Phần thứ nhất - I & II
Tài xế! Tài xế đâu?
Theo liền tiếng ông huyện Bỉnh gọi, tiếng “dạ” ran từ công đường
vào tới nhà trong. Rồi một anh lính lệ thét lớn nhắc lại lời quan:
- Bác tài! Bác tài đâu lên quan truyền!
Một người từ vòm trại cơ đâm bổ ra, mắt như còn ngái ngủ, vừa
chạy vừa cài vội khuy chiếc áo lương mới. Bỉnh đã đứng chờ ở bậc gạch xuống
sân:
- Tài xế! Đánh xe ra ga Hà Nội đón ông Hai, ông Ba.
- Dạ.
- Hai ông ở Nam lên chuyến hai giờ. Phải đi ngay mới kịp. Bây
giơ mấy giờ rồi?
Bỉnh móc túi lấy đồng hồ ra xem:
- Năm giờ kém hai mươi. Từ đây ra Hà Nội chỉ độ nửa giờ là
cùng. Còn kịp đấy.
- Dạ.
- Lúc về nhớ rẽ qua phố Hàng Buồm mua vài cân lẽ, vài cân cam
với lại vài cân táo.
- Dạ.
- Bây, cầm lấy năm đồng.
Bỉnh mở ví đưa cho người tài xế cái giấy bạc:
- Mà đi ngay mới kịp.
Trâm đứng đón ở Kiên nhà trong, thấy chồng vào liền hỏi:
- Cái gì thế cậu?
Bỉnh vui mừng giơ ra tờ điện tín màu xanh:
- Chú Hai, chú Ba lên chơi, mợ ạ. Tôi vừa nhận được dây thép.
Vợ lạnh lùng:
- Thế à? Bao giờ lên?
- Năm giờ hơn xe hỏa tới Hà Nội. Tôi đã bảo nó đánh xe đi
đón.
- Thế à?
- Mợ bảo nó làm cơm nhé... A, nhà còn sâm banh không nhỉ?
- Còn. Nhưng uống gì đến sâm banh!... Ăn cơm ta thì uống sâm
banh làm gì?
- Hừ! Ăn cơm ta, bây giờ người ta uống sâm banh là thường. Được
mợ cứ lấy ra hai chai nhỏ đằng ngon đấy, đằng giấy xanh ấy.
Người đàn bà quay ngoắt đi lẩm bẩm nói một mỉnh: “Lại hai ông
tướng ấy đến chơi, khổ quá!”
Tuy thế, nàng vẫn xuống bếp sửa soạn các thức ăn. Bổn phận
người nội trợ đã thắng lòng tức tối của nàng.
Xưa nay nàng vẫn thù ghét hai người em chồng Trình và Khoa.
Nàng thù ghét, không phải vì họ không tốt hay vì họ kém lễ phép đối với nàng.
Trái lại, họ ăn ở hết sức khéo léo và phải đạo để lấy lòng nàng, một người chị
dâu mà họ thi nhau ca tụng là hiền. Nàng thù ghét họ, - thù ghét ngấm ngầm thôi
- chỉ vì thấy chồng yêu mến họ, say mê họ hầu như say mê tình nhân. Nhiều lần
nàng đã mỉa mai bảo chồng: “Nếu cậu nghĩ đến tôi được chu đáo như cậu nghĩ đến
hai chú thì tôi đã chẳng khổ”. Bỉnh nghe vợ nói chỉ cười, nếu không mắng át: “Ô
chào! Mợ lôi thôi lắm!” Bao giờ đến câu gắt ấy người vợ cũng im ngay, vì sự thực,
không những nàng kính nể, nàng còn sợ hãi chồng nữa, coi chồng như một vị bất
khả xâm phạm.
Nàng là con nhà nho, theo khuôn phép lễ giáo ngay từ thủa nhỏ,
năm mười bảy lấy chồng con một nhà quan mấy đời xuất thân khoa bảng. Vì thế,
khi ở nhà, nàng chỉ biết giữ đạo hiếu, khi về nhà chồng nàng chỉ nghĩ đến phụng
dưỡng cha chồng và phục tòng vâng lệnh chồng, để được tiếng là người dâu hiền,
người vợ thảo.
Cha chồng nàng, ông án Thân, rất nghiêm khắc: Các con, thời
còn nhỏ, không mấy khi giáp mặt ông mà không run sợ. Người vợ cả của ông mất sớm,
sinh được một trai một gái: Bỉnh và Thu. Khi ấy Bỉnh và Thu cùng ở với dì ghẻ
và hai em trai khác mẹ, Trình và Khoa, trong một nếp tư thất năm gian tại một
huyện lỵ miền trung du. Chúng sớm hiểu đời, và, vì hoàn cảnh, sớm biết đem trí
non nớt ra xét đoán nhân tâm: Sống bên cạnh một người cha lãnh đạm, trầm mặc,
không để ý tới gia đình, chúng chỉ trực tiếp với sự bất công của dì ghẻ và lòng
ghen ghét, ích kỵ của hai đứa em suýt soát tuổi mình.
Nhưng vào khoảng mười năm sau, cảnh gia đình ông Thân đổi
khác hẳn. Người vợ hai chết. Chiếm chỗ người, ấy là một thiếu nữ xinh đẹp và rất
ngỗ ngược, ngỗ ngược đến nỗi đàn áp cả người chồng trước kia vẫn có tính độc
đoán. Dần dần vì si tình, ông lão trở nên nhu mì, rụt rè, nhút nhát.
Để đối phó lại người dì ghẻ đáng ghê sợ ấy, tự nhiên bọn anh
em khác mẹ nhận thấy cần phải hòa thuận với nhau, cần phải chống đỡ bênh vực lẫn
nhau. Lòng ghen ghét, hiềm khích nay nhường cho cho lòng thương yêu thành thực,
mật thiết. Biết bao đêm khuya ba anh em ngồi khóc vì việc gia đình hay cùng
nhau bàn bạc tìm mưu lập kế, để ra khỏi một trường hợp khó khăn, để tránh thoát
một cái cạm bẫy chặt chẽ của người đàn bà tàn ác.
Hơn mười năm sau, lại một lần biến đổi: Ông án Thân chết.
Lúc bấy giờ Bỉnh đã tốt nghiệp trường Đại học và đã được bổ
tri huyện. Còn Trình và Khoa thì về quê làm ruộng, cùng nhau ở chung một nhà, -
cái dinh cơ rộng rãi của cha mà Bỉnh, người anh cả, nhường hẳn cho, kèm với một
phần số ruộng của chàng. Nhờ đó, Trình và Khoa sống rất an nhàn, sung túc và mọi
người có tới hơn ba chục mẫu vừa vườn vừa ruộng toàn hạng phì nhiêu.
Còn bà Ba mà bọn tôi tớ, bọn môn hạ đi lại vay mượn tôn gọi
là cụ lớn, thì sống biệt hẳn một giang sơn với một người con gái nhỏ.
Bà ta giàu lắm. Cũng không ai biết bà ta giàu tới bực nào.
Người này đồn bà ta có tới chục vạn... Người kia quả quyết một con số to gấp
năm thế. Họ bảo: “Trong mười mấy năm bà ta theo ông án ở chỗ làm quan, quyền
bính, tiền nong ở cả trong tay, thì làm gì mà không có tới năm chục vạn”. Một
người khác thêm: “Phải, vì khi bà ta lấy ông án, cái vốn riêng của bà ta đã tới
gần chục vạn rồi kia mà!”
Sự thực, bà ta có bốn năm tòa nhà cho thuê ở Hải Phòng, ở Hà
Nội và hơn trăm mau ruộng ở quê chồng. Cái tài sản ấy anh em Bỉnh không hề thèm
muốn, ước ao - ấy là nói về bề ngoài. Trái lại, nó luôn luôn là đầu đề cho những
câu chuyện chế riễu, mỉa mai. Gặp nhau đông đủ, trong bữa tiệc vui, không mấy
khi họ quên nói đến cái “giàu khốn nạn” của “cô Ba”, quên thuật những “hành vi
đê hèn” của “Troisième”. Họ trở nên những nhà triết học với những tư tưởng
khuôn sáo về luân lý, về tâm lý, về nghĩa sống của đời người. Họ thêm thắt, bịa
đạt, tưởng tượng đủ điều, cốt có cớ để nhắc đến người đàn bà kia mà họ không
cùng nhau thù nữa, chỉ cùng nhau ghét và khinh thôi.
Tóm lại, ngày nay cũng như ngày xưa, người ấy vẫn là cái dây
thiêng liêng ràng buộc tình, thân ái trong mấy anh em.
II
Đương ngồi nói chuyện với vợ ở tư thất, Bỉnh hấp tấp đứng dậy
khi nghe thấy hai tiếng trống báo:
- Các chú đã đến!
Trâm giọng đĩnh đạc:
- Làm gì mà cậu phải cuống lên thế?
Không để ý đến câu mỉa mai của vợ, Bỉnh bảo đứa con gái nhỏ
mà chàng rất yêu quý:
- Hồng! Mau ra đón chú Hai, chú Ba.
Hồng vỗ tay reo:
- A a! Các chú đã lên!
Hai anh nó, Hải và Văn, đương đùa nghịch ở hiên sau cùng chạy
theo ra, kêu:
- Chú! Chú!
Tiếng rít hãm ô-tô trước công đường. Bỉnh đã tới bên xe,
nhanh nhảu chào trước:
- Hai chú!
Trình và Khoa mỗi người nhảy xuống một bên cửa ô-tô chắp tay
hất lên ngực:
- Lạy anh ạ!
Hải, Văn và Hồng nhao nhao:
- Lạy chú! Lạy chú!
Khoa cúi xuống bế Hồng lên hôn:
- Cháu! Cháu tôi ngoan quá!
Rồi chàng vuốt má Hải và Văn hỏi:
- Mợ đâu, cháu?
Trình tiếp luôn:
- Ừ các cháu đưa hai chú vào chào mợ nhé.
Bỉnh gạt:
- -Thôi được. Mời hai chú vào phòng khách nghỉ mát. Nhà tôi sắp
ra.
Tuy nói thế mà chàng vẫn theo hai em tiến vào nhà trong, vì
chàng biết rằng muốn cơm nước thết đãi được chu đáo, cần nhất phải lấy lòng người
nội trợ.
- Lạy chị ạ!
- Lạy chị ạ!
Người chị dâu đứng lên, niềm nở:
- Không dám, lạy hai chú.
Khoa giọng thành thực:
- Thưa chị, em trông chị hai gầy, da dẻ không được hồng hào
như chuyến trước.
Bỉnh đỡ lời:
- Ấy, tháng trước nhà tôi ốm... Đi lỵ.
Trình vội vã, ân cần:
- Vâng, tôi khỏi hẳn rồi. Mời hai chú lên xa-lông ngồi chơi
xơi nước.
Khoa vui vẻ, thân mật.
- Xin vâng. Và xin chị cho chúng em ăn ngay. Em đã thấy kiến
bò bụng lắm lắm rồi đấy.
Chàng quay lại hỏi Văn:
- Có phải không cháu... Ồ! Mà suýt nữa chú quên quà của các
cháu. Cháu Hải bảo đem va-li vào đây cho chú, mau.
Ba đứa trẻ sung sướng tranh nhau chạy và gào:
- Lanh ơi, vác va-li của chú vào!
Vợ chồng Bỉnh đưa mắt như thầm bảo nhau:
-“Các chú vui tính quá!”
Ba đứa con đã theo người xách va-li đi vào. Khoa mở lấy ra một
gói kẹo tây, giơ lên trước mặt các cháu.
Trình bảo em:
- Khoa chia cho đều nhé!
Khoa cười:
- Phải tùy theo tuổi, chứ đều sao được.
Rồi chàng hỏi Hải:
- Cháu lên mấy?
- Thưa chú, cháu lên tám ạ.
- Được rồi! Lên tám thì tám cái.
Vừa nói chàng vừa nghiêng gói kẹo đổ ra hai bàn tay tí hon của
Hải.
- Một, hai... bốn... sáu, tám. Đủ rồi. Bây giờ đến lượt Văn.
Mấy tuối?
Văn ngập ngừng:
- Thưa chú, cháu cũng lên tám.
Trình cười:
- Ha ha! Ăn gian rồi. Em lại bằng tuổi anh bao giờ!
Nhưng Khoa nghiễm nhiên lấy kẹo đếm lên bàn tay Văn:
- Được rồi, lên tám thì cũng chỉ tám cái. Còn em Hồng?
Hồng đứng im, nước mắt chạy quanh, vì nó biết nó mới năm tuổi
thì sẽ chỉ được chia phần có năm cái kẹo.
Người mẹ trông thấy thế, liền mắng:
- Hồng láo lắm nhé!
Khoa vội bênh cháu:
- Không, chị cứ nói thế, chứ Hồng ngoan nhất nhà. Năm nay Hồng
lên năm, phải không? Lên năm thì được mười cái. Hai lần năm là mười, mà lại.
Hồng tươi ngay nét mặt lại và vội chìa tay ra đón lấy kẹo,
khiến ai nấy phải bật cười.
Trâm, giọng cảm động:
- Các cháu nói đến hai chú luôn. Chắc hai chú cũng đến sốt ruột
vì chúng nó.
Khoa cười vui vẻ:
- Nếu thế thì anh chị và các cháu sốt ruột vì chúng em cũng
chẳng kém.
- Nhưng mời hai chú ra xa-lông xơi nước.
Rồi nàng gọi:
- Nhài, lấy chè mạn sen cho nó pha nước nhé!
Khoa hý hửng như trẻ con, reo mừng:
- Ồ! Chè mạn sen thì ngon lắm nhỉ! Chị cũng biết tính hai em
thích chè mạn sen.
Để cắt ngắn câu chuyện, Trâm bảo chồng:
- Cậu mời hai chú ra xa-lông xơi nước. Tôi xin xuống bếp giục
nó làm mau cơm.
Khoa lại cười:
- Nếu thế thì chúng em xin vâng ngay.
Ba người đàn ông cùng nhau ra phòng khách. Mới tới cửa phòng,
Trình đã thì thầm bảo Bỉnh:
- Về rồi đấy!
Bỉnh lơ đãng hỏi lại:
- Chú bảo ai?
- Troisième ấy mà!
- Thế à?
Anh em vui sướng thuật lại cho nhau nghe những việc nhỏ nhen
xảy ra trong đời người đàn bà, vào khoảng mười năm gần đây. Họ lắng tai chú ý,
không ngắt lời nhau, tuy chẳng ai không thuộc lòng những câu chuyện ấy. Cốc rượu
khai vị thứ hai càng làm tăng phần trào phúng và hài hước.
- Hai anh còn nhớ cái ngày cô ta giận thầy bênh anh huyện, cô
ta bỏ cô ta đi, rồi thầy bắt đánh ô-tô thân hành đón cô ta về không?
Trình cúi gò xuống cười nức nở. Bỉnh chỉ khẽ nhách mép và buồn
rầu nói:
- Thương hại ông cụ, con mụ nó tác ác thế nào cũng phải chịu.
- Chả chịu, nó làm ầm cửa ầm nhà lên thì cũng khổ với nó.
- Sao không cứ để nó đi đâu mặc kệ nó, lại còn đuổi theo đón
nó về?
- Nhưng nó đẹp!
Ba người cùng vỗ tay cười reo:
- Đả đảo sắc đẹp!
- Đả đảo vợ lẽ!
Trâm lên, đứng sững ở cửa phòng, hỏi:
- Đả đảo gì thế?
Trình đáp:
- Thưa chị, đả đảo sắc đẹp và vợ lẽ.
Trâm cười:
- Nếu thế thì tôi xin ký cả hai tay.
Rồi nàng bảo chồng:
- Đấy, cậu còn muốn lấy vợ lẽ nữa thôi?
- Vợ lẽ cũng năm, bảy đường vợ lẽ chứ! Vơ đũa cả nắm thế nào
được
Bỉnh đáp lại vợ thế, chừng để hai em đỡ ngượng, vì chàng vừa
chợt nhớ ra điều mà ít khi chàng nghĩ đến: Trình và Khoa là con bà Hai. Nhưng
người vợ không hiểu nhã ý của chàng, lại bảo hai em chồng:
- Đấy, nhờ hai chú khuyên anh hộ tôi. Anh chỉ nằng nạc đòi lấy
vợ lẽ.
Trình, giọng thành thực, bảo Bỉnh:
- Tình cảnh vợ lẽ nhà ta, anh không thấy cái gương tầy liếp đấy
hay sao mà còn chực đa mang vào.
Thì ra Trình và Khoa cũng không còn nhớ rằng mình với Bỉnh là
anh em khác mẹ. Trong mấy chục năm, họ thân mật yêu nhau nên đã như ngầm đồng
tình phá hủy cái giới hạn thiên nhiên của cốt nhục, khí huyết.
Khoa buồn rầu nói tiếp:
- Thiết tưởng dù mê gái tới bực nào, lúc chợt nghĩ đến “cô ả”
anh em chúng ta cũng phải rời bỏ để tránh cho gia đình chúng ta sau này cái nạn
tan tác.
Trâm cười sung sướng, bảo chồng:
- Cậu đã nghe rõ chưa?
Khoa yên lặng rót đầy bốn cốc Gap-Corse, rồi chắp tay lên ngực
trịnh trọng nói với Trình và vợ chồng Bỉnh:
- Xin uống máu ăn thề.
Trâm cười:
- Thề gì thế?
- Thề không lấy vợ lẽ.
Bỉnh cũng cười theo:
- Làm gì mà như truyện Đông Chu Liệt Quốc thế?
Nhưng Trâm nghiêm trang nâng cốc rượu:
- Vâng, xin thề.
Trình bảo nàng:
- Chị thề trước đi.
- Tôi xin thề không lấy vợ lẽ cho chồng tôi.
Khoa uống hết cốc rượu, tiếp luôn:
- Nếu em lấy vợ lẽ thì đời em sẽ cạn như cốc rượu này.
Bỉnh khôi hài:
- Chú chẳng thề thì thím ấy cũng chẳng để chú lấy vợ lẽ.
Trình cười sặc, phì cả rượu ra áo. Giữa lúc ấy người nhà mời
sang phòng bên ăn cơm.
Câu chuyện gia đình lại kế tiếp trên bàn ăn, trong tiếng reo
vui của cây đèn măng-sông lớn.
Phần thứ nhất - III & IV
Trình, Khoa và Trâm đã ra ngồi uống cà-phê ở ngoài hiên. Trâm
trỏ vào buồng giấy gọi chồng:
- Mời cậu ra xơi, chẳng nguội mất cả rồi.
Tiếng Bỉnh đáp lại:
- Mợ mời hai chú xơi trước đi. Tôi còn bận xem nốt tập công
văn cho xong đã.
- Vậy chốc cậu ra pha “tách” khác, nhé? Hay đem vào trong ấy
cho cậu uống?
- Được, chốc pha chén khác.
Trâm mỉm cười bảo hai em chồng:
- Càng hay! Chúng mình càng được uống nhiều.
Vừa nói nàng vừa bỏ cái lọc xuống khay để chiết thêm cà-phê
sang cốc của Trình và Khoa.
Tiếng Bỉnh Hỏi:
- Mợ! Đã lấy xì-gà rồi đấy chứ?
Trình vội đáp:
- Thưa anh, đã có rồi, chúng em đương hút. Ngon lắm?
Trâm giữ kẽ không hỏi chuyện “cô Ba” nữa. Nàng vẫn thường
khoe khoang rằng mình ít lời, không hay lôi thôi với người này người nọ. Vì thế,
nàng đã xoay sang câu chuyện làm ăn, hỏi thăm về mùa màng, về khí hậu ở nhà
quê, về sức khỏe từng người, từ hai “thím” đến cháu Bạc, cháu Nam, cháu Phiên,
cháu Liên. Đạc là con trai của Khoa. Còn Nam, Phiên và Liên là con Trình, hai
trai, một gái.
- Thưa chị, cháu Nam đỗ sơ học yếu lược rồi đấy ạ.
- Tôi đã biết... Anh có nói chuyện.
- Vâng, ngày cháu thi đỗ, em có đánh dây thép cho anh.
- Nhà tôi bảo muốn để cháu lên Hà Nội học với cháu San.
- Thưa chị, năm nay cháu San chưa thi bằng tốt nghiệp?
- Sang năm cháu mới thi chứ...Nhưng các chú đi đường xa thế
chắc mệt lắm. Xin mời hai chú đi nghỉ thôi.
- Được, chị cứ mặc chúng em... Còn sớm.
Trâm toan đứng dậy vào nhà trong, thì Bỉnh đã bước ra hiên,
tay cầm tờ giấy gấp tư, cười cười nói nói:
- Hà hà! Lạ quá, hai chú ạ. Vừa nhắc đến cô ta thì có tin của
cô ta tới nơi.
Bỉnh đưa thư cho Trình nói tiếp:
- Tôi thấy lẫn trong tập công văn cái thư này nhận được không
biết từ bao giờ.
Trâm ngơ ngác hỏi chồng:
- Thư nào thế? Thư của ai thế?
- Của troisième ấy mà.
Bốn người vội vàng theo nhau vào phòng. Rồi Khoa giựt lấy bức
thư ở trong tay Trình, cầm đọc:
Anh Huyện,
Tôi có mấy lời lên hỏi thăm anh chị và các cháu mạnh khỏe thì
tôi mừng lắm. Ở nhà, tôi và em Cúc, nhờ giời vẫn được như thường. Anh Trình, chị
Trình, anh Khoa, chị Khoa và các cháu bên ấy nhờ ơn Phật tổ phù hộ cũng đều được
bình an cả...
Khoa ngừng đọc, bảo Bỉnh:
- Vì hôm cô ta viết thư này, chúng em còn ở nhà.
Trình nói:
- Bây giờ cô ta mộ đạo lắm. Động một tí là giở Phật tổ ra.
Trâm chêm một câu bình phẩm chua chát:
- Hạng người ấy, còn giời phật nào chứng cho! Cứ ở ác rồi
cúng lễ, cầu khấn, nay chùa này, mai chùa kia thì khi xuống âm phủ bọn họ dễ chả
ai phải vào địa ngục, mà địa ngục chỉ riêng dành cho bọn nghèo đói không có tiền
sắm lễ.
Khoa cười:
- Chuyện! Phú quý mới sinh lễ nghĩa được chứ!
Bỉnh cũng cười:
- Nhưng làm quái gì có địa ngục ở âm phủ!
Khoa đọc tiếp:
Anh chị ạ, từ ngày thầy qua đời, cảnh gia đình nhà ta buồn tẻ
quá, lắm lúc tôi chỉ muốn khóc. Tôi nghĩ bao nhiêu, tôi lại thương thầy bấy
nhiêu. Phải không anh chị, thầy hiền lành, nhân đức như ông bụt, chả làm hại ai
bao giờ, sao nay linh hồn thầy lại không được vui vẻ mà nhìn cảnh gia đình xum
họp, mà được thấy các anh các chị với tôi với em Cúc hòa thuận, yêu mến nhau.
Thầy thiêng lắm đấy anh ạ. Thầy thường hiện lên luôn. Trong giấc chiêm bao tôi
thấy thầy buồn lắm...
Khoa lại ngừng đọc, hỏi Bỉnh:
- Anh có chiêm bao gặp thầy bao giờ không?
Bỉnh ngẫm nghĩ một lát rồi đáp:
- Không.
- Em cũng vậy.
Trâm thì thầm:
- Tôi thì tôi gặp thầy luôn. Trông thầy y như lúc còn sống.
Trình mỉm cười:
- Em không gặp luôn, nhưng có hai lần em chiêm bao thấy thầy
về. Thầy không nói gì hết, thầy chỉ yên lặng đứng nhìn thôi.
Khoa thở dài:
- Chóng nhỉ! Thế mà thầy mất đã được hơn bốn năm rồi đấy.
Chàng lại đọc:
Tôi đến chơi nhà bà tuần Bùi mà tôi thèm cái cảnh hòa hợp của
người ta. Cụ tuần mất đi, các bà ở chung một nhà vui vẻ quá. Chắc anh chị cũng
quen cụ tuần Bùi đấy, cậu Tư có nói chuyện đến anh và gửi lời hỏi thăm anh...
Trình ngắt lời em:
- Ô chào: thư từ lôi thôi quá. Vậy cô ta muốn cái gì? Muốn giở
trò gì ra nữa? Hay là muốn bẫy anh em mình đây?
Trong khi ấy, Khoa vẫn đọc nhẩm. Chàng bỗng bật cười nói:
- Đây rồi, đến đoạn cốt tử rồi:
Tôi muốn lên chơi huyện để nói với anh chị hết cả những ngành
ngọn, hết cả mọi điều và cảnh gia đình nhà ta, nhưng độ rầy tôi yếu lắm, mệt
luôn đấy anh ạ, em Cúc cũng chả được khỏe. Vậy nếu anh bớt bận mà về chơi nhà
quê được, hiện giờ tôi còn ở nhà quê ít lâu, để tôi nói câu chuyện, thì mới nói
được rõ ràng, chứ không tiện viết trong thư.
Chuyện quan hệ lắm, anh ạ, anh cố bớt thì giờ mà về. Hay rằm
tháng Bảy này nhân tiện tôi lập đàn cúng cho thầy ở chùa, và nếu anh bằng lòng
thì tôi đốt mã nữa, anh cố mà về lấy hai hôm cho tôi được nói chuyện, nhiều
chuyện lắm, anh ạ, mà tôi cần phải nói với anh. Thầy mất đi, anh là trưởng,
trong nhà việc gì cũng phải hỏi anh, cũng phải bàn với anh, anh có ưng thì mới
được...
Bỉnh phá lên cười:
- Mãi giờ cô ta mới nhận thấy điều ấy.
Khoa chêm:
- Cô ta lấy lòng anh đấy. Chắc sắp xảy ra chuyện chẳng lành
đây.
Trâm vẻ mặt trầm trọng:
- Cậu phải cẩn thận, khéo không lại vào tròng thôi. Cậu nhẹ dạ,
dễ tin lắm cơ.
Trình hỏi Khoa:
- Hết rồi?
Còn một câu nữa:
Thế nào anh cũng cố mà về nhé. Tôi xin đền anh tiền ét-xăng.
Anh chả thiếu gì, nhưng tôi làm thế cho công bằng. Vả lại, tôi làm đại lý
ét-xăng thì cũng chả thiệt gì. Vậy anh về nhé. Cả chị nữa, càng hay...
Khoa ngả đầu, nói:
- Hết ạ.
Trâm mặt hầm hầm:
- Cám ơn câu vuốt đuôi.
Bỉnh khôi hài để Khoa khỏi hiểu lầm:
- Mợ làm như mợ nói với chú Ba không bằng!
- Không, tôi nói câu vuốt đuôi của cô Ba viết trong thư đấy
chứ? - Úi chào! “Cả chị nữa!”... Còn anh thì anh vâng lời cô chứ?
- Đã hẳn.
Không khí trong phòng trở nến lạnh lẽo. Tiếng vo vo của cây
đèn măng-sông càng làm tăng yên lặng nặng nề. Ai nấy ngây ngất như nhịn thở để
suy nghĩ. Bỗng Trình bàn:
- Hay ba anh em ta cùng về?
Khoa khen:
- Phải đấy!
Bỉnh cười:
- Mà về ngay để tránh cái đàn chay của cô ta.
Trâm vơ vẩn hỏi:
- Về à?... Nên bàn cho kỹ đã.
- Được rồi, mai bàn. Bây giờ thì hãy để hai chú đi nghỉ.
- Vâng, mời hai chú đi nghỉ. Màn đã buông rồi đấy ạ. Hai chú
nằm nghỉ ở sập gụ cho mát, cũng được.
Khoa lơ đãng:
- Được ạ. Xin mời anh chị đi nghỉ! Cư để mặc chúng em.
Sau khi vợ chồng Bỉnh vào tự thất, Trình và Khoa đứng nhìn
nhau hồi lâu, vẻ mặt bần thần. Trình bảo em:
- Thôi, đi ngủ.
Hai người thong thả thay quần áo.
Rồi Trình vặn tắt đèn măng-sông, bước lên giường nằm. Khoa uể
oải hỏi:
- Anh không nằm sập?
- Được, chú nằm sập, tôi nằm giường cho dễ ngủ. Chẳng nằm bên
nhau hay nói chuyện lắm.
Một giờ sau. Bỗng Trình cất tiếng hỏi:
- Khoa ngủ rồi?
- Chưa anh ạ... Lạ giường khó ngủ quá.
Sự thực, cũng như anh, Khoa đương băn khoăn, loay hoay nghĩ
ngợi về bức thư của người đàn bà mà đã hơn hai năm nay chàng không gặp mặt, tuy
thỉnh thoảng người ấy cũng có về làng để thu thóc thuế và đòi các công nợ.
- Anh có đoán về việc gì mà cô ta lại viết thư lên mời anh
huyện không?
- Chừng cô ta nịnh anh huyện, muốn lấy lòng anh chứ gì.
Nửa giờ qua, Khoa lại hỏi:
- Anh ngủ rồi?
- Chưa, Khoa ạ.
- Hay cô ta lập mưu ly gián anh em ta đấy?
- Ồ! Ly gián thế nào được! Anh em chúng mình thì Tư Đồ tái thế
cũng không chia rẽ nổi. Nhưng ta ngủ thôi. Cấm không ai được nói nữa đấy nhé.
Quả từ đấy không ai nói nữa. Nhưng cũng không ai ngủ được.
IV
Hôm sau là Chủ nhật. Trình và Khoa cùng dậy rất sớm. Dậy sớm
là một thói quen ở nhà quê, dù đêm trước người ta chỉ chợp mắt trong khoảng một,
hai giờ đồng hồ.
Trình ngồi ngả lưng trến ghế bành, hai chân duỗi thẳng, ngáp
luôn ba cái. Khoa tựa cửa sổ yên lặng nhìn ra cái vườn con ở đầu trái, mắt lơ
đãng theo đôi bướm lam đuổi nhau bay chập chờn trên những khóm bồ tát hoa đỏ
còn lấp lánh giọt sương mai, trên những bông cúc vạn thọ vàng, trồng trong miếng
đất hình bầu dục vây cỏ và tóc tiên.
Trình lắng tai nghe tiếng hót của con chích chòe, và bảo em:
- Ở đây yên tĩnh như ở nhà quê, Khoa nhỉ?
Khoa quay lại cười, đáp:
- Thì đây khỏi là nhà quê!
Trình vừa nhớ lại cái huyện nhỏ mà ở đấy chàng đã sống gần bốn
năm thơ ấu với Bỉnh và Khoa, với một người mẹ quá nuông chiều con. Chàng vụt có
một ý nghĩ buồn rầu: “Không biết anh huyện có để bụng những sự ăn ở bất công của
mẹ ta đối với anh ngày trước không?”
Chàng thấy hiện ra trong ký ức hình ảnh người đàn bà ốm yếu với
cái giọng nói the thé, với hai hàm răng rít lại mỗi khi nhiếc mắng đầy tớ.
Chàng rùng mình một cái và cất tiếng nói để xóa vội quãng thời xưa đương trở lại:
- Mấy giờ rồi, Khoa?
Khoa rút đồng hồ xem:
- Năm giờ băm nhăm.
- Mới thế thôi?
- Về mùa hè ngày dài, nên anh tưởng muộn rồi.
Trình đứng dậy dang hai cánh tay ra uốn mình vươn vai, rồi tò
mò cúi soi vào nước mưa trong, đựng đầy cái chậu sứ men trắng, lòng vẽ cành hồng
màu đỏ đặt trên chiếc giá gỗ ở một góc phòng.
- Rửa mặt rồi ra phố chơi đi.
- Vâng, phải đấy.
- Hôm nay Chủ nhật, chắc anh huyện ngủ trưa.
Như để đáp lại Trình, tiếng giầy kinh lệt sệt từ tư thất đi
lên. Và Bỉnh vào phòng cười cười nói nói:
- Tôi nghĩ ra rồi, hai chú ạ. Cô ta muốn bàn việc gả chồng
cho Cúc. Đích thế, hai chú ạ.
Khoa nghĩ thầm: “Thì ra đêm hôm qua anh huyện cũng loay hoay
về bức thư”.
Trình hỏi:
- Anh có biết gả cho ai không?
- Nghe đâu một sinh viên cao đẳng, trường Thuốc hay trường Luật
gì đấy...
Khoa tiếp, giọng qua quyết:
- Trường Luật.
- Chú biết à?
- Không, em đoán thế, đoán chắc thế, vì cô ta sính quan lắm,
khi nào lại chịu kén rể đốc-tờ.
Cả ba người cùng cười. Bỉnh khen:
- Tâm lý lắm!
Khoa thêm:
- Cô ta chẳng sính quan mà mới ngoài hai mươi lại chịu đi lấy
một ông lão gần sáu mươi.
Trình cười, đọc luôn câu ca dao:
- Giời mưa nước chảy qua sân,
Em lấy ông lão qua lần thì thôi.
Bao giờ ông lão chầu giời
Thì em lại lấy một người trai tơ.
- Bậy! Chú chỉ bậy!... Thôi, hai chú rửa mặt rồi ta ra tỉnh
chơi.
- Ta không về à?
- Ừ nhỉ. Tôi quên bẵng đi đấy... Nhưng có nên về ngay không?
Nhà tôi bảo hãy thong thả, vậy hai chú nghĩ sao?
- Cái đó tùy anh, tùy anh chị. Cô ta chỉ mời có anh chị.
Bỉnh ngẫm nghĩ, cho là Khoa nói kháy, nói mỉa rằng người dì
ghẻ muốn ăn cánh riêng với mình. Sự thực, câu nói của Khoa rất tự nhiên và thẳng
thắn, không có ý tứ gì xa xôi.
- Được rồi. Về! Ăn cháo xong rồi về.... Xem chuyện gì mà quan
hệ đến thế.
Bỉnh cười ha hả, như thích chí lắm. Trình nói:
- Phải đấy anh ạ. Về ngay xem cô ta muốn giở trò trống gì.
- Nhưng ăn cháo đã!
Bỉnh xuống nhà. Trình và Khoa cùng rửa mặt. Bỗng Trình như
nói một mình:
- Ừ, có lẽ thế đấy.
- Anh bảo gì?
- Có lẽ cô ta sắp sửa gả chồng cho con.
- Gả chồng cho con thì việc gì phải mời anh huyện về?
Trình vừa xát xà-phòng lên mặt vừa đáp:
- Thì cũng làm ra thế. Chả nhẽ gả bán một mình, anh em họ
hàng chẳng có ai nhìn nhận đến!
Khoa bật cười:
- Ấy là còn đoán thế. Đã biết đâu rằng người ta gả chồng cho
con!
Sau một lát im lăng, Khoa lại cười!
- Thì cứ mặc kệ có hơn không. Chúng mình làm như sợ hãi một
tin quan trọng về cô ta.
Nhận thấy câu nói của mình hơi hỗn xược, Khoa chữa liền:
- Phải không, anh nhỉ, chúng mình sợ cóc gì cô ta!
Trình vắt khăn mặt lên thành dá.
- Cô ta sợ chúng mình thì có.
Để tỏ sự lo sợ của người đàn bà, chàng kể không biết lần thứ
mấy những câu chuyện mà chàng coi như em chưa được nghe, những chuyện do thám
trong nhà, những lời thuật lại của bọn “lắm mồm lắm miệng”, cả những câu khấn
khứa của người đàn bà ở trước bàn thờ cha nữa. Chàng nói:
- Chú có nhớ câu cô ta khấn thầy ngày giỗ năm ia không?
- Có. Cô ta khấn: Lạy quan lớn...
Khoa phì cười tiếp:
- Quan lớn! Anh có biết tại sao cô ta cứ khấn thầy là quan lớn
không?
- Thì cô ta quen mồm đi rồi chứ sao. Ngày sinh thời thầy, cô
ta vẫn gọi thầy là quan lớn.
- Nhưng tại sao ngày sinh thời thầy, cô ta lại gọi thầy là
quan lớn?
- Để tỏ rằng mình là bà lớn chứ gì!
- Vâng, chính thế... Ngày giỗ ấy, cô ta khấn: “Lạy quan lớn,
quan lớn phù hộ cho nhà được vui vẻ, hòa thuận”.
- Cũng như lời trong bức thư gửi cho anh huyện.
- Vâng chính thế. Cô ta chỉ sợ chúng mình lôi thôi. Có biết
đâu chúng mình khinh không thèm chấp, không thèm nghĩ tới.
Hai người vừa nói chuyện vừa mặc quần áo. Trình mặc ta, nên
chỉ việc đóng cái áo trắng dài vào và chụp cái khăn lên đầu là xong. Còn Khoa,
thay mặc tây nên đã vào phía sau màn. Chàng như nói một mình:
- Vẫn cái lối lấy lòng bằng tiền. “Tôi chịu tiền dầu xăng cho
anh”!
Trình cười:
- Khoa làm như trước kia cô ta vẫn lấy lòng chúng mình bằng
tiền!
- Em nói đối với người khác cơ chứ! Đấy anh coi, ở làng ta
bây giờ, họ đi lại nịnh hót cô ta, một điều cụ lớn, hai điều cụ lớn. Mà cô ta
có mất gì đâu! Chẳng qua cho vay thì bắt viết ruộng! Lãi thì nặng chẳng kém chỗ
khác.
- Hơn cũng có ấy chứ lị!
Trình giọng khinh bỉ:
- Hừ! Tiền! Cô ta tưởng cứ giàu thì sung sướng được.
- Vâng, giàu thì sung sướng quái gì! Con đầy tớ của cô ta nó
thường sang kháo chuyện với nhà em rằng đêm hôm động có tiếng kêu là cô ta run
cầm cập, nói không ra hơi nữa. Mà hôm nào cũng cứ chập tối đã thét người nhà
đóng khóa các cửa.
Cả hai cùng thích chí cười ha hả. Nhưng cả hai cùng không khỏi
nghĩ đến cái đời vật chất sung sướng và đầy đủ. Đừng nói những ai giàu có hàng
chục vạn vội, cứ nhìn ngay Bỉnh cũng nhận thấy rằng tiền của làm người ta dễ chịu,
vui vẻ, bình tĩnh, mạnh khỏe nữa.
Nhất đối với Khoa, đã được ăn ở hai năm trong trường trung học
Albert Sarraut, thì sống đầy đủ lại càng là một ước vọng, hầu như một điều cần
thiết cho con người, nếu muốn sung sướng.
Chàng nhớ tới những tháng túng tiền tiêu vì chưa đòi được
công nợ hay vì thóc ế và hạ không bán được, vợ chồng phải ép lòng cần kiệm: Gạo
dùng ngày ba bữa tuy không hẩm nhưng cũ và hôi, còn thức ăn thì thường trên cái
mâm đồng đánh sáng nhoáng chỉ lỏng chỏng một đĩa dưa một dĩa cà, một đĩa rau muống
luộc và hai bát canh rau đay nấu cua đồng.
Ấy là nhà chàng còn khá đấy, chứ bên nhà Trình - hai anh em
tuy ở chung, nhưng vẫn ăn riêng - thì những ngày túng thiếu người vợ lại hà tiện
quá quắt, bữa nào cũng chỉ dọn một dĩa rau muống và một bát nước rau luộc, nổi
lềnh bềnh mấy quả cà chua.
So sánh mâm cơm quê mùa với bàn tiệc chiều hôm trước? Ôi mỉa
mai!
Giữa lúc ấy, người nhà lên mời sang phòng bên ăn sáng. Trình
hỏi:
- Quan đã lên chưa?
- Bẩm đã.
- Vậy sang thôi Khoa. Còn về kia mà!
Khoa, giọng cố làm ra thản nhiên:
- Vừa lên đã lại về ngay!
- Rồi tiện ô-tô lại lên nữa cũng được, chứ sao!
- Thế sao tiện!
Bỉnh bước vào phòng, nói:
- Tiện lắm chứ: Các chú rõ khéo kiểu cách. Trong anh em ruột
thịt mà cũng giữ gìn.
Khoa hơi ngượng, yên lặng mỉm cười.
- Mời hai chú xơi sáng rồi về cho sớm.
Ba người sang phòng ăn. Cái mặt bàn vuông giải khăn trắng
xanh, gần kín những liễn cháo bốc khói nóng thơm, những đĩa thịt gà luộc, những
đĩa chim rán vàng và các hộp cá, hộp gan đã mở nắp.
Trình cười bảo Trâm đương đứng bày thìa và đũa:
- Chị cho ăn thế này rồi về nhà mỗi khi ngồi vào mâm cơm rau
lại phải nhớ đến những bữa tiệc của chị.
Chàng thốt ra câu ấy cốt để lấy lòng người chị dâu. Nhưng
Khoa nhận thấy hết cả sự thực, sự thực chua sót, đau đớn. Bữa ăn sáng của nhà
Trình và nhà chàng ư? Một nồi cháo hoa, ai ăn thì tự múc ra bát mà ăn, nhạt thì
đã có muối, hay cà. Chàng vẫn tự an ủi rằng bữa sáng chỉ nên ăn một bát cháo
cho được nhẹ bụng, và chàng viện cả lời dạy của bác sĩ Pauchet: “Sáng dậy không
nên ăn gì, chỉ nên uống một cốc cà-phê loãng”. Nhưng nay ngắm bàn ăn của Bỉnh,
chàng nghĩ thầm: “Cà-phê! Làm quái gì có cà-phê mà uống!”
- Kìa mời chú Ba. Chú chỉ ngồi ngắm thức ăn.
- Xin chị để mặc em. Em không biết làm khách đâu.
- Vậy mời hai chú xơi.
Vừa nói, nàng vừa gắp bỏ vào mỗi đĩa của hai em chồng một cái
tỏi gà luộc. Trình hỏi cho có chuyện:
- Sao chị mua được bánh tây?
- A, tôi lấy sổ ở Hà Nội, hôm nào người ta cũng gửi xe hàng
đem vào, cả thịt bò cũng vậy.
Khoa liếc nhìn anh chị, sự thèm muốn, sự ghen tị nữa thoáng
hiện ra trong hai con mắt chớp mau. “Sung sướng thực! Sẵn tiền thì muốn có thức
gì là có thức ấy liền. Ngày ngày, mua bánh tây ở tận Hà Nội... Xa gần ba chục
cây số!” Câu bình phẩm của Trâm như tưới thêm dầu vào đống lửa ước vọng:
- Bánh tây thì các chú không mua được, chứ gà vịt chắc các
chú chả thiếu. Ở nhà quê hẳn gà vịt sẵn, trứng sẵn...
Bỉnh lại tiếp luôn:
- Và khi nào cao hứng, muốn quay một con lợn sữa chén với rượu
ngang thì cũng có ngay. Thần tiên lắm chứ!
Trình thực thà:
- Chúng em quen ăn rau mãi, dễ có ngày thành tiên thực đấy.
Nhưng Khoa im lặng ngồi ăn. Chàng vẫn có tính che đậy, và thường
nói úp mở để Bỉnh và Trâm tưởng mình sống đầy đủ quanh năm.
Chẳng thế mà những lần anh chị về chơi, vào lúc nhà không sẵn
tiền chàng lại bắt vợ phải ngầm đi gọi hàng sáo đến bán rẻ vài chục phương thóc
để có thể thết anh chị được những bữa tiệc tuy chẳng long trọng bằng bữa tiệc
hôm qua, nhưng cũng tươm tất, dễ trông.
Bỉnh vừa nhắc tới con lợn sữa cũng vì trong những bữa cơm ở
nhà quê, chàng đã có lần được ăn món ấy.
Bữa điểm tâm kéo dài hơn nửa giờ. Ai nấy ăn no như ăn một bữa
thường. Rồi trước chén trà mạn sen, câu chuyện gia đình bỏ dở chiều hôm trước lại
nối. Trâm bắt đầu gợi ra, bảo chồng:
- Tôi thiết tưởng hơn hết là cậu nói thẳng vào mặt cô ta rằng
cô ta giàu thì mặc kệ cô ta, cô ta đi đâu mà hống hách thì đi, không được về
làng mà hống hách xằng.
Khoa hùn thêm vào:
- Chị thế mà bướng hơn anh!
Được thế, Trâm hăng hái nói tiếp:
- Phải không, hai chú? Cụ lớn, cụ bé gì cô ta. Ngày thầy lấy
cô ta có cheo cưới gì đâu. Chẳng qua là nàng hầu gái theo.
Bỉnh mỉm cười:
- Thôi, tôi xin mợ! Bới đống phân ra làm gì cho thối hoăng
lên. Cứ để vậy, đừng chọc vào là hơn.
Trâm đưa mắt nhìn Trình và Khoa:
- Đấy, hai chú coi, anh nhút nhát như thế đấy.
Một tia ngờ vừa lọt vào ý nghĩ Khoa. Chàng cho rằng anh nay
làm quan sung sướng, sống biệt hẳn một nơi, rồi khi già về hưu tận nhà ở Hà Nội,
như thế còn dính dáng gì đến ai mà cần. Còn Trình và chàng thì khác hẳn, luôn
luôn bị một bọn dân làng xu phụ người đàn bà kia coi thường và có khi rói hỗn nữa
để nịnh hót kẻ mà họ hòng nhờ vả.
Cảm thấy yên lặng đã kéo dài và khó chịu, Bỉnh đứng lên nói:
- Chúng ta sắp sửa về thôi.
Phần thứ nhất - V & VI
Ô-tô ông huyện! Ô-tô ông huyện chưa về đến nhà, cả làng Giáp
đã biết. Cái tin ấy đã theo tiếng còi điện mà lan rộng mãi ra, mà bay vào các
xóm, các ngõ một cách rất mau chóng.
“A ha! Ô-tô ông huyện!”
Người ta nói ông huyện để khỏi lẫn với quan huyện cai trị mà
người ta sợ hãi. Cũng có người phân biệt bằng cách xưng hô sang trọng hơn:
“quan huyện nhà” hay thân mật hơn: “ông huyện Bỉnh”. Những người ấy phần nhiều
đều là chú, bác, cô, cậu, thím dì, trong họ nội, họ ngoại xa gần của Bỉnh.
- Bà Hai, bà Ba ơi! Các ông ấy đã về đấy, các ông cùng về
ô-tô với ông huyện.
Nghe tiếng réo ở cổng, vợ Trình ngơ ngác bảo vợ Khoa:
- Bậy! Mới đi hôm qua đã về sao được!
Vợ Khoa cười, đáp:
- Vâng, sớm lắm thì cũng một tuần lễ.
Rồi nàng quay bảo người ngồi cánh trên:
- Có ăn không thì bốc?
Vì lúc bấy giờ hai chị em dâu đương đánh chắn với ba người
láng giềng: bác lý Nghiên, bác phó Tới và chị xa Phiệt. Ruộng phần nhiều cho cấy
rễ, nên hai người đàn bà rất nhàn thường họp bàn chắn, tam cúc hay tổ tôm còm
cho đỡ buồn, nhất những khi hai người đàn ông vắng nhà.
Cũng như chồng họ, hai người đàn bà luôn luôn vui vẻ hòa thuận
với nhau. Trong họ ngoài làng người ta đều khen:
“Hai bà ấy coi nhau y như chị em ruột vậy!”
Song, trái với tình yêu mến thành thực, kín đáo và tự nhiên của
Trình và Khoa, sự thân thiết của hai người đàn bà thường ngượng ngập, ầm ỹ và
kiểu cách. Hình như họ phải cố gắng mới tỏ được với nhau những tính tình tốt đẹp.
Sự thực, trong thâm tâm họ vẫn ngấm ngầm âm ỉ sự tức tối và sự
khinh nhờn, sinh ra bởi giai cấp khác nhau: hai tính tình ấy không bùng lên,
không lộ ra cho mọi người trông thấy được là vì bị một tính tình khác mãnh liệt
hơn lấn áp: sự thù ghét bà Ba. Hai người chồng đối với bà Ba chỉ lãnh đạm, - có
lẽ phải cố làm ra thế để người làng khỏi chê rằng mình nhỏ nhen, tẹp nhẹp như
đàn bà. Nhưng Tính và Chuyên, hai người vợ, thì thù ghét ra mặt, thù ghét bằng
cách xử trí có khi tàn nhẫn, bằng lời nói có khi lỗ mãng trong những câu chuyện
bắn tin.
Họ không thù ghét sao được! Tính trong sáu năm và Chuyên
trong ba năm làm dâu, thời ông án còn tại chức, đã bị người đàn bà ấy dựa thế
cha chồng hạch sách, hành hạ đủ điều. Ngày nay nghĩ đến hai tiếng “mẹ kế” mà
người ấy thường nêu ra trong câu chuyện với bà con, hai chị em vẫn còn muốn lộn
tiết văng tục ra. “Đấy bà coi, đối với tôi là mẹ kế chồng các mợ ấy, các mợ ấy
còn xử thế đấy” “Thực tôi chỉ là mẹ kế các cậu ấy mà tôi ăn ở chẳng khác gì một
người mẹ đẻ”. Đáp lại nhưng câu nói đổng, bao giờ, ở trong phòng bên, Tính cũng
khúc khích cười bảo Chuyên: “Mẹ ranh!” Còn Chuyên thì tức uất, nghẹn ngào như sắp
tắt thở.
Nàng chịu làm sao nổi cái cảnh làm dâu “quái gở” ấy! Thà rằng
là mẹ chồng nàng cho cam! Chứ cái con người chưa tới bốn chục tuổi kia mà cũng
đòi làm mẹ nàng ư! Mà cũng chảnh lỏn, cũng tai ngược, hách dịch với nàng sao!
Nàng là con quan, con một quan phủ, con gái yêu một bậc mệnh phụ, chẳng lẽ lại
cúi mình đi hầu hạ một người đàn bà ít tuổi và không rõ “sản xuất” ở nơi tối
tăm hèn hạ nào!
Luôn luôn nàng bực tức nghĩ thế. Nhưng nếu đương vui vẻ trò
chuyện ở trong buồng mà nghe tiếng dép lẹp kẹp của người đàn bà bước vào thì
cũng như Tính, nàng thin thít im ngay, cái im lặng rụt rè và sợ hãi. Hơn thế, nếu
người kia có thớ lợ bảo: “‘mợ Ba’ hay ‘chị Ba’ làm ơn têm cho me mấy miếng giầu”
thì chẳng lần nào nàng dám lườm nguýt hoặc: nói lại một câu bóng gió mỉa mai. Họa
chăng lúc người vợ lẽ ra nhà ngoài ngồi vắt vẻo trên sập đối diện với cha chồng,
nàng mới dám bĩu dài môi dưới ra mà thì thầm: “Me gì, me tây ấy à?” Tính nghe
thấy nhét khăn vào miệng, cười chảy nước mắt.
Tính dễ dãi hơn, và trước khi Chuyên về làm dâu, nàng không
nhận thấy rõ rệt cái cảnh éo le đau đớn của mình. Chẳng qua có Chuyên xui xiểm,
và vạch ra cho nàng, nàng mới biết đường mà kình địch lại người vợ lẽ, một lối
kình địch nhút nhát trong xó tối.
Là vì nàng không sinh trưởng ở nơi quyền quý như Chuyên. Gia
đình nàng chỉ là một gia đình cự phú xứ quê, đã mấy đời quen tòng phục các
quan. Mỗi lần ông hàn sinh ra nàng đến chơi thăm bên thông gia là một lần ông
ta làm cho Chuyên bực bội: Ông ta khúm núm trước mặt ông án và người đàn bà, một
điều bẩm hai cụ lớn, hai điều bẩm hai cụ lớn, rồi xưng con xưng cái một cách rất
tự nhiên, không chút ngượng ngùng. Chuyên cho đó là một sự nhục nhã, nhục nhã
không những riêng đối với một mình Tính mà đối với chung tất cả mấy chị em dâu.
Chuyên cự Tính chẳng thiếu lời, nhưng Tính chỉ thở dài đáp lại: “Thím bảo tôi
biết làm thế nào? Ông cụ nhà tôi hiền lành quá, kia!” Chuyên cáu kỉnh gắt: “Chị
coi cụ cử sinh ra chị Bỉnh, cụ hách biết bao! Chững chạc biết bao!”
Tuy nàng tức thì nàng nói thế để bỉ ông hàn mà thôi, chứ
trong thâm tâm, nàng vẫn hiểu rõ rằng cụ cử Lương cũng như con gái cụ, ở vào một
trường hợp khác hẳn. Đối với Trâm, vợ Bỉnh, không bao giờ người vợ lẽ dám xưng
“me” và dám cư xử ra một bậc kế mẫu. Nàng cho rằng - và nàng chẳng hề giấu diếm
ai điều ấy - Bỉnh là con bà cả thì địa vị của Bỉnh cũng như địa vị của mẹ Bỉnh
đã rõ rệt lắm rồi. Còn như bà Hai mất đi đối với nàng cũng là vợ thứ, hơn kém
gì nhau! Chẳng qua lấy trước là bà Hai, mà nàng lấy sau là bà Ba. Vậy con bà
Hai tức cũng là con nàng và cái địa vị kế mẫu của nàng là riêng đối với bọn họ.
Bà Ba lý luận như thế cho suôi câu chuyện gia đình hơi rắc rối.
Kỳ thực, sự đối đãi phân biệt của nàng chỉ rõ rệt từ khi nàng thấy Bỉnh thi đậu
vào trường Đại học giữa lúc Trình và Khoa, vì lười biếng, chơi bời, bỏ học về ở
nhà. Một đằng có thể xuất chính nay mai và sống riêng một đời tự lập cao sang.
Một đằng ở nhà ăn bám cha và đương hy vọng được cha cấp vốn ra kinh doanh công
kia việc nọ. Cái mầm khinh, trọng khác nhau mộc rễ mỗi ngày một sâu trong óc
người đàn bà thông minh và khéo biết xoay liệu thời cơ.
Nhưng không phải vì thế mà bà Ba mất hẳn sức đàn áp đối với vợ
chồng Bỉnh. Một lần vì một câu chuyện lôi thôi trong gia đình, Bỉnh viết thư về
cho nàng, khuyên nàng nên “vừa vừa chứ”. Tức thì mấy hôm sau Bỉnh nhận được thư
trả lời của cha, trong đó cha nhắn tin cho “tên Bỉnh” biết rằng “tên ấy” là một
thằng khốn nạn. Lúc bấy giờ Bỉnh đang làm tham tá ở Ninh Bình. Chàng xin phép
nghỉ hai ngày về thăm nhà. Trình và Khoa khóc mếu thuật lại cho chàng nghe mọi
điều ức hiếp và lăng loàn của người dì ghẻ. Chàng đi thẳng xuống tư thất trỏ
vào mặt người đàn bà mà mắng nhiếc. Hai bên đôi co nhau làm cho ông án đương ngủ
trưa chợt thức giấc giữa những tiếng kêu trời của vợ lẽ.
Bị cha chửi, Bỉnh bỏ đi Ninh Bình. Và ngay hôm sau chàng nhận
được mấy hàng vắn tắt sau này của cha: “Mày dám đánh vợ tao, vậy từ nay tao cấm
cửa, không cho mày lai vãng tới nhà tao. Tao từ mày, không cha con gì nữa”.
Nhưng chỉ hai tuần sau Bỉnh đã được cha tha lỗi, gọi về chơi.
Đó là công trình của người vợ lẽ. Bà Ba biết rằng gây thù, gây oán với “anh
tham” không có lợi gì cho mình. Và từ đó nàng cũng đỡ ức chế vợ chồng Trình và
vợ chồng Khoa...
Thế rồi trong cái gia đình buồn tẻ, hai lần có sự biến đổi:
ông án về hưu trí và bảy năm sau ông qua đời. Trong bảy năm ở nhà quê, Trình và
Khoa sống bình tĩnh và tự do hơn; vì ông án đã chia ruộng, chia của cho hai người,
để ở riêng với vợ lẽ trong một dinh cơ khác xóm với chỗ ở của hai con.
Cái chết của ông án là một dịp thứ nhất để đôi bên trả thù
nhau. Chuyên khóc: “Hờ cha ơi, cha đi đâu cha bỏ các con. Bao nhiêu đứa nấp dưới
bóng cha mà được người ta kính trọng vì nể, nay cha trăm tuổi rồi thì bọn họ thực
là khổ sở, khốn nạn”.
Người vợ lẽ mỉm cười khinh bỉ trong cái mấn sô, rồi khóc đáp
lại liền: “Quan lớn ơi, quan lớn đi đâu quan lớn bỏ đàn con dại cho tôi. Quan lớn
ơi quan lớn đi thì sướng lấy một mình, nhưng lũ con quan lớn bồ côi, nheo nhóc,
quan lớn để lại cho tôi nuôi tôi dạy một mình, cực nhục lắm quan lớn ơi!”
Bỉnh thẳng thắn đến ghé tai dì ghẻ bảo nhỏ: “Cô khóc thế
không được!” Người đàn bà lại nức nở:
- Hờ quan lớn ơi, cực nhục cho tôi chưa, quan lớn nằm xuống
tôi đau đớn tôi khóc thì con quan lớn cấm tôi, không cho tôi khóc, hờ quan lớn
ơi!
Thế là cuộc chiến tranh bắt đầu.
Và gay go tới tận ngày nay.
Nhưng ngày nay sao lại có bức thơ của người đàn bà gửi lên
huyện cho Bỉnh, một bức thư lời lẽ rất ôn tồn êm thắm. Một bức thư hàng hay một
bức thư khiêu chiến?
Trình và Khoa không khỏi băn khoăn về điều đó. Tuy không ai
thú nhận với ai, cả hai cùng không dám bạo dạn nói thẳng ý nghĩ của mình với Bỉnh.
Ô-tô qua cổng vào sân. Tính và Chuyên xóa bàn chắn chạy ra
chào và hoảng hốt hỏi chồng xem có việc gì cần mà về vội thế, nhất lại cùng về
với anh huyện. Mãi lúc ấy Khoa mới buột miệng thổ lộ tâm sự của mình ra:
- Về để đối phó với “troisième”.
Và chàng giựt mình nghĩ thầm:
- Vậy ra khai chiến?
Tính sợ hãi:
- Đối phó việc gì thế?
Bỉnh mỉm cười:
- Đối phó một việc rất quan trọng: cô ta mời ba anh em sang dự
tiệc.
Chuyên vội kêu:
- Ấy chết! Đừng nhận nhời!
Bỉnh vẫn mỉm cười.
- Chừng thím sợ cô ta đánh thuốc độc giết chết cả ba anh em?
Chuyên hơi ngượng, đáp:
- Đánh thuốc độc thì chả dám đâu. Nhưng sang ăn cơm nhà cô ta
thì không tiện một tí nào.
Trình cười:
- Sao không tiện? Rồi các bà lại làm một bữa tiệc sang, sang
hơn mời lại chứ sao!
Khoa nghĩ ngay tới thực hiện:
- Tiệc tùng gì chả biết, mợ hãy làm ngay một mâm cơm, chẳng
đói lắm rồi. Dễ hơn mười một giờ rồi đấy.
- Ồ nhỉ!
Thế là hai người đàn bà mỗi người chạy đi một ngả, Chuyên ra
chợ mua thức ăn, Tính xuống bếp giục đun nước làm gà, và vo gạo thổi cơm.
VI
Bên nhà bà Ba cũng huyên náo, nhộn nhịp vì cái tin Bỉnh về
làng. Người đầu tiên trông thấy ô-tô của Bỉnh là Cúc.
Đứng cửa sổ trên gác nhìn ra chợ, Cúc thoáng nghe thấy tiếng
còi điện. Một cái ô-tô về làng bao giờ cũng là một sự khác thường và gợi tính
tò mò của mọi người. Cúc bảo mẹ:
- Mẹ ạ, có ô-tô về.
Bà Ba đương ngồi nói chuyện với sư cụ chùa làng, quay lại gắt:
- Cô lạ ô-tô lắm hay sao mà rối lên thế?
Nhà sư gặp được dịp tốt để nịnh một câu, cười nói:
- Bẩm cụ lớn với cô thì còn thiếu gì ô-tô!
Cúc đăm đăm nhìn rồi bỗng reo:
- Ô-tô anh huyện, me ạ.
Bà Ba đứng dậy xỏ chân vào dép đi ra cửa sổ:
- Xe anh huyện à?
Quả thực, ô-tô của Bỉnh lúc đó đương rẽ vào con đường chợ. Bà
Ba hãnh diện bảo sư cụ:
- Bạch cụ, tôi viết giấy bảo anh ấy về đấy mà.
- Bẩm cụ lớn viết thư truyền quan huyện về chơi?
- Ô thế thì mau quá nhỉ! Bẩm cụ lớn thời buổi bây giờ việc gì
cũng mau chóng... Bẩm cụ lớn thế bà lớn huyện có về không ạ?
- Chắc có. Nhưng một mình anh ấy về cũng đủ.
- Dạ. Chừng cụ lớn truyền quan lớn huyện về việc làm đàn hầu
cụ lớn ông?
- Bạch cụ vâng. Với lại còn một việc nữa. Cái việc tôi đã nói
vói cụ ấy mà.
- Dạ!
- Rồi cụ khuyên anh huyện nói hộ tôi một câu nhé?
- Dạ, xin vâng... Còn việc lập đàn, cụ lớn đã cho đặt mã rồi?
Cúc đứng cửa sổ kêu:
- Me ơi, xe anh huyện sắp qua nhà ta đấy, me ạ.
Bà Ba ra bao lơn cúi xuống đường gọi:
- Anh huyện!
Nhưng chiếc ô-tô êm lặng lướt qua, đi về phía nhà Trình và
Khoa.
Bà Ba như nói một mình:
- Thế thì thôi! Chừng còn cho đánh ô-tô vào sân. Cẩn thận
quá!
Sư cụ không bỏ một dịp nào có thể nịnh được: Cụ đương mong
ngóng cái đàn chay của bà Ba vì ít ra cụ cũng kiếm được... cho chùa một món lời
ngoài trăm bạc:
- Bẩm cụ lớn, chắc quan lớn huyện còn sắp quà các rồi cho người
nhà bưng sang biếu cụ lớn.
Bà Ba giọng thân mật và để nói tuế tóa:
- Ồ giời! Sư cụ còn lạ gì tính các anh ấy nữa, có cho các anh
ấy cái gì thì cho, chứ đừng hòng các anh ấy biếu chác!
Sư cụ lặng thinh, lúng túng, chưa biết nói sao để được lòng
bà Ba thì bà ta đã xoay ngay câu chuyện về ngả khác:
- Bạch cụ, cụ cho sửa soạn để đón cụ hội trưởng chưa?
Nhà sư thừa hiểu là cụ hội trưởng hội Phật giáo, nhưng cũng hỏi
lại cho được trọng thể:
- Bẩm cụ lớn, việc đón cụ lớn hội trưởng hội Phật giáo về diễn
thuyết ở chùa ta?
- Vâng.
- Bẩm cụ lớn, đã sắp sẵn xong đâu đấy cả rồi. Bẩm, giá cụ lớn
hội trưởng chịu đi võng trần từ chỗ đường cái rẽ vào làng thì đẹp quá! Nhưng cụ
lớn hội trưởng lại muốn đi xe tô-vin thẳng vào tận cổng chùa.
- Tôi đã bảo chánh hội và lý trưởng sửa chữa con đường đất rồi.
Sư cụ cũng biết rằng ông huyện đã thừa lệnh tỉnh, sức cho lý
trưởng phải bắt tuần tráng đắp rộng thêm con đường vào chùa để đón quan khách về
dự lễ khánh thành chi hội Phật giáo làng Giáp. Nhưng cụ vờ mở to cặp mắt để tỏ
sự kinh ngạc kính cẩn và nói:
- Dạ, thế thì phúc đức quá! Công đức cụ lớn thực cũng to bằng
công đức tô tượng đúc chuông. Sửa đường rộng rãi, quang đãng thì thiện nam tín
nữ các nơi mới kéo nhau đến nghe thuyết pháp đông được, rồi vì thế mà rạng rũa
con người, mà cải tà quy chính. Phúc đức quá!
Bà Ba mỉm cười:
- Bạch cụ, tôi lại nghĩ ra một mưu này để kiếm thêm hội viên
cho chi hội ta. Điều ấy tôi đã bàn với cụ Thiện và cụ Trường. Là chỉ cho những
người có chân hội vào nghe giảng thuyết thôi. Còn ghế ngồi thì dành riêng cho từ
chủ trì hội viên trở lên.
Nhà sư cười nịnh:
- Dạ, cụ lớn xếp đặt thực chu đáo quá!
- Cụ tính, đã mất công từ xa đến, ai không bỏ ra ba hào vào
thường hội viên để được nghe giảng kinh. Còn ai chứ con mẹ hàn Liêu thì sống chết
nó cũng cúng năm chục bạc để được một chân tán trợ hội viên mà lên ngồi chễm chện
hàng ghế đầu.
Sư cụ vẫn cười:
- Dạ, có thế!
- Phải không cụ, tội gì lại không làm tiền cho hội?
- Dạ.
- Mình có làm tiền cho mình đâu!
- Dạ.
- Mình còn có thể quyên tiền nữa. Chà! Làng ta chán người
giàu ra đấy.
- Dạ, giàu của lại giàu cả lòng từ thiện. Bẩm thực quý hóa
quá!
- Cụ tính làm việc từ thiện như thế để được phúc cho mình,
cho con cái mình, thì ai chả muốn.
- A di đà Phật! Phúc đức quá! Vậy nhất định mồng bốn này cụ lớn
hội trưởng về?
- Bạch cụ, vâng.
- Bẩm cụ lớn hội trưởng nhất định đi xe tô-vin vào tận cổng
chùa?
- Vâng.
- Giá cụ lớn hội trưởng dùng võng trần thì vẫn có thể thống
hơn. Đi võng trần che bốn lọng trông đẹp biết bao!
Bà Ba ngẫm nghĩ rồi nói:
- Được, để tôi bàn với cụ Trường. Có thế nào sẽ viết thư
trình lại cụ hội trưởng cũng kịp. Còn thứ tự lúc rước về chùa thì tôi định thế
này: cụ hội trưởng đi đầu rồi đến cụ Trường, cụ, cụ Thiện, mỗi cụ một lọng,
riêng một xe cao su.
- Bẩm cụ lớn thế thì long trọng lắm.
- À, bạch cụ, cụ hay cụ Trường thuyết pháp?
- Bẩm, để cụ Trường vì cụ tốt giọng.
- Tôi đã đổi hai chục bạc trinh. Tôi định hễ thuyết pháp xong
là tôi phát chẩn.
- A di đà Phật! Phúc đức quá! Cụ lớn bố thí cho kẻ khó?
- Vâng.
- Bẩm cụ lớn chăm làm việc thiện lắm. Trong báo Đuốc Tuệ kỳ
này thấy có đăng cụ lớn cúng vào hội trung ương năm mươi nhăm đồng.
- Thế à? Thế mà tôi không biết đấy.
Kỳ thực, bà Ba đã nhận được số báo Đuốc Tuệ ngoài bìa có đánh
dấu và ghi bằng nét chì xanh số trang đăng giòng tên bà với số tiền cúng năm
mươi nhăm đồng cũng gạch chì xanh. Bà chưa kịp đem báo khoe với cụ Giáp, cụ Trường,
cụ Thiện thì nay chính cụ Giáp lại nhắc đến, khiến bà sung sướng và cảm động.
- Bẩm cụ lớn, chúng tôi thấy cụ Trường nói chuyện, cụ Trường
đọc quốc ngữ thông lắm rồi ạ. Cụ học thế cũng phải. Chẳng nhẽ cụ hội trưởng một
chi hội Phật giáo mà lại không đọc nổi sách quốc ngữ.
Nhà sư cười có vẻ hóm hỉnh, hỏi lại:
- Bẩm cụ lớn nghĩ có phải không ạ?
- Vâng, với lại quốc ngữ học cũng dễ. Bạch cụ tôi cúng năm
mươi nhăm đồng là vì... tại sao lại cứ phải cúng đúng năm mươi đồng như mọi người
khác?
- Dạ.
Giữa lúc ấy Cúc ở ngoài bao lơn đi vào, nói:
- Me ạ, chị phó Tạc chị ấy đến đây.
- Đâu?
- Bẩm, con thấy chị ấy đội một mâm nhãn. Bà Ba như quên có
nhà sư ngồi bên, cất tiếng quát lớn, chừng để ra oai:
- Con phó Tạc đấy phải không? Bà truyền đời cho mày biết,
chuyến này mà không trả nợ bà thì bà cắm nhà, thì bà cắm ruộng.
Một người đàn bà sống, áo, khăn cùng một màu nâu bẩn bạc thếch
mà người ta không đoán được rằng đã đeo vào cái thân thể gầy gò già cỗi từ bao
giờ. Cái dúm giẻ ấy cúi đặt mâm nhãn xuống sàn gác rồi ngồi phệt theo xuống mà
vừa lạy vừa nói:
- Con cắn rơm cắn rác con xin cụ lớn, cụ lớn sinh phúc cho
con, quả thực tình cảnh vợ chồng con chưa sao lo kịp...
Bà Ba thét:
- Chị séo ngay, tôi không sinh phúc sinh đức gì cả. Tôi
thương chị nhiều lắm rồi. Chị xem có bao giờ tôi cho vay chục bốn, chục năm như
thế đâu! Ít nhất là chục sáu. Tôi thấy vợ chồng chị đông con cái, tôi thương.
Chị phó soắn ngay lấy câu ấy:
- Vâng, bẩm cụ lớn, cụ lớn thương chúng con lắm, thương chúng
cón nhiều lắm. Nhưng lần này cụ lớn đã thương thì cụ lớn thương cho trót. Chúng
con mới bỏ mất đứa cháu, tốn bao nhiêu tiền thuốc tiền thang mà nó chết vẫn
hoàn chết.
- Ối chào! Chị kể lể lôi thôi lắm.
- Lạy cụ lớn, cụ lớn thương chúng con một chuyến nữa, một
chuyến này nữa thôi.
Bà Ba cười:
- Tôi thương chị để tôi chết đói nhé! Tôi chết đói thì có ai
thương tôi không? Thôi đi! Đi ngay!
Chị phó Tạc vẫn cố kêu van:
- Lạy cụ lớn...
Nhưng bà Ba quả quyết không cho nói:
- Tôi không nghe nữa mà. Đi đi!
Rồi gọi:
- San, Tửu! Lôi chị ấy ra, giả nhãn chị ấy! Tao đương bận
đây.
Tức thì người đàn bà bị đứa đày tớ gái lực lưỡng ẩy xuống
thang gác. Tiếng quả nhãn rụng rơi lác đác và lăn long lóc từng bực. Bà Ba vẫn
chưa hết tức, còn quát theo:
Bà mỉm cười im lặng nghĩ thầm: “Thế nào mai nó chả đến xin viết
gộp vốn lãi. Được rồi! Bằng già mẫu ruộng đấy. Chứ ngữ ấy cũng khó lòng mà giả
được! Ở nhà quê không khôn khéo, không chặt chẽ thì không xong với những quân
khốn nạn!”
Bà quay lại và như vừa chợt trông thấy cụ Giáp ngồi trong ghế
bành, vẻ mặt trầm ngâm suy nghĩ, mắt lơ đãng nhìn qua cửa sổ xuống cái ao bèo
hình chữ nhật. Bà ngập ngừng bảo nhà sư:
- Bạch cụ, họ tệ lắm cơ ạ. Họ chỉ òn thế thôi chứ vụ chiêm
năm nay được mùa, họ đã đến nỗi gì.
- Dạ, quả có thế ạ.
- Bạch cụ, gặt được thóc nó để nó bán, chứ nó không chịu trả
nợ. Nếu không có năm chục thùng thóc của tôi cho vay thì vợ chồng con cái nhà
nó đã chết nhăn răng ra rồi còn đâu đến ngày nay.
- A di đà Phật! Cụ lớn phúc đức lắm, cụ lớn đã cứu sống bao
nhiêu người. Nhưng việc gì cũng phải có giới hạn chứ!
Đó chỉ là một câu nịnh hót không ngụ một ý nghĩa mỉa mai,
nhưng bà Ba tự nhiên thấy ngượng, cất tiếng gọi để đánh trống lảng:
- Cô Cúc ơi!
Cúc chạy vào, tay cầm chiếc nhẫn vàng chạm.
- Sao nước lâu thế, con?
Nhà sư đứng dậy, kính cẩn nói:
- Bẩm cụ lớn xá cho.
- Ấy, mời cụ ngồi chơi uống chén chè mạn sen đã.
Cụ Giáp lại hắng dặng ngồi xuồng. Cúc, giọng nũng nịu, nói với
mẹ:
- Cái nhẫn này cổ lắm mà thô lắm me ạ, me đánh lại cho con.
Bà Ba đăm đăm nhìn con, ngẫm nghĩ. Rồi như chợt nhớ ra, bà bảo
nhà sư:
- Hôm đúc tượng đức thánh Mẫu cụ nhắc tôi để tôi cúng chiếc
nhẫn này vào lò đồng.
Cúc vội kêu:
- Con chịu thôi!
Bà Ba gắt:
- Con bé mới dại chứ! Chả phúc nào bằng đâu, con ạ, Con cứ
cúng vào rồi me đánh cho con chiếc khác.
Sư cụ xuýt xoa khen:
- Dạ phúc đức quá!
- A, cụ định hôm nào khánh thành đền Mẫu!
- Bẩm cụ lớn tôi muốn để đến tháng Tám mát giời. Nhưng cũng
còn tùy cụ lớn.
- Cụ để đến tháng Tám cũng phải.
Cái đền Mẫu ấy cụ Giáp dựng lên bằng những món tiền quyên của
thiện nam tín nữ, trong số đó có hai trăm bạc của bà Ba. Năm trước cụ vừa ngỏ ý
lập đền, các bà “từ thiện” quen thuộc đã tranh nhau cúng tiền, cúng gỗ, cúng gạch.
Ở trong làng và khắp mấy tổng lân cận, ai ai cũng mến phục cụ Giáp. Họ mến phục
cụ không phải vì cụ thông thạo kinh kệ, biết rộng về đạo Phật - xuất thân đi ở
chăn trâu cho nhà chùa, cụ còn biết rộng sao được! - nhưng vì cụ cao tay và giỏi
các phép ngoại. Những bùa của cụ đã nổi tiếng khắp vùng là linh thiêng. Ai có
người nhà bất hạnh chết vào giờ trùng, ngày trùng, chỉ việc đến xin cụ một đạo
bùa về yểm là gia đình sẽ chắc chắn được yên lành. Ai có cái mụn nhọt, cái ổ gà
đau đớn ở nách, cái đinh râu nguy hiểm ở cằm, ở mọi đến nhờ cụ khoán cho sẽ khỏi
tức khắc. Rồi nhiều ít, muốn cúng bao nhiêu tùy tâm, cụ không nài. Nhưng thường
thường người ta cúng rất hậu, để trả ơn cụ một cách xứng đáng cũng có, nhưng nhất
là để tránh sự báo thù ghê gớm của cụ.
Thực ra, sư cụ chưa “phản” ai bao giờ, nhưng người ta vẫn sợ
bóng sợ vía cụ và huyên truyền những bí thuật của cụ, khiến người nghe phải
rùng rợn, dựng ngược tóc gáy. Còn điều gì người ta dám ngờ khi người ta đã khiếp
sợ! Bởi vậy, cụ vừa kể những điều mà đức thánh Mẫu về báo cho cụ biết trong giấc
mộng, mọi người xuýt xoa tin ngay. Và bởi vậy, ngôi đền Mẫu sặc sỡ đủ các màu,
lấp lánh những mảnh sứ, chói lọi những cột son, những cửa võng vàng, chỉ trong
vòng có gần một năm đã hoàn thành.
- Bẩm cụ lớn hôm khánh thành chúng tôi định mở cờ người cho
vui.
- Tùy cụ. Rước cụ xơi nước.
- Không dám, xin rước cụ lớn.
Uống cạn chén chè mạn, nhà sư đứng dậy cáo từ. Bà Ba tiễn ra
tận cổng.
Lúc trở vào, nghe có tiếng chó kêu trong bếp, bà vội đi xuống
và thấy thằng San đương cầm một cành tre tươi nhỏ vụt túi bụi vào mình con Cún
buộc ở cột. Con chó co thẳng xích để cố tránh những roi đòn, và ăng ẳng kêu om
lên như để van lơn hay cầu cứu. Bà Ba thét mắng:
- Sao mày đánh nó thằng kia?
San bỏ con vật quay lại:
- Bẩm hỗn lắm, con ngồi chặt thịt gà, nó cướp ngay mất một miếng.
- Thế thì đã sao! Mày ác lắm, tàn nhẫn lắm. Mày phải biết nó
cũng biết đau như mày, cũng có linh hồn như mày, kiếp trước nó cũng làm người
như mày. Mày xử với nó như thế à? Mày hành hạ nó thế à? Chẳng sợ xuống âm phủ,
bị cưa đầu, cắt lưỡi, bị vứt vào vạc dầu, rồi kiếp sau lên làm chó thay nó! Người
ta phải có lòng nhân từ, mày hiểu chưa, nhân từ đối với người, đối với súc vật,
đối với cả cỏ cây, vì cỏ cây cũng có linh hồn, kinh Phật dạy thế.
Bà Ba đến tháo xích cho con vật, rồi vuốt ve nó, nói nựng:
- Thôi con, con đừng chấp nó. Nó ngu lắm, nó không hiểu nghĩa
lý gì hết. Con cứ chịu nhẫn nhục rồi kiếp sau con sẽ lên làm người, con ạ.
Làm xong một việc từ thiện đối với con vật khốn nạn, bà Ba
thong thả, buồn rầu lên gác, lòng rạo rực nỗi đau thương.
Phần thứ nhất - VII & VIII
Ở nhà người dì ghẻ ra, Bỉnh lững thững bước một trên con đường
làng lát gạch. Chàng không muốn về vội. Vì chàng biết rằng vợ chồng Trình và vợ
chồng Khoa đương chờ tin tức cuộc hội kiến của chàng với bà Bà. Mà chàng chưa
quả quyết nên trả lời họ ra sao. Nói ngay tất cả sự thực hay đợi thong thả để họ
tự hiểu tình thế đã. Chàng nghĩ thầm: “Nói đột ngột thì chắc thế nào hai người
cũng từ chối thì cũng hơi vô lý”.
Bỉnh cười lẩm bẩm: “Vô lý! Vô lý quá! Cô ta đâm ra tử tế
chăng?”
Chàng nhớ lại diện mạo người đàn bà mà chàng thấy hiền lành
hơn trước nhiều, có vẻ phúc hậu nữa: “Hay vì cô ta mộ đạo Phật, vì đức Như Lai
đã mở mắt, khoan tai cho cô ta!” Lần thứ hai chàng cười lên tiếng: chàng không
thể tin rằng người đàn bà ấy lại mộ đạo đến nỗi cải ác vi thiện được!
Chàng trang nghiêm nghĩ tiếp: “Nhưng có gì là vi thiện đâu?
Mình cứ đứng về phương diện tiền là nghĩa lý quái gì! Biết đâu cô ta không vì sợ
hãi... Phải, sống cái đời sống trơ trọi chưa đáng ghê sự, chưa đáng rùng rợn,
nhưng trơ trọi sau khi chết, chẳng ai cúng giỗ... Đích rồi đích thế rồi, chứ có
gì là cải ác, có gì là vi thiện? Chẳng qua chỉ là ích kỷ. Lúc sống vơ vét để
làm giàu, rồi khi trở về già sửa soạn cho cái chết được long trọng, cho linh hồn
sau này sẽ được có người cúng lễ. Sống ích kỷ, chết ích kỷ! Cái linh hồn ích kỷ
ấy còn siêu thăng tịnh độ sao được mà tu với hú!...”
- Thưa anh đi đâu đấy ạ?
Bỉnh quay nhìn: chàng đã đi qua con đường hẻm rẽ về nhà. Đứng
dưới cái vòm cổng, lố nhố bốn, năm người đàn bà, trong số đó có Tính và Chuyên.
Nhận ra được hai em dâu, Bỉnh mỉm cười đáp:
- Không, tôi về nhà đây thôi.
Chuyên cười:
- Sao anh lại định đi thẳng?
Tính nói tiếp:
- Ý chừng bác huyện lâu nay không về, quên mất cả đường rồi.
Người đàn bà đứng bên, mà Bỉnh chưa nhận ra ai, cười khanh
khách nói đùa:
- Chà! Ngài đương quên, ngài định mò ra xóm Đông đấy thôi.
Bỉnh đã rẽ vào tới cổng.
- À, bác phó, bác bảo tôi mò ra xóm Bông làm gì?
- Làm gì thì quan lớn biết chứ, cần gì phải hỏi tôi?
Cả bọn cùng cười. Bỉnh ngơ ngác:
- Nhưng tôi không hiểu.
Tính nói:
- Bác phó nói ý bác ra xóm Đông xem mặt vợ lẽ, xem mặt cái...
à à... chị Suốt ấy mà.
- Bác chỉ nói bậy! Tôi đã thề không lấy vợ lẽ.
- Ô chào! Quan lớn thề cây khoai giữa đồng!
- Thực mà! Tôi thề với hai chú cháu, cả hai chú cháu cũng thề.
Không tin rồi bác hỏi hai chú cháu mà xem.
Bà phó Quang mặt tâng hẩng, trơ trẽn.
Suốt là cháu bà, bà vẫn ước ao được vào “hầu hạ quan huyện”,
nên nghe người ta huyên truyền cái tin Bỉnh muốn lấy vợ lẽ người làng, bà như mở
cờ trong bụng. Suốt là người có nhan sắc lại vừa đến tuổi cập kê, ở trong làng
còn ai không biết. Cả ông huyện Bỉnh cũng không lạ. Vì một lần bà có nghe chồng
bà nói với bà rằng “quan huyện” khen mãi con bé đẹp quá. Vì thế, nay bà mới gợi
chuyện để dò ý tứ Bỉnh.
Chuyên mỉm cười:
- Các ông thề độc thế?
Bỉnh, giọng bí mật!
- Để báo thù Troisième.
Ai nấy ngơ ngác không hiểu. Nhưng tiếng “troisième” nhắc
Chuyên nhớ tới cuộc hội kiến của anh chồng. Nàng rủ Tính ra cổng chờ Bỉnh về để
hỏi thăm tin tức, rồi liên miên chuyện nọ chuyện kia nàng đã quên bẵng đi.
- Thế nào, anh?
- Còn thế nào nữa. Cám ơn bác phó có lòng tốt, nhưng quả
không sao được.
- Không, em hỏi anh về việc anh sang bên ấy kia chứ.
- À!... Để tí nữa về nhà nói chuyện.
Bà phó Quang và hai người đàn bà lạ biết anh em Bỉnh có việc
kín không muốn để lộ cho ai hay, liền chắp tay chào từ biệt.
Bỉnh và hai em dâu yên lặng vào trong nhà. Trình và Khoa đứng
ở sân chừng cũng đương mong ngóng anh về. Thấy mặt Bỉnh có vẻ nghiêm trang,
Khoa lo lắng đưa mắt nhìn Trình, rồi quay ra hỏi:
- Việc gì đấy anh?
Bỉnh chậm rãi đáp:
- Viêc... hơi quan... hệ.
Thấy Trình đổi sắc mặt và nhận rõ cái giọng quá trịnh trọng của
mình, Bỉnh phá lên cười nói chữa:
- Nghĩa là chẳng quan hệ gì cả.
Khoa hỏi, hơi có giọng gắt:
- Nhưng là việc gì kia chứ?
Trình tiếp luôn:
- Việc nhân duyên của Cúc, phải không anh?
Bỉnh vẫn im lặng, mỉm cười suy nghĩ: chàng chưa biết nên bắt
đầu câu chuyện ra sao. Tính băn khoăn nhìn chàng rồi đáp câu hỏi của chồng:
- Nhân duyên nhân quả gì! Mới mấy tuổi ranh!
Chuyên bĩu môi:
- Mấy tuổi ranh! Mười sáu tuổi, còn gì! Hai cái vú thây lẩy
ra!
Khoa nóng ruột hỏi dồn:
- Vậy có phải việc gả chồng cho Cúc không? Hay việc làm chay
cho thầy?
Bỉnh nhìn một vòng quanh bốn người, rồi đáp:
- Việc thừa tự.
- Thừa tự?
- Thừa tự?
Hai tiếng thừa tự từ miệng nọ truyền sang miệng kia bằng một
giọng bí mật, khiếp sợ.
- Thừa tự gì thế anh?
Bỉnh đi vào trong nhà, ngồi xuống chiếc ghế bành bằng cói. Bốn
người đứng quây quần chung quanh để chờ câu giải nghĩa.
- Kiện thừa tự hay sao, anh?
Bỉnh cười:
- Không, kiện cáo gì đâu! Cô ta muốn tìm người thừa tự.
Yên lặng vụt trở nên nặng nề, lạnh lẽo. Ai nấy như chợt lưu ý
tới cái gia tài kếch sù của người đàn bà. Khoa lấy thuốc lá đánh diêm hút cố
làm ra vẻ lãnh đạm. Trình thật thà và thẳng thắn hơn, ngồi ngây người suy nghĩ.
Còn Chuyên và Tính thì đăm đăm nhìn nhau, miệng hơi hé, mắt kinh ngạc mở rộng.
Khoa hắng dặng đưa gói thuốc mời Bỉnh:
- Anh xơi thuốc.
Rồi chàng cười nói tiếp:
- Ở nhà quê chỉ có toàn một hạng thuốc lá sáu xu. Anh xơi tạm.
- Tôi có thuốc lá Ăng-lê đây.
Bỉnh móc túi lấy ra gói Camel:
- Hai chú xơi. Tôi thì tôi thích hút thuốc lào hơn.
Khoa đỡ gói thuốc rút một điếu, rồi tiếp lửa ở điếu thuốc dở
sang mà hút. Đoạn, chàng ném mạnh ra sân điếu thuốc lá rẻ tiền và cười nói:
- Có mới nới cũ!
Cũng như Trình và Chuyên, Tính vẫn lặng lẽ theo đuổi ý nghĩ của
mình. Nàng than thở hỏi:
- Thế cô ta đã chọn ai chưa?
Chuyên bĩu môi:
- Còn ai nữa? Lại họ hàng nhà cô ta chứ ai vào đấy!
Trình bàn góp:
- Con lão cả Lai chẳng hạn.
Tính làm ra mặt thạo:
- Không, cô ta có ưa gì thằng cha ấy đâu. Có lẽ lại con chị
cô ta, con lão phán Tị.
Chuyện cười sung sướng:
- Bố con thằng cha ấy mà phá thì phải biết! Cái gia tài của
cô ta khéo lắm được dăm năm.
Bỉnh giọng thản nhiên:
- Các chú, các thím đoán sai hết. Đố biết cô ta định chọn ai?
Ai nấy lại âm thầm suy nghĩ để cố tìm một người xứng đáng. Bỗng
Khoa múa tay reo:
- Ha ha! Tôi tìm ra rồi.
- Ai? Ai? Ai?
Mọi người nhao nhao hỏi.
- Tôi.
Trình và hai người đàn bà cùng thét lên cười.
- Gần đúng!
Câu tuyên bố của Bỉnh làm cho ồn ào im bặt:
- Gần đúng?
- Sao lại gần đúng?
Đi trước câu trả lời của Bỉnh, Khoa đáp:
- Chọn dễ nhỉ! Đã biết đâu tôi bằng lòng lòng mà chọn?
Tính cười, gật gù nói:
- Phải, chẳng nhẽ băm nhăm tuổi đầu rồi còn đi làm con làm
cái người ta!
Chuyên lườm nguýt chị dâu:
- Chị ăn nói hay nhỉ!... Đùa cũng phải tùy từng câu chứ!
Bỉnh vội can:
- Thôi, tôi xin Hai thím. Ta nén bình tĩnh mà bàn việc này.
Cô ta viết thư mời tôi về cốt để hỏi ý kiến tôi về việc này. Cô ta định chọn
trong hai chú để... để...
Khoa cười nói tiếp:
- Thì cứ nói thẳng: để ăn thừa tự cô ta, để sau này cúng giỗ
thờ phụng cô ta.
Chuyên được dịp trả thù chị dâu, liền hỏi Trình:
- Thế nào, anh bằng lòng làm con cái cô ta chứ? Băm bảy làm
con một người bốn nhăm, bốn sáu cũng chẳng quá đáng.
Bỉnh cười:
- Thôi, tôi xin hai thím!
Chàng ngẫm nghĩ một lát, rồi nói tiếp:
- Thiết tưởng cái gia tài hàng vạn của cô ta chẳng qua cũng
là tiền cô ta xoáy của thầy. Vậy thì dẫu các chú có hưởng cũng chẳng ai dám dị
nghị, cũng chẳng thẹn gì với lương tâm... Chẳng... qua... Chẳng qua của thiên lại
trả địa.
Bỉnh cất tiếng cười vui vẻ, vì vừa tìm được một câu tục ngữ
có ý nhị và dùng đúng chỗ.
- Cô ta đã nhất định chọn một chú trong hai chú rồi. Cô ta chỉ
hỏi ý kiến tôi xem nên chọn chú nào mà thôi. Vậy hai chú nghĩ sao?
Không thấy hai em trả lời, Bỉnh lại nói:
- Hình như cô ta khá hơn trước nhiều. Có lẽ đạo Phật sẽ hoán
cải được cô ta chăng? Cô ta bảo tôi: “Lấy chồng phải gánh giang san nhà chồng.
Tôi chẳng bù chì cho các anh ấy thì còn bù chì cho ai? Lọt sàng xuống nia, phải
không anh?...”
Khoa giọng chua chát:
- Nhưng cái sàng ấy lỗ nhỏ quả khó lòng mà lọt được xuống nia
được. Vả câu ấy dùng vào trường hợp này chẳng có nghĩa lý gì hết.
Chuyên cau mày bảo chồng:
- Thì mình hãy để cho anh nói hết đã nào.
- Câu chuyện chỉ có thế. Cô ta muốn... xin một người trong
hai chú để... ăn thừa tự cô ta... Cô ta hỏi ý kiến tôi, nhưng tôi nói để hỏi
hai chú hộ. Hình như cô ta cũng sợ hai chú từ chối nên dặn tôi hãy dò la ý tứ
hai chú đã... Tôi xem ra cô ta thành thực lắm. Có lúc cô ta cảm động quá, vừa
nói vừa rơm rớm nước mắt...
Khoa cười gằn, ngắt lời:
- Chà! Nước mắt cá sấu.
Chuyên cự chồng:
- Cậu lạ quá! Không để anh nói, cứ đâm ba chẻ củ. Cậu coi anh
Hai, anh có nói gì đâu?
Khoa mỉa mai:
- Dễ mợ bằng lòng rồi đấy chắc?
- Ô hay! Cậu ăn nói hay nhỉ! Cậu bảo bằng lòng cái gì mới được
chứ. Chẳng qua việc là việc anh em nhà cậu, nào có can dự gì đến tôi mà bảo tôi
bằng lòng với không bằng lòng!
Lần đầu Trình bàn chen vào, hình như chàng đã suy xét, cân nhắc
kỹ càng những lẽ phải trái, hơn thiệt rồi mới nói:
- Chúng ta không nên cãi lý nhau, vô ích. Phải bình tĩnh mà
tìm trông rõ sự thực. Sự thực thì hiện giờ ra sao? Đó, câu hỏi chính. Hiện giờ
thì cô ta có một người con gái. Yêu ai cũng chẳng bằng yêu con. Vậy của cải, tài
sản của cô ta, tất nhiên người con gái ấy đáng được hưởng nhất, và sẽ được hưởng
hết. Cái lý phải như thế. Nhưng sao cô ta lại muốn có một người thừa tự? Đây có
hai lý do.
Bỉnh phì cười:
- Chú Hai lý luận như một ông giáo già.
Chuyên cũng cười theo:
- Nhưng anh Hai lý luận đúng phép lắm. Vậy hai lý do ấy là những
lý do gì, thưa anh?
- Có hai lý do: một là cô ta muốn có một người cúng giỗ cô ta
sau này. Muốn được thế, phỏng có khó khăn gì. Chỉ việc tách ra một số ruộng nhiều
lắm là ba chục mẫu để dùng vào việc hương hỏa cho cô ta, nghĩa là độ vào một phần
mười cái tài sản mà cô ta sẽ cho con rể và con gái.
Chuyên vẫn cười:
- Còn cái lý do thứ hai?
- Cái lý do thứ hai là cô ta muốn che mắt thiên hạ, muốn lấy
tiếng với họ với làng... rằng mình tốt như thế đó. Vả cô ta lại muốn lấy lòng
anh em mình nữa.
Một dịp vỗ tay của mọi người xen vào trong, tiếng cười reo ầm
ỹ. Lũ trẻ, con Trình và Khoa đương chơi ở bên láng giềng tưởng có chuyện gì
hay, chạy ùa cả về đến đứng trố mắt nhìn.
Chuyên quát:
- Đạc! Nam, Phiên đi chai! Đi chơi, cả Liên nữa.
Tính nhăn nhó bảo mấy đứa:
- Đi chơi đi! Người lớn nói chuyện, trẻ con không được đứng
nghe như thế!
Bốn đứa trẻ lại cùng nhau chạy ra cổng.
Một phút im lặng khó chịu.
Tính hỏi cho có chuyện:
- Bao giờ bác đi?.
- Lát nữa, thím ạ. Đi đêm càng mát. Vậy tôi cứ trả lời cô ta
rằng... hai chú không nhận...
Tính vội đáp:
- Chà! Tội gì bác phải trả nhời! Cứ để mặc kệ.
Chuyên biểu đồng tình:
- Phải đấy, cứ để mặc kệ cho cô ta hy vọng.
Im lặng mỗi lúc một thêm nặng nề. Cái sân gạch đã rợp hẳn.
Ánh nắng còn phảng phất trên ngọn cây trúc đào, lấp lánh trong mấy buồng cau
vàng mới nở. Khoa đăm đăm nhìn đám mây đen viền vàng từ từ đùn lên sau nóc nhà
tranh hàng xóm, và lẩm bẩm như nói một mình:
- Không khéo có cơn giông.
VIII
Một buổi sáng oi nồng. Không một làn gió thoảng. Sau giải tường
hoa ngăn khoảng vườn với cái sân gạch rộng, hàng ngọn cau đứng im tăm tắp; những
tàu lá héo khô gãy đảo ngược xuống và những bẹ mo cháy xạm còn dính vào thân
cây như âm thầm chứa ở trong hết cả cái nóng của chuỗi ngày hè. Một chút cảm
giác mát phảng phất trong bóng xanh giàn thiên lý, trong hương thơm hoa thiên
lý và trong tiếng hót của con chim chích chòe luôn luôn bay chuyền quanh mấy
nóc nhà ngói.
Ngoài sân, trên chiếc chõng tre, Trình vừa thức giấc: Những
đêm nồng nực chàng thường nằm ngủ giữa trời như thế. Chàng vươn vai và ngáp liền
hai cái, rồi ngồi thẫn thờ suy nghĩ.
Hôm qua, sau khi tiễn Bỉnh ra tận đường cái, Khoa và chàng
lúc trở về đều cố tránh, không đả động tới câu chuyện thừa tự. Nhưng chàng đoán
tâm trí Khoa cũng băn khoăn, bối rối như tâm trí chàng. Không phải vì chàng có
hám cái tài sản phi nghĩa kia. Mà Khoa, tuy vẫn tỏ ý ước ao, khao khát một đời
đầy đủ, phong lưu hơn cái đời hiện tại, Trình cho vị tất đã dám có can đảm nhận
lời làm kẻ ăn thừa tự người đàn bà đáng ghét ấy.
Nhưng băn khoăn, bối rối thì hai người vẫn băn khoăn bối rối.
Chỉ nhìn mặt Khoa, và tự vấn tâm mình, chàng cũng nhận thấy rõ rệt.
Là vì xưa nay, trong mấy anh em không hề ai từng nghĩ đến việc
thừa tự ấy, không ai tưởng rằng lại có thể xảy ra một sự lạ lùng như thế. Tiếp
được thư của người dì ghẻ, họ bàn đủ mọi lẽ, họ đoán đủ mọi điều, nhưng cái ý
tưởng “thừa tự” không một phút nào lọt vào trí não họ.
Trình đứng dậy, cười mũi, lẩm bẩm nói:
“Hừ! Thừa tự! Vô lý đến thế là cùng!” Nhìn vào hiên, chàng thấy
vợ, tóc bỏ xoa, ngồi trên ghế ngựa bên giàn thiên lý, vẻ mặt mơ màng và lãnh đạm.
Chàng hỏi vớ vẩn.
- Mợ đã dậy?
Tính cũng vớ vẩn hỏi lại:
- Cậu ngủ cả đêm ở ngoài sân?
Trình ngước nhìn lên cửa sổ nhà gác, bảo vợ:
- Hôm nay Khoa dậy trưa nhỉ?
- Trưa gì mà trưa! Dễ chưa đến sáu giờ.
Tính thở dài nói tiếp:
- Có cái đồng hồ lại chết. Ở nhà quê mà đồng hồ chết thì mù tịt
chẳng biết giờ nào vào giờ nào nữa.
Trình mỉm cười:
- Ở tỉnh mà đồng hồ chết cũng vậy, chứ khác gì ở nhà quê?
- Ở tỉnh còn có thể nghe đồng hồ nhà thờ, hay sang hiệu khách
bên cạnh xem giờ.
- Thì ở nhà quê chờ tí nữa chú Khoa dậy mình hỏi giờ mà lấy lại
đồng hồ cũng được chứ sao.
Trình đến ngồi bên vợ. Hai người cùng im lặng nhìn ra sân,
như cùng có một câu chuyện, muốn nói nhưng còn do dự, rụt rè. Trình nhăn mặt
phàn nàn:
- Hôm nay chắc nóng lam. Mới sáng dậy mà đã oi quá! Giá ông ấy
mưa xuống cho một trận thì khác.
Tính bĩu môi:
- Các ông chỉ biết nghĩ đến cái sướng thân của các ông! Mưa,
mưa mãi cho mà chết ấy à. Mấy mẫu ruộng ở đằng ngoài lại sắp sửa úng thủy rồi đấy.
Cứ mong mưa già vào!
- Úng nước thì rồi tháo đi! Hãy mưa mát đã!
Chàng đọc luôn câu tục ngữ chẳng ăn nhập gì vào câu chuyện:
“Mưa lúc nào mát mặt lúc ấy”.
Tính cười:
- Các ông còn biết cái gì! Úng thủy suốt cả cánh đồng thì còn
tháo vào đâu?
Nhớ tới công việc đồng áng, nàng liền đứng dậy gọi người nhà:
- Trạch!
Vú già đương cúi lom khom cầm chổi lúa quét sân đứng dậy đáp:
- Thưa mợ, chú Trạch chú ấy đi bỏ bèo hoa dâu ở thửa ruộng đồng
ngoài rồi ạ.
- Thế à? Ừ, nó cũng nhớ công nhớ việc đấy!
Trình bàn phiếm một câu:
- Mấy mẫu ruộng ấy bị úng thủy luôn, giá bán quách đi mà tậu ở
chỗ khác.
Tính cười:
- Cậu tưởng bán với tậu dễ dàng như thế đấy. Với lại có muốn
bán cũng chả được, vì ruộng nào của mình!
Trình ngạc nhiên!
- Không phải ruộng của mình?
- Thửa ruộng ấy đứng tên anh huyện.
- Ừ nhỉ! Phải, phải!
Trình cảm động, nghĩ tới lòng tốt của Bỉnh đối với mình và
Khoa. Và bất giác chàng lại ngước mắt nhìn lên hàng cửa chớp tầng gác, đã vàng
hoe ánh mặt trời mới mọc.
- Không biết sao hôm nay nó dậy muộn thế?
Rồi chàng ra sân, gọi:
- Khoa! Khoa ơi!
Tính kỳ kèo chồng:
- Cậu cứ gọi tên chú ấy ra thế, thím ấy không bằng lòng đâu.
Trình quay lại càu nhàu:
- Mợ biết đâu rằng thím ấy không bằng lòng?
- Trông mặt thím ấy thì biết chứ. Mỗi lần cậu gọi tên tục chú
ấy ra, tôi vẫn thấy thím ấy sa sầm mặt xuống.
- Nhưng tôi quen miệng mất rồi.
Chừng để trêu tức vợ, Trình gọi to hơn!
- Khoa ơi, Khoa! Dậy thôi!
Một cánh cửa sổ mở. Khoa thò nửa mình ra ngoài, mắt hấp háy
nhìn xuống!
- Arh đấy à? Anh dậy sớm nhỉ!
Trình cười:
- Còn sớm gì nữa! A, chú xem hộ mấy giờ, đồng hồ bên tôi chết
tối hôm qua.
Khoa vào trong nhà. Một lát sau chàng xuống sân, tay vặn lên
giây cái đồng hồ quả quít vừa to, vừa dầy:
- Thế mà gần sáu rưỡi rồi, anh ạ.
- Đấy, tôi đã bảo, muộn rồi mà!
- Hôm qua tôi thức khuya quá, loay hoay mãi gần sáng mới chợp
mắt.
Trình nghĩ ngay đến việc thừa tự. Chàng cho em băn khoăn về
chuyện ấy nên không ngủ được. Vì chính chàng, đêm hôm trước cũng loanh quanh
mãi ở ngoài sân để tìm hiểu cái hành vi cái ý định của người dì ghẻ. Chàng mỉm
cười bảo em:
- Khoa quả quyết rồi đấy chứ?
- Anh bảo quả quyết cái gì?
Trình định đùa em và có ý muốn nói: “Đã quả quyết từ chối việc
ăn thừa tự”. Nhưng thấy em đăm đăm suy nghĩ rồi hỏi lại, chàng sinh ngượng, nói
lảng liền:
- Quả quyết không lên chơi huyện.
- Vừa lên về, anh bảo lại còn lên nữa hay sao? Nếu có đi thì
đi ngay hôm qua với anh huyện chứ!
- Chú sang chơi tôi uống chè Tàu đi!
- Vâng.
Sang chơi, nghĩa là đi qua sân, để vào trong nhà ngang. Hai
anh em chia nhau bốn nếp nhà, làm theo kiểu chữ môr. Hai nếp nhà thờ giáp nhau,
năm gian hay chái, nhìn hướng nam và cái nhà ngang bảy gian có trần về phần
Trình, còn cái nhà gác mặt quay hướng đông, Trình nhường cho Khoa. Trước kia
Tính thường tức tối bì tị về sự hơn kém, nhưng lâu dần nàng cũng theo gương chồng
mà ở ra bề chị có đại lượng với em, không đả động đến sự so sánh nhỏ nhen nữa.
- Mợ bảo nó đun nước nhé.
- Bảo ai nữa! Tôi đun chứ còn bảo ai? Thằng Trạch đi bỏ bèo,
vú già thì quét sân xong còn cho lợn ăn.
Trình cười xòa:
- Vâng, mợ giúp cho một tay!
Khoa đỡ lời:
- Anh để em đun.
Tính, giọng thân mật:
- Vâng, thế càng hay. Đây bếp dầu hỏa đây. Để tôi đi lấy nước.
Khoa cười:
- Tưởng gì! Đun bếp dầu hỏa thì ai đun chẳng được! Khó nhọc
gì!
Một lát sau, ba người cùng im lặng nhìn ngọn lửa xanh bốc
lên, tỏa ra trong tiếng reo đều đều. Khoa có vẻ suy nghĩ sâu xa. Bỗng chàng như
nói một mình:
- Ở đời chả cần phải giàu mới sung sướng.
Trình đáp, giọng thành thực:
- Bây giờ Khoa mới nhận thấy điều ấy. Thì mọi khi tôi vẫn bảo
thế, mà Khoa không tin.
- Nhưng thiếu thốn thì cũng khó chịu.
Vợ chồng Trình cũng cười. Tính nói đùa:
- Nghĩa là giàu vẫn sung sướng.
- Nhưng troisième thì sung sướng quái gì!
Người đàn bà mà ai nấy do dự ngần ngại chưa muốn nói tới -
người nọ chờ cho người kia gợi chuyện ra trước - thì Khoa đã quả quyết bắt đầu
đọc tên. Tính tiếp luôn:
- Phải, sung sướng quái gì!
Trình mỉm cười:
- Biết đâu người ta không sung sướng?
- Thì cũng bàn thế!
Khoa về cánh với chị dâu:
- Biết hẳn chứ!
Trình cười gượng gạo, nhạt nhẽo:
- Tôi nghĩ đến việc thừa tự của cô ta mà tôi buồn.
Giữa lúc ấy mấy con chó chạy ra cổng sủa ầm ỹ. Ai nấy nhìn
theo. Có tiếng:“A di đà Phật!” Cụ Giáp đã vào tới sân, tay cầm quạt che cái đầu
chít khăn vuông nâu.
Tính đứng dậy, đon đả chạy ra chào:
- A di đà Phật! Bạch cụ, cụ quá bộ sang chơi?
Trình và Khoa yên lặng nhìn nhau. Xưa nay hai chàng vẫn không
ưa nhà sư, người tin cẩn của bà Ba. Nhưng hai chàng cũng lễ phép chào:
- A di đà Phật! Xin rước cụ vào chơi.
Nhà sư không đợi ai mời, ngồi ngay xuống ghế ngựa, rồi cười
nói:
- A di đà Phật! Phật độ, bần tăng đến chơi chư ông, lại được
uống nước chè Tàu. Đến nơi thì nước vừa sôi.
Tính đứng sửa soạn khay chén pha nước. Trái ngược với hai người
đàn ông, Chuyên và nàng rất kính trọng sư cụ. Vả không lần nào nghe chồng họ
nói xấu bất cứ kẻ tu hành nào mà họ không cự ngay. Vì thế ít lâu nay chỉ những
lúc vắng mặt hai người đàn bà, Trình và Khoa mới đem nhà sư ra phê bình và nhạo
báng, làm câu chuyận vui đùa có hứng thú.
- Thưa hai ông, quan huyện nhà đi chơi đâu sớm thế ạ?
Sự thực, sư cụ cũng thừa biết “quan huyện nhà” đã đi từ chiều
hôm qua.
- Thưa cụ...
Tính vội vàng đỡ lời chồng:
- Bạch cụ, anh huyện chúng tôi lên huyện rồi.
Nhà sư khéo vờ kinh ngạc:
- Thế ư? Mãi sáng nay tôi mới được tin quan huyện nhà về
chơi. Tôi lại chào quan lớn thì quan lớn lại đã “trẩy” rồi.
- Bạch cụ, xin đa tạ cụ. Xin rước cụ xơi nước ạ.
- Tôi không dám, xin rước ông bà, xin rước ông.
Uống cạn chén nước, nhà sư hỏi Tính:
- Thưa bà, bà Ba đi vắng?
Tính tưởng hỏi người dì ghẻ, liền đáp:
- Dễ không, bà Ba cháu vẫn ở bên nhà.
Nhà sư mỉm cười:
- Không tôi hỏi bà Ba chứ cụ lớn thì tôi vừa sang hầu trưa
hôm qua.
Khoa cau có đáp:
- Nhà tôi khó ở. Nhưng cũng sắp xuống bây giờ.
Sư cụ trầm ngâm ngồi giã trầu trong cái cối đồng to, - tuy mới
gãy một cái răng cửa, nhà sư cũng dùng cối, có lẽ để làm tôn vẻ trang nghiêm và
đạo mạo. Bỗng cụ ngửng lên cười rất hời hợt:
- A! Tôi quên mừng ông Ba...
Khoa nói chặn ngay:
- Tôi có tin mừng gì đâu mà cụ mừng?
Nhà sư chòng chọc nhìn Khoa như tìm hiểu, rồi lại cười:.
- Nghe đồn... cụ bà... nghe đồn việc thừa tự, cụ bà....
Khoa ngắt lời:
- Không, họ đồn bậy thế đấy.
Tính sợ mất lòng sư cụ, nói chữa:
- Bạch cụ, người ta đồn đấy thôi ạ..
Nhà sư lại cúi xuống vừa giã trầu vừa hỏi:
- Hay tôi nghe nhầm? Ông Hai chứ không phải ông Ba?
Trình cười:
- Cũng không phải tôi ạ.
Tính tiếp:
- Bạch cụ, việc ấy chúng tôi không biết gì hết ạ.
- Thế thì, có nhẽ có thực đấy!
Nhà sư đứng dậy. Tính vội mời:
- Bạch cụ, xin rước cụ hãy thong thả xơi chén nước nữa đã.
- Tôi vô phép. A di đà Phật, xin chào ông bà, xin chào ông.
- A di đà Phật!
Nhà sư đi khỏi, ba người không ai dám nhìn ai. Cả ba đều khó
chịu, ngượng ngập về câu chuyện thừa tự.
Sau mấy phút im lặng, Tính hỏi trống không:
- Quái! Sao sư cụ cũng biết có việc thừa tự?
Nhưng không ai trả lời.
Phần thứ nhất - XI & X & XI
Ô chào! Mợ lôi thôi lắm!
Để vợ nói, nói mãi, Khoa vẫn lặng thinh, không ngắt lời, thản
nhiên như không lưu ý tới, rồi sau cùng, khi vợ ngừng hẳn, chàng mới hơi chau
mày đáp một câu vắn tắt. Thấy vợ im, chàng được thể thở dài tiếp luôn:
- Đàn bà!
- Cậu bảo đàn bà làm sao?
Chuyên lại tức tối, kể lể tình cảnh khổ sở của mình từ ngày
bước chân về nhà chồng. Nào cảnh làm dâu dưới quyền áp chế của ông bố chồng
nghiêm khắc, dưới sự hành hạ của người dì ghẻ nham hiểm, tai ngược, nào cảnh đời
sống buồn tẻ ở xó nhà quê mà nàng suy bì với đời tưng bừng của những người bạn
ngày nay đương làm tham tá, bác sĩ, tri huyện, tri phủ. Những điều ấy, nàng
không quên nhắc tới mỗi khi nàng có chuyện bất bình với chồng. Khoa cười gằn:
- Mợ không nói thì dễ thường tôi không biết! Nhưng nói để làm
gì mới được chứ?
Và Khoa đắc chí cười hà hà.
- Phải, tôi hỏi mợ, để làm gì thế?
Câu trả lời hiện ngay ra trong đầu Chuyên, nhưng không thể thốt
ra được: “Nói để cho hả”.
Vì sự thực, một câu chuyện lúc ban chiều đã làm nàng rất bực
mình. Nàng cố nén lòng chờ đến bây giờ, đêm khuya vắng vẻ, mới trút được hết nỗi
bực mình ấy ra những lời oán trách cay chua.
Chiều nay, bỗng dưng bà Ba vả Cúc sang chơi. Đôi bên, dì ghẻ
và bọn con chồng đã thôi hẳn không đi lại thăm viếng nhau ngay từ hôm xong công
việc tang ma ông án. Bởi vậy, nhác thấy bóng mẹ con bà Ba, vợ chồng Trình chồng
Khoa cùng kinh ngạc đưa mắt nhìn nhau và cùng như thầm hỏi nhau tìm cách đối
phó.
Người đầu tiên đứng dậy chạy ra đon đả chào mời là Tính.
Không phải nàng muốn lấy lòng người dì ghẻ mà có lẽ nàng khinh và ghét hơn hết
mọi ai. Nhưng cái di tích sợ hãi, kính nể ngày trước đối với người đàn bà ấy vẫn
còn hằn nét trong lòng người nàng dâu nhu nhược, nhút nhát, khiến nay bất thần
người dì ghẻ vụt hiện ra đã làm thức dậy những tính tình xưa. Vẫn biết nàng chợt
nghĩ lại ngay và vội sửa vẻ mặt cho được lạnh lùng, dửng dưng, nhưng cái phút
khó khăn đã qua rồi: Không để ý đến, Tính đã làm lành một cách rất tự nhiên.
Bắt đầu từ đó, câu chuyện nở như gạo rang. Người dì ghẻ khéo
tìm những câu hỏi mà không ai không thể không trả lời được. Vả về sau thấy bà
Ba vồn vã, ân cần, thân mật, bốn người kia dần dần theo nhau đổi thái độ: cứng
cỏi họ trở nên ôn tồn: lãnh đạm họ trở nên vui vẻ, thẳng thắn.
Lại thêm Cúc, chừng có lời dặn trước của mẹ, khéo tỏ ra một
cô em gái dịu dàng, ngoan ngoãn, kính cẩn nữa, một điều thưa anh, hai điều thưa
chị, và xưng em xưng Cúc luôn miệng. Một lần, nghe bà Ba nói tính nết mình giống
hệt tính nết anh Khoa, cũng thẳng băng như ruột ngựa, Cúc cười rất có duyên đáp
lại:
- Chuyện! Anh em lại chả giống tính nhau!
Sau hơn hai giờ trò chuyện, tình thế đôi bên đã có chiều bớt
găng. Và nhiều lúc, Chuyên, người sáng suốt nhất trong bọn phản đối bà Ba, đã
có lại cái ý nghĩ ngày xưa: “Đáng ghê lắm! Nó muốn đưa mình đến đâu cũng được!”
Nàng rùng mình, sợ hãi vẩn vơ. Song những lời thớ lợ của người kia làm cho nàng
bình tĩnh ngay. Và nàng mỉm cười thầm, tự hỏi: “Đưa mình đến đâu?” Vì suốt hai
giờ, trong câu chuyện thù tiếp tịnh không có một việc gì quan trọng. Cả việc thừa
tự mà ai nấy chờ nghe bà Ba gợi ra, bà ta cũng không lần đả động tới.
Duy có lúc sắp về, bà ta kéo Tính ra một góc hiên thì thầm
nói riêng mấy câu.
Chính vì mấy câu nói riêng ấy mà Chuyên ngờ vực chị dâu, và
cau có tức tối từ chiều đến giờ. Nàng muốn bảo thẳng cho chồng biết những điều
nói riêng ấy là những điều gì, nhưng nàng vẫn trù trừ không dám, vì dẫu sao, đó
cũng vẫn chỉ là những lời phỏng đoán. Bằng cớ vào đâu mà buộc tội? Và nàng sung
sướng nghĩ thầm: “Được! Thế nào rồi mình chả biết! Dễ thường giấu mãi nổi
chăng? Chỉ sợ giấu đầu rồi cũng có ngày hở đuôi thôi!”
Sự thực thì bà Ba chẳng nói riêng một việc kín gì với Tính hết.
Vả khi bà ta về rồi, Chuyên hỏi, Tính đã thuật cả lại với nàng, không giấu diếm
chút đỉnh: Bà ta chỉ khuyên Tính không nên cho bác phó Tín và chị xã Vọng vay
tiền, vay thóc, vì hai người ấy chây nợ lắm. Rồi bà ta dặn Tính nếu có đong đậu
nành làm tương thì đong giúp bà ta dăm đấu. Có thế thôi. Nhưng người dì ghẻ nói
nhỏ bên tai Tính ra chiều vừa thân thiết, vừa bí mật.
Bây giờ Chuyên như còn trông thấy hai người đàn bà đứng sát
nhau, như còn được ngắm cái nét mặt chăm chú của chị dâu và cái dáng điệu giấu
diếm của dì ghẻ. Nàng thở dài một hơi cả bằng mũi lẫn miệng rồi thốt ra một câu
nhiếc: chồng:
- Cậu thì còn biết cái gì!
Khoa cãi lại:
- Tôi không biết cái gì, mặc tôi. Nhưng tôi hỏi mợ một lần nữa:
mợ kể lể lôi thôi mãi từ nãy đến giờ để làm gì thế? Có phải mợ chỉ cốt trêu tức
tôi, chỉ cốt làm tôi khổ sở thì mợ bảo!
Chuyên phì cười khinh bỉ:
- Thì tôi bảo!... Thì tôi bảo đấy!
Chẳng biết trả lời lại vợ ra sao. Khoa lẩm bẩm như nói một
mình:
- Sao không ngắm chị Hai mà bắt chước. Chị ấy dễ dàng biết
bao, vui vẻ biết bao! Mợ có thấy chị ấy phàn nàn điều nọ điều kia bao giờ
không?
Chuyên càng cáu tiết:
- Chị Hai! Đội mai chị ấy lên! Chị Hai của cậu thì ra cái gì!
Khoa không tự trấn tĩnh nổi, và, quên bẵng rằng cả nhà đang
ngủ yên, chàng thét lớn:
- Im ngày! Tôi cấm mợ không được nói hỗn như thế!
Chuyên cũng chẳng vừa, thét lại:
- Cậu bênh à? Có phải cậu bênh chị ấy không?
Rồi hạ giọng nàng nói tiếp:
- Này tôi bảo, cậu đừng tưởng nhầm rằng chị Hai tốt với chúng
mình! Chị ấy chẳng thật thà như cậu với tôi đâu. Đáo để lắm kia đấy!
Khoa cười mát:
- Ai mà mợ không cho là đáo để! Tôi thì tôi chả thấy chị Hai
đáo để ở chỗ nào hết.
Chuyên nghiến răng rít lên:
- Ở chỗ nào! Cậu có muốn biết ở chỗ nào không!
Khoa đã trở lại bình tĩnh:
- Tôi muốn biết lắm.
- Vậy tôi hỏi cậu: lúc cô Ba cô ấy sang, chị Hai chào mời vồ
vập để làm gì thế?
Khoa thản nhiên đáp:
- Mình là chủ, người ta là khách thì cũng phải chào mời người
ta chứ. Theo phép lịch sự xã giao thì dẫu kẻ thù đến nhà mình, mình cũng phải
giữ đúng lễ chủ nhà. Lúc khác giết nhau hãy hay.
Chuyên cười:
- Thế thì thầm câu chuyên bí mật dễ cũng là theo xã giao đấy
hẳn?
Rồi, không chờ câu trả lời của chồng, Chuyên hỏi luôn:
- Cậu có biết họ thì thầm với nhau những gì không?
Khoa hơi chau mày:
- Thì mợ đã hỏi chị Hai, và chị Hai đã kể lại cho mọi người
nghe...
Chuyên cướp lời:
- Kể lại! Ai cấm chị ấy kể bịa? Tôi thì tôi biết đích chuyện
gì rồi.
Khoa sửng sốt hỏi:
- Chuyện gì?
Chuyên, giọng khinh bỉ:
- Chuyện thừa tự chứ còn chuyện gì vào đấy nữa!
Phút im lặng. Khoa nghĩ ngợi, suy xét. Sự đau đớn thoáng hiện
ra trên mặt chàng. Ánh sáng lờ mờ chiếc đèn hoa kỳ chiếu vào ba nét nhăn ở giữa
đôi lông mày hơi sếch lên. Chuyên thấy chàng có vẻ vừa dữ tợn, vừa khổ sở. Liền
vờ kêu nực, lảng ra hiên gác, mở cửa sổ nhìn trời.
Trăng hạ tuần rung động trong ngọn tre thưa lá. Tiếng dế như
vừa bắt đầu ran lên càng làm tăng lặng lẽ của ban đêm. Miệng Chuyên muốn thốt một
tiếng: “Buồn!”
Khoa theo ra hiên, đứng tựa cửa sổ sát bên cạnh vợ. Một luồng
gió mát vuốt ve tóc chàng và làm cho chàng bớt nóng bức. Chàng hỏi rất khẽ như
sợ có người nấp đâu đó nghe trộm:
- Sao mình biết là chuyện thừa tự?
Chuyên cũng khẽ đáp lại:
- Rõ rệt thế, ai không biết!
- Nghĩa là mợ đoán.
- Nhưng đoán đúng, đoán rất đúng.
Khoa thở dài:
- Chả nên thế, mợ ạ.. Chả nên ngờ oan chị Hai như thế.
Nghe giọng nói như có đượm nước mắt, Chuyên hối hận đứng im.
Và nàng âm thầm nhớ lại cái thời kỳ làm dâu của mấy chị em.
Nàng tưởng thấy dần dần rõ ra và dí sát vào mặt nàng, cái mặt
lạnh lùng, với đôi mắt lạnh lùng của ông án.
Nàng nhìn lên trăng để tránh cải hình ảnh quá khứ. Giữa kẽ
hai cành tre, trăng vắt vẻo như cái mũ nồi bằng vàng mắc vào đó. Ý so sánh ngộ
nghĩnh ấy, một lần ở dinh ông án, nàng nghe Bỉnh nói với Trình và Khoa, lúc ba
anh em chồng và Trâm, Tính với nàng dạo chơi mát dưới bóng lá một cây bàng cỗi
trước công đường. Vụt trở lại trong ký ức nàng tất cả những đêm mấy anh em chị
em, nhất là Tính và nàng, ngồi bàn bạc để tìm chống lại người dì ghẻ. Bao giờ
nàng cũng nhiều mưu trí hơn Tính, và nàng lại bướng bĩnh hơn nữa. Nhưng Tính
giàu lòng hy sinh hơn nàng biết bao! Bị cha chồng mắng oan vì nàng, Tính chỉ
yên lặng hay sụt sùi khóc, chứ tịnh không thốt ra nửa lời để đổ lỗi cho nàng,
hoặc để khiến cha chồng ngờ vực em dâu. Một người như thế nay có thể về cánh với
người dì ghẻ được không? Nay có thể vì cái tài sản của người dì ghẻ mà coi nàng
vào hạng kẻ thù được không?
Chuyên cảm động tự hỏi trong thâm tâm. Và trong thâm tâm,
nàng thấy nàng nhỏ nhen quá. Nàng muốn xuống sân, sang đánh thức Tính dậy để
nói chuyện, để xin lỗi, để kể lể, thú thực với Tính hết những điều ngờ vực đã
làm nao núng lòng nàng.
Tiếng Khoa, nàng nghe như trong giấc mộng thời quá khứ:
- Với lại nếu quả thực cô ta muốn... muốn để anh chị ăn thừa
tự cô ta và nếu quả thực anh chị bằng lòng nhận, thì mình cũng nên để mặc anh
chị. Mợ nghĩ mà xem...
Chuyên bừng thức giấc mộng. Sự thực của hiện tại, sự thực gay
go, kịch liệt lại hiện ra nguyên hình. Và nàng quên hết những cảm giác dịu
dàng, những tính tình thân mật ngày xưa để nhớ mỗi một cái cử chỉ “khả ố” của
Tính lúc ban chiều, cái cử chỉ của “quân nịnh hót, luồn cúi... khốn nạn”.
Nước mắt nàng ứa ra. Bây giờ thì không phải là nước mắt cảm động
nữa, và nàng cáu kỉnh ngắt lời Khoa:
- Nghĩ gì! Còn nghĩ gì nữa. Tôi nghĩ đã kỹ rồi.
- Mạ nghĩ thế nào?
- Tôi nghĩ thế nào thì mặc mẹ tôi.
- Ô hay! Mợ ăn nói lạ lùng quá!
Chuyên quay ngoắt vào trong nhà:
- Phải, tôi ăn nói cục cằn, thô tục! Chỉ có con Tính thì mới
dịu dàng, thớ lợ. Chả thế mà... lại được lòng...
Nàng định nói được lòng bà Ba, nhưng nàng ngượng, vội ngừng lại,
sợ Khoa cho là mình ghen tị với vợ chồng Trình. Nhưng cũng đủ cho Khoa hiểu rồi.
Chàng theo vợ vào trong nhà, và cười chua chát nói:
- Người ngoài mà người ta nghe thấy câu ấy của mợ thì khỏi
sao người ta không ngờ rằng nhà ta, rằng anh em nhà ta đương sắp lục đục tranh
giành nhau... một cái gia tài... nào đó.
Chuyên lại thét:
- Cái gia tài nào? Cậu hãy nói cho tôi biết, cái gia tài nào?
Khoa đấu dịu:
- Nếu không phải cái gia tài nào cả thì càng hay chứ sao!
Nhưng Chuyên vẫn lồng lên:
- Không, tôi hỏi cậu, cậu định ám chỉ tôi tranh giành cái gia
tài nào, và tranh giành với đứa nào?
- Khẽ mồm chứ mợ. Để cho hàng xóm láng giềng người ta ngủ chứ!
Mợ phải biết rằng nếu anh Hai chị Hai mà còn thức thì chắc nghe rõ tiếng mợ mồn
một.
Chuyên như con ngựa bất kham mà người cưỡi không có cách nào
kìm lại được:
- Nghe thấy thì nghe thấy, tôi không cần, tôi không sợ ai hết.
Tôi không quen cái thói thì thầm, lụi xụi như người ta.
Biết rằng mình càng cự, vợ càng làm già, Khoa lên giường nằm
im. Thì quả thực, Chuyên cũng không thét nữa. Rồi một lát sau, nàng đến ngồi
bên chồng, ôn tồn nói:
- Cậu tưởng tôi ghen ghét, ganh tị với vợ chồng chị Hai thì cậu
nhầm, thì cậu tệ quá. Tôi chỉ ghét cái tính không thành thực của chị ấy, ngoài
mặt khác mà trong bụng khác, thế thôi. Cậu có nhớ không. Hôm nọ được tin anh
huyện cho biết rằng cô ta muốn để cậu hay anh Hai ăn thừa tự cô ta thì cả hai
người cùng chối đây đẩy. Mà chối là phải, mặt mũi nào còn đi ăn thừa tự cái con
mụ đàn bà khốn nạn ấy. Thế mà nay chị ấy...
Khoa ngắt lời:
- Nay chị ấy sao?
- Thì chị ấy sao, cậu lại không trông thấy ư?... Đấy, rồi cậu
sẽ thấy... Nếu tôi đoán không đúng thì cậu cứ chặt ngay đầu tôi đi.
Khoa cười nói tuế tóa:
- Ấy chết, ai lại dại thế! Nhưng mợ cứ nghe tôi mợ ngủ đi,
sáng mai thức giấc mợ sẽ bình tĩnh mà suy xét lại, và mợ sẽ thấy rằng mợ nhầm...
Vậy mợ nghe tôi, mợ ngủ ngay đi, tôi xin mợ, mợ nghe theo tôi.
Chuyên đứng dậy lạnh lùng đáp:
- Cậu cứ ngủ trước đi. Tôi chưa buồn ngủ.
Rồi nàng ra hiên đứng tì cửa sổ nhìn xuống sân, mơ màng ngắm
nghía mấy nóc nhà ngói đen phơi phới ánh trăng nhạt.
X
Sáng hôm sau Khoa và Chuyên dậy muộn. Mở mắt ra trông thấy chồng,
Chuyên bẽn lẽn xoay mặt vào phía trong, ngủ lại. Thấy vậy, Khoa mỉm cười xuống
phòng khách, biết thế nào rồi vợ cũng theo xuống.
Quả thực, chỉ năm phút sau, trong lúc Khoa đương xem một bức
thư, Chuyên rón rén bước lại gần, hỏi:
- Thư ai thế cậu?
Khoa đưa mảnh giấy cho vợ và đáp:
- Anh Hai mời chúng mình sang ăn gỏi, sáng hôm nay.
Chuyên bĩu môi:
- Đây với đấy mấy bước mà phải viết thư!...
Bỗng nàng ngửng lên đăm đăm nhìn chồng thì thầm nói tiếp:
- Hay là... hay là anh chị ấy biết...
Khoa vờ không hiểu:
- Biết cái gì?
Không thấy vợ trả lời, chàng hỏi dồn:
- Biết cái gì? Mợ bảo biết cái gì?
Chuyên đáp khẽ:
- Không.
Rồi lẩm nhẩm dọc:
“Tôi sang chơi, chú thím còn ngủ. Nhân mua được con chép tươi
lắm, mời chú thím cùng chúng tôi ăn bữa gỏi. Tôi chạy ra xóm ngoài một lát, sẽ
về ngay và sẽ kéo khóa Liêm đến đánh chén ngâm thơ vịnh ngày thu mới bắt đầu”.
Chuyên mũm mĩm cười:
- Dễ thường anh Hai trở nên thi sĩ chắc. Vịnh thu vịnh thiếc
cẩn thận!
Qua cửa sổ mở Khoa nhìn ra cái sân nắng rát, nói:
- Mùa thu mà nóng như nung như đốt!
- Nóng thế, còn uống rượu vào làm gì! Chúng mình từ chối
quách.
Khoa lắc đầu:
- Không tiện, từ chối không tiện.
Chuyên giọng cau có:
- Việc gì mà không tiện. Bảo đau bụng không ăn được gỏi thì
đã làm sao?
Khoa chau mày tỏ vẻ khó chịu:
- Nhưng mình lại không đau bụng.
- Tùy đấy, cậu muốn ăn cứ sang mà ăn. Tôi, thì thế nào tôi
cũng xin kiếu.
Tuy vậy, một giờ sau khi thằng Nam lại mời, Khoa và Chuyên đều
vui vẻ nhận lời rồi sang ngay.
Vì có khóa Liêm là khách nên đàn ông đàn bà ăn riêng. Liêm,
Trình, Khoa ngồi bàn. Và trên chiếc ghế ngựa đối diện, Chuyên, Tính cùng bốn đứa
con quây quần lấy cái mâm đồng có chân mà hai cái bánh đa lớn che gần kín khắp
các đĩa.
Anh em ăn cơm nhà nhau như thế là sự thường. Mà khóa Liêm,
người vui tính và sính làm thơ, nhất lại là bạn cờ của Trình, lần này không phải
lần đầu được Trình mời đến uống rượu. Nhưng vì có câu chuyện vừa xảy ra hôm trước,
Chuyên hơi chột dạ. Nàng nghĩ thầm: “Sao bỗng dưng lại mời vợ chồng mình ăn
cơm, và uống rượu nữa. Thôi chắc anh ấy muốn mượn chén để... khích bác gì
đây... Ừ, nếu không thì mời khóa Liêm đến làm gì?”
Khóa Liêm, cả làng Giáp đều ghê sợ cái tài trào phúng của
chàng. Hôm trước xảy ra một việc gì, tức thì hôm sau ở khắp các ngã ba, ngã tư
người ta thấy có dán những bài ca, bài vè mà người ta biết chắc là của khóa
Liêm. Và người ta trầm trồ khen ngợi, tuy lời ca chỉ trơn tru dễ đọc, dễ hát chứ
chẳng có ý tứ gì sâu xa, đặc sắc.
Thoạt tiên ai nấy vui vẻ nói chuyện. Cả mấy đứa con thỉnh thoảng
cũng bàn góp một câu mà không bị mắng. Nhưng lúc lũ trẻ ăn xong đứng dậy chạy
đi chơi, và hai người đàn bà, ngồi xỉa răng uống nước ăn trầu, thì ba người đàn
ông đã chuếch choáng hơi men. Đầu khóa Liêm lắc lư lảo đảo như đồng mới nhập, mắt
Khoa đỏ ngầu như mắt cá rói và tay Trình vỗ đùi đen đét mỗi khi đắc chí về một
câu giai thoại hay một bài thơ của Liêm mà cho là hay tuyệt.
Vì Liêm đã bắt đầu đọc thơ của mình, những bài thơ cũ mà
chàng làm vào những dịp kia, dịp khác, nào để đùa ông tú Tỵ với sòng bạc của
ông, nào để chửi cô ả Tạ chửa hoang, lại có bài làm ra để chế riễu vợ chồng nhà
họ đêm khuya cãi nhau đánh nhau om xòm.
Tới đây, Chuyên hơi cạnh lòng, bĩu môi nói nhiếc:
- Tưởng các ông dùng văn chương thi phú để ngâm hoa vịnh nguyệt,
chứ nếu chỉ để tả những chuyện kín trong phòng ngủ vợ chồng người ta thì thật uổng
cái tài.
Khoa liếc mắt nhìn vợ như có ý trách thầm.
Nhưng Trình cười rất thẳng thắn, đáp lại:
- Thím cứ nói thế, chứ đã gọi là thơ thì vịnh cái gì cũng phải
hay. Vịnh con kiến cũng như vịnh con voi, vịnh ông vua cũng như vịnh thằng nhỏ,
vịnh cái móng tay cũng như vịnh bộ râu bạc, nhà thơ đều phải thận trọng.
Thấy Trình đi hơi xa khiến chẳng ai hiểu chàng muốn nói gì,
Liêm liền đỡ lời:
- Thưa bà, ông Hai nói rất đúng. Như cổ nhân làm chơi bài hịch
chọi gà, thế mà sau hơn nghìn năm nay bài hịch ấy vẫn còn lưu truyền, thì đủ biết
đầu đề không cứ gì khinh trọng. Thi sĩ thường mượn một ý, một chuyện nhỏ để tả
cái chí lớn của mình trong thiên hạ. Như trong bài thơ vợ chồng nhà kia cãi
nhau, đánh nhau, tôi chỉ cốt than phiền cho cái luân lý Á Đông đã đến buổi điêu
tàn...
Văn minh Đông Á giời thu sạch,
Này lúc luân thường đảo ngược ru!
Trình kéo dài giọng khàn khàn ngâm nga, rồi hỏi Liêm:
- Không biết hai câu thơ ấy của ai nhỉ?
- Tôi cũng không rõ. Nhưng giọng thơ ấy chắc lại giọng thơ Tú
Xương chứ còn ai vào đấy?
Chuyên căm tức ngồi im. Tính khẽ bảo nàng:
- Để tôi ra cất chai rượu đi. Chứ nhà tôi hay nát rượu lắm
kia đấy.
Chuyên cười nhạt:
Không hiểu định ý của Chuyên, Tính cười lấy lòng. Rồi nàng ra
bàn ăn ghé tai chồng thì thầm:
- Uống vừa vừa chứ! Đưa cho tôi chai rượu nào!
Trình cười vang lên, đáp:
- Ồ! Đã thấm vào đâu! Ông Lý Bạch đời Đường uống hàng chục
chai kia chứ!
Liêm chữa:
- Lý Bạch uống rượu hũ, rượu vò, rượu chóe, vì thời ấy chưa
có chai.
Khoa mỉm cười nhìn Liêm, nói:
- Chịu cái khoa trào phúng của thi sĩ.
Nhưng Trình lắc đầu, bĩu môi:
- Ồ! Chai với vò, với hũ thì khác nhau cái quái gì! Quý hồ đựng
được rượu.
Liêm cãi:
- Khác nhau lắm chứ! Rượu đựng hũ, đựng vò ngon và thơm. Rượu
ngày nay người ta đựng chai uống nồng mà gắt.
Tính cười bảo Chuyên:
- Nồng với gắt là tại rượu chứ tại gì chai, có phải không
thím nhỉ?
Nhưng Khoa chữa thẹn cho ông khóa:
- Không, có thể lắm. Ánh sáng mặt giời chiếu qua thủy tinh có
thể làm cho rượu nồng và gắt được lắm.
Mọi người quên hẳn những bài thơ châm biếm để bàn huyên thiên
về đức tính của rượu, so sánh rượu tàu, rượu tây với rượu ta. Rồi từ rượu họ
nói tới những chuyện nấu rượu, bắt bớ, thù hằn, đi báo đoan, hay bỏ bã rượu vào
nhà, vào ruộng nhau. Những chuyện ấy họ kể như chuyện cổ tích, trong đó có cả
thần, thánh và ma. Hai người đàn bà tò mò lắng tai chú ý ngồi nghe.
Nếu không một sự gì xảy ra thì bữa rượu có lẽ cũng như mọi lần
sẽ tàn trong yên lặng gay gắt của buổi trưa nồng nực: Trình và Khoa sẽ đi ngủ một
giấc dài cho đến tối mới sẽ dậy ăn cơm chiều.
Nhưng một sự xảy ra đã làm hoạt động, huyên náo bàn tiệc. Tựa
hồ đống củi đã hầu tắt, một gáo dầu rưới vào làm cho lửa lại ngùn ngụt bốn lên.
Ai nấy đương chăm chú nghe câu chuyện hoang đường của khóa
Liêm về cái tục chỉ cúng tế bằng rượu ngang ở một làng kia, thì từ cổng đi vào
bà lý Thuận, một người chị họ của Trình và Khoa. Bà ta cười the thé và nói liền,
liền như nước chảy:
- Chào các ông, chào hai bà ạ. Cụ đi Hà Nội rồi, cụ gửi lời
chào ông Hai, bà Hai, ông Ba, bà Ba. Mãi tháng sau cụ mới lại về.
Ai cũng thừa biết rằng bà lý nói đến bà Ba. Cả ông khóa Liêm
cũng hiểu thế. Nhưng Chuyên chau mày hỏi:
- Cụ nào thế, chị lý?
- Cụ ấy mà, cụ nhà ấy mà!
- Làm gì có cụ nhà!... A bà Ba phải không?
Bà lý không đáp lại câu hỏi, mở vỉ lấy ở thúng ra ba bó nhãn
đặt lên cạnh bàn:
- Đây là nhãn người làng bên người ta biếu cụ, cụ bảo đem
sang các chú các thím xơi nước.
Chuyên mỉm cười, mỉa mai:
- Chừng nhãn khất nợ, chứ gì?
Và bà lý thật thà đáp:
- Vâng, chính thế. Họ đến khất nợ. Cụ cho khất, nhưng bắt viết
văn tự lại.
Tính cười ranh mãnh nhìn Chuyên:
- Nghĩa là bắt viết gộp vốn lãi.
- Vâng, chính thế. Có tôi nói mãi cho mới được đấy.
Chuyên đưa mắt liếc Tính:
- Phải, chị đã nói cho thì hẳn phải được.
Bà lý gọi cái Tẹo, con hầu của Chuyên, để bảo nhận lấy một
trăm nhãn.
- Cụ biếu (bà lý mỉm cười) cụ dặn nói biếu chứ đừng nói cho,
sợ các thím giận.
Chuyên và Tính nhìn nhau.
- Cụ biếu ông Hai bà Hai hai trăm, và ông Ba bà Ba một trăm,
vì bên bà Hai đông các cháu.
Bà tý cắp thúng đứng dậy chào rồi đi ra cổng, Chuyên gọi theo:
- Chị lý, tôi không lấy nhãn đâu. Giả đấy.
Nhưng bà lý vẫn lui lủi đi thẳng, không quay lại.
Một lát yên lặng. Khoa khó chịu, nâng chén uống cạn rượu.
- Thế nào, ông? Tại sao lại chỉ có thể cúng rượu ngang được
thôi?
- Vì nếu cúng rượu ty thì thế nào làng cũng động, phi có bệnh
dịch tả thì có bệnh...
Ông khóa quay ra phía hai người đàn bà:
- Xin lỗi hai bà... bệnh... bệnh hoảng chưa.
Trình và Khoa cũng phá lên cười. Nhưng Tính và Chuyên vẫn lặng
thinh ngồi nhìn ba bó nhãn. Chuyên thì thầm bảo Tính:
- Nhãn cô ta cho, chị lấy cả. Tôi thì tôi không thèm ăn nhãn
khất nợ của cô ta.
Tính cũng thì thầm đáp lại:
- Ăn thì mọi người cùng ăn, mà không, thì thôi...
Trình cười ha hả nói:
- Ông thần hoàng làng ấy thế thì thiêng thật!
Khoa gật gù tiếp:
- Cúng rượu ty thì ông thần làm cho đàn bà con gái làng ấy chửa
hoang. Nhưng chửa hoang với ai, mới được chứ, cái đó chắc không phải... ở ông
thần.
Tiếng cười thét càng to. Tính như nói một mình:
- Hỏng! Họ say quá lắm!
Chuyên vẫn theo đuổi ý nghĩ của mình, nên không nghe thấy gì
nữa:
- Nếu không nhận thì phải gửi giả cô ta chứ!
- Gửi theo lên Hà Nội?
- Cứ gửi giả chị lý Thuận, rồi chị ấy bắn tin cho cô ta biết
cũng được.
Tính trù trừ, trù trừ vì nhút nhát:
- Làm thế có tiện không? Cô ta tử tế với mình...
Chuyên bĩu môi khinh bỉ:
- Tử tế!... Thảo nào!...
Xưa kia còn sinh thời ông án, bà Ba vẫn trọng đãi Chuyên hơn
Tính, hơn cả Trâm nữa, vì biết Chuyên là con quan, tính nết hách dịch. Có thức
gì ngon hay quý cũng chia cho Chuyên trước và phần Chuyên bao giờ cũng hơn phần
hai người kia. Chuyên đã quen với sự phân biệt ấy rồi. Nay thấy bà Ba đặt Tính
“ở trên” mình thì nàng khỏi sao không uất ức. Không phải nàng có thèm khát gì
vài trăm nhãn, nhưng cái cử chỉ kia tỏ rõ sự khinh rẻ đối với nàng, và lòng
thiên vị đối với Tính.
Thấy Trình ngắt một quả nhãn,Tính vội kêu:
- Đừng ăn, để giả lại đấy.
Trình trợn mắt:
- Giả lại! Giả lại ai?
Rồi thản nhiên chàng mời khóa Liêm và Khoa:
- Hết gỏi, ta nhắm với cái này cũng tốt lắm..
Chuyên ra bàn nhắc một bó nhãn, nói:
- Đấy, hai trăm cô ta biếu anh chị thì anh chị cứ dùng. Chỗ
này cô ta biếu tôi, để tôi giả lại..
Trình, giọng lè nhè, đùa bỡn đáp:
- Cũng được! Tùy thím. Chứ tôi, thì tôi phải nhắm rượu với
nhãn của dì Ba thân yêu của tôi.
Chuyên cười khinh bỉ:
- Chừng mới thân độ hơn tháng nay, từ ngày...
Nàng tưởng chẳng cần nói dứt câu, nghĩa cũng đã rõ rệt lắm. Rồi
nàng quay ra bảo Liêm: Ông khóa vịnh thơ nữa đi, cho vui.
Khóa Liêm gật gù:
- Xin vâng... Vậy xin bà ra đề.
Chuyên vờ nhìn quanh để tìm đầu đề, rồi trỏ lồng chim khướu
nói:
- Thơ vịnh con khướu.
Liêm nghĩ không đầy một phút, đọc liền:
Thân khướu như mi thật sướng đời,
Lầu son gác tia chốn mi ngơi
Nước trong gạo trắng bao giờ hết?
Chỉ việc xơi rồi lại hót thôi.
Trình và Khoa thẳng thắn vỗ tay cười reo:
- Hay, hay tuyệt! Thực là thơ thần.
Liêm giọng tự đắc:
- Rượu thánh thì phải có thơ thần chứ!
Nhưng Tính biết là Chuyên có ý ngờ vực. Và nêu ra cái đầu đề
“Vịnh khướu”, Chuyên chỉ định ngầm mỉa mai vợ chồng mình. Nàng liền bảo Liêm:
- Nhưng con khướu của tôi nó có nhà lầu, nhà gác đâu mà ông
khóa hạ lầu son, gác tía. Oan cho nó quá!
- Thưa bà, lầu son gác tía là cái lồng cao sơn son.
Trình vẫn cười và không lưu ý đến cái liếc nhăn nhó của vợ,
trong khi Chuyên lẳng lặng bỏ về nhà.
XI
Trong khắp làng Giáp, đi đâu cũng nghe thấy người ta nói đến
chuyện bất bình, khích bác, kình địch, ganh ghét, thù hằn của hai gia đình anh
em Trình và Khoa.
Những người không biết rõ chuyện đều lấy làm lạ rằng hai anh
em yêu mến nhau như Trình với Khoa mà có thể thù ghét nhau được. Rồi họ bàn tán
thế này, thế khác. Người thì bảo chỉ tại Chuyên cậy mình là con quan, khinh miệt
Tính là con nhà trọc phú. Người thì bảo trái lại, khởi đầu chính ở vợ Trình!
Nàng cổ quá, luôn luôn lên mặt chị dâu với vợ Khoa, Chuyên không chịu nổi nên
phải chống cự. Lại có người bình phẩm một câu mỉa mai:
- Chung quy chỉ tại đàn bà ráo! Chứ đàn ông ở với nhau có bao
giờ lôi thôi điều nọ tiếng kia đâu?
Rồi, người ấy kể luôn một chuyện, hầu như chuyện cổ tích, để
chứng thực cho những tư tưởng triết lý và tâm lý của mình:
“Hai anh em một nhà kia, một nhà quan tại Hà Nội, ở chung với
nhau trong hai mươi năm không xảy ra một điều gì xích mích. Họ kính yêu nhau
như nhân vật trong tiểu thuyết Tàu. Mà sở dĩ được như thế là nhờ về một sự ngẫu
nhiên: Người em ở góa.
Nhưng bỗng người em tục huyền... Năm hôm sau, bắt đầu có sư
ngờ vực. Rồi hai gia đình khích bác nhau, kình địch nhau, ganh ghét nhau, thù hằn
nhau, và nếu người em không dọn nhà đi ở nơi khác thì có lẽ đã xảy ra những sự
ghê gớm hơn nữa...”
Những người mang máng biết chuyện thì chia ra hai phe. Phe bà
Ba và phe con chồng. Thuyết của phe trên đại khái như thế này; Bà Ba không có
con trai muốn nuôi một người trong hai anh em Trình và Khoa làm con, để sau này
nhường hết tài sản cho. Vì thế nên hai anh em tranh giành nhau làm con bà ta, đến
nỗi sinh ra thù oán nhau.
Bọn này khinh bỉ Trình và Khoa ra mặt. Có lẽ một phần vì lòng
ghen tức, thấy một trong hai anh em nhà ấy sắp sửa bỗng dưng trở nên giàu sụ,
nhưng nhất họ toàn là những người có vay nợ bà Ba: Họ thường đi lại, hầu hạ, nịnh
hót bà ta, và cố gắng được lòng bà ta, họ chẳng bỏ qua một dịp tốt, họ chẳng bỏ
sót một tiếng tệ bại để nói xấu Trình và Khoa mà họ ghét một cách đường hoàng
và hằn học. Nay nếu một trong hai người ấy được bà Ba giao hết quyền bính cho,
thì sau đây hẳn là họ mất cho nương nhờ, vay mượn, những khi túng thiếu.
Người đứng đầu phe này là bà lý Thuận, người mà Khoa gọi bằng
con “nặc nô”, vì thường thấy bà ta đi đòi nợ cho bà Ba. Ở những nơi quen thuộc,
bà ta vẫn trầm trồ ca tụng bà Ba về cái cử chỉ quân tử của người dì ghẻ đối với
con chồng: “Rõ phúc đức quá, chả tìm đâu ra một người dì ghẻ nữa như thế!” Rồi
bà ta tiếp luôn: “Thực hồng phúc nhà cụ án còn to lắm”. Ai có hỏi bà ta tin tức
về việc thừa tự thì bà ta chỉ cười, và nói một câu bí mật: “Cụ tôi bảo kể thì
ông Khoa ngoan ngoãn hơn, nhưng ông Trình lại đứng đắn hơn”. Nghĩa là cũng chưa
ai biết rõ bà Ba định “chấm” người nào trong hai con chồng.
Bề ngoài thì bà lý Thuận thớ lợ như thế, nhưng sự thực, bà ta
chẳng mong ai được ăn thừa tự hết. Vì vậy, bà Ba động hỏi ý kiến bà ta về “việc
nhà”, là bà ta giở hết những lời khôn khéo ra để xui xiểm ngấm ngầm. Bà ta thuật
lại, bịa đặt những câu nói hỗn xược hay khí khái của Trình và Khoa, rồi kết
thúc:
- Bấy, cụ lớn xem, cụ lớn tử tế với các ông ấy như thế, mà
các ông ấy nỡ xử tệ.
Bà Ba thừa hiểu thâm ý của bà Lý, nhưng cũng cố buồn rầu đáp
lại:
- Thôi chị ạ, tôi chỉ ở với giời! Giời biết bụng cho tôi, chị
ạ. Thế là đủ rồi.
Nhưng bà lý vẫn chưa biết bụng bà Ba, vẫn không rõ bà ta đã
quả quyết về việc thừa tự chưa, và trong hai người con chồng, bà ta định chọn
ai.
Còn những người về phe Trình, Khoa thì họ không nhìn nhận đến
sự xích mích, chia rẽ giữa hai anh em mà họ coi như không có. Họ cho rằng Trình
và Khoa nhất định từ chối không thèm nhận ăn thừa tự “cô Ba” là rất phải. Họ đạo
mạo thuyết lý: “Người ta có sung sướng vì tiền tài bao giờ đâu? Trái lại, tiền
tài là cái nguồn khổ sở, mất bình tĩnh, mất yên vui. Đấy, cứ coi những chuyện
lôi thôi xảy ra trong hai gia đình Khoa và Trình thì đủ rõ. Chỉ vì đã từ chối
việc ăn thừa tự, mà hai ông chồng bị hai bà rợ rầy rà làm cho mất ăn mất ngủ.
Đàn bà họ dễ hoa mắt, rối lòng về tiền lắm. Nhưng chắc thế nào rồi bọn đàn ông
cũng thắng”.
Ấy là những lời bình phẩm của bọn học giả, bọn cụ cử Tỵ, cụ
tú Phấn, ông khóa Liêm. Chính ông này đã làm một bài thơ Đường luật, bát cú để
khen ngợi và khuyến khích anh em Trình nên vững tâm, đừng để tiền và đàn bà cám
dỗ nổi. Ông ta lại soạn một bài văn tế nửa chữ nửa nôm để tống tiễn “Thần Tiền”
mà đi đến đâu ông ta cũng đọc bô bô cho mọi người nghe, trước mặt cả đàn bà con
gái.
Một phe thứ ba mới nảy ra, phe trung lập... Phe này phần nhiều
là phụ nữ hoặc những chỗ quen biết của Trình và Khoa. Họ thiết thực và bao giờ
cũng rất có lý. Họ bảo nhau: “Rõ các bà ấy mới lẩn thẩn mà các ông ấy cũng dở
hơi nốt! Việc gì lại từ chối? Việc gì mà ngờ vực nhau, tranh giành nhau? Thì cứ
một người nhận phăng làm con bà ta rồi khi được hưởng gia tài đem chia cho người
kia. Thế thì có phải ổn thỏa không? Chả phải tôi, tôi thì tôi cứ chiều chuộng lấy
lòng bà ta... Chiều người lấy của, đã chết đấy mà sợ!” Một người biết rõ lòng
thù ghét của bọn con chồng đối với bà Ba bàn một câu quyết liệt: “Các ông ấy thực
vụng tính! Cứ vờ bằng lòng đi, rồi một năm, hai năm sau, khi đã được lòng tin cẩn
của bà ta, sẽ sửa cho bà ta một chuyến, xem có lệch nghiệp không nào”.
Có người nghe chuyện vặn lại:
- Sửa! Dễ sửa nhỉ? Người ta cũng khôn chán ra đấy. Chả khôn
mà bòn được của chìm của nổi của cụ án... Ừ, mà sửa bằng cách gì, nào?
- Chả thiếu gì cách. Cùng lắm thì dắt cướp vào nhà mà thịt.
Như thế có phải nhất cử lưỡng tiện không? Vừa lấy được của, vừa giả được thù.
Lời công kích nhao nhao lên:
- Câm ngay đi!... Vạ mồm vạ miệng mà chả chết! Bà ấy vẫn mời
ông huyện bà huyện, cả cụ thượng, cụ bố nữa về ăn tiệc đấy. Khéo mà lại ngồi tù
mọt xương!
Những lời bàn tán của người làng Giáp quanh việc nhà Trình và
Khoa đều có một hai phần đúng sự thực.
Một điều mà ai ai cũng nhận rõ là cảnh bất hòa trong hai chị
em dâu. Vì những người đến chơi với vợ chồng Trình hay vợ chồng Khoa đều trông
thấy ngay những sự thay đổi trong cái dinh cơ cụ án Nguyễn.
Cái giàn thiên lý trước nhà ngang của Trình nay như mọc tốt
hơn, dầy hơn, kín hơn. Kỳ thực, Tính đã hạ thấp cái phên phía trước xuống và
ken lẫn vào trong lá thiên lý những dây thài lài mà nàng trông ở các chân cột
bương cho leo lên giàn: nàng không muốn để vợ chồng Khoa trông thông thống sang
cho ngồi chơi của nhà nàng.
Chuyên đáp lại liền. Nàng cho mua nứa và tre về đan kíp mấy
cái giại dựng thẳng một hàng dưới mái kẽm che hiên. Nhưng vẫn còn phải chung bếp,
đó là một điều khó chịu, bực tức cho nàng. Một ngày hai buổi phải qua sân nhà
thờ đi xuống bếp làm thức ăn, tuy nàng không phiền nhiễu ai, vì bếp là bếp của
cả hai bên chứ chẳng của riêng một mình nhà nào, nhưng nàng lấy làm chướng mắt
khi gặp mặt “những kẻ” mà nàng không ưa. Vì thế một hôm nàng đã cất tạm hai
gian tre lợp rạ ở ngay đầu hồi nhà gác để thổi nấu. Và nàng sung sướng nghĩ thầm,
rồi lớn tiếng rêu rao:
- Thôi, từ nay khuất mắt!
Câu ấy đến tai Tính, Tính cười rất to, đoạn, quát mắng đầy tớ:
- Xiêm! Mày tưởng mặt mày đẹp lắm đấy mà người ta khao khát
muốn gặp. Rõ đồ mặt dầy!
Những câu qua lại, đối chọi nhau chan chát như thế của hai
người đàn bà, người làng Giáp đều biết hết. Một bọn đã hầu như tổ chức một sở
liêm phóng để ghi chép những sự xảy ra trong hai nhà, rồi đem đi phao khắp mọi
nơi. Nhiều khi họ còn thêm thắt, bịa đặt ra những điều không có nữa. Như ngày
hai nhà còn chung bếp, họ kể lắm câu chuyên khôi hài đến hay. Chẳng hạn họ bảo
một hôm thằng Phiên đái vào nồi canh của Chuyên để báo thù lại nắm muối mà hôm
trước cái Tẹo, đầy tớ Chuyên, đã bỏ vào niêu cá nấu của Tính. Họ lại kháo một
điều rất vô lý: là Chuyên đòi chồng rào ngăn đôi sân nhà thờ, để được biệt chiếm
một giang sơn, không dính dấp gì với bên nhà vợ chồng Trình nữa.
Những lời thì thào ở ngoài, Tính và Chuyên đều biết hay đoán
biết. Nhưng không vì thế mà họ chịu nhụt bớt. Trái lại, mỗi ngày họ một thêm
quá quắt.
Đứng trước cái thái độ ngang ngạnh, lăng loàn của vợ, hai người
đàn ông trước còn họp sức để chống cự lại.
Một hôm Khoa đã hét lớn cốt để anh và chị dâu nghe tiếng:
- Vậy mợ muốn gì? Mợ muốn tôi ăn thừa tự cô ta, phải không? Nếu
thế cũng không khó gì kia mà. Nhưng mợ hãy để cho tôi được yên thân đã!
Chuyên chẳng vừa, cũng thét lại:
- Thế thì cậu hiểu nhầm tôi quá, tôi không phải hạng vục đầu
vai xướng như người ta đâu mà cậu nói thế.
- Vậy mợ muốn gì?
- Tôi muốn cậu mở to mắt ra mà nhìn.
Khoa gào gần như khóc òa lên:
- Nhưng mắt tôi vẫn mở to mà tôi không nhìn thấy gì hết.
Chuyên cười mát:
Một lát sau tấn kịch diễn tiếp liền ở bên nhà Trình. Tính lớn
tiếng bảo chồng:
- Cậu đã nghe rõ chưa?
Trình gắt:
- Tôi chẳng nghe thấy gì hết.
- Thế thì cậu điếc đặc rồi!
- Vâng tôi điếc, nhưng mợ không điếc thì mợ nghe thấy gì?
Tính cười khinh bỉ:
- Tôi nghe thấy em cậu nói bằng lòng ăn thừa tự người ta.
Trình cũng cười, mỉa mai:
- Vậy mợ muốn tôi tranh nhau với chú Ba, phải không? Được rồi,
nếu mợ muốn tôi nịnh hót để chiếm lấy cái tài sản phi nghĩa của cô ta thì thế
nào rồi tôi cũng chiếm nổi.
Kết cục, hai người đàn bà mỗi người vào một xó buồng ngồi ôm
mặt nức nở khóc hàng giờ.
Thấy giảng giải, thuyết lý, gắt gỏng, nói nặng đều không có một
chút công hiệu gì, hai người đàn ông theo nhau đem sự yên lặng ra đối phó,
không phải sự yên lặng lạnh lùng, khinh bỉ, những sự yên lặng thản nhiên của kẻ
biết mình yếu thế, yếu sức không chống nổi lại địch thủ.
Khí giới thứ hai ấy cũng vô công hiệu nốt. Đàn bà họ rất ghét
những người đứng trung lập. Về hùa cùng họ hay chống cự lại họ, phải dứt khoát
chọn lấy một đường, nếu không, sẽ không yên được với họ. Đương đêm họ đánh thức
dậy để bàn chuyện nhà, để nói xấu kẻ thù, nếu mình ậm ự trả lời cho xong việc,
họ sẽ làm ầm cửa ầm nhà lên ngay.
Trình và Khoa đều đã qua cái cầu ấy.
Bất đắc dĩ Khoa phải giả tảng biểu đồng tình cùng vợ và cố nặn
ra vẻ mặt giận dữ, căm tức. Có khi nhận thấy mình như trở nên có tính cách đàn
bà, chàng đã phải bật cười lên tiếng.
Trình là người thẳng thắn và thực thà, không hay suy xét sâu
xa: Chàng tưởng em nghe vợ và ngờ vực mình. Trước chẳng còn buồn phiền. Về sau,
chàng thấy vợ có lý và khôn ngoan, sáng suốt hơn mình. Đã có lần chàng nghĩ thầm:
“Tình huynh đệ làm mình mờ mắt, loạn trí. Nhưng Tính nói rất phải, ở đời chỉ vợ
chồng là hiểu nhau, là thực bụng thương yêu nhau!” Câu “vợ chồng đầu gối tay ấp”
của nàng, Trình cảm thấy có một nghĩa hầu như thiêng liêng.
Dần dần chàng tin theo vợ đến nỗi tìm hết cách tránh mặt Khoa
mà chàng vẫn cho là một người ranh mãnh, một người đáo để. Hồi chàng yêu em thì
cái tính ranh mãnh của em, chàng cũng yêu. Nhưng nay chàng thấy cái tính ấy rất
nguy hiểm, rất xấu xa.
Rồi một ngày, trong khi hai người đàn bà cùng đi chơi vắng,
chàng cho mời Khoa sang chơi mà bảo thẳng vào tận mặt:
- Cần gì chú phải rụt rè! Chú muốn ăn thừa tự cô ta thì cứ việc
nói trắng ra. Tôi không phải như người ta đâu mà chú sợ tôi ghen ghét với chú.
Khoa cười nhạt không trả lời, lững thững trở về nhà, khiến
Trình càng tức tối, và càng ngờ vực. Buổi chiều hôm ấy Trình uống già nửa chai
rượu ti. Lúc say chàng bô bô nói nhảm nói nhí, quát tháo chửi mắng bâng quơ
luôn miệng. May mà Chuyên đi cúng giỗ vắng, chứ không thì một cuộc đấu khẩu kịch
liệt đã xảy ra, với hết cả những tiếng bẩn thỉu, những lời chua chát mà họ moi
ra đem ném vào mặt nhau.
Khoa nhịn. Nhưng không phải chàng không căm tức, oán trách
anh. Chàng cho anh là một người tầm thường, quá nghe vợ mà coi rẽ tình huynh đệ.
Hơn thế, chàng ngờ anh xấu bụng, ghen ghét với mình vì tưởng mình đã nhận lời
ăn thừa tự người dì ghẻ. Khinh bỉ bắt đầu mọc mầm trong lòng chàng. Chàng nghĩ
thầm: “Thì ra anh ấy ao ước, thèm thuồng cái tài sản mà ngoài miệng anh ấy cho
là phi nghĩa, là khốn nạn. Chẳng thế, sao anh ấy lại ghen tị với mình? Ừ, nếu
quả thực cái ý ăn thừa tự không chàng màng lọt vào óc anh ấy, thì dù tin đích
xác rằng mình nhận lời đi nữa, anh ấy cũng dửng dưng chứ, hay quá lắm đến lặng
lẽ khinh bỉ mình là cùng. Can chi phải thổ lộ lòng căm tức cho mình biết”.
Thế là từ đó anh em ngờ vực nhau.
Và từ đó, chẳng mấy ngày tấn kịch gia đình không diễn, om sòm
hay lặng lẽ.
Phần thứ hai - I & II
Cúc! Con đã cho nó sang chùa mời cụ Giáp chưa?
- Bẩm me đã ạ.
Bà Ba ngắm con, mỉm cười, lặng lẽ sung sướng, khiến Cúc bẽn lẽn
quay mặt đi. Vì cũng như mẹ, nàng đương nghĩ tới buổi hội kiến với “cậu cử
Phan”, và cái mỉm cười của bà Ba nàng cảm thấy có ngụ một ý nghĩa vợ chồng.
- Con đã bảo nó đun nước rồi chứ?
- Bẩm me, họ đến rồi đun nước cũng kịp. Đun trước để nguội đi
mất.
- Thì cứ bảo nó đặt sẵn. Sư cụ đến ngay bây giờ đấy.
Quả thực, năm phút sau sư cụ tới, nhanh nhẹn trèo thang gác,
tuy tuổi cụ đã ngoài sáu nhăm.
Nhà tu hành chắp tay lễ phép chào:
- Lạy cụ lớn ạ.
- A di đà Phật! Lạy cụ.
Bà Ba bước xuống dép, đặt lại cái ghế mây có tay dựa, phủi bụi
cái đệm nhung đỏ:
- Xin rước cụ ngồi.
- Bẩm không dám, xin cụ lớn để mặc chúng tôi ạ.
- Bạch cụ, tôi mới về, hơi mệt, không đến chùa thăm cụ ngay
được nên mời cụ sang chơi.
- Dạ.
Mục đích bà Ba cho tìm nhà sư là muốn để nhà sư ngồi chứng kiến
việc gặp gỡ của bà ta với Trình và Khoa. Vì sáng nay vừa ở Hà Nội về, bà ta nhận
ngay được mấy chữ của Khoa nói hai anh em muốn sang chơi có chút việc hơi quan
trọng.
Bà đoán rằng việc đó chỉ là việc thừa tự. Nhưng bà không khỏi
kinh ngạc. Những chuyện lôi thôi xảy ra trong gia đình hai anh em Trình, bà biết
hết. Mỗi lần về làng, bà chẳng cần hỏi dò ai, tự nhiên họ kéo nhau đến mà tưng
công, mà kháo với bà đủ mọi điều về bọn con chồng. Bà chỉ yên lặng ngồi nghe,
thỉnh thoảng lại thở dài một tiếng như để phàn nàn cho sự bất hòa mà bà muốn
không có. Kỳ thực, bà rất lấy làm sung sướng. Và bà luôn luôn nghĩ thầm: “Cho
chúng mày chết! Chưa ăn thua đâu, chúng mày đã lục đục rồi. Được lắm! Chuyến
này thì hết cả khí khái...”
Xưa nay bà ta thường tỏ ra ghét cái tính khí khái của vợ chồng
Khoa. “Khí khái rởm!” bà bảo cho mọi người biết thế. Tuy trong thâm tâm bà vẫn
thành thực muốn nuôi một người con chồng để cho hưởng thừa tự sau này, nhưng
ghét, ghét cả bọn, thì bà vẫn ghét, bà thù hằn nữa. Việc thừa tự, bà cho là một
việc có lợi cho bà, mà lại có hại, có hại đến danh dự bọn con chồng. Bà thừa hiểu
rằng ở ngoài người ta chỉ trích bà nhiều lắm, người ta cho bà là một con yêu
quái đến phá hoại gia đình ông án Nguyễn. Vậy thì việc lập thừa tự này đủ trả lời
lại hết thảy những câu dèm pha vô căn cứ. Người ta sẽ bảo nhau: “Đấy! Bà ta tốt
thế đấy! Mà quân tử không! Bọn con chồng đối đãi với bà ta có ra gì đâu, thế mà
bà ta để ráo của cải cho. Nào xem còn ai dám ngờ vực nữa không!”
Được tiếng khen ấy, phỏng bà Ba có mất gì, có thiệt hại mấy
tí. Chẳng qua, như Trình đã bàn với Bỉnh và Khoa, bà ta chỉ bỏ ra vài chục hay
dăm chục mẫu ruộng là cùng. Kể thì đó cũng là một gia tài khá to, nhưng có thấm
vào đâu với cái sản nghiệp hằng chục vạn của bà ta, như lời người ta đồn. Cái sản
nghiệp ấy, lẽ dĩ nhiên, bà ta sẽ cho con gái bà ta. Nếu muốn che mắt thế gian
thì cũng chẳng khó; cùng lắm, bà ta chỉ việc sang tên, hay hơn nữa, viết văn tự
bán cho con rể, thế là không ai sẽ có thể dị nghị bà ta được, mà anh chàng ăn
thừa tự cũng chẳng sơ múi vào đâu, ngoài số mấy chục mẫu ruộng hương hỏa.
“Đừng hòng những tòa nhà ở Hà Nội, Hải Phòng mà nhỡ!”
Y nghĩ ấy làm bà Ba mỉm cười và nhớ tới chàng rể mà bà đã
kén. “Sắp sửa cử nhân luật nay mai rồi! Chỉ vứt đi một cái nhà ở Hải Phòng cũng
đủ lo cho cậu cử ra tri huyện!”
Bà Ba tưởng tượng ngay ra một cảnh huyên náo ở công đường,
dân sự tấp nập vào hầu, kẻ khúm núm, mang cái dĩa đựng lá đơn với một tờ giấy bạc,
người khệ nệ bưng cái mâm trên đặt sáu chai sâm banh và một hộp bích quy tây.
Trong khi ấy bà ngồi vắt vẻo trên sập gụ nơi tư thất, chơi vài hội tổ tôm với
con gái và các cô lục, cô thừa kéo ghế ngồi hầu “cố” và bà lớn.
Nếu cậu cử còn trẻ chưa muốn xuất chính vội thì cưới xong bà
sẽ cho cậu, mợ sang Pháp, để cậu học thi tiến sĩ, mợ học các cách ăn chơi lịch
sự của người Âu. “Với lại nó đi theo để nó giữ chồng nó nhân thể. Hai, ba năm
sau về, với cái bằng tiến sĩ, ít ra cậu Phan cũng phải Tri phủ!”
- Bẩm cụ lớn, ông cử sắp thi ra chưa ạ?
Câu hỏi hợp với ý nghĩ của bà Ba khiến bà giật mình: Bà vẫn
tin rằng sư cụ có phép ngoại và bấm độn đoán biết tư tưởng của người ta.
- Bạch cụ vâng. Cậu cử định đỗ xong cái cử nhân là xin cưới
ngay. Cụ tính có nên cho cậu cử sang Tây học thi tiến sĩ không nhỉ?
- Bẩm cụ lớn nên lắm! Đương tuổi trẻ, ông cử cũng chả cần xuất
chính vội. Đi tây về rồi nhảy ngay một bước lên chức đường quan như cụ lớn thiếu
thời xưa...
Nhà sư cười he hé, hai con mắt híp chặt lại.
Bà Ba cũng cười:
- Cậu cử dở hơi quá, cụ ạ. Cứ định ra làm trạng sư. Cụ tính
làm trạng sư thì danh giá quái gì! An Nam mình họ chưa quen cái tên trạng sư, họ
chỉ gọi là thầy kiện thôi. Mà cái tên thầy kiện tôi nghe nó làm sao ấy, như thầy
cò thầy cốc vậy.
- Phải không cụ, tội gì làm được quan lại chả làm quan?
- Dạ.
- Vả lại số tử vi của cậu cử là số ông bốn lọng kia.
- Bẩm cụ lớn, khi nào quan cử về chơi, chúng tôi xin lấy hầu
quan cử một lá số tử vi. Chúng tôi lấy thì chẳng bao giờ sai một ly.
-Bạch cụ, thế thì hay lắm! Trong lá số tử vi của cháu Cúc,
cháu cũng đứng ngôi mệnh phụ.
- Bẩm cụ lớn, chính thế. Cô thì còn phải nói! Rõ quý hóa quá,
mới một tí tuổi đầu đã bà lớn rồi.
- Mà bạch cụ, lạ quá. Nó là con cầu tự, cậu cử cũng là con cầu
tự. Thì ra... quả thực có tiền định, duyên tiền định cụ ạ.
- Bẩm cụ lớn chính thế. Chúng tôi đã thưa cụ lớn, khuôn mặt
bà lớn cử giống như đúc khuôn mất đức Phật Quan Âm. Cả đôi mắt phượng, cả cái
miếng cười tươi như hoa, cả cái mui dọc dừa. Thực là như truyền thần vậy.
- Vâng, quả có thế. Hôm nọ sang bên chùa, tôi nhìn kỹ tượng đức
Quan Âm, tôi cũng nhận thấy giống lắm, giống như mẹ với con.
Bà Ba sung sướng cười the thé rồi cất tiếng gọi Cúc, chừng để
ngắm nghía lại mặt con. Cúc nghe thấy mẹ và nhà sư nói chuyện mình đã lảng ra
bao lan từ nãy. Nàng trở vào với vẻ mặt ngây thơ và bẽn lẽn.
Bà Ba nói với nhà sư:
- Đấy cụ coi, có phải như hệt không?
- Dạ, hệt lắm.
Cúc bỡ ngỡ hỏi:
- Dạ, me truyền gì, ạ?
- Con xuống giục nó đun nước mau lên.
Cúc vừa bước xuống thang gác, bà Ba đã thì thầm hỏi nhà sư:
- Cái bùa ấy cứ để cháu đeo mãi?
- Vâng, đeo mãi. Bùa ấy làm công trình lắm đấy ạ. Bà lớn cử
mà đeo bùa ấy thì chẳng sợ sau này quan cử tình phụ; dù có mặt hay vắng mặt,
quan lớn cử lúc nào cũng phải tâm tâm niệm niệm nghĩ đến bà lớn cử.
Bà Ba vội xua tay bảo nhà sư im; bà đã nhận được tiếng guốc
cao gót của Cúc lộp cộp lên thang gác.
- Cái gì đây, con?
Bà hỏi, lúc trông thay trong tay Cúc một cái phong bì trắng.
- Thưa me, thư của anh Trình ạ.
- Thư gì thế?
Bà không khỏi kinh dị: Buổi sáng bà vừa nhận được thư của họ
hứa ba giờ chiều sẽ sang chơi. Bây giờ gần ba giờ rồi, vậy bức thư này có lẽ là
bức thư từ chối không đến chăng?
Bà Ba đoán không sai. Trong thư chỉ có mấy giòng vắn tắt:
“Chúng tôi có hứa sang thăm cô để nói câu chuyện riêng. Nhưng
thiết tưởng chẳng cần sang, vì câu chuyện ấy có thế này: Chúng tôi cảm ơn cô và
nói để cô biết rằng chúng tôi không thể chiều ý cô được. Xin lỗi cô”.
Mặt bà Ba dần dần đỏ bừng lên, rồi dần dần trắng tái đi. Nhà
sư nghe Cúc đọc, thừa hiểu đó là việc gì rồi, nhưng cũng vờ hỏi để bà Ba khỏi
ngượng:
- Bẩm cụ lớn cho tìm hai ông sang chơi.
Bà Ba giọng cố thản nhiên:
- À, bạch cụ, tôi cho tìm hai anh ấy chiều nay sang ăn cơm,
nhưng ý chừng nhà lại mới có khách nên các anh ấy xin kiếu.
Rồi bà vui vẻ tiếp luôn:
- Các anh ấy khách khứa luôn luôn ấy mà!
San bưng nước ra. Bà Ba mời tận tay nhà sư một chén, rồi cầm
một chén khác ghé gần vào miệng. Hơi nóng thơm bốc lên làm cho bà hơi dễ chịu,
vì bà đương ngây ngất như người bị cảm hàn. Bà tìm chuyện để nói lảng:
- Bạch cụ, mới vào rét mà đẫ rét quá!
- Bẩm vâng, năm nay rồi không khéo đại hàn.
Một phút im lặng. Nhà sư nhìn ra bao lan cho Cúc đang đứng mơ
mộng, gợi một câu để dò ý tứ bà Ba:
- Bẩm cụ lớn, hôm nọ quan huyện về chơi có sang thăm chùa.
Bà Ba sửng sốt hỏi:
- Anh huyện nó về à, bạch cụ?
- Bẩm vâng.
Bà Ba nghĩ thầm: “Thảo nào! Chắc lại đã xảy ra chuyện gì đây.
Ừ quái lạ, ban nãy mình đã ngờ ngợ. Sao hai thằng đương thù ghét nhau mà lại
cùng sang chơi. Bà tưởng chúng nó sang đôi co nhau, sang phân trần với mình,
sang nhờ mình làm chứng hay khu xử hộ... Có ngờ đâu hai thằng cùng ký tên vào một
bức thư lời lẽ cộc cằn... Thôi đích thị là có tay con mẹ huyện dúng vào... Mà
có lẽ cả tay con Thu nữa, con Thu đáo để lắm cơ đấy!”
- Bạch cụ, chị giáo Bằng nó lâu nay cụ có thấy về chơi không?
- Bẩm cụ lớn không ạ.
Thu lấy chồng xa làm giáo học, nên ít khi về thăm nhà. Nàng
là người hiền lành nhưng tính rất nóng, rất cực: đã nhiều lần nàng cãi nhau với
bà Ba về việc gia đình, nhất khi còn sinh thời cụ án Nguyễn.
Thấy bà Ba băn khoăn nghĩ ngợi, nhà sư đứng dậy xin về.
- Ấy, mời cụ ngồi chơi xơi nước đã.
- Bẩm xin phép cụ lớn, chúng tôi về sửa soạn mai cúng Phật.
- Ồ! Mai rằm nhỉ! Thế mà suýt nữa tôi quên.
- Bẩm mai mời cụ lớn ra chùa lễ phật... Lạy cụ lớn ạ.
- Không dám, lạy cụ. Cúc!
Cúc ở ngoài bao lan thong thả đi vào.
- Lạy cụ đi, con.
- Lạy cụ.
- Tôi không dám, lạy bà lớn.
Cúc xấu hổ lại chạy ra bao lan.
- Cái con bé thế thì thôi. Sắp bà lớn nay mai rồi mà còn bẽn
lẽn rụt rè như trẻ con.
Bà Ba tiễn nhà sư xuống thang gác.
- Bẩm cụ lớn, bao giờ cụ lớn cho cưới bà lớn cử ạ?
- Bạch cụ, họ xin cưới ngay sau kỳ thi này...
- Bẩm cụ lớn thế thì hay lắm. Đại đăng khoa rồi tiểu đăng
khoa liền.
- Nhưng bạch cụ, tôi muốn để thư thả. Cháu còn bé dại lắm ạ.
Chả biết rồi giao thiệp với các bà phủ, bà huyện ra sao, vì thế tôi lo lắm.
- Bẩm cụ lớn, con tông cháu giống thì bao giờ cũng chóng khôn
hơn người thường, cụ lớn chả phải lo.
Bà Ba tiễn nhà sư ra tận cổng ngoài, rồi vội vàng, hấp tấp trở
vào, gọi:
- San! Tỉu!
Tiếng dạ ran. Tíu chạy lại.
- Đi tìm ngay chị lý Thuận đến tao bảo cái này.
- Dạ.
Tĩu cắm đầu chạy thẳng ra cổng. Bà Ba lững thững lên gác:
“Quái thực! Mình vẫn biết hai thằng ngờ vực nhau, gầm gừ nhau, chưa thằng nào
dám nhận nhời... Mình cứ tưởng chúng nó làm ra giận nhau để dễ nhận nhời hơn.
Vì đã đến nước ghét nhau thì còn cần gì nhường nhau nữa. Sao nay bỗng dưng lại
có chuyện lạ thế này? Một cái thư hai thằng cùng ký tên! Phải hỏi cho ra mới được.
Bà mỉm cười nghĩ tiếp: “Được! Thoát sao nổi, các con ơi! Bao
giờ con mèo ghét mỡ, con lợn ghét cám thì con người mới ghét tiền!”
II
Nửa giờ sau, bà lý Thuận đến. Cứ lời bà ta thì cách đây dăm
hôm nhân dịp Bỉnh về làng, ba anh em và hai chị em dâu có cùng nhau họp mặt và
ăn uống vui vẻ ở nhà Trình.
Thì ra họ đã hòa thuận nhau rồi, và Bỉnh về chỉ cốt để khuyến
khích sự đoàn kết. Bà Ba tức tối nghĩ ngay đến điều đó, trong khi ngồi nghe người
đàn bà thuật lại bữa tiệc long trọng, mà người ấy diễn tả như một cuộc hội họp
ám muội, một âm mưu nguy hiểm.
- Bẩm cụ, con cứ tưởng ông huyện về thì thế nào cũng xảy ra
chuyện lôi thôi tay ba. Không ngờ các ông ấy lại tử tế với nhau ngay được.
Bà Ba vẻ mặt cố làm ra hớn hở:
- Ồ, thế thì khá quá nhỉ! Trong gia đình có sự hòa thuận, còn
gì vui bằng! Chị tính, tiền của mà làm gì, chỉ cốt cái lòng tử tế... Vậy ra hôm
ấy chị cũng có đấy.
- Vâng.
- Chẳng hay đầu đuôi câu chuyện ra sao?
- Bẩm, lúc con đến thì các ông các bà ấy đương ăn cơm. Họ bàn
bạc gì với nhau từ trước con chả rõ, nhưng lúc con đến thì họ nói lảng sang
chuyện khác ngay. Con có ngồi dốn lại hỏi gợi một vài câu, nhưng cũng chẳng biết
hơn điều gì. Con cho cái Tẹo dăm hào để hỏi dò thì nó bảo con rằng, ông huyện về,
ông ấy mắng ầm lên, ông ấy khóc nữa, rồi ông ấy dàn xếp, khu xử thế nào chả rõ
mà ngay buổi trưa vợ chồng ông Ba chịu xin lỗi vợ chồng ông Hai, thế rồi buổi
chiều có bữa tiệc linh đình. Bẩm, tiệc to quá cơ ạ. Quay cả một con lợn...
Bà Ba mỉm cười:
- Vâng lợn sữa. Cái Tẹo nó bảo cả hai mợ ấy cùng xuống bếp
làm thức ăn. Bẩm không ngờ họ hòa thuận với nhau chóng thế.
Bà Ba buột miệng thốt ra một câu bình phẩm mỉa mai:
- Chà! Tử tế đấy rồi lại chửi nhau đấy. Rõ đồ trẻ con! Thế rồi
sao?
- Bẩm cụ, con cũng chỉ biết có thế. Ấy là nhờ có dăm hào cho
cái Tẹo đấy.
Bà Lý cười, nói tiếp:
- Bẩm cụ việc gì có tiền cũng xong. Để rồi con hỏi lại cái Tẹo
một lần nữa.
Hiểu ngay rằng bà lý muốn xin tiền, bà Ba tìm cách nói chặn
ngay:
- Việc gì phải cho nó? Rõ chị lẩn thẩn quá. Nó lấy tiền mà nó
lại còn cười vào mặt.
Câu ấy bà Ba chưa cho là đủ hiệu lực để khiến bà lý không dám
mở miệng đòi tiền phí tổn, nên bà thêm:
- À, chị lý, chỗ trăm thùng thóc quá hạn đã lâu rồi, giả cho
tôi lấy thóc ăn chứ.
- Lạy cụ, cụ hãy khoan cho con một hạn nữa, để con lấy cái vốn
làm hàng sáo kiếm gạo nuôi các cháu.
Cái số một trăm thùng thóc, bà lý nợ bà Ba có tới sáu, bảy
năm nay, bà Ba vẫn để lửng đấy, tuy bộ coi như đã cho hẳn rồi. Đó là một ngón
khôn khéo của bà, vì bà bỏ ra một lúc bốn năm chục bạc như thế, là cốt để rồi
thu lợi vào không biết gấp mấy. Cứ một cái lợi bà lý Thuận đi đòi nợ chỗ này chỗ
khác giúp bà cũng đã đáng cả gốc lẫn lãi món tiền thóc kia rồi. Ấy là chưa kể
những khi bà sai bà lý đi đây đi đó, mà không cho lấy một xu nhỏ tiền lộ phí.
Còn việc do thám thì bà Ba không bao giờ cần ngỏ lời nhờ, bà lý, cũng như nhiều
ngưởi đàn bà khác trong làng, trong tổng, tự nhiên nỗ lực tìm kiếm chuyện về
trình để tâng công.
Bà Ba ngồi suy nghĩ một lát như tính nhẩm những điều gì ở
trong đầu. Rồi bà cười bảo bà lý:
- Động nhắc đến nợ là chị lôi lũ con chị ra thì còn ai nỡ đòi
nữa!
Bỗng bà Ba làm như chợt nhớ tới bức thư của Trình và Khoa,
tuy từ nãy đến giờ mấy giòng chữ ấy vẫn chiếm lấy tư tưởng bà:
- Này chị lý ạ, hai anh ấy vừa viết giấy cho tôi để nói về việc
thừa tự...
Cúc đứng gần đấy chau mày ngắt lời mẹ:
- Thôi me, nhắc lại làm gì nữa.
Bà Ba mắng con:
- Cô này hay nhỉ! Dễ cô cấm tôi nói chuyện đấy chắc?
Cúc phụng phịu không bằng lòng, đi xuống nhà dưới. Bà lý ngập
ngừng hỏi:
- Bẩm cụ, có phải ông Hai nhường ông Ba như lời con đoán
không?
Bà Ba lặng thinh nhìn qua cửa kính, mắt đăm đẵm mơ mộng. Bà
lý tưởng mình đoán đúng, nói luôn:
- Vâng, thế là phải, vì thế nào ông Hai cũng còn phải thờ cụ
Hai. Cụ nuôi ông Ba làm con thế là đúng phép, là hợp nhẽ hơn.
Bà Ba nhíu đôi lông mày tỏ vẻ khó chịu: Xưa nay bà vẫn không
ưng ai nhắc tới cái tên “cụ Hai” vì bà cho người ta cố ý gọi như thế để ám chỉ
bà là “cụ Ba”.
- Bẩm bao giờ ông Ba sang đây ở hầu cụ?
- Ô hay, ai bảo chị thế?
Bà lý im lặng tìm hiểu, mắt ngơ ngác, liếc qnanh phòng. Va bà
run sợ khi nghe bà Ba dằn từng tiếng:
- Vậy ra chị chẳng biết gì hết... Thế mà dám nói thánh nói tướng!
Bà Ba mắng mấy câu cho hả cơn giận, chứ thực ra bà cũng nhận
thấy rằng mình vô lý, vì người đàn bà kia làm thế nào mà biết được những điều
viết trong thư? “Người biết việc này hơn ai hết, phải là con Tẹo hay con Xiêm”,
bà Ba vẫn suy nghĩ.
Ngay sáng hôm sau, bà mật cho tìm Tẹo, kẻ nội công của bà
trong gia đình Khoa: Muốn phòng ngừa những sự bất trắc, bà đã không ngại công,
tiếc của để chăng một lớp lưới dầy chung quanh nhà bọn con chồng.
Cứ lời đứa ở gái thuật lại, thì trước khi Bỉnh về nhà, Trâm
đã viết cho hai em chồng một bức thư dài tới tám trang giấy khổ lớn. Trong thư,
nó không biết Trâm nói những gì, nhưng nó thấy chủ nó buồn phiền mất hai ngày.
Hôm Bỉnh về, Trình và Khoa biết tin trước cùng toan đi trước
để lánh mặt anh, nhưng không biết nghĩ sao, cả hai lại vẫn ở nhà.
Bà Ba thưởng cho Tẹo năm hào, và hứa sẽ cho hai đồng nữa nếu
lấy cắp được bức thư đem sang cho bà ta xem. Bà băn khoăn về bức thư lắm, vì chắc
đó là đầu mối của bao sự lạ lùng mới xảy ra.
Bà đoán quả không sai. Bức thư của Trâm gửi cho hai em chồng
chính Bỉnh đã đọc cho vợ viết và đã cảm hóa được cả đôi bên, vì không những lời
lẽ thấm thía, mà lý luận lại xác đáng nữa. Trong thư có đoạn này:
“Cô ta thành thực hay xảo trá, điều đó không cần bàn vội.
Nhưng việc cô ta dự định và ngỏ với anh em mình là thế này: Cô ta muốn một người
trong hai chú ăn thừa tự cô ta. Có lẽ vì cô ta hối hận về cái đời quá khứ, muốn
chuộc lại những tội ác mà cô ta đã gây nên trong gia đình chúng ta. Có lẽ vì cô
ta sợ sống cái đời tương lai trơ trọi khi con gái đã về nhà chồng rồi, nên cô
ta muốn gia đình một chú sớm khuya trông nom săn sóc đến cô ta, đến cái tuổi
già nua ốm yếu của cô ta sau này. Cũng có lẽ cô ta định che mắt thiên hạ và
đóng một vai nhân từ trên sân khấu đại gia đình chúng ta. Ba điều phỏng đoán ấy,
cũng chẳng quan hệ gì. Chỉ biết hiện giờ cô ta nêu ra một việc: ‘thừa tự’.
Nhận hay không nhận, đó mới là điều quan hệ.
Trước kia, anh bàn với các chú nên nhận là vì anh thành thực
yêu mến các chú, chứ, không khi nào vì anh nể lời khẩn khoản của người đàn bà ấy.
Anh cũng tưởng rằng người ấy nhờ đạo Phật mà cải ác vi thiện,
tự biết ăn năn tội lỗi, thì mình hẹp gì không tha thứ cho người ta. Vả, tôi nói
điều này, hai chú với hai thím đừng giận nhé, hai chú cũng chẳng giàu có gì, thầy
mất đi, gia sản còn có gì đâu! Anh thì đã an phận, tháng tháng có lương bổng đủ
tiêu, chứ hai chú, tôi không dám nói thiếu thốn, nhưng giá tự nhiên có thêm vài
vạn bạc thì thiết tưởng cũng chẳng nên bỏ, nhất số tiền ấy lại là tiền cô ta đã
bón của thầy, nghĩa là đã chiếm đoạt của anh em chúng ta...
Ấy là anh thiển nghĩ thế.
Nhưng hai chú cùng không bằng lòng ăn thừa tự cô ta. Không bằng
lòng thì thôi, chỉ có thế. Việc gì lại đi ngờ vực nhau, gỉận dữ nhau, thù ghét
nhau? Mỗi khi nhận được thư của hai chú và hai thím viết lên để mách tội lẫn
nhau, anh lại buồn phiền có khi anh ngồi anh khóc rưng rức và anh bảo tôi: ‘Tưởng
anh em nhà này thì không bao giờ còn có thể bị cái sức mạnh gì làm ly tán nổi.
Dù giận nhau, dù ghét nhau đến đâu, chúng ta cũng phải tha thứ cho nhau ngay,
khi chúng ta thoáng nghĩ đến cái quãng đời dĩ vãng khổ sở cùng nhau sống dưới sự
khinh nhờn, sự áp chế, sự độc ác của người đàn bà ấy’.
Tôi hết lời khuyên giải anh. Tôi nói với anh rằng hai chú thì
nóng, hai thím thì khí khái, nên nghe thấy người ta nói đến ‘tiền’ đến ‘thừa tự’
đều quá tức giận mà lỡ lời nói nặng nhau một vài câu nhưng rồi thế nào các chú,
các thím cũng lại hòa thuận như trước, hơn trước nữa.
Vả hai bên ngờ vực nhau là chỉ muốn cho nhau thằng thắn,
trong sạch, như mình. Kỳ thực cả hai thẳng thắn, trong sạch. Vậy còn ngờ vực
nhau làm gì nữa? Nay thiết tưởng chẳng còn cách nào phá tan ngay được sự ngờ vực
bằng cách này: là hai chú, hai thím cùng sang chơi cô ta, và trước mặt nhau,
trước mặt đông đủ mọi người, nói cho cô ta biết rằng cả hai cùng không nhận ăn
thừa tự. Việc giản dị đến thế, có gì mà phải để bụng và ngấm ngầm ngờ vực
nhau...”
Đọc thư của Trâm, Tính và Chuyên đều xấu hổ. Mấy hôm liền, cả
hai cùng im hơi lặng tiếng, không thốt một lời châm chọc, mỉa mai nhau. Còn
Trình và Khoa thì đều tỉnh ngộ. Họ cùng nhận thấy tính trẻ con của họ và họ chỉ
mong chóng có dịp để xin lỗi nhau.
Vì thế nên Bỉnh vừa về tới nhà là hai bên làm lành với nhau
ngay. Và vì thế mới có mấy giòng vắn tắt gửi cho bà Ba.
Phần thứ hai - III & IV
Đưa bức thư cho bà Ba xong, bốn người băn khoăn ngồi chờ tin
tức. Và họ nói chuyện phiếm để khỏi có vẻ mong đợi. Hai ba lần Tính đã liếc mắt
và khẽ hất hàm ra hiệu hỏi ý kiến chồng. Nhưng thấy Trình vẫn không hiểu, Tính
bấm chàng ra hiên để bàn xem có nên giữ em và em dâu ở lại ăn cơm chiều không.
Trình bằng lòng ngay và mỉm cười gật luôn mấy cái để tỏ ý khen ngợi và cảm ơn.
Rồi quay vào trong nhà, chàng vui mừng bảo Khoa:
- Mời chú thím chiều nay xơi cơm xoàng với chúng tôi nhé?
Khoa nhìn Chuyèn bẽn lẽn, ngập ngừng:
- Thôi... anh chị cho... khi khác.
Cử chỉ, ngôn ngữ của nàng chưa được tự nhiên, thái độ của
nàng đối với anh chồng và chị đâu, nhất là chị dâu, chưa trở lại thẳng thắn và
thành thực như trước kia. Những câu mỉa mai chua chát của nàng, cũng như những
lời bóng gió độc địa của Tính, nàng cố quên, nhưng vẫn luôn luôn như còn văng vẳng
bên tai.
Có ĩể Trình và Khoa cũng nhận thấy chỗ khó khăn của hai người
đàn bà nên cùng cố làm ra vui vẻ. Vì thế, vừa nghe vợ từ chối, Khoa vội cười,
nói át ngay:
- Thưa anh chị, nhà tôi từ chối lấy lệ để được anh chị mời một
lần nữa rồi mới nhận lời đấy ạ.
Trình cười theo, giọng cười ầm ĩ để che ngượng nghịu:
Chuyên không giữ nỗi nghiêm trang, cũng phải bật cười lên tiếng.
- Vâng thì chúng em xin nhận lời. Nhưng thế nào mai cũng mời
anh chị sang xơi cơm sáng với chúng em.
Trình nhanh nhảu:
- Xin vâng. Mời ăn thì ai nỡ từ chối bao giờ!
Tính liền đứng dậy đi xuống bếp. Khoa quả quyết muốn làm
lành, khẽ bảo vợ:
- Kìa mình, xuống giúp chị một tay.
Nhưng Chuyên lơ đãng ngồi nhìn ra sân, yên lặng không đáp. Giữa
lúc ấy, bà lý Thuận hốt hoảng từ ngoài cổng chạy vào:
- Ông Hai, ông Ba có nhà không?
Trình lo lắng nhìn Khoa. Chuyên đứng dậy ngơ ngác:
- Cái gì thế, bà lý?
Bà lý vừa thở vừa kể:
- Cụ đương... ngồi nói chuyện... với tôi... bỗng dưng cụ...
ngất đi...
Chuyên cười mũi, lạnh lùng hỏi:
- Cụ nào thế?
- Cụ ấy mà!... Cụ ngất đi.
Giọng Chuyên càng lạnh lùng hơn, hỗn xược nữa:
- Thế à? Ngơ chuyện gì!
Ngượng vì cái cử chỉ kém lịch sự, kém nhân đạo của vợ đối với
một người gặp nạn. Khoa giữ vẻ mặt thương xót, hỏi bà lý:
- Đầu đuôi câu chuyện ra sao?
Tính nghe thấy ồn ào, từ dưới bếp chạy lên:
- Chuyện gì thế, bà lý?
Chuyên mỉm cười, liếc chị dâu:
- Người ta ngất đi. Cái ngất của người ta thì còn ai lạ?
Khoa khó chịu, đã hơi có giọng gắt:
- Thì mợ hãy để bà lý kể cho biết đầu đuôi đã nào.
- Thì kể đi!
Tính sốt ruột vội giục:
- Thế nào, bà lý?
- Ấy, cụ cho tìm tôi đến, cụ phàn nàn, rồi cụ khóc mãi... Rồi
cụ ngất đi.
Chuyên quay đi để giấu cái mỉm cười, vì ngắm nét mặt trang
nghiêm của chồng, nàng đã hơi nhụt. Nhưng Tính không giữ nổi vẻ vui mừng hài hước,
ghé vào tai chồng thì thầm nói theo giọng tuồng:
- Phu nhân lai tỉnh! Ớ phu nhân lai tỉnh!
Trình chau mày chậc lưỡi, rồi sợ bà lý Thuận nghe rõ lời vợ,
chàng hỏi lảng một câu ngớ ngẩn:
- Có việc gì không?
Bà lý thúc giục:
- Xin mời hai ông, hai bà sang ngay cho... Chứ một mình cô
Cúc thì cô ấy chẳng biết xoay xở thuốc men ra sao.
Chuyên nguýt dài một cái. Tính đùa bỡn hỏi:
- Thế thằng San với cái Tĩu đi đâu cả?
Chuyên cũng tiếp luôn:
- Còn bà lý đấy nhá!
Bà lý Thuận chẳng phải tay vừa, đối chọi lại liền:
- Thưa bà, nói con cháu trong nhà cơ, chứ tôi là người ngoài
thì kể làm gì?
- Người ngoài, nhưng là đầy tớ chân tay.
Trình cắt đứt hẳn chuyện:
- Chú Khoa với tôi thử sang xem sao đi!
Chuyên vội kêu:
- Giời ơi! Còn sang làm gì?
Khoa thì thầm bảo vợ:
- Cứ để chúng tôi sang xem cô ta giở những trò gì.
Rồi quay ra nói với anh:
- Đi, chúng ta sang.
Tính nói:
- Có sang thì cũng ăn mặc tử tế đã chứ, đừng đánh cái áo cánh
cộc như thế kia mà người ta khinh cho.
Chuyên mỉm cười:
- Cô ngất, còn biết gì mà khinh với trọng.
Bà lý thực thà:
- Bẩm, bây giờ cụ tỉnh rồi, cụ đương ngồi khóc... Có cả sư cụ
cũng ở đấy.
Ít lâu nay, Chuyên đã hết kính nể sư Giáp. Nàng bĩu môi nói:
- Cố nhiên là có sư cụ.
Quần áo chỉnh tề - Chuyên đòi được chồng thắng âu phục nữa -
Trình và Khoa cùng bà lý Thuận ra đi. Chuyên không chống nổi lòng tò mò thì thầm
hỏi Tính:
- Chị có đoán được vì việc gì không? Hay ta cũng thử sang
xem?
Tính trù trừ suy nghĩ, rồi giọng liều:
- Ừ, cần gì! Ta cứ sang xem sao.
Thế là hai người đi liền, dấn bước để kịp chồng. Lũ con, Nam,
Phiên, Đạc và Liên đương nô đùa ở sân, tưởng có chuyện gì vui ở bên “bà Hà Nội”
- cái tên mà chúng đã đặt cho bà Ba, vì mẹ chúng cấm chúng gọi bà kia là bà.
Chúng ồn ào bảo nhau:
- Cậu mợ sang bên bà Hà Nội, chúng mình cũng sang đi.
Chúng chạy ùa ra cổng. Chuyên quay lại sua về, nhưng chúng cố
lẩn lút theo cho bằng được.
Vừa bước được mấy bực thang gác, bọn Trình đã nghe thấy tiếng
khóc òa. Kế tiếp những lời kể lể dài dòng.
- Bẩm cụ, hai ông với hai bà đã sang đây ạ.
Bấy giờ bà Ba mới ngửng đầu lên, và giọng đầy nước mắt, làm
như đáp lại câu chào của những người mới đến:
- Không dám, các anh các chị sang chơi đấy à?
Bà cầm khăn tay, vừa lau mắt vừa gọi:
- Cúc ơi! Bảo lấy ghế mời anh chị ngồi đi, con.
Cúc ở bao lan vào, thì Tửu đã bày xong ở cạnh hai phía sập một
hàng bốn cái ghế mây có tay vịn. Bà Ba cười buồn nói:
- Mời hai anh, hai chị ngồi chơi.
Rồi làm như chợt nhìn thấy lũ con của Trình và Khoa:
- Cả các cháu cũng sang chơi... thăm bà đấy à? Cô Cúc, mở hộp
bích quy chia cho các cháu, nhé?
Chuyên gạt phắt:
- Thôi ạ.
Rồi nàng quắc mắt nhìn lũ trẻ:
- Đã bảo ở nhà, thế mà cũng cứ theo sang. Có về ngay không?
Bà Ba đã niềm nở ngay được:
- Chị để mặc chúng nó. Các cháu ra đây với bà. Già trẻ vẫn ưa
nhau.
Tính quay đi giấu cái chau mày. Nhà sư đứng dậy cáo từ, vì
không thấy ai lưu ý đến mình. Bà Ba vội đứng dậy theo:
- Ấy, mời cụ ngồi chơi xơi nước đã. Với lại tôi còn bạch cụ một
câu chuyện riêng cơ mà.
Sư cụ lại lẳng lặng ngồi xuống. Mấy đứa trẻ được chia bánh đã
xuống cả dưới sân.
Bà Ba đăm đăm nhìn khoảng trời xanh qua ngọn cây trúc đào trồng
bên cửa sổ. Bỗng bà sụt sùi khóc, kể lể:
- Các anh, các chị có thấu tình cảnh cho tôi không?... Tôi
nghĩ mà tôi buồn quá... Tôi làm bạn với thầy trong mười mấy năm giời... được một
em Cúc...
Chừng không tìm ra ý gì để nói, mà có lẽ cũng chưa biết rõ
mình định đưa câu chuyện đến đâu, bà Ba lại nức nở.
Trình hơi cảm động:
- Có điều gì, xin cô cứ nói cho chúng tôi biết.
- Cực nhục lắm các anh, các chị ạ...
Bà quay sang phía nhà sư, nói tiếp:
- Cụ Giáp đây cũng như người trong nhà, tôi mới dám tỏ rõ câu
chuyện nhà ở trước mặt cụ. Cụ biết đấy, quan lớn tôi thực phúc đức quá!
Không bỏ qua một dịp nào có thể lợi dụng được, nhà sư cúi đầu,
lễ phép ngắt lời:
- Nam mô A di đà Phật, bẩm cụ lớn ông giá Giời Phật để thọ
thêm độ vài năm nữa thì nhà chùa đã có cái cửa võng hậu cung thếp vàng rồi. Bẩm,
cụ lớn ông sắp sửa cho khởi công thì ngài tịch, thành thử cái cửa võng cứ để mộc
mãi đến ngày nay.
Bà Ba quên cả buồn, cả khóc, vội kêu:
- Thế à? Sao cụ không bảo. Được! Để rồi tôi xin đứng...
Nhà sư tưởng bà Ba hứa sẽ bỏ tiền ra, nhưng bà ta tiếp luôn:
- Tôi xin đứng ra quyên trong hội Phật Giáo làng ta kẻ ít người
nhiều để lấy tiền thếp vàng cái cửa võng hậu cung.
Nhân tiện, nhà sư nhắc đến “việc hậu” mà nhà sư ngờ rằng bà
Ba đã quên bẵng đi rồi:
- Bẩm cụ lớn, cả cái cửa võng ở gian thờ hậu lâu ngày cũng đã
cũ lắm, mà ngày xưa các cụ lại thếp bạc chứ không thếp vàng. Giá đủ tiền xin cụ
lớn cho sửa sang luôn một thể.
Ngừng một giây, nhà sư lại nói:
- Bẩm cụ lớn, các ông các bà vào hậu từ trước cúng vào nhà
chùa cũng chưa được mấy. Có mỗi một bà nhiêu Tề cúng được hai mẫu ruộng là to
nhất, thì nhà chùa lại dựng riêng một cái bia để kỷ niệm công đức, còn bà hội
Khoai...
Sợ câu chuyện nhà chùa đi xa quá, bà Ba ngắt lời:
- Vâng, rất nên vào hậu. Còn gì bằng được các cụ cúng cho, tụng
kinh niệm Phật cho, để vong linh được siêu sinh tịnh độ. Tưởng ai ai cũng nên
vào hậu, chứ chả cứ những người vô tự...
Nhà sư vui mừng chấm câu:
- Dạ.
- Nhưng tôi nghĩ đến lúc sống hơn đến lúc chết, cụ ạ. Vẫn biết
sống gửi thác về, nhưng mà cảnh già trơ trọi thì khổ sở lắm, bạch cụ. Vì thế
mà...
Bà Ba lại ngừng, và nước mắt ở đâu ứa ra rất mau.
- Vì thế mà tôi muốn được một anh trong hai anh cháu... Bây
giờ tôi già rồi, cụ ạ... Tôi muốn có người để giao các hết công việc cho... Tiền
của đấy, cơ nghiệp đấy, tôi chết thì tôi có mang đi được đâu... Cháu Cúc rồi nó
đi theo chồng nó... Cái nghề con gái trông cậy gì được... Nó về nhà người ta,
nó khuân của về làm giàu cho nhà người ta...
Như chợt nhớ ra, bà Ba gọi:
- Cúc!
- Dạ!
- Con xuống nhà chơi với các cháu, chẳng nhỡ nó ra bờ ao mà xẩy
chân thì khốn đấy.
- Vâng.
Cúc lặng lẽ xuống thang gác. Bà Ba hạ giọng:
- Con bé nó oán tôi lắm cơ đấy...
Bà bỏ lửng câu, thành thử không ai hiểu Cúc oán bà về việc
gì. Rồi bà tiếp sang chuyện khác ngay:
- Kể ra thì tôi cũng chẳng cần phải xin một anh ăn thừa tự,
vì con quan lớn tôi, tôi cũng coi như con tôi cả...
Chuyên giận dữ, yên lặng đưa mắt liếc Tính.
- Nhưng, tôi đã nói, tôi muốn có một anh ở hẳn với tôi như
con đẻ với mẹ thực ấy kia... Lạy giời lạy phật, tôi chỉ có một lòng thẳng thắn...
Vì thế... (bà Ba nức nở) vì thế nhận được mấy chữ... của hai anh... tôi khổ sở...
tôi đau đớn... tôi uất lên...
Và bà lại uất lên. Hai mắt lim dim, bà ngả người về phía sau
rồi nằm vật lên đống chăn bông bọc nhiễu đỏ cạp nhiễu xanh. Nhà sư đứng dậy:
- Bẩm cụ lớn, bẩm cụ lớn...
Bà lý Thuận chạy vội lại, đỡ bà Ba:
- Thưa hai bà, hai bà nâng cụ một tí này!
Nhưng Tính và Chuyên chỉ ngồi nhìn. Sợ cái ngất của mình sẽ
trở nên khôi hài, bà Ba làm như cố gượng ngồi dậy, tựa lựng vào tường, rên khừ
khừ, một tay chống xuống sập, một tay vuốt ngực:
- Giời ơi, khổ sở thân tôi, sao tôi không chết quách đi để
làm phiền biết bao người... Ới quan lớn ơi, quan lớn có khôn thiêng thì quan lớn
cho tôi chóng được đi theo... quan lớn...
Lúc bấy giờ người nhà bưng nước chè tầu lên. Uống cạn chén nước
nóng, bà Ba bỗng thấy tỉnh táo. Bà lại ôn tồn nói tiếp câu chuyện bỏ dở:
- Tôi vẫn tưởng các anh các chị ưng thuận rồi chỉ còn bàn với
nhau xem ai nên nhận lời. Đến lúc tiếp được thư của hai anh, tôi mới ngã ngửa
người ra...
Nhưng lần này, bà Ba không ngã ngửa người ra nữa. Sư cụ bàn
chêm một câu:
- Thôi, hai ông chả còn phải nghĩ ngợi gì, cụ lớn quý mến hai
ông như vàng như ngọc, nên cụ lớn mới khẩn khoản ngỏ lời, chứ trong hàng cháu
có thiếu người đâu, cụ lớn nuôi ai mà chẳng...
Bà Ba cướp lời:
- Cháu thì nói làm gì! Với lại, trước con rồi sau mới đến
cháu, cụ ạ, nhân tâm ai chả thế, phải không, bạch cụ?
- Dạ. Bây giờ, thưa hai ông, thế này này: ông Hai thì thờ cụ
lớn bà... đã quá cố... còn ông Ba thì ở... hầu cụ lớn... đây...
Trình trừng trừng nhìn sư cụ:
- Thiết tưởng việc nhà chúng tôi, sư cụ biết thế nào mà bàn.
Sư cụ cười khô khan, hai đuôi mắt nheo dài và xếch lên thái
dương, cặp môi mỏng sẽ rít lại và hé ra một lỗ sâu, khoảng chiếc răng gẫy: toàn
dung mạo nhiễm đầy vẻ hỗn xược.
- Thưa bà, nhà chùa cũng bàn góp thế thôi, còn quyền định đoạt
thì ở cụ lớn kia chứ!
Thấy tình thế trở nên gay go, bà Ba liền phỉnh bọn con chồng
một câu:
- Kể ra thì quyền định đoạt ở các anh các chị ấy, các anh các
chị ưng là xong ngay.
Liếc nhìn nét mặt dữ tợn của Tính và nét mặt lạnh lùng của
Chuyên, bà Ba cho rằng nhà sư đã vô tình nói hớ. Nhưng sự thực, nhà sư không vô
tình, mà chính cố ý thốt ra những câu chua chát, đau đớn. Vì bao giờ người tu
hành ấy cũng nhớ đến mục đích của mình trong những lúc “hầu chuyện cụ lớn”. Mục
đích ấy là việc “vào hậu” với tất cả quyền lợi của chùa trong việc đó. Không
lúc nào nhà sư thấy cần phải phấn đấu cho quyền lợi bằng lúc này.
Quyền lợi! Hai tiếng ấy đã hầu như mọc rễ trong khối óc sư cụ.
Mà sư cụ cũng không giấu diếm ai rằng mình nghĩ đến quyền lợi của nhà chùa.
Trái lại, sư cụ còn khoe khoang nữa, khoe khoang cái tài làm giàu của mình với
các ông kỳ hào, tộc biểu.
“Đấy, các cụ coi, lúc tôi đến thì chùa xiêu, tượng nát. Bây
giờ tôi đã xây lại chùa, tô lại tượng, đúc lại chuông, tậu thêm ruộng thêm vườn”.
Đừng nói đến thuyết “diệt dục” với sư cụ, sư cụ chẳng hiểu gì
đâu. Đạo Phật của sư cụ không phải là cái đạo huyền bí, cao siêu, cái đạo thoát
tục của Thích Ca. Nó chỉ là mấy câu kinh câu kệ học thuộc lòng, nó chỉ là những
cái bùa yểm mả và sự chí thú làm giàu cho nơi mình chụ trì.
Nhưng điều sau cùng này, người ta rất ngờ vực. Và người ta
thì thào với nhau rằng sư cụ nói đến quyền lợi của chùa để lấy cớ thu quyền lại
về cho mình, cho nhà mình. Vì người ta thấy nhà sư cụ một ngày một thêm giàu,
và thằng cháu sư cụ năm nào cũng tậu ruộng, hoặc sửa sang lại nhà cửa.
Người cháu ấy thỉnh thoảng có đến thăm sư cụ. Người ta đồ là
đến thúc tiền, đến bòn của. Và cho bõ ghét, người ta bảo nhau: “Cháu gì, con cụ
đấy! Các bà xem, giống nhau như lột!” Có người lại quả quyết rằng mẹ người cháu
nhiều lần đến chùa, đêm khuya mò vào phòng sư cụ.
Chẳng rõ những chuyện ấy thực hay hư, nhưng một điều ai ai
cũng biết chắc chắn là sư cụ thích tiền, thích làm giàu, dù làm giàu cho nhà
chùa hay làm giàu cho nhà mình cũng vậy. Những thiện nam tín nữ của sư cụ, sư cụ
chia ra làm ba hạng: hạng giàu, hạng đủ ăn và hạng nghèo. Hạng trên mời cụ đến
cúng, cụ sốt sắng và thân hành đi ngay. Hạng giữa, cụ cho sư bác đi thay. Còn hạng
dưới thì có đừng hòng “thỉnh cụ”, và, nếu muốn xin bùa xin dấu, phải cúng tiền
ngay, cái lệ mà không bao giờ cụ thi hành với người giàu.
“Giàu có sung sướng thực!”
Câu ấy luôn luôn ở trong miệng người tu hành. Nhưng sư cụ thường
thêm ngay:
“Tha hồ làm phúc làm đức, đi lễ đi bái, dựng chùa dựng chiền.
Thực phú quý sinh lễ nghĩa”.
Và sư cụ không quên kể những chuyện hằng sản hằng tâm, những
tấm lòng nhân đức đối với đạo Phật. Cái tên “bà Hưng Ký” người làng Giáp không
ai không thuộc, tuy trong bọn thiện nam tín nữ, chẳng mấy người đã đặt chân tới
Hà Nội, chứ đừng nói tới chùa Hưng Ký vội. Dù thế mặc lòng, họ vẫn kể đi kể lại
cho nhau nghe những cái đẹp, cái lạ của ngôi chùa, làm như chính mắt mình đã
trông thấy chứ không phải thuật theo lời khoác lác của sư cụ:
- Úi giời ơi! Các bà ạ, cụ Hưng Ký bỏ ra mười vạn để xây một
ngôi chùa. Những đất cũng đã đến hàng vạn rồi! Các bà tính đất người ta bán thước
chứ có phải bán mẫu, bán sào như ruộng dưới ta đâu. Mười mấy đồng một thước đấy!
Một người nghe tròn xoe mắt nhìn và kêu:
- Mười mấy đồng một thước? Chừng thước tây đấy chứ!
- Ừ thì thước tây nữa. Thế mà đất chùa rộng tới ba mẫu. Còn
chùa thì chả phải nói! Xây một cái tam quan cũng tốn hơn dựng cả một ngôi chùa
khác rồi.
Dựa vào lời sư cụ, họ thêm thắt, bịa đặt những điều vô lý. Họ
trộn lẫn loạn xạ những sứ, những vàng, những tượng, những kiểu tàu, kiểu tây.
Ngoài bà Hưng Ký, sư cụ còn tán dương công đức một người nữa:
ông Thanh Hương. Ở làng Giáp không ai biết tên thực ông ta là gì, Thanh Hương
là tên hiệu của ông ta, một hiệu bán thuốc lào rất có tiếng ở Hà Nội. Nhờ về việc
thương mại ấy mà ông ta có một cái tài sản to. Người ta cũng không biết to bao
nhiêu, chỉ biết ông Thanh Hương đã bỏ ra bốn, năm vạn - có người nói mười lăm vạn
- để cúng vào chùa này, chùa nọ và nhất là để dựng một ngôi chùa tuy không lớn
bằng chùa Hưng Ký, nhưng cũng lớn lắm, nếu cứ tin ở lời huyên truyền của người
làng Giáp.
Ông Thanh Hương, không như bà Hưng Ký mà người ta chỉ biết tiếng,
ông Thanh Hương, ai ai cũng đã gặp mặt, một vẻ mặt lù dù, và đã nghe thấy giọng
nói, một giọng nói lù dù. Ông ta người hạt Bắc Ninh. Thỉnh thoảng ông ta về
làng Giáp chơi không phải vì ông ta mến đức cụ Giáp hay để xin bùa của cụ. Ông
ta chỉ về thăm, về “hầu cụ án bà”. Ngày xưa cụ án đã tri nhậm huyện ông ta, sau
lại làm án sát Bắc Ninh, và đã trông nom cho ông ta nhiều lần, nhất là lần ông
ta ra tranh lý trưởng. Nhớ ơn, ông ta năm năm về làng Giáp cúng, giỗ, lễ tết,
ngay từ hồi cụ án mới hồi hưu. Và sau khi cụ án qua đời, ông ta vẫn không quên
lệ cũ.
Bà Ba quý trọng Thanh Hương một cách đặc biệt, quý trọng vì
ông ta giàu cũng có, nhưng nhất vì muốn dương oai với người làng: “Ông Thanh
Hương, thầy tớ quan lớn ngày trước”, bà nói với khắp mọi người, cả trước mặt
ông Thanh Hương. Và nhà trọc phú có lẽ cũng coi sự làm “thầy tớ” cụ án là một
hãnh diện, một danh giá đối với bọn người làng Giáp.
Giới thiệu Thanh Hương với sư cụ là một việc không cần cho bà
Ba. Lần đầu về làng Giáp, Thanh Hương đã ra chùa lễ rồi: Một người mộ đạo Phật
như Thanh Hương đi tới đâu mà nhãng quên được cái việc quan hệ ấy, huống chùa
Giáp lại là một chùa có tiếng, có tiếng vì sư cụ cao tay, và vì bà Ba quảng
cáo.
Thanh Hương đã cúng vào chùa Làng Giáp rất hậu, nhưng không
phải vì thế mà mỗi lần hầu chuyện bà Ba, nhà sư nhớ nhắc đến các việc phúc đức
của ông ta; sư cụ chỉ muốn bà Ba theo gương Thanh Hương mà trở nên rộng rãi đối
với chùa làng Giáp như ông kia đã bỏ tiền ra không tiếc cho chùa làng ông ta. Sự
cụ còn ngấm ngầm ao ước hơn thế nữa: làm chủ nhân số một trăm mẫu ruộng của bà
Ba ở làng Giáp. Sự mong mỏi ấy nhà sư không cho là viển vông, nhưng cũng nhận
thấy khó khăn vì đã biết rõ cái tính chặt chẽ, bo siết của bà Ba.
Nhà sư đã hầu thất vọng thì xảy ra việc “thừa tự”. Việc ấy
không những không đi ngược, mà trái lại, còn giúp cho quyền lợi của sư cụ. Là
vì để tự nhiên thì bà Ba không thấy “vào hậu” là cần cho linh hồn bà sau này.
Việc thừa tự trong một gia đình lộn xộn, lục đục, sẽ mở rộng mắt bà ra và sẽ làm
bà lo sợ, kinh hoảng cho tương lai, cho vong linh bà. Miễn là khéo xoay!
Khéo xoay! Tất cả tâm lực, tất cả thông minh, tất cả xảo trá,
nhà sư đều để vào đấy. Và trong óc nhà sư nảy ra không biết bao nhiêu cơ mưu quỷ
quyệt. Có đêm nhà sư thức suốt sáng để tìm kế, và nhiều lần, lẩm bẩm nói một
mình: “Khi nào bà ta tha thiết việc vào hậu hơn việc thừa tự là được!”
Vì thế nhà sư thấy cần phải năng ở bên cạnh bà Ba, để luôn
luôn đem những cái đẹp, những cái hay, những cái đáng sợ, nhất là những cái
đáng sợ của đạo Phật mà dụ bà. Và nhà sư mừng thầm rằng hiện đang đi đến sự đắc
thắng. Hai anh em ngờ vực nhau, hai chị em dâu ganh ghét nhau, nhà sư cũng
không phải không có chút công lao vào đấy. Còn như cái việc thừa tự mà bà Ba vẫn
xoắn lấy, nhà sư không coi là một việc nguy hiểm cho quyền lợi của mình nữa.
Nhà sư thừa biết rằng thực ra, trong thâm tâm, bà Ba vừa thù, vừa ghét hai anh
em Trình. Vả hai người đàn ông nhu nhược ấy, nhà sư cho không phải là tay địch
thủ. Địch thủ gì hạng người không quả quyết bao giờ, nhất lại không bao giờ có
chí làm giàu!
Nhưng hai người vợ thì hơi đáng sợ. Nhà sư cho rằng tuy ngoài
mặt họ làm ra không thiết của, kỳ thực, lòng dục vọng của họ đã lên tới cực điểm.
Vì thế họ tức tối, oán giận nhau, người nọ chỉ sợ người kia chiếm mất cái gia
tài mà cả hai cùng thèm muốn.
Ban nãy, được tin bà Ba ngất đi, nhà sư hấp tấp đến thăm,
trong lòng băn khoăn nửa mừng nửa lo.
Việc đầu tiên của nhà sư là đốt dấu và thư phù vào bát nước
mưa rồi đưa cho bà Ba uống sau khi đã ngầm bỏ vào đấy một ít bột thuốc “giải
nhiệt tán” mua ở một hiệu bào chế Tàu. Rồi khi bà Ba đã thuật lại cho nghe đầu
đuôi câu chuyện vừa xảy ra, nhà sư khéo não nuột thở dài và phàn nàn:
- Lạy Phật tổ, thực các ông, các bà ấy không biết điều một tí
nào, chỉ làm phiền cụ lớn.
Bấ Ba cũng thở dài phàn nàn:
- Bạch cụ, lắm lúc tôi chán gia đình quá. Đấy cụ coi cảnh gia
đình nhà quan án tôi. Các cụ bỏ cửa bỏ nhà đi tu thực cũng phải... Gia đình như
thế thà chẳng có gia đình còn hơn.
- Dạ, đức Phật Thích Ca là con vua mà cũng bỏ nhà đi tu đấy ạ.
- Bạch cụ, đức Phật là Phật là Giời, tôi chẳng dám ví nhưng
trong cảnh gia đình nhà tôi lắm lúc tôi cũng thấy tôi khổ như đức Phật.
Câu chuyện ngớ ngẩn của hai người chẳng ăn nhập gì với hoàn cảnh
hiện tại. Sự thực, cả hai cùng đương theo đuổi một ý nghĩ thầm kín: bà Ba cốt tỏ
với sư cụ rằng mình coi hai người con chồng như con mình. Còn sư cụ thì muốn
đưa bà Ba tới chỗ “vào hậu”, tới chỗ đem gia sản cúng chùa. Vì thế, sư cụ đáp lại
bà Ba:
- Bẩm cụ lớn, gia đình thực phiền phức, thực khó chịu như lời
cụ lớn truyền, bẩm cụ lớn nghĩ mà xem, ông Thanh Hương thì ông ấy thiếu gì
cháu. Anh ông ấy con đàn cháu đống, hai em ông ấy cũng gia đình đông đúc. Thế
mà ông ấy có thiết gì đến gia đình! Giời bắt hiếm hoi, ông ấy có nuôi cháu để
cho ăn thừa tự đâu? Ông ấy chỉ nghĩ đến làm việc phúc, hết cúng chùa này, lại
xây dựng chùa kia, rồi nào đúc chuông, nào tô tượng, thôi thì đủ các việc phúc
việc đức. Ông ấy bảo chúng tôi rằng để tiền cho các cháu chúng nó chơi bời lêu
lổng, không bằng đem dâng cúng Phật...
Bất giác bà Ba mỉm cười. Bà thấy sư cụ quá vụng về. Bà hiểu
thấu sư cụ cũng như hiểu thấu bọn con chồng. Nhưng bà vẫn tưởng sư cụ là người
rất mực khôn ngoan, khéo léo, chứ có đâu lại tán tiền một cách trống trải như
thế? Người đời, lúc nào bà cũng nhìn thấy họ quay cuồng, lừa lọc. Lòng người,
bà thường trông thấy rõ các màu của nó hiện ra trong cuộc thí nghiệm.
- Bạch cụ, cụ nói rất phải.
Câu nói như buột miệng thốt ra. Bà Ba đã để cả tâm trí vào việc
khác, vào việc đối phó với bọn con chồng. Vì lúc ấy, bà nghe thấy tiếng giầy
anh em Trình trên thang gác.
*
Một lát sau, nhà sư về chùa. Một phút im lặng. Rồi bà Ba bắt
đầu:
- Phúc đức quá, năm nay cụ sáu mươi bảy tuổi đầu mà vẫn khỏe
mạnh... như hạng trẻ giai.
Chuyên mỉm cười rất xược, chừng để mai mỉa tiếng trẻ giai mà
bà Ba đã dùng một cách rất tự nhiên và thẳng thắn.
- Người ta đồn sư cụ có chán con đấy.
Bà Ba cặp mắt trợn trừng:
- Chết! Bậy quá. Tội chết... Sao chị nỡ....
Chuyên chẳng chịu nhụt:
- Thưa cô, thì tôi cũng nghe thấy người ta đồn thế... Vả thời
buổi này, như thế là thường.
- Sao chị biết?
Lòng căm tức khiến bà Ba ném ra câu trào phúng gọn gàng ấy.
Nhưng bà chợt nghĩ lại và nói lảng ngay:
- Sư cụ chùa ta thật là một vị chân tu đắc đạo. Đấy, hai chị
coi, từ ngày cụ về tu ở chùa ta, cụ đã tu bổ chùa hai lần rồi. Lại tậu được
thêm ruộng, thêm vườn.
Khoa mỉm cười, nghĩ thầm:
“Vậy ra tậu ruộng tậu vườn, là chân tu đắc đạo”?
Thấy câu chụyện đã trở nên nhạt nhẽo, buồn tẻ, Trình đứng dậy
chào xin về. Ba người kia đứng lên theo. Tức thì bà Ba lại nhớ đến vở kịch
đương đóng giở và mếu máo nói:
- Khổ quá, nào tôi đã nói xong câu chuyện với hai anh, hai chị
đâu mà đòi về được.
Bốn người đưa mắt nhìn nhau. Bà Ba nói luôn:
- Thì mời các anh, các chị hãy cứ ngồi xuống một tí nữa đã
nào.
Bà quay bảo bà lý Thuận chắp tay đứng phía sau:
- Chị lý, chị đưa hộ tôi hộp bích quy.
Rồi mở nắp ra mời:
- Anh chị xơi tạm. Ăn thừa các cháu cũng chẳng sao, phải
không?
Trình và Khoa cùng đỡ lấy chiếc bánh và cùng lí nhí nói:
- Cám ơn cô.
Còn Tính và Chuyên thì cùng giơ tay ra gạt:
- Cám ơn, cô.
Chuyên tiếp luôn:
- Tôi hơi đau bụng.
Bà Ba tươi cười:
- Cả hai chị cùng đau bụng? Khéo bảo nhau nhỉ?
Đương chuyện ấy, bà nhảy ngay sang chuyện khác:
- Hai chị ạ, lắm lúc tôi chán quá, tôi định đem hết tài sản
cúng vào chùa, cúng hết vào chùa.
Rồi bà lại cười:
- Kìa hai anh xơi nữa đi chứ.
- Xin đủ ạ.
- Đủ gì mà đủ! Anh phải ăn nữa.
Vừa nói, bà vừa ấn vào tay mỗi người đàn ông một cái bánh.
Chờ mãi không thấy bà Ba, trong câu chuyện huyên thiên, quay
về việc thừa tự và nhất là việc cúng hết tài sản vào chùa, hai người đàn bà lại
đứng dậy chào:
- Thôi, chúng tôi xin về.
Bà Ba cũng đứng dậy theo:
- Các anh các chị nhất định về à? Vâng thì các anh các chị về.
Thỉnh thoảng sang chơi nhé!
Lần này bà quả quyết không giữ nữa.
IV
Bà Ba giục giã Cúc sửa soạn để đi Hà Nội. Bà vừa nhận được
tin trúng tuyển của con rể, trong một bức điện tín dài giòng: “Đậu cử nhân luật
hạng bình. Sẽ xin về Giáp bái yết me và thăm em Cúc - Phan”.
Để chiều cái tính háo danh của bà Ba, Phan đã không tiếc tiền,
và đã coi thường nụ cười chế nhạo của người giữ việc đánh dây thép ở sở Bưu
chính, khi người ấy nhẩm đọc cái văn chương khoe khoang của chàng.
- Thế cậu ấy đề gửi chọ me hay cho con?
Bà Ba vui vẻ hỏi miệng mụm mĩm cười với bóng mình trong gương
đứng, vì bà đương đội khăn. Cúc bẽn lẽn, đỏ ửng hai gò má.
- Cậu ấy đề gửi cho con à?
- Đề thế nào cơ, hử con?
Cúc cầm bức điện tín đọc:
- “Cụ lớn án, làng Giáp...”
Sung sướng tràn ngập trong lòng, và lộ ra trên nét mặt bà Ba.
- Người có học thức bao giờ cũng giữ lễ độ. Me đến ghét những
đứa học hành dở dang chẳng biết phép tắc phép tiếc gì cả. Viết thư cho người An
Nam với nhau mà đề bà đầm nọ bà đầm kia là cái nghĩa lý quái gì? Lại mấy cái thằng
nhãi ranh con dì phán cả nữa, lần nào viết thư cho mình, cũng bày vẽ bà đầm vơ
bà đầm viếc nhắng nhít lên. Còn lão phán, thằng bố chúng nó thì chẳng biết
kiêng nể gì, có lần nó đề toẹt ngay tên thầy con lên phong bì. Me đã mắng cho mất
mặt đi...
- Bẩm me, theo cách đề phong bì của người Tây...
Bà Ba bĩu môi:
- Tây với Tàu! Có tây nửa mùa ấy! Cậu Cử dễ cậu ấy không thuộc
pháp luật tây à? Thế sao cụ ấy không đề bà đầm Thân?
Bà Ba là người đa nghi. Giá lúc khác, và giá người khác gửi
thư cho bà mà ngoài phong bì viết dài giòng như cái điện tín của Phan, thì chắc,
trong thâm tâm, bà đã ngờ vực rằng người ấy nịnh hót bà, tuy ngoài mặt bà vẫn
phớn phở sung sướng. Nhưng người gửi là Phan vừa đậu xong cử nhân, nên bà không
kịp nghĩ ngợi xa gần: cái mừng con gái sắp được thực thọ lên bà lớn đã chiếm lấy
cả tâm hồn bà, làm bà mê man, cuống quýt.
Song, không phải vì nóng được mừng con rể mà bà Ba vội vàng
đi Hà Nội. Vả bức điện tín của Phan cũng chỉ chứng thực cái tin đã hầu chính thức:
Anh người nhà trên Hà Nội, mà bà Ba cho chầu chực bên cạnh Phan trong những
ngày thi, đã về làng Giáp từ hôm trước để báo tin cho bà biết rằng Phan vào
xong các kỳ vấn đáp rồi và kỳ nào cũng rất khá.
Bà Ba vẫn đi lại hay cho người nhà lại hỏi thăm săn sóc đến
Phan một cách thân mật, cảm động như thế. Ngay từ hôm chạm mặt, bà đã coi Phan
là chàng rể của bà rồi, nay cho thức này, mai cho thức nọ. Sau lễ hỏi, Phan đã
được phép nói chuyện với Cúc ở trước mặt bà, làm thế để ra vẻ con nhà gia giáo
cũng có, nhưng nhất là để bà có thể nâng đỡ con trong câu chuyện thử thách hay
khoe khoang. Buổi đầu Phan còn cố ý làm ra ngượng ngập, bẽn lẽn.. Nhưng sau thấy
bà Ba luôn luôn xưng me với mình, chàng trở nên mạnh bạo, kêu bà là me và gọi
Cúc là em bằng một giọng rất tự nhiên, âu yếm nữa.
Vậy bà Ba hấp tấp đi Hà Nội, ngay sau khi nhận được bức điện
tín, thực không phải vì sự đắc thắng của Phan mà bà đã chắc từ trước. Chỉ vì bà
không muốn để Phan về làng Giáp. Trong những câu chuyện với con rể, bà thường
nói đến gia đình ông án, cố tỏ cái oai quyền của bà trong đám con chồng bang
cách xưng hô hách dịch, bằng cách khoe mẽ quá đáng. “Bẩm me con thế này, con thế
nọ”. Có khi bà lại đi quá xa trong sự hãnh diện đối với con rể “Thằng Khoa, nó
thế mà khá hơn thằng Trình. Tôi không đẻ ra nó, chỉ có công nuôi nấng nó thôi,
nhưng nó coi tôi chẳng khác gì mẹ nó”.
Vì có những lời khoác lác ấy, nên bà Ba rất sợ cuộc gặp mặt của
Phan với bọn con chồng. Còn đâu là thể diện của bà, nếu đứng trước mặt chàng rể,
Khoa thốt một câu vô lễ, hay Trình lộ vẻ mặt lạnh lùng. Nói gì đến Tính và
Chuyên nhất là Chuyên! Bọn ấy đương lập tâm hạ bà xuống, bêu xấu, bêu nhuốc bà,
thì nhân dịp chàng rể về làng, họ nể nang gì mà không giở hết cái tàn ác thô lỗ
của họ ra.
Những điều ấy bà Ba thường lo sợ nghĩ tới. Và việc thừa tự bà
nêu ra không hẳn không phải là một mưu kế khôn ngoan để dứ bọn kia mà bà ngờ rằng
có thể làm khó dễ cho nhân duyên của con gái bà.
“Quý hồ công việc xong xuôi đã! Sau này dù bọn chúng nó có định
tác ác, mình cũng chẳng cần. Mình sẽ bảo Phan rằng mình tuyệt tình với chúng
nó, ‘từ’ chúng nó vì một câu chuyện bất bình gì đó. Rồi cấm hẳn vợ chồng Phan
không cho lai vãng chơi bời với chúng nó. Thế là ổn thỏa... Nhưng bây giờ thì
thế nào cũng phải giữ kín... cũng phải khôn khéo lắm mới được...”
Cái tính giả dối, trí trá, cái lòng ác nghiệt lúc nào cũng định
phá hoại việc này, mưu xử việc khác đã làm cho bà Ba trở nên đa nghi, luôn luôn
tưởng tượng trông thấy những cạm bẫy người ta ngầm đặt chung quanh cuộc hôn thú
của Phan và Cúc.
- Cúc!
- Dạ.
Cúc vẫn không ngừng tay đánh phấn.
- Con cũng chẳng cần nói cho ai biết rằng Phan đã đỗ xong cử
nhân luật, nghe?
Cúc bẽn lẽn không đáp, tuy lòng bồng bột sung sướng.
- Nhất với các anh, các chị ấy con lại càng không nên nói.
Bà Ba sợ hãi, sợ hãi vô căn cứ. Nhưng bà cũng cố xoay thành một
bài luân lý, - cái tính giả dối của con người ta không mấy khi bỏ qua một dịp
nào có thể biểu lộ được mà lại không biểu lộ ra:
- Chả nên để ai ghen ghét mình, con ạ. Ở đời nhũn nhặn thì
thường tránh được lòng tức tối của quân tiểu nhân.
Cúc hơi có giọng gắt:
- Con nói làm gì!
- Thì me cũng dặn con thế.
- Với lại cần gì phải giấu diếm. Tức tối thì tức tối! Tức tối,
dễ các anh các chị ấy ăn thịt được con hay sao?
Bà Ba im lặng ngồi suy nghĩ. Bà ngờ vực tưởng đến những bức
thư nặc danh mà người ta có thể gửi cho Phan để nói xấu mình và con mình, để
hòng phá việc hôn nhân của Cúc.
Cúc bỗng cười sằng sặc:
- Me tính giấu nổi ai? Hôm nọ anh Lung ở Hà Nội về, anh ấy bảo
chắc Phan đỗ thủ khoa...
Cúc lại cười, trong lòng khoái trá. Tiếng máy ô-tô vào sân.
Bà Ba giục:
- Xong chưa, cô cử? Sắp sửa đi thôi chứ, đứng đấy mà cười mãi
à?
Thằng San và cái Tĩu, mỗi đứa đội một cái va-li đi xuống gác.
Bà Ba và Cúc theo liền xuống.
Một lát sau, cái xe hòm yên lặng ra khỏi làng Giáp. Những người
láng giềng nghe thấy tiếng còi điện, mới biết rằng bà Ba đi Hà Nội.
Ngồi trên xe, bà Ba vẫn còn áy náy, lơ đãng trông ra hai bên
đường, chẳng kịp nhớ như mọi lần thét mắng lũ trẻ chạy theo bám vào tai xe, hay
định nhảy lên cái hòm chứa ở phía sau.
Nhưng chỉ khoảnh khắc bà đã cười, nói một mình:
- Rõ mình cũng lẩn thẩn.
Cúc quay lại hỏi:
- Me bảo gì cơ ạ?
- Không, con ạ.
Bà Ba vừa chợt nghĩ đến cái tính nhu nhược bọn con chồng. Và
bà thấy bà quá sợ viển vông: “Cứ xếp ngay họ vào một xó là xong. Ngữ ấy thì còn
làm nổi trò trống gì?”
Một câu nói của Cúc kéo bà sang việc khác, việc thiết thực
hơn:
- Cái xe của me kêu dữ quá, mẹ ạ.
Bà Ba mỉm cười nhìn con gái yêu:
- Chà, đi được thì thôi! Dùng tám năm rồi còn gì.
- Hôm nọ anh cử anh ấy bảo tài xế bẩm me sắm cái xe khác.
Chính Phan đã xui Cúc xin bà Ba đổi xe mới. Nhưng nàng nói chệch
đi là Phan bảo tài xế. Bà Ba lặng thinh không đáp. Bà tưởng tới người con rể.
Câu bắn tin của Phan khiến bà nghĩ ngợi: “Chưa cưới mà cậu ta đã đòi ngầm thứ nọ
thứ kia rồi!” Nhưng bà tự trấn tĩnh ngay: “Chừng đó cũng là một câu nói cho vui
miệng!”
- Giá me đổi cho hiệu lấy cái xe mới...
Bà Ba trừng trừng nhìn Cúc:
- Đổi lấy xe mới?
- Vâng, chỉ các độ hơn một nghìn là cùng.
- Hơn một nghìn! Thì hãy hơn một nghìn. Làm gì ra hơn một
nghìn bây giờ?
Cúc phụng phịu nhìn qua bên cửa kính ra bên đường. Ba Ba cũng
nhìn theo, và giơ tay trỏ bảo con:
- Kia kìa mày trông, người ta đi chân còn được, nữa là.
Rồi bà trở nên nhân đức:
- Con phải biết mình có cái xe mà đi đã là sung sướng lắm rồi.
Ở đời có bao nhiêu người khó nhọc, khổ sở, sao con không nghĩ đến người ta, mà
chỉ nghĩ đến mình?
Cúc cười xòa, nũng nịu:
- Con vẫn nghĩ đến người ta, nhưng con nghĩ cả đến cái xe
ô-tô mới của me nữa.
Bà Ba nói dỗi:
- Thì nhà đấy, vườn ruộng đấy, cô bán đi lấy tiền mà mua
ô-tô. Chứ tiền sẵn thì tôi không có. Cô tưởng một nghìn bạc ít lắm hay sao! Cô
đã trông thấy đấy, bán thóc nài mỏi mồm mới được mỗi thùng thêm một trinh... Đấy
rồi cô ra giao thiệp với đời, cô mới biết rằng kiếm được đồng tiền là khó khăn.
Khôn khéo cũng có, nhẫn nại cũng có, nhiều khi phải thật thà mà nhiều khi cũng
phải lừa lọc.
Bà Ba nói đến mánh khóe làm ăn để lảng chuyện sắm ô-tô mới.
Ít lâu nay bà hơi nhu nhược đối với con gái, nhất từ khi con chính thức trở nên
vị hôn thê một sinh viên trường luật sắp sửa thi đậu cử nhân.
Mới tháng trước bà đã phải bỏ ra hơn hai trăm bạc mua cho Cúc
một cái nhẫn kim cương và một cái vòng ngọc thạch, vì Cúc nằng nặc đòi cho bằng
được.
Cúc ngồi chú ý lắng tai nghe những lời chí thú của bà Ba.
Nhưng lúc bà ngừng nói, nàng lại quay về việc ô-tô:
- Giá cứ ở lỳ xó làng Giáp thì cũng chả sao. Nhưng vác cậi
ô-tô tã này đi Hà Nội... con tính chả tiện tí nào... Con thấy người ta đứng lại
nhìn xe nhà chạy qua, mà con ngượng ngượng là.
- Cô ngượng thì cô đừng ngồi nữa... Chờ khi nào chồng cô đi
làm quan, có tiền bỏ ra mà mua xe đẹp... Chứ gái già này chỉ có thế.
- Với lại, cô phải biết, đó là cái kỷ niệm của thầy, nên tôi
muốn giữ nó hết đời tôi. Mỗi lần ngồi vào xe tôi lại nhớ đến thầy. Cô thì cô biết
gì. Cô chỉ nghĩ đến sang, đến ăn, đến chơi. Ngày giỗ thầy cô chả được lấy một
giọt nước mắt. Rồi nay mai về nhà chồng, cô quên nốt cả tôi đi... là xong.
Bà Ba cảm động, hai giòng lệ trào ra hai bên má.
Hơn ba giờ sau, xe tới Hà Nội. Bà Ba mặt hơi tái, run lập cập
bước xuống dìa hè, bảo Cúc:
- Mới sang tháng Mười mà đã rét thế.
- Chắc lại bão rớt đấy, me ạ. Tháng trước chẳng rét mấy hôm rồi
lại nóng ngay đấy thôi.
Cúc mỉm cười nói tiếp:
- Với lại cũng một phần vì cái xe hở lung tung gió mới lùa
vào. Ấy là không kể cái tội dầu khét, đóng kín cửa thì ngạt hơi không thở được,
mà mở cửa thì rét.
Bà Ba không thèm để ý đến những lời dai dẳng của Cúc nữa. Bà
hớn hở chào lại bà cả! Cấp vừa cùng hai đứa con nhỏ và bọn người nhà chạy ra cửa
đón bà.
- Dì cả đấy à?
Cúc chắp tay và hai nghiêng đầu:
- Lạy dì ạ.
Bà cả Cấp là em cùng mẹ khác cha với bà Ba. Chồng bà ta làm
thư ký ga Hà Nội, trước nhà ở gần nhà bà Ba. Nhưng từ khi góa mà lại thường phải
xa vắng Hà Nội, bà này đã bảo vợ chồng em đến ở hẳn nhà mình cho vui.
- Thế nào dì, hai bát họ dì vẫn đóng cho tôi đấy chứ?
- Vâng, em vẫn đóng.
- Món nợ đằng hàn Tư dì có thúc cho tôi không?
- Đã, bà ta hứa mai kia đem đến nộp chị.
Cúc vội hỏi:
- Món nợ bao nhiêu thế, dì?
- Cữ hai nghìn, cháu ạ. Bà hàn giựt tạm để mua tơ.
Cúc vỗ tay reo:
- A! Thế me mua ô-tô mới nhé!
Bà Ba quắc mắt lườm con:
- Mua vái bán gì! Tiền làm ăn của người ta đấy.
Rồi bà quay sang bảo bà Cả:
- Có phải không dì, nó muốn đi ô-tô sang thì rồi nó bảo chồng
nó mua cho nó. Chúng mình, già rồi, dùng ô-tồ móm mém cũng được.
Bà Cả chợt nhớ ra:
- A, thưa chị, cụ huyện vừa cho người lại hỏi đường đất đi
làng Giáp. Nghe đâu cụ định mai cùng đi với cậu cử về Giáp thăm chị.
- Thế à! Vậy dì cho người lại ngay nói với cụ huyện rằng tôi
đã lên Hà Nội, và mời cụ lại chơi nhé?
- Vâng. Em xin cho đi ngay... A, em nghe nói chị định nuôi vợ
chồng cậu Khoa làm... thừa, tự, phải không?
- Ai bảo dì thế?
- Việc ấy người ta đồn ầm cả lên. Hôm nọ bà Hai, bà mối ấy
mà, đến chơi, bà ấy hỏi em, em cũng bảo chị chưa định ra sao, mà cũng chưa bao
giờ ngỏ cho em biết, em nói thế có được không?
- Dì nói thế, phải đấy. Vậy dì cho nó đi báo tin cụ huyện biết
ngay rằng tôi đã lên Hà Nội nhé!
- Vâng.
Bà Ba theo bọn người nhà khuân vác hòm siềng và va-li lên
gác, vì mỗi lần đi Hà Nội hay về làng Giáp, bà thường đem theo đủ các thức cần
dùng xếp chật ních lên cái ô-tô cũ.
Phần thứ hai - V & VI
Một lái sau nghe tiếng léo xéo ở nhà dưới, bà Ba đã tưởng mẹ
con chàng rể đến. Nhưng đó chỉ là bà Hai.
Bà Hai, một người bé nhỏ, hầu loắt choắt trong cái áo mền the
lót nhiễu kỳ cầu may chẽn. Nét mặt đều đặn, chân tay xinh xắn, bà trẻ hơn tuổi
nhiều. Bà cũng biết thế và vẫn lấy làm tự hào. Trong những bàn tổ tôm không mấy
khi bà quên thuật một câu chuyện về tuổi bà, mà mỗi lần bà thay đổi đi đôi chút
cho được tự nhiên. Chẳng hạn bà thượng nọ, bà án kia hỏi năm nay bà đã đến năm
mươi chưa. Hay con mẹ phủ B. tưởng bà mới bốn nhăm là cùng. Rồi bà cười the thé
tiếp liền:
- Thế mà năm tư rồi đấy, các cụ ạ. Già lắm rồi còn gì!
Sự thực, bà Hai chưa già, và cũng chưa muốn già. Lượt phấn dầy
bà dùng để che lấp những nét dăn trên má đủ chứng tỏ điều ấy. Nhưng cũng không
phải bà trang điểm để được người ta ngắm nghía. Không, đó chỉ là một thói quen
của những bà đồng. Vì bà Hai là một đệ tử rất trung thành của các cửa đền, cửa
phủ: Mỗi khi hầu bóng, trong khuôn chữ nhật chiếc gương dá cái mặt trắng bợt dưới
những nếp khăn xanh khăn đỏ hiện ra dịu dàng, thân mật, khiến những lúc thường,
bà Hai vẫn say đắm nhớ tưởng cái hào nháng trẻ trung tươi tắn ấy như người ta
nhớ tưởng mặt tình nhân vậy: Đó là cái cớ xui giục bà chăm chú vào việc phấn
sáp điểm tô.
Sau cái thú ngồi đồng, phải kể cái thú tổ tôm của bà Hai, tổ
tôm góp từ một cho đến năm đồng. Chỉ nhìn bà căng thẳng cặp môi mỏng ra để đọc
câu “máu mê cây bài lá bạc” hay ngắm đôi mắt một mí của bà cười nheo ra hai bên
thái dương khi bà trông thấy “chân thứ năm” tới họp, người ta đủ rõ bà thích tổ
tôm đến bực nào.
Cây bài không hẳn đã giới thiệu bà với số đông các bà quý
phái và trưởng giả. Vả chính bà cũng sinh trưởng ở trong đám ấy. Bà là con một
ông huyện, là vợ lẽ một ông phủ đã quá cố và là mẹ vợ một ông phán tòa sứ - bà
chỉ có một con gái. Nhưng dẫu thế mặc lòng, tổ tôm vẫn giúp cho sự giao du của
bà một ngày một thêm rộng. Và nhờ đó bà đã nghiễm nhiên trở nên một bà mối.
Làm cái việc “thay ông Tơ bà Nguyệt” ấy, bà thường nói, bà chỉ
cốt giúp bà con, chứ chằng hòng kiếm chác, tuy bà cũng không từ chối những số
tiền lớn mà người ta cho bà dựt tạm để bà không hoàn lại. Những món nợ ấy cả
hai bên - người vay và người cho vay - đều ngầm hiểu rằng không bao giờ nên nhắc
đến nữa.
Hôm nay nhân bà huyện nhờ bà đến bà Ba để nói nhiều câu chuyện
có liên can tới việc cưới xin, bà không quên, lúc ra đi, những việc riêng của
bà. Bà biết rằng bà Ba ưng Phan lắm, nhất từ hôm anh chàng ấy đậu xong cái bằng
cử nhân luật. Vậy thì lúc này chính là lúc bà phải cần đến một món tiền để trả
nợ ai đó, hay để lấy cái nhà nào đấy bằng một giá hời. Lúc này hay không lúc
nào hết. Bà Ba giàu lắm, không ai còn lạ điều ấy. Nhưng cũng không ai lạ rằng
bà ta chặt chẽ, keo bủn nữa. Cưới xong con bà ta rồi, bà ta sẽ không còn thấy
chút liên lạc gì giữa bà ta với bà mối.
“Bấy giờ thì còn hòng gì?”
Bà Hai vừa đi vừa nghĩ thầm. Và, khi tới cổng nhà bà Ba, bà
đã vội xếp đặt sẵn những mưu mà bà sẽ đem ra thi thố. Bà thành thực cho rằng
“chú rể” nay đã lên giá, và nếu bà không làm cao thì bà thực ngốc, thực vô lý.
Vì thế bà vào ngay chuyện bằng một câu khoác lác:
- Thưa cụ, - đối với những chỗ thân, bà Hai thường không dùng
tiếng cụ lớn - cậu cử cậu ấy thi như đùa mà cũng đỗ.
Bà Ba cười sung sướng, vẻ mặt hớn hở:
- Thưa cụ, cụ biết đâu rằng cậu ấy thi đùa?
- Thưa cụ, vì hôm nọ tôi đến chơi đằng nhà gặp cậu ấy ra đi,
tôi hỏi: “Sắp thi rồi, cậu cử không ở nhà học, lại đi chơi à?” Cậu ấy bảo: “Cụ
tính thi cử nhân thì hỉ mũi một cái cũng xong, cần gì phải học!”. Ấy thế mà thực
học chơi học bời cũng đỗ được mà lại đỗ đầu nữa cơ chứ! Gớm thật! Chịu cậu ấy
thông minh. Sức ấy rồi có thể đỗ tiến sĩ, thạc sĩ, trạng nguyên đấy, nếu sang
Pháp mà học thêm được... Mới một tí tuổi đầu!
- Chỉ sợ cậu ấy không thích sang Pháp thôi.
Bà Ba khoe giàu một cách kín đáo, nhưng bà Hai cũng hiểu
ngay.
- Nghe nói cưới xong, cụ cho cậu mợ sang Pháp, phải không ạ?
Bà Ba cười he hé:
- Tôi vẫn nghĩ thế. Nếu cậu cử muốn học nữa thì tôi cũng phải
lo đủ tiền cho cậu ấy học chứ.
Bà Hai cười theo, giọng cười ầm ỹ để che sự nhạt nhẽo và giả
dối.
- Cụ thì việc gì phải cố mới cho được cậu cử sang Pháp!
Rồi không một ý tưởng liên lạc, bà nhảy ngay sang câu chuyện
hỏi vợ cho Phan - Cái lối nói chuyện đầu Ngô mình Sở ấy, bạn bè của bà thường
cho là có tính cách đồng bóng, nhưng kỳ thực đó chỉ là một lối xã giao khôn
khéo.
Bà kể câu chuyện ấy với bà Ba đã nhiều lần, thế mà nay bà vẫn
thuật lại dài giòng với một giọng rất tự nhiên, coi như bà Ba chưa từng nghe
bao giờ.
Đó là một thói quen của nghề nghiệp. Mỗi một đám bà làm mối,
bà lại thêu dệt nên một câu chuyện văn hoa. Câu chuyện về Phan thì như thế này:
Cậu cử Phan khó tính lắm. Cậu thường ngỏ với cụ huyện rằng một
là lấy được người vợ thực vừa ý, hai là suốt đời ở vậy. Còn cách kén chọn của cậu
cử thì lạ lùng quá. Năm kia cụ thượng Bùi bắn tin muốn gả một cô con gái cho cậu.
Cụ có hai cô, cô Ngọc mười chín, và cô Kim mười tám. Bà Hai đưa ảnh hai cô cho
cậu Phan xem, nhưng cậu mỉm cười chê: “Các cô ấy mới quá, tân thời quá. Mà nghe
đâu lại sính nhảy đầm lắm”. Thế là hỏng một đám.
Mấy tháng sau lại một đám khác, con gái một ông Hàn cự phú xứ
quê. Cậu Phan xem ảnh chê đần. Bà huyện nói đùa: “Người ta đần nhưng người ta
có mấy vạn hồi môn”. Mà sự thực, lời bà Hai, ông Hàn hứa cho con rể hai cái nhà
ở Hà Nội và một trăm mẫu ruộng...
- Người ta giàu thực! Cho những hai cái nhà với một trăm mẫu
ruộng! Những hạng cóc vàng xứ quê, chị em mình ở thành phố bì sao được, phải
không bà nhỉ?
Bà Hai mắt liếc, miệng chúm chím, cái điệu bộ của một bà đồng
trong khi hầu giá, đương khoái trí vì một câu nịnh của bọn tín nữ:
- Rõ khéo, việc gì phải lôi người ta vào! Chúng mình thế quái
nào được, cả cơ nghiệp nhà tôi không bằng cái... chuồng chim nhà bà nói chúng
mình làm tôi thêm thẹn.
Rồi bà kể tiếp, câu chuyện bỏ dở:
- Lấy nhau thực tại duyên số cả, cụ ạ. Hôm tôi đưa cho cậu
Phan xem ảnh của cô Cúc...
Bà Hai nhìn Cúc, mỉm cười gật luôn mấy cái se sẽ, và nói lẩm
bẩm:
- Tốt đôi thực!
Câu khen ngợi làm bà Ba cảm động ngồi lặng ngắm con. Cúc bẽn
lẽn cúi đầu rồi chạy vào gác trong. Bà Ba vội gọi:
- Cúc!
Cúc đứng lại, quái cổ hỏi, giọng hơi gắt:
- Me bảo gì ạ?
Bà Ba ngượng với khách vì cái cử chỉ vô lễ của con mình, nên
nói tuế tóa:
- Thôi, mời cô cứ vào trong ấy, tôi không cần nhờ cô việc gì ở
ngoài này hết.
Cúc là con nuông của bà. Ngay từ thủa nhỏ được thả lỏng,
không bị bắt ne bắt nét dạy vào khuôn vào dịp, thành thử nàng không có cái
thông minh lanh lẹn, hóm hỉnh, hay nghịch ngợm của bọn cắp sách đi nhà trường,
mà cũng không có cả cái ngoan ngoãn nết na tuy đần độn của phần đông các thiếu
nữ vô học.
Bà Hai thừa biết chỗ nhược điểm ấy của cô con gái mà hiện giờ
bà cần phải trông thấy hoàn toàn. Bà nhìn theo nàng và như nói một mình:
- Thực là tốt đôi!
Rồi bà lại kể tiếp câu chuyện bịa đặt, thêu dệt bằng những lời
văn hoa lòe loẹt. Không thấy bà Hai nhắc tới một câu mà nhiều lần trước bà ta
đã thuật rất rành mạch và lần này có lẽ bà ta nhãng quên đi, bà Ba liền hỏi:
- Sao cụ bảo cậu Phan nói nếu không lấy được Cúc thì thề
không lấy ai?
- Vâng, chính thế. Cậu ấy khen nhà cụ là một nhà đại gia. Cậu
ấy đáo để lắm cơ đấy, cụ ạ. Kén vợ đã đành, nhưng còn kén cả nơi môn đăng hộ đối...
Bà Hai ngừng lại, suy nghĩ, rồi thốt nhiên hỏi:
- Thưa cụ, dễ cụ có đến mười cái nhà ở Hà Nội đấy nhỉ?
Bà Ba giọng nói nhún:
- Có đâu!... Sáu cái thôi... Mà chỉ có hai cái là mỗi tháng
cho thuê được hơn trăm bạc một cái. Còn bốn cái kia tiền thuê có ra gì đâu, chỉ
từ bốn đến sáu chục...
Bà Hai cười, ngắt lời:
- Thì hãy thế! Dễ chỉ những tiền thuê nhà ở Hà Nội, mỗi tháng
cụ cũng đã thu tới năm trăm rồi. Gấp rưỡi lương quan Tổng đốc còn gì!... A, cụ
huyện định sang Giêng xin đón mợ cử đấy, xin thưa để cụ rõ, và xin cụ cho biết
cụ cho dẫn những gì?
- Thôi bây giờ văn minh, thế nào xong thôi, cụ ạ, giản dị là
hơn hết, chứ kể ra thì nhà tôi quen khắp các quan ở Bắc kỳ, biết dẫn bao nhiêu
cho đủ được.
Bà Hai lại cười he hé như lúc bóng cậu thích trí sắp ban thưởng
cho bọn chân nhang, và giọng bà nửa đùa bỡn nửa trang nghiêm:
- Thế nào! Hôm cưới cụ định cho cậu cử mợ cử những gì?... Một
cái ô-tô kính nhé? Hai cái nhà nhé?
Bà Ba mắt mở to đăm đăm nhìn bà Hai:
- Còn phải cho chác gì nữa! Thì của tôi là của cậu mợ ấy cả,
chứ còn là của ai vào đấy mà phải bày vẽ...
Nhìn vẻ mặt tưng hửng của bà mối và hiểu rằng mình nói hớ, bà
Ba liền chữa:
- Vâng, nếu cậu cử muốn tôi mừng thì rồi tôi mừng, mừng gì
cũng được. Miễn là cậu cử ra làm quan thì mừng gì thì mừng... Cả cơ nghiệp đấy.
Bà Hai trầm ngâm hỏi:
- Thế sáu cái nhà ở Hà Nội, cu định cho cậu cử mợ cử những
cái nào còn những cái nào cụ cho cậu Khoa?
Bà Ba ngơ ngác hỏi lại:
- Cho cậu Khoa? Sao lại cho cậu Khoa?
Bà Hai thản nhiên:
- Sao tôi nghe nói cụ cho cậu Khoa ăn thừa tự... cụ định gây
dựng cho cậu Khoa?
Bà Ba cười:
- Nào đã có gì đâu!... Người ta cứ đồn ầm lên thế đấy thôi, cụ
ạ... Chứ tôi nhờ giời cũng được một mụn con. Thời buổi này con gái cũng như con
giai, với lại theo luật mới thì con gái cũng được giữ việc hương hỏa như con
giai...
Bà Hai vui mừng:
- Vâng, cụ nghĩ thế rất phải.
Và bà cho rằng công việc bà mối đến đấy đã ổn lắm rồi, bây giờ
bà nên kíp nghĩ đến quyền lợi của bà. Bà đứng dậy cáo ra về. Để được tự nhiên,
bà định bụng tới phút cuối cùng mới nói câu chuyện riêng. Quả thực tới cổng, bà
như chợt nhớ ra, bảo bà Ba:
- Cụ ạ, có món tơ của một chỗ quen thuộc họ đem cầm nhưng họ
giấu tiếng... Tơ tốt, giá cầm lại hời, lãi phân rưỡi mà họ chỉ cầm lửa, độ một
tháng trở lại. Tôi thu xếp nhặt nhạnh chỉ được hai nghìn, thiếu mất có năm
trăm, giá cụ có cho giựt tạm thì hay quá.
Bà Ba giọng xuýt xoa:
- Thưa cụ, thế thì hời thật đấy. Rõ tiếc quá. Giá cụ hỏi hôm
qua thì tôi sẵn. Năm trăm chứ một nghìn cũng đủ... vì món tiền bán thóc mới
sáng nay tôi cho một cho quen thuộc vay mất rồi.
Bà Hai tươi cười đáp lại:
- Vâng, tôi cũng biết các cụ thì tiền nong xuất nhập luôn
luôn mấy khi để nằm không. Thôi, tôi lên hỏi cụ bố hàng Đào vậy... À, cụ có biết
cụ bố hàng Đào không nhỉ?
- Thưa cụ, cụ bố hàng Đào thì ai không biết?
Bà Hai mỉm cười nháy mắt, hạ giọng, bảo bà Ba:
- Ấy, cô Huyền con gái cụ bố cũng đã ngấp nghé cậu cử mãi đấy.
Cô ả thì được cả nhan sắc lẫn học vấn, nhưng phải cái...
- Phải cái sao, thưa cụ?
Bà Ba vội hỏi. Bà Hai chậm rãi đáp:
- Phải cái hơi tự phụ... Mà bà mẹ thì chắt bóp quá.
Bà chép miệng nói tiếp:
- Nhưng thử cứ hỏi xem. Thôi, lạy cụ.
- Không dám, lạy cụ.
Bâ tưởng bà Hai đi hẳn, nhưng không, bà còn quay lại hỏi nữa:
- À, thưa cụ, về câu chuyện “thừa tự” tôi cứ nói với cụ huyện
rằng cụ cũng chưa nhất định ra sao.
- Vâng... A, cụ nói... không có gì cả... Với lại... hay là cụ
hãy ngồi chơi, tôi hỏi dì phán chán xem.
- Hỏi điều gì ạ?
- Hỏi xem có sẵn tiền, tôi giựt tạm giùm cụ.
Cố nhiên bà Ba giựt tạm được, vì món tiền giựt tạm ấy chỉ là
tiền của bà. Nhưng từ năm trăm, nó đã rút xuống hai trăm. Hơn một điều là bà ngỏ
ý cho bà Hai hiểu rằng hai trăm bạc ấy bà biếu hẳn. Bà nói:
- Cụ hay cầm tạm, khi nào sẵn tôi sẽ xin đưa nốt. Hai trăm bạc
này cụ cứ giữ hộ, rồi bao giờ tiện vào Thanh có việc gì, cụ mua giúp cho ít quế
tốt. Nghe nói cụ sành quế lắm.
Bà Hai cười, sung sướng:
- Vâng, thưa cụ, tôi mua quế thì khó lòng mà nhầm được.
- Thế thì cụ để tâm giúp cho nhưng xin cũng đừng vội.
Trước khi từ biệt, hai người còn vái chào nhau hai, ba lần nữa.
Bà Ba tiếc của, buồn rầu bước lên gác, miệng lẩm bẩm nguyền rủa bà Hai.
VI
Từ buổi hội kiến ở nhà bà Ba, Tính và Chuyên, hai chị em dâu
lại áy náy, khó chịu. Không hẳn là ngờ vực, ghen ghét như xưa, nhưng là một
tính tình làm cho người ta tức tối, uất ức không duyên cớ. Hình như có cái gì
đè nặng trĩu bên lòng, mà hai người cùng không bao giờ dám hé môi thổ lộ với
ai, vì thế sự bực bội thầm kín càng tăng lên mãi.
Đã nhiều lần, Chuyên bỏ cơm vào buồng nằm. Đầu nàng nóng ran,
tim nàng đập mạnh, khiến Khoa tưởng nàng ốm. Nhưng đó chỉ là biểu hiệu của sự
căm giận cực điểm. Nàng giận ai? Nàng tự hỏi, và tìm mãi xem đáng giận người
nào nhất, và vì sao mình lại giận. Nhưng nàng chỉ thấy những ý nghĩ, những cảm
giác, những cảm tưởng của nàng lờ mờ chung quanh mấy nhân vật: bà Ba, sư Giáp,
và Tính.
Đối với Tính, tuy ngoài mặt Chuyên tỏ tình niềm nở, thân mật
nữa, nhưng trong thâm tâm, nàng vẫn đinh ninh rằng hai người khó lòng còn có thể
trở lại hòa thuận như trước. Đôi bên đã nói nhau những câu thô lỗ, đã xử với
nhau một cách tàn tệ, thì những ngôn ngữ, cử chỉ ấy đến ngày chết cũng không
quên nhãng được.
Chuyên cho là thế, yên trí là thế. Tính cũng cho là thế và
cũng yên trí là thế. Mà khi đàn bà họ đã yên trí một điều gì thì không ai còn
có tài khiến được họ nghĩ khác. Khoa và Trình đều ngầm hiểu rằng tình thế vẫn
khó khăn, vẫn gay go, ngay từ hôm sự hòa thận trở lại trong hai gia đình, sự
hòa thuận mà hai người cùng mong lâu bền, nhưng cùng cảm thấy bấp bênh, mỏng mảnh.
Họ cười bảo nhau: “Hai ngọn hỏa diệm sơn tạm im không phun lửa. Ta đừng vội mừng”.
Nhưng họ không thất vọng, cùng nhau quả quyết và khôn khéo cố
gây lại cảnh bình tĩnh, êm ấm đã mất vì “bọn đàn bà”. Trong câu chuyện riêng họ
thường dùng ba tiếng “bọn đàn bà” để tỏ hết lòng tức giận và khinh ghét của họ.
Và có lần giữa một bàn tổ tôm, Khoa nửa đùa nửa thực đã ném ba tiếng ấy vào mặt
Tính và Chuyên:
Tức thì hai chị em dâu nhao nhao lên phản đối:
- Bọn đàn bà làm sao?
Trình phải vui cười giảng giải, câu chuyện mới không thành ra
to. Sự thực, Tính và Chuyên có lúc cũng nhận thấy những cái nhỏ nhen của mình
và của tất cả “bọn đàn bà”. Nhưng họ không ưng để người khác, để một người đàn
ông dù là chồng họ, chỉ trích, chế riễu. Lúc bấy giờ thì hai người đàn bà ghét
nhau đến đâu cũng hợp sức lại để tự bênh vực lấy danh dự chung.
Thấy vợ và chị dâu thường lồng lộn lên vì câu trêu tức của
mình, Khoa mỉm cười nghĩ thầm: “Nếu lúc nào họ cũng thực bụng vào cánh với nhau
như lúc nào thì hai gia đình sẽ yên ổn biết bao!” Và chàng lập tâm giả tảng về
hùa với Trình để cùng công kích hai người đàn bà: “Làm thế để họ thân nhau”.
Nhưng lần nào cũng vậy, sau sự sốt sắng bồng bột chốc lát, sự
lạnh lùng cố hữu lại trở vào hai tâm hồn cứng cỏi kia ngay.
Một hôm Chuyên đỏ bừng mặt trả lời lại chồng:
- Đàn bà cũng năm bảy hạng, tôi không như ai đâu, cậu đừng vơ
đũa cả nắm.
Khoa cho là một câu hồn nhiên, không ám chỉ ai. Nhưng Tính lại
không cho là thế. Nàng nguýt dài quay đi, khiến Trình trông thấy, và sợ vợ cáu
kỉnh đối đáp lại em dâu, chàng vội vui vẻ nói chữa:
- Vâng, chúng tôi nói là nói chung một số đông đàn bà, chứ
hai bà thì cố nhiên không như bọn họ.
Rồi lảng sang chuyện khác ngay.
Từ hôm ấy, trong những bàn tổ tôm hay bàn chắn mà Trình và
Khoa lập nên để gây tình hòa hợp, hai người đàn ông càng giữ gìn lời nói, nhất
thiết không đá động tới bà Ba với việc “thừa tự” của bà ta. Hễ thấy Tính hoặc
Chuyên nhắc đến tiếng “troisième” thì Trình hay Khoa đã gạt phắt:
- Thôi, tôi xin các bà, còn nói đến cô ta làm gì nữa!
Tức khắc hai người đàn bà im ngay.
Nhưng nếu có mặt bà lý Thuận hay anh cả Thiện thì không còn
ai có thể giữ nổi Tính và Chuyên: Họ tranh nhau gợi chuyện và thuật những điều
không hay về bà Ba. Vì họ cho rằng hai người kia đến chơi chỉ có một mục đích
do thám, nên họ nói bắn tin cho về mà “tâu nịnh với bà khọm”.
Cả Thiện là một người trong họ ông án, được bà Ba giao cho
trông nom những ruộng vườn ở làng Giáp. Chàng ta đã nổi tiếng khéo nói, và
Chuyên cho rằng chỉ nhờ sự xu mị mà chàng ta được lĩnh chân quản lý của bà Ba.
Một hôm, nhác thấy Thiện đến cổng, Chuyên vội gọi người nhà
đun nước rồi rất niềm nở mời chào:
- Bác lên gác chơi với nhà tôi.
Thế rồi dăm phút sau, Tính và nàng vờ thẳng thắn, vô tâm hỏi
Thiện những câu rất hóm hỉnh.
- Bà Ba sắp cho cưới cô Cúc, phải không? Bà Ba đi đâu cũng
khoe khoang chàng rể, phải không?
Thiện đáp qua quít cho xong và cố nói lảng sang chuyện khác.
Nhưng khi nào hai người đàn bà kia chịu để cho chàng lẩn
thoát; họ kéo chàng cho bằng được vào trong câu chuyện bà Ba. Và nếu chàng
không trả lời thì Chuyên sẽ kể một câu chuyện cho mà nghe, một câu chuyện về
chú rể chẳng hạn.
Cứ theo chỗ biết của Chuyên thì chú rể không những là một anh
đào mỏ, mà còn ở trong một gia đình chuyên môn đi đào mỏ nữa, vì hai người anh
Phan đều sống về gia tài của vợ và của gái.
Khoa cau có cự vợ:
- Mợ lôi thôi lắm, đèn nhà ai nhà ấy rạng, có được không. Can
chi lại cứ đi kháo chuyện nhà người ta!
Chuyên gắt lại:
- Thì việc gì đến cậu!
Rồi quay sang bảo Thiện:
- Tôi nói bác biết vậy thôi nhá. Đừng kể đi kể lại với bà Ba
làm gì.
Câu chuyện lại nối. Chuyên thành thạo tả rõ từng người trong
cái gia đình bà huyện. Bà này đáo để lắm, dạy khôn dạy khéo cho con biết đường
mà đào mỏ, mà khảo của vợ. Cái mặt bà ta phèn phẹt, cặp môi bà ta mỏng dính,
hai hàm răng khít lại nhau khi bà ta cười cũng như khi bà ta nói. Chuyên vẽ bà
huyện như theo kiểu mẫu mà nàng đã ngắm nghía nhiều lần. Kỳ thực nàng chưa hề gặp
mặt bà ta, chỉ tả theo những lời đã được nghe, và thêm thắt vào cho bức tranh của
mình có vẻ hoạt động.
Kể đến người con trai cả, Chuyên chỉ nói qua là một anh chàng
đào mỏ, vì về người này, nàng không biết chuyện mà cũng chẳng rõ đời sống ra
sao. Nhưng đến người anh Hai của Phan thì Chuyên tả bằng những lời rành mạch, tỉ
mỉ và cố nhiên chua chát. Đó là một anh đào mỏ “có bằng cấp” hẳn hòi, vì chàng
đỗ kỹ sư. Và Chuyên thêm luôn “kỹ sư mỏ” tuy người kia chỉ có cái bằng kỹ sư
hóa học tại một trường tư ở bên Pháp. Đem mảnh bằng cao cấp ấy về nước, chàng
ta đi hỏi vợ đâu mà không đắt, vì thế năm nay mới ngoài ba mươi tuổi, chàng ta
đã hai lần bỏ vợ, toàn con nhà giàu và sang nữa. Hiện nay chàng đương ở với một
cô tình nhân cũng giàu lắm, vợ một người bạn của chàng.
Không bao giờ Chuyên vui vẻ bằng những lúc nàng thuật lại
chuyện xấu của người khác, nhất của người mà nàng ghét sẵn. Má nàng hồng hào, mắt
nàng long lanh và đưa đi đưa lại rất mau. Tính cũng vui sướng như em dâu, và
tin rằng những lời vừa được nghe toàn là sự thực cả. Nàng không kịp để ý đến những
chi tiết mà mỗi lần thuật lại, Chuyên đều thay đổi, thêm bớt chút đỉnh - câu
chuyện nàng kể có tới hằng chục lần rồi. Nhưng Trình nhận thấy những chỗ mới bịa
đặt. Và chàng mỉm cười nghĩ thầm: “Lâu dần có ngày thím ấy sẽ kể thành một câu
chuyện khác hẳn”.
Cách đó nửa tháng, bà Ba bỗng đến chơi. Có lẽ Thiện đã mách
bà những điều nói xấu của bọn Trình nên bà cần cải chính. Bà đã cho Tỉu báo trước
rằng bà sắp sang chơi nên hai anh em sửa soạn tiếp bà ở phòng khách nhà Trình.
Tính và Chuyên băn khoăn hỏi nhau:
- Không biết cô ta sang làm gì thế?
Thấy hai người đàn bà nhắc đi nhắc lại mãi câu ấy, Trình phát
gắt:
- Thì sang làm gì rồi sẽ rõ, can chi phải lo sợ...
Chuyên quắt mắt cự lại:
- Ô hay! Anh ăn nói hay nhỉ. Việc gì tôi phải sợ ai?
Ngay lúc ấy có tiếng bà Ba và Cúc ở cổng. Chuyên bảo Tính cứ
ngồi yên, không cần phải ra đón! Nàng tiếp:
- Làm bộ, lần nào cũng hắng dặng.
Tính nói trống không:
- Mà đi đâu cũng lôi con gái đi theo. Chưa thấy lần nào cô ta
đi một mình.
Khoa vẫn nhanh nhảu và có tính hay nể, nhất đối với đàn bà,
dù người già hay người trẻ - cái tính ấy đã làm cho chàng nhiều lần cãi nhau với
vợ. Thấy bà Ba đi vào sân, chàng bước xuống thềm chào lí nhí:
- Cô.
Liếc qua mành mành vào trong nhà biết Tính và Chuyên có ngồi ở
đấy, bà Ba liền đứng lại:
- Không dám, anh.
Cúc chắp tay vào ngực nghiêng đầu, cái lối chào mà nàng cho
là rất Hà Nội:
- Lạy anh ạ.
- Không dám, cô.
Bà Ba đậm đà hỏi để bọn Tính sửa soạn ra chào:
- Lâu nay anh có được mạnh không?
- Cảm ơn cô.
- Anh Trình có nhà không anh?
- Có đấy... ạ.
Tiếng ạ, Khoa như ngần ngại, miễn cưỡng thêm vào, cho lời nói
của mình đỡ cứng cỏi, đỡ cộc cằn hỗn xược.
- Còn hai chị đâu? Các bà ấy lại tổ tôm chứ gì! Lâu lắm không
được đánh tổ tôm với hai chị, nhớ quá.
Đến đây, hai người đàn bà không thể gan hơn được nữa. Tính
nhìn Chuyên. Chuyên quả quyết đứng dậy ra hiên. Tính cũng theo ra. Không để
Chuyên nói trước mình, Tính vội vàng:
- Cô sang chơi!
Cho cách chào của Tính là vô lễ, Tính mà xưa kia, còn sinh thời
ông án, bà vẫn coi thường và khinh bỉ nữa, bà Ba hất cằm hỏi Chuyên:
- Kìa chị Ba, sao bảo chị khó ở?
- Tôi cảm mất mấy hôm, nhưng đã khỏi.
Sự thực, Chuyên không ốm bao giờ. Chẳng qua bà Ba hỏi cho cô
chuyện, và Chuyên đáp liều cho xong chuyện.
Mọi người vào phòng khách. Trình ở trên nhà thờ cũng vừa xuống.
Bà Ba vào ngay chuyện:
- Tôi đến để nói cho các anh các chị biết rằng tôi định gả em
Cúc cho cậu cử Phan, con cụ huyện.... hàng Bông. Người ta cũng là con nhà “trâm
oanh”... Vậy trước khi nhận lời người ta, tôi đến hỏi ý kiến các anh, các chị.
Khoa mỉm cười nghĩ thầm: “Trâm oanh là cái quỷ gì/ Mà ngày
nay làm quái gì còn có trâm với anh?”
Chuyên quay nhìn Tính, như để phân trần: “Ăn hỏi rồi, mới hỏi
ý kiến, vô lý quá!” Và nàng thốt ra lời mai mỉa:
- Thường đã ăn hỏi rồi!
- Đành thế, vì tôi chắc tôi đã ưng thì các anh, các chị cũng
ưng. Vả lại, nếu bây giờ các anh các chị không bằng lòng, cũng chưa muộn quá
kia mà.
Câu nói đãi bôi của bà Ba làm cho mọi người cùng bất giác mỉm
cười.
- Đấy, em các anh, các chị đấy. Quyền các anh, các chị...
Rồi cho bọn kia biết rằng bà không làm việc gì ngang trái, bà
Ba thêm luôn:
- Anh huyện, chị huyện thì tôi đã hỏi ý kiến rồi. Anh huyện,
chị huyện bằng lòng lắm, yêu em Phan lắm. Hôm đến chào anh huyện, anh ép em uống
rượu say mềm cả người.
Vừa nói bà vừa liếc quanh một vòng để ngầm bảo:
“Tao chỉ cần anh huyện bằng lòng là được rồi. Còn chúng mày,
tử tế thì tao bảo qua cho mà biết. Hạch sách gì?”
Một làn không khí lạnh lẽo như bao bọc lấy bốn người. Bà Ba lại
thớ lợ liền:
- Các cháu đâu cả? Đi vắng lâu, nhớ các cháu quá. Già trẻ bao
giờ cũng tương đắc.
Tính đáp nhạt nhẽo:
- Chúng nó đi học cả.
- Vậy em Cúc để hộp bánh lại cho các cháu nhé?
- Vâng.
Bà Ba đứng dậy:
- Thôi các anh các chị ở lại.
Trình tưởng nên mời một câu:
- Cô xơi nước đã.
- Cám ơn anh, tôi không khát.
Nhưng bà Ba cũng ngồi xuống nói, làm như đó là một câu chuyện
mua vui:
- Buồn cười quá, các anh, các chị ạ. Có người mách với tôi rằng
cậu kỹ sư, anh cậu cử, là người thế nọ thế kia. Tôi còn lạ gì cậu ta nữa... Hiền
như bụt. Cậu ta đã hai đời vợ là vì lấy phải vợ không ra gì đấy thôi... Với lại,
anh khác, em khác chứ, phải không hai chị?
Tính đưa mắt nhìn Chuyên. Chuyên bĩu môi quay đi: nàng biết rằng
bà Ba ám chỉ mình.
Rồi bà ta đứng dậy, lần này dễ đi hẳn chứ không trùng trình nữa.
Ra đến cổng, bà như chợt nhớ ra, nói to bảo Khoa:
- A, anh Ba, anh có bức thơ người ta đưa nhầm đến đằng tôi.
Cúc tiếp luôn:
- Vì phong bì người ta đề: chez Madame veuve án sát...
- Vậy chốc anh sang, tôi đưa cho. Với lại, tôi còn nhờ anh
xem hộ cái giấy giao kèo cho thuê nhà viết bằng chữ tây kia.
Dứt lời, bà dắt tay Cúc đi thẳng.
Tính khó chịu nhìn Khoa. Và cái câu mà nàng đã nhiều lần muốn
nói nhưng vẫn chưa nỡ, lần này nàng quả quyết ném ra, sau mấy tiếng cười khô
khan mà nàng cố làm ra tự nhiên:
- Nghe đâu sư Giáp vẫn khuyên cô ta nên để chú ăn thừa tự đấy
mà. Ngay hôm nọ, chú thím hẳn còn nhớ...
Câu nói vừa buột miệng, Tính hối hận ngay, và chữa:
- Vô lý quá!... Khi nào chúng mình lại chịu thế kia chứ.
Giữa lúc ấy bà Ba trở lại, trở lại một mình, lững thững đi
vào trong sân. Gặp Trình, bà cười nói:
- Phải đấy, anh chị cho tôi uống nước đã. Có câu chuyện mà
suýt nữa tôi quên.
Mọi người lại cùng vào ngồi ghế trường kỷ, trong phòng khách.
Bà Ba bắt đầu:
- Xin nói để các anh, các chị biết: năm nay tôi không về nhà
ăn tết được.
Kể thì thỉnh thoảng mới có năm bà Ba ở làng vào dịp tết.
- Vậy năm nay nhờ các anh, các chị cúng thầy cho.
Giọng bà ta trở nên thân mật, cảm động.
- Vì bên nhà giai họ nhất định xin cưới vào mồng tám tháng
Giêng, người ta đã chọn được ngày lành tháng tốt, nên tôi cũng phải bằng lòng,
chứ biết sao.
Ai nấy yên lặng ngồi nghe, vẻ mặt không biến đổi.
- Hôm ấy thế nào các anh các chị cũng lên Hà Nội mừng cho em
nhé...
Đến đó nước mắt dễ dàng chảy ra. Và bà Ba sụt sùi nói tiếp:
- Nó đi lấy chồng rồi thì tôi trơ trọi một mình, các anh, các
chị ạ. Tôi còn ở Hà Nội làm gì nữa... Thế nào tôi cũng về ở nhà... với các anh
các chị, với các cháu tôi.
Nhận thấy vẻ lãnh đạm trên mặt Tính và Chuyên, bà Ba cười, đổi
giọng ngay:
- À, mà các cháu đâu nhỉ?
Khoa đáp:
- Các cháu đùa nghịch cả ở bên chùa.
Bà Ba ngồi im một lát, rồi lại thở dài nói:
- Buồn! Tôi nghĩ mà tôi buồn, em nó đi lấy chồng rồi thì...
chỉ còn các anh, các chị... Thế mà các anh, các chị chả thấu lòng cho tôi...
Ai cũng biết bà Ba muốn nhắc đến việc thừa tự, nhưng đều lặng
thinh. Bà Ba cũng ngừng lại đăm đắm nhìn ngọn rặng cau trồng bên tường hoa. Bỗng
bà như quên hết phiền muộn, đứng dậy. vui vẻ nói:
- Mai tôi lại phải đi Hà Nội sớm, các anh, các chị ạ. Thôi
các anh, các chị ở lại nhé.
Không ai nghĩ đến giữ bà ta lại uống nước, nhưng cũng đều đứng
dậy tiễn bà ta ra tới cổng. Hình như những nỗi đau đớn mà người đàn bà ấy vừa
thổ lộ ra đã làm dịu lòng căm hờn của bọn cừu địch.
Trước khi từ biệt, bà Ba còn quay lại dặn Khoa:
- Anh nhớ sang nhà, tôi đưa cho bức thư. Với lại anh sang
giúp tôi việc ấy...
Bà cười, nói tiếp:
- Sau khi em Cúc về nhà chồng, tôi sẽ phải nhờ đến các anh...
các chị luôn... Các anh, các chị chả... nghe lời cũng chả được với tôi.
Rồi bà đi thẳng, để lại trong trí nghĩ bốn người một câu cuối
cùng rất mờ nghĩa, mà họ đều đoán có dính dáng đến việc thừa tự.
Phần thứ hai - VII & VIII
Xong việc cưới con gái, bà Ba coi như hoàn thành một công cuộc
to tát, khó khăn, phi thường. Bà đã để hết tâm lực vào đó trong gần hai năm trời.
Thấy bà quá chăm chú săn sóc tới việc gia thất của con gái,
Tính nông nổi đoán rằng bà sợ Cúc ế chồng. Nhưng sự phỏng đoán ấy thực chẳng
căn cứ vào đâu, và không hợp lý một chút nào. Cúc mới mười bảy tuổi mà lại rất
có duyên tuy không đẹp lắm thì thiếu gì kẻ cầu cạnh. Ấy là chưa kể cái tài sản
kếch-sù của bà mẹ.
Nhưng sự thực, bà Ba vẫn lo lắng, lo lắng vẩn vơ. Tính đa
nghi lại ngoắt nghéo, bà không thể nghĩ đến và tin ở sự bằng phẳng, thẳng thắn
của cuộc đời lẫn người đời. Ai cũng có thể là kẻ thù của bà. Ai cũng có thể phản
bà được. Vì thế lúc nào bà cũng phòng bị, e ngại.
Và vì thế, từ năm Cúc mười lăm, nghĩa là, theo ý bà, đã đến
tuổi hiểu ái tình, bà không một lúc nào xao nhãng trông coi, giữ gìn con. Một dạo,
ở làng Giáp, một việc đã làm cho bà mất ăn mất ngủ.
Nghỉ hè năm ấy, Can, em trai Chuyên, về làng Giáp ở chơi nhà
anh rể ít lâu. Can theo học lớp nhất trường trung học Albert Sarraut, người rất
tráng kiện vả xinh đẹp. Một hôm gặp bà Ba và Cúc trên đường làng, Can cất mũ
chào. Cúc mỉm cười lấy dáng chào lại.
Buổi chiều, ngẫu nhiên Cúc đến thăm hai chị dâu. Thế là bà Ba
lo sợ cuống quít. Bà cho rằng Chuyên đưa em về để định làm hại bà, để lập tâm
phá hoại danh tiết con bà. Bà không ngờ vực nữa, bà tin chắc như thế. Trong óc
bà hiện ra một thiên giai ngẫu với hết cả các thứ cạm bẫy của ái tình. Ngay hôm
sau bà đem con đi Hà Nội, vội vàng, hấp tấp như đi trốn, như đi lánh nạn.
Mai nay Cúc yên bề gia thất rồi, bà mới vững dạ. Và về làng
Giáp bà sung sướng, huênh hoang kể cho hết mọi người nghe những sự rực rỡ, long
trọng, cao quý trong cái đám cưới của con bà, tuy nhiều người làng Giáp đã được
bà mời lên Hà Nội dự tiệc, và đã được mục kích những sự rực rỡ, long trọng, cao
quý ấy.
- Thực tôi chưa thấy đám cưới nào có nhiều ô-tô các quan
khách như đám cưới này.
Bà quay ra hỏi bà lý Thuận:
- Đố chị biết bao nhiêu ô-tô?
- Bẩm mười hai cái.
Bà Ba gắt:
- Ồ! Đấy là xe nhà giai. Người ta hỏi ô-tô các quan cơ mà.
Bà lý Thuận đếm nhầm rồi đáp:
- Bẩm dễ đến hai chục.
- Hơn chứ! Ngoài ba chục. Xe cụ thượng Hoàng này, xe cụ thượng
Nguyễn này, xe cụ thượng Lê này... gần đủ các quan đầu tỉnh.
Kể thì số người dự tiệc cũng khá đông thực, phần là bạn cũ
ông án, phần là bạn của Bỉnh mà bà Ba đã khéo léo mua chuộc mấy tháng trước
ngày cưới con.
Vợ chồng Trình và Khoa, hai ba lần bà khẩn khoản mời, nhưng bọn
họ đều từ chối, khiến bà lấy làm căm tức lắm, nhất bà lại nghe thấy những cho
quen biết nhao nhao lên hỏi: “Ông Hai, ông Ba đâu ạ?” Câu trả lời, bà đã sắp sẵn
từ trước nên bà thản nhiên đáp ngay: “Anh Hai anh Ba cháu cùng ốm, mắc bệnh sốt
rét cách nhật, anh Ba hơi đỡ thì anh Hai lại lây...” Và trong lòng bà thì thầm:
“Rủa cho chúng nó ốm, cho chúng nó chết tiệt đi! Mình chiều chúng nó như chiều
vong trong... bao nhiêu tháng giời chỉ cốt ngày cưới con mình chúng nó đến để
mình che mắt thế gian...”
Che mắt thế gian, đó là điều bà Ba luôn luôn nghĩ tới, nhưng
chẳng bao giờ bà che kín được hẳn. Cái mà bà muốn che đậy nhất là cái biển lận
của bà. Bà giàu, bà muốn ai ai cũng biết. Bà kiệt, bà muốn ai ai cũng không
hay. Nhược điểm ấy bà đã biểu lộ ra một cách rõ rệt trong đám cưới Cúc, và bắt
đầu ngay từ hôm bà thách cưới với bà mối.
- Thách cưới!
Bà cười, bảo bà Hai. Rồi bà này chưa kịp trả lời, bà đã tiếp
luôn:
- Chẳng thách gì hết, tôi cho không con đấy.
Bà mối tất phải mừng thầm. Nhưng bà Ba lại nói:
- Nghĩa là toi không thách tiền thách bạc gì hết.
Bà Hai tưởng nên nịnh một câu:
- Dạ, cụ thì còn thiếu gì tiền bạc nửa!
- Không phải thế, nhưng trong việc cưới xin mà nói đến tiền,
nghe nó đê tiện lắm, phải không thưa cụ?
- Dạ, có thế.
- Nào có phải tôi bán con tôi đâu.
- Dạ.
- Nhưng dẫu sao... cũng phải cho... nó không lụi xụi...
- Vâng, lụi xụi thì coi sao được.
- Vì sẽ có đông các quan đến, người ta cười cho thì còn ra
làm sao. Vậy... tôi cần hai mươi cái ô-tô.
Bà mối nhắc lại như để nhớ:
- Hai mươi cái ô-tô.
- Vâng, thế là ít đấy. Nhưng không sao, ô-tô các quan đi ăn
cưới cũng đã đông lắm rồi. Có lẽ tất cả đến ba chục hay hơn thế.
Bà Ba vẫn lấy làm thích mắt được ngắm đoàn ô-tô thực dài đi
riễu phố. Và bà thường theo số ô-tô nhiều hay ít mà đánh giá từng đám cưới.
Bà mối tưởng bà thách có thế, đương toan nhắc đến món hồi môn
thì bà lại tiếp:
- Còn các đồ tư trang thì nhà giai sắm cho thế nào cô dâu sẽ
dùng như thế. Nhưng tưởng cũng chẳng nên luộm thuộm mà người ta cười... Với lại
mình sắm ra thì là của mình, của con mình, còn đấy chứ mất đi đâu, phải không,
thưa cụ?
- Dạ.
- Cho con trước thì khỏi phải cho con sau.
Bà Hai víu ngay lấy câu ấy:
- Vâng, chính thế. Như cụ chẳng hạn, nhà cửa ruộng vườn của cụ
sau này là của con gái cả, cho bây giờ cũng như sau này để lại cho. Trước sau
cũng thế.
- Vâng, thì tôi vẫn nói với cụ thế.
Bà Hai chẳng nhớ bà Ba đã nói thế nào, nhưng cũng tiếp luôn:
- Vâng, thưa cụ, tôi vẫn nhớ, cụ có bảo thế. Vậy hôm cưới cụ
cho...
Lần thứ hai, bà Ba ngắt lời:
- À, cụ biết giờ đón dâu rồi đấy chứ? Mười giờ, mười giờ
sáng. Như thế được sớm sủa mà tiện. Vả ngày mồng mười cũng chỉ được có giờ ấy
là tốt.
Sự thực, giờ ấy tốt nhất cho bà là vì bà sẽ đỡ được một bữa cỗ
nấu. Sợ bà Hai nghĩ đến điều đó, bà nói chặn trước:
- Tôi rất ghét những bữa cỗ đón dâu. Chả ai ăn, chỉ bày ra để
khoe khoang. Vì thế, tôi chỉ đặt tiệt trà. Nói là tiệc trà, nhưng chính là tiệc
sâm-banh... Thế còn long trọng hơn cỗ bàn, mà văn minh biết bao.
Lảng được món hồi môn, bà Ba quay về món tư trang:
- Vậy cụ nhớ nói với cụ huyện may cho cô dâu... Thôi tùy cụ,
cụ sắm nhiều thì con dâu cụ sang, cụ sắm ít thì con dâu mặc ít; còn vòng, nhẫn
kim cương và các đồ tư trang khác cũng tùy cụ huyện cho thế nào thì được thế.
Các đồ tư trang chỉ tốn cho cụ độ nghìn bạc là cùng... Thế nào xong thôi ấy mà.
Bà hai nghĩ thầm: “Rồi bà ấy khắc hiểu, mình ép nài quá bất
tiện. Nhà con một thì người ta còn cho ai, mà sợ, vì hôm nọ bà ta đã nói với
mình một lần nữa rằng câu chuyện cậu Khoa ăn thừa tự chỉ là một câu chuyện bịa
đặt” Bà liền đứng dậy xin về để nói cho bà huyện rõ.
Nhưng hôm cưới, bà Hai lại khôn khéo nhắc tới món hồi môn. Bà
ta đã dặn dò Phan từ trước nên lúc cùng cô dâu xin vào làm lễ, bà Ba từ chối thế
nào chàng cũng nhất định không chịu lùi. Ở ngoài, bà Hai nói chêm:
- Lễ đi để cụ lớn mừng cho.
Rồi bà làm như nói một mình:
- Thế nào cụ lớn chả mừng cho vài cái nhà.
Nhưng bà Hai đáo để thì bà Ba cũng chẳng vừa. Bà đã lập mưu sẵn,
để khỏi phải cho một tí gì.
Chỉ nghĩ đến phải cho, bà đã lo sợ, rùng rợn cả người. Bà Hai
và nhiều người bảo bà: “Của mình là của con, giữ làm gì, cho trước có rảnh rang
hơn không, mà lại được tiếng”. Những người ấy bà Ba liệt vào hạng không hiểu
“cho” là cái gì: “Họ không làm ra tiền thì họ có gì mà cho. Nói thì dễ dàng lắm,
ai chả nói được. Nhưng mà cho? Khó lắm!” Bà tốn bao nhiêu công lao, mưu kế
trong bao nhiêu năm trời mới có được cái tài sản ngày nay. Cái tài sản to tát ấy
bỗng đem cho đi. dù là cho con nữa, vô lý quá. Khi bà chết rồi, tha hồ người ta
muốn làm gì thì làm, bán đi, tiêu đi, cho đi, mặc kệ.
Nhưng nay bà còn sờ sờ ra đấy, lại đem của mồ hôi nước mắt mà
cho chúng nó để chúng nó bán ư? Để chúng nó phá ư? Không, không thể được.
Bà Ba nhất định giữ cho bằng được cái tài sản mà bà quý hơn
tính mệnh: “Thà chết đi còn hơn là ngồi đấy mà dương mắt nhìn người ta bóc lột!”
Bởi vậy, bà đã thức trong nhiều đêm để tìm cách ra thoát một bước khó khăn. Khó
khăn, vì nói trắng ra với bà mối rằng mình không cho con rể gì hết thì việc
nhân duyên của con gái chắc sẽ không thành, mà hứa một lời rành rọt thì rồi thế
nào cũng phải giữ lời hứa: Bà khôn khéo chơi cái nước đôi, không chối hẳn rằng
không cho, cũng không hứa rõ là cho, nhưng vẫn nói úp mở để bên nhà trai hy vọng.
Song cái món mừng chủ rể, bà thấy khó tránh quá: “Một là mừng
một vài cái nhà, hai là bỏ hẳn cái món mừng ấy đi, chứ cho mấy trăm bạc chẳng
bõ làm trò cười cho bên nhà giai”. Bà quả quyết không mừng gì hết, và bà nhờ bà
phán Cả giúp một tay, vì thường thấy bà này nói xấu bà huyện mà bà ta cho là một
nhà đào mỏ chuyên môn. Quả nhiên bà Cả nhận lời.
Mưu mẹo? Nói ngay là một tấn kịch mà kẻ giàn cảnh khéo léo
chính là bà Ba.
Chú rể và cô dâu vừa bước vào chiếu để làm lễ, bà Ba liền chu
chéo lên khóc và kể lể:
- Có phải là tôi không muốn nhận lạy của con tôi đâu... Nhưng
tôi lại nhớ tới quan lớn tôi... Ông án ơi, đó, con ông đã thành gia thất, rồi
đó... Ông chả sống mà nhìn thấy con ông và con rể ông... Cực nhục cho tôi
chưa?... Tôi sung sướng lấy một mình...
Bà Hai đương định chen vào một câu nói tuế tóa thì bà phán Cả
bước lại gần, đỡ lấy chị, và thì thầm: “Thôi chị, chả nên thế, ngày vui mừng của
con”. Nhưng bà Ba vẫn nức lên:
- Con tôi nó vui sướng... chỉ mình tôi là khổ... Nó có chồng
nó rồi... nó cần gì đến tôi.
Ba Hai toan nói, nhưng bà Cả vẫn giơ tay lên gạt:
- Bà án tôi vẫn thế đấy, dễ cảm động lắm; để yên một lát, bà
án tôi sẽ trấn tĩnh ngay.
Một lát sau, quả thực bà Ba đã trấn tĩnh, vui cười như không
từng xảy ra việc gì. Nhưng cái món hồi môn không ai nhắc đến nữa cho tới lúc
đón cô dâu lên ô-tô. Chú rể tự an ủi nghĩ thầm: “Đi đâu mất mà sợ!” Bà mối cũng
nghĩ thầm: “Bà huyện bà ấy cứ nóng con giàu ngay. Thì cái kho báu đã về tay con
bà ấy rồi đấy, việc gì mà phải hấp tấp”.
Sự thực, cái kho báu vẫn y nguyên ở trong tay cố chủ. Bà Ba
vui thích, hí hửng như được của, như bỗng rưng đào được chum vàng. Bà vừa tỉnh
một giấc mộng dữ dội. Một tí nữa bà mất nhà. Bà không ngờ thoát khói cái cạm bẫy
ấy một cách dế dàng như thế.
Bà sung sướng quá trở nên rộng rãi. Hôm nhị hỉ, bà thết tiệc
rất trọng thể. Rồi bà đem cho chú rể hết cả các đồ ngọc quý giá nằm ngủ trong
chiếc tủ kính kiểu Nhật bản mà từ khi ông án qua đời bà không mở ra xem lại một
lần nào. Bà cho không tiếc: Bà không thích ngọc, bà chỉ thích có ba thứ: tiền,
nhà và ruộng. Vả lại, các đồ châu bảo kia đều của ông án, bà chỉ có thể chuộng
những vật chính tay bà sắm, chính tay bà tậu mà thôi.
Phan cảm động, vì chàng yên trí rằng mẹ vợ phải yêu mình lắm
mới cho mình những vật đắt tiền, những kỷ niệm của chồng khi xưa. Sợ con rể
không biết giá ngọc, bà Ba trỏ một cái khay và bốn chiếc chén bằng thạch tinh,
bảo chàng:
- Bộ này thầy mua những hơn ba trăm bạc...
- Cậu muốn lấy thứ gì tùy ý. Bây giờ cái gì ở trong nhà me
cũng là của cậu.
Phan nịnh khéo một câu:
- Dễ con phải thuê một cái camion để chở các thức me cho.
Bà Ba và Cúc cười sung sướng.
VIII
Từ đấy trở đi, câu chuyện “đào mỏ” của Phan dần dần lưu truyền
trong khắp các xóm làng Giáp. Người ta bàn tán, khen chê, phàn nàn, nhưng hơn hết
người ta vui thích.
Cái sào huyệt truyền bá tin tức cố nhiên là nhà Trình và
Khoa, hay đúng hơn nhà Tính và Chuyên, vì bao chuyện lượm lạt được đều nhờ ở
tài hai người đàn bà ấy.
Bây giờ họ không thù ghét nhau nữa, hay đúng hơn, họ bẵng
quên lòng thù ghét, để lưu tâm cả vào việc đào mỏ của mẹ con chàng rể nhà bà
Ba. Họ đem kể cho nhau nghe những điều mà một người biết, rồi họ cùng cười
khoan khoái, sung sướng.
Việc thừa tự, họ không nghĩ đến nữa. Một đôi khi họ có nhắc tới
nó thì cũng để làm tăng cười chứ không ai còn tưởng đem nó ra làm đầu đề câu
chuyện châm chọc lẫn nhau như trước kia.
Trước kia, ngay sau hôm bà Ba nhờ Khoa, sang xem hộ bản giao
kèo cho thuê nhà, hai gia đình đã suýt lại to chuyện với nhau. Hai người đàn
ông phải giở hết tài khôn khéo, phải đem hết tính nhẫn nại ra mới cứu vãn nổi
hòa bình.
Chính hôm ấy, - một sự không may - Khoa đến nhà một người bà
con ở xóm ngoài có chút việc riêng, mãi tối mới về. Trong khi chàng vắng mặt,
Tính săn đón hỏi thăm Chuyên xem chàng đi đâu. Chuyên thật thà đáp không biết
vì nàng không biết thực. Nhưng Tính không tin, mỉm cười nói khích bác. Chuyên
chẳng chịu nhịn, trả lời lại, thế là đôi bên cùng lồng lên. Và ngay bữa ăn chiều,
Chuyên không sang bếp chung thổi nấu. Lúc Khoa về, chàng viện đủ mọi sự thiêng
liêng ra thề rằng không hề có đặt chân tới nhà bà Ba, nhưng Tính nhất định
không tin chỉ cười mát.
Cách đó ít lâu, nghe theo chồng, hai người đàn bà làm lành với
nhau để rồi gặp câu chuyện bất bình lại giận dữ, khích bác, thù ghét nhau như
thường.
Nhưng một hôm bà Ba lủi thủi một mình về làng Giáp. Lần đầu
người ta không thấy Cúc đi kèm bà ta. Và cũng lần đầu, vì buồn phiền, không
duyên cớ bà ta sang chơi nhà Trình và Khoa. Hai người đàn ông tỏ ý thương hại
cái cảnh cô độc của bà ta, nhất lại thấy bà ta như già thêm mấy tuổi, mặt dăn
deo, má hốc hác, mắt mờ xạm.
Tính và Chuyên thì không bao giờ vui bằng, vui đến nỗi như trở
nên thân mật với kẻ thù xưa. Họ soắn xuýt ân cần trò chuyện, mục đích chỉ để dò
la tìm biết những điều bí ẩn, những điều mà họ chắc tự nhiên bà Ba không dám thổ
lộ ra.
Sau khi bà Ba về nhà, Chuyên quên hẳn chuyện xích mích, vịn
tay vào vai Tính gập người lại mà cười. Nàng đoán thấy nhiều điều hay hay và
nàng sung sướng, vì biết chắc rằng bà Ba đương khổ sở.
Rồi trong mấy hôm liền, hai người đàn bà lần đến chơi bà lý
Thuận, anh cả Thiện, làm thân với họ nữa. Lại bỏ tiền ra mua chuộc cái Tỉu, đứa
đầy tớ gái theo hầu Cúc và vừa bị bà huyện đuổi về. Làm bao nhiêu công việc nhỏ
nhặt và khó khăn ấy để dò chuyện nhà bà Ba.
Quả họ thành công, vì ai mà không thích thuật lại những điều
mình biết cho những người không biết nghe, nhất khi những người này lại cầu cạnh,
ân cần muốn nghe.
Chắp nối các mẩu lại, hai người đàn bà, nhất là Chuyên, - vì
Chuyên rất có tài thêu dệt - dựng thành một câu chuyện có đầu, có đuôi, có cả
những đoạn thắt, mở như một thiên tiểu thuyết vậy.
Câu chuyện đại khái thế này:
- Anh chàng rể tấp tểnh hy vọng được mẹ vợ mừng cho vài cái
nhà và được vợ mang theo về ít ra cũng một vài vạn bạc tiền hồi môn. Chàng hí hửng
nghĩ đến nhiều món tiêu to tát, mà món học phí bên Pháp là một - học phí nghĩa
là kể cả tiền ăn chơi.
Đến lúc nghe theo bà mối và quả quyết cùng cô dâu vào lạy mẹ
vợ hai lạy, Phán đã yên trí rằng sắp sửa được làm chủ nhân một cái tài sản kếch
sù. Lần đầu chàng thất vọng. Chàng cho hai cái lạy của chàng hoàn toàn vô ích..
Nhưng Phan không tuyệt vọng, nhất hôm nhị hỉ chàng lại thấy mẹ
vợ xử hẳn ra một người rộng rãi, thân yêu đối với con và rể. Và chàng nghĩ thầm:
“Thôi, chẳng trước thì sau, vội gì!”
Vì thế, không những Phan tạm không lưu tâm đến những tòa nhà
của bà Ba và món tiền hồi môn của Cúc, chàng còn tránh không một lần nhắc nhỏm
hay nói xa xôi để hỏi dò ý tứ vợ.
Và vì thế, Cúc bồng bột sung sướng trong tháng trăng mặt.
Nàng cảm động biết bao, khi thấy mỗi lần nàng gợi đến chuyện tiền nong, tài sản
của nhà mình, Phan lại nồng nàn hôn nàng và ghé tai nàng âu yếm nói: “Của cải
quý sao bằng em. Em là tất cả kho báu của anh rồi!”
Cúc tin lời chồng và càng sung sướng, vì trước kia nghe người
ta thì thào bên tai những chuyện mai mỉa về nhà Phan, nàng vẫn áy náy không
yên, tuy không bao giờ hé môi than phiền một lời với mẹ. Việc gả chồng, nàng
cho là hoàn toàn thuộc quyền mẹ. Mới lớn lên nàng còn ngây thơ, đã biết gì.
Nghe nói đến chuyện chồng con nàng đã xấu hổ rồi, còn dám đâu bàn tán, kén chọn.
Nay Cúc thấy những điều lo sợ của mình vô căn cứ: Phan không
phải là một tay đào mỏ như người ta huyên truyền. Trái lại, chàng chỉ là một
người ngay thẳng, không biết lừa dối ai, một thiếu niên đa cảm đặt tình yêu lên
trên hết mọi sự ở đời. Kỳ thực, Cúc chỉ nhận xét đời bằng khối óc lãng mạn, bằng
tâm hồn lãng mạn. Thiếu nữ nào mà không lãng mạn, dù thuở nhỏ đã sống những
ngày vô vị và nhận được một nền giáo dục tầm thường, như Cúc chẳng nữa.
Nhưng trong thời Cúc đang mê man với ái tình mới mẻ, một hôm
bà huyện bảo nàng!
- Có cái nhà đằng kia vừa làm xong mà người ta cần tiền nên
phải bán, rẻ lắm, mợ cử nên mua đi.
Cúc khép nép thưa:
- Bẩm mẹ, con có tiền đâu mà mua.
Bà huyện giọng âu yếm:
- Vốn riêng thì mợ để làm gì?
- Bẩm mẹ con không có vốn riêng.
Bà huyện cười:
- Thôi, cô đừng nói òn! Cái nhà này mẹ thấy nên tậu lắm mẹ mới
mách...
Cúc vẻ mặt sợ hãi:
- Bẩm mẹ, con quả thực không có vốn riêng.
Bà huyện yên lặng ngồi nhai trầu. Thỉnh thoảng bà vừa liếc
nhìn Cúc vừa đưa chiếc khăn đỏ lên lau mép.
Bẵng đi ba hôm, bà lại bảo Cúc:
- Có cái đồn điền ở mạn Thái Nguyên bán rẻ lắm, rộng tới gần
bảy trăm mẫu mà giá chỉ độ hơn một vạn thôi, thiết tưởng mợ cử nên về xin tiền
cụ mà tậu.
Cúc dạ lí nhí trong miệng, rồi hỏi ý kiến chồng mà nàng cho
là một ngươi không thiết của. Nhưng nàng kinh ngạc biết bao, khi Phan ngẫm nghĩ
rồi trả lời nàng:
- Mẹ nói cũng phải. Cái đồn điền ấy mà không mua thì thực bỏ
mất một dịp tốt. Em thử về hôi me bên nhà xem.
- Giá mẹ sẵn tiền thì mẹ cũng tậu rồi đấy, nhưng hiện mẹ
không sẵn. Vậy em cứ về bên nhà bẩm me tậu cho em rồi sau không thích thì để lại
cho mẹ cũng được.
Chẳng đừng được, Cúc phải đem việc tậu ruộng nói vơi mẹ, tuy
nàng biết trước rằng thế nào cũng không xong. Nàng còn lạ gì cái đức kiệt của mẹ.
Lúc nàng tay không trở về nhà chồng, bà huyện vẫn niềm nở không hề tỏ vẻ tức giận
hay nói một câu đay nghiến.
Nhưng mấy hôm sau, trong câu chuyện với con và dâu, bà đem việc
nhà những ngươi quen biết ra thuật bằng một giọng rất tự nhiên, như không định
ám chỉ ai: Đó toàn là những chuyện tiền hồi môn hàng vạn mà các nàng dâu đem
theo về nhà chồng.
Cúc đã hơi hiểu ý mẹ chồng. Nhưng nàng biết làm sao! Đã nhiều
lần nàng về nhà khóc lóc với mẹ, năn nỉ xin mẹ một cái nhà hay một ít vốn, để
khỏi bị nhà chồng khinh bỉ. Nhưng bà Ba tìm đủ cách từ chối. Nào: “Cho cậu mợ để
cậu mợ phá tán đi, tôi giữ chẳng qua cũng chỉ là giữ cho cậu mợ”. Nào: “Bây giờ
còn ở nhà với cụ huyện, thì cậu mợ cần gì tiền”. Thấy Cúc kêu nài mãi, bà cáu
tiết nói thẳng một điều mà bà vẫn nghiền nghĩ bấy nay:
- Về bảo cậu ấy cứ lo ra làm quan, lo ra Tri huyện đi đã, tốn
bao nhiêu... rồi mẹ... giúp.
Chờ ba tháng vẫn không thấy nảy ra một tia hy vọng cỏn con,
bà huyện chán nản và bắt đầu một chương trình hành hạ. Thoạt tiên bà bắt Cúc đuổi
con Tĩu. Bao nhiêu công việc nặng nề Cúc phải cáng đáng lấy hết, làm cơm, khâu
vá cả đi chợ. Chỉ có hai việc bổ củi và gánh nước là Cúc được phép sai đầy tớ,
giúp mà thôi.
Cúc cũng không được màng tới điểm trang nữa. Bà huyện bảo
nàng:
- Có chồng rồi, còn cần làm dáng với ai?
Cúc tự an ủi thầm rằng bị mẹ chồng ghét nhưng đã được chồng
yêu và bênh vực kéo lại. Chẳng bao lâu, nàng ngờ vực nốt tình yêu của chồng, vì
hễ nàng liều cãi lại bà huyện thì bao giờ Phan cũng về hùa với mẹ mà mắng át
nàng đi.
Cứ tin lời Chuyên kể thì Phan đã có lần tát nẩy đom đóm mắt
cô vợ bé bỏng. Nhưng Tính quả quyết rằng cái tát ấy của bà huyện, chứ không phải
của Phan, vì dẫu sao Phan cũng không nỡ và không dám tát một người đàn bà.
Chuyên, giọng mỉa mai, cãi lại:
- Chà! Khi người ta chủ tâm đào mỏ vàng mà đào phải rặt một
giống đá sỏi thì người ta khỏi sao không cáu tiết!
Trình cười và như phân trần:
- Đấy nhé! Con người ta đẻ ra mà người ta còn chẳng cho gì để
đến nỗi bị nhà chồng đầy đọa, huống hồ là...
Chàng ngượng ngùng, không dám nói dứt câu. Khoa phá lên cười
nói luôn:
- Huống hồ là chúng mình, phải không? Em nghĩ đến câu chuyện
thừa tự của cô ta mà em vừa tức mình vừa tức cười.
Chuyên giọng tự đắc:
- Còn ai lạ tính nết cô ta!
Tính thở dài nhìn Chuyên:
- May mà hai anh em không ai nhận lời, chứ nếu nhận lời thì
thật là một cái bẽ lớn. Cô ta chỉ cốt đem miếng thừa tự ra dứ.
Chuyên tiếp liền:
- Để con cô ta đi lấy chồng cho êm thắm.
Khoa thêm:
- Nhưng rút cục không êm thắm tí nào, thế mới chết chứ!
Mọi người cười reo, Trình kết luận:
- Chung quy chỉ sư cụ là đáng thương nhất: đi lại nịnh hót
mãi mà vẫn chưa xơ múi gì!
Khoa nghĩ thầm:
- Kể đáng thương thì đáng thương tuốt, từ bà Ba, Cúc, Phan,
bà huyện cho chí cả anh em mình.






























Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét