàng trước khi họ tiến lên phia Bắc." là
lời giải khó thuyết phục. Lời giải như vậy, chỉ có giá trị như một suy
đoán. Muốn cho suy đoán này chấp nhận được, cần phải rất nhiều chứng
minh, ít nhất hai điều: 1, Thực sự đã xảy ra đột biến (mutation) đối với người
tiền sử Ðông Nam Á và 2, Những nhân tố thực sự đã tạo ra đột biến đó? Cho
đến nay khoa học chưa tìm ra bằng chứng về một đột biến di truyền như vậy đồng
thời cũng không tìm được trong môi sinh Ðông Nam Á những yếu tố đặc
biệt như phóng xạ, hóa chất có thể gây ra cuộc đột biến khoảng 50.000 năm trước.
Nếu theo ý tác giả thì, để chứng minh được giả thiết trên, "cần phải
có sự nghiên cứu về di truyền học và có thêm tài liệu khảo cổ để trả lời câu
hỏi này cho xác đáng." Như vậy có nghĩa là còn cần phải bỏ ra rất rất
nhiều thời gian, công sức, tiền bạc mới có thể xác định được chắc
chắn nguồn gốc người Việt! Thông tin như vậy dễ làm nản lòng người từng quá
lâu chờ đợi. Thật may mà sự việc lại không như tác giả đoán định.
Sở dĩ vị luật sư đáng kính lấn cấn ở chỗ này vì những lẽ
sau:
1- Khi khảo sát công trình của nhóm giáo sư Y Chu, Li Jin.
ông đã bỏ qua chi tiết "Người tiền sử dừng lại ở đây trong khoảng 10.000
năm, họ lai giống với nhau. 50.000 năm trước, người từ Ðông Nam Á đến châu Uc."
Như vậy, trong lộ trình thiên di, không phải người tiền sử đến Ðông Nam Á rồi
chia tay nhau ngay: một bộ phận ở lại còn bộ phận khác thì tiếp tục hành
trình sang châu Úc. Thực tế là, họ có sự dừng chân chung đụng lai giống trên
lục địa Ðông Nam Á rồi 10.000 năm sau mới chia tay nhau! Kết quả là, ở thời
điểm chia tay ấy, cấu trúc di truyền của phần lớn (HVT nhấn mạnh) dân
cư Ðông Nam Á đã gần như hòa đồng và không còn giống với tổ tiên họ khi đặt
chân tới đây. Người đi sang Úc cũng có bộ genes giống với người ở lại. Chính
điều này giải thích sự gần gũi về di truyền giữa thổ dân châu Úc và người
Ðông Nam Á hiện đại như phát hiện của nhóm giáo sư Y. Chu.
2- Thứ hai: Trong công trình của mình, các tác giả của Dự
án đa dạng di truyền người Hán đã không đề cập vấn đề rất quan trọng: người
tiền sử đến Ðông Nam Á gồm một hay nhiều chủng người? Chính vì không có
thông tin này khiến cho những người khảo cứu dựa trên công trình của họ bị bối
rối, đưa ra những lý giải thiếu thuyết phục. Thực ra vấn đề này từ lâu đã được
nhân chủng học phát hiện. Bằng nghiên cứu hình thái học hàng loạt sọ cổ Ðông
Nam Á, nhà nhân chủng học Nguyễn Ðình Khoa cho thấy: "Người tiền sử đến
Ðông Nam Á gồm hai đại chủng Australoid và Mongoloid. Trong quá trình chung sống
đã có sự lai giống giữa họ thành hai chủng Indonesien, Melanesien cùng những
chủng lai giữa chúng với nhau là Negritoid, Vedoid" (2)
Khi kết hợp giữa phát hiện mới của di truyền học với những
kiến thức vốn có về nhân chủng học Ðông Nam Á như trên, vấn đề về thành phần
nhân chủng của người tiền sử Ðông Nam Á trở nên rõ ràng:
Ðặt chân tới Ðông Nam Á, hai đại chủng tiền sử Australoid
và Mongoloid lai nhau tạo ra các chủng Indoneisen và Melanesien, Vedoid,
Negritoid. Tài liệu từ thống kê sọ cổ cũng như di truyền học cho thấy ưu thế
vượt trội tới mức lấn át của yếu tố Australoid trong thành phần dân cư Ðông
Nam Á. Sau 10.000 năm là thời gian đủ cho họ tăng về số lượng, tràn khắp Ðông
Nam Á lục địa. Do sự tăng nhân số mà nhu cầu di cư nảy sinh. Từ đây họ tỏa ra
châu Úc, Newguenea cùng các hải đảo Ðông Nam Á.
Khoảng 40.000 năm trước, nhờ băng hà tan, thời tiết ấm lên,
người Ðông Nam Á đi lên khai phá lục địa Trung Hoa rồi tiếp đó vượt eo Bering
sang chiếm lĩnh châu Mỹ. Suốt trong thời gian này không hề có bất kỳ đột biến
(mutation) nào mà chỉ có hòa huyết tự nhiên giữa những thành phần người có mặt
ở Ðông Nam Á. Hoàn toàn không hề có chuyện người da sậm tóc xoăn đột biến
chuyển hóa thành người tóc đen da vàng như ông Cung Ðình Thanh giả định.
Có thể khẳng định: suốt thời gian này, thành phần chủ yếu,
đa số tuyệt đối trong dân cư Ðông Á, châu Úc là Australoid với những chủng
Indonesien, Melanesien, Vedoid.
Vậy người Mongoloid đi đâu? Vì sao sau này lại chiếm đa số
trong dân cư Ðông Á? Tôi xin trình bày ở phần sau
2/ VỀ BÀI VIẾT CỦA G.S NGUYỄN VĂN TUẤN
Trong bài viết của mình, G.s Nguyễn Văn Tuấn trình bày sáng
rõ và thuyết phục nguồn gốc người Việt theo những phát hiện mới nhất về di
truyền học. Tuy vậy, tác giả hình như không thỏa đáng khi phản bác ý kiến của
Ballinger cho rằng người Ðông Nam Á có nguồn gốc Mông Cổ phương Nam. (were
observed in the Vietnamese suggesting a Southern Mongoloid origin of Asians). Phát
hiện của Ballinger là rất quan trọng, nó như cái chìa khóa giải quyết vấn đề
nhân chủng học Ðông Nam Á. Bác bỏ ý kiến của Ballinger cũng có nghĩa chặn đứt
con đường tìm ra lời giải về nhân chủng Ðông Nam Á. Tuy nhiên, theo ý chúng
tôi thì Ballinger hoàn toàn chính xác: đúng là người Ðông Nam Á có nguồn
gốc Mông Cổ phương nam.
Chúng tôi cho rằng, trong điều kiện tự nhiên và xã hội lúc
đó, người tiền sử tới Ðông Nam Á một cách riêng biệt theo từng nhóm chủng tộc
khác nhau, trong hành trình dài dằng dặc. Chỉ khi tụ lại trên đồng bằng
Sundaland, Nanhailand và miền Trung miền Bắc Việt Nam, hai đại chủng người tiền
sử mới có sự chung đụng và lai giống (cố nhiên, không loại trừ sự lai giống
ngẫu nhiên trên đường đi). Kết quả là hình thành một cộng đồng lai chiếm tuyệt
đại đa số cư dân. Ðấy là bức tranh chung. Nhưng đó không phải là tất cả mà
bên cạnh còn những ngoại lệ: Có thể một số nhóm Mongoloid hay Australoid suốt
trên đường thiên di không hề có sự gặp gỡ nào với chủng người khác. Tới Ðông
Nam Á, họ cứ sống biệt lập như vậy. Một vài nhóm Mongoloid vượt lên tây bắc
Ðông Nam Á sau đó theo đường Ba Thục lên định cư ở vùng tây bắc Trung Quốc. Ở
đây họ sống cách biệt với phần còn lại của nhân loại và hình thành chủng
Mongoloid phương Bắc. Suốt trong nhiều ngàn năm, họ từ săn bắt rồi chuyển
sang phương thức du mục trên thảo nguyên Thiểm Tây, Cam Túc và nước Mông Cổ.
Cuộc thiên di của những nhóm người biệt lập như trên được
nhiều học giả xác nhận. Gs. Ranjan Deka Ðại học Cincinnati Hoa Kỳ, một trong
những người tham gia Dự án Ða dạng di truyền người Hán công bố: "Những
quần thể từ Ðông Á tới luôn luôn bắt nguồn từ một dòng riêng rẽ, điều này tạo
nên nguồn gốc riêng biệt của những quần thể đó."(3) Sự kiện này
cũng tìm được dẫn chứng trong khảo cổ học: "Ðiều khó khăn nhất là rất
ít sọ người được tìm ra ở đấy, dù có di chỉ đồ đá ở Mông Cổ (văn hóa Hetao)
và ở bắc Trung Hoa vào hậu kỳ đá cũ. Ngoài ba sọ thuộc lớp khảo cổ trên ở
trong hang Zhoukoudian xem như thuộc chủng tiền (proto) Mongoloid, người ta
chỉ tìm được sọ Liujiang (Quảng Tây). Sọ này có tuổi định khá trẻ (10.000 năm
trước), nhưng di vật trong Bailiandong (Bạch Liên động) gần đó lại có tuổi
30.000 năm trước.(4) Dù rất hiếm hoi nhưng những dấu vết trên cho thấy: người
Mongoloid từ Ðông Nam Á theo hành lang phía tây lên tây bắc Trung Quốc. Việc
nghèo nàn di vật cũng nói lên một điều: nhóm người này tuy đi làm nhiều đợt
nhưng vì số lượng không nhiều nên chỉ tạo được quần thể thiểu số Mongoloid
phương Bắc.
Luật sư Cung Ðình Thanh cho rằng: "Người ở lại Ðông
Nam Á có sự chuyển hóa di truyền thành da vàng, đi lên trung Quốc rồi sang
châu Mỹ." Ý kiến này là sự phỏng đoán không có cơ sở. Các tư liệu
khảo cổ cũng như di truyền học xác nhận: cho đến thiên niên kỷ thứ III TCN,
dân cư trên toàn vùng Ðông Á tuyệt đại đa số thuộc về Australoid. Chính những
người Indonesien, Melanesien này đã vượt eo Bering sang châu Mỹ.
Quá trình Mongoloid hóa chỉ xảy ra vào thiên niên kỷ thứ
III TCN khi người Hán Mông Cổ vượt Hoàng Hà xuống chiếm đất của người Bách Việt.
Chính người da vàng từ Tây Bắc xuống đã lai với người da sậm màu tại chỗ tạo
thành chủng Mongoloid phương nam. Ðó là quá trình lai tạo chuyển hóa lâu dài
mà dấu vết còn đậm ở đời nhà Thương và sau nữa: "Thang, ông vua đầu tiên
của Trung Hoa được mô tả là có nước da đen bóng. Triết gia nổi tiếng Lão tử cũng có màu da đen”(5)
Khoảng 2800 năm TCN, khi thấy những người da ngăm đen, tóc
xoăn trồng lúa nước phía Nam sông Hoàng Hà có cuộc sống sung túc, ý thức thực
dân trong đầu những người Hán Mông Cổ nổi lên. Họ kiên trì cuộc lấn chiếm với
vó ngựa và cung nỏ, dáo mác. Khoảng 2600 năm TCN, bằng chiến dịch lớn Trác Lộc
trên sông Hoàng Hà, người Hán Mông Cổ toàn thắng, tràn xuống vùng đất vừa chiếm
được. Cuộc gặp gỡ này phải chăng là định mệnh đã tạo ra một chủng
người mới trên địa bàn Ðông Á: chủng Mongoloid phương Nam. Phải chăng
cũng là định mệnh việc một nhóm người sống tách biệt với bầy đoàn ở tận vùng
Tây Bắc xa vời đã giữ gìn vốn genes Mongoloid để khi gặp những người
Indonesien, Melamesien, vedoid từ phương Nam đi lên thì xảy ra phản ứng dây
chuyền của cuộc hòa huyết vĩ đại tạo nên tuyệt đại dân số Ðông Á hôm nay? Lịch
sử chứng kiến một cuộc lội ngược dòng ngoạn mục: trên toàn địa bàn Ðông Á có
một quá trình Mongoloid hóa mạnh mẽ. Thành phần Australoid đang là chủ thể suốt 50.000
năm thì trong ba thiên niên kỷ cuối cùng gần như biến mất khỏi địa bàn Ðông
Á, nhường chỗ cho thành phần Mongoloid!
Giáo sư Nguyễn Ðình Khoa của Ðại họcTổng hợp Hà Nội trình
bày trong Nhân chủng học Ðông Nam Á: "Thời đại Ðá Mới, cư dân trên lãnh
thổ Việt Nam thuộc hai đại chủng Australoid và Mongoloid cùng các loại hình hỗn
chủng giữa chúng cộng cư với nhau, trong đó có Indonesien và Melanesien là
hai thành phần chủ yếu... Sang thời Ðồng-sắt, người Mongoloid đã là thành phần
chủ thể trong khối cư dân Việt Nam, người Australoid mất dần đi trên đất nước
này, hoặc do thiên cư hoặc do đồng hóa."(Nguyễn Ðình Khoa Sđd) Ðó
cũng chính là bức tranh toàn cảnh dân cư Ðông Nam Á hiện đại.
Như vậy là, một cách nông cạn, chúng tôi tưởng đã hóa giải
những điều còn ngờ vực, những điều còn chưa rõ ràng trong hai công trình khảo
cứu của những tác giả đi trước.
Vấn đề về nguồn gốc người Việt nói riêng và người Ðông Á
nói chung đã được xác định.
Tìm lại cội nguồn tổ tiên cội nguồn văn hóa
Trên đây là những nét lớn, có tính khái quát. Đi vào cụ thể,
ta điểm qua vài chứng cứ bằng văn tự như sau:
Theo cuốn sử sớm nhất của Trung Quốc
là Sử ký thì chủng tộc Việt Nam bắt nguồn từ nhà Hạ (2205-1770 TCN).
Câu Tiễn (505- 465 TCN) vua nước Việt là hậu duệ của vua Hạ Vũ. Nước Sở của Khuất
Nguyên cũng là dòng Việt bởi vậy Khuất Nguyên mới ai oán tiếc thương dòng giống
Việt trong Sở Từ: Răng đen mình trổ dọc ngang. Xăm mình, cắt tóc ngắn, nhuộm
răng đen là đặc điểm của người Việt thời đó.
Trước đây, chúng ta mang mặc cảm là đám Tàu lại bị xua đuổi,
liều chết chạy về Nam theo bản năng sinh tồn nên vẫn cho mình là kẻ nhập cư
trên đất đai người khác, nhất là khi phát hiện ra trong huyết quản đậm phần máu
Mongoloid. Trước những nền văn hóa rực rỡ Hòa Bình, Phùng Nguyên của người tiền
sử, chúng ta cũng tự hào nhưng là niềm tự hào vay mượn bởi mặc cảm của kẻ khác
chủng tộc, không liên hệ gì đến chủ nhân của những nền văn hóa đó!
Rồi chúng ta phát hiện ra rằng: tổ tiên ta từ đất nước Việt
Nam đã mang gươm (rìu đá) đi mở cõi khai thác mở mang đất nước Trung Hoa, tại
đây xuất hiện vị tổ gần hơn là Thần Nông vùng Thái Sơn từng giáo dân nghệ ngũ cốc.
Tổ tiên đã mở đất, đã chiến đấu kiên cường với kẻ xâm lấn rồi khi không thể ở lại
được đã trở về mái nhà xưa. Chính những hậu duệ đi xa trở về này do
phải tiếp xúc, đối đầu với nền văn minh du mục, với kẻ địch mạnh đã trở nên mạnh
mẽ và khôn ngoan hơn. Điều khôn ngoan nhất mà các vua Hùng đem đến cho người Việt
phương Nam là tổ chức nhà nước. Chính nhà nước dù còn lỏng lẻo này đã
làm thay đổi về chất trong quan hệ của cộng đồng Việt: từ quan hệ bộ tộc chuyển
sang quan hệ quốc gia. Quan hệ này giúp các vua Hùng sáng tạo nên văn minh Đông
Sơn rực rỡ và có được sức mạnh trong đấu tranh với kẻ thù.
Tới đây, tự nhiên nảy sinh câu hỏi: Vì sao trong thời gian
hàng vạn năm, số dân Bách Việt tăng nhanh, phạm vi phân bố mở rộng ra mênh
mông, trong khi người Mông Cổ số dân tăng không đáng kể và chỉ loanh quanh ở mạn
Bắc sông Hoàng Hà? (Bằng chứng xã hội học cũng như di truyền không cho thấy người
Mongoloid phương Bắc có mặt ở châu Mỹ).
Có thể lý giải điều này bằng 3 nguyên nhân: khí hậu- thổ nhưỡng,
phương thức sống và di truyền:
1/ Khí hậu lạnh không tạo thuận lợi cho sinh sản. Dân số tăng
chậm không đòi hỏi mở rộng vùng phân bố.
2/ Phương thức sống du mục nên người Mông sống bám vào đồng cỏ
cao nguyên, không có khả năng chinh phục miền đất ẩm thấp mạn Nam sông
Hoàng.
3/ Người Mông phương Bắc mang gen từ tổ tiên Mongoloid thiên
di lên và sống biệt lập nên không kịp hòa huyết với chủng người khác, trong bộ
gene tương đối thuần của họ mang khả năng sinh sản thấp. Điều này còn thấy
trong chủng Mongoloid hiện nay.
Từ đó có thể rút ra kết luận: việc xuống phía Nam hòa huyết với
người Bách Việt mang dòng máu Indonesien, Melanesien và trồng lúa nước mở ra vận
hội lớn đối với người Hán, chẳng những đã cứu họ thoát khỏi tình trạng sinh sản
thấp như người Mông Cổ đồng chủng mà còn cho họ hưởng nền văn minh nông nghiệp
phát triển rực rỡ. Chính ba nhân tố này tạo nên dân số đông đúc cùng văn hóa ưu
tú của dân tộc Trung Hoa hiện đại.
Như vậy là một cách ngắn gọn, tôi đã trình bày một phần về CỘI
NGUỒN TỔ TIÊN.
Sở dĩ chỉ dám nói một phần vì còn một câu hỏi vô cùng bức
xúc chưa được trả lời: NHÀ TRIỆU CÓ VAI TRÒ GÌ TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT?
Từ khi giành lại quyền tự chủ, các triều đại Việt đều đề cao
vai trò lịch sử của Triệu Đà. Nhà Trần phong ông là Khai thiên thế đạo thánh vũ
thần triết hoàng đế.(25) Đại Việt sử ký toàn thư ghi: "Họ Triệu nhân lúc
nhà Tần suy loạn, giết trưởng lại nhà Tần, chiếm giữ đất Linh Nam xưng đế, đòi
ngang với nhà Hán, hưởng nước truyền ngôi 100 năm mới mất, cũng là bậc vua anh
hùng." Sử gia Lê Văn Hưu nói: "Thế mới biết, người giỏi trị nước
không cứ đất rộng hay hẹp, người Hoa hay Di, chỉ xem ở đức mà thôi. Triệu Vũ đế
khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư
xưng là "lão phu", mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước ta, công ấy có
thể nói là to lắm vậy." Trong An Nam chí lược, Lê Tắc viết: "Triệu Đà
làm vua Nam Việt, mới lấy thi lễ giáo hóa nhân dân một ít." Điều này chứng
tỏ Triệu Đà là người mang sự học đến nước ta từ trước chứ không phải Sĩ Nhiếp. Đến
nhà Lê, trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết: Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối
đời dựng nước. Như vậy, Nguyễn Trãi thừa nhận Triệu Đà là ông vua đầu tiên của
nước ta từ thời có sử.
Hàng ngàn năm, chính sử Việt Nam ghi nhận vai trò lịch
sử lớn lao của nhà Triệu. Đến thế kỷ XVIII, Ngô Thì Sĩ (1726-1780) trong Việt sử
tiêu án viết: "Nước ta bị nội thuộc vào nước Tàu từ đời Hán đến Đường,
truy nguyên thủ họa chả Triệu Đà thì còn ai nữa? Huống chi Triệu Đà chia nước
ta làm quận huyện, duy chỉ biết biên số thổ địa, thu thuế má, cung cấp ngọc
bích cho nhà Hán, đầy túi tham của Lục Giả thôi. Đến như việc xướng ra cơ nghiệp
đế vương trước tiên, tán tụng Triệu Đà có công to, Lê Văn Hưu sáng lập ra sử
chép như thế, Ngô Sĩ Liên theo cách chép hẹp hòi ấy, không biết thay đổi, đến
như bài Tổng luận sử của Lê Tung, thơ vịnh sử của Đặng Minh Khiêm thay nhau mà
tán tụng, cho Triệu Đà là bậc thánh đế của nước ta. Qua hàng nghìn năm mà không
ai cải chính lại vì thế mà tôi phải biện bạch kỹ càng."(26)
Cho đến nay, trong giới sử học, việc đánh giá Triệu Đà vẫn có
hai luồng ý kiến ngược nhau. Là kẻ ngoại đạo không dám lạm bàn, tôi chỉ xin lục
ra một số tư liệu lịch sử hầu bạn đọc tham khảo.
Trong Sử ký, Tư Mã Thiên viết: "Vua Nam Việt họ Triệu
tên là Đà, người huyện Chân Định, trước làm quan úy. Bấy giờ nhà Tần đã chiếm cả
thiên hạ, cướp lấy đất Dương Việt, đặt ra các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận
để đưa những người bị đày đến ở lẫn với người Việt. Như thế đã mười ba năm. Khi
nhà Tần bị tiêu diệt, Đà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập
làm Nam Việt Vũ vương. Đà bèn tự tôn làm "Nam Việt Vũ đế", đem quân
đánh các ấp ở biên giới quận Trường Sa. Đà nhân đó dùng uy lực uy hiếp biên giới,
đem của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Au Lạc để bắt họ lệ thuộc mình. Đất
đai của Đà chiều ngang có hơn vạn đặm, Đà bèn đi xe mui lụa màu vàng, cắm cờ tả
đạo, mệnh gọi là "chế", chẳng kém gì Trung Quốc." "Đến thời
Hiếu Cảnh, Đà vẫn xưng thần, sai người vào chầu. Nhưng trong nước Nam Việt thì
vẫn trộm xưng danh hiệu "đế" như cũ; còn khi sai sứ sang thiên tử thì
xưng "vương", triều kiến thỉnh mệnh như các chư hầu." (27)
Triệu Đà làm vua 70 năm (từ 207 đến 137 TCN), tiếp đó cháu chắt
ông truyền 4 đời trị vì 27 năm nữa, đến năm 111 TCN nước Nam Việt vào tay nhà
Hán. Nhà Triệu kéo dài được 97 năm.
Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Đôn ghi: "Đem số hộ khẩu
chép ở sách Hán chí mà so thì nước ta được ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật
Nam, hơn 20 huyện, đời Hán số hộ cộng là 143.743 nhà, số khẩu cộng là 981.827
người. Thông tính cả hai tỉnh ấy ( Quảng Đông, Quảng Tây) ở đời Hán số hộ chỉ
là 71.805 nhà, khẩu chỉ là 389.672 người. Như thế nước ta ở đời Hán thì số hộ gấp
đôi mà số khẩu gần gấp ba."(28).
Như vậy, vào năm 220 TCN, nhà Tần chiếm đất của người Việt ở
phía Nam sông Dương Tử, và đưa những tội nhân người Hán đến ở chung với người
Việt để thực hiện ý đồ lấn đất. Do nhà Tần sụp đổ, thiên hạ đại loạn tạo cơ hội
cho Triệu Đà cát cứ. Tuy xưng vương ở Phiên Ngung nhưng số dân của Triệu ít.
Trong khi đó ở phía Nam, nước Au Lạc của An Dương vương khá mạnh, số dân gần gấp
3 số dân của Triệu. Bên cạnh Au Lạc còn có các nước Mân Việt, Tây Au Lạc luôn
tranh chấp. Nước Au Lạc tuy lớn nhất trong khu vực nhưng cũng quá nhỏ so với
nhà nước phương Bắc. Nếu nhà Tần không sụp đổ đúng thời điểm đó, có nhiều khả
năng tằm ăn dâu, nhà Tần sẽ thôn tính đất Nam Việt. Một khả năng khác: trong cuộc
chinh phạt Nam Việt trị tội Triệu Đà xưng đế, nếu tướng Lâm Lư hầu thắng, nhà
Hán chiếm Nam Việt ngay lúc đó, có phần chắc Nam Việt cũng bị đồng hóa như các
dòng Bách Việt khác. Khả năng thứ ba: nếu Triệu Đà theo nhà Hán, sau khi thôn
tính Au Lạc, sáp nhập Nam Việt vào Hán thì có phần chắc là Nam Việt bị xóa sổ
trên bản đồ!
Nhìn vào thực tế nước Au Lạc của Thục Phán, ta thấy, Tục Pắn
(tên Việt của Thục Phán) là người Ba Thục trốn chạy nhà Tần đến nương nhờ Lạc
Việt, đã chiếm ngôi của vua Hùng, lập nên Au Lạc. Ban đầu Tục Pắn bị xem là kẻ
thoán đoạt cướp ngôi nên bị người Lạc Việt chống lại (sự tích xây Loa Thành bị
đổ). Nhưng rồi sau do chính sách cai trị khôn ngoan, nhất là sau hai lần đánh
thắng Triệu Đà, đã được nhân dân tín nhiệm. Về cuối đời do mất cảnh giác nên bị
Triệu Đà dùng mưu thôn tính. Đúng là Triệu Đà dùng thủ đoạn chiếm nước
Au Lạc nhưng ý nghĩa của sự kiện lịch sử này cần phải bàn. Thời đó, sự liên kết
trong mỗi quốc gia còn lỏng lẻo và biên giới từng quốc gia chưa ổn định, đang
trong xu hướng sáp nhập tập trung thành những quốc gia đủ mạnh để tồn tại. Việc
thôn tính các nước Sở, Ngô, Việt... để thành nước Tần không phải hành động xâm
lược mà là công lớn thống nhất đất nước. Tương tự vậy, việc Triệu Đà chiếm Au Lạc
cũng không thể coi là cuộc xâm lược mà là hành động thống nhất những nhóm, những
tiểu quốc người Việt lại thành môt nước Việt lớn hơn, ngăn chặn hành động thôn
tính của kẻ mạnh ở phương Bắc. Điều quan trọng là họ Triệu đã duy trì được nước
Nam Việt thống nhất trong gần một thế kỷ, vừa xây dựng trong hòa bình vừa kiên
cường chống ngoại xâm. Chính điều này đã tạo nên và củng cố tinh thần quốc gia
của người Việt. Đây là di sản quý báu nhất họ Triệu để lại cho người Việt.
Chính gần một thế kỷ tồn tại của quốc gia Nam Việt giúp cho người Lạc Việt
không bị người Hán đồng hóa và sau này có dịp lại vùng lên trong khởi nghĩa Hai
Bà Trưng. Nếu không có may mắn một trăm năm Nam Việt ấy, dám chắc người Hán sẽ
diệt tiểu quốc của Triệu Đà sau đó thôn tính Au Lạc, tộc Lạc Việt đã bị mất hút
trong lịch sử như những dòng Việt anh em khác!
Các sử gia như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên... đã nhìn nhận công bằng
và Nguyễn Trãi đánh giá họ Triệu một cách chuẩn mực. Sử gia Ngô Thì
Sĩ khi viết : "Triệu Đà chia nước ta làm quận huyện, duy chỉ biết biên số
thổ địa, thu thuế má, cung cấp ngọc bích cho nhà Hán, đầy túi tham của Lục Giả"
đã tỏ ra bất cập. So với một quốc gia còn trong tình trạng nguyên thủy với những
lạc hầu lạc tướng cai quản từng bộ lạc thì một quốc gia có quận huyện, biên số
thổ địa là bước nhảy vọt về tổ chức hành chính, về khoa học quản lý xã hội. Còn
nói "thu thuế má cung cấp ngọc bích cho nhà Hán" cũng không đúng. Suốt
70 năm Triệu Đà làm vua, quan hệ Việt Hán khá lỏng lẻo. Biết Triệu xưng đế mà
nhà Hán đành chịu, không những thế còn phải lấy lòng bằng cách giữ gìn mồ mả tổ
tiên của Triệu, cho thân nhân Triệu làm quan (Sử ký). Trong mối quan hệ như vậy,
cống phẩm của Triệu Đà chỉ có nghĩa tượng trưng để xác nhận sự thần phục trên
danh nghĩa nên không thể làm đầy túi tham của Lục Giả, không thể so sánh với việc
cống người vàng thời Trần-Lê. Rõ ràng, chứng lý đưa ra để kết tội Triệu Đà là
không thuyết phục. Nhưng vì sao Ngô Thì Sĩ lại có cái nhìn việc thiếu chuẩn mực
như vậy? Chỉ có thể là, với tinh thần dân tộc hẹp hòi, có phần thiển cận, ông
không chịu một ông vua người Hán tộc! Trong lịch sử thế giới, một người nước
này làm vua nước khác không hiếm. Ngay bên chúng ta, tới cuối thế kỷ XVIII, vua
nước Xiêm là một người Trung Quốc tên Trịnh Quốc Anh từng kéo quân sang đánh Hà
Tiên. Còn với chúng ta thì đúng Triệu Đà là người Hán nhưng dân Nam Việt lúc đó
hầu hết là người Việt, vì vậy không thể phủ nhận việc ông là vị vua đầu tiên của
nước Nam Việt, ông vua khai sáng của Việt Nam chúng ta. Mặt khác, vợ ông là
Trình Thị người Đường Thâm Giao Chỉ nên con ông, Trọng Thủy ít nhất có nửa phần
máu Việt, còn cháu ông là Triệu Hồ có một phần máu Việt, đến Anh Tề, phần máu
Việt cao hơn. Họ Triệu chẳng những có công khai sáng Nam Việt mà ngày càng gắn
bó bằng tâm hồn bằng máu huyết với Tổ quốc mới của mình!
Một câu hỏi cần phải trả lời gấp: Triệu Đà ông là ai? Người
Tàu không nhận ông là Tàu vì ông là Nam Việt hiệu úy. Còn với người Việt ông bị
coi là giặc Tầu xâm lược! Vậy ông là ai?!
Ruột bỏ ra da ôm lấy từng là nỗi đau của bao người. Mồ cha
không khóc lại khóc đống mối từng là bi kịch của không ít gia đình, dòng họ...
Nhưng vì những lầm lẫn mà chối bỏ người sáng lập ra quốc gia, chối bỏ cả thời đại
quan trọng trong lịch sử lại là nỗi đau nỗi nhục của cả một dân tộc! Đã đến lúc
vụ án Triệu Đà-Trọng Thủy phải được tính lại.
CỘI NGUỒN VĂN HÓA
Trong khi trình bày vấn đề cội nguồn tổ tiên, tôi
đã phần nào nói tới cội nguồn văn hóa. Đấy là những nền văn hóa Sơn Vi, Hòa
Bình, Bắc Sơn, Đông Sơn... tổ tiên ta đã làm ra trên đất Việt Nam. Một vấn
đề cần làm rõ: trong khoảng thời gian hàng vạn năm sống ở Trung Nguyên, người
Việt đã sáng tạo ra những gì? Không làm ra những kỳ tích như Hòa Bình, Bắc Sơn
nhưng những người Việt xa quê này không ngừng sáng tạo: thuần hóa gia súc, trồng
lúa nước, làm ra đồ gốm, trong đó có cái chõ Tam biên (để đồ xôi) rất đặc trưng
rồi đúc trống đồng, đúc Cửu đỉnh. Người Việt ở đây cũng kết thằng tức bện dây
làm lưới đánh cá... Cùng với những văn hóa vật thể ấy, trong hàng vạn năm duy
trì một xã hội nông nghiệp ổn định, người Việt phương Bắc cũng sáng tạo nên nền
văn hóa phi vật thể phong phú. Đó là những kinh nghiệm về thời tiết về cây trồng
mà bà Nữ Oa là bậc thầy có tài đội đá vá trời (cách nói hình tượng của việc
quan sát nắm vững thời tiết), những kinh nghiệm về đối xử với thiên nhiên, với
hàng xóm láng giềng. Từ những vết chân chim in trên phù sa, cha ông ta làm ra
chữ viết : chữ kết nút, chữ hình con nòng nọc (chữ Khoa đẩu), chữ hình ngọn lửa
(Hỏa tự), dùng mu rùa bói toán... Hoài niệm về thời Nghiêu Thuấn mà có lúc
chúng ta cười diễu các cụ say giấc mơ Tàu thì thực ra lại chính là hồi quang của
lối sống Việt tận nguồn: thế giới đại đồng, con người hòa thuận với thiên
nhiên, sống với nhau nhân ái, dân chủ.
Khi tràn xuống Trung Nguyên, người Hán du mục bắt gặp một cuộc
sống mới cùng nền văn hóa mới. Khi kẻ xâm lấn tràn tới, thành phần quý tộc tinh
hoa của các bộ tộc Việt bỏ chạy về Nam, một bộ phận bất hợp tác thì vào rừng lẩn
trốn thành người thiểu số còn đại đa số dân Việt thích ứng với cuộc sống mới.
Cuộc săn đuổi và trốn chạy diễn ra dài dài trong lịch sử, kể đến nhiều nghìn
năm. Trong thời gian dằng dặc ấy, chữ Việt ban đầu được viết với bộ Mễ (lúa gạo
- chỉ dân trồng lúa nước) bị kẻ chiến thắng đổi thành chữ Việt với bộ Tẩu (vượt
- chỉ người Việt chạy vượt qua sông Dương Tử). Trong khi đó người Việt ở lại sống
chung với quân xâm lược được gọi là Miêu. Do số dân quá ít, khi đối mặt với kẻ
chiến bại đông đảo, kẻ chiến thắng Hán tộc đã áp dụng thái độ ứng xử khôn ngoan
với tộc người Miêu này. Khác với người Aryen du mục khi chinh phục An Độ đã áp
chế người bản địa Dravidiens bằng chế độ nô lệ hà khắc để lại những di họa đến
bây giờ, người du mục Hán tộc giữ vai trò lãnh đạo và chuyển sang làm thương
nghiệp, công nghiệp còn để cho người Miêu Việt làm công việc nặng nhọc là trồng
trọt, chăn nuôi và đi lính. Lúc đầu choáng ngợp trước cuộc sống sung túc và văn
hóa khác lạ của dân nông nghiệp, người du mục không chú ý lắm đến các vị thần,
đến tín ngưỡng bản địa. Nhưng rất nhanh chóng, cộng đồng dân cư bản địa quá
đông đúc đã đồng hóa kẻ xâm lăng, cả về huyết thống cả về văn hóa. Giai cấp
lãnh đạo Hán tộc từ bỏ vật tổ truyền thống là con cọp trắng để nhận vật tổ của
người Miêu Việt là con rồng làm vật tổ của mình, nhận những ông vua thời Tam
hoàng, không chỉ nhân vật chính thống Hoàng đế mà cả Phục Hy, Thần Nông làm tổ.
Tiến một bước nữa, những trí thức Hán tộc kết hợp cùng trí thức
Miêu Việt tiến hành ghi chép những điều hay lẽ phải trong cộng đồng nông nghiệp
Việt tộc để chế tác kinh điển. Những kinh, thư đã ra đời như vậy. Trong Luận ngữ,
Khổng tử nói: "Ngô thuật nhi bất tác" (ta chỉ ghi lại mà không sáng
tác). Đó là lời trung thực, nói lên đúng thực chất những gì ngài đã làm. Kinh
thi bắt đầu từ sự sưu tầm ghi chép những câu ca tồn tại từ lâu trong dân gian.
Về nguồn gốc kinh Dịch, người ta thường nói truyền thuyết con long mã sông Hà
dâng đồ, con rùa sông Lạc dâng thư nhưng thực ra đó là những kinh nghiệm bói
toán đã có từ lâu trong cộng đồng Việt miền lúa nước sông Hà sông Lạc mà trí thức
Hán tộc thâu lượm, nhuận sắc nâng cao lên... Rồi kinh Lễ cũng là sưu tầm chọn lọc
những điều lễ nghĩa trong thiên hạ người Việt...Việc này làm nên nền văn minh cổ
Trung Hoa. Như vậy, trong văn hóa Trung Hoa, sự đóng góp của Việt tộc nông nghiệp
là phần chủ đạo, phần hồn phần cốt. Nhìn về thực chất, bên trong nền văn minh
được đóng gói dán nhãn Trung Quốc chế tạo ấy lại là sản phẩm của Việt tộc.
Ý tưởng về nhân tố Việt là chủ đạo trong văn hóa Trung Hoa
hơn 30 năm trước đã được học giả Kim Định nhiệt tâm trình bày trong loạt sách
Triết lý An Vi như Việt lý tố nguyên, Dịch kinh linh thể, Cơ cấu Việt
Nho... của ông. Do lúc đó chưa biết con đường Bắc tiến của người Hòa Bình nên
ông phải chứng minh khá vất vả về sự tồn tại của văn hóa Việt trên địa bàn
Trung Nguyên. Khi bổ sung vào ý tưởng của ông phát kiến di truyền học hiện đại
là con đường thiên di lên phía Bắc của người Việt cổ thì mọi chuyện trở nên hiển
nhiên: người Việt phương Nam từng thiên cư lên, sống hàng vạn năm trên lưu vực
Hoàng Hà thì cố nhiên họ là chủ nhân của những địa tầng văn hóa như Ngưỡng Thiều,
Long Sơn hiện hữu nơi đó!
Những người Việt sống ở Trung Quốc làm nên phần cốt lõi của
văn hóa Trung Hoa. Vậy còn người Việt tại miền Ngũ Lĩnh, Giao Chỉ để lại thành
tựu riêng gì? Các sách cổ Trung Quốc như Giao Châu ký, Ngô lục địa lý chí, Nam
phương thảo mộc trạng... đều ghi chép: "Dân Lạc Việt trồng lúa mà ăn, dùng
lá trà làm thức uống."... " Nuôi tằm mà dệt vải..."; "Dùng
đất sét đào sâu trong đất, thái mỏng, phơi khô làm thức ăn quý để đi hỏi vợ...";
"Dùng đá màu làm men gốm..."; "Dùng mu rùa mà bói việc tương
lai..."; "Họ dùng một khúc tre dài chừng hơn một thước, một đầu có trụ
cao làm tay cầm, có dây buộc vào trụ nối lại đàng kia làm đàn gọi là độc huyền
cầm..."; "Họ đem tính tình các con vật mà so sánh với người, rồi họ
truyền tụng rằng, ngày thứ nhất trời sinh con chuột, ngày thứ hai sinh con
trâu, ngày thứ ba sinh con cọp (truyện thần thoại của người Dao, gốc tích của
12 con giáp). Họ biết tìm hiểu các thức ăn nóng mát (thuyết âm dương) để trị bệnh,
dùng kim đâm vào da thịt lấy máu để trị bệnh, lấy đá hơ nóng áp vào da thịt để
trị bệnh." Khi một môn đệ đi đến đất Việt, xin Đức Khổng tử chỉ dạy, Ngài
nói: "Người Bách Việt miền Nam có lối sống, tiếng nói, phong tục, tập
quán, thức ăn uống riêng..."; "dân Bách Việt chuyên làm ruộng lúa mà
ăn, không như chúng ta trồng kê và lúa mì. Họ uống nước bằng thứ lá cây hái
trong rừng gọi là trà." Sách Hậu Hán thư quyển 14 viết "Dân Giao Chỉ
biết nhiều nghề thủ công, luyện đúc đồng và sắt..." Sách Cổ kim đồ thư
chép: "Mã Viện tâu vua, Giao Chỉ ép mía làm đường phèn: Giao Chỉ có cây
mía ngọt. Đem ép lấy nước rồi làm đường phèn." "Giao chỉ làm giấy mật
hương: bằng lá và vỏ cây mật hương (cây dó) trồng ở Giao Chỉ, giấy mềm, dai,
thơm, ngâm nước không bở không nát."(30)
Chúng ta biết, người Hán có gốc từ Mông Cổ du mục nên nhà làm
theo hình tròn gọi là lều. Trong khi đó người Việt làm nhà sàn hình chữ nhật bằng
tranh tre, có mái cong mà mô hình còn thấy trong mộ táng thuộc Văn hóa Đông Sơn
2000 năm TCN. Khi định cư ở Trung Nguyên, dân Hán đã theo mô thức nhà của người
Việt.
Khi tìm thấy một số gạch có hoa văn, nhiều học giả Pháp cho
đó là hàng nhập về để lát bàn thờ nhưng thực ra đó là gạch lát nền nhà của người
Việt thời Lý Trần tìm thấy tại nhà của Hưng Đạo vương ở Vạn Kiếp và nay càng thấy
nhiều trong khi khai quật Hoàng thành Thăng Long. Một thí dụ khá khôi hài là
hơn 50 năm trước, khi Bảo tàng Istambul Thổ Nhĩ Kỳ trưng bày chiếc bình gốm Hoa
Lam cổ (được bảo hiểm 1.000.000 USD) người Tàu và người Nhật đến xem có phải của
họ không. Nhưng khi thấy ghi trên bình Thái Hòa bát niên...Bùi Thị Hi bút (niên
hiệu Lê Thánh tông) người Tàu bèn nói: "Của một ông thầy Tàu qua rồi làm
chơi"(!) Đến khi phát hiện ra lò gốm men lam Chu Đậu (Hải Dương) thế kỷ XV
với rất nhiều hiện vật thì các "thầy" đành chào... thua một người đàn
bà Việt Nam!
Từ nhận thức trên, có thể rút ra hai kết luận:
1/ Ít nhất từ 30.000 năm TCN, sau thời kỳ băng hà, người Bách
Việt là chủ nhân miền đất ngày nay có tên là Trung Quốc. Cùng với việc biến cải
nơi đây thành vùng nông nghiệp lúa nước, người Bách Việt đã xây dựng nền văn
hóa vật thể và phi vật thể độc đáo.
2/ Nếu văn hóa Việt ở Trung Nguyên đạt được những thành tựu
như vậy thì điều chắc chắn là văn hóa Việt tộc ở đất tổ, ở nơi gốc phát tích sẽ
rực rỡ hơn. Cho dù bị hủy hoại không ít trong thời kỳ Bắc thuộc, nhất là ảnh hưởng
suy đồi của Hán nho, Tống nho nhưng do sức sống nội tại, văn hóa tận nguồn đó vẫn
được người dân Việt lưu giữ bảo tồn. Vấn đề của chúng ta là chọn lọc giữa những
yếu tố lai tạp để tìm ra tinh hoa văn hóa cội nguồn của dân tộc. Trong việc
này, tinh thần Việt nho giúp chúng ta như một định hướng.
Tới đây, một vấn đề cần làm rõ là
đánh giá vai trò người Hán đối với sự phát triển của khu vực.
Vượt sông Hoàng Hà xuống
phía Nam, tiếp thu mảnh đất rộng mênh mông, phì nhiêu với cư dân đông đúc và
nông nghiệp, đồ đá đồ đồng phát triển, Hán tộc trong vai trò lãnh đão đã thực
thi một chính sách khôn ngoan là nương theo nền nếp của người Việt, tổ chức xã
hội cộng đồng dân chủ mà sau này lịch sử gọi là thời hoàng kim. Đặc điểm cơ bản
của thời kỳ này là con người sống thân ái với nhau và hài hòa với thiên nhiên .
Do nghề nông phát triển, lương thực dồi dào, xã hội có sự phân công ra nhiều
ngành nghề khác nhau: nông, công, thương. Sau đó tầng lớp sĩ ra đời
và ngày càng có vai trò lớn hơn trong xã hội. Chữ viết Hỏa tự, chữ Khoa đẩu của
người Việt dần được thay thế và chữ vuông tượng hình ra đời. Từ đây, những kinh
nghiệm trong dân gian được tổng kết thành kinh điển, trước hết là kinh Thi rồi
kinh Dịch... Sự việc như vậy điễn ra trong vòng 1500 năm TCN. Trên cở văn hóa
Việt bản địa, người Hán đã bổ sung vào đó tinh túy của Hán tộc để đưa văn minh
Trung Quốc lên thời kỳ phát triển rực rỡ. Văn hóa Trung Hoa là đứa con lai tốt
đẹp giữa văn hóa Việt nông nghiệp và Hán du mục. Học giả W.G. Solheim II đã nhận
xét:
"Đông Nam Á còn tiếp tục là một khu vực tiên tiến ở Viễn
Đông cho đến khi Trung Quốc thay thế xung lực này vào nửa đầu thiên niên kỷ thứ
2 TCN, tức khoảng 1500 năm TCN."(bđd)
Theo tôi, đấy là nhận xét thỏa đáng.
Chúng ta, người Lạc Việt, chủng người Bách Việt duy nhất do sự
may mắn của số phận thoát khỏi qúa trình Hán hóa, có được cương thổ riêng, giữ
được tiếng nói và huyết thống riêng. Trong khi tự hào về những thành tựu vĩ đại
của tổ tiên trong quá khứ thì chúng ta cũng cảm ơn người Hán biết tôn trọng văn
hóa của Bách Việt bản địa đồng thờ phát triển lên tầm cao mới. Nhờ đó nhiều yếu
tố Việt của văn hóa tiền sử được bảo tồn, nâng cao, là thành quả văn hóa mà hai
dân tộc chung hưởng hôm nay.
Biết được cội nguồn tổ tiên và cội nguồn văn hóa, chúng ta nắm
được chiếc chìa khóa thần giải đáp rất nhiều vấn đề văn hóa nhân sinh từng làm
đau đầu nhiều thế hệ Việt. Câu ca dao Công cha... nói trên là một ví dụ. Do thời
gian quá lâu, người Việt không thể nhớ tổ gốc cũng như đất gốc phát tích của
mình là Bắc Bộ Việt Nam mà chỉ có thể nhớ trong hoài niệm vị tổ xa là Toại Nhân
làm ra lửa, sau đó là Phục Hy, Thần Nông và núi Thái sông Nguồn trở thành hoài
niệm ám ảnh trong tâm linh những thế hệ Việt chạy về Nam... Cũng vậy, ta cắt
nghĩa vì sao trên đất nước ta lại có nhiều địa danh "Tàu"? Chính
bởi vì khi khai phá lưu vực Hoàng Hà, cha ông chúng ta đã đặt cho đất ấy những
tên như Hà Đông, Hà Tây, Hà Nam, Hà Nội... Khi trở về Nam, các vị nhớ
tới đất cũ mà đặt tên cho những nơi vừa khai phá. Không phải vay mượn mà cha
ông ta lấy lại bản quyền của mình. Không chỉ thế, đó còn là tình cảm là tâm
linh tưởng nhớ cội nguồn! Cũng từ cái chìa khóa thần ấy, ta dễ dàng giải thích
vì sao người Việt luôn chống Tàu nhưng lại học hỏi và tôn trọng văn hóa Trung
Hoa? Bởi lẽ cha ông ta minh triết: biết phân biệt giặc Tàu xâm lược với
"văn hóa Tàu" vốn là văn hóa gốc của mình!
MỘT CÁCH ỨNG XỬ VĂN HÓA
Sau hàng ngàn năm lội ngược thời gian tìm cội nguồn tổ
tiên, cội nguồn văn hóa dân tộc, có lẽ hôm nay nhờ thành tựu mới của khoa học
nhân loại, chúng ta đã có lời đáp rõ ràng, thuyết phục. Với nhận thức mới về
nguồn cội thiết tưởng chúng ta cần có lối ứng xử văn hóa mới :
1/ Chúng ta có quyền tự hào chính đáng về tổ tiên đã làm nên
những nền văn hóa rực rỡ trên đất Việt. Tổ tiên ta cũng là chủ nhân ông thứ nhất
khai phá đất nước Trung Hoa và sáng tạo nên văn minh Việt tộc trên vùng đất
mênh mông này. Người Việt có chủ quyền chính đáng với nền văn minh gốc Việt ấy.
2/ Về mặt huyết thống, từ bản đồ gene con người, chúng ta thấy
mình càng gần gũi với các tộc người anh em sống trên đất nước. Không chỉ cùng tổ
tiên với người Kinh mà các tộc người anh em lại là hậu duệ của tổ tiên bám trụ
lâu dài trên đất nước và sáng tạo những nền văn hóa mà hôm nay chúng ta tự hào.
Đối với các tộc người anh em chúng ta cần một thái độ biết ơn và trân trọng. Đối
với người Hán trên lục địa Trung Hoa, ta thấy họ cũng là bà con của ta vì trong
mỗi người ít nhiều đều có một phần dòng máu của tổ tiên ta từ thuở xa xưa.
3/ Hàng ngàn năm nay người Việt giữ cái nhìn kỳ thị dị chủng
dị văn với những nước láng giềng như Lào, Miên, Thái Lan và nhất là những nước
hải đảo Đông Nam Á. Đấy là sai lầm mang tính lịch sử vì chúng ta chưa nhận ra
được cội nguồn gốc gác của mình. Nay, với những phát hiện mới của khoa học,
chúng ta nhận lại các dân tộc Đông Nam Á là anh em bà con cùng nguồn cội với
mình. Đấy chính là những bộ tộc Bách Việt sau thời kỳ khai phá đất Trung Hoa đã
trở lại xứ sở xuất phát của mình xây dựng nên nhà nước ở Đông Nam Á. Việc Việt
Nam gia nhập gia đình Đông Nam Á là bước đi đúng hướng để sửa chữa sai lầm
trong quá khứ. Từ nay chúng ta có thêm nhận thức mới: Đông Nam Á với chúng ta
không chỉ là khối liên minh chính trị kinh tế mà còn là cộng đồng có chung nguồn
cội sâu xa về di truyền và văn hóa. Việt Nam sẽ phát triển và ổn định
trong mối quan hệ bền vững với các nước anh em trong khu vực. Không những thế,
người Việt ta cũng đồng bào với người New Guinea, thổ dân châu Uc cùng các tộc
người bản địa châu Mỹ. Phải chăng câu tứ hải giai huynh đệ từ xa xưa đã bao hàm
nội dung nhân bản này?
3/ Hàng ngàn năm bên cạnh một cường quốc khổng
lồ với nền văn hóa vĩ đại, cha ông ta luôn mang mặc cảm một quốc gia nhược tiểu,
một dân tộc không có văn hóa gốc. Với nhận thức mới về nguồn cội, chúng ta tự
giải phóng khỏi sự cầm tù của mặc cảm truyền kiếp đó, lấy lại niềm tự hào chính
đáng: Dân tộc Lạc Việt là người duy nhất trong hệ Bách Việt còn tồn tại và kế tục
sự nghiệp của một cha ông vĩ đại. Chính cha ông ta là người chủ đạo sáng tạo
nên nền văn hóa rực rỡ mang tên văn minh Trung Hoa. Với nhận thức mới về cội
nguồn, chúng ta mạnh dạn nhận lại văn minh Trung Hoa là của mình. Đấy là của
chung mà cha ông ta ít nhất có phần hùn 51%. Việc sử dụng văn minh Trung Hoa
trước đây vẫn bị coi là vọng ngoại là vay mượn thì từ nay ta sử dụng với tư
cách chủ nhân có tác quyền hợp pháp.
4/ Từ nhận thức về cội nguồn tổ tiên, cội nguồn văn hóa,
chúng ta xác định bản sắc văn hóa Việt nam: là truyền thống sống hòa đồng với thiên
nhiên, tương thân tương ái với đồng loại, là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín... Có
nghĩa là những yếu tố tốt đẹp nhất của Nho giáo-phần tinh hoa của văn hóa Việt
tộc được tổng kết trong những kinh điển Nho giáo thời kỳ đầu. Học giả Kim Định
gọi phần văn hóa Việt tộc này là Việt nho. Tôi cho rằng đó là tên gọi xác đáng
cần được tiếp thu. Việt nho là văn hóa Việt khi chưa bị tầng lớp thống trị Hán
tộc làm cho tha hóa trở thành Hán nho và Tống nho - công cụ đàn áp nhân dân, thủ
tiêu dân chủ. Trong khi Nho giáo Trung Hoa bị suy đồi thì những yếu tố Việt nho
vẫn tồn tại trong cộng đồng người Việt Nam như một truyền thống văn
hóa tốt đẹp. Đáng tiếc là do nhận thức chưa đúng về nguồn cội nên chúng ta ngộ
nhận cho tất cả đều là của Tàu nên chối bỏ. Cần khẳng định đó là văn hóa đặc hữu
của người Việt và lấy làm tiêu chí để gạn bỏ yếu tố Hán và Tống nho bị xảm vào
văn hóa Việt do chủ trương đồng hóa của kẻ xâm lược phương Bắc.
5/ Cho dù hôm nay đang đối mặt với những khó khăn chồng chất
nhưng từ cội nguồn tổ tiên cội nguồn văn hóa chúng ta có lý do để tin tưởng rằng
dân tộc ta sẽ có một tương lai sáng lạn. Việc của chúng ta là mỗi người trong
khả năng của mình ngay từ bây giờ ra sức xây dựng tương lai đó!
Tôi hình dung ra, có thể cái tương lai phía trước chúng ta
chính là thời Nghiêu Thuấn: con người thân thiện với thiên nhiên, sống với nhau
hòa đồng thân ái, dân chủ, trên cơ sở nhân, nghĩa, lễ, trí, tín... Phải chăng
chính đó là lý tưởng phương Đông mà phương Tây đương tìm đến?
Lời cảm ơn: Người viết chân thành cảm ơn các tác giả có
sách tham khảo trong bài viết này. Đặc biệt cảm ơn những tác giả người Việt ở
nước ngoài: Ts Nguyễn Thị Thanh, GsTs. Nguyễn Văn Tuấn, các ông Cung Đình
Thanh, Nguyễn Đức Hiệp, Nguyễn Quang Trọng. Ong Hoài Thanh báo Đại chúng cung cấp
những tư liệu quý. Cảm ơn bạn tôi, Đỗ Thái Nguyên và Gs Ranjan Deka gửi cho bài
viết mới nhất. Chính trí tuệ và thịnh tình của các vị đã soi sáng và động viên
tôi hoàn thành bài viết. Một lần nữa xin chân thành cảm ơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Ts Nguyễn Thị Thanh- Việt Nam trung
tâm nông nghiệp lúa nước và công nghiệp đá xưa nhất thế giới - Việtcatholic
30.9. 2001.
2. Vương Đồng Linh: Trung quốc dân tộc
học & Chu Cốc Thành: Trung Quốc thông sử. Dẫn theo Kim Định: Cơ cấu Việt
Nho. SG 1973 tr.244-245.
3. Kim Định: Việt lý tố
nguyên (An Tiêm SG.1970.tr. 16)
4. Kim Định: Việt lý tố nguyên tr. 24
5. Nguyễn Đình Khoa: Nhân chủng học
Đông Nam Á (ĐH&THCN.H.1983 tr 106)
6. J.Y. Chu & đồng nghiệp:
Genetic relationship of population in China. Proc. Natl. Acad. Sci.USA 1998 số
95 tr. 11763-11768.
7. Bing Su & đồng nghiệp: Y-chromosome
evidence for a northward migration of modern human into Eastern Asia during the
last Ice Age. American Jurnal of Human Genetics 1999;65;1718-1724. Nhiễm sắc thể
Y chỉ có ở con đực, bền vững và chứa nhiều thông tin di truyền hơn mtDNA. Qua
Y-chromosome có thể truy tìm " dấu vết di cư" của nhóm dân, từ đó ước
đoán được tuổi của tổ tiên. Mức độ biến thiên đa hình thái (polymorphic
variation) là chỉ tiêu di truyền quan trọng đánh giá độ đa dạng sinh học của
nhóm dân: tổ tiên có mức đa dạng sinh học lớn hơn con cháu.
8. W. Kim & đồng nghiệp : Y-chromosomal DNA variation in East
Asia populations and its potential for inferring the peopling of Korea.
Jurnal of Human Genetic.2000. số 45 Tr. 76-83.
9. S.W. Ballinger& đồng nghiệp: Southeast Asian
mitochondrial DNA Analysis reveals genetic continuity of ancient Mongoloid
migration. Genetic 1992 số 130 Tr.139-45
10. Jin Li: Ngày 29.9.1998 Li Jin thông báo một tin chấn động
giới khoa học tại Washinton: " Công trình của chúng tôi cho thấy con người
hiện đại trước hết đã đến Đông Nam Á sau đó đi lên Bắc Trung Hoa." "Từ
Trung Đông men theo bờ An Độ Dương, ngang qua An Độ đến Đông Nam Á. Sau đó họ
đi lên Bắc Trung Hoa, Siberia và cuối cùng là châu Mỹ." ["Our work
shows that modern humans first came to Southeast Asia and then move late to
Northern China." "...from Middle East, following the Indian Ocean
coatline across India to Southeast Asia. Later, they moved northern China, Siberia and
eventually the Americas"(Los Angeles Times 29.9.1998)].
11. Peter Savolainen, Ya ping Zhang... Genetic Evidence for
an East Asia origin of Dometic Dogs. Science Nov 22 2002;
- Jenifer A. leonard, Robert k. Wayne ...
Ancient DNA Eviden for old world origin of new world Dogs. Science Nov 22 2002.
(Dẫn theo Nguyễn Văn Tuấn: Năm Mùi nói chuyện dê. Giao Điểm Xuân 2003)
12. Stephen Oppenheimer: Eden in the East: the Drowned
Continent of Southeast Asia- Nxb Phoenix London 1998. Là bác sĩ nhi khoa sống
20 năm trên các đảo ngoài khơi Đông Nam Á, ông rất yêu vùng này, để công nghiên
cứu và có những phát hiện quan trọng về lịch sử, văn hóa, dân tộc học... Công
trình của ông được đánh giá cao.
13. Vũ Hữu San Vịnh Bắc Việt tái bản 2004. Tripod.com
14 Encyclope'dia d'Archeologie.
15 &16 Nguyễn Thị Thanh bđd.
19. C. Sauer: Agricultural Origins and Dispersals. Newyork
1952
20. W.G Solheim II: Southeast Asia and the West-Đông Nam Á và
phương Tây- Science 157
21. Wilheim G. Solheim H. Ph. D: New light on Forgotten Past.
National Geographic Vol 1339 n 3 tháng 3 năm 1971.
22 Nguyễn Đăng Thục: 4000 năm văn hiến. Hoadam.net
23 Bowen, Hui Li, Daru Lu & đồng nghiệp: Genetic evidence
supports demic diffusion of Han culture. Nature /vol 431/ 16 September 2004
24. Kim Định: Việt lý tố nguyên tr 62-63
25 . Đại Việt sử ký toàn thư.
26. Ngô Thì Sỹ. Việt sử tiêu án. Văn sử tái bản năn 1991. Bản
điện tử Lê Bắc tr 10..
27. Sử ký Tư Mã Thiên Nxb Văn học H.1988 tr.743.
28. Phủ Biên tạp lục Nxb KHXH. H. 1977 tr 31
29 . Nguyễn Thị Thanh bđd.
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét