Hình tượng Quang Trung
qua thơ văn của người xưa
Do nhiều lẽ, sáng tác về Quang Trung không nhiều, không đầy đủ.
Chúng ta có thể kể được: Văn tế Quang Trung và Ai Tư Vãn của
Lê Ngọc Hân, bài thơ Thu phong quốc tang, cảm thuật của Phan Huy Ích, một
số trang trong tập ký sự lịch sử Hoàng Lê nhất thống chí, thơ văn của Ngô Thì
Nhậm.
Tuy vậy, chừng ấy áng văn, bấy nhiêu nét vẽ cũng có thể khái
quát chân dung một con người vĩ đại: Quang Trung với những phẩm chất đầy chất
hoành tráng.
Ðó trước hết là:
I - Ðạo cao năm đời đế, đức vượt ba khí thiêng
Con người vĩ đại, trước hết là con người của đạo lý của dân tộc:
Trong lịch sử thế giới, có nhân vật vĩ đại nào mà lại không bắt đầu sự nghiệp bằng
lập đức? Không có cơ sở để lập đức, thì nói gì đến chuyện lập ngôn, lập công!?
Bởi xét cho cùng thì các câu hỏi vì ai, cho ai vẫn là nỗi
lòng canh cánh của các bậc Anh hùng thuở dựng nước và giữ nước.
Viết về con người lỗi lạc và sự nghiệp hiển hách của Quang
Trung, Ngô Thì nhậm ghi tạc: "Kính nghĩ hoàng đế bệ hạ, đạo cao năm đời đế,
đức vượt ba khí thiêng, phát tích từ phương Tây (tức là Tây Sơn- tỉnh Bình Ðịnh)
dẹp kẻ hung tàn, cứu vớt nhân dân chìm đắm oai vũ mà nhân hậu, làm sống lại những
kẻ đau thương. Theo đạo hiếu sinh, tỏ tình hòa hiếu..." (Biểu dâng thơ).
Dưới ngòi bút tài hoa của Ngô Thì Nhậm, Quang Trung là
"Bậc thánh hiền", "Bậc thánh thông minh". Trong Thư của
thị thần vua Quang Trung biện bạch về việc cầu hôn, Ngô Thì Nhậm coi quốc vương
là "Người thiên tư hiếu học, tuy trong chinh chiến gấp gáp, vẫn không quên
bàn bạc đạo lý...". Không có đạo lý dân tộc được kế thừa từ Lý Thường Kiệt,
Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi - Nguyễn Trãi, v.v… không thể có chính sách hòa hiếu với
nước lớn ở bên cạnh, chính sách nhân đạo với kẻ địch thua trận, lòng thương dân
khi vận nước gian nan.
Trong Văn tế Quang Trung và Ai Tư Vãn, hình tượng
Quang Trung hiện lên như một đối tượng hoài niệm da diết của người vợ lẻ bóng hình
tuy còn ở, phách thì đã theo, thương nhớ khôn nguôi, tiếc thương vô hạn. Ca ngợi
Quang Trung, trước tiên ca ngợi đức độ "Giúp dân dựng nước, công dường ấy
mà nhân dường ấy, công đức dày, ngự vận càng lâu...".
Phan Huy Ích ví sự ra đi của Quang Trung như: Rồng đã
bay đi, lòng sao kham nổi khi trông ngóng Ðỉnh Hồ, và ví mình như một chiếc nhạn
lẻ bầy ở quê người, để nói Hoàng đế được đúc đỉnh ở Kinh Sơn (Ðỉnh Hồ), tu
đắc đạo thành tiên rồi cưỡi rồng bay lên trời để lại chiếc di cung, bày tôi ôm
cung gào khóc (Thu phụng quốc tang, cảm thuật).
Dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào, đối với dân trăm họ, Hoàng đế
vẫn đem "Văn đức mà giáo hóa gây dựng...", được coi là chính sách
hàng đầu. (Ngô Thì Nhậm; Trần tình biểu).
Văn được hiểu là đường lối chính trị tiến bộ, đường lối ngoại
giao khéo léo, lý tưởng yêu nước thương dân của vua Quang Trung.
Tất cả những sự kiện này đều được Ngô Thì Nhậm phản ánh trong
nhiều chiếu, biểu, hịch, văn thơ giai đoạn sáng tác thứ hai khi ông phục vụ nhà
Tây Sơn.
Ðường lối chính trị tiên tiến thời đại Quang Trung là đường lối
cải cách với tuyên ngôn độc lập hào sảng: "Sinh dân phải nuôi dân làm trước"
(Hịch Tây Sơn), "Dân không có vua thì trông cậy vào ai? Vua không có dân
thì ai giữ nước" (Chiếu cầu lời nói thẳng). Sức sản xuất trong các ngành
kinh tế, việc cải cách tiền tệ được phục hồi phát triển với nhiều chính sách
"khuyến nông" "khoan sức dân", "cần hiền tài". Tầm
nhìn kinh tế xa rộng phù hợp với xu thế của thời đại, của nền kinh tế hàng hóa.
Mở cửa biên giới đối với láng giềng, tăng cường quan hệ buôn bán với thuyền
buôn các nước phương Tây là một yêu cầu khách quan, chứng tỏ chính sách đối ngoại
hội nhập của vị minh quân Quang Trung.
Còn tài thao lược trong lĩnh vực quân sự của Quang Trung được
phản ánh nhiều nét trong văn học Tây Sơn.
Rõ rệt hơn cả là trong văn xuôi của Ngô Thì Nhậm. Chỉ một đoạn
văn ngắn do đại thần họ Ngô dự thảo cho một tờ chiếu cũng đủ rõ đường lối quân
sự của Nguyễn Huệ là đường lối chiến tranh tự vệ, lên án kẻ gây chiến là kẻ
gieo tội ác, còn nhân dân hai nước muốn hòa hiếu, muốn sống trong thái bình, thịnh
vượng: "Trẫm theo lẽ trời và thuận lòng người, nhân thời cách mệnh, lấy việc
binh nhung mà định thiên hạ. Ðấng vương giả coi bốn bể như một nhà, các người
nên thể lòng Trẫm mà bỏ sự ngờ sợ để báo ơn Trẫm".
Bình sinh, Nguyễn Huệ là người con có hiếu.
Vào mùa hè năm Kỷ Dậu, mẹ vua Quang Trung ốm. Vua sai Ngô Thì
Nhậm viết thư cho Phúc Khang An (Tổng đốc Lưỡng Quảng) nhờ Phúc mau giúp một ít
nhân sâm để trị bệnh, cứu thân mẫu. Tiếp được thư, một mặt Phúc báo cáo lên vua
Càn Long, ông vua Trung Quốc đã ra lệnh lấy ở kho thượng phương một cân nhân
sâm tặng vua Quang Trung rồi cho người mang sâm đến Lạng Sơn đưa cho các quan
nhà Tây Sơn.
Quang Trung là một người chồng chung thủy, một ông vua rất mực
yêu con.
164 câu thơ thể song thất lục bát trong Ai Tư Vãn của Lê Ngọc
Hân nói lên điều đó. Cái chết đột ngột của Quang Trung không chỉ là "mối sầu
riêng", không chỉ là "nỗi con côi cút, nỗi mình bơ vơ" mà còn là
tổn thất lớn cho sự nghiệp nhà Tây Sơn, cho cả đất trời Việt Nam:
Trông nam thấy nhạn sa lác đác,
Trông bắc thì ngàn bạc màu sương...
Cái chết của Quang Trung là một thách thức lớn đối với cuộc đời
còn lại của Ngọc Hân, của gia đình bà, và cả sự nghiệp nước ta: Nỗi đoạn trường
còn sống còn đau. Cái chết của Quang Trung là bất tử bởi vì sự nghiệp Tây Sơn vẫn
còn với nhân dân và sống trong lòng nhân dân:
Công nghiệp nhiều tuổi thọ thêm cao,
Mà nay áo vải cờ đào,
Cái chết của Quang Trung làm động lòng cả phương Bắc, thương
tiếc một CON NGƯỜI viết hoa, một vị Anh hùng mà chính sách ngoại giao chiến lược
lấy "Ngọn bút thay giáp binh" đã cứu được hàng chục vạn người dân vô
tội của cả hai nước.
Nghe tin Quang Trung mất, vua Càn Long đích thân viết thư báo
cho Phúc Khang An, lệnh cho các quan nhà Thanh làm lễ tế điệu. Ðược tin dữ,
Phúc rất thương xót người Anh hùng áo vải.
Trong thư gửi cho Nguyễn Quang Toản của Phúc có đoạn: "Bản
tước các bộ đường cùng Tiền quốc vương (chỉ vua Quang Trung) đã từng đem lòng
thành liên kết rất sâu. Nhớ khi tiến quân vào chầu, tâm sự sớm chiều, bàn soạn
nửa năm, lúc cùng ngồi thuyền, lúc cùng đi bộ thường thường đem tâm sự với
nhau. Ðến lúc quốc vương về nước, chia tay ở Hán Dương, cùng nhau than thở, quyến
luyến nhớ thương...".
Câu thơ sau cùng trong bài Vũ hành (Ði trong mưa) của Ngô Thì
Nhậm nói hộ cho những suy đoán của người đời sau về thái độ trân trọng, sự khâm
phục của vua quan nhà Thanh đối với tài ba lỗi lạc, uy danh lừng lẫy của vua
Quang Trung.
Tất cả các vị quan to (ở đất bắc) đều cúi đầu làm lễ
Ai ai cũng không quên Tiên vương của chúng ta.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét