Với Lê Lựu một chiều
Cứ qua tác phẩm thì thấy sức đọc, sức học của Ma Văn Kháng là
rất lớn. Anh đã khuyên nhà văn trẻ phải đọc sách vì “dưới một quyển sách bao giờ
cũng là một quyển sách khác”. Một cách học hiệu nghiệm khác là tìm hiểu qua dư
luận bạn đọc, nghiên cứu nghiêm túc, cặn kẽ những tiểu luận phê bình, nghiên cứu
về sáng tác của mình. Có câu châm ngôn đại ý: người khen ta là bạn ta, người
chê đúng ta là thầy ta. Trong kho tài liệu của nhà văn chắc chắn có bộ “sưu tập
phê bình” về Ma Văn Kháng, nhiều khi còn phong phú hơn cả ở các thư viện. Bởi
nhà văn lưu giữ cả những tài liệu còn là bản thảo đánh máy chữ hoặc chép tay,
tóm lại là những tư liệu quý hiếm, nằm trong dư luận bạn đọc. Từ mục Thư bạn đọc:
Một cuốn sách cần được luận bàn rộng rãi đăng trên Lao Động ngày 9-11-1989 được
tác giả ghi chú: Bài báo đầu tiên nói về cuốn Đám cưới không có giấy giá
thú đến hàng loạt bài thảo luận trên Văn Nghệ số 6 ngày
10-2-1990 v.v...
Năm 1970 khi đang là sinh viên năm thứ tư Trường Đại học Tài
chính, Ngân hàng Trung ương, cả lớp học có hơn sáu chục người thì chỉ mình ông
trúng tuyển nhập ngũ, theo phong trào tổng động viên sinh viên các trường đại học.
Ông từng chiến đấu ở các mặt trận phía Nam, Nam Lào, các mặt trận phòng không ở
các tỉnh phía Bắc... và trận chiến Điện Biên Phủ trên không tại Đồng
Mỏ, Lạng Sơn. Ông đã đi qua nhiều trận đánh, từng bế trên tay biết bao đồng đội
bị thương và hy sinh. Có trận chiến mà cả đại đội chỉ còn ông với hai người nữa
sống sót. Chính vì những năm tháng đầy khốc liệt không thể nào quên ấy, cho nên
thơ của ông viết về chiến tranh, về đồng đội cũng là mảng đề tài ghi dấu ấn
trong sự nghiệp sáng tác của ông. Đó là những câu thơ mạnh mẽ, đầy khí tiết:
Rồi ông chỉ cho khách mới xem những bức tranh phong sương
trên tường. Cả những ký họa thủy mặc thực ảo lẫn lộn. Thì ra, đó đều là những
tuyệt phẩm của Trung Hoa phong kiến, bức thì của đích thân Tề Bạch Thạch múa
bút, bức lại do Hoàng đế Càn Long ngự đề. Một vị khách loay hoay đứng ngồi
không yên, cuối cùng không chịu được, đành ngỏ ý xin phép hút thuốc trong
phòng. Ông Văn Tùng cười lớn: “Cứ hút, cứ hút! Lâm Ngữ Đường từng bảo: Nhà
không có mùi khói thuốc thì không gọi là nhà.” Vậy là cả mấy vị khách, trong đó
có tôi, được thể móc túi giở cặp, thuốc đỏ thuốc xanh, nhả khói mù mịt. Câu chuyện
cứ thế lan man những nhạc, những tranh, những chè, rượu, giai nhân, phong tình
cổ lục.
Khi chúng tôi làm cuộc trò chuyện này, nhà văn Lê Lựu đang
loay hoay quyên tiền để xây nhà tưởng niệm Phạm Tiến Duật. Đã xin được đất, Hội
Văn nghệ Phú Thọ đã đồng ý xén từ khuôn viên của mình ra một mảnh; đã đúc xong
tượng đồng nhà thơ, đã có được hơn trăm triệu đồng... nhưng cần số tiền gấp mười
ấy nữa cho một ý tưởng đẹp và hào hùng.
PV: Phạm Tiến Duật chẳng những là một hiện tượng của thi
ca, thơ ông chưng cất cái thanh xuân của thời đại làm nên một men say, một chân
trời thẩm mỹ trùng khít với khát vọng giải phóng; do đó, ông còn là niềm tự hào
của cả một thế hệ. Lẽ ra, Đoàn Thanh niên hay Hội Liên hiệp Thanh niên và Sinh
viên phải đứng ra làm cái việc mà ông đang làm và có vẻ quá sức ông. Lấy đâu ra
một tỷ nữa?
Lê Lựu: Tôi có thời gian dài cùng làm báo mặt trận 559 với Duật.
Tôi đã hứa đúc tượng, xây nhà tưởng niệm với anh ấy bên giường bệnh. Mà những
cái liên quan đến các cơ quan nhà nước sẽ rất lâu, sẽ phải nâng lên đặt xuống
và bàn thảo. Thôi thì, như chú nói, nhà văn là rượu của dân, sống chết đều nhờ
cả ở dân.
Tôi yên lặng nhìn ông. Sau tai biến não, ông trở nên chậm chạp
và bấy, đi xa phải có người dắt. Nhưng ý tưởng cần làm một việc để ghi dấu thời
đại vẫn khư khư bám níu lấy ông và tôi có cảm giác ông cũng khư khư bám nó như
một lý do tồn tại. Nơi ông ở bây giờ là cuối ngõ 331 đường Tam Trinh, hiện được
dân sử dụng làm cái chợ cá chợ rau rộn ràng và nhếch nhác. Tôi cứ hình dung, mấy
mươi năm nữa con ngõ 331 này sẽ mang tên Lê Lựu mà không khỏi bùi ngùi. Hóa ra
Lê Lựu còn rất nhạy cảm, ông hiểu những lời tôi không dám nói.
Lê Lựu: Tuổi chúng ta không cho phép ôm đồm. Nhưng cũng không
có gì phải ngậm ngùi.
Chúng tôi cùng ngước nhìn phía bên kia đường. Nó là khoảnh
sân nhỏ cạnh khu chung cư, bọn trẻ con đang đá bóng. Ở góc sân là một cây quất
lớn của nhà ai sau khi chưng Tết đã để ra ngoài. Cánh đồng nát ve chai hẳn đã bứng
nó ra khỏi chậu mà lấy chậu đi. Cây quất thành chân lâng, rễ không thể xuyên
qua bê tông, chỉ còn ít ỏi dưỡng chất sẻn so nuôi hoa, nuôi những quả li ti mà
không dám chắc nó thành được quả.
PV: Ông nói đúng, không việc gì phải ngậm ngùi. Từ một
binh nhất nghĩa vụ, có dăm ba chữ đi viết những cái tin bằng bao diêm in trên
báo Quân khu III, Lê Lựu đã lừng lững đi lên chiếm lĩnh đỉnh cao của văn xuôi
thế hệ mình. Sau Thời xa vắng được coi như tác phẩm văn học tiền đổi
mới.
Lê Lựu: Tiền trạm cho đổi mới.
PV: Vâng, chữ tiền trạm hay hơn. Điều đáng nói là,
sau Thời xa vắng người ta không thể viết như cũ, theo mô hình về những
“cái sẽ có”. Nhà văn phải trở về với nguồn cội, chúng ta là ai, là một quần thể
nông dân lam lũ, đói khổ và thất học. Hôm trước còn đang vô danh trong đám đông
chờ bán sức lao động để kiếm cái ăn; hôm sau đã lý này luận nọ và cứ tưởng rằng,
cứ hăm hở mà đi, chỉ sớm đến chiều là tới được chân trời hạnh phúc trong giàu
có. Giang Minh Sài là một hình tượng nghệ thuật số một của một thời đã xa. Nhân
thể nói thêm, Lê Lựu là nhà văn đầu tiên ngay từ năm 1973 đã viết về người lính
bị thương trở về với nghiệp nông gia (Người về đồng cói) trong khi phần
lớn những nhân vật như thế được các nhà văn cho vào trường đại học để xây dựng
chủ nghĩa xã hội chung chung trong tương lai. Có thể hình dung, Lê Lựu chưa bao
giờ không nhìn xuống đất, tựa vào đất, làm mọi việc bắt đầu từ đất. Tôi chỉ
chưa thích Giang Minh Sài ở chỗ, sau cay đắng thất bại vì phải yêu cái người
khác yêu ở nhà quê, lại thất bại vì yêu nhầm cái người không dành cho mình
ngoài thành phố; anh ta phải trở nên bi phẫn chán đời mà hoặc thành lưu manh,
hoặc chai sạn trên hoạn lộ ngay ngoài Hà Nội. Chứ tôi tin chắc Sài không về quê
đốt gạch.
Lê Lựu: Tôi viết trước năm 1984, chưa thể phá tung lên như thế;
cũng không hẳn đúng với tính cách người Việt Nam. Sài phải yêu cái người ta
yêu, chứ không được yêu cái người nó yêu. Sau thì lại yêu nhầm cái nó không có,
thì có khác gì chúng ta yêu những giấc mơ hão huyền thời ấu trĩ? Vì thế, tôi mới
cho nó dứt bỏ tất để quay về với gốc gác của nó.
PV: Như thế càng chứng tỏ cái chủ quan áp đặt của tác giả.
Nếu ông cho Sài về quê là vì người yêu cũ của nó, một người đẹp vẫn còn gây hân
hoan người đọc già là tôi đây, thì lại là chuyện khác và cấu trúc truyện phải
khác. Cô ấy hoặc đang cơ hàn trong cô đơn, hoặc cô ấy một nách mấy đứa con nheo
nhóc bị chồng bỏ do ghen tuông tâm tưởng... thì ai chứ Sài sẽ vứt bỏ tất tần tật
để trở về với cố nhân như một tất yếu. Nhưng dẫu sao thì mọi việc đã diễn ra.
Chúng ta sang cuốn tiểu thuyết khác của ông. Tôi có cảm giác ông có một ấm ức
nào đó vì Chuyện làng Cuội chưa được đánh giá đúng tầm với nó?
Lê Lựu: Ấm ức quá đi chứ. Các nhà văn chúng ta viết tác phẩm
văn học khác nào người mẹ thai nghén rồi sinh những đứa con. Thế rồi người ta cứ
bảo đứa con tinh thần của nhà văn sinh ra là để xỏ ông nọ, xiên bà kia thì ai
không ấm ức? Cái dị nghị thị phi ấy lại được những người lo hão đồng tình bỏ tiểu
thuyết vào rọ im lặng. Tôi nhận thấy rõ ràng rằng, mọi sự bây giờ nó cứ rối
tung lên là vì những sai lầm của quá khứ không được đánh giá kỹ lưỡng. Ví dụ thời
cải cách ruộng đất người ta dạy nhau cách ăn gian nói dối. Bà Xuyến, vợ Hiến
lên đấu ông Kiên là một lão thành cách mạng, đấu nửa chừng quay xuống hỏi “rồi
thế nào nữa bà con ơi?”. Bà ta quên những chuyện người ta dạy bà đấu tố.
Trong Chuyện làng Cuội, tôi không chửi bới quá khứ, không lên án những sai
lầm mà chủ ý phân tích kỹ cái hậu quả là chúng ta có quá nhiều kẻ ăn
gian nói dối, cứ vụ nọ gối vào vụ kia rồi lướt đi nhân danh bảo vệ nội bộ (tôi
gọi họ là lo hão); tính trung thực và minh bạch không được đề cao. Tôi ấm ức vì
chưa một ai hỏi tác phẩm của tôi hay hỏi tôi rằng, tôi có yêu Nước không, có
chân thành không? Mà lại cứ hạch tôi vì tội vạch ra khuyết điểm. Ô hay, sao lại
sợ khuyết điểm chứ? Ai nắm tay đến tối gối đầu đến sáng? Cha ông ta
đã nói thế, tức là tổ tiên ta biết rằng, trong đời người là rất dễ mắc sai lầm.
Bác Hồ cũng nói, đại ý, cái đáng sợ không phải là khuyết điểm mà là không dám
nhận và sửa chữa sai lầm, khuyết điểm.
PV: Xin chuyển sang cuốn tiểu thuyết mới nhất của
ông, Sóng ở đáy sông. Tôi thích thằng Núi, nó bị ông bố của nó, cái lão Đại
gia trưởng cổ hủ đến ngu muội đã đẩy nó đến đáy sông. Nhưng ở đó, trong môi trường
đáy, nó có tình yêu, tình xóm giềng và cuộc đời đã dạy nó nhân nghĩa. Lão Đại
chỉ yêu và dành hết gia tài giàu có cho con vợ cả – với quan niệm đó là vợ cái
con cột của lão, là chỗ dựa lúc về già của lão. Nhưng khi lão già ốm và chết, lại
chỉ có vợ con thằng Núi chăm sóc lão. Ông muốn truyền thông điệp gì vậy?
Lê Lựu: Đừng đẩy con người ta đến tận cùng, như một thời
chúng ta cứ muốn chẻ sợi tóc làm tư hoặc thậm chí suy diễn vớ vẩn rồi quy kết,
dồn nhau đến không còn đường sống. Đó là một ấu trĩ cách mạng. Một thời chúng
ta cứ mang những nông trang, những mô hình ở tận đâu đâu về lắp ráp vào cuộc sống,
ai có ý kiến khác liền bị coi là xét lại, là chống đối và bị làm khó dễ. Bị làm
khó dễ là khổ lắm, khổ nhất. Thời bao cấp, cái khổ nhất không phải là đói khát,
đói khát là đói khát chung; khổ nhất là bị coi là có vấn đề về tư tưởng. Chú nhớ
cho, vào thời đã xa, nông dân được coi là quân chủ lực, nhưng là để đóng góp
nhân tài vật lực; còn trí thức thì được công nông binh đoàn kết với. Cho đến
năm 1986, là năm được xác định là nền kinh tế suy thoái bên bờ vực; Nhà nước
chia ruộng cho nông dân thì chỉ sau vài vụ, thóc gạo đã dư thừa cho xuất khẩu;
vâng, nông dân và trí tuệ Việt Nam đã đưa đất nước thoát khỏi miệng vực. Nói một
cách khác, Đảng đã đổi mới thành công, khác Perestroika của Liên Xô, cũng khác
Cải cách mở cửa của Trung Quốc là nhờ nông dân và trí tuệ Việt, nhờ “dĩ nông vi
bản” và công nhận năm thành phần kinh tế có mặt tại Việt Nam trước khi nhập khẩu
mô hình từ hai nước đàn anh.
PV: Ông biết đấy, đẩy đến tận cùng không phải là tính
cách Việt, hay ít nhất hành xử ấy không có trong tính cách bản xứ; người Việt
ta hay nửa vời, học mỗi anh một tí nhưng không chịu học ai đến đầu đến đũa.
Trong Sóng ở đáy sông của ông, lão Đại đã đẩy con mình đến đáy, nó
khiến tác phẩm căng cứng khiên cưỡng, tức là nó không thật. Lão Luật của Phùng
Khắc Bắc (Đời thường) thấu đáo hơn. Lão cũng độc đoán, gia trưởng và
nghiệt ngã với con, rất ích kỷ. Nhưng khi lão chết thì người con bị hắt hủi là
Thân chợt hiểu ra rằng, hoàn cảnh đã làm nên tính cách trái khoáy của bố cũng
như tình ruột thịt ẩn sâu trong con người nghiệt ngã của ông.
Lê Lựu: Chú lại bảo tôi áp đặt chứ gì? Cũng có bạn bè nói với
tôi như vậy và có thể họ có lý. Họ còn bảo nó vận vào tôi theo chiều ngược lại,
rằng tôi thì dồn tất cả cho cô vợ sau, còn vợ trước thì chẳng được gì. Cháu lớn
bây giờ đã bốn nhăm, tôi quả không giúp được nhiều cho cháu, ngoài việc đưa đón
cháu đi thi, đi vào đời (đường lối) thôi. Còn cô vợ sau thì mời đến năm gia sư
để dạy dỗ các cháu hằng tuần. Nhưng con tôi nó không học cái hay của tôi, nó chỉ
học cái dở của tôi thôi, lông ba lông bông, không làm cái gì nên hồn. Đến nỗi
chú H.Ư gọi điện bảo, anh cứ bảo cháu ở nhà rồi em trả lương thôi, chứ nó đến
cơ quan không những không làm nên cơm cháo gì, lại còn làm hư thêm đồng nghiệp.
Giờ đã hơn ba mươi, vẫn chưa yên bề nào. Nó tuyên bố từ tôi...
Ông nghẹn lời, rút cuộn giấy lau nước mắt. Tôi ngồi yên lặng
nhìn sang bên kia đường, cây quất cảnh chân lâng có hiu hiu gió; yên lặng mãi
cho đến khi tiếng chuông điện thoại ngắt dòng cảm thán trong người ông.
PV: Hình như mấu chốt nằm ở chỗ sự hiểu biết con người
có thấu đáo hay không. Tôi có đọc bài báo viết về việc ông nói nếu mẹ con mày
bán nhà thì trước khi bán phải viết giấy từ bố và nó đã viết (?) Ở đây lý thuyết
về nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình, về hiện tượng chưa hẳn là bản
chất đã đúng. Xin ông cứ tự hỏi chính ông, xem tận trong đáy sâu tâm hồn, liệu
ông có không còn coi nó là con, đứa con trai duy nhất? Tôi dám khẳng định là
còn tình ruột thịt dù ngay bây giờ ông có thể bực phẫn mà nói hắt đi. Tôi cũng
dám khẳng định về cháu như vậy. Trong cuộc đời, con người nhiều lúc phải gồng
mình để xử lý một bước ngoặt, nó luôn có xu hướng coi việc đang bế tắc của nó
là quan trọng bậc nhất, mọi cái khác chỉ còn là phụ, là thứ yếu. Con ông đang cần
tiền để chuyển vùng công việc, để mua nhà ở nơi nó chuyển đến; trong khi ông lại
đặt vấn đề tình bố con, nó sẵn sàng viết giấy để cái việc quan trọng bậc nhất
kia được giải quyết chóng vánh, mọi việc tính sau. Nếu bình thường, đến nay các
cháu đã gọi cho ông rồi, nhưng cái bài báo vô nhân kia đang đổ thêm dầu vào lửa.
Ông cứ nghĩ mà xem?
Lê Lựu: Ôi giời ơi, bèo tấm ra sông cái rồi chú ơi. Mà tôi
thì già mất rồi.
PV: Già là già thế nào. Cứ gọi là ông bảy mươi đi, lại
cùng lúc nhiều bệnh trong người; nhưng thuốc uống cả vốc mỗi ngày, trí tuệ
không còn được như xưa, đọc thuộc lòng cả một chương tiểu thuyết, nhưng sự nhạy
cảm đọc ý nghĩ của người khác còn tinh tường lắm. Ông còn lâu mới đi. Còn đủ
thì giờ.
Ông có nhớ cái truyện ngắn Pháp, viết thằng tù trở về nhà,
ngó qua cửa sổ thấy cô vợ mặc đẹp, mặt mũi tươi như hoa đang bày bàn ăn, trên
bàn có hai bộ thìa dĩa. Thằng tù lập tức coi bộ thìa dĩa thứ hai là dành cho
tình nhân của vợ và hắn liền bỏ đi. Nhưng ông có đọc ai bao giờ mà nhớ, để tôi
kể nốt ông nghe. Nhà văn viết kết truyện rằng, tôi viết truyện này để người tù
có đọc được, hay bạn đọc được mà gặp anh ta ở đâu, thì xin kể lại và nhớ bảo
anh ta rằng, bộ thìa dĩa thứ hai kia là cô vợ dành cho anh. Viên cảnh sát quận
đã báo cho cô biết từ sáng, là hôm nay anh sẽ trở về.
Vâng, nhà văn chỉ làm mỗi cái việc báo cho anh chồng về bộ
thìa dĩa thứ hai.
Nhà văn Lê Lựu
• Sinh ngày 12 tháng 12 năm 1942
• Quê quán: Xã Tân Châu, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
• Hoạt động: Nhập ngũ sớm, từng làm phóng viên báo Quân
Khu III, phóng viên mặt trận tại chiến trường 559. Đã theo học Trường Bồi dưỡng
Viết văn Quảng Bá (của Hội Nhà văn Việt Nam), làm biên tập viên, Trưởng ban Văn
xuôi rồi Thư ký tòa soạn tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Về hưu với quân hàm Đại
tá. Hiện là Giám đốc Trung tâm Văn hóa doanh nhân Việt Nam.
• Tác phẩm đã xuất bản: Người cầm súng (truyện ngắn,
1970); Phía mặt trời (truyện ngắn, 1972); Đánh trận núi Con Chuột (truyện
dài thiếu nhi, 1976); Mở rừng (tiểu thuyết, 1977); Ở phía sau
anh (tiểu thuyết, 1980); Ranh giới (tiểu thuyết, 1977); Campuchia
một câu hỏi lớn (truyện ngắn, 1979); Đồng bằng chiến sĩ (truyện
ký, 1980); Thời xa vắng (tiểu thuyết, 1986); Mặt trận của người
lính (truyện ngắn, 1986); Một thời lầm lỗi (bút ký, 1988); Trở
lại nước Mỹ (bút ký, 1989); Đại tá không biết đùa (tiểu thuyết,
1990); Chuyện làng Cuội (tiểu thuyết, 1993); Sóng ở đáy sông (tiểu
thuyết, 1994); Hai nhà (tiểu thuyết, 2000); Thời loạn (2009); Chuyện
quê ngày ấy (tiểu thuyết, 2010).
• Giải thưởng: Giải Nhì (không có giải Nhất) cuộc thi truyện
ngắn báo Văn Nghệ (1967-1968) với truyện ngắn Người cầm súng. Giải
A Hội Nhà văn Việt Nam (1984) với tiểu thuyết Thời xa vắng. Giải Nhất cuộc
thi do Bộ Lao động Thương binh Xã hội, Hội Nhà văn Việt Nam và Bộ Văn hóa tổ chức
1970-1971 với truyện vừa Người về đồng cói. Giải thưởng Nhà nước về Văn
học nghệ thuật đợt I năm 2001.
Người có “trái tim không ngủ”
Tôi biết Ma Trường Nguyên trước là bởi cái tên (cũng là bút
danh) khá ấn tượng, chứ chưa phải bằng tác phẩm. Ngày ấy khi vào tạp chí Văn
Nghệ Việt Bắc gửi bài, tôi nhìn thấy một người cao lêu đêu và gầy đến mức
không thể gầy hơn. Mọi người giới thiệu với tôi đó là Ma Trường Nguyên, làm
thơ, biên tập viên của tạp chí (ngày ấy người ta không có kiểu giới thiệu ai
cũng “nhà thơ” như bây giờ).
Tuy đã là cộng tác viên khá thân thiết của tạp chí Văn
Nghệ Việt Bắc, nhưng vì viết văn xuôi nên tôi cũng ít gặp gỡ, trò chuyện với Ma
Trường Nguyên. Từ ngày anh học trường Viết văn Nguyễn Du về, cùng công tác với
tôi ở phòng xuất bản thuộc Sở Văn hóa Bắc Thái, chúng tôi mới thực sự có điều
kiện gần gũi và hiểu nhau nhiều hơn.
Công tác cùng anh khá lâu năm, có lúc buồn, lúc vui, lúc yêu
quý nhau và cũng có lúc không hiểu hết nhau nhưng tôi chưa bao giờ thấy anh thù
ghét, đố kỵ với bất kỳ ai. Có người nói Ma Trường Nguyên tính hiền lành từ
trong bụng mẹ, có lẽ chính xác chăng. Nhưng điều làm tôi quý trọng anh hơn cả
là tinh thần làm việc quên mình. Ngày ấy kinh tế quá khó khăn. Gia đình Ma Trường
Nguyên, vợ không có việc làm chính thức, bốn cô con gái, đứa đang tuổi ăn học,
đứa mới sinh. Đồng lương còi cọc và nhuận bút nhẹ như lông hồng thời ấy không đủ
để anh cáng đáng cuộc sống gia đình. Vì vậy, anh luôn lâm vào cảnh thiếu thốn.
Nhiều lần tôi thấy trong thùng gạo nhà anh chỉ chỏng chơ vài bơ bột mì mốc mà
anh vẫn điềm tĩnh ngồi viết cho xong một chương tiểu thuyết trong lời kỳ kèo của
vợ, trong tiếng khóc của con nhỏ. Giăng sáng, Đời thừa... của Nam Cao
từng mô tả cái khổ của nhà văn nhưng dù sao đó vẫn chỉ là tác phẩm văn chương.
Còn cảnh khổ của nhà thơ Ma Trường Nguyên trong mắt tôi là bằng xương bằng thịt,
bằng nỗi vất vưởng cơ cực có thật trong đời. Có một chuyện cách đây đã hơn ba
chục năm mà tận bây giờ tôi vẫn nhớ không sót một chi tiết. Đó là cái lần anh
ngồi miệt mài hai mươi ngày bên bàn viết để cố hoàn thành cuốn tiểu thuyết Mũi
tên ám khói, người anh gầy tọp hẳn đi. Hôm ấy gặp tôi, anh vừa nhăn nhó cười vừa
nói:
- Hôm nay vợ tớ đánh liều ra chợ mua hẳn... ba lạng thịt ba
chỉ về bồi dưỡng cho tớ đấy. Ông có biết thế nào không? Ăn miếng thịt đầu tiên
mình thấy ngay một cảm giác là các tế bào ở má như bỗng từ từ... nở ra, như miếng
bánh mì khô gặp nước. Tớ nói thật đấy, không hề bịa đâu.
Tôi cũng nhăn nhó cười. Vui quá mà cũng buồn quá. Không hiểu
làng văn cả nước và ở Thái Nguyên có ai như anh không?
Hồi ấy, anh đã từng tuyên bố một lời độc nhất vô nhị rằng:
“Chỉ cần hai thứ: bột mì và thuốc lào là Ma Trường Nguyên có thể ngồi viết văn
và làm thơ suốt đời.” Bây giờ nghĩ lại mới thấy hoảng và thấm đẫm chất bi hài.
Khi sáng tác văn chương thì Ma Trường Nguyên có vẻ xông pha hết
mình như vậy. Nhưng thật lạ, trong công tác cũng như trong cuộc sống đời thường
anh lại rất nhút nhát, cả nể, thích dĩ hòa vi quý. Tôi còn nhớ một lần bài thơ
viết về một nhân vật anh hùng lịch sử của anh do tôi biên tập, khi đưa duyệt bị
ông phó giám đốc sở văn hóa (một ông chỉ quen làm kinh doanh chứ không hề hiểu
văn chương) phê câu thơ “tung cần câu vỡ nắng mưa”. Ông ta bảo sao lại “vỡ” nắng
mưa? Nắng mưa có phải là cái chén cái bát đâu mà vỡ được. Tôi nói lại với anh
chuyện ấy và kiên quyết “vượt quyền” giữ lại từ “vỡ” rất hay ấy. Vậy mà anh bảo:
“Thôi, rách việc lắm! Ông cứ sửa lại cho tôi thế nào cũng được.”
Một chuyện nữa nói về cái tính rụt rè, lúc nào cũng mong sự
bình an của anh. Đó là cái ngày anh đã trở thành phó giám đốc Sở Văn hóa kiêm
chủ tịch lâm thời Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên. Ngày ấy, ban thường
vụ của hội phải thường xuyên đi vận động hội viên để tiến tới đại hội chính thức.
Một lần tôi và Ma Trường Nguyên có công việc phải đến nhà một hội viên nữ xinh
đẹp nổi tiếng lúc bấy giờ. Đã ra khỏi phòng nhà anh hơn trăm mét, anh ngần ngừ
nói với tôi đợi anh trở về lấy chiếc cặp. Quên cặp, về lấy là chuyện thường
thôi, nhưng anh nói với tôi, rất thành thật:
- Thực ra cũng chẳng có việc gì phải dùng đến cặp đâu. Nhưng
mình đến nhà nó tay không thế này sợ tay chồng lại tưởng mình thích vợ nó đến
tán tỉnh chứ không phải là đi công tác hội.
Trời ơi! Có ai cẩn trọng như Ma Trường Nguyên của tôi nữa
không?
Nhưng đúng Ma Trường Nguyên là thế. Cẩn trọng, chỉn chu, luôn
sợ người khác hiểu lầm mình.
Có một chuyện nữa: Ấy là cái năm Sở Văn hóa Bắc Thái xuất bản
cho Ma Trường Nguyên tập trường ca Mát xanh rừng cọ, là một tác phẩm khá
tâm huyết viết về quê hương anh. Năm ấy là năm đổi tiền. Tập trường ca của Ma
Trường Nguyên không may lại rơi vào đúng thời điểm giáp ranh giữa tiền cũ và tiền
mới. Nếu lấy nhuận bút theo biểu tiền cũ thì việc chi tiêu lúc ấy sẽ thiệt gấp
mười lần. Lúc ấy, tôi phụ trách phòng xuất bản, thấy Ma Trường Nguyên luôn khó
khăn nên vẫn kê theo giá nhuận bút mới. Thực ra tập sách cũng chỉ xuất bản chậm
đôi ba ngày theo quy định, nếu tính theo biểu nhuận bút cũ thì quá thiệt thòi
cho anh. Vậy mà Ma Trường Nguyên kiên quyết gạt đi. Tôi còn nhớ như in câu nói
của Ma Trường Nguyên ngày ấy: “Thôi! Tham làm gì. Tiền tiêu nhiều hay ít thì
cũng đều hết cả.” Cuối cùng vì trả theo biểu cũ nên nhuận bút cái trường ca của
anh hồi ấy chỉ có giá trị bằng hai bát phở (khoảng 40.000đ bây giờ). Ai nghe kể
về chuyện này cũng lắc đầu xin chào thua. Nhưng Ma Trường Nguyên là thế. Vậy mới
có một thời người ta lưu truyền nhau câu nói như một... phương ngôn: “Ông lãnh
đạo nào mà chẳng có chút xà xẻo, trừ phó giám đốc Ma Trường Nguyên.”
Khi được tỉnh giới thiệu và anh chị em hội viên tín nhiệm
trong đại hội Văn học nghệ thuật tỉnh lần thứ III bầu làm chủ tịch, tôi thấy Ma
Trường Nguyên mừng ít mà lo nhiều. Bao năm chỉ làm cấp phó, nay lĩnh trách nhiệm
người đứng đầu cơ quan, hình như anh chưa có sự chuẩn bị cho chuyện này. Mà
đúng vậy, Ma Trường Nguyên thường nói đùa với bạn bè:
- Thực ra, tớ “bị” người ta cho làm lãnh đạo chứ không hề có
một ngày phấn đấu hoặc chuẩn bị tâm lý để giữ một chức vụ nào đó.
Tôi biết những lời của anh là rất thật lòng chứ không có chuyện
làm duyên làm dáng.
Nói vậy, nhưng khi làm việc anh lại luôn lo lắng đến mức tối
đa để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Không hiểu có phải vì cương vị mới đã làm Ma Trường
Nguyên phải gắng gượng hơi quá sức không mà suốt năm năm làm chủ tịch hội, Ma
Trường Nguyên chỉ làm được hơn chục bài thơ in báo. Còn văn xuôi thì không viết
nổi lấy một trang. Mà chỉ ngay thời gian trước đó ít lâu thôi anh đã cho xuất bản
tới bảy cuốn tiểu thuyết khá dày dặn trong vòng dăm năm. Đặc biệt điều dễ nhận
thấy nhất trong việc này là mái tóc của anh trước khi sang làm lãnh đạo hội còn
lấp ló xanh vậy mà mới bốn, năm năm qua đi đã thành trắng xóa như bông. Thì ra
làm lãnh đạo cũng chẳng sung sướng gì, nhất là đối với những người hình như
sinh ra chỉ để làm thơ, viết văn như Ma Trường Nguyên.
Trong đời văn, Ma Trường Nguyên viết khá nhiều thể loại: Thơ,
tiểu thuyết, ký, truyện thiếu nhi, phê bình tiểu luận. Ở thể loại nào anh cũng
có những đóng góp đáng kể. Tiểu thuyết Ma Trường Nguyên không dữ dội mà thường
phảng phất buồn, đậm chất trữ tình. Bởi vậy, thường không thích hợp với những độc
giả ưa “nhịp mạnh”. Nhà lý luận phê bình Lâm Tiến đã có đánh giá rất chính xác
về tiểu thuyết anh: “Ma Trường Nguyên rất phong phú về vốn sống, rất am hiểu về
văn hóa, văn học dân gian của dân tộc Tày. Đó không phải nhà văn dân tộc nào
cũng có được. Chính sự phong phú đó đã làm cho những trang tiểu thuyết của anh
sống động với những nhân vật, những phong tục, tập quán nhiều màu, nhiều vẻ.”
Chính bởi những điểm mạnh ấy mà tiểu thuyết Rễ người dài của anh, năm
1996 đã đoạt giải thưởng của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ
thuật Việt Nam. Nhưng có lẽ ở anh, thành công hơn cả vẫn ở phía thơ. Gần một chục
tập thơ, bài hay xen bài chưa hay, nhưng dù sao, cũng đã nói lên “trường lực” của
anh về thể loại văn học này. Cũng như ở tiểu thuyết, thơ Ma Trường Nguyên luôn
trở nên rất đặc sắc khi chạm vào đời sống văn hóa, tâm lý, phong tục người dân
tộc Tày. Nhưng với những người bạn văn tâm huyết khi đọc thơ Ma Trường Nguyên
thường có một ước ao, giá như anh khơi sâu thêm, vận công, ráo riết nhiều hơn nữa
vào loại thơ đậm chất tâm hồn Tày này thì chắc chắn sẽ có một Ma Trường Nguyên ở
một tầm cao khác. Gần đây, bài thơ Lòng đi yêu về thôi của anh viết về
đề tài này được nhà thơ Hữu Thỉnh nhận xét là một bài thơ toàn bích. Có thể có
người cho rằng nhà thơ Hữu Thỉnh khen động viên, nhưng ở trường hợp này có thể
đảm bảo đó là một lời khen chân tình và hoàn toàn chính xác. Bài thơ đã có sự gặp
gỡ ngoạn mục, nhuần nhuyễn giữa truyền thống với hiện đại, vô thức và hữu thức.
Có thể nói, đó là một trong không nhiều những bài thơ hay nhất ở Việt Nam. Cũng
hơi tiếc là Ma Trường Nguyên đã sa đà vào nhiều thể loại, thiếu tập trung nên
những bài thơ thành công như vậy còn quá ít, chưa đủ sức tạo ra một tác giả lớn.
Nhưng mà thôi, mơ ước vẫn chỉ là mơ ước. Dù thế nào thì Ma Trường Nguyên cũng
đã đi gần trọn sự nghiệp sáng tạo của mình. Anh đã có nhiều đóng góp cho văn
chương Thái Nguyên nói riêng và văn chương cả nước nói chung. Mà vẻ như Ma Trường
Nguyên cố công sáng tạo không chỉ vì cái danh. Đúng như lời tự bạch của anh
trong tập sách Nhà văn Việt Nam hiện đại: “Tôi viết để giữ ấm lòng mình đến với
người khác. Tôi cầu mong con người sẽ cần con người hơn. Khi gọi lên lại tìm thấy
nhau, thấy khuôn mặt người, được nắm chặt bàn tay niềm tin ấm rực hơi người
trong cuộc đời thường nhật khuất lấp muôn mặt, muôn hình.”
“Tôi viết để giữ ấm lòng mình!” – một lời tự bạch chừng như
quá giản đơn nhưng không phải ai cũng thực hiện nổi. Văn chương vốn là một nghề
nhiều chông gai, trắc trở. Để đánh đổi một tác phẩm được công chúng mến mộ nhiều
khi tác giả phải tình nguyện nhận vào lòng mình bao nỗi vất vả nhọc nhằn cùng
những thua thiệt trong cuộc sống. Thế nhưng, trong lòng thành phố Thái Nguyên
nhỏ bé bên con sông Cầu thơ mộng này đã có một nhà thơ muốn trải rộng lòng mình
với từng góc phố, con đường, với mỗi hàng cây bằng những vần thơ chân thành, chất
phác nhất.
Ngày sắp về hưu, Ma Trường Nguyên bỗng nói với tôi bằng những
lời “gan ruột”:
- Hồ Thủy Giang ạ, tôi với ông đã từng chìm nổi, mặn nhạt
cùng nhau, ân oán cũng nhiều, nhưng cuộc đời công tác coi như là đã trọn vẹn.
Ông còn nhớ tập thơ của tôi do ông biên tập không? Cái tên tập thơ Trái
tim không ngủ là do ông đặt giúp tôi. Có người khen mà cũng có người chê,
nhưng tôi thì rất thích cái tên sách ấy. Vì quả thật trái tim văn chương của
tôi chưa bao giờ ngủ yên.
Tôi cảm động. Ma Trường Nguyên gợi lại tập thơ Trái tim
không ngủ đã xuất bản gần ba mươi năm về trước. Còn tôi, sao có thể quên
được tập thơ đầy hồn nhiên của anh ngày ấy. Nhưng điều quan trọng hơn, tôi muốn
nói với anh bằng một lời chúc phúc: Anh – một nhà thơ, hãy mãi mãi để trái tim
thức cùng năm tháng./.
Nhà văn Ma Trường Nguyên (phải)
• Dân tộc Tày
• Sinh ngày: 17-5-1944
• Quê quán: xóm Đồng Chẩn, xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
• (Hiện thường trú tại tổ 20, phường Thịnh Đán, thành phố
Thái Nguyên)
• Hoạt động: hội viên Hội Nhà văn Việt Năm từ năm 1993; hội
viên Hội Văn học Nghệ thuật các Dân tộc Thiểu số Việt Nam; phóng viên chiến
tranh của báo Quân Khu III.
• Tác phẩm chính:
• Giải thưởng: giải thưởng Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội
Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật các Dân tộc Thiểu số Việt
Nam, giải thưởng Văn học Nghệ thuật 5 năm của tỉnh Thái Nguyên...
Tiếng gọi của cuộc sống
Cách mạng và kháng chiến đã giúp Ma Văn Kháng có một trải
nghiệm vô giá. Vào lứa thiếu niên, mười ba tuổi, tham gia Thiếu sinh quân. Học
tập, sinh hoạt, rèn luyện nghiêm túc, kỷ luật với đòi hỏi cao về nhân cách lẫn
về tư tưởng, đạo đức, ý chí cả về tâm hồn, tấm lòng để có thể đủ trí lực, tâm lực
và năng lực hành động.
Nhà giáo trẻ náo nức vào đời với một tâm nguyện, ý chí hồn
nhiên, dũng cảm: xung phong lên dạy học ở miền núi cực Bắc đất nước, nơi ẩn chứa
bao gian nan thách thức. Cái gan dạ có pha chút phiêu lưu, mạo hiểm của tuổi
thanh niên. Bởi dần dà, anh nhận ra đó là vùng đất “dữ dội” còn nhiều nét
“hoang sơ” của lịch sử. Và cuộc đấu tranh giai cấp, cuộc đối đầu địch ta ở đó
khốc liệt đặc biệt.
Thầy giáo lên nhận nhiệm vụ hôm trước thì hôm sau nhận súng
ra gác ở cầu Cốc Lếu, đề phòng thổ phỉ, biệt kích từ thượng nguồn thả mìn về
phá cầu. Rồi vừa dạy học vừa tham gia tiễu phỉ, cải cách dân chủ – tức dạng cải
cách ruộng đất đặc biệt ở miền núi. Có mùa hè suốt ba tháng lặn lội khắp miền,
khắp nẻo vùng sâu, vùng xa làm thuế nông nghiệp, “ba cùng” với nhân dân các bộ
tộc. Tất cả hoạt động giáo dục, hoạt động xã hội đã làm nên cốt cách Ma Văn
Kháng. Đó là thời đoạn đầu đời để làm mình. Gần như đó là quãng thời gian
quan trọng nhất trong tất cả trải nghiệm cuộc đời sau này đối với anh. Đây là
cuộc khởi đầu tự đào tạo để có được đồng thời hai nhân cách: nhân cách con
người – con người công dân, con người đạo lý và nhân cách ông thầy.
Trong tác phẩm Bến bờ (2011), Điền đã tức giận quát một đồng đội khi
có biểu hiện thấp kém nhân cách của chiến sĩ công an: “Đồ khốn nạn! Mày không đủ
tư cách làm người sao lại dám ở nghề này!...” Đó là tuyên ngôn nhân văn cũng là
tâm niệm của nhà văn. Trong cuộc sống, làm người, làm thầy là quá trình song
hành. Cũng như sau này quá trình làm người đồng hành với làm văn.
Sau hơn hai mươi năm làm nghề dạy học ở miền ngược, từ 1976,
Ma Văn Kháng về xuôi, sống giữa thủ đô, chính thức làm nghề viết. Trung tâm
kinh tế, văn hóa, chính trị sau chiến tranh và đến thời đổi mới có biết bao diễn
biến sôi động và phức tạp.
Vốn sống trước kia và hiện nay tổng hợp thành kho trải
nghiệm đồ sộ, tạo nên chất liệu sống động, phong phú cho văn chương. Cốt cách
cũng là nhân cách nhà văn lên tiếng: “Sống đã rồi hãy viết”. Không ai dám nói
là sống đủ. Bởi còn phải sống với cuộc đời thiên biến vạn hóa – nhưng nhà văn
là người sống kỹ lưỡng, sống thực, sống hết mình trong mỗi khoảnh khắc của
thời gian vô tận. Sống là phải quan sát đa diện, đa chiều, từ dưới lên, từ trên
xuống, từ trong ra, từ ngoài vào. Phải lặn ngụp tới đáy cuộc sống đi đến tận
cùng thế giới tâm hồn. Nghĩa là sống với tất cả trí tuệ, tâm hồn, cảm xúc và
nhiều khi với cả những linh cảm, tiên tri, với tất cả cung bậc tình đời. Đặc biệt,
theo nhà văn, phải thấm thía nỗi đau nhân tình thế thái. Ai đó đã nói, đại ý:
trong tất cả tác phẩm, chỉ có mỗi nhà văn, chỉ còn lại nhà văn. Tất cả nhân vật
không kể trong hồi ký – tự truyện, tiểu thuyết tự truyện, còn lại đều là cái
tôi, bóng hình của chính tác giả. Có tin yêu, tự hào, hãnh diện, cũng kiêu
hùng, oai vũ nhưng có cả băn khoăn, bức xúc, thậm chí xót xa, tiếc nuối, ngậm ngùi,
tức giận và căm ghét nữa... Rồi cả mặc cảm cô đơn xen lẫn khoái cảm hồn nhiên,
hồi hộp, ngỡ ngàng... Nghĩa là sống với nhân vật đến tận cùng tâm hồn. Ma Văn
Kháng làm nên mình còn nhờ vốn văn hóa – văn hóa hiểu theo nghĩa rộng
– không chỉ là chữ nghĩa nhà trường mà là những tri thức, kiến văn lớn rộng, nhận
từ cuộc đời.
So với nhiều bậc đàn anh, phải nói rằng Ma Văn Kháng được đào
tạo bài bản. Nhà trường Đại học tạo cho anh một cái vốn cơ bản, có được hiểu biết
cần thiết về văn học cổ kim, đông tây. Rồi trường Viết văn bồi dưỡng thêm tri
thức về nghề nghiệp. Làm biên tập và tổng biên tập báo, rồi nhà xuất bản, giúp
cho anh rèn giũa văn chương “làm thầy” người viết về câu chữ, yêu cầu nghiêm nhặt
về diễn tả, biểu cảm, thể hiện để đạt độ cao hàm súc cũng là vẻ đẹp văn chương,
đòi hỏi một tầm cao về cảm thụ và phân tích. Nhiều năm phụ trách tạp chí Văn
Học Nước Ngoài lại đưa anh đến nhiều chân trời mới lạ, học tập được thêm
tinh hoa văn chương thế giới, những khuynh hướng, những trào lưu hiện đại.
Nhưng tất cả chỉ có thể bồi đắp cho cái cốt lõi nhân
cách văn chương Ma Văn Kháng. Đời viết là sự phát huy năng lượng cốt cách ấy.
Hồi học ở Đại học Sư Phạm, hứng thú sáng tạo trong nghệ thuật
ngôn ngữ ở anh sinh viên Văn khoa như được chắp cánh. Một lần thầy trò Khoa văn
nghe Nguyễn Tuân nói chuyện, kể về Chém treo ngành, ông lưu ý người đọc
hình ảnh cuối cùng: trận gió lốc xoáy tung chiếc mũ trắng của quan công sứ ném
xuống pháp trường. Nhà văn nhún vai: “Chữ đẩy, có mắt mà không biết đọc” để ngầm
phản bác người chê ông mắc bệnh bàng quan chủ nghĩa. Thế là cái “làn gió vô
hình” ấy cứ cuốn bay mãi để đến lúc trở thành một “cơn lốc” trong tâm tưởng Ma
Văn Kháng. Anh sinh viên trẻ đã “manh nha nhận ra một cái gì đó đang hình thành
trong mình, lập nên một cấu trúc khiến mình sẽ khác đi rất nhiều”. Để ít lâu
sau, vừa cầm phấn, vừa cầm bút và rồi cây bút soạn giáo án tạm biệt nhà trường
trở thành cây bút viết văn nổi danh.
Ma Văn Kháng trưởng thành một phần không nhỏ là nhờ ở sự chỉ
bảo, tâm truyền, khẩu truyền của các bậc đàn anh. Nhà văn chân thành học tập ở
đồng nghiệp, kể cả các bạn trẻ, nhưng đặc biệt là tầm sư học đạo các bậc trưởng
lão. Ma Văn Kháng đi miền núi cũng vì mê Truyện Tây Bắc, mê cảnh, mê người
một vùng quê của sáng tác văn chương. Nhà văn rất mến phục Tô Hoài, người như
đã mời gọi, dắt tay anh vào một nẻo văn chương. Học hỏi thực sự, thấm nhuần và
sáng tạo với niềm hãnh diện chân chính, anh viết về một vùng quê hương thân thiết
và tự nhận đó là cái “miền núi của mình”, mang dấu ấn đặc sắc riêng. Sau Tô Hoài,
có thể coi Ma Văn Kháng là người tiếp tay, tiếp sức mạnh mẽ để tạo ra một dòng
văn học mang hương vị, sắc thái miền núi.
Về ngôn ngữ, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Nguyễn Tuân đã được mệnh
danh là các bậc thầy. Ma Văn Kháng là lớp hậu sinh ưu tú. Phong Lê nhận xét: “Đặc
biệt là ngôn ngữ, nếu muốn tìm đến sự phong phú của ngôn ngữ – áp cận được vào
thời hiện tại tôi nghĩ cần đọc Ma Văn Kháng, và trước đó là Tô Hoài”.
Cứ qua tác phẩm thì thấy sức đọc, sức học của Ma Văn Kháng là
rất lớn. Anh đã khuyên nhà văn trẻ phải đọc sách vì “dưới một quyển sách bao giờ
cũng là một quyển sách khác”. Một cách học hiệu nghiệm khác là tìm hiểu qua dư
luận bạn đọc, nghiên cứu nghiêm túc, cặn kẽ những tiểu luận phê bình, nghiên cứu
về sáng tác của mình. Có câu châm ngôn đại ý: người khen ta là bạn ta, người
chê đúng ta là thầy ta. Trong kho tài liệu của nhà văn chắc chắn có bộ “sưu tập
phê bình” về Ma Văn Kháng, nhiều khi còn phong phú hơn cả ở các thư viện. Bởi
nhà văn lưu giữ cả những tài liệu còn là bản thảo đánh máy chữ hoặc chép tay,
tóm lại là những tư liệu quý hiếm, nằm trong dư luận bạn đọc. Từ mục Thư bạn đọc:
Một cuốn sách cần được luận bàn rộng rãi đăng trên Lao Động ngày 9-11-1989 được
tác giả ghi chú: Bài báo đầu tiên nói về cuốn Đám cưới không có giấy giá
thú đến hàng loạt bài thảo luận trên Văn Nghệ số 6 ngày
10-2-1990 v.v...
Và hồ sơ đầy đủ của những tác phẩm khác. Bộ hồ sơ này chắc
cũng đồ sộ lắm. Do công phu sưu tầm kể cả trong “bếp núc” của các tòa soạn. Rồi
bè bạn và bạn đọc gửi cho vì yêu mến. Tất nhiên có cả những phản biện, phản
bác, chê bai, đả kích hết lời.
Việc lưu lại những ý kiến người đọc như vậy thể hiện trước hết,
trên hết là thái độ nhà văn thực sự cẩn thận, lắng nghe, học hỏi để thấy cái được
và chưa được, cái đã rõ và chưa rõ. Tấm lòng lại rộng mở. Có lẽ Ma Văn Kháng muốn
thêm vào câu châm ngôn: những người chê ta mà không có ác ý, cũng là thầy ta.
Ma Văn Kháng còn viết phê bình, tiểu luận. Nhà văn cũng đọc
tác phẩm của bạn viết. Đó cũng là “một cửa sổ nhìn ra thế giới” văn chương. Rải
rác qua sáng tác và phê bình, tiểu luận, Ma Văn Kháng đã phát biểu nhiều về quan
niệm viết, quan niệm nghệ thuật bộc lộ lý tưởng thẩm mỹ, tư tưởng nghệ thuật.
Nhà văn tự phòng vệ mình bằng một ý tưởng triết lý: “Sống còn
để mang thương tích” đâu chỉ “để ra lộc, ra hoa”. Ma Văn Kháng là nhà văn có bạn
đọc rộng rãi, là người cầm bút được mệnh danh là “người khuấy động văn đàn Việt
Nam hiện đại”, ra tác phẩm nào cũng gây được xôn xao, gây “sốt”, gây “sốc”
trong ngoài văn giới. Đó là một thứ “quyền uy” rất đáng yêu mà nhà văn tạo dựng
được bằng cả nhân cách và đời viết.
Cuộc đời thành đạt chính vì “Có sự tương hợp giữa sự thành
nhân và đắc đạo văn chương” như tâm sự của nhà văn. Tích cực nhập cuộc, dấn
thân, Ma Văn Kháng là một trong số ít ỏi chiến sĩ một mình một ngựa dáng dấp
“oai vũ”, “cô đơn” xung trận từ thời trước Đổi mới. Cũng là một trong những ngọn
cờ cách tân văn xuôi hiện đại đang còn tiềm ẩn nhiều xung lực. Tuổi cao, sức
khỏe luôn bị đe dọa nhưng tôi tin rằng nhà văn chưa chịu “rửa tay gác kiếm”.
Ma Văn Kháng còn viết.
Nhà văn Ma Văn Kháng
• Tên khai sinh: Đinh Trọng Đoàn
• Ngày sinh: Sinh ngày 1 tháng 12 năm 1936
• Quê quán: Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội.
• Đời hoạt động: Năm 1948: Đội viên đội Truyền bá Vệ sinh, Cục
Quân y. 1949: Học sinh trường Thiếu sinh quân Việt Nam. 1952-1954: Học sinh trường
Sư Phạm Khu học xá Nam Ninh (Quảng Tây – Trung Quốc); 1955-1959: Hiệu trưởng
trường cấp II Thị xã Lào Cai. 1960-1963: Sinh viên trường Đại học Sư Phạm Hà Nội.
1963: Hiệu trưởng trường cấp III Lào Cai; 1968: Cán bộ Văn phòng Tỉnh ủy Lào
Cai; 1976: Biên tập viên nhà xuất bản Lao Động; 1978-1994: Phó giám đốc, Tổng
biên tập nhà xuất bản Lao Động; 1995-2005: Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt
Nam (Khóa V và khóa VI); Tổng biên tập, Chủ nhiệm tạp chí Văn Học Nước
Ngoài; 2006: Phó giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng Viết văn Nguyễn Du.
• Các tác phẩm chính: 10 tập truyện ngắn, trong đó có các tập: Trăng
soi sân nhỏ, Móng vuốt của thời gian, Một chiều dông gió... 12 tiểu thuyết,
trong đó có: Đồng bạc trắng hoa xòe, Vùng biên ải, Gặp gỡ ở La Pán Tẩn,
Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú, Côi cút giữa
cảnh đời, Chó Bi, đời lưu lạc, Ngược dòng nước lũ, Một mình một ngựa... Hồi
ký: Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương.
• Giải thưởng: Giải thưởng Văn học Đông Nam Á (ASEAN) năm
1998. Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, đợt I, năm 2001. Giải thưởng
Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số năm 2002 và 2003. Giải thưởng Hội
Nhà văn Hà Nội năm 1986 và năm 2009.
Một trần gian trắc ẩn và ám ảnh
Bữa cơm cháy với dưa chua xào đã không hội đủ được năm người.
Ông Thiệp lỡ hẹn: phải vào Sài Gòn đưa đám người anh ruột, một sĩ quan quân đội
cao cấp trong Hải quân. Nghe nói là nguyên mẫu của Tướng về hưu 1987.
Khi ông Thiệp trở ra Hà Nội, có người muốn dựng lại cái lỡ hẹn hôm trước. Ông
Thiệp qua điện thoại bảo tôi xuống nhà ở Khương Hạ dùng bữa trưa nhạt cho vui.
Đi hết đường Khương Hạ, dọc con sông Tô Lịch nước lúc nào
cũng đen kịt như nước điếu, mới thoát được vào phố Bùi Xương Trạch ngoắt ngoéo
và đầy bất ngờ hơn cả những lối ngõ cổ xưa. Ông Thiệp đầu trần, áo cộc tay kẻ
ca rô nhạt sọc lớn, quần soóc, tất tả ra đầu ngõ đón khách. Tư gia của ông lọt
thỏm trong chi chít những ngõ là ngõ. Ngõ to, ngõ nhỏ chẳng ra hàng lối gì cả.
Cờ quạt, quán xá mở ra nhiều vô kể. Trời tối vào đây lạc là cái chắc. Không phải
là phố, chẳng phải là làng, thỉnh thoảng lại có cổng gạch cửa gỗ cũ kỹ như ngõ
vào chốn thuở xưa. Không hiểu cái ngõ như đường đi trên trần thế này có in dấu
má riêng gì trong văn chương của ông ấy hay không?
Giữa khoảng sân rộng trước nhà đặt một pho tượng Phật ngồi
màu xám. Trên bệ trần trước Tượng, một vòng hương đang lặng lẽ cháy dở. Ông Thiệp
hiền hậu và khiêm nhường khác xa những gì trong văn chương ông viết. Hàng râu
con kiến vừa thưa vừa bạc trào lộng trên khuôn mặt của ông. Đã dăm lần gặp Thiệp,
tôi không thể đọc được thần sắc đặc biệt trên khuôn mặt ấy. Có lần ông nói gốc
gác xa xưa của tổ tiên là người Chăm. Họ theo quan quân nhà Trần về lập nghiệp
vùng Khương Hạ bây giờ.
Có thời kỳ người ta dị ứng với ông. Không chỉ do ông lấy cái
nọ cái kia gí vào thi ca mà dường như còn cả sự nhẫn tâm lạnh lùng của ông
trong văn phẩm nữa. Ví như ông miêu tả cái chợ phân ở chốn ngoại thành xót xa đến
rợn người. Cử chỉ của người có tên là Móng cầm cái đũa cái ngoáy thùng đưa lên
mũi ngửi và màn đập nhặng đầy phúng dụ nữa. Dù nhà văn có gắn việc ngửi ấy với
nghiệp chướng tình ái của anh lính Móng chăng nữa cũng không xua hết mặc cảm của
người đọc.
Thực ra, chìm sâu dưới những dòng chữ tưởng như nhẫn tâm kia
là tấm lòng vật vã và đau đớn của nhà văn với sự khổ sở cùng cực của con người.
Cánh nhà văn, nhất là những người thâm trầm như Thiệp, khó mà đo được sự nông
sâu, rộng hẹp của cái bề kiến văn nhiều khi ánh lên sự bỡn cợt chua cay của tạo
hóa dưới con mắt người đời.
Hết một tuần trà, ông Thiệp dẫn khách đến bên trái ban thờ
treo hai tấm bằng chứng nhận trên tường. Một của Bộ Văn hóa thông tin Cộng hòa
Pháp về Huân chương hiệp sĩ. Một chứng thực giải thưởng văn chương Nonino nước
Ý cho ông. Tủ sách bằng gỗ tốt đóng theo lối cổ đặt ở sát tường bên đối diện với
hai giải văn chương. Một hàng sách mỏng, chủ yếu in ở nước ngoài tác phẩm của
Thiệp vừa dàn đủ ở ngăn chính giữa. Ngoài ra không còn một tác phẩm nào của ông
được cất giữ. Thực là niềm hạnh phúc của nhà văn. Ông không phải ôm sách ế của
mình trong nhà mình. Việc đó nó vừa tủi thân, vừa thách thức, vừa giễu cợt, vừa
cảm thông... Có nhà văn khá nổi tiếng được giải hẳn hoi mà văn không bán được
chất đầy gầm bàn, gầm ghế. Một nữ sĩ già nghẹn ngào nói: Thơ làm ra chỉ đem biếu.
Vẫn còn một đống đắp chiếu trong buồng. Chao ôi! Nhà văn là nhà văn! Họ sinh hạ
ra những đứa con tinh thần trong sự dằn vặt, đau đớn rụng cả tóc. Họ chỉ mong
chúng đi đó, đi đây khắp thiên hạ, quanh quẩn trong xó nhà thì phỏng có ích gì?
Ông Thiệp bán được nhiều sách nhưng nghèo vẫn hoàn nghèo. Tài
sản của ông chẳng có gì đáng giá, ngoài bức tượng ngồi giữa sân. Đám đất của tổ
tiên đã bán để làm nhà cho con trai ở Khương Hạ rồi. Ông bảo: Vừa nhận được
lương hưu cách đây một, hai năm. Hỏi bao nhiêu, ông khoe được một triệu ba trăm
nghìn đồng. Số tiền gần bằng hoặc nhỉnh hơn mức lương tối thiểu của người làm
công ăn lương thời bây giờ. Mức thu nhập ấy, chính thức đưa nhà văn gia nhập đội
ngũ đông đảo những người cần lao của đất nước này. Ông nói tới sự tri ân bà Kim
Ngân, Phó Chủ tịch Quốc hội, ông Phạm Khôi Nguyên, vốn là Bộ trưởng Môi trường
giúp ông cấp lại cái khoản lương hưu. Họ là những yếu nhân của nền chính trị đất
nước đã biết và yêu mến truyện ngắn của Thiệp.
Việc cấp lương hưu làm người ta nhớ lại sau khi ông sinh hạ Tướng
về hưu nổi tiếng được khoảng gần bốn năm, năm 1990, ông bước chân ra khỏi
Cục đồ bản, một cơ quan nhà nước, tự khoác cho mình cái nghề “cơm áo không đùa
với khách thơ” đến mức cái khoản lương hưu còm tí tuột khỏi tay. Chả trách ai
được. Bây giờ nhìn bộ dạng của Thiệp, không mấy ai bảo ông có tiền. Mà làm nghề
văn, cái nghề tự mài tâm can khí huyết của mình ra chữ ở nước ta đã mấy ai có
tiền. Ông cũng như họ. Trong sạch và tinh khiết như nước từ trong núi ra.
Văn của Thiệp, đôi khi giống như bóng chiều, cái bóng chiều đầy
bí ẩn như có lần ông viết “Chiều đánh rỗng nội tâm của ai hy vọng lý giải điều
gì có ý nghĩa”. Ai định dùng kinh viện sách vở cao siêu để mổ xẻ thì thật uổng
công. Chẳng khác gì dùng vảy rồng để gạch xóa một linh vật không có trong tự
nhiên, chỉ có hai con mắt của nó là giống với muôn loài. Cái linh vật đó thoát
lên từ những mạch nguồn bất hạnh và niềm đam mê vô tận, nỗi đắng cay và hy vọng
tràn trề của đời sống trần gian để bày tỏ ước mơ ràn rụa ánh sáng mặt trời. Ông
viết văn không lấy xuất phát điểm từ một triết lý cao cả, siêu hình nào. Ông cầm
bút do sự thúc giục đầy trắc ẩn của nhân sinh. Mặc dù chịu sự thúc giục quyết
liệt ấy, văn Thiệp giữ được vẻ đẹp thật lạnh lùng, có khi đến mức thật dửng
dưng. Rất ít có màn diễn thuyết. Ngoại trừ có một vài trường hợp mà rõ nhất
là Tội ác và trừng phạt. Ông không thể cầm lòng mình được nữa. Ông lúng
túng tự mình nhảy ra bày biện, kể cả khi viết về bài tụng mơ mơ hồ hồ ở cuối
truyện này. Thiệp nói: Nhà văn phải thét lên trong lòng họ thì họa may văn mới
có cái cho thiên hạ để tâm. Có lúc Thiệp nói: Người nghệ sĩ thường cô đơn và
hoài vọng, lắm khi chỉ biết lặng yên, không nói thành lời. Cô đơn lắm. Có lần
Thiệp đã tự hỏi: “Có đôi mắt nào mở to trong tim ta, mỗi cái chớp mắt đều khiến
ta nhói lòng.”
Ngòi bút của Thiệp không câu nệ những chi tiết xác thực của lịch
sử. Mà làm gì có được chi tiết xác thực đầy đủ, khi lịch sử đã lẩn khuất đi qua
hàng nghìn, hàng trăm năm, trong khi Tư Mã Thiên lại chỉ có một vài người thôi.
Lịch sử đi qua chỉ để lại những nét đại lược nhất. Thiệp đã thực hiện cái quyền
của nhà văn mà nhà sử học không có. Ông đã cho các chi tiết để vẽ nhân vật lịch
sử, nhiều khi trong sự bỡn cợt từ cái bóng hắt của mũ cánh chuồn xuống đất khiến
lịch sử sinh động hẳn lên. Các vĩ nhân lịch sử không trần thùi lụi giống như những
củ khoai tây trên cánh đồng của văn chương ước lệ. Sâu thẳm trong lòng mình,
ông không hề nghĩ đến dùng thủ pháp “đạp đổ thần tượng” để kinh doanh. Điều ông
làm thật đơn giản. Ông coi họ như những người thường. Đã có bao nhiêu truyện viết
về cụ Đề Thám, nhưng chỉ có ông xem cụ Đề như một người thường cưỡi ngựa ô phi
dưới trời mưa Nhã Nam, khóc nức nở, thật như là có thật, để người anh hùng thêm
một lần nữa in dấu vào trí nhớ của lịch sử. Đề Thám khóc vì một chút lỡ làng của
bổn phận khiến người ta lại nhớ đến và thương một đời con hùm thiêng Yên Thế
trong văn chương. Nguyên Hồng cả một đời cặm cụi viết, cả một đời xốc xếch
trong cái áo cộc tay nâu gụ màu nhạt mùa hạ đến cái áo mền bông vỏ vải xanh
Trung Quốc mùa đông, lã chã khóc cho số phận những nhân vật văn chương của
mình. Lúc ấy Nguyên Hồng không phải là một nhà văn mà là một người thường.
Có người bảo trong truyện Sang sông, Thiệp là thằng cướp
đập vỡ cái bình. Chừng vài năm gần đây, người ta không bàn đến Thiệp nhiều như
những năm trước. Năm 2012, Thiệp cho ra mắt công chúng hai vở chèo: Vong
bướm và Truyền thuyết tìm vua. Có ai đó chép miệng bảo, nếu hai cái cốt
ấy vào tay nhà viết truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp thì thiên hạ lại được một phen
cuốn hút như vòi rồng...
Nếu thế thì lại chẳng là Nguyễn Huy Thiệp mất rồi! Cũng nghịch
lý như câu chuyện thi ca. Thiệp là người công nhiên chế nhạo thi ca không chỉ một
lần trong tác phẩm của ông. Nhưng ở Việt Nam không ai lại xen vào nhiều đoạn
thơ trong truyện như Thiệp. Nếu bây giờ tách những đoạn thơ ấy ra in thành một
tập, nhiều bài cũng được lắm, ví như bài Cánh đồng trong Thương
nhớ đồng quê. Thiệp có thể đóng vai trò tên cướp đập vỡ cái bình để giải thoát
cho đứa trẻ mắc tay vào miệng bình, giống như vỡ ra một lối viết mới được không
ít người thừa nhận trong văn chương. Gần đây người Trung Quốc làm phim lịch sử
của họ cũng có cách tư duy như Thiệp trong những thiên truyện ngắn của ông xuất
hiện vào thập kỷ 80, 90.
Đưa khách qua khoảng sân rộng lát gạch bát sang nhà bên của
hai cậu con trai. Đang tập nghề vẽ. Không ngờ ông Thiệp còn vẽ được trên đĩa,
trên bình sứ rất có nghề. Cảnh minh họa phần nhiều lấy tích từ Tam quốc diễn
nghĩa: Lưu Quan Trương đến Ngọa Long Cương, Quan Vân Trường đứng gác cho hai bà
chị dâu, vợ của Lưu Bị ngủ. Ai oán một câu nguệch ngoạc trên chiếc bình sứ to
lùn về thân phận sách của Hoa Đà... Đang mải mê câu chuyện, bà Thiệp ở dưới nhà
dóng dả gọi với lên mời cơm trưa. Rượu không uống, thuốc hút không hay; bữa cơm
đạm bạc của gia đình nhà văn, một tài văn trong số không nhiều được bạn đọc yêu
quý, khiến khách ngậm ngùi và đồng cảm với ông. Ông đã bỏ đi bao nhiêu cái vui
thú ở đời này để ngập lụt trong cõi văn chương, để rồi bao nhiêu trang sách viết
đầm đìa tâm sự nhân thế bỗng trở nên xa xôi, không can dự gì vào bữa cơm trưa
dưa muối này.
Dắt tay khách tiễn ra hết cái ngõ 77 dài với bao ngõ nhỏ châu
đầu vào nhau như minh họa đầy sinh động cho sự đan xen của đời sống cộng sinh,
ông Thiệp vẫn cái bộ dạng của bác bán cháo lòng thân ái, khiêm nhường. Chợt
thoáng trong đầu, nếu một lúc nào đó ông triệu tập những người ông đã sinh hạ
ra về cái ngõ 77 để đưa đón khách thì chắc hẳn lại ách tắc như giao thông Hà
Thành vào lúc tan tầm. Họ sẽ đứng chật ở các đầu ngõ, cả một thế giới tinh thần
hiện hình trong sự thảng thốt ghê gớm vừa gỡ mình ra khỏi những trang văn. Lũ
lượt bao nhiêu tướng về hưu, con gái Thủy thần, cả quan Đề Thám cưỡi ngựa ô vượt
qua mưa gió ở đất Nhã Nam, cả Vinh Hoa đẹp lồ lộ... Họ mang theo cờ quạt đậm
mùi nhang khói... trong phấn khích và buồn vô định của cõi nhân sinh.
Thiệp có muốn nhắm mắt lại cũng không xong. Họ đông đến nỗi
phải mở mắt ra cả ngày lẫn đêm để nhận dạng cho đủ; cái ánh mắt và nụ cười bàng
bạc trên khuôn mặt mờ mịt khói mây ám ảnh cõi người. Vinh Hoa lại dùng ngón út
của mình vuốt mắt. Ngón tay ấy lần này không phải đen như chàm nữa mà đầy máu
và mồ hôi của một đời văn. Nàng hát.
Biết có còn không?
Biết có còn không?
Kiếp trăm năm tài mệnh là gì?
Chỉ thấy đớn đau
Nào ngủ đi, nào ngủ đi,
Chòm râu thưa bạc phếch
Nào ai mưa bể chớp nguồn
Hãy khép lại đôi môi
Lập cập chẳng nên lời
Văn chương kiêu bạc
Mặt mày nhàu nát
Đau đớn chúng sinh
Chiều vun nắng lại
Loang lổ một mình
Dòng sông tan ly rượu cay
Đường xa đèn còn chưa tắt
Một tiếng chim buông
Chợt tối ngày.
Đời biết có dài không?
Hoa xoan rơi xuống đất còn chưa nở
Mùa Xuân có biết không?
Biết có còn không
Giang hồ sót lại ai? ai?
Vinh Hoa hát chưa xong, Thiệp đã mở mắt cười chế nhạo. Trên
khuôn mặt Thiệp như có một âm bản hoang đường đầy chất huyễn hoặc không cắt
nghĩa được. Dường như ông bị ám chính bởi những trang văn của mình viết ra. Thiệp
để lại khuôn mặt trầm lặng đầy dự cảm cho hậu thế trên hầu khắp các trang văn kỳ
lạ. Một thế giới tinh thần trắc ẩn ám ảnh con người. Khuôn mặt ấy không đi khỏi
trần gian.
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp
• Sinh năm 1950
• Quê quán: thôn Khương Hạ, xã Khương Đình, Thanh Trì – Hà Nội
• Tác phẩm đã xuất bản: Tướng về hưu (truyện ngắn - 1987); Những ngọn gió Hua Tát (truyện ngắn - 1989); Nguyễn Huy
Thiệp - Tác phẩm và dư luận (1990); Con gái Thủy Thần (truyện ngắn - 1992); Như những ngọn gió (tuyển - 1995); Truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp (tuyển - 1996); Kịch Nguyễn Huy Thiệp (2001); Cánh
buồm nâu thuở ấy (tuyển - 2005); Giăng lưới bắt chim (2006).
• Giải thưởng văn học: Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội về tác
phẩm Giăng lưới bắt chim. Huân chương Hiệp sĩ về Văn học nghệ thuật
(Pháp); Giải thưởng Nonino (Ý).
Cái tự do sáng tạo là ở chính bản thân
Đã từng gặp ông nhiều lần, ở nhiều nơi khác nhau, từ những buổi
nói chuyện với sinh viên các trường, các buổi lễ ra mắt sách, ở các sân chơi
thơ, các hội thảo... nhưng lần gặp gỡ vào đầu tháng Tư tại tư gia của ông vẫn
khiến tôi không khỏi ngạc nhiên. Nhiều sách quá, nhìn đâu cũng thấy sách. Nguyễn
Trọng Tạo cười: “Nếu có động đất, chắc chỉ lo sách sập xuống, đè phải mình cũng
đủ chết”.
Những ngày còn là cậu bé con cắp cặp tới trường, cậu bé Tạo,
con một cụ đồ có tiếng trong vùng, thường thích ngồi nghe cha đọc sách. Nhà nhiều
sách nhưng không phải sách nào cậu cũng đọc được, phải nhờ đến vốn Pháp văn của
cha. Nhẩn nha đọc theo cha, yêu sách, rồi tập làm thơ. Những câu thơ lục bát đầu
tiên viết năm mười bốn tuổi như là một định mệnh. “Không hiểu sao lúc đó lại có
thể viết những câu thơ già dặn đến thế” – Nguyễn Trọng Tạo cười. Điều này khiến
tôi chợt nhớ tới một ý: Thi nhân, tài không đợi tuổi.
Có lần đọc Hoa ngày thường – Chim báo bão, anh chàng trẻ
tuổi Nguyễn Trọng Tạo chẳng phải suy nghĩ gì nhiều, viết thư cho nhà thơ họ Chế
kèm với một bài thơ nhỏ của mình. Thậm chí không biết cả địa chỉ của nhà thơ,
đành gửi đến trụ sở Hội Nhà văn ở Hà Nội. Ai ngờ, thư đến tay người nhận, Chế
Lan Viên viết lại cho ông một bức thư ngắn, thể hiện sự quý mến và khuyến
khích: “Tuy còn rất non nớt nhưng Tạo cứ làm thơ đi, khi nào thích thì cứ làm.
Làm thơ là bản năng rồi, nhưng cũng cần có tư duy của chính mình.” Sau này, khi
đi bộ đội rồi, gửi thơ cho tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, Nguyễn Trọng Tạo được
nhà thơ Vũ Cao viết lại cho một lá thư dài đến ba trang giấy pơluya (pelure),
khuyên nên giữ lấy những cảm xúc của chính mình.
Thích văn là vậy nhưng bởi cái “sự thông minh” trời phú, cậu
bé Tạo mơ ước trở thành một nhà toán học. Học giỏi, được các thầy tin cậy, nhiều
khi “nhờ vả” đứng lớp hộ. Đến giờ, nhiều bạn bè cùng lớp vẫn vui chuyện nhắc lại
mỗi dịp hàn huyên.
Chiến tranh, ước mơ trở thành một nhà toán học của Nguyễn Trọng
Tạo phải gác lại. Nhập ngũ được ít lâu, ông lại nhận được thông báo về Giải thưởng
thơ của tỉnh. Những bài thơ viết trước đó một thời gian trở thành bước ngoặt
cho đời lính của ông. Thay vì cầm súng thì ông lại cầm bút. Viết để phục vụ
cách mạng, phục vụ bộ đội, vừa là một nhu cầu của thời cuộc, vừa thỏa mãn niềm
đam mê. Những tháng ngày rong ruổi theo chân chiến sĩ ở khắp các chiến trường
Khu IV, biên giới, trên đất Lào... là những ngày tháng gian nan, chất chứa đầy
kỷ niệm. Bom đạn, những trận phục kích của địch, những trận đánh lớn... trải
nghiệm về sự sống và cái chết nhiều lúc quá mong manh đã ám ảnh ông cho đến tận
những năm tháng sau này. Khi ông viết có cánh rừng chết vẫn xanh trong
tôi/ có con người sống mà như qua đời cũng là những lúc ông tự vấn lại quá
khứ với những nỗi buồn thời đại. Với ông, chiến tranh mãi mãi là một điều phi
lý không giải thích nổi: anh yêu em anh phải đi ra trận. Những người bạn,
những người đồng đội lướt qua nhau trên chặng đường hành quân, thậm chí cả những
người lính ở bên kia chiến tuyến vừa mới đấy vẫn còn nói cười, bỗng chốc đã
thành người thiên cổ.
Sau này, theo chân những đoàn thu thập hài cốt đồng đội, trở
lại chiến trường cũ, cảm nhận về sự phi lý lại càng mãnh liệt. Những cánh rừng
lởm chởm hố bom như cái đầu cạo nham nhở, mưng mủ, những viên đạn gỉ sét, những
cái xác rữa mục gói trong những bao tải nilon,... nhìn thấy cảnh ấy, ông vẫn thấy
như có một viên đạn găm vào tim mình: chiến tranh chấm dứt rồi mà nào dễ
tin đâu.
Sau chiến tranh, về Hà Nội, cái nghiệp bút nghiên trở lại. Thời
hậu chiến, nhà nào cũng có người thân là bộ đội, thanh niên xung phong, liệt
sĩ, thương binh, dòng họ nào cũng có những tổn thất do bom đạn, ngòi bút nghệ
sĩ lại càng thấm thía nỗi đau đằng sau niềm vinh quang chiến thắng. Nguyễn Trọng
Tạo trăn trở với những “con đường ngược chiều”. Nhưng niềm trăn trở của ông, có
lẽ phải đến cái thời mở cửa, kinh tế phát triển mới càng trở nên bức bối. Khoảng
cách giàu nghèo ngày càng lớn khiến người ta có cảm giác như tiếp tục một cái
thời để phân chia giai cấp, thượng lưu, đại gia, dân đen cho đến những người dưới
đáy xã hội, những ước mơ tốt và những thực hành sai...
Mỗi nhà văn có một nhãn quan riêng khi tiếp cận cuộc sống. Phần
ông lại chọn cho mình góc nhìn về những nghịch lý. Những cặp đối lập trong cuộc
đời, những đối lập ngay trong chính mỗi người. Cơm ăn, áo mặc, sự giải phóng tư
tưởng, những căn bệnh xã hội, tệ nạn,... Thậm chí, có giai đoạn, bức bối và bất
lực, ông đã nghĩ đến cái chết. Ai ngờ, những bài thơ viết trong lúc muốn từ giã
cõi đời cũng lại là một lần gây thị phi trước dư luận. Về sau, ông lựa chọn cho
mình một lối sống khác: Không màng bon chen tiếng xấu, tiếng tốt nữa. Người đời
nhiều lúc tự đắp mặt nạ cho mình để với mỗi đối tượng lại có một kiểu ứng xử
riêng. Phần mình, ông thừa nhận không “đắp mặt nạ” trong sáng tác, nhưng lại
thường “giả ngu” trong cuộc sống, không tranh luận để cố giành phần thắng cho
mình. Và từ góc nhìn của người “giả ngu”, ông kín đáo quan sát và thu nhận những
hiện thực cuộc sống để làm chất liệu cho những tác phẩm của ông. Có người thắc
mắc, nhìn ông thì lúc nào cũng thấy đủng đỉnh rong chơi mà tác phẩm thì vẫn cứ
ra đều đều, từ thơ, nhạc, cho đến hội họa. Thấy ông có mặt hết hội nghị này tới
lễ ra mắt nọ, hết cuộc họp này lại đến đại hội kia..., tôi ngạc nhiên, ông cười:
“Bởi vì khi mình làm thì họ có biết đâu.”
Mỗi khi rời đám đông, trở về với căn phòng của mình, ông gác
lại những ồn ào để lọc lấy những câu chuyện, “tái sản xuất” từ “bình ắc-quy tâm
hồn” để làm nên thành phẩm. Giống như người ta nạp điện vào ắc-quy để chiếu
sáng thì ông lại nạp chính những người, những việc bắt gặp mỗi ngày vào trang
viết. Có những khi miệt mài trắng đêm, sáng ra ông vẫn ra đường, vẫn gặp gỡ bạn
bè, điềm nhiên như không. Theo ông, cái tự do của người sáng tạo là ở chính bản
thân họ. Ông không an phận cũng không bùng nổ tháo cũi sổ lồng mà cứ nhẹ nhàng,
ngấm dần và thấm thía.
Năm nay Nguyễn Trọng Tạo đã bước qua tuổi lục tuần, ông sống
một mình trong căn nhà tập thể nho nhỏ ở Phương Mai. Chợ búa có thể con cháu,
người quen lo hộ nhưng bếp núc thì nhiều khi cũng chỉ một mình lo liệu. Ông cười:
Thì cũng những món ăn đó, có chăng chỉ kém đầu bếp ở một vài điểm. Chẳng nhẽ
mình luộc rau thì lại tệ hơn sao? Nói thì nói vậy, cũng nhiều khi buồn, cơm một
mình một mâm, trà một mình một ấm, nhiều lúc trong nhà quạnh tiếng người. Hôn
nhân không trọn vẹn, tình yêu không đủ vượt qua những khó khăn đến cuối đường
cũng là một trong vô vàn những điều thường gặp trong cuộc đời. Tuy vậy, khi hỏi
ông về phụ nữ, và về thơ, ông vẫn hồn hậu trả lời: Mỗi một người phụ nữ đều là
một nàng thơ. Đa phần người ta sáng tác thơ để chinh phục trái tim phụ nữ, người
không sáng tác được thì chép thơ để tặng cũng coi là một cách ngưỡng vọng.
Nàng thơ của Nguyễn Trọng Tạo thì khác, có lẽ để yêu thương
thì nhiều hơn sở hữu. Mỗi một nàng thơ của ông đều mang ít nhiều dáng dấp của
người mẹ. Ông thương và yêu họ. Trong hình dung của ông, cuộc đời người phụ nữ
quanh quẩn cũng chỉ được mấy chục năm tuổi trẻ thì lấy chồng, đẻ con đã phải đối
diện với biết bao vất vả. Đầu tắt mặt tối lo cho chồng, cho con, rồi thì lại đến
cháu chắt. Thời gian không đứng đợi. Nhoằng cái đã hết tuổi xuân, ập đến tuổi
già. Suy ra trọn cả cuộc đời họ cũng chỉ gói gọn trong hai chữ “gia đình”. Nghe
ông nói, cảm nhận được đâu đó những hàm ý gửi gắm tới những người phụ nữ ông đã
từng yêu.
Người ta thường bảo: Tài đi liền với tật. Chuyện cũ nhắc lại
trong làng văn, Nguyễn Trọng Tạo lại được suy tôn là người nhậu dai nhất làng
văn Việt. Cũng có vài giai thoại thú vị về cái tật này của ông, nhưng đến khi
nghe đích thân ông nói, tôi vẫn không khỏi ngạc nhiên. Có lần ông nhậu xuyên từ
ngày hôm trước sang ngày hôm sau, 25 giờ đồng hồ, bạn bè phải thay nhau hầu rượu
ông. Nhìn phòng khách của ông, cũng dăm ba loại rượu Tây, Ta đủ loại. Nhưng tôi
không chắc về việc ông uống nhiều. Người bợm rượu thường không kén rượu. Còn
ông thì khác, nhất là khi thấy ông để rượu lẫn giữa những sách vở, tranh ảnh –
những thứ mà bản thân ông vô cùng trân trọng. Có lẽ, rượu cũng chỉ là một cách
để ông nhấm nháp những dư vị cuộc đời với những cay đắng ngọt ngào cùng bè bạn
mà không phải ai cũng hiểu được. Có điều lạ là mười lăm năm trở lại Hà Nội sống
và làm việc, ông vẫn ở nguyên trong một căn hộ tập thể cũ mà bè bạn đã góp tiền
mua lại cho ông. Theo ông kể thì suốt bốn mươi năm ăn lương quân đội và lương
dân sự, ông chưa hề được nhà nước phân phối cho một mét nhà ở nào, trong khi
các bạn bè đồng nghiệp của ông đều được hưởng lộc nhà lộc đất. Nói vậy, nhưng rồi
ông lại cười xòa: “Thì mình hưởng lộc bạn bè cũng thú chứ sao.”
Nghỉ hưu, không bị áp lực cơ quan nữa, ông có thời gian dành
cho bản thân, con cháu, bạn bè và cho những sáng tác. Ông vẫn giữ vẻ ngoài của
một ông nhàn, ung dung đi dạo giữa đời để rồi hằng đêm như con tằm rút ruột nhả
ra dòng tơ chữ trên những trang giấy trắng, với những nghịch lý ở đời, mà bản
thân ông là một.
Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo
• Ngày sinh: Sinh ngày 25 tháng 8 năm 1947
• Quê quán: Diễn Châu, Nghệ An
• Đời hoạt động: nhập ngũ năm 1969, trưởng đoàn văn công xung
kích E22 và F341 thuộc Quân khu IV, Trưởng ban biên tập xuất bản Hội Văn học
nghệ thuật Thừa Thiên – Huế, Trưởng ban biên tập báo Thơ, Ủy viên hội đồng Thơ –
Hội Nhà văn Việt Nam khóa VI, thư ký tòa soạn tạp chí Âm nhạc Hội Nhạc
sĩ Việt Nam.
• Các tác phẩm chính: Các ca khúc Làng quan họ quê tôi,
Tình khúc bốn mùa, Khúc hát sông quê. Tác giả măng-sét tạp chí Sông
Hương, Hồng Lĩnh, Sông Lam, báo Thơ, mẫu cờ Thơ. Thiết kế 500 bìa sách.
• Giải thưởng: Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật; giải
thưởng thơ Hội Văn nghệ Nghệ An (1969), báo Văn Nghệ, Nhân Dân, Văn Nghệ
Quân Đội (1978); Hội Văn nghệ Thừa Thiên – Huế; 2 giải thưởng Văn học nghệ
thuật Cố Đô (1989-1999); giải thưởng Hồ Xuân Hương; 2 giải thưởng bìa sách và 8
giải thưởng âm nhạc.
Đường thơ luôn phía trước
Sau mấy lần lỡ hẹn, cuối cùng thì tôi và nhà thơ Mai Văn Phấn
cũng có buổi ngồi với nhau ở nhà anh vào dịp đầu hè này rồi. Cuộc gặp ban đầu
là để thỏa mãn tính tò mò của tôi từ hai mươi năm nay về một bài thơ của Mai
Văn Phấn đăng báo Hải Phòng năm 1991, nhân dịp thành phố trao giải
thưởng văn nghệ Nguyễn Bỉnh Khiêm lần thứ nhất. Đó là bài Thuốc đắng mà
đến nay, hai mươi năm trôi qua, tôi vẫn thuộc câu mở đầu táo bạo trong cách
dùng từ, chắt lọc nhịp điệu: Cơn sốt thiêu con trên giàn lửa/ Cha cũng có
thể thành tro nữa. Bài thơ gồm bốn khổ, riêng khổ đầu phá cách năm câu, còn ba
khổ sau đều bốn câu, viết khá thoải mái và cũng thật đặc trưng cho phong cách
thơ Mai Văn Phấn thời kỳ này.
Hai mươi năm trôi qua, bây giờ nhìn lại có thể nói giải thưởng
văn nghệ thành phố Hoa Phượng Đỏ năm ấy trao giải Nhất cho bài thơ Thuốc đắng của
Mai Văn Phấn là chính xác. Nhưng buồn thay, sau khi báo đăng trên trang nhất
bài thơ này, ngay hôm sau đã nhận được thư bạn đọc gửi đến chê bài thơ hết lời,
có cả những lời phê phán khá gay gắt và đậm chất quan trường, quy chụp không chỉ
tác giả, mà cả người chọn thơ. Có đến hàng tháng trời sau cuộc trao giải thưởng
văn nghệ Nguyễn Bỉnh Khiêm, không khí văn chương đất Cảng vẫn nóng lên về bài
thơ Thuốc đắng. Bấy giờ tôi chưa quen Mai Văn Phấn, nên cũng chưa có dịp
chuyện trò với anh về bài thơ gây xôn xao dư luận, mà chính tôi khi đọc thư gửi
đến báo cũng thấy gai người vì những lời quy chụp của “bạn đọc yêu thơ”.
Năm ấy con gái lớn của Phấn lên ba tuổi, thường cháu rất sợ uống
thuốc, mỗi khi ốm là bố mẹ phải dỗ mãi mới chịu uống thuốc. Nhưng lần ấy cháu ốm
nặng, không thể ngồi đợi khi con chịu há miệng mới cho uống thuốc, vợ chồng anh
phải giữ tay chân con rồi đổ thuốc vào miệng. Chính lần đổ thuốc cho con ốm đã
để lại trong người cha bao suy tư, dằn vặt, đồng thời cũng làm bật dậy trong
lòng câu thành ngữ “thuốc đắng dã tật”. Bài thơ là sự dằn vặt, ám ảnh đè nặng
trong lòng, nên khi viết cũng khá trôi chảy, vì nó không còn đơn thuần là chuyện
bố mẹ cho con uống thuốc nữa, mà là xã hội lúc đó. Bài thơ ra đời năm 1990, đất
nước ta mới thực hiện đường lối đổi mới được năm năm, tư tưởng bảo thủ cùng những
tàn dư của thời bao cấp còn khá nặng nề và không phải ai cũng muốn đổi mới;
nhưng muốn đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu thì không thể không tiến
hành công cuộc đổi mới, mở cửa. Công cuộc đổi mới quả là nhọc nhằn, vất vả, và
không kém phần quyết liệt một mất một còn, nhưng từ trong nỗi vất vả và quyết
liệt ấy đã thấy bóng dáng cuộc đời mới đang về, nếu khi đọc Thuốc đắng mà
ngẫm ngợi sâu một chút thì thấy ngay cái ẩn ý ấy: Con ơi! Tý tách sương
rơi/ Nhọc nhằn vắt qua đêm lạnh/ Và những cánh hoa mỏng mảnh/ Đưa hương phải chờ
rễ cay/ Mồ hôi keo thành chai tay/ Mùa xuân tràn vào chén đắng. Thơ Mai Văn Phấn
ngay từ những năm đầu thập niên 90 thế kỷ trước đã là thế, chỉ bằng sự giản dị
bình thường như cho con uống chén thuốc đắng để dã tật, mà nói được vấn đề lớn
đang thu hút sự quan tâm của nhiều người như công cuộc đổi mới hồi bấy giờ. Thơ
nói cái chỉ riêng mình, nhưng không chỉ riêng mình, từ cái có thật của riêng
mình, nhà thơ đề cập những mối quan tâm chung của xã hội, hay nói cách khác là
chỉ bằng sự giản dị, ngay từ bấy giờ, không gian thơ Mai Văn Phấn đã được đặt
trong khung cảnh nhất định.
Nhà thơ trong tốp tiên phong cách tân thơ Việt Nam nay, từ
năm hai mươi mốt tuổi đã có thơ in trên báo Phụ Nữ Việt Nam. Là học sinh
giỏi văn trường cấp ba huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, Mai Văn Phấn yêu thơ và
làm thơ từ khi mười sáu, mười bảy tuổi; năm 1972, trong cuộc thi học sinh giỏi
văn toàn miền Bắc anh đoạt giải Nhì. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, năm mười
chín tuổi (1974), Mai Văn Phấn vào bộ đội. Hai năm sau, từ trong quân ngũ, anh
có bài thơ Hoa xoan gửi báo Phụ Nữ Việt Nam và được đăng
ngay. Như người khác, đây là “cú hích” để ngày càng đi sâu vào con đường thơ;
nhưng với Mai Văn Phấn thì không. Suốt từ năm 21 tuổi đến năm ba mươi bảy tuổi
(anh sinh tháng 11-1955), anh không làm thơ nữa. Mười sáu năm ấy, Mai Văn Phấn
chỉ tập trung trau dồi kiến thức văn hóa, ngoại ngữ, chuyên môn; và dành thời
gian đáng kể cho việc đọc và suy ngẫm về văn chương, thôi thì đủ hình đủ dạng
chủ thuyết, trường phái, từ các nhà thơ cổ điển trong nước như Hồ Xuân Hương,
Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, đến các nhà thơ nước
ngoài như Rabindranath Tagore, Pablo Neruda, Nazim Hikmet... Với vốn văn hóa và
ngoại ngữ sâu rộng, Mai Văn Phấn có điều kiện tiếp xúc với lý thuyết và tác phẩm
từ văn bản, để từ đó suy ngẫm và rút ra điều bổ ích cho công việc sáng tạo của
mình. Không những thế, anh đọc không chỉ bằng mắt, suy ngẫm, mà còn ghi chép tỉ
mỉ những tác phẩm mình tâm đắc, những điều mình nghĩ bổ ích và thiết thực cho
công việc sáng tác sau này. Thế nên, suốt mười sáu năm, tuy gần như “đoạn tuyệt”
với thơ, nhưng Mai Văn Phấn lại có vô số cuốn sổ tay ghi chi chít những điều có
liên quan tới thơ cùng những câu thơ, bài thơ anh viết khi bất chợt, trăn trở
đã bao lâu. Dẫu từng có thơ đăng, nhưng lại không làm thơ nữa, mà im lặng chui
vào “cái vỏ” để trau dồi kiến thức, chuẩn bị cho bước đi vững chãi trên đường
đua, thực sự muốn làm cuộc ma-ra-tông (marathon) thơ. Và đúng là sau mười sáu
năm im hơi lặng tiếng, tháng 7-1990, Mai Văn Phấn một lúc tung ra chùm thơ ba
bài (Thuốc đắng, Thu về, Em gái đi lấy chồng) trên tạp chí Cửa Biển (Hội
Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hải Phòng), để năm sau Thuốc đắng giành
giải Nhất văn nghệ thành phố. Nếu cần những “cú hích” cho cuộc đua ma-ra-tông
thơ, có thể coi chùm thơ ba bài trở lại “trình làng” sau mười sáu năm vắng bóng
là một “cú hích” ngoạn mục để Mai Văn Phấn có những bước nhảy tuyệt vời trên
con đường thơ. Sau giải Nhất thơ Hải Phòng năm 1991, liên tiếp hai năm Mai Văn
Phấn đoạt giải Nhì (không có giải Nhất) của hai cuộc thi thơ ở hai tờ báo có uy
tín văn chương: năm 1994 của báo Người Hà Nội với bài Nghi Tàm;
năm 1995 của báo Văn Nghệ với chùm hai bài Mười nén nhang ở
ngã ba Đồng Lộc và Nhật ký đô thị hóa.
Nhưng giải thưởng vẫn chỉ là giải thưởng, nếu sau đó người đoạt
giải cứ mải mê ngắm nghía vinh quang “hết ngày dài lại đêm thâu”. Với Mai Văn
Phấn thì khác, sau những năm đầu thập niên 90 thế kỷ 20, có thể nói liên tiếp gặt
hái những mùa bội thu, thì từ năm 1995 trở đi, với vốn kiến thức phong phú tích
lũy hàng chục năm và sự cập nhật thông tin văn chương gần như hằng ngày, nhất
là thơ, cả trong nước và ngoài nước, Mai Văn Phấn tự mình làm cuộc “lột xác” bằng
việc thử sức vào một số khuynh hướng thơ trên thế giới. Nhưng công bằng mà nói,
những năm từ 1995 đến 2000, bên cạnh những bài thơ kết hợp truyền thống với tâm
thức khá nhuyễn, cũng không ít bài thơ của anh có vẻ rắc rối, bí hiểm, khó hiểu,
thậm chí một số bài như thách đố người đọc, chẳng hạn các bài: Cấu trúc tạm
thời, Mười bài tập mùa xuân, Niệm khúc số 18. Để bạn đọc phần nào hình dung thơ
Mai Văn Phấn những năm tự “lột xác”, xin dẫn ra mấy câu trong bài Cấu trúc
tạm thời: Những thửa ruộng, nóc nhà, bóng cây, mái tóc.../ Chuyển động lặng im,
vụn rời, không quy luật/ Chúng chờ đợi tiếng cười tiếng khóc/ Nỗi lo âu tìm cột
mốc vô tư/ Sự chân thành cảm hóa dối lừa/ Để tạm thời tạo nên cấu trúc. Quả là
khó hiểu. Nhưng nhiều lúc tôi cứ vơ vẩn nghĩ, thơ Mai Văn Phấn không có những
năm tự “lột xác” để chui ra khỏi cái vỏ cứng của truyền thống, vần điệu, nhuyễn
và hồn nhiên đến thơ ngây như chính anh giai đoạn 1995 về trước, và cả nhiều
người khác nữa, thì thi đàn Việt Nam hiện đại liệu có một giọng thơ Mai Văn Phấn
riêng biệt và khá độc đáo như hiện nay?
Là người được Mai Văn Phấn tặng gần như đủ mười tập thơ của anh, từ tập đầu Giọt nắng đến tập mới nhất Thơ tuyển Mai Văn Phấn cùng tiểu luận và trả lời phỏng vấn, tôi vẫn nghĩ có những năm dò dẫm tìm đường “chui ra cái vỏ cứng” của truyền thống, vần điệu, dẫu có thành công, thất bại, thậm chí làm không ít người đọc đã quen với thơ có vần, thơ đọc không cần nghĩ, thơ ngâm ngợi cho vui, không những quay lưng lại với thơ Mai Văn Phấn, mà còn chê bai đủ điều, như trường hợp bài Thuốc đắng tôi nhắc tới ở trên. Nhưng cuộc tìm đường, “lột xác” suốt mấy năm cuối thập niên 90 thế kỷ XX của anh dẫu có đớn đau nhưng là sự đớn đau sinh nở, thoát xác khỏi đường mòn của thơ ca để có một giọng thơ, một khoảng trời thơ Mai Văn Phấn, như những người yêu thơ đích thực đã thấy trong những năm đầu thập niên thứ nhất thế kỷ XXI này, với rất nhiều bài đọc rồi còn muốn đọc nữa, chẳng hạn như các bài Nghe em qua điện thoại, Gió thổi, Tắm đầu năm, Tin nhắn lúc giao thừa, Ngậm em trong miệng. Ngay đến bài thơ dài Hình đám cỏ được viết theo lối chương hồi với chín nhịp thơ cấu trúc khác nhau, đọc vẫn thấy nhuyễn, hiện đại và truyền thống như quyện vào nhau hồn nhiên và giản dị, mà nếu bạn đọc không ngại, tôi xin trích ra đây khổ đầu của Nhịp 6: Hôn em hút hết bóng đêm/ Vừa nứt trái cây chín rục/ Cây trúc cây tre thêm đốt/ Đống lửa bùng lên bởi những que cời/ Một con còng trước bình minh lột xác. Còn bài Tin nhắn lúc giao thừa, nhà thơ viết dịp đầu năm 2011, thì kiệm lời và cô đọng như thể không còn sự cô đọng và chắt lọc hơn, với toàn bài, ba khổ thơ, chỉ có đúng 39 chữ:
Là người được Mai Văn Phấn tặng gần như đủ mười tập thơ của anh, từ tập đầu Giọt nắng đến tập mới nhất Thơ tuyển Mai Văn Phấn cùng tiểu luận và trả lời phỏng vấn, tôi vẫn nghĩ có những năm dò dẫm tìm đường “chui ra cái vỏ cứng” của truyền thống, vần điệu, dẫu có thành công, thất bại, thậm chí làm không ít người đọc đã quen với thơ có vần, thơ đọc không cần nghĩ, thơ ngâm ngợi cho vui, không những quay lưng lại với thơ Mai Văn Phấn, mà còn chê bai đủ điều, như trường hợp bài Thuốc đắng tôi nhắc tới ở trên. Nhưng cuộc tìm đường, “lột xác” suốt mấy năm cuối thập niên 90 thế kỷ XX của anh dẫu có đớn đau nhưng là sự đớn đau sinh nở, thoát xác khỏi đường mòn của thơ ca để có một giọng thơ, một khoảng trời thơ Mai Văn Phấn, như những người yêu thơ đích thực đã thấy trong những năm đầu thập niên thứ nhất thế kỷ XXI này, với rất nhiều bài đọc rồi còn muốn đọc nữa, chẳng hạn như các bài Nghe em qua điện thoại, Gió thổi, Tắm đầu năm, Tin nhắn lúc giao thừa, Ngậm em trong miệng. Ngay đến bài thơ dài Hình đám cỏ được viết theo lối chương hồi với chín nhịp thơ cấu trúc khác nhau, đọc vẫn thấy nhuyễn, hiện đại và truyền thống như quyện vào nhau hồn nhiên và giản dị, mà nếu bạn đọc không ngại, tôi xin trích ra đây khổ đầu của Nhịp 6: Hôn em hút hết bóng đêm/ Vừa nứt trái cây chín rục/ Cây trúc cây tre thêm đốt/ Đống lửa bùng lên bởi những que cời/ Một con còng trước bình minh lột xác. Còn bài Tin nhắn lúc giao thừa, nhà thơ viết dịp đầu năm 2011, thì kiệm lời và cô đọng như thể không còn sự cô đọng và chắt lọc hơn, với toàn bài, ba khổ thơ, chỉ có đúng 39 chữ:
Mang hình hạt mưa
Cơn mưa tin nhắn.
Ký tự bay trong đêm đen
Ngũ quả chuyển vần
Lòng sớ
Đèn nhang.
Anh bấm phím gửi
Vụ mùa bội thu qua tay anh
Nơi màn mưa trong veo, ấm áp.
Khép lại bài viết, tôi chỉ muốn nói rằng, suốt bao năm đọc
thơ, dõi theo con đường thơ Mai Văn Phấn, điều tôi nhận ra ở nhà thơ đầy năng động
này là một bản lĩnh sáng tạo, luôn kiên định con đường mình đi, dù biết trước
là đầy chông gai, đau đớn và cả tai tiếng nữa. Nhưng đấy đích thực là con đường
của riêng mình, khoảng trời của riêng mình, đúng như điều anh tâm đắc: “Được thấy
mình khác những người khác”, để từ đấy có thể góp được cái gì đó vào bầu trời
cao xanh vời vợi của muôn loài. Và nói như Mai Văn Phấn trong lần trò chuyện với
tôi mới rồi, dẫu đã in thơ tuyển, nhưng con đường sáng tạo luôn ở phía trước,
bài thơ mới vẫn ở phía chân trời. Bởi như Mai Văn Phấn có lần trả lời phỏng vấn
đã nói: “Là một thi sĩ đúng nghĩa, nếu không sáng tạo, tức không làm ra những sản
phẩm mới, coi như anh ta đã chết.”
Nhà thơ Mai Văn Phấn
• Sinh ngày: 29-11-1955
• Quê quán: Kim Sơn, Ninh Bình
• Sống và làm việc ở thành phố Hải Phòng
• Tác phẩm chính: Giọt nắng (thơ, 1992), Thơ
tuyển Mai Văn Phấn; các tiểu luận và trả lời phỏng vấn.
• Giải thưởng: hai giải nhất ở hai cuộc thi thơ của báo Người
Hà Nội (1994), tuần báo Văn Nghệ (1995), liên tục bốn năm liền
(từ 1991 đến 1995) đoạt giải thưởng văn nghệ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hải Phòng.
Người thơ trầm tích
Nhà thơ Hoàng Trần Cương sinh ra ở mảnh đất phên dậu xưa của
đất nước, là xứ Nghệ. Một vùng quê nghèo khó, phong thổ dữ dằn nhưng cảnh đẹp
nên thơ, mà ca dao đã có câu: “Đường vô xứ Nghệ quanh quanh. Non xanh nước biếc
như tranh họa đồ.” Mảnh đất nắng thật nắng, gió thật gió, rét thật rét, khô cằn
thật khô cằn, bão lũ thì triền miên này đã sản sinh ra cộng đồng người mang đậm
trong mình chất Nghệ. Họ là những con người giàu nghị lực, không cam chịu số phận,
luôn biết quẫy vượt khỏi hoàn cảnh khắc nghiệt của thiên nhiên và xã hội, khẳng
định mình để tồn tại và hòa vào dòng chảy đời sống. Hoàng Trần Cương là một người
con mang đậm đặc trong mình những phẩm chất quê mẹ đó. Nhưng bên trong cái vẻ
xù xì thô ráp, ăn sóng nói gió, thậm chí có những giây phút thăng hoa “nảy lửa”
lại là một con người hiền lành, “dịu dàng” đến dễ thương, đa cảm. Ông từng tự
nhận xét về cái vẻ bên ngoài của mình:
Mặt anh buồn như đá
Ai vất ra ngoài đồng.
Nhà thơ Đoàn Xuân Hòa, một người bạn thân thiết của ông đã
nói về ông thế này: “Hoàng Trần Cương giống như con hàu biển, lớp vỏ đá vôi xù
xì bao bọc cái tinh chất mềm mại bên trong.”
Hoàng Trần Cương là người luôn hết lòng vì bạn, phóng túng với
bạn, đặc biệt là với bạn bè văn chương. Ở giữa bạn bè ông trở nên hồn nhiên đến
đáng yêu. Đối với ông, khi đã thực sự bạn bè thì đó là bởi duyên may trời cho,
cần phải nâng niu và gìn giữ.
Đối với thơ ca, Hoàng Trần Cương thực sự như một tín đồ. Có lẽ
ông là một trong số ít những người yêu thơ đến lạ lùng mà tôi từng biết. Dường
như, trong đầu ông luôn nghĩ đến thơ. Tình yêu thơ ca đó như ngọn núi lửa luôn
rừng rực. Ông cần phải cầm bút, cần phải đọc thơ để giải phóng cái năng lượng
đó. Tôi đã nhiều lần chứng kiến ông đọc thơ giữa bạn bè và đọc thơ trước hội
trường cả nghìn người. Khi đó ông giống như một con hổ được thả về rừng, được
tung hoành trong lãnh địa của mình. Với chất giọng mạnh mẽ và quyết liệt của
người Nghệ và tình yêu thơ ca, Hoàng Trần Cương thăng hoa như muốn làm tan vỡ cả
đá tảng. Tôi cũng đã từng chứng kiến ông khóc trước bạn bè sau khi đọc thơ, rồi
ông lại trầm ngâm, lại đưa tay vuốt cặp lông mày rậm rạp.
Thơ Hoàng Trần Cương cũng phần nào giống như con người ông.
Nó gập ghềnh, trúc trắc, giống như sỏi đá khô cằn, giống như vẻ xù xì thô ráp
bên ngoài của ông. Ngay cả thơ tình của ông khi đọc lên cũng cảm thấy nó trúc
trắc như vậy:
Anh cắm sào trước dòng sông héo sóng.
Nghe bãi bờ khò khè dưới chân.
Sóng mà lại héo, bãi bờ mà lại khò khè. Đó là một câu thơ hay
và lạ.
Trong kho tàng thơ ca viết về miền Trung, Hoàng Trần Cương
ghi một dấu ấn quan trọng:
Miền Trung mỏng và sắc như cật nứa
chuốt ruột mình thành dải lụa sông Lam.
Chỉ hai câu thơ đó đã khắc họa phong thổ cũng như tính cách của
người dân xứ Nghệ đến gần như đầy đủ. Hầu hết những câu thơ viết về quê hương của
Hoàng Trần Cương đều trong tập trường ca Trầm tích. Với tập trường ca này,
Hoàng Trần Cương như rút ruột mình để trả nghĩa cho quê hương. Nó là mốc son
trong cuộc đời sáng tác của ông, và cũng là một cột mốc cho thơ ca miền Trung.
Ngôn ngữ trong Trầm tích quê mùa cục mịch như củ khoai củ sắn, như vại
nhút vại cà, trúc trắc và khô cằn như sỏi đá miền Trung nhưng lại như lưỡi dao
cứa vào lòng người đọc. Những ai sinh ra và lớn lên ở cái mảnh đất nghèo khó
đó, khi đọc Trầm tích như được gặp lại chính mình, gặp lại một phần đời
không thể quên nơi vùng quê đó mà không khỏi rưng rưng:
Dằng dặc dải làng quê thưa thắt
những vạt lúa đỏ đuôi luội mình đổ rạp
chỏng chơ nồi cơm ngày đói khát
tảng cháy cạy đi rồi
còn hằn vết móng tay
cày lên
sưng cả đáy nồi.
Quê ông nằm bên bờ sông Lam, thuộc huyện Đô Lương, Nghệ An,
ngay cạnh bến đò Lường nổi tiếng, đã đi vào khúc hát dân ca: Chính thương
anh nên em bàn với mẹ, để ngăn anh không đi chuyến ngược Lường. Sở dĩ người vợ
khuyên chồng không đi chuyến ngược Lường vì ở khúc sông đó có nhiều vực thẳm,
có đập nước Đô Lương xây từ thời Pháp thuộc, tạo thành dòng chảy dữ dằn, có thể
nhấn chìm thuyền bè qua lại. Khi còn nhỏ, Hoàng Trần Cương từng chứng kiến biết
bao bè gỗ bị dòng nước nuốt chửng ngay trước mắt mình. Ngày đó, Hoàng Trần
Cương mới chỉ là một đứa trẻ chưa đến mười tuổi thường hay ra chỗ đập nước để
hét lên, thách thức cùng dòng nước cuộn chảy.
Ông sinh ra trong một gia đình dòng dõi, có ông nội là Hàn
lâm viện Học sĩ nhưng đã treo ấn từ quan, về sống cuộc đời dân dã, kết bạn
văn chương và ủng hộ phong trào Đông Kinh nghĩa thục của Phan Bội Châu. Gia
đình ông đã từng nuôi giấu nhiều nhà cách mạng như: Nguyễn Phong Sắc, Hồ Tùng Mậu...
Vào một buổi trưa, cậu bé học vỡ lòng hớn hở chạy về thì thấy nhà cửa tan hoang
rồi bị niêm phong lại. Mấy mẹ con bà cháu bị dân quân đẩy ra ngoài đồng, sống
chết mặc bay. Cay đắng hơn, người cha của ông là một đảng viên từ năm 1946,
đang là Chánh văn phòng Ủy ban kháng chiến tỉnh Nghệ An bị quy là địa chủ đầu sỏ
và bị dẫn ra hành hình ngay trong chiều hôm ấy. Tất cả mấy mẹ con bà cháu cũng
bị lùa ra để chứng kiến cảnh tượng ghê rợn đó. Trong trí nhớ của cậu bé Hoàng
Trần Cương khi đó như in cảnh sáu dân quân cầm súng trường đang chuẩn bị giương
lên, mấy mẹ con bà cháu sợ rúm ró vào nhau sau vành móng ngựa kết bằng dây chuối.
May thay, khi mà cha ông đã bị trói vào cột, giờ hành hình sắp đến, trời bỗng nổi
trận mưa giông, tất cả dân làng bỏ chạy tán loạn. Pháp trường vắng hoe. Chợt
người đội trưởng đội hành hình hét lớn: “Nỏ ai xem thì bắn mần chi.” Vậy
là buổi hành hình bị hoãn lại sang ngày hôm sau. Nhưng, ngay buổi tối hôm đó,
có lệnh sửa sai, một chiếc xe ôtô đít vuông đã đón bố ông ra Vinh. Mấy tháng
sau gia đình mới được biết bố ông được đưa ra Hà Nội công tác. Trong khoảng thời
gian đó mấy mẹ con bà cháu vẫn sống trong một túp lều lụp xụp giữa đồng không
mông quạnh, đi mót khoai, mót lạc, mò cua bắt ốc, làm thuê cuốc mướn để sinh sống.
Sau này những hình ảnh đau thương đó cũng đã hiện lên trong Trầm tích:
Mẹ ơi
tận bây giờ con vẫn còn hoảng hốt
cái buổi chiều những tưởng cha đi
bỗng dưng trời đất thâm sì
lốc rừng dựng đứng
giông bão ùa về lừng lững
mây đặc trời
tối bưng
gió chém.
mưa đâm
sợi dây trói nới thầm
từ tay cha rụng xuống
mẹ bảo: may mà trời có mắt.
Sau này khi trở thành nhà thơ, quê hương giống như mỏ vàng lộ
thiên, còn ông thì cứ miệt mài để khai thác. Ông làm thơ giống như người đi
cày, bền bỉ lật lên từng thớ đất quê hương để phát hiện ra những long mạch, những
hồng ngọc trong Trầm tích.
Năm 1970 khi đang là sinh viên năm thứ tư Trường Đại học Tài
chính, Ngân hàng Trung ương, cả lớp học có hơn sáu chục người thì chỉ mình ông
trúng tuyển nhập ngũ, theo phong trào tổng động viên sinh viên các trường đại học.
Ông từng chiến đấu ở các mặt trận phía Nam, Nam Lào, các mặt trận phòng không ở
các tỉnh phía Bắc... và trận chiến Điện Biên Phủ trên không tại Đồng
Mỏ, Lạng Sơn. Ông đã đi qua nhiều trận đánh, từng bế trên tay biết bao đồng đội
bị thương và hy sinh. Có trận chiến mà cả đại đội chỉ còn ông với hai người nữa
sống sót. Chính vì những năm tháng đầy khốc liệt không thể nào quên ấy, cho nên
thơ của ông viết về chiến tranh, về đồng đội cũng là mảng đề tài ghi dấu ấn
trong sự nghiệp sáng tác của ông. Đó là những câu thơ mạnh mẽ, đầy khí tiết:
Những đốt sống Trường Sơn lởm chởm dăng màn
Thoáng bóng giặc núi bửa thành máng súng
những đứa con văng như mảnh đạn
thương mẹ một mình trời sinh đá mồ côi.
và cũng đầy day dứt của một người lính trở về từ bom đạn:
Mẹ ơi
lẽ ra con cũng như bao đồng đội
khi đất nước mình trận mạc
những ngày sống bây giờ
dẫu còn lấm láp
nhưng với con
kể như là lãi
món nợ này
con biết trả sao
biết trả ra sao
khoản lợi nhuận con đang thừa hưởng
phảng phất đêm ngày lớp lớp khói hương.
Chiến tranh kết thúc, Hoàng Trần Cương xuất ngũ với tấm thẻ
thương binh, quay lại trường học tiếp. Những năm 80, ông là kế toán trưởng của
báo Nông Nghiệp Việt Nam. Đây là khoảng thời gian mà ông nhận ra giá
trị cũng như sự nghiệt ngã của đồng tiền. Nhà thơ Hoàng Trần Cương từng đi buôn
gạo, buôn sắt vụn để có tiền lo từng cân thịt, từng chiếc bánh chưng cho anh em
trong cơ quan. Chính những ngày tháng đó, vốn liếng về con người, sự nhận chân
giá trị thực cuộc sống trong ông trở nên sâu sắc. “Lửa đạn” thời bình còn đáng
sợ hơn chiến tranh, vì ta không nhìn thấy được, kẻ thù không phải bằng da bằng
thịt nên buộc con người ta cần phải tỉnh táo. Từ chiến trường ông bước vào thị
trường đầy gian khó, đầy sai lầm của thời cuộc với một tâm thức phải luôn gắng
gỏi vươn lên nhưng không được đánh mất phẩm giá con người.
Cho đến lúc nghỉ hưu ông đang ở cương vị Tổng biên tập Thời
báo Tài Chính Việt Nam. Bây giờ ông càng có nhiều thời gian dành cho thơ
ca và bạn bè. Mảnh đất miền Trung vẫn là đề tài mà ông nung nấu như vừa mới bắt
đầu khai thác. Ông bảo, từ trước đến giờ, mỗi lần định viết về quê hương, bao
giờ ông cũng tắm rửa sạch sẽ, dâng hương trước bàn thờ tổ tiên, ngồi vào bàn thật
bình tĩnh, thanh thản, rồi mới bắt đầu viết.
Ông là một người nghiện thơ, và trong con người nghiện thơ đó
lại có một cái nghiện khác, đó là nghiện viết trường ca. Cho đến nay ông đã
hoàn thành bốn tập trường ca và một trường ca về biển đảo đang viết dở. Ông
đang cố gắng viết khác để không lặp lại mình. Mong rằng ông sẽ làm được. Và, nếu
không, thì dẫu sao ông cũng đã tạo được một phong cách Hoàng Trần Cương - người
thơ trầm tích của thổ nhưỡng miền Trung.
Nhà thơ Hoàng Trần Cương
• Sinh năm:1948
• Quê quán: Đặng Sơn, Đô Lương, Nghệ An
• Hoạt động: tốt nghiệp Đại học Tài Chính Ngân Hàng, từng
tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nam, Lào, chiến trường Tây Nam, các mặt
trận phòng không phía bắc; sau chiến tranh, làm kế toán trưởng báo Nông
Nghiệp Việt Nam; rồi làm chuyên viên kế toán tài chính kinh doanh của Bộ Tài
chính; nguyên Tổng biên tập Thời báo Tài Chính Việt Nam.
• Tác phẩm đã xuất bản: Hạnh phúc hôm nay (ký), Bầu
trời Quảng Trị (truyện ký), Nguyên vẹn (truyện ngắn), Chớp
xanh (truyện ngắn), Dư âm (truyện ngắn), Đường chân trời (Thơ
in chung), Dấu vết tháng ngày (thơ), Trầm tích (trường
ca), Quà tặng hành tinh (thơ)....
• Giải thưởng: Giải A bút ký của tạp chí Văn Nghệ Quân Đội,
giải nhất cuộc thi thơ báo Văn Nghệ (1990-1991), giải thưởng Bộ Quốc
phòng (1994-1999), giải thưởng Hội Nhà văn (2000), giải đặc biệt giải thưởng Hồ
Xuân Hương (1997-2002).
Người “kê cao” nền thơ Tày hiện đại
Y Phương quan niệm: “Văn chương là một việc làm trả ơn những
người sinh thành và nuôi dưỡng mình.” Trên thực tế, ông đã không chỉ làm được
việc trả ơn cho cha mẹ, cho dân tộc đã sinh ra và nuôi dưỡng mình, mà bằng tài
năng và quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc, ông đã thực sự làm rạng danh
cho thơ Tày, và góp một giọng điệu lạ cho thơ Việt thế kỷ XX. Đặt thơ Y Phương
trong dòng chảy liên tục của thơ Tày thế kỷ XX, chúng tôi nhận ra: Nếu như thơ
của các thế hệ trước Y Phương như Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Nông Viết Toại,
Triều Ân... đặt trên cơ sở kế thừa sâu sắc truyền thống thi ca Tày thực hiện sứ
mệnh mang thơ Tày gia nhập nền thơ Việt Nam hiện đại, thì trong khoảng hai mươi
năm qua, thơ Y Phương đã đưa thơ Tày lên một tầm cao mới, vừa chiếm lĩnh tư duy
và thi pháp thơ hiện đại, vừa làm giàu bản sắc dân tộc.
1. Cũng như thơ ca ở thời đại mà giá trị của con người được
đo bằng sự cống hiến của anh ta đối với cộng đồng, với sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, thơ Y Phương thấm đẫm tinh thần yêu quê hương, đất nước, yêu dân tộc
mình. Nhưng sự khác biệt so với các nhà thơ thế hệ trước thể hiện rõ ở cách mà
ông thể hiện tinh thần ấy. Nếu thơ Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Nông Viết Toại,
Triều Ân... trực tiếp lấy quê hương – đất nước làm đề tài chủ đạo, họ làm thơ để
hát lên những tiếng ca hào sảng về tình yêu quê hương đất nước, về những đổi
thay lớn lao của số phận dân tộc mình, từ kiếp đói nghèo, nô lệ được làm chủ cuộc
đời mình, thì thơ Y Phương trải rộng trên một hệ thống đề tài: chiến tranh, cuộc
sống và con người miền núi, đô thị, tình cảm gia đình, tình yêu lứa đôi... Ở đề
tài nào ông cũng thể hiện rất thành công.
Sự phong phú về đề tài thể hiện sự trải nghiệm của cuộc đời
ông, một cuộc đời bắt đầu từ mạch nguồn... cái làng của mẹ sinh con/ Có ngôi
nhà xây bằng đá hộc/ Có con đường trâu bò đi vàng đen kìn kịt/ Có niềm vui lúa
chín tràn trề/ Có tình yêu tan thành tiếng thác (Tên làng), đi qua khói lửa chiến
tranh và trưởng thành: Nhận khẩu súng, đeo ngôi sao/ Đi dép lốp đạp bao thằng
xâm lược/ Ăn cơm muối vừng mà thắng giặc/ Lớn lên chân cứng đá mềm (Thưa mẹ
chúng con đã lớn); trải qua những thăng trầm của đất nước và thời cuộc, tìm về
và khẳng định mình trong quan hệ máu thịt với cội nguồn dân tộc, khẳng định bản
lĩnh, tài năng của một nhà thơ và niềm tin vào con người: Mặt trăng/ Mặt
trời từ đâu mà có/ Mặt trời, mặt trăng ư?/ Từ chúng ta ngước lên mà thành (Trò
chuyện với các thần).
Niềm tin vào sức mạnh của chính mình, sức mạnh của Con Người
không chỉ là niềm tin cá nhân của nhà thơ. Niềm tin ấy phải chăng có nguồn gốc
sâu xa từ văn hóa tín ngưỡng – tôn giáo của dân tộc Tày? Trong lịch sử văn hóa
của mình, người Tày đã tiếp nhận nhiều giá trị văn hóa – văn minh trong giao
lưu văn hóa với các cộng đồng dân tộc khác, nhưng riêng về tôn giáo thì hầu như
chưa có một tôn giáo nào từ bên ngoài lại có thể tìm được chỗ đứng trong sinh
hoạt tâm linh của người Tày. Ở thời hiện đại, điều này vẫn có ý nghĩa của nó.
Người Tày tin vào sức mạnh của chính mình. Họ, chứ không phải thế lực siêu
nhiên nào khác, tự làm nên cuộc sống, làm nên xứ sở của mình, như Y Phương kiêu
hãnh: Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương (Nói với con). Họ dựa vào
các quy luật tồn tại và phát triển của vạn vật trong thiên nhiên để cùng tồn tại
và phát triển. Niềm tin và lòng tự tôn dân tộc trải qua ngàn năm, tạo nên một
tâm thức, một trạng thái sống vững vàng và hài hòa của các thế hệ người Tày. Niềm
tin lớn lao ấy nuôi dưỡng tâm hồn và tài năng thơ của nhà thơ Y Phương, giúp
ông nghiệm sinh những chiều kích khác của cuộc sống.
Có thể thấy ở thơ Y Phương sự đổi mới không ngừng trong ý thức
điều hòa quan hệ giữa lý trí và tình cảm, giữa cái riêng của cộng đồng xuất
phát và cái chung của cộng đồng gia nhập. Đó là sự tự nghiệm: Tôi có một
dòng suối mơ/ Ra biển lớn vẫn chưa bằng lòng/ Bạc đầu sóng không một ngày ngơi
nghỉ/ Cả cuộc đời tự vặn mình sinh nở/ Chảy mãi hoài vào người (Tôi có một dòng
suối). Đó là ý thức về cội nguồn, truyền thống dân tộc, như những con đường
núi, như tên làng, như câu hát tháng Giêng, như lời ru của bà,... không bao giờ
mất đi. Ông không chỉ ý thức được việc giữ gìn bản sắc dân tộc, mà còn chủ động
kiếm tìm và hòa nhập với sự biến đổi của cuộc sống theo thời gian. Điều đó làm
cho thơ Y Phương vượt lên trên các nhà thơ Tày cùng thời và ngày càng chiếm
lĩnh các giá trị mới.
2. Sự trải nghiệm cuộc sống, bản lĩnh và niềm tin cùng với
tài năng và ý thức nghề nghiệp của nhà thơ đã làm nên trong thơ ông một giọng
điệu đa thanh, vừa đằm thắm chất trữ tình vừa hào hùng chất sử thi, vừa hồn
nhiên chân chất vừa sâu lắng tâm tư. Điều đó là sự khác biệt rõ nét đối với giọng
điệu mạnh mẽ, hào sảng mang đậm chất sử thi, vốn là giọng điệu chủ đạo thể hiện
qua lối kể tả chân thực của các nhà thơ thế hệ trước.
Khi viết về quê hương mình, dân tộc mình (trong các bài Lên
Cao Bằng, Phòng tuyến Khau Liêu, Tên làng, Nói với con, Người sinh ra bài ca,
Chín tháng...) ông sử dụng giọng điệu sử thi hào sảng và kiêu hãnh: Người
đồng mình tự đục đá kê cao quê hương/ Còn quê hương thì làm nên phong tục (Nói
với con); Thắp sáng lên ngọn đèn/ Lịch sử hiện dần lên mặt vải/ Dân tộc vừa bơi
thuyền vừa hát trường ca Khảm hải (Chín tháng). Và lớn hơn thế, là tình
yêu, niềm tự hào và ý chí giữ gìn đất nước, giữ gìn nền văn hóa làm nên đất nước: Ta
quyết không lùi /Cả đất nước trong vòng tay ta giữ/ Câu hát thiêng liêng lắm chứ/
Hát bây giờ còn để hát mai sau (Tiếng hát tháng Giêng).
Nhưng cũng trong những bài thơ ấy lại rung lên những bè trầm
đằm thắm, thiết tha mà nhà thơ nhẩn nha và chân thành gieo vào lòng người: Đất
nước/ Chưa một ngày yên nghỉ/ Ngủ cũng đi/ Mà ăn cũng đi/ Biển réo đằng kia/
Còn trời/ Còn đau khổ/ Đất nước dài nước mắt người thiếu phụ (Chín tháng), Em
có buồn?/ Sao em bâng khuâng/ Quê hương mãi nghèo thế... (Tiếng hát tháng
Giêng), Mẹ và em nhỏ/ Đeo đầy nhớ thương/ Cong cả đường cái quan (Phòng tuyến
Khau Liêu), Bài hát ấy ở trong tôi/ Mỗi khi hát lại đầm đìa nước mắt/ Thương
cho dân tộc mình lao đao bốn mặt/ Những phương trời lửa vừa tắt, lại bùng lên
(Người sinh ra bài ca)... Đó là những vần thơ được viết từ trái tim nhiều
rung cảm tình đời, từ sự trải nghiệm và thấu hiểu của một người yêu nước yêu
dân tộc, không chỉ có niềm lạc quan chiến thắng mà còn hiểu cả sự bi tráng phía
sau những chiến thắng ấy. Đó là khó khăn gian khổ và sự hy sinh, mất mát, điều
mà các nhà thơ Tày trước ông ít khi đề cập tới.
Sự hòa nhịp giữa chất sử thi và chất trữ tình làm nên giọng
điệu trữ tình – sử thi, là giọng điệu chủ đạo của thơ Y Phương trong khoảng mười
năm đầu. Sau này, trong khoảng mười lăm năm trở lại đây, thơ Y Phương thể hiện
một giọng điệu mới, giọng điệu trữ tình – thế sự. Trong thơ đằm thắm niềm vui,
khi nhà thơ nhận ra những nét đẹp làm nên giá trị của cuộc sống quanh
mình: Mồng một Tết thắp hương/ Khói đi lang thang/ Theo khói/ Gặp bưởi
vàng/ Dọc đường làng/ Chọc là cười/ Bầy trẻ nhỏ vừa mổ vừa ăn vừa đem ra nghịch/
Chân tay thơm quê hương/ Chúng nó nói giọng ông bà ngoại (Lời ru quê ngoại), Bất
chợt ùa ra đường/ Từng đôi trăng đi/ Từng đôi trắng đi/ Cười lóa/ Sung sướng về
đâu em (Một chút Lạng Sơn), Sớm nay/ giàn mướp rung rinh đài hoa/ Con ếch cốm
ngắm vịt bơi rinh rích/ Cơn gió nồm chảy qua người xanh mướt/ Thung lũng như
em/ Chìm lặng yêu thương (Chim trắng)...
Nhưng thơ Y Phương cũng chất chứa những suy tư, lo lắng về
nhân tình thế thái, về những nỗi buồn, những hoài niệm mang sắc thái, cung bậc
khác nhau, mà sự tinh tế đã giúp nhà thơ nhận ra. Đó là sự tù túng của vùng đất
hay của thời cuộc, khiến nhà thơ hoang mang: Những mùa dài sông Bằng không
chảy/ Tôm cá đi thơ thẩn như người/ Mái chèo chạm nỗi lòng gợn sóng/ Đi đâu?/ Về
đâu?/ Bè ơi!(Những mùa sông Bằng không chảy). Đó là nỗi lòng của một người
mẹ: Con thương mẹ bằng mưa/ Mưa một ngày đã nhạt/ Mưa cả tháng thì sao (Lời
mẹ)... Là nỗi lo lắng cho quê hương không thể nói hết lời trong câu thơ
buông lửng vừa hàm chứa những nỗi niềm, vừa độc đáo về cách diễn đạt, và “bắt”
người đọc phải tự hoàn tất cái khoảng trống thẩm mỹ ấy: Đời ông còn đun củi/
Đời cha đã chặt cành/ Đến đời con đun... cỏ/ Đất mỗi ngày mỗi khó/ Người mỗi
ngày mỗi...(Người mỗi ngày).
Còn đây là sự cô độc của một người miền núi ở nơi thị thành,
một cá nhân bé nhỏ, xa lạ giữa dòng chảy khổng lồ của thế giới hiện đại. Là nỗi
đau đớn đến xót xa, giống như nỗi đau của một cái cây đã bứt khỏi cội rễ: Đây
đâu phải nhà mình/ Không thấy cánh đồng lúa vàng/ Bãi đá sau làng/... / Mở cửa
ra/ Nhà chồng lên nhà/ Nhà cũng guồng chân chạy/ Những dòng sông người sôi lên ầm
ào/ Cháy khét/ Inh tai nhức óc/... Đóng cửa vào/ Tiếng máy lạnh thở dài/ Màn
hình chớp như khóc/ Gối/ Chăn/ Ga/ Đệm/ Nói tiếng gì/ Không biết/ Cây trong bồn/
Hoa trong bình/ Tranh trên tường/ Cười nỗi gì/ Không biết (Cười nỗi gì).
Sự đa giọng điệu trong thơ Y Phương mà giọng điệu nào cũng
thành công là nét khác biệt và nổi bật không chỉ so với các tác giả thơ Tày lớp
trước mà ngay cả với lớp tác giả cùng thời và sau ông cũng chưa ai có được.
3. Thơ Y Phương là kết quả của một quá trình tự ý thức trong
tiếp nhận và sáng tạo để đạt tới sự hài hòa giữa dân tộc và hiện đại.
Y Phương chủ động làm cho hai thi pháp cổ điển và hiện đại
hòa quyện với nhau. Ông kết hợp hài hòa giữa lối trần thuật, phô diễn gần với
diễn xướng dân gian và lối viết cô đọng, súc tích, nói ít gợi nhiều của thơ hiện
đại. Các tác phẩm Chín tháng, Tiếng vó ngựa trên đèo Heo, Người vùng
cao... về sau này là Lời ru quê ngoại, Người mỗi ngày..., Mưa, Keng Pảng... thể
hiện rõ điều này. Trong thơ Y Phương, ta thường bắt gặp những hình ảnh, ngôn từ,
cách diễn đạt mang đậm chất Tày, đó là sử dụng cú pháp theo mạch liên kết thẳng,
ít khi phá vỡ cấu trúc thông thường, thông tin thẩm mỹ đến trực tiếp; xây dựng
những hình tượng thơ giàu tính biểu cảm, lối so sánh ví von, lối diễn đạt mang
phong vị dân gian: Núi như trăm voi rùng rình/ Suối như bạc ào ào chảy.../
Mé già ơi nhớ mẹ râm ran khắp người/ Như chàm đã kín nương/ Như lúa trĩu đồi/
Mé yêu con bằng trời/ Nhưng không giữ/ Mé thả con mình theo nước về xuôi (Người
vùng cao); Bất ngờ/ Em đổ vào tôi/ Củi mục cành khô lại xanh chồi/ Hòn đá vỡ mọc
lên cây nghiến (Yêu muộn)...
Nhưng nếu như các nhà thơ trước ông dừng lại ở đấy, thì Y Phương
đi tiếp. Ông luôn tìm tòi và thành công trong việc phá vỡ cấu trúc ngôn ngữ
thông thường để cấu tạo lại (tái cấu trúc), tạo ra giá trị biểu đạt cao. Ông rất
giỏi trong việc lập tứ, bài thơ nào của ông cũng có tứ mới. Đồng thời, ông hay
tạo ra những phá cách về ngữ nghĩa, tạo ra những hình ảnh thơ lạ, có sức gợi rất
cao:
Khi lửa tắt/ Nó thoát vào không khí/ Khi mặt trời lặn/ Nó
thoát vào không khí/ Khi mặt trăng lặn/ Nó thoát vào da thịt em (Da thịt em);
Bàn tay mềm ra suối mọc thành cây/ Cầm ngọn khói dựng lên trời thẳng tắp (Em –
cơn mưa rào – ngọn lửa); Cháu tỉnh rồi/ Đôi mắt đen như chữ Hán/Hau háu nhìn (Lời
chúc).
Ông luôn cố gắng “lạ hóa” ngôn ngữ thơ, sáng tạo ra những từ
láy mới nhằm tạo ấn tượng thẩm mỹ cao hơn: Cỏ lấp lánh/ Khe khẽ ướt (Ánh trăng),
Lúc bấy giờ/ tốc tác hạt mưa/... Quả gì túng tính đấy mình ơi/...Quả gì nhúm
nhím đấy mình ơi/... Mẹ nhằm nhì nói... (Chín tháng), Cháu bé vừa đầy tháng/
Non nõn như vành trăng (Lời chúc),... Nhìn lại sự thành công của Y Phương mà đỉnh
cao là Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, xin tạm cắt nghĩa, có lẽ đó
là sự kết tinh và tỏa sáng của một bản năng thơ thiên phú, một quá trình lao động
nghệ thuật mà ở đó thơ như một lẽ sống, và vốn văn hóa sâu rộng khởi nguồn từ
văn hóa Tày đặc sắc. Xã hội càng hiện đại, nhà thơ dân tộc thiểu số càng làm
cho mình giàu có lên bằng tri thức và bản sắc văn hóa dân tộc, thì càng vững
vàng hội nhập mà không đánh mất mình. Điều đó lý giải vì sao ngay cả ở những
năm đầu của thế kỷ XXI này, trong khi các nhà thơ Tày cùng thế hệ với ông hầu
như vẫn giữ lối nghĩ, lối viết như cách đây vài mươi năm, khó thay đổi, còn lớp
trẻ hòa nhập nhanh với đời sống đương đại nhưng lại có phần nhạt nhòa bản sắc
dân tộc, thì Y Phương vẫn vững vàng trên cả hai phương diện: dân tộc và hiện đại.
Nhà thơ Y Phương
• Tên thật: Hứa Vĩnh Sước
• Sinh ngày: 24-12-1948
• Quê quán: Trùng Khánh, Cao Bằng
• Hoạt động: Bắt đầu sự nghiệp văn chương khi còn là một chiến
sĩ bộ đội đặc công; sau khi chuyển ngành, theo học và tốt nghiệp Trường Sân khấu
Điện ảnh Việt Nam và Trường Viết văn Nguyễn Du.
• Tác phẩm chính: sáu tập thơ: Tiếng hát tháng Giêng (1986); Lời
chúc (1987); Đàn then (1996); Chín tháng (trường ca,
1998), Thơ Y Phương (2000); Thất tàng lồm (Ngược gió, song
ngữ Tày – Việt, 2006).
• Giải thưởng: Giải A cuộc thi thơ tạp chí Văn Nghệ Quân
Đội năm 1984, giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.
Cổ tích thời hiện đại
Cuộc thi thơ 1990-1991 của tuần báo Văn Nghệ đã
vinh danh các nhà thơ Hoàng Trần Cương, Đỗ Minh Tuấn, Lê Văn Ngăn, Nguyễn Việt
Chiến, Đoàn Thị Lam Luyến, La Quốc Tiến... Bên cạnh những tên quen thuộc ấy, giải
Nhì được tặng cho một cây bút lần đầu xuất hiện: Đỗ Trọng Khơi. Nhiều bạn đọc
và bạn văn nghe nói tác giả quê Thái Bình đã gọi điện hỏi Đỗ Trọng Khơi là ai?
Một giọng thơ thật riêng, thật mới, hé lộ một hồn thơ nhiều ẩn ức mà đầy sức mạnh
bản thể và niềm tin yêu cuộc sống. Dù đã biết tác giả là ai, tôi không khỏi ngạc
nhiên và vui mừng đạp xe hơn bốn mươi cây số về quê thăm Khơi. Nằm nghiêng trên
cái giường đơn sơ, gối đầu lên những cuốn sách, xung quanh la liệt những sách,
ngoài sân có tiếng gà cục tác, bên cửa sổ có tiếng kẽo kẹt của bụi tre già, Đỗ
Trọng Khơi kể cho tôi nghe về gia cảnh và chuyện anh tìm đến với văn chương.
Năm 1966, bố anh vào bộ đội chống Mỹ, năm 1967, ông hy sinh ở
chiến trường Quảng Ngãi khi mới 36 tuổi. Lúc bố đi chiến trường, Khơi mới học vỡ
lòng. Năm lên tám tuổi, Khơi bị sưng hai ngón chân út, nhưng không để ý, vì trẻ
con nhà quê ngã sứt đầu mẻ trán chả thuốc thang gì mấy ngày sau cũng khỏi.
Nhưng sáu tháng sau sưng lên cổ chân, hai năm sau lên đầu gối, ba năm sau chuyển
sang cả hai chân. Ông nội cõng cháu đi khắp nơi, gặp hết ông lang này ông lang
khác, bán hết lợn đến thóc mà bệnh không thuyên giảm. Các thầy lang bảo đó là bệnh
“hạc tất phong”. Ông nhìn cháu, mẹ nhìn con ứa nước mắt mà bất lực. Năm 1971,
Khơi học hết lớp ba thì phải bỏ học, nằm liệt giường từ đấy. Cũng từ đây, Khơi
bắt đầu một đời đọc sách để tìm đến với biển trời tri thức và tìm thấy chính
mình. Trong hàng chục tập thơ đã xuất bản của Đỗ Trọng Khơi, có một tập anh tâm
đắc lấy tên là ABC. Anh nói rằng vốn liếng được học ở trường của anh chỉ hết bảng
chữ cái, đủ biết đọc, biết viết, anh phải tự học lấy tất cả, không ai giúp anh
được. Tập thơ có những câu đề từ: Bao giờ người chết được / hư tĩnh thành
non cao /thơ sẽ về ươm hạt /trồng xanh vùng chiêm bao. Và anh nói về sự học: Cha
khuyên học cỏ / mà nuôi chí người / khi trong khi đục / khi đầy khi vơi / cứ
theo sông suối / thì về biển khơi / mẹ khuyên học biển / mà yêu con người (Học
H).
Những cuốn sách đầu tiên Khơi nằm đọc là của bố để lại. Chỉ
hơn chục cuốn, là mấy bộ Thủy Hử, Tam Quốc, Đông Chu Liệt Quốc, và mấy cuốn
sách không liên quan gì đến văn chương. Đọc đi đọc lại gần như thuộc lòng những
sách ấy, Khơi khát sách như khát nước mà không có sách đọc. Nhiều ngày đêm nằm
ngửa mặt nhìn trần nhà chỉ mơ về sách. Khơi xin phép mẹ, dành hết số tiền trợ cấp
liệt sĩ của bố, nhờ người bạn làm công nhân mua sách ở hiệu sách huyện. May gặp
được chị Hòa bán sách, biết Khơi nhà nghèo và hoàn cảnh đặc biệt, chị quyết định
cho Khơi mượn sách, với yêu cầu là phải giữ gìn thật cẩn thận, đọc xong trả
ngay để chị bán. Chỉ với một chút lòng thơm thảo, chị đâu biết chị đã góp phần
mở đường cho một nhà văn tương lai. Không nhớ Khơi đã đọc bao nhiêu sách, nhưng
anh đọc tất cả những gì mà hiệu sách và thư viện huyện có. Đọc cả một bể tri thức
không hệ thống, không người chỉ dẫn, nhưng vì có thiên tư, nên Khơi đã tổng hợp
cho mình một kiến thức khá vững vàng về nền văn học của đất nước và các nền văn
học lớn khác như Trung Quốc, Nga, Pháp và một số nước có sách dịch sang tiếng
Việt. Không chỉ đọc sáng tác, Khơi đọc cả sách nghiên cứu, lý luận; không chỉ đọc
văn học, mà đọc cả sách khoa học. Tất cả đều đọc và suy nghĩ, ghi chép cẩn thận.
Trong cuộc đời văn chương của Đỗ Trọng Khơi, những năm chưa phát lộ này có lẽ lại
là thời kỳ quan trọng nhất.
Sau mười năm nằm đọc sách, Khơi bắt đầu viết truyện ngắn. Nằm
nghiêng đọc và cũng nằm nghiêng viết. Khơi viết về tình yêu, tình bạn, về quê
hương. Trong khoảng hai năm, anh viết được mười truyện ngắn và hơn hai chục bài
thơ. Viết rồi chép thật sạch, đóng thành một tập cả văn thơ, đưa cho bạn bè đọc,
mọi người trong làng chuyền tay nhau. Mùa thu năm 1987, có đoàn sinh viên trường
đại học Y Thái Bình về vùng quê Khơi làm công tác y tế cộng đồng. Tình cờ thấy
người cán bộ thông tin loa đài xã cầm tập bản thảo của Khơi, nhóm sinh viên tò
mò mượn đọc. Rồi một buổi tối, người dẫn đầu nhóm sinh viên là Hoàng Năng Trọng
cùng mấy bạn tìm đến nhà Khơi. Chủ, khách đều không giấu nổi xúc động. Hoàng
Năng Trọng không ngờ người viết ra tập bản thảo đầy chất nhân văn ấy lại là một
chàng trai cùng tuổi mình, bị tật nguyền phải nằm nghiêng, hai chân cứng khớp
không thể thay đổi tư thế. Sức sống cả con người Khơi chỉ thể hiện ở khuôn mặt
phương phi, vầng trán rộng và đôi mắt rực sáng, còn thân thể thì gầy bé, tứ chi
có dấu hiệu bị teo cơ do biến chứng của thấp khớp. Trực giác mách bảo Trọng rằng
đây là một người có sức mạnh nội tâm và có khát vọng lớn. Còn Khơi thì run lên
trước sự xuất hiện của Trọng và nhóm sinh viên. Trọng nói: “Đọc của anh tôi rất
thích. Tôi có điều kiện tiếp xúc với các báo chí, có tác phẩm nào tâm đắc, anh
gửi để tôi chuyển cho họ.” Lúc đó Khơi chưa dám nghĩ những gì mình viết ra được
in trên báo chí. Vì thế, Khơi cứ nấn ná không gửi. Nhưng Trọng thì không quên.
Tốt nghiệp đại học xuất sắc, Trọng được giữ lại giảng dạy tại đại học Y Thái
Bình. Thỉnh thoảng Trọng đạp xe gần bốn cây số về thăm Khơi. Dần dần Khơi bớt mặc
cảm, và họ trở thành đôi bạn như được Trời sắp đặt. Mùa thu năm 1988, Trọng đưa
chùm thơ của Khơi in ở tạp chí Văn Nghệ Thái Bình, ký bút danh là Đỗ Tuấn
Khơi. Đây là chùm thơ đầu tiên được xuất bản, bút danh ấy xuất hiện lần đầu
tiên và cũng là lần cuối cùng. Ngay sau đó, để kỷ niệm tình bạn của mình, Khơi
lấy tên Trọng vào bút danh, đổi là Đỗ Trọng Khơi, cái tên ngày nay đã trở nên
quen thuộc với độc giả cả nước.
Hoàng Năng Trọng làm bí thư đoàn trường đại học, thường mời
các nhà văn, nhà thơ về nói chuyện với sinh viên, nên quen biết khá nhiều văn
nghệ sĩ. Cuối năm 1990, Trọng lên Hà Nội gặp nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi và nhà thơ
Bế Kiến Quốc, đưa thơ của Khơi cho hai nhà thơ nhờ đọc giúp. Hai người bạn
không ngờ hơn tuần sau đài Tiếng nói Việt Nam có chương trình thơ Đỗ Trọng
Khơi, do đích thân nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi viết lời giới thiệu, gây tiếng vang
trong thính giả và giới cầm bút. Ngay sau đó, báo Văn Nghệ đăng liền
hai chùm, gồm chín bài thơ Đỗ Trọng Khơi trong mục thơ dự thi. Đỗ Trọng Khơi đã
chính thức gia nhập văn đàn đất nước khi cuộc thi thơ báo Văn Nghệ tổng
kết, công bố anh được giải Nhì.
Cuộc đời bỗng chốc mở ra cho Khơi những chân trời mới. Khơi
có thêm nhiều bạn văn chương và những người hâm mộ. Người bạn Hoàng Năng Trọng
vẫn lặng lẽ bên Khơi trong mọi niềm vui nỗi buồn. Thời kỳ này Khơi viết say mê
với một bút lực dồi dào. Hoàng Năng Trọng luôn là độc giả đầu tiên các tác phẩm
mới của Khơi. Năm 1992, Trọng mang một tập bản thảo của Khơi lên Hà Nội nhờ nhà
thơ Nguyễn Bùi Vợi thẩm định. Nhà thơ đọc xong rất mừng. Ông cùng Trọng chọn 37
bài để in. Đích thân nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi đi xin giấy phép và xin tài trợ in
thơ cho Khơi. Tập thơ đầu tay Con chim thiêng vẫn bay của Khơi được
xuất bản, nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi lại tổ chức họp báo tại Hà Nội giới thiệu tác
phẩm mà tác giả không thể có mặt. Khơi đã chinh phục bạn đọc bởi một hồn thơ
mang mang bảng lảng những dự cảm tâm linh, những khắc khoải âu lo về kiếp người,
về nỗi cô đơn trước Càn Khôn. Tôi quỳ trước Nỗi Buồn như quỳ trước Mẹ =/ Mẹ
thiêng liêng và Nỗi Buồn cũng thế/ Trước Mẹ – con được còn thơ bé =/ trước Nỗi
Buồn – con sẽ lớn khôn lên (Buồn thiêng). Vỗ núi, trỏ sông bao lần hỏi đường/
và chân chồn gối mỏi/ và trong lòng thác ghềnh đá dựn =/ không gian vô cùng/
thời gian vô tận/ Người có trong con không=/ Adiđà Phật (Thưa cùng Đức Phật).
Sau những thành công bước đầu, Khơi tiếp tục đọc và viết. Anh
không chỉ làm thơ, mà còn viết truyện ngắn, lý luận phê bình văn học in trên các
báo và tạp chí. Sách của anh liên tiếp được các nhà xuất bản in bao cấp và phát
hành trên toàn quốc. Cho đến hôm nay số tác phẩm chưa xuất bản của Đỗ Trọng
Khơi còn rất nhiều. Trong kho dữ liệu máy vi tính của anh còn cất giữ hàng ngàn
bài thơ, một tập truyện ngắn, một tập tản văn, một tập lý luận phê bình. Anh vẫn
đọc và viết không ngừng nghỉ.
Văn học không chỉ giúp Đỗ Trọng Khơi tìm thấy bản thân, mà
còn làm thay đổi số phận anh. Từ năm 2000, bạn bè và những người quý mến Khơi
đưa anh lên thành phố. Người thì làm công văn, người đi lo thủ tục hành chính
nhập khẩu, rồi xin đất cho anh. Mọi chuyện thuận lợi vì Khơi sống trong tình cảm
của xã hội, hơn nữa anh là con liệt sĩ, cháu của một bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Khơi đã có ngôi nhà tầng khang trang, là nơi lui tới của bạn bè văn nghệ sĩ khắp
trong Nam ngoài Bắc. Hoàng Năng Trọng đã tìm giáo sư đầu ngành mổ khớp háng cho
Khơi, giải thoát cho anh khỏi cảnh nằm liệt một tư thế, để anh có thể ngồi xe
lăn và sinh hoạt thoải mái hơn. Sự thay đổi tình trạng sức khỏe đã tạo ra một
bước ngoặt lớn lao cho cuộc đời Khơi. Một người con gái là bạn đọc của Khơi ở tận
phương trời Nam đã tìm đến với anh. Và một kỳ tích đã đến: Vợ Khơi sinh cho anh
một bé trai khỏe mạnh và tuấn tú. Khơi đặt tên con là Đỗ Lập Sơn, và anh bảo đó
là Đại kiệt tác của mình. Bố Khơi hy sinh chỉ có mình anh là trai, giờ anh có
bé nối dõi dòng họ Đỗ, thật là phúc đức Trời cho. Đường Văn đường Đời của Khơi
thế là viên mãn. Hoàng Năng Trọng nay là Phó Giáo sư – Tiến sĩ, Phó Hiệu trưởng
trường Đại học Y Thái Bình. Không chỉ lo cưới vợ cho Khơi, Trọng còn sắp xếp việc
làm cho vợ và cháu Khơi. Hôm mừng cháu Đỗ Lập Sơn đầy tháng, mấy anh em làm một
cái tiệc nhỏ. Chúng tôi cùng nâng ly, Trọng nói với tôi: “Em đi nhiều nơi, khi
giới thiệu, người ta cứ kèm thêm mấy chữ Bạn của nhà thơ Đỗ Trọng Khơi, thấy rất
vui và vinh dự anh ạ.” Khơi bảo: “Trọng là một trí thức có học vị cao sang, lại
là quan chức, còn em chỉ là anh thường dân, người ta cũng giới thiệu em là Bạn
của Tiến sĩ Hoàng Năng Trọng, em thấy thật vinh dự và tự hào.” Hai người bạn
cùng cười. Họ đáng tự hào về nhau lắm. Tình bạn của Đỗ Trọng Khơi và Hoàng Năng
Trọng đúng là câu chuyện cổ tích thời hiện đại. Ở đây không có Tiên, có Phật,
nhưng có tình người trong sạch và lý tưởng sống đầy danh dự và tự hào. Đời sống
xã hội đang trong cơn điên đảo, đồng tiền che lấp chân lý, danh lợi hủy diệt
lương tâm, thì tình bạn của Trọng và Khơi như khẳng định sự bất diệt của cái
Thiện và tình người. Một tình bạn cao đẹp và có hậu. Có lẽ ông cha ta ngày trước
soạn ra chuyện Lưu Bình – Dương Lễ cũng lấy tích từ những tình bạn thế này đây.
Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi
• Tên thật: Đỗ Xuân Khơi
• Sinh ngày 17-7-1960
• Quê quán: Trần Xá, xã Văn Cẩm, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái
Bình
• Hoạt động: Bị bệnh hiểm nghèo phải bỏ học từ năm lên mười;
tự học và khổ luyện ở nhà; đã công bố cho xuất bản mười tập thơ, một tập truyện
ngắn, một tập lý luận phê bình; hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 2001.
• Giải thưởng: giải Nhì cuộc thi thơ của tuần báo Văn
Nghệ (1990-1991), hai giải thưởng hàng năm của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp
Văn học nghệ thuật Việt Nam (1993 và 2003), và một số giải thưởng khác.
Một mình ta đã quá chật ta rồi
Không rõ vì sao tôi nghĩ ngay đến cái tên Hồng Thanh Quang,
khi lên kế hoạch chuẩn bị bài cho số kỷ niệm ngày Báo chí cách mạng Việt Nam
(21/6). Xét về khía cạnh thơ ca, anh không thuộc lớp tài năng xuất sắc. Về khía
cạnh báo chí thì cái tên Hồng Thanh Quang cũng chẳng quá nổi trội. Cách đây khoảng
hai mươi năm, tôi đã có ấn tượng về nhà thơ Hồng Thanh Quang trong vai trò làm
người dẫn chương trình cho các sự kiện văn hóa nghệ thuật. Tôi thấy anh có cách
dẫn đầy nhiệt huyết, ngẫu hứng, linh hoạt, sắc sảo của một người thông minh và
am hiểu. Còn bây giờ, Hồng Thanh Quang đã là đại tá, Phó Tổng biên tập
báo Công An Nhân Dân, với bộn bề công việc của mấy tờ báo, chẳng có thời
gian đâu để nghĩ đến chuyện lúc nào đó sẽ lên sân khấu dẫn chương trình. Hoặc
cũng có thể với cương vị hiện tại anh sẽ cảm thấy ngại khi làm công việc đó.
Nhưng, trong thâm tâm tôi nghĩ rằng Hồng Thanh Quang vẫn yêu thích công việc
làm MC. Có lẽ, anh đã từng nghĩ về điều đó khi đang mơ màng ngồi trên chiếc ghế
bành của ông Phó Tổng biên tập chăng.
Con phố Yết Kiêu, nơi mà tòa soạn báo Công An Nhân Dân tọa
lạc, đối với tôi cũng không có gì lạ lẫm, bởi tôi và một số anh em bạn bè vẫn
thường hay lang thang cà phê, chè chén trên con phố này. Cũng chính vì thế mà
ngôi nhà cổ được xây dựng từ thời Pháp, mang số 100 tròn trịa, nơi mà Hồng
Thanh Quang đang giữ trọng trách Phó Tổng biên tập, cũng không có gì xa lạ với
tôi. Nghe kể, ngôi nhà đó trước đây vốn là của gia đình danh họa Tô Ngọc Vân.
Chỉ cách đó mấy nhà là ngôi nhà của gia đình một con người tài hoa khác, đó là
nhà thơ, nhạc sĩ Văn Cao, cha đẻ của bài quốc ca mà người ta đang muốn đè ra để
sửa lời. Sau khi đi qua các tầng dưới được treo rất nhiều tranh, như bước vào một
gallery đầy màu sắc, bước lên đến tầng bốn, cũng là tầng trên cùng của ngôi biệt
thự cổ, nơi có phòng làm việc của Hồng Thanh Quang, không khí tĩnh lặng thể hiện
trong những gam màu được trả lại như vẻ vốn có của ngôi nhà. Phòng làm việc của
nhà thơ Hồng Thanh Quang cũng khá rộng nhưng ngổn ngang bởi sách vở, tủ, bàn ghế.
Trên tường treo nhiều tranh ảnh, đặc biệt là ảnh của con trai và con gái anh.
Những bức ảnh được treo rất ngẫu hứng, không theo một bố cục hay trình tự nào cả.
Nằm chính giữa phòng là cái ghế điện để mát xa to uỳnh. Nó bị kẹp giữa bàn làm
việc và bộ bàn ghế tiếp khách. Hồng Thanh Quang bảo cái ghế này là vợ anh mua về
nhà để anh mát xa, thư giãn, nhưng vì ngày nào cũng tám – chín giờ tối anh mới
mò về đến nhà, nên vợ lại thuê xe chở đến đây, nếu cứ để ở nhà thì sẽ chẳng bao
giờ dùng đến. Hồng Thanh Quang quê gốc ở Hưng Yên, nhưng anh sinh ra và lớn lên
giữa trung tâm phố cổ Hà Nội – phố Hàng Đào. Ta dễ dàng thấy hình ảnh phố thị
hiện lên rất rõ trong thơ của anh, kèm theo chút hào hoa lãng mạn của chàng
trai Hà Nội. Hồng Thanh Quang sinh ra trong một gia đình bố là bộ đội, mẹ làm
công nhân. Cuộc sống cũng khá vất vả. Cái tố chất lơ ngơ, mơ màng của một thi
sĩ đã bộc lộ trong con người anh ngay từ nhỏ. Chính vì vậy mà Hồng Thanh Quang
đã bị chúng bạn cho là khác người. Cậu bé Hồng Thanh Quang không ham những trò
chơi bình thường như chúng bạn khác, chỉ suốt ngày mơ mộng và chúi đầu vào
sách. Anh vẫn nhớ như in cái tủ sách nhỏ xinh của mình hồi bé. Đó chính là vật
dụng đầu tiên trong cuộc đời, thuộc quyền sở hữu của anh. Cái tủ sách đó được
mua từ những đồng tiền lẻ mẹ cho mà anh đã dành dụm. Ngay từ khi còn là một cậu
học trò, Hồng Thanh Quang đã có những câu thơ tình như thế này: Ngang vai
tóc thả mượt mà/Nhìn ai ánh mắt thoảng qua nét cười?/Dịu dàng khẽ mím bờ môi/Chắc
em không biết có người hôn em! Đó là khi cậu bé Hồng Thanh Quang nhặt được
một tấm ảnh chân dung của cô bạn học cùng trường mà cậu mến mộ.
Sau khi tốt nghiệp phổ thông, Hồng Thanh Quang thi vào trường
Đại học Quân sự và đủ điểm đi học ở Liên Xô, chuyên ngành vô tuyến điện.
Hồng Thanh Quang bảo, tất cả những người bạn cùng học nghề vô
tuyến điện với anh đều vô cùng giầu có. Nhưng anh đã không nhầm khi chọn con đường
chữ nghĩa này, bởi anh đã được làm công việc mà mình yêu thích, cuộc sống vật
chất cũng chẳng đến nỗi nào, cũng có xe ôtô để đi. Hồng Thanh Quang là một con
người của công việc. Anh suốt ngày giam mình trong phòng, ôm cái màn hình vi
tính. Dường như với anh được đắm mình trong những trang sách, lướt mười đầu
ngón tay trên bàn phím máy vi tính để phiêu du cùng những con chữ của mình đó
là niềm đam mê bất tận. Nói như nhà văn Hữu Ước, Tổng biên tập báo Công An
Nhân Dân: “Hồng Thanh Quang là người viết khỏe nhất, đa năng nhất, viết mọi thể
loại, mọi lĩnh vực.” Hồng Thanh Quang bảo, anh đam mê và đắm chìm trong những
con chữ một phần là do công việc phải làm nhưng điều quan trọng hơn là anh muốn
được “phát tán” những tình cảm, ý tưởng, suy nghĩ của mình đến với người đọc.
Chính vì vậy mà dường như viết bài cho báo thôi chưa đủ, anh còn viết cả blog,
viết facebook. Và hình như với hình thức thông tin nào thì Hồng Thanh Quang
cũng đã có một lượng bạn đọc đáng kể. Khi nghe tôi hỏi đùa: “Anh phát tán những
con chữ của mình nhiều thế, nhanh thế, không sợ lây lan thành đại dịch sao?”
Anh ngồi thẳng lưng, khua tay rất rộng, rồi lại đưa tay hất lọn tóc xoăn vừa kịp
rơi xuống chiếc kính cận vuông cạnh, ánh mắt nhìn thẳng, dường như đã là hình ảnh
đặc trưng của Hồng Thanh Quang suốt mấy chục năm qua kể từ khi anh mới bước
chân vào con đường viết lách và được mọi người biết đến, cái volume như được
kích to lên một tí, rồi tươi cười bảo: “Tôi luôn tự biết, nghề báo là nghề có
khả năng gây ngộ sát cao. Nếu nhà báo không ý thức được điều đó, mà cho rằng
công việc của mình có một quyền năng để ban phát, quyền năng để soi rọi, thì mức
độ và tần suất ngộ sát là rất lớn. Tôi nghĩ khi làm bất cứ một công việc gì, chẳng
riêng gì viết báo, chúng ta với tư cách là những người tử tế đều muốn làm những
việc tử tế nhất cho cuộc đời này. Mặc dù vẫn biết thời bây giờ sống làm người tử
tế khó lắm. Bởi tôi đã bị ăn đòn nhiều vì sự vô tư và sự tử tế.” Anh là người
biết tự cân bằng, nếu không sẽ thật khó sống, khi mà cuộc sống này giống như
cái đu quay cứ quay tít thò lò mà chẳng có một cái cột mốc nào để ta định hướng,
đôi khi khiến cho chúng ta cảm thấy hoang mang. Trước mọi sự bon chen của cuộc
đời, Hồng Thanh Quang luôn đứng lùi lại phía sau. Hồng Thanh Quang giờ đây đã
bước qua cái tuổi tri thiên mệnh, nên điều quan trọng đối với anh là được sống
là chính mình trong mỗi thời khắc của cuộc đời này. Ngay từ khi còn trẻ đã vậy
và đến bây giờ thì càng không muốn ép xác mình vì một mục đích, một sự ham hố
nào đó. Nếu có lúc nào đó, bị đẩy vào tình huống phải cạnh tranh, thì anh luôn
là người nhường nhịn. Hồng Thanh Quang bảo, mình có ăn non hơn người khác một
chút cũng chẳng sao, còn hơn phải ăn hơn người nhưng vượt quá năng lực của
mình. Điều đó sẽ giúp cho tâm mình luôn thoải mái.
Hồng Thanh Quang đã từng được bạn bè cùng trang lứa xem như
là một biểu tượng sẵn sàng hy sinh tất cả vì tình yêu. Cái biểu tượng đó đã được
minh chứng bởi chính cuộc đời anh và cả thơ của anh. Ai cũng biết anh đã từng
là chồng của một ca sĩ danh tiếng, đó là nghệ sĩ nhân dân Lê Dung. Để có được
tình yêu đó, cả hai người phải hy sinh và vượt qua rất nhiều khó khăn để đến được
với nhau. Đối với Hồng Thanh Quang thì tình yêu đó giống như một lễ hội. Nhưng
than ôi, lễ hội nào thì cũng có hồi kết thúc. Hạnh phúc thì cứ mong manh như những
cánh hoa, còn chúng ta không phải lúc nào cũng là những người làm vườn tài ba để
gìn giữ và nâng niu sự mong manh đó. Nhưng, có lẽ với Hồng Thanh Quang, tình
yêu đó và cả sự tan vỡ đó là những trầm tích mà anh sẽ nâng niu và biết ơn với
cuộc đời này:
Tôi đã quên mình chỉ để yêu em
Người đàn bà giấu đêm vào trong tóc
Còn điều chi em mải miết đi tìm...
Những câu thơ vang lên như một lời tuyên ngôn về tình yêu. Một
thứ tuyên ngôn khờ dại của kẻ lụy tình đầy kiêu hãnh khiến cho người đời ghen tỵ.
Tình yêu có thể biến mọi sự vô lý trở thành có lý. Tình yêu có thể biến mọi sự
mê muội mù quáng trở thành sáng suốt. Tình yêu phá vỡ mọi lề lối, mọi quan niệm,
mọi ước giáo để tạo cho mình một lối đi riêng.
... Như cánh chim bị tình yêu đánh động những kinh nghiệm
tháng năm bỗng hóa dư thừa ta không cần sự từng trải cầm tay ta nữa đôi mắt mở
như lần đầu tự dẫn ta qua...
Phần lớn sáng tác của anh đều viết về tình yêu. Và được công
chúng đón nhận, đặc biệt là những người trẻ. Thơ của anh thăng hoa cảm xúc về
ký ức, cất lên có giai điệu, dễ đi vào lòng người. Đối với Hồng Thanh Quang,
thơ ca cũng giống như tình yêu. Nó là sự mê muội con người mình nhưng lại để
soi rọi cho người khác. Đôi khi để có được một câu thơ hay là sự đánh đổi lớn.
Bởi đằng sau mỗi câu thơ không chỉ là sự đau đớn của riêng nhà thơ nó còn là sự
hy sinh của những người thân yêu. Và khi nhà thơ làm đau những người thân yêu của
mình thì anh ta lại càng cảm thấy đau hơn bội phận. Vậy thử hỏi, có câu thơ nào
sinh ra từ sự bình ổn đây? Có lẽ vì thế mà các nhà thơ luôn tự mình tìm kiếm sự
bất ổn, sự chênh vênh trong cuộc đời như để minh chứng cho chính những tuyệt vọng
của họ về cõi nhân sinh này. Và rồi thơ đã cứu họ khỏi điều tuyệt vọng đó. Hồng
Thanh Quang dường như cũng không ngoại lệ. Anh bảo cho dù cuộc đời anh có lận đận
với thơ bao nhiêu thì cũng không phải do thơ mà do số của mình như thế. Anh là
kẻ luôn phá vỡ sự vuông tròn của cuộc đời mình để tìm đến sự lận đận. Trong một
bài thơ tình, Hồng Thanh Quang viết: Em đừng khóc đừng van nài ta tới/Một
mình ta đã quá chật ta rồi. Trước mặt tôi là nhà báo Hồng Thanh Quang, nhà
thơ Hồng Thanh Quang, một ông đại tá Hồng Thanh Quang, một ông Phó Tổng biên tập
Hồng Thanh Quang. Dường như có gì mâu thuẫn. Có đấy, dẫu anh không nói ra.
Trong mỗi con người bình thường đã có vô vàn sự mâu thuẫn huống chi trong bốn
con người mà tôi vừa kể ra ở trên. Hồng Thanh Quang vẫn trò chuyện say sưa. Rồi
cười hiền lành...
Hồng Thanh Quang
• Tên thật: Đặng Hồng Quang
• Sinh năm 1962 tại Hà Nội
• Quê quán: Nguyên Hòa, Phù Cừ, Hưng Yên
• Hoạt động: Tốt nghiệp kỹ sư vô tuyến điện tại Liên Xô cũ
năm 1986. Cử nhân báo chí. Từng là phóng viên tờ tin Binh đoàn Tây Nguyên (1987-1988)
và báo Quân Đội Nhân Dân (1988-2002). Từ tháng 12-2003, là phóng viên
báo An Ninh Thế Giới và báo Công An Nhân dân. Hiện là Đại tá An
ninh Nhân dân, Phó Tổng biên tập báo Công An Nhân Dân – chuyên đề An
ninh thế giới.
• Tác phẩm: Đã xuất bản hơn mười tập thơ và sách dịch.
• Giải thưởng: Giải thưởng cuộc thi thơ tạp chí Văn Nghệ
Quân Đội 1998-2000; bằng khen về các tác phẩm dịch thơ Nga Xô Viết do
Trung tâm hợp tác quốc tế về khoa học và văn hóa trực thuộc chính phủ liên bang
Nga, năm 2001; giải thưởng Nguyễn Cảnh Toàn năm 2008.
Nỗi niềm mây bay gió thổi
Căn nhà nhỏ góc dốc Đê La Thành đứng im lìm như một pháo đài
biệt lập của một vị công tước. Dù đã đến đó vài lần, tôi vẫn phải hỏi thăm ông
hàng nước bên cạnh, bởi chỉ sợ nếu vô tình nhầm lẫn sẽ bị một cái nhìn soi mói
khó đỡ.
Cửa mở, cái cầu thang gầm ghì dẫn lên tầng hai. Phòng khách vắng
hoe nhưng quạt trên tường vẫn chạy xối xả. Một tiếng gọi bất đắc dĩ giữa ma trận
tường, cửa. Tiếng lạch cạch như từ đâu đó trễ nải lắm phát ra. Lời giãi bày đã
thường trực đầu lưỡi, nhưng thật may, đó đã là dịch giả, tiểu thuyết gia Ông
Văn Tùng.
“Bác làm em lúc nào cũng cứ ngờ ngợ.” - Tôi vừa thở vừa vào
cuộc.
“Thì cứ tự nhiên chứ có gì đâu”, chủ nhà cười hỉ xả, xua tôi
vào căn phòng nhỏ hơn có cái giường trúc và giá sách chồng chất, xởi lởi: “Nhà
tôi kém nhà trong mơ của Đỗ Phủ có 999 gian, nhưng cũng cùng mục đích, là để
dành chỗ trú mưa cho thiên hạ.”
Cái vị chủ nhà nhỏ thó, teo quắt như một miếng ô mai gừng này
đến lạ. Ông cùng một lúc có thể làm được nhiều điều mà không cái nào nhầm lẫn với
cái nào. Một tay lạch cạch đổ bã pha trà trong cái ấm chuyên bé bằng quả quýt,
tay kia nhoay nhoáy bấm chuyển kênh bóng đá Euro, trận Đan Mạch – Bồ Đào Nha, mồm
miệng vẫn rành rẽ những lời thế thái.
“Hôm qua tôi được giới thiệu là bác Tùng, nhà văn, với một bà
hàng nước. Bà ấy quẳng cả rổ chén đang lau dở để vái. Bà ấy bảo em nể bác lắm,
phục bác lắm. Bác viết cả cuốn sách dày đến thế, hay đến thế, bao nhiêu người
biết tuổi biết tên. Tôi hỏi thế bà đang nói đến cuốn nào của tôi? Bà ấy bảo cuốn Búp
sen xanh, về Cụ Hồ chứ gì. Tôi bảo thôi bà nhầm rồi. Đấy là nhà văn Sơn Tùng,
anh hùng thời đổi mới. Còn tôi là Tùng Văn, Tùng bình thường thôi, sách của tôi
cũng viết về đời sống bình thường như tôi với bà mà.”
Câu chuyện ý vị khiến căn phòng bớt đi vẻ cô liêu. Cái máy lạnh
đã phập phào tỏa ra làn hơi mát mẻ. Tôi lựa thế duỗi chân duỗi cẳng cho thoải
mái:
“Nhà văn có đông độc giả ở Việt Nam mình kể cũng hiếm, bác nhỉ.”
“Ờ... Phải rồi”, tác giả 80 tuổi đời, với hàng chục đầu sách
vừa dịch vừa hư cấu, cuốn nào cuốn ấy chành chạnh như cục gạch, xuất bản khắp
trong Nam ngoài Bắc, gục gặc. Ông chuyên trà ra tách, đẩy mời khách: “Nhưng
cũng buồn cười lắm. Cái bà hàng nước ấy, sau một hồi ca tụng người văn, nghề
văn, thì quay ra thở dài: Là em cũng nghe người ta nói thế, chứ em nào đã đọc
đâu.”
Tôi bật cười: “Dân mình còn khổ lắm, bác nhỉ.” Ông Văn Tùng
mò mẫm cái gì đó dưới gậm bàn, miệng vẫn rành rẽ: “Khổ là ở chỗ, dân ta vẫn thưởng
thức văn học nghệ thuật theo phong trào. Nghe người ta bảo hay thì cũng hùa
theo là hay, mà không biết hay ở điểm nào.” Rồi kết quả cuộc mò mẫm dưới gậm
bàn của ông là cái điện thoại. Bấm tìm danh mục những cuộc gọi lịch sử, ông
rành rẽ: “Đây này, tôi nhận được hàng chục, hàng trăm cuộc gọi. Ai cũng hỏi sao
đợt này bác không được giải thưởng? (cấp Nhà nước – LTT). Lúc đầu tôi còn đùa,
bảo chưa đến lượt, còn phải xếp hàng. Sau có người cứ gặng mãi, còn vạch vòi
khích bác nọ kia, tôi phải cáu: “Ông có khinh tôi thì khinh vừa vừa thôi chứ.
Làm gì mà tôi phải khổ sở với chuyện đó đến thế?” Không đợi tôi biểu thị sự đồng
tình, nhà văn già ngồi thừ dựa gối, vừa nhấp trà vừa lẩm bẩm: “Cái đó khổ hơn
chuyện sách chưa đến được với cộng đồng đấy, anh ạ.” Rồi câu chuyện của chúng
tôi cứ thế vào gam lúc nào không biết. Nhà văn già chia sẻ:
“Có mấy điểm tôi muốn nói với anh.”
“Thứ nhất, viết văn là một nghề nghiêm chỉnh, đến mức thành
nghiệp, có vinh có nhục của những kẻ cầm bút. Tôi bỏ dạy học đi viết văn, trái
khoáy đã đành. Nhiều người còn bỏ cả sự nghiệp huy hoàng, bỏ cả phú quý vinh
hoa, nhà lầu xe hơi, vợ đẹp con khôn, chạy theo những cái phù phiếm mung lung,
oái oăm khôn xiết kể. Vậy cái đích đến là gì? Là cái lý tưởng thẩm mỹ cao sâu
phụng sự đời, đạo. Anh viết văn, làm thơ, sáng tạo nghệ thuật, mà cứ nhăm nhăm
để giành giải thưởng nọ, đoạt danh hiệu kia, thì đấy là mẫu của kẻ tranh đoạt,
chứ nào có hay gì.”
“Thứ hai, sở dĩ nhà văn phải trăn trở phiêu diêu thức khuya dậy
sớm, là vì thế thái nhân tình đòi hỏi họ. Cuộc đời cần những cống hiến hết mình
của họ, ghi nhận những triết lý thâm hậu cùng vẻ đẹp đơn côi độc sáng của họ,
chứ không vỗ tay theo những thứ thời thượng, hợp mốt, ăn theo nói hùa kiểu cá
mương ăn đàn. Tất nhiên tại mỗi thời điểm thì cũng có những best-seller, lời
câu khách, tưởng trời rung chớp giật lắm... Nhưng về lâu về dài, chỉ những gì
thực sự giá trị, như vàng ròng, như trầm hương, thì mới còn tồn tại. Và vì thế
tôi dửng dưng với những dư luận ồn ào nông nổi.”
“Thứ ba là về chuyện cầm cân nảy mực. Theo tôi, viết văn làm
thơ còn có thể tào lao, bởi tùy từng tạng người, từng hoàn cảnh, mà người ta cống
hiến, chứ giải thưởng là một chuyện nghiêm chỉnh. Nhất lại là giải thưởng của
Nhà nước, của Chính thể, nó có tính tiêu biểu, tính quy phạm, tóm lại phải rất
nghiêm túc, chứ không phải trò đùa, không thể yêu ghét bè cánh cảm tính tùy hứng
được. Các nhà văn đã dồn hết công sức, tâm huyết cho những tác phẩm sáng tạo;
công chúng đã dài cổ ngóng trông, theo dõi; thì Chính thể cũng phải có khuôn
vàng thước ngọc mà đo đạc, mà đánh giá cho thấu đáo, tuyên vinh được cái công
lao người ta, thế mới là lẽ đời chứ.”
Thấy nhà văn già cởi mở những điều sâu kín, tôi lân la dấn tiếp
vào một trong những vùng nhạy cảm:
“Thưa bác, nhưng văn chương cũng là một mảng của đời sống kia
mà. Vậy thì làm sao tránh khỏi sự khóc cười trong việc đánh giá, thưởng lãm?
Hơn nữa, văn chương ở ta, trong một chừng mực nào đó, vẫn được đòi hỏi phải gắn
với những mục tiêu chính trị của xã hội?”
Ông Văn Tùng nhỏm dậy: “Vâng, văn chương không phải chính trị,
nhưng chính thế nó mới là chính trị nhất. Nó là một hình thái ý thức riêng,
không chạy theo những thứ chính trị dễ dãi, nên nó làm mẫu cho thứ chính trị
cao cường. Tại sao cuộc đời dám coi văn chương là thiêng liêng? Vì nó thiết kế
ra những viễn cảnh mà trong đó, tính nhân văn đứng trên, làm chủ, chứ không phải
các bậc quân thần, lại càng không phải là những mưu mô xảo quyệt. Vậy thì nếu
các nhà chính trị, các nhà quản lý mà biết, nhất định họ sẽ trân trọng những
giá trị nhân văn lâu dài, thánh thiện của các nhà văn, chứ không đứng trên để
ban phát.”
“Thế nhưng vẫn có chuyện người đời đánh giá các nhà văn qua sự
khen thưởng?”, tôi vớt vát.
“Ờ, thì cuộc đời mà, có thế nọ có thế kia”, nhà văn già cười
ngất ngưởng. “Nói thực nhé, trồng cam tốt khác, mà đưa cam lên cho vua rồi được
khen, lại là chuyện khác nữa, anh còn lạ gì! Tôi cho rằng, viết cho hợp gu, để
được khen, là hình thái hoạt động phản nghệ thuật nhất. Còn anh viết với niềm
vui, với sự mê mải của bản thân, thì chuyện được khen sẽ là trung tính, có khi
còn hơi phiền hà nữa.”
Câu chuyện của chúng tôi đang ngấp nghé đến đoạn rôm rả thì bỗng
có tiếng í ới từ dưới nhà vọng lên. Một đoàn khách ba người, toàn cánh họa sĩ mỹ
thuật gì đó xuất hiện, nghe bảo đang muốn tham vấn lão tác giả.
Tôi chưa biết xếp mình vào đâu, thì chủ nhà đã giới thiệu:
“Đây là khách đã hẹn tôi trước. Vì anh đến đột xuất nên tôi
không kịp lui. Thôi không sao, cứ ngồi đây, càng vui.”
Rồi ông chỉ cho khách mới xem những bức tranh phong sương
trên tường. Cả những ký họa thủy mặc thực ảo lẫn lộn. Thì ra, đó đều là những
tuyệt phẩm của Trung Hoa phong kiến, bức thì của đích thân Tề Bạch Thạch múa
bút, bức lại do Hoàng đế Càn Long ngự đề. Một vị khách loay hoay đứng ngồi
không yên, cuối cùng không chịu được, đành ngỏ ý xin phép hút thuốc trong
phòng. Ông Văn Tùng cười lớn: “Cứ hút, cứ hút! Lâm Ngữ Đường từng bảo: Nhà
không có mùi khói thuốc thì không gọi là nhà.” Vậy là cả mấy vị khách, trong đó
có tôi, được thể móc túi giở cặp, thuốc đỏ thuốc xanh, nhả khói mù mịt. Câu chuyện
cứ thế lan man những nhạc, những tranh, những chè, rượu, giai nhân, phong tình
cổ lục.
Bậc trưởng thượng cười dí dỏm:
“Tôi ngày trẻ đẹp trai phết đấy nhé, mặt như mặt trời”, rồi lục
sách chỉ cho chúng tôi bức ảnh đen trắng chụp có lẽ cách nay cả nửa thế kỷ. Một
trang tuấn kiệt đeo kính, áo sơ mi trắng hiển hiện, trông như thể chủ nhiệm hợp
tác xã thủ công. Tôi đùa: “Bác hồi ấy vô chiêu quá, chẳng thấy văn chương đâu.”
Lão nhà văn khấp khởi: “Con gái chạy theo nhiều phết.” Cả chủ lẫn khách cười
nghiêng ngả. Tôi nghĩ thầm trong bụng, đúng là văn sĩ. Còn nhớ có giai thoại
trên mạng, hồi trẻ Ông Văn Tùng bán bánh cửa ga Hàng Cỏ, thấy đôi trai gái đi
qua, liền bỏ cả bánh chạy theo vì tưởng tay cô gái cầm hoa thơm. Cứ cái đà ấy
thì làm gì chả bỏ cả nghề giáo để đi tìm lý tưởng, đuổi hình bắt chữ.
Vị khách trẻ tuổi nhất trong đám họa sĩ tỏ vẻ thán phục nhà
văn già: “Em thấy bác cũng thuộc vào loại Vua biết mặt, Chúa biết tên đấy chứ!
Hôm vừa rồi thấy bảo cụ Nguyễn Khoa Điềm đến tận đây tặng thơ phải không ạ?” Ông
Văn Tùng xua tay:
“Phải thơ ông ấy đâu. Đó là tập thơ của mẹ ông ấy, cụ Đạm
Phương. Nhưng cái tình là quan trọng thôi, chứ họ cũng như mình, được cái nọ
thì mất cái kia ấy mà.”
“Nhưng cũng phải công nhận, nhiều lúc mình ngây thơ thật”, chủ
nhà tự kiểm điểm. “Tôi có cái nhà ở quê. Mình vô tư cứ mời hết người này người
nọ về chơi, cứ nghĩ họ cũng như mình. Ai ngờ, mấy trăm cây số tàu xe, khổ bỏ mẹ.
Hóa ra lắm lúc mình làm phiền người ta.” Câu nói nhẹ như lời gió thoảng, nhưng
khiến không khí trong phòng như cũng chùng xuống. Nhà văn già bỏ kính lau mãi
cái tròng lấp lánh.
Cảm thấy cái sự tếu táo đã hết, và mấy vị khách cũng đang úp
mở chuyện riêng tư gì đó với lão văn sĩ, tôi lấy cớ đang dở việc ở báo, đứng dậy
cáo lui. Nhà văn Ông Văn Tùng tiễn khách ra tận cửa, còn nói nhỏ: “Chuyện vui ấy
mà, đừng coi là quan trọng nhé. Chỉ có nhân dân và thời gian thôi, còn thì như
mây bay gió thổi.”
Ra khỏi cửa là ngược dốc. Mấy cháu học sinh đi học hè về phơi
phới đuổi nhau. Vâng, mây bay gió thổi cả, nhưng hồn nhiên được như lũ nhóc kia
thì mới sướng, phải không Lão văn sĩ quê Nghệ An Ông Văn Tùng?
Nhà văn Ông Văn Tùng
• Sinh ngày 12-8-1936
• Quê quán: Nam Lĩnh, Nam Đàn, Nghệ An
• Hoạt động: Học cấp III ở Nghệ An. 1954: học ở khu học xá
Nam Ninh (Trung Quốc), trường Sư Phạm trung cấp. Về nước học tiếp khoa Văn, Đại
học Sư Phạm. Sau đó dạy học ở một số trường cấp III tại Thanh Hóa, Quảng Bình,
Nghệ An, Hà Sơn Bình, Hà Nội. Năm 1982: về hưu chuyên sáng tác văn học, dịch
thuật, viết báo và phê bình khảo cứu.
• Tác phẩm chính: tiểu thuyết: Khát vọng đau đớn (1989,
tái bản nhiều lần); Pháp trường trắng (1990); Những linh hồn bị
hành quyết (1991, tái bản nhiều lần); Biệt thự phù du (1992); Gót
đỏ quyền uy (1992); Tiếng chim kêu lúc nửa đêm (truyện ngắn,
1993); Cuộc tìm kiếm vô vọng (1995, tái bản nhiều lần); Những kẻ
lắm tiền(1997, tái bản 2 lần); Bóng sao (truyện ngắn, 2002), Thiên
vọng(tiểu thuyết dịch, 2009); Hoàng cực kinh thế (2010); Từ điển
thành ngữ Hán – Việt (biên soạn, 1997)... Dịch khoảng hơn 30 tác phẩm văn
học Trung Quốc cổ điển và hiện đại.
• Giải thưởng: Giải B văn học dịch Hội Nhà văn Việt Nam cho
cuốn Khổng Tử truyện năm 1995. Giải B cuộc thi sáng tác văn học trẻ
do nhà xuất bản Thanh Niên và tuần báo Văn Nghệ, năm 1995. Giải ba cuộc
thi Cúp Giai Lệ do Đài phát thanh Bắc Kinh trao năm 1991. Nhiều tặng thưởng mục Nhàn
đàm của tuần báo Văn Nghệ.
Mong muốn phản ảnh thật trung thực đời sống xã hội Việt Nam ta gần nửa thế kỷ qua
Nhà văn Dương Hướng tiếp chúng tôi trong phòng làm việc, nơi
ông đã từng cặm cụi ngồi viết và biên soạn sáu tác phẩm: Gót Son (tập
truyện ngắn – 1989); Bến không chồng (tiểu thuyết – 1990, giải thưởng
Hội Nhà văn Việt Nam); Trần gian đời người (tiểu thuyết –
1991); Người đàn bà trên bãi tắm (tập truyện ngắn); Tuyển chọn
Dương Hướng (1997); và gần nhất là Dưới chín tầng trời (tiểu
thuyết – 2007).
* Thưa nhà văn Dương Hướng, mỗi tác phẩm ra đời đều là một đứa
con tinh thần của nhà văn. Xin hỏi, trong số các tác phẩm của mình, ông thấy
tâm đắc nhất với tác phẩm nào, và ý tưởng nào đã giúp ông viết nên những tác phẩm
để đời ấy?
Nhà văn Dương Hướng: Chả biết có để đời hay không, nhưng với
tôi, tất cả các tác phẩm của mình đã viết ra tôi đều tâm đắc và yêu mến. Còn về
ý tưởng nào sáng tác ư, nó muôn màu muôn vẻ, là anh cầm bút đôi khi chỉ tình cờ
gặp những chi tiết rất nhỏ nhưng cũng có thể nảy ra được ý tưởng lớn. Nó cũng
giống như anh đi câu vậy, may gặp được cá lớn. Với tôi, ngày còn quân ngũ, chiến
tranh liên miên đã viết lách gì đâu. Ngày thống nhất đất nước trở về làng, tôi
giật mình nhận ra trong những nụ cười hân hoan chiến thắng của bạn bè, người
thân, họ tộc, cùng bà con làng xóm, tất thảy đều ẩn chứa điều gì đó mà chỉ những
người đi xa về mới dễ nhận ra. Đó chính là nỗi cô đơn, sự chịu đựng khắc khổ bởi
hậu quả của cuộc chiến tranh đã qua. Rồi không biết bao nhiêu câu chuyện tôi được
chứng kiến, thế là các nhân vật cứ dần hiện lên sống động trong tâm trí mình...
* Bao giờ tên tuổi nhà văn cũng gắn liền với tác phẩm – với
ông là tiểu thuyết Bến không chồng. Thậm chí có khi tên tác phẩm còn trở
thành “biệt danh” của nhà văn, hoặc một danh từ chung khi muốn nói về một vấn đề
gì đó, và Bến không chồng cũng vậy, đến nỗi lâu nay bạn đọc cả nước đã quen được
đọc các bài viết về ông với nhiều “tít” nghe rất ấn tượng như “Người đàn ông ở
Bến không chồng”, “Gặp ông Bến không chồng ở Tây Nguyên”, “Bến không chồng đã
có chồng?”, “Bến không chồng - bến đỗ văn chương”... Ông nghĩ thế nào về chuyện
này?
Nhà văn Dương Hướng: Mừng! Mừng và khoái vì các đồng nghiệp
và độc giả đã đồng cảm, hiểu thấu những gì mình viết ra. Thú thật khi nhà văn
viết ra những gì mình tâm đắc, chẳng thể tưởng tượng nổi sau này nó hay dở ra
sao. Nhưng điều quan trọng phải thật sự tỉnh táo khi được độc giả tán dương. Đừng
vội tưởng bở, có những điều phải suy xét cho thấu đáo nguồn cơn. Có nhiều những
lời khen thật, khen vì quý mến, động viên. Nhưng cũng có cả lời khen giả, nếu
không muốn nói là khen mỉa mai. Và có cả những lời khen ác nữa đấy. Họ khen mà
thấy sợ. Rõ là họ khen mà hóa ra hại mình. Thế đấy! Hãi lắm.
* Cụ thể là gì thưa ông?
Nhà văn Dương Hướng: Là gì à, là mình nói A họ lại bảo B.
Trong tiểu thuyết Dưới chín tầng trời, nhân vật của mình là nhân vật của
tiểu thuyết, họ lại vận vào ông nọ ông kia ở ngoài đời. Thế là nguy chứ. Hãi lắm
(cười). Họ khen mình là dũng cảm, là anh hùng. Là anh cầm bút mình chỉ tâm niệm
là viết sao cho trung thực. Trung thực nhưng phải nhân ái, bao dung, có tình.
Là nhà văn phải nhìn ra cái cao hơn lẽ thường ở cả những vấn đề bình thường. Đã
cầm bút phải chấp nhận mọi rủi ro. Giống như người đi biển, phải chịu được cả
giông bão. Trong văn học mình nói là nói tới bản chất (cái sâu xa) thì có những
người chỉ nhìn vào cái vỏ bên ngoài trần trụi...
* Đúng là văn học là phải nói tới bản chất. Vậy theo ông, đó
có phải là yếu tố quan trọng nhất trong sáng tác?
Nhà văn Dương Hướng: Phẩm chất quan trọng nhất của nhà văn vẫn
phải trung thực và nhân ái. Văn chương mà giả dối nịnh bợ và nhạt thì buồn và
khó chịu lắm. Tôi không muốn dùng lại những từ to tát như trong các bài viết giới
thiệu quảng cáo sách, hay các luận văn của các học viên cao học đã phân tích về
những tác phẩm của tôi, nào là tư tưởng xuyên suốt thời đại mang tính nhân văn
cao cả, nào là phản ánh sâu sắc những vấn đề cốt lõi của cuộc sống...
* Nhưng thực sự với các nhân vật trong ba cuốn tiểu thuyết của
ông đều là những nhân vật tốt. Đọc nó thấy ấm áp vô cùng. Và đằng sau đó là một
cái nhìn sâu sắc, sinh động của nhà văn về đề tài nông thôn...
Nhà văn Dương Hướng: Đúng vậy! Đừng lầm lẫn, không chỉ cái xấu
mới có xung đột, mà giữa người tốt với nhau vẫn có xung đột. Thậm chí xung đột
dữ dội. Sự xung đột của họ là do hạn chế về nhận thức, hoặc nhận thức khác biệt
nhau do yếu tố khách quan, chứ bản chất con người họ rất đáng yêu thương, trân
trọng. Thú thực tất cả các nhân vật trong các tác phẩm của tôi đều là hình bóng
của những người thân trong gia tộc, làng xóm, bạn bè tôi. Đến cái tên làng như
làng Đông trong Bến không chồng, làng Đoài trong Dưới chín tầng trời,
làng Nguyệt Hạ trong Trần gian đời người cũng vẫn chỉ là bóng dáng của
cái xóm Đông, xóm Đoài của thôn An Lệnh, xã Thụy Liên quê tôi. Còn nói trong những
tác phẩm đó có một cái nhìn sâu sắc, sinh động về đề tài nông thôn thì cũng
đúng. Mình con nhà nông chính hiệu mà. Mình thuộc mảng nào thì viết về mảng đó.
Thực chất tất cả các tác phẩm của Dương Hướng đều thiên về làng quê, về chiến
tranh và người lính. Chiến tranh và người lính, vẫn là những chàng trai từ làng
quê khoác ba lô ra mặt trận. Họ ra đi để lại vợ con cha mẹ người yêu ở lại hậu
phương. Vì thế, làng quê, chiến tranh, và người lính là ba mối quan hệ gắn bó
máu thịt. Nỗi nhớ nhung, sự phản bội, lòng căm thù và tình yêu thương cũng từ
đó. Chính vì vậy mà cả ba tiểu thuyết của tôi cũng đều cùng mang chủ đề ấy – chủ
đề nông thôn, chiến tranh và người lính. Và nếu trời còn cho tôi sức khỏe, thì
về làng quê An Lệnh tôi có thể viết hết đời mình vẫn không hết chuyện. Những ai
đã đọc cả ba cuốn tiểu thuyết của tôi đều nhận ra khung cảnh, tập tục quen thuộc
của cái làng An Lệnh quê tôi, nhưng chủ đề tư tưởng của mỗi tác phẩm đều khác
nhau. Bến không chồng nói tới một thế hệ phụ nữ không chồng, hoặc có chồng cũng
như không bởi đàn ông ra mặt trận hết. Trần gian đời người thì khai
thác sâu về tập tục văn hóa làng xã bị phá vỡ tới tận gốc rễ. Còn Dưới
chín tầng trời thì mở rộng hơn cả về thời gian và không gian, nó bao trùm
cả một giai đoạn của lịch sử trong suốt nửa thế kỷ qua...
* Trong ba cuốn tiểu thuyết, có lẽ cuốn Dưới chín tầng trời
đã được ông đặt nhiều tâm huyết trăn trở nhất. Ông có thể nói sâu hơn về cuốn
tiểu thuyết này để bạn đọc rõ, bởi tác phẩm này vừa được trao giải A giải Văn
Nghệ Hạ Long 2013...
Nhà văn Dương Hướng: Đã có nhiều bài viết về tiểu thuyết này
nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, đặc biệt đã có tới chục cái luận văn tốt nghiệp
của sinh viên các trường đại học, học viên cao học trong cả nước phân tích rất
bài bản về tác phẩm Dưới chín tầng trời. Nhưng với tôi, để hoàn thành
được tác phẩm này tôi đã phải đầu tư tương đối công phu trong suốt thời gian
dài mười lăm năm. Quả thực với tiểu thuyết này tôi đã đi sâu vào những sự kiện
quan trọng đã diễn ra trong suốt nửa thế kỷ. Cụ thể là năm bước ngoặt lớn của đất
nước để làm khung sườn cho tiểu thuyết. Bởi lẽ năm bước ngoặt đó đã tác động
sâu sắc, tác động trực tiếp tới từng số phận của các nhân vật trong tác phẩm.
Có lúc cao hứng bốc đồng lên (cười), tôi đã nói với bạn bè đồng nghiệp câu nói
chả hiểu mình nghe được ở đâu là: Nhà tiểu thuyết phải như một vị tướng cầm
quân ra trận. Là một tướng giỏi khi tung quân ra phải biết thu quân về. Nếu để
quân lính thất lạc hay ngoẻo hết thì là tướng tồi...
Trong Dưới chín tầng trời, thực lòng tôi mong muốn viết
được cái gì đó phản ảnh thật trung thực đời sống xã hội Việt Nam ta trong gần nửa
thế kỷ qua. Tôi viết bằng cái tâm của mình, tôi tin rằng bất kể ai đọc tác phẩm
này đều nhận thấy cái tình người là cao quý và lớn lao nhất trong tác phẩm. Tư
tưởng tốt của tác phẩm chính là ở đó, ở cái tình con người. Đọc xong tác phẩm,
thiết nghĩ không ai nỡ đối xử ác với ai, ai cũng mong mình sống sao cho tốt đẹp
hơn. Điều đó chẳng phải là tiêu chí cốt tử muôn đời của văn học đấy sao? Để nói
được điều đó, tất nhiên các nhân vật trong tác phẩm Dưới chín tầng trời họ
đã trải qua tất cả những bước thăng trầm của lịch sử. Kể cả nói tới những hạn
chế, những lỗi lầm của lịch sử, tôi cũng phải hướng tới cái thiện, đó cũng là
điểm sáng, là ý tưởng tốt đẹp của tác phẩm. Điều này tôi luôn tâm niệm và bảo đảm
bằng chính lương tâm và tư cách của người cầm bút. Bởi tất cả những gì tôi muốn
nói, đều đã được trải nghiệm qua cuộc sống của tôi, của đồng đội tôi trên chiến
trường, cũng như của những người dân trong làng xóm quê hương tôi. Tôi muốn nói
tới một điều, lẽ ra văn học nước nhà phải rộng mở từ lâu. Tôi tin rằng tác phẩm
này đã giải tỏa được mọi vướng mắc, mọi hạn chế của lịch sử mà trong mọi tầng lớp
xã hội ta ai cũng biết, cũng hiểu. Là người cầm bút, tôi nghĩ cần phải có tấm
lòng, cần có sự dự cảm và trách nhiệm trước nhân dân, trước thời đại mình đang
sống để độc giả vững tin trên tinh thần đổi mới, mở cửa hội nhập với thế giới ở
thế kỷ này – thế kỷ văn minh tiến bộ của đất nước Việt Nam nói riêng và của
toàn nhân loại nói chung.
Tuy nhiên trong một tác phẩm văn học, mỗi người đọc có những
cảm nhận riêng, những quan điểm đánh giá khác nhau, đó cũng là điều bình thường...
* Trải qua khá nhiều năm, tới nay, các tác phẩm của ông vẫn
được bạn đọc yêu quý, nhất là tiểu thuyết Bến không chồng đã tái bản đến 11 lần.
Không chỉ có thế, vừa qua bộ phim truyền hình Bến không chồng khi trình chiếu lại
cũng được dư luận chú ý. Là tác giả tiểu thuyết Bến không chồng, ông thấy giữa
tác phẩm văn học và điện ảnh có gì khác biệt?
Nhà văn Dương Hướng: Hai thể loại đương nhiên là khác nhau về
cách thể hiện, phim thể hiện bằng hình ảnh, tiểu thuyết thể hiện bằng ngôn từ.
Cái cốt lõi là ở đạo diễn và nhà văn gặp nhau ở tầm tư tưởng. Cả phim và tiểu
thuyết đã đạt được vấn đề đó. Bữa trước gặp đạo diễn Lưu Trọng Ninh, ông có đề
xuất với tôi, nếu được, ông sẽ cho chuyển thể thành phim (100 tập) cả hai cuốn
tiểu thuyết Dưới chín tầng trời và Bến không chồng. Tôi băn
khoăn nói với đạo diễn Lưu Trọng Ninh là để tôi sẽ thương lượng với tác giả
biên kịch Huệ Ninh vì tôi đã ký hợp đồng từ năm 2010 với Huệ Ninh chuyển thể Dưới
chín tầng trời rồi. Nhưng vì nhiều lý do, đến nay Huệ Ninh vẫn chưa thực
hiện được.
* Đã hơn năm năm từ khi Dưới chín tầng trời, cuốn tiểu thuyết
gần nhất của ông ra đời, việc sáng tác của ông thế nào?
Nhà văn Dương Hướng: Đã hơn năm năm rồi, tôi dự định viết một
cuốn tiểu thuyết tạm đặt tên là Góc khuất, nhưng mới chỉ là dự định. Tôi vẫn
còn nhiều điều phải suy nghĩ và phải lựa chọn một cách kỹ càng hơn nữa. Nhưng rồi
mọi chuyện cứ phải gác lại bởi lý do sức khỏe. Trong ngực bây giờ phải đặt một
cái tens rồi, chả biết khi nào mới viết lại được. Đề tài của Góc khuất,
cũng là về chiến tranh, về những người lính đang sống trong thời hậu chiến.
Nhưng khác ở chỗ là thân phận con người còn có những góc khuất không thể phơi
bày. Ở đó có những con người phải chịu đựng cả hai luồng tư tưởng, họ cứ lơ lửng
giữa giời... Đó là bi kịch của chiến tranh, là góc khuất trong nhiều thân phận
của con người mà chúng ta cần thấu hiểu.
* Thưa nhà văn, với kinh nghiệm của một nhà văn đã thành đạt,
ông có suy nghĩ gì về lớp những người viết trẻ đang kế thừa sự nghiệp văn
chương của thế hệ đi trước? Nhà văn có nhắn gửi và tâm tình gì đối với họ?
Nhà văn Dương Hướng: Lớp trẻ ngày nay được học, được đào tạo
bài bản hơn lớp chúng tôi nhiều. Họ viết cũng hiện đại hơn, nhiều tác giả trẻ
viết cũng nể lắm. Tôi đã biên tập một tập truyện ngắn cho mười tác giả trẻ vừa
xong, in ở nhà xuất bản Hội Nhà văn, có nhiều tác giả viết rất khá. Với các bạn
trẻ, điều cần quan tâm hơn chính là ở sự trải nghiệm. Trong sáng tác cần ở sự
trải nghiệm hơn là sự học và đào tạo.
* Xin cảm ơn nhà văn Dương Hướng về cuộc trò chuyện này.
Nhà văn Dương Hướng
• Tên khai sinh: Dương Văn Hướng
• Sinh ngày: 8-7-1949
• Quê quán: An Lệnh, xã Thụy Liên, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái
Bình
• Hoạt động: năm 1965 tình nguyện đi công nhân quốc phòng;
năm 1971, vào bộ đội, chiến đấu tại chiến trường quân khu V; 1976 chuyển ngành
về cục hải quan Quảng Ninh; công tác tại đất mỏ này từ đó cho đến khi về hưu
năm 2008.
• Tác phẩm chính: Gót son (truyện ngắn 1989), Bến
không chồng (tiểu thuyết 1990), Trần gian đời người (tiểu thuyết
1991), Người đàn bà trên bãi tắm (truyện ngắn), Dưới chín tầng
trời (tiểu thuyết 2007).
• Giải thưởng: Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1991 với tiểu
thuyết Bến không chồng. Giải thưởng tạp chí Văn Nghệ Quân Đội với truyện
ngắn Đêm trăng. Giải A văn nghệ Hạ Long với tập truyện Người đàn bà
trên bãi tắm. Tặng thưởng truyện ngắn hay tạp chí Văn Nghệ Quân Đội với
tác phẩm Người mắc bệnh tâm thần năm 1989. Tặng thưởng truyện ngắn
hay tạp chí Văn Nghệ Quân Đội với tác phẩm Bến khách năm
2007. Giải thưởng văn học Hạ Long với tiểu thuyết Dưới chín tầng trời năm
2012.
Thương hiệu là mỗi ngày bắt đầu từ số không
Khoảng mươi năm nay, cái tên “nhà văn nông dân” Ngô Phan Lưu
thường xuất hiện trên văn đàn với giọng truyện ngắn và tạp văn “dễ đọc, khó
quên”. Ngô Phan Lưu không phải là người hoạt ngôn nhưng... chịu khó nghe thì thấy
“lão” này có duyên! Người thích những cuộc nói náo động sẽ cảm thấy trò chuyện
với Ngô Phan Lưu... chán chết, bởi cái “duyên” của ông nằm trong những đối đáp
rời rạc, giật cục nhưng giàu chất học giả đồng quê. Đối với ông, chuyện gì cũng
có... giải đáp, dù đôi khi chả “trúng trật” gì nhưng cũng đem lại điều gì đó ý
vị...
Bỏ ruộng...
* Trên năm mươi tuổi, ông mới dứt hẳn tay cày chuyển sang “ruộng”
văn. Sự muộn màng này “lợi, hại” ra sao đối với ông?
- Tôi tin vào vận mạng. Càng lớn tuổi càng tin vào vận mạng.
Và, như thế không có chuyện “lợi, hại” đối với tôi. Lúc cày ruộng thì cày ruộng.
Lúc hết cày thì nghỉ cày. Làm văn cũng thế...
* Có vẻ rất ít người ở tỉnh mà “sống hẳn được” bằng văn
chương như ông?
- Làm sao “sống hẳn được” vào văn chương? Anh cứ áp đặt việc
không tưởng ấy vào tôi. Tôi cố tập sống chung với văn chương bằng cách viết văn
mà thôi. Cũng như mình tập sống chung với lũ vậy mà.
* Thời nay, muốn chen chân vào văn đàn, ai cũng phải nhờ báo
“đàn”. Ông nghĩ thế nào?
- Chen chân vào làng văn? Làng văn cũng như phụ nữ, sấn tới,
nó trốn mất. Phải nỗ lực với chính mình, đừng có chen chân. Khi nỗ lực đúng mức
sẽ có một vùng từ trường đủ chỗ để đặt chân.
* Sách ông bây giờ thuộc loại bán chạy. Vậy thuở ban đầu, tác
phẩm của ông “từng phát, từng phát” gởi đăng các báo ra sao, có gian nan lắm
không?
- Tôi là một người tầm thường, có chút đóng góp được văn học
chấp nhận, cũng phải da mồi tóc bạc ấy chứ. Phải gian nan. Gian nan đã quen rồi.
* Cảm giác có tác phẩm đăng báo ngày “chưa ai biết” với giờ
này của ông có gì khác nhau?
- Có khác nhau. Ngày chưa ai biết, tôi viết dễ dàng vì nghĩ
có ai đọc đâu. Nay tôi viết khó khăn vì nhiều con mắt xung quanh dòm vào.
* Nhiều anh em biên tập báo chí rất ngán ngại cánh văn chương
nửa mùa “tiếp cận, tấn công bằng mọi phương diện”. Ông có suy nghĩ về chuyện
đó?
- Tôi không làm biên tập báo chí nên không biết việc này.
Riêng tôi cũng thuộc cánh văn chương nhưng không bao giờ “tiếp cận tấn công bằng
mọi phương diện” đối với anh em biên tập.
* Nhà văn các ông sướng thật, muốn “chơi” với báo nào thì
chơi, không ai gò bó, miễn là đừng “chạy sô trùng bài hát”, “tắm hai lần trên một
dòng sông”...
- Nhà văn không bao giờ sướng. Anh động vào sẽ tởn. Chờ đấy,
nếu anh sa vào nhà văn...
* Theo ông, “đất” dành cho văn chương trên báo chí nước ta hiện
nay “rộng” hay “hẹp”?
- Trung bình.
Bỏ rượu...
Ngô Phan Lưu vốn là kẻ ham vui. Thế nên tôi rất ngờ khi đang
“tưng bừng”, ông bỗng dưng xa rời hẳn tất cả các cuộc bù khú, bù lại, ông lại
viết rất khỏe. A, ông này lại đổi rượu lấy văn...
* Anh em rất bất ngờ và bất mãn khi các cuộc vui chỉ thấy ông
uống nước suông?
- Xin anh em thông cảm. Sau khi tôi mua một gói khám sức khỏe
tổng quát ở trung tâm chẩn đoán y khoa MEDIC (Hòa Hảo) mới biết rõ sức khỏe
mình có vấn đề. Thế nên, giữa sự sống dài lâu và bia rượu nhất thời, tôi buộc
phải chọn sự sống. Bệnh tình phải uống thuốc và kiêng bia rượu. Vậy là hết bệnh.
* Chắc là ông tiếc dữ những ngày “hoành tráng”?
- Theo tôi, những ngày “bia rượu” bạt mạng lúc trước không phải
là những ngày hoành tráng. Đó là những ngày “ma đưa lối quỷ đưa đường”. Nay
không dùng bia rượu mới là những ngày hoành tráng. Do đó, phải mừng chứ không
tiếc.
* Khi trước, tôi vẫn thấy ông năng đi nhậu và tập thể dục. Phải
chăng ông sợ mình... xuống sức văn? Sức khỏe đối với nghệ sĩ có gì... khác người
không, thưa ông?
- Sức khỏe rất quý, quý hơn kim cương. Khi tôi biết quý như
thế là tôi đã đối diện với nguy cơ mất nó. Phải giữ gìn thôi. Không có cách nào
khác.
* Nhiều văn nghệ sĩ cho rằng phải có men mới thăng hoa sáng tạo.
Còn ông thấy chuyện này thế nào?
- “Phải có men mới thăng hoa sáng tạo” à? Đó là chuyện ngớ ngẩn
đến mức khôi hài. Có “men” chỉ được mỗi một việc là viết dở mà vẫn cứ thấy hay.
Ngoài ra chẳng được việc gì nữa.
* Thực tế, những ông chồng hay nhậu nhẹt thì thường bị vợ kiểm
thảo, đôi khi “lay động” xấu đến cả chuyện hôn nhân. “Kinh nghiệm chiến trường”
của ông trong những chuyện này?
- Câu hỏi của anh quá mù mịt, không rõ ràng, nhưng cũng xin
trả lời những nét chính. Thời tôi sa đà nhậu nhẹt, vợ tôi không kiểm thảo tôi.
Và, đấy chính là cách vợ tôi kiểm thảo tôi. Còn tôi nghe kiểm thảo kiểu ấy lại
ngủ rất yên giấc.
Với phụ nữ...
Một trong những chuyện tôi quan tâm khi tiếp xúc với bất kỳ
người đàn ông nào: anh nghĩ gì về phụ nữ? Và thắc mắc này xin ấn vào tay ông “nửa
ruộng, nửa văn”...
* Người đọc thường tò mò cuộc sống đời thường của nhà văn có
gì “hấp”. Vợ chồng ông hiện có cả thảy bao nhiêu con, cháu?
- (bấm đốt tay, lẩm nhẩm)... Có năm con, ba trai, hai gái. Bốn
cháu ngoại và hai cháu nội. Dĩ nhiên vợ thì chỉ một. Mẹ cũng một.
* Luôn cập nhật và tìm tòi sáng tạo nhưng phải chu toàn sự vụ
lễ nghĩa gia đình, dòng họ. Ngô Phan Lưu phải là người “nửa cổ, nửa kim”...
- Càng lớn tuổi, ân nghĩa càng nhiều. Điều này có nghĩa là
“càng kiếm ít tiền, càng chi ra nhiều tiền”. Phải cố gắng, cố gắng và cố gắng.
Phải cố gắng cũng là một truyền thống tốt đẹp của tổ tiên truyền lại. Thế nên,
tôi không phải “nửa cổ, nửa kim” mà là “tân cổ giao duyên”.
* Không dễ dàng gì để làm một người đàn ông chu toàn. Ông
“luyện công” như thế nào để đủ sức vượt qua...
- Ông bà vẫn nói “nhân vô thập toàn”, vấn đề là ráng chu toàn
chút nào mừng chút nấy. Nhưng tôi rất biết ơn Thiền học. Nhờ thấm nhuần Thiền học
mà tôi vượt được nhiều bế tắc và ngã lòng để thanh thản vươn lên.
* Nhiều người muốn trở nên vui tính nhưng vui... không đều.
Ông thì lúc nào cũng “xoa tay và cười”, chất hài hước luôn được ông tung hứng
thoải mái...
- Vui tính và khôi hài là hai việc khác nhau. Tôi khôi hài chớ
không vui tính. Nhưng nhờ khôi hài làm tôi vui tính.
* Phụ nữ khá ưa người dí dỏm. Ngô Phan Lưu có vẻ không phong
độ lắm nhưng lại hấp dẫn phụ nữ, thời trẻ và cả về... chiều?
- Tôi mà hấp dẫn phụ nữ cái gì! Phụ nữ hấp dẫn tôi thì có.
Hãy nghe Claude Lévis – Strauss nói: “Chúng ta (đàn ông) là vật bất ly thân của
người phụ nữ.” Đừng có ảo tưởng nhé.
* U70 rồi, xin một chút triết lý về phụ nữ đối với đời ông?
- Không nên cãi với họ. Cãi họ là tát cạn biển Đông.
Ông có vẻ khoái khi tôi đặt vấn đề: tác phẩm của nhà văn là một
mặt hàng; mặt hàng đó phải có thương hiệu hấp dẫn người mua thì các báo, nhà
làm sách mới nhiệt tình sử dụng và trả nhuận bút...
* Trong truyện ngắn và tạp văn, những câu chuyện sâu sắc được
ông thể hiện một cách nhẹ nhàng và lôi cuốn, phảng phất triết lý khá tự nhiên.
Hình như ngày xưa ông có học triết, bí quyết học và đưa vào truyện của ông?
- Ngày trước tôi có học Triết, nhưng chủ yếu là con người tôi
có máu triết. Máu triết mách tôi rằng, đơn giản hóa được vấn đề là vấn đề được
sâu sắc hơn lên. Theo tôi, không có bí quyết cho truyện ngắn hoặc nói rộng ra
là sáng tác văn học. Tôi đã viết khá nhiều truyện ngắn, nhưng mỗi lần viết truyện
mới tôi đều xuất phát từ con số 0. Vẫn mò mẫm tìm tòi. Hay “xuất phát từ con số
0” có thể là bí quyết. Tôi không biết gì cả về chuyện này.
* Là con nhà giáo – thầy thuốc Ngô Thượng Đạm nổi tiếng một
vùng, ông được học hành đến nơi đến chốn. Thế nhưng sự khẳng định nghề nghiệp của
ông có vẻ như không được thuận lợi. Làm nông, thầy thuốc, chụp hình, kinh doanh
nhỏ... Cuối đời mới trụ với nghề văn. Ông thấy nghề nào khó hơn nghề nào?
- Nghề nào cũng có cái khó riêng. Không có cái khó nào giống
cái khó nào. Một khi mình quen với cái khó ấy thì thành dễ thôi. Nghề nào đưa
mình lên, cũng chính nghề ấy kéo mình xuống. Tôi không lạc quan lắm vào tương
lai.
* Nhiều người muốn giấu cái “gốc rạ” của mình, riêng ông có vẻ
tự hào?
- Ở đời có bốn thứ không thể giấu. Đó là giàu có. Đó là nghèo
nàn. Đó là thông minh. Đó là ngu đần. Nếu không thể giấu thì đem khoe là thừa.
Thế nên, tôi là nông dân vậy tôi là nông dân. Nghèo nàn và thông minh. Rất gọn
nhẹ.
* Làm nông dân thực thụ đã giúp cho ông nhiều nhỉ! Ví như hồi
nhận giải thưởng báo Văn Nghệ năm 2007, cái mác “nhà văn nông dân” đoạt trạng
nguyên của ông đã làm cuốn hút cánh báo chí...
- Người ta muốn gọi tôi như thế, và đấy cũng là sự thật. Họ gọi
được một sự thật như thế, tôi rất cảm kích và trân trọng.
* Nhiều người nhận xét: nhân vật nông dân trong truyện ông
nói triết, nói lý cứ như trí thức, thế nhưng đọc rất “vào”. Quan niệm của ông về
chuyện này và ông có sợ bị nhàm chán không?
- Dĩ nhiên tôi rất lo bị độc giả nhàm chán. Thế nên, giữ được
bản sắc mình là tốt, nhưng tốt hơn nữa là phải vượt lên trên bản sắc mình để bắt
gặp mẫu số chung nhân loại. Có như thế mới thắng được sự nhàm chán của người đọc.
Người nông dân không nói triết học. Người nông dân nói quá đúng. Nói đúng quá
nên giống triết học thế thôi.
* Muốn bán sản phẩm thì phải tiếp thị. Nhà văn Ngô Phan Lưu
đã tiếp thị hình ảnh và tác phẩm của mình ra sao?
- Đó là việc của báo chí và nhà xuất bản, và cả của bạn bè,
tôi không can thiệp.
* Nghề nào cũng cần có thương hiệu. Không thể chối cãi Ngô
Phan Lưu là nhà văn đang có thương hiệu. Vậy thì phải có “hành trình xây và giữ
thương hiệu”?
- Tôi cần có hy vọng để sống. Muốn có hy vọng, tôi phải làm
việc. Làm sao làm được việc? Phải chịu khó hết mình, mỗi ngày phải bắt đầu từ
con số 0. Đó là hành trình xây và giữ thương hiệu.
* Hình như chuyện viết văn đối với ông không lấy gì làm nặng
nhọc lắm?
- Viết văn thì khổ tâm, khổ trí chứ sao lại nặng nhọc. Khổ sở
dĩ nhiên phải có, còn nặng nhọc thì không.
Với tôi, gian nan cũng là một thứ hạnh phúc
Có thể nói giải Nhất truyện ngắn báo Văn Nghệ 2007
đã làm ông “rũ áo nông dân” và đang được yêu chuộng trên văn đàn. Thế là có...
danh và gánh thêm phiền phức. Không hiểu ông thấy mình có gì khác...
* Làng văn vốn đa sự, làng văn địa phương nào cũng có “lùm
xùm” riêng. Thói thường, ai đó có chút ít danh vọng thường hay bị soi xét, thậm
chí bị “đánh”. Tôi biết ông đã gặp cảnh ngộ từ chuyện này, ông ứng xử ra sao để
vượt qua?
- Thiền học đã khuyên tôi: Coi như gió thổi mây bay. Coi như
bong bóng ao đìa. Và, tôi triệt để nghe lời. Nhưng mà làng văn phải có chuyện
này chuyện nọ, nó mới là... làng.
* Nghề văn chương luôn gắn nhiều với thị phi, ảnh hưởng đến
cuộc sống đời thường của nghệ sĩ. Nhiều chuyện “tai bay vạ gió”, tôi biết ông
buồn nhưng rồi vẫn thấy ông thản nhiên lao vào cuộc sống và viết như chẳng hề
có chuyện gì xảy ra...
- Thì phải như thế chớ biết làm sao. Chuyện chẳng đặng đừng.
Với tôi, gian nan cũng là một thứ hạnh phúc.
* Làm một người nổi tiếng ở tỉnh có khó không? Ông thấy mình
có bị sức ép gì?
- Chẳng có sức ép gì. Cuộc sống cứ bình thường. Có điều hơi
cô đơn.
* Có người tâm sự với tôi, vì nhiều lý do cố hữu, anh ở tỉnh
nhỏ thường không dám nghĩ về những điều to tát, đột phá trong sáng tạo. Có phải
ông là một trong những ngoại lệ?
- Sáng tạo văn học không lệ thuộc vào tỉnh to hay tỉnh nhỏ,
mà nó lệ thuộc vào trí to hay trí nhỏ và tâm to hay tâm nhỏ. Vấn đề sáng tạo
văn học này không bao giờ là ngẫu nhiên cả. Thậm chí, đột phá trong sáng tạo,
đó cũng là một quá trình liên tục gian nan.
* Tự do trong tư duy sáng tạo, nghệ sĩ bao giờ cũng phải dũng
cảm từ cuộc sống cho đến trang viết. Ông thấy mình đã đủ dũng cảm để trình bày
những ý tưởng của mình?
- Chưa dũng cảm, còn hèn nhát. Tỷ lệ hèn nhát trội hơn.
Nhà văn Ngô Phan Lưu
• Sinh năm 1946
• Hiện sống ở Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
• Hoạt động: Đang là sinh viên Triết – Đại học Văn khoa Sài
Gòn thì bị động viên đi trừ bị Thủ Đức. Sau năm 1975 làm nông dân. Bắt đầu viết
văn từ năm 1995.
• Tác phẩm: các tập truyện ngắn và tạp văn Cơm chiều,
Xoa tay và cười, Con lươn chép miệng, Làng quê thì mênh mông.
• Giải thưởng: Giải Nhất cuộc thi truyện ngắn của tuần
báo Văn Nghệ năm 2007.
Người như ông thật quý!
Tiến sĩ Hoàng Ngọc Hiến là một nhà nghiên cứu lý luận, dịch
thuật văn học có nhiều ý kiến đặc sắc, là một nhà giáo tận tụy uyên thâm. Ở ông
có sự nghiêm cẩn trong học thuật kết hợp tự nhiên với sự hiền hòa giản dị mà
không hề thiếu lịch lãm.
Nhưng, ông cũng là người có cả vẻ ngây thơ vừa thật đáng quý
và dễ gây mủi lòng, lại vừa làm cho ta đôi khi lại cứ băn khoăn: hình như mình
vừa có điều gì không phải với ông?
Chẳng hạn, có một người bạn thân của ông – là bạn thân của
nhau, nên chắc là rất hiểu nhau, mà có thể suồng sã với nhau được, đã nói về
ông thế này: “Hoàng Ngọc Hiến là một tay cự phách trên văn đàn. Nhưng nếu là
con gái, thì chắc là Hiến ta đã nhỡ nhàng với con trai hàng trăm lần rồi.”
Ông nghe được nhận xét ấy, chả cần hỏi là ai nói, đã gật đầu,
cười, rồi dang hai tay ra, kêu lên: “Thế à!?”
Hoặc, ông xuất hiện ở các hội nghị hội thảo trong nước hay ở
nước ngoài thì được để ý săm soi đã đành, mà ông đi chơi đâu đó, ngồi trò chuyện
với bạn bè ở cuối bàn kê ở góc phòng thôi, mà chỉ mươi phút sau, đã thấy có người
ở các góc khác để mắt tới rồi, tại ông đang nói gì, đầy tâm đắc và ngữ điệu, dễ
gây chú ý, hay những người ngay cạnh ông đã ồn ào hơi quá lên?
Một dịp, vào hè năm 1986, ông hỏi tôi:
- Cậu đã đọc báo Văn Nghệ chưa? Có một tay khá lắm,
nó viết kinh hoàng lắm.
Thế rồi Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện, được chào đón và gây
tranh cãi khá kịch liệt. Thiệp như không biết là người ta đang bàn đang bình
mình thế nào, cứ viết và cứ được đăng, được xuất bản. Cuộc tranh luận về Nguyễn
Huy Thiệp đã đến hồi ồn ào hơn, bộc lộ chính kiến, quan điểm học thuật và cả kiến
văn, bộc lộ cả cá tính và phong độ của những người tranh luận. Trong bối cảnh
đó, có người ghi công cho Hoàng Ngọc Hiến – người có tài phát hiện và có tâm
nâng đỡ; cũng có người không cho là như thế; lại cũng có người trách ông là đã
“bốc” Thiệp lên ghê quá, nên Thiệp mới “được đà”!
Lúc đó, hình như người ta đã tự cho là chỉ cần nắm bắt được
“cái thần” của nhau, rồi cứ thế mà tranh luận (đôi khi là suy diễn quá mức), chứ
nếu đọc kỹ nhau hơn, tôi tin là người ta sẽ chừng mực với nhau hơn. Nhưng ngày ấy,
từ rất sớm, Hoàng Ngọc Hiến đã cùng với việc “tìm ra” Nguyễn Huy Thiệp mà giới
thiệu nhiệt thành với văn đàn, thì đã nói với Thiệp rằng “tôi không chúc bạn
thuận buồm xuôi gió”. Trong bài viết nổi tiếng này, ông đã có những đoạn như:
Trong lĩnh vực văn nghệ, dầu đổi mới thế nào, đổi mới đến đâu
đi nữa thì cũng không thể ra ngoài “quy luật của cái đẹp”, ra ngoài “sự thật”
và “nhân bản” là những luật cơ bản, vĩnh cửu của văn học nghệ thuật. Chân, mỹ,
thiện đã trở thành những giá trị truyền thống. Trong văn học “thiện” trước hết
là nhân bản. Từ ngàn xưa dòng văn học tuôn chảy giữa hai bờ “chân”, “mỹ” bao giờ
cũng ra biển cả nhân bản. Không thể khác được. Bằng không, nước sẽ quẩn quanh,
đọng thành những vũng ao tù. Đành rằng ao tù cũng có thơ ca và thi sĩ của nó.
Quan sát, tìm hiểu công việc, công phu đọc sách, tra cứu,
nghiền ngẫm và viết của nhà văn Hoàng Ngọc Hiến qua mấy chục năm nay, nếu bảo:
Hoàng Ngọc Hiến là một nhà nghiên cứu bền bỉ, thì đúng thôi,
nhưng chưa phải, chưa đích đáng. Hoàng Ngọc Hiến là người cần cù, và rất say mê
cái mới. Say mê cái mới trong nghệ thuật đã đành, say mê cả những cái mới trong
cuộc sống bình thường nữa. Lần ấy ông đi Mỹ về, ông hào hứng say sưa kể lại các
cuộc tiếp xúc, gặp gỡ, làm việc, rồi đọc và ghi tối ngày suốt buổi ở bên đó, về
những thư viện và sức đọc ở bên đó..., chờ ông tạm ngừng lời, tôi xen ngang vào
hỏi:
- Anh mang về nhiều thế và anh ưng ý nhất là cái gì?
Ông reo lên ngay:
- Câu hỏi này mới chí lý! Máy chữ! Cái máy chữ vi tính! Cậu
có biết không, nó là một nhà xuất bản, nó là một giàn nhạc giao hưởng hoặc một
khúc độc tấu tuyệt vời đấy! Mác từng nói công cụ sản xuất sản sinh ra chất lượng
lao động và chất lượng cuộc sống, cậu còn nhớ không?
Rồi ông hào hứng miên man sang công năng tác dụng “vô bờ bến”
của máy chữ vi tính. Một người hỏi:
- Thế anh đã dùng máy này thành thạo rồi chứ?
Hoàng Ngọc Hiến sững lại vẻ trầm ngâm, ông chặc lưỡi, đằng hắng
và tiếp:
- Cũng là mày mò thôi. Nhưng tớ đưa về cả một giàn máy rất mới,
rất hiện đại, lại còn cả các sách dạy sử dụng máy vi tính bằng tiếng Anh nữa.
Và rồi ông mày mò tự đọc, tự học sử dụng máy này thật, rất
say sưa. Có người đến, ông vồn vã ra đón, chưa kịp ngồi yên, chưa kịp để bà Nga
(vợ ông) nhắc, ông đã chạy lại cạnh cái máy nhấp nhấp con chuột. Bà Nga nháy mắt
với khách:
- Người tình mới của ông Hiến đấy, văn với chả máy, hì hục hấp
háy tắt mở suốt đêm, khiếp lắm!
Đọc, nghĩ và viết bằng máy, là suốt ngày đêm rồi, ông còn có
thú chơi thể thao nữa, rất đều, từ khoảng năm giờ chiều mỗi ngày nữa. Ông cũng
thường đi bộ. Tôi đã đi cùng ông, ông đi rất nhanh giữa dòng người hối hả, và
tán loạn. Lúc qua đường, ông nắm tay tôi bảo:
- Cậu để tôi dắt cho, đoạn này kinh lắm, nhưng tôi quen rồi.
Người đi đường ngoái lại nhìn ông và tôi, không rõ là ánh cười
của họ ngụ ý gì.
Trong mấy chục năm qua có mấy lần ý kiến của ông đưa ra đã
gây tranh cãi, có mấy lần sự giới thiệu của ông đã gây ra cú sốc. Thời gian dần
trôi, giới nghiên cứu và sáng tác vẫn hiểu ra rằng: Dù thế nào, ông cũng là một
Nhà văn – Nhà nghiên cứu văn học nhiệt thành, trung thực với chính mình và đặc
biệt là nhiệt thành và trung thực với sự nghiệp văn hóa – nghệ thuật nước nhà.
Đi dạy, ông nổi tiếng là người hay đả phá cái cũ mòn, luôn hướng
học viên và bạn nghề vào những đề tài mới lạ với những cách tiếp cận đa chiều.
Trong nghiên cứu khoa học, ông lại được tiếng là người có khả năng nắm bắt thực
tiễn, khái quát thực tiễn bằng những cụm từ có tính chất định danh cao. Người
ta nể phục ông ở đấy, và đôi khi, cũng muốn tranh cãi thêm với ông “cho ra nhẽ”
cũng ở đấy.
Chẳng hạn, vào cuối những năm 1970, ngay khi hào khí thắng đế
quốc to là Mỹ đang dâng trào, văn chương đương đại đã bắt đầu bước vào một cuộc
nhận đường mới, để vừa phản ánh cho chân thực, đầy đủ và hào hùng cuộc chống Mỹ
cứu nước, vừa phản ánh sao cho hay thực trạng đất nước những ngày mới hòa bình
thống nhất – có tự hào và vui sướng, cũng có cả bi ai và lắm nỗi lo toan... thì
Hoàng Ngọc Hiến tung ra một nhận xét rằng văn học ta lâu nay là một nền văn học
“phải đạo”, chúng ta đã sáng tác theo “chủ nghĩa hiện thực phải đạo”. Cái bài
viết có nhan đề Về một đặc điểm của văn học của ta trong giai đoạn vừa qua (báo Văn
Nghệ số 23, năm 1979) ấy đã làm xôn xao dư luận sáng tác và nghiên cứu.
Người ta – lúc bấy giờ đã không chịu được sự khái quát thẳng thừng có ý “hạ thấp”
giá trị văn học một thời như thế, và người ta cũng chưa thể đồng ý với lập luận
của ông.
Đi trước là một phẩm chất cần có của tư duy lý luận, ở mức độ
nào đó, Hoàng Ngọc Hiến là một trong số ít người ở ta có phẩm chất này. Theo
chiều hướng “đi trước”, Hoàng Ngọc Hiến đã hết lòng cổ vũ cho sự mạnh dạn đổi mới
trong tư duy nghệ thuật và cả trong việc sử dụng các thủ pháp nghệ thuật văn
xuôi thật khác lạ, mạnh mẽ của Nguyễn Huy Thiệp và Tạ Duy Anh.
Ham tìm tòi và mạnh dạn thể nghiệm, khi tuổi đã ngoài bảy
mươi, Hoàng Ngọc Hiến còn quả quyết đi sâu vào nghiên cứu văn hóa phương Đông,
về kho tàng và đặc sắc của triết học phương Tây. Quá trình mới này ở ông đã kịp
cho một số kết quả mới, là tác phẩm dịch Các phạm trù văn hóa cổ (của
Gurevic, 1977), Minh triết phương Đông và triết lý phương Tây/ Xác lập cơ
sở cho đạo đức (dịch của F.Jullien, 2000). Từ hai công trình có tính chất
cơ sở này, cùng với sự nâng cấp các phác thảo đã có, Hoàng Ngọc Hiến đã viết tiếp
được công trình Văn hóa & Văn minh/ Văn hóa chân lý & Văn hóa dịch lý.
Một lần nữa, trong công trình khảo luận này, Hoàng Ngọc Hiến đã trở thành người
gợi mở nhiệt thành.
Dăm mười năm gần đây, từ địa hạt nghiên cứu, lý luận văn
chương, nhà văn Hoàng Ngọc Hiến lại cùng nhà văn Tô Hoài và một số vị khác còn
nghiên cứu về văn hóa (đề tài cấp Nhà nước). Có lần gặp ông khi ông vừa đi mấy
tỉnh xa về, tôi hỏi ông chuyện nọ, chuyện kia. Trong dòng kể đầy hào hứng như
trình bày luận giải cho cả trăm người nghe, với giọng đầy ngữ điệu, nhà văn mấy
lần nhấn mạnh: “Văn hóa là sự bao dung, độ lượng.” “Nhuốm màu đạo đức học quá”
– Tôi bảo. Ông nói ngay: “Cố nhiên. Văn hóa là cái khởi thủy, lại cũng là sự
chung kết. Sự chung kết đích đáng vẫn hàm chứa trong đó nhiều thứ.” Có lẽ cái mạch
mới trong suy tư của ông về những vấn đề đạo đức học này đã bắt nguồn từ chính
những nếm trải thăng trầm trên đường đời của ông thì phải. Ông không chúc bạn
văn mới Nguyễn Huy Thiệp thuận buồm xuôi gió, bởi ông cũng vừa vượt lên từ bao
gian truân. Và trong gian truân, ông quá hiểu đạo đức con người, sự tử tế của
con người đã đóng vai trò to lớn như thế nào! Trong bài Trước đèn và ban
ngày đọc Mạnh Tử, ông mở đầu:
Đọc và suy ngẫm những quan niệm của Mạnh Tử về đạo đức tôi thấy
rằng trong tình hình đạo đức hiện nay của xã hội ta, có nhiều điều trong đạo đức
học Mạnh Tử rất đáng để chúng ta suy nghĩ.
Tiếp tục cái ý hướng đọc xưa là vì nay này, ông đã bắt tay
vào dịch tập khảo luận Xác lập cơ sở cho đạo đức (Đối thoại của Mạnh Tử với
một nhà triết học ánh sáng) của học giả F. Jullien. Chọn dịch công trình nổi
tiếng này của nhà triết học đương đại người Pháp, Hoàng Ngọc Hiến đã giới thiệu
cho công chúng Việt Nam một cách nhìn nhận mới về Mạnh Tử, đó là cách nhìn một
triết gia phương Đông từ lý trí của Châu Âu, qua đó cũng nêu lên được những gì
minh triết phương Đông ngộ được mà bất cập đối với phương Tây.
Vậy là, hơn cả sự bền bỉ, Hoàng Ngọc Hiến là người quyết đi đến
cùng các ý nghĩ, cái kế hoạch lao động, nghiên cứu của mình. Có thể có va chạm
và bất đồng ý kiến trong nghiên cứu lý luận văn học, nhưng phải lương thiện, hướng
thiện, vì sự phát triển của văn chương dân tộc.
Hoàng Ngọc Hiến không phải là nhà lý luận chay. Ông là một
nhà lý luận – phê bình đích thực thường có mặt đúng lúc. Ông từng tâm sự: “Những
bài phê bình hay làm người đọc yêu văn học. Yêu văn học là yêu những giá trị
tinh thần, sự khô cạn của tình yêu này đương là một trong những sự khốn cùng của
thế giới hiện tại. Cũng như các thể loại văn học khác, viết phê bình không thể
thiếu cảm hứng. Người viết phê bình là người có những chủ kiến mạnh mẽ...”.
Chúng ta từng biết rằng con đường nghiên cứu, giảng dạy, hoạt
động văn học của nhà văn – nhà giáo Hoàng Ngọc Hiến là thẳng mà cũng hay có va
vấp. Trải qua bao nhiêu va vấp thế mà ông không oán hận; trái lại, thêm lắng đọng
suy tư và cũng vui cười hồn nhiên, lại còn nói thêm: “Văn hóa là bao dung”.
Người như ông thật quý!
Nhà văn, Tiến sĩ Văn học Hoàng Ngọc Hiến
• Sinh năm 1930
• Quê quán: Đức Phong, Đức Thọ, Hà Tĩnh
• Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 1987
• Làm nghề dạy học từ năm 1949 đến khi về hưu. Đã từng dạy ở
các trường Đại học Sư Phạm Vinh, Đại học Văn Hóa, Trường Viết văn Nguyễn Du.
• Tác phẩm chính đã xuất bản: Maiacốpxki, con người, cuộc
đời và thơ (khảo cứu, 1976); Maiacốpxki, hài kịch(dịch, 1984); Văn
học Xô Viết đương đại (khảo cứu, 1987); Văn học – học văn (tiểu
luận, phê bình, 1990); Văn học gần và xa (tiểu luận, phê bình,
2003); Triết lý văn học và triết luận văn chương (tiểu luận, phê
bình, 2006).
• Giải thưởng văn học: Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam
1985 cho tác phẩm dịch Maiacốpxki, hài kịch.
• Ông mất ngày 24 tháng 1 năm 2011.
Giọt nước trong lá sen
Tôi trông lại ngôi nhà gạch cổ tìm dưới tán cây vú sữa trong
bóng chiều đông xứ Huế lất phất mưa lạnh. Thế kỷ XX còn ở lại đây. Ngay trong
khuôn viên tuềnh toàng mới được đeo số 38. Đường Nguyễn Khoa Vi. Phường Vĩ Dạ.
Gia chủ tôi vừa được gặp. Trần Vàng Sao.
Tôi yêu mến Trần Vàng Sao từ thuở còn là sinh viên. Dạo ấy
vào cuối những năm 60 và đầu năm 70 của thế kỷ trước. Những năm tàu bay giặc
hung hãn mang bom đạn đốt nhà giết người khắp bờ cõi Việt. Cả một nền đại học rời
Hà Nội về rừng núi, thôn quê sơ tán. Chính phủ lo cho hàng vạn học trò cái ăn
đã đủ mệt rồi. Thiếu sách, thiếu vở, đói rét là chuyện thường. Một nền đại học
ngặt nghèo trong khói lửa chiến tranh. Đám sinh viên hiểu được cái ân huệ yên
bình mà mình được hưởng. Ai cũng miệt mài thức khuya dậy sớm. Đêm hôm đèn sách.
Thung lũng Đại Từ tỉnh Thái Nguyên bốn bề là núi xanh lơ. Ở giữa lại có hai quả
núi nhỏ. Núi Văn. Núi Võ. Xa trông giống như hai cái mũ cánh chuồn úp xuống.
Nơi cư ngụ của mấy ngàn ngọn đèn dầu sinh viên thời chống Mỹ. Sinh viên Văn
khoa Tổng hợp Hà Nội thời ấy oai lắm. Có thói quen chép tay hay truyền miệng
nhau thuộc lòng những bài thơ hay. Thôi thì đủ cả. Bên kia sông Đuống của
Hoàng Cầm. Không đề của Olga Bergon. Nghĩ lại về Pautovxki của
Bằng Việt v. v... và Bài thơ của một người yêu nước mình của Trần
Vàng Sao. Không rõ in năm nào, nhưng mà còn nhớ in chung trong tuyển thơ cách mạng
miền Nam, nhiều tác giả. Bài thơ ấy không biết ai nhuận sắc. Nó ngắn hơn so với
nguyên bản, nhưng hồn cốt vẫn giữ được. Người ấy chắc phải là tay cao thủ trong
làng thơ xứ Bắc, và chúng tôi thuộc lòng bài thơ kỳ lạ ấy. Suốt một nửa thế kỷ
qua nó vẫn sống động, vẹn nguyên trong tâm hồn thế hệ thanh niên những năm gian
khó. Giờ đã ở tuổi ngoại lục tuần, thi thoảng gặp nhau lại đem Trần Vàng Sao ra
đọc như đọc lại một thời quá khứ long lanh.
Bài thơ độc đáo và đi vào lòng người ở chỗ nhiều thi sĩ khác
khi viết về đất nước thường viết theo âm hưởng anh hùng ca, sang sảng, phơi phới
đi lên. Họ thường đặt đất nước vào vòng tay của lịch sử. Vòng tay rộng lớn, mạnh
mẽ, nhiều khi đầy uy lực. Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? của Chế
Lan Viên; Đất nước của Nguyễn Đình Thi; và sau này, Đất nước
hình tia chớp của Trần Mạnh Hảo v.v và v.v... Trần Vàng Sao đã có cách làm
khác hẳn. Ông ôm đất nước vào vòng tay nhỏ bé, tội nghiệp, và cay đắng của
chính mình để hát lên một bài ca tha thiết, mà giản dị. Xúc động đến xót xa mà
hài hòa vây ấm. Người ta khi đọc lên thấy yêu mến hơn đất nước mình, nhân dân
mình một cách tự nhiên từ những gì gần gụi nhất.
Một bài thơ hay có trăm nghìn cách tiếp cận khác nhau để làm
rõ ra, để xâm nhập, đào bới vào những vỉa quặng của ý nghĩa xã hội và vẻ đẹp thẩm
mỹ. Nhưng dù cách nào, ai nấy đều thừa nhận Bài thơ của một người yêu nước
mình là một trong số ít bài thơ đặc sắc nhất của thi ca Việt Nam hiện đại
viết về đất nước. Và nó đã ghi danh tên tuổi của thi sĩ Trần Vàng Sao lên bầu
trời thi ca nước Việt, thế kỷ thứ hai mươi. Bài thơ có nhiều vầng sáng lan tỏa
trong nhau. Nhưng có ba vầng sáng lung linh và đẹp đẽ nhất, soi tỏ những vầng
trán đắm say và suy tưởng của nhiều thế hệ người đọc. Ba vầng sáng: Đất nước,
Người mẹ và Em. Mở đầu bài thơ là sự thảnh thơi, thư thái. Không phải cái gì
cao sang to tát mà bồi hồi như hơi thở làng quê, tràn trề hạnh phúc của tuổi
thơ mỗi buổi sớm thanh bình.
Buổi sáng tôi mặc áo đi giày ra đứng ngoài đường
Gió thổi những bông nứa trắng bên sông
Mùi tóc khô còn thơm lúa mùa qua
Bầy chim sẻ đậu trước sân nhà
Và lũ trẻ đứng nhìn ngấp nghé
Tôi yêu đất nước này như thế.
Tình yêu đất nước bắt đầu từ nỗi nhớ khôn nguôi về một tiếng
cười của người mà ta chưa từng gặp mặt. Mang đến cho ta nỗi buồn man mác hương
hoa của cõi xưa vắng lạ trong câu dân ca xa ngái cùng sự chia ly vô cớ của tuổi
hẹn hò.
Đôi khi nhớ một tiếng cười lạ
Một câu ca dao buồn có hoa bưởi hoa ngâu
Một vết bùn khô trên mặt đá
Không có ai chia tay
Cũng nhớ một tiếng còi tàu.
Nhưng da diết hơn cả, sâu nặng hơn cả là hình ảnh người mẹ hiền
giàu đức hy sinh, chịu bao cay đắng, thiệt thòi, tủi nhục. Suốt đời niệm Phật để
nuôi dòng sữa Thiền cho ta khôn lớn. Là tiếng thở dài của mẹ đêm đêm, dài hơn cả
cuộc đời ta, dài hơn cả nước sông gạo chợ tảo tần. Hình ảnh mẹ là hình ảnh sâu
đậm nhất của quê hương để cuộc sống dù trải qua bao đắng cay cũng trở thành
thân thương chan chứa mà dung dị lạ thường.
Tôi yêu đất nước này như thế
Như yêu cây cỏ trong vườn
Như yêu mẹ tôi chịu khó chịu thương
Nuôi tôi thành người hôm nay
Yêu một giọng hát hay
Một bài mái đẩy thơm hoa dại
Có sáu câu vọng cổ chứa chan
Có ba ông táo thờ trong bếp
Và tuổi thơ buồn như giọt nước trong lá sen.
Vâng, giọt nước trong lá sen! Giọt nước long lanh được xứ Huế
chắt chiu qua bao khổ đau, giông bão để sinh hạ ra thi sĩ tài hoa Trần Vàng
Sao. Thi sĩ của tình yêu Tổ quốc mình. Càng đằm sâu vào thế giới tinh thần của
bài thơ những vầng sáng lan tỏa soi tỏ tâm thức cõi người. Yêu đất nước hòa quyện
với tình yêu của người con gái ngây thơ đã gọi nhỏ tên ta ở tuổi học trò áo trắng
và chùm hoa phượng đỏ để ta nguyện cầu trong nỗi buồn cô đơn không giải thích nổi
của tình yêu đôi lứa.
Tôi yêu đất nước này và tôi yêu em
Thuở tóc kẹp tuổi ngoan học trò
Áo trắng và chùm hoa phượng đỏ
Trong bước chân chim sẻ
Ngồi học bài và gọi nhỏ tên tôi
Hay nói chuyện luyên thuyên
Chuyện trên trời dưới đất rất lạ
Chuyện bông hoa mọc một mình trên đá
Cứ hay cười mà không biết có người buồn.
Ôm đất nước trong vòng tay bé nhỏ của mình, Trần Vàng Sao đã
mười lần kêu lên: “Tôi yêu đất nước này!” Với bao tâm trạng: Xót xa. Cay đắng...
Để rồi lần thứ mười một, dường như ông không thể nhỏ nhẹ được nữa, cầm lòng được
nữa, tiếng thơ như vỡ òa ra, thổn thức bật lên từ những âm vang của lịch sử, của
những bài ca lao động, của những huyền thoại bất tử vang vọng hồn xưa.
Tôi yêu đất nước này lầm than
Mẹ đốn củi trên rừng cha làm cá ngoài biển
Ăn rau rìu, rau có, rau trai
Nuôi con người từ khi mở đất
Bốn nghìn năm nằm gai nếm mật
Một tấc lòng cũng trứng Âu Cơ
Và bài thơ đi đến những âm hưởng cuối cùng trong sự hài hòa của
những ước mơ khiêm nhường mà xiết bao hy vọng: Căn nhà nhỏ ban đêm có ngọn
đèn thắp sáng; Gió thổi trong vườn cây xào xạc hương thơm; Tiếng trẻ con khóc
bên nhà hàng xóm; Mẹ bồng con buổi đất nước hôm nay đã thấm hồn người... Bởi
cuộc đời ta trải qua đắng cay đã biết làm người và giữ gìn mãi mãi tình yêu
chân thật.
Không một ai đọc bài thơ này mà không một lần trào nước mắt.
Đất nước đâu có gì xa xôi mà quá đỗi giản dị trong vòng tay của người thi sĩ và
của chính mỗi người dân Việt.
Sau khi xuất hiện bài thơ kỳ lạ này không thấy bóng dáng ông
trên thi đàn nữa. Không rõ việc gì đã xảy đến với ông.
Lũ chúng tôi ra trường, tỏa đi bốn phương muôn ngả đường trần
trong cõi mưu sinh. Có nhiều cái đã quên, nhưng Bài thơ của một người yêu
nước mình cùng với những kỷ niệm thời trai trẻ thì không quên được.
Mãi đến những năm gần đây, mọi người mới biết rõ ông gặp nạn.
Đọc hồi ký Tôi bị bắt của ông trên mạng cảm thấy một tâm trạng xót xa
và buồn. Nhưng biết làm sao được khi lịch sử đi những bước lớn vinh quang trên
con đường của nó, cuốn theo bao nhiêu thân phận con người... Và không phải lúc
nào hoa mai cũng nở được hai lần để ai lỡ bước kịp phân trần cho mưa lạnh vào
đêm hôm trước nở hoa.
Thế kỷ trước có một vị tướng tài, đánh đông dẹp bắc. Khi ngựa
chiến vừa dừng chân, ông nhận được chiếu chỉ của triều đình sắc phong cho ông
chức vị chuyên lo về một việc dân sinh. Chẳng gắn gì với tài thao lược trong đời
binh nghiệp của ông. Ông thanh thản nhận công việc đó. Việc đánh giặc khác gì đắp
đê. Tuy vậy đó là một trong những quyết định khó khăn nhất của cuộc đời ông.
Nói như Trần Vàng Sao, bởi vì ông là một người yêu nước mình, yêu nhân dân
mình. Yêu hơn cả tính mạng và danh dự của bản thân mình. Đồng bào ai ai cũng
quý trọng nhân cách làm người ấy. Câu chuyện này không liên quan gì đến cuộc đời
Trần Vàng Sao. Nó chỉ như một dẫn chiếu để lý giải cho sự vắng mặt lâu dài của
ông trên thi đàn. Và điều đáng quý là Trần Vàng Sao không im lặng. Ông tiếp tục
làm thơ. Tiếp tục yêu nước mình dù ngay cả trong lúc cất lên những bài ca đau đớn
và ai oán nhất. Đọc kỹ trên mạng thơ ông viết thời đó Người đàn ông 43 tuổi
nói về mình(1984), Khoảng trống ngoài sân khấu (1986), Tau chửi (1997)...
khoảng gần ba mươi bài. Không còn những hình tượng thơ tươi sáng và thanh khiết
như Bài thơ của một người yêu nước mình nữa. Năm tháng, tuổi tác và sự đời
không thể cho ông làm được như thế nữa. Nhưng dù gì thì gì, Trần Vàng Sao vẫn
trải lòng mình với những dòng thơ thế sự thấm đượm nhân văn.
Một nỗi cô đơn lẻ bóng và yên phận mà sao chân thành và suy
tư đến thế.
Một, hai, ba giờ sáng thức dậy ngồi vác mặt ngó trời nghe chó
sủa
Miếng nước trà mốc có mùi bông lài rát cổ
Cũng không có chi phiền
Vấn một điếu thuốc hút
Hai ba lần tắt đỏ...
(1984)
Thi sĩ của chúng ta không còn thảnh thơi mặc áo đi giày ra đứng
ngoài đường nữa. Ông bỏ dép đi kín nước dưới sông. Thắp ngọn đèn nhỏ sáng trong
ngôi nhà mình như ông từng mơ ước khi kết thúc Bài thơ của một người yêu
nước mình. Một sự thống nhất không thể nhạt phai lý tưởng xã hội và lý tưởng
thẩm mỹ của ông.
Tôi bỏ hai chân ra khỏi dép cho mát
Đám trẻ con bỏ chơi chạy theo phá đàn trâu bò đi qua
Tôi bước vào nhà mở rộng hai cánh cửa lớn thắp
một cây đèn để lên bàn thờ
Hai đứa con ra ngoài đường chờ mẹ chưa về
Trời còn lâu mới tối
Tôi đi gánh một đôi nước uống
(1984)
Năm 1985 ông viết bài thơ Những điều có khi hôm nay bỏ
qua không nhớ. Nói là bỏ qua mà không thấy ông bỏ qua được. Thi sĩ Trần Vàng
Sao không thể bỏ qua tình yêu quê hương đất nước mình. Cả những gì giản dị nhất.
Tiếng trẻ con ru em buổi trưa trời nắng
Những điều đó bỏ đi tình cờ gặp lại
Không kể năm
Không kể tháng
Không kể ngày......
Con chuồn chuồn hết đạp nước rồi đậu trên dây thép gai
Con bò kéo xe chở gạch bước lách cách
Người đánh xe đội chụp cái mũ Levis ngồi dựa ngửa hút thuốc
Buổi chiều nước sông không có mặt trời
Tôi xoa hai đồng bạc kên trên mấy đầu ngón tay.
(1985)
Ông không bao giờ chịu để ngọn đèn nơi ngôi nhà mình tắt. Ngọn
đèn đã khêu lửa trong thơ ông từ hồi những năm ông rời thành phố Huế lên xanh
cùng sống chết với quê hương mình.
Đèn hết dầu
Tôi lấy chai ra đường kêu cửa mua chịu.
(1985)
Trong số ít bài thơ viết khoảng ba mươi năm sau 1967, có bài
thơ dài gợi nhiều suy tưởng. Bài thơ Gọi tìm xác đồng đội đã được một
tờ báo ở Hà Nội in toàn văn, sau khi tập thơ đã có giấy phép xuất bản, chuẩn bị
đưa vào nhà in. Tòa báo này cũng đã điện thoại xin được sự đồng ý của tác giả...
Ở bài thơ này, Trần Vàng Sao không còn những câu thơ lấp lánh nữa. Ông sử dụng
phương pháp tự sự, kể chuyện, sử dụng triệt để phương pháp đồng hiện. Những cái
chết bi ai trong chiến tranh với nhiều tên người, tên đất cụ thể ở khắp mọi vùng
Tổ quốc. Bài thơ không phải là một văn chiêu hồn mới. Nó là khúc ca nghẹn ngào
nhắc nhở hiện tại và mai sau cái giá phải trả cho cuộc sống hòa bình. Nhắc nhở
người đang sống dù hạnh phúc hay đắng cay phải biết ơn những người đã chết vì đất
nước và quê hương. Dù còn bao gian khó. Hiện thực của bài thơ trần trụi một
cách đáng sợ. Người ta không thể tính được cái giá của hòa bình. Cái giá của
chiến tranh. Chỉ có quỷ dữ mới tính được cân, được lạng da thịt của người chết!
Chiến tranh hiện hình trần trụi trong từng cái chết. Nhưng không thể dập tắt
khát vọng sống mãnh liệt của con người. Gọi tìm xác đồng đội có những
câu thơ trong sáng như mây buổi sớm. Và Ban mai như một hình tượng
thơ trong suốt pha lê của cả đời thơ nhà thơ xứ Huế.
Những buổi sớm mai
Những buổi sớm mai thơm mùi lúa
Tôi đi qua cánh đồng đất nứt cuốc lật
Hai bên đường bông cỏ vừa nở
Chim hót trong gió mát
Và sương mờ trong cây bên kia vùng
Em làm gì mà ngơ ngác như không thấy tôi
Những buổi sớm mai
Những buổi sớm mai
Như thơ tôi Sớm mai
Mặt trời mọc
Như thơ tôi ở với trời đất và anh em
Bạn bè tôi người sống người chết
Thơ tôi là đời tôi là tôi đây.
(1996)
Và như cái thuở ban đầu lưu luyến ấy, cái buổi sớm mai chàng
thi sĩ họ Trần mặc áo đi giày ra đứng ngoài đường gặp em gái đang độ tuổi học
trò. Bông hoa mọc một mình trên đá. Cứ hay cười không biết có người buồn của gần
nửa thế kỷ trước lại hiện về xao xuyến yêu thương trong bài thơ đầy chết chóc.
Con người hy vọng ở Ban Mai. Vơi đi bao nỗi ưu phiền.
Mọc trên đá một mình
Em còn xa tôi, xa tôi
Tôi còn đi mãi bơ vơ
Trang giấy buồn
Tôi xin đọc lời di chúc phúng điếu tôi bên
Dòng sông này
Cùng cây cỏ
Cùng anh em tôi.
(1996)
Không thể không nói những năm sau này thơ Trần Vàng Sao mang
nặng những nỗi buồn. Để rồi vượt lên tất cả, kết thúc bài thơ dài Gọi tìm
xác đồng đội là tâm hồn thanh thản của Thi Nhân. Tôi chú ý đến ông miêu tả
cử chỉ ngó xuống hai bàn tay của ông mà liên tưởng tới thế tay của ba vị Tam Thế
trong chùa. Khuôn mặt của quá khứ, hiện tại và tương lai đều giống nhau thôi.
Khác nhau chỉ ở cái ấn quyết của đôi tay Phật. Trần Vàng Sao là nhà thơ yêu nước
mình. Ôm trọn đất nước vào vòng tay bé nhỏ của mình mà ca hát đến nghẹn ngào.
Còn tôi
Tôi ngó hai bàn tay tôi
Rồi ngó trước mặt
Ngó sau lưng
Đêm mưa không biết
Có tiếng chẻ củi ở nhà bên cạnh...
Được biết sau này, thi sĩ Trần Vàng Sao đã ba lần được mời
tham dự Hội Nhà văn. Lần đầu vào khoảng năm 1990, hồi nhà văn Vũ Tú Nam còn cầm
trịch, cho đến các khóa sau này, nhà thơ Hữu Thỉnh kế nhiệm, và lần gần đây nhất
vào khoảng năm 2005-2006. Lần ấy, nhà thơ Nguyễn Hoa, Trưởng ban Hội viên của Hội
vào Huế có gặp ông. Khi ở trên bờ đã thấy ông xuôi xuôi. Xuống thuyền thưởng
ngoạn sông Hương xong, lúc lên bờ, Trần Vàng Sao lại ân cần từ chối. Biết làm
sao được... Dòng sông Hương bao đời nay chảy giữa tâm tư khát vọng của xứ Huế,
giữa kinh thành một thời vang bóng, cờ xí rồng bay... Nhưng dường như có một
dòng chảy vô hình nữa ở đâu đó dưới làn nước xanh. Sông Hương trầm lặng có bao
giờ chia sẻ tâm sự nhân thế với con người đầy mẫn cảm hay vẽ tranh Bồ đề Đạt Ma
Trần Vàng Sao – Nguyễn Đính (tên cúng cơm của Trần Vàng Sao) hay không? Nhưng
dòng chảy âm thầm của sông như mách bảo bí mật những lời của thiên sứ cho các
văn nhân tài hoa xứ sở từ bao đời nay, để làm nên một cốt cách của người xứ Huế
không pha trộn, vay mượn được...
Nhà thơ Trần Vàng Sao
• Tên khai sinh: Nguyễn Đính
• Ngày sinh: Sinh năm 1941
• Quê quán: Thừa Thiên – Huế
• Đời hoạt động: Năm 1961 thi đỗ tú tài, vào Đại học Huế,
tham gia các phong trào đấu tranh của sinh viên cùng thế hệ với Hoàng Phủ Ngọc
Tường, Trần Quang Long, Ngô Kha. Từ năm 1965 đến 1970, lên chiến khu và công
tác tại Ban Tuyên huấn Thành ủy Huế, viết báo với các bút danh Nguyễn Thiết, Lê
Văn Sắc, Trần Sao. Năm 1970 ra miền Bắc an dưỡng, chữa bệnh, viết nhật ký những
suy nghĩ về “hậu phương xã hội chủ nghĩa”, sau đó bị tố cáo, đấu tố và cô lập.
• Sau khi Việt Nam thống nhất, Trần Vàng Sao xung phong về
quê công tác nhưng không được chấp nhận; tự trở lại Huế làm liên lạc ở xã, sau
được bố trí công tác tại Phòng Văn hóa thành phố Huế, rồi về làm liên lạc ở xã
Hương Lưu (nay là phường Vỹ Dạ), Huế cho đến khi nghỉ hưu năm 1984.
• Các tác phẩm chính: hầu như không cho xuất bản thơ; vẫn nổi
tiếng với bài Bài thơ của một người yêu nước mình ký bút danh Trần
Vàng Sao, sáng tác tháng 12 năm 1967.
Thư hương nết nhà
Một hôm có ông Trương Nhuận là Phó Giám đốc Nhà hát kịch Tuổi
Trẻ gõ cửa nhà tôi, tay ôm bọc bản thảo nói là của Châu La Việt từ Sài Gòn
gửi ra để anh đọc rồi cho vài trang đầu sách gọi là lời tựa.
Nhìn đống chữ trên bàn mà lo, lại mừng vì đã nhận được hồi âm
của người bạn dưới tuổi nhiều năm bặt vô âm tín nay mới hiện về.
Rót nước mời khách, tôi thủng thẳng, trong ấy ông này sống ra
sao nhỉ, có dạo nghe tin đang ở mặt trận Lào, một lần hành quân qua Cánh Đồng
Chum vào Bôlôven, nửa đêm gối đầu lên súng nhìn sao, gió lục địa lùa chạy như lửa
thổi. Nằm để thức nghe người chỉ huy tiểu đoàn kể chuyện. Hồi ấy tao cũng đang
còn trẻ như các chú mày bây giờ, cùng đồng đội đuổi một sư Lê dương chúng nó quẳng
cả xe pháo mũ kiếm, vừa chạy vừa thở. Còn tụi mình thì cũng vừa đuổi vừa thở chứ
chẳng hơn gì, hỏi nhau tụi này mất hồn mất vía hay sao thế nhỉ. Qua đây gặp một
đống chum đá rải rác, lấy làm lạ, bảo là để chứa nước cho người qua đường uống
chả chắc đã phải, lãnh đạo nói là để nhà vua đựng rượu dọc đường khao quân.
Nghe thế thì biết thế. Đi vài ba ngày nữa là vào đến cao nguyên, một vùng đất bằng
cây cỏ hoa lá xanh tốt, lúa bời bời, con gái như tiên giáng trần ngồi dệt cửi
ra sông kín nước, mưa suốt ngày, sương mù bảng lảng như khói, đất trời mát mẻ
như trong động. Nhiều thằng ao ước giá mà được ở lại đây tìm một cô vợ sinh cơ
lập nghiệp.
Đám Châu La Việt cũng lại nghe thế thì biết thế, họ thầm thì
với nhau, ông này đang dùng mẹo Tào Tháo kể chuyện vườn mơ trong Tam Quốc để
quân ta đi hăng đây mà.
Như muốn kéo tôi trở lại với chủ đề hôm nay, khách bèn ngắt lời,
trong ấy giờ các cháu nhà ấy đều đã trưởng thành, đứa nào cũng học hành đàng
hoàng, bà chị đảm đang, là giám đốc một đơn vị kinh doanh. Ông ta vẫn hì hục
làm báo, rỗi rãi ngồi nhà viết văn, cắm đầu viết như thằng ngộ chữ. Lần này nhặt
ít trang gửi ra để làm tội bác.
Sau tuần trà thứ hai tôi lại thủng thẳng, cũng chưa rõ văn
chương của nó thế nào, nhưng dù chưa đến đâu thì đã làm sao. Thời buổi thiên hạ
đua chen kiếm tiền, chạy đôn chạy đáo, ngược xuôi sấp ngửa, vậy mà lại có đứa cặm
cụi đánh vật với chữ, bảo không trân trọng sao được.
Mình xem ra các ông đều dòng dõi thư hương, dòng dõi mặc
hương, nó là dấu hiệu văn hóa mang tính truyền thống lâu đời. Cái mùi sách mùi
mực nó lạ lắm, dai dẳng đeo bám. Ra ngoài nghe có ai nhắc thằng cha ấy đặc thư
hương nết nhà, vậy là đủ thấy phải quý nể.
Việc cầm bút với các ông đâu phải chuyện khó khăn, chỉ là lúc
nào viết mà thôi. Nay vẫn chưa viết thì đợi một khi khác, đi đâu mà vội. Viết
chẳng qua cũng chỉ là một nhu cầu tự thân, là thả lòng giãi bày cái tâm cái chí
chứ toan tính gì danh lợi, kẻ khoác áo hư hão trà trộn vào chốn ấy mưu mẹo kiếm
chác tiến thân là nhục lắm, chả ra làm sao.
Viết trước tiên là để cho mình, chưa hay phải cố bằng hay, một
khi mình chưa thích thì bảo ai thích nổi, đó là một đời theo đuổi cái thiện cái
đẹp. Trước cái thiện cái đẹp là cái chân. Nói cho đến cùng thì cũng chẳng nên
khoe sự viết khỏe, có phải chuyện gánh nước bổ củi gì đâu mà bảo khỏe hay yếu,
ít hay nhiều. Các bậc trí giả xưa nhiều người để lại cả chục xe sách, lại có
người chỉ để lại dăm ba bài phú dăm ba bài thơ. Thế cũng xong, chả ai so đo hiềm
tị ông để lại nhiều tôi để lại ít. Nhiều ít chưa phải đã là giá trị ở đây. Có
câu lập thân tối hạ thị văn chương là vậy, nó phải là một cái thú tao nhã sạch
sẽ, chớ mang nó làm những chuyện xoàng xĩnh.
Ông bầu gánh hát vừa nghe tôi độc thoại vừa nhấp nhổm xem đồng
hồ ra ý muốn đi. Tiễn khách tới hành lang chung cư tôi quay vào một mình ngồi với
một mình. Nhớ lại thấy thời gian đi nhanh quá, thoáng cái đã có trên bốn chục
năm kể từ buổi gặp nhau lần đầu của hai anh em, tôi và Châu La Việt. Đó là ngày
tôi lấy vợ, hôm ấy bạn bè Hà Nội đạp xe sang Bắc Ninh có đến vài chục. Tay bắt
mặt mừng, vừa thấy nhau cậu ta đã tuyên bố một câu xanh rờn, trước sau em nhất
định phải viết, viết được gì sẽ gửi anh đọc chơi, bút danh em cũng chọn cho
mình rồi, Châu La Việt.
Khách khứa đông nên tôi chỉ kịp gật gù, nghe bút danh thế được
đấy, chắc hẳn là tên mấy con sông con ngòi tuổi thơ chú. Một nụ cười rộng rãi,
một đôi mắt sáng, một cái trán nom vào đã thấy bướng của thằng con trai mười bảy,
đấy là Châu La Việt lần đầu về nhà tôi.
Đến cuối năm, Hà Nội sắp bước vào một cái tết của thời chiến,
trong Phủ Chủ tịch tổ chức một cuộc gặp gỡ lớn, một số văn nghệ sĩ cũng có mặt.
Chiều sẩm trong khu vườn trông sang ao cá nhà Bác, tôi đứng nói chuyện hồi lâu
với chị Tân Nhân. Chị là nghệ sĩ xuất sắc của nền âm nhạc ta và cũng là mẹ của
Châu La Việt.
Tôi hỏi thăm thì chị kể, sau lần sang chú dự cưới về nó bảo
phải đi cái đã, chả biết nó nghĩ gì mà nói thế, rồi ngồi viết đơn xin vào bộ đội.
Đang ở Lào rồi, mặt trận rộng, tôi cũng chỉ mới biết vậy. Chắc nay mai nó sẽ có
thư cho chú. Gia đình chúng tôi cũng chủ trương phải sớm cho cháu lội vào gian
khổ tập lặn tập ngụp.
Nó đang dọa tôi sẽ viết văn, phải đi cái đã là có ý bảo không
đi không thể viết được cái gì ra hồn. Chị chả nên lo lắng nhiều, thằng này xem
tướng cách không phải vừa, đời sẽ nhào nặn nó thành người.
Đấy là tôi muốn an ủi để chị yên lòng về cậu con trai trưởng
hình như gặp long đong ngay từ thuở lọt lòng. Chị nhìn tôi rồi cười nhẹ, một nụ
cười nhiều nỗi niềm.
Trong ánh sáng tưng bừng dạ hội, theo yêu cầu của đồng chí Thủ
tướng, chị đứng lên hát Xa khơi của Nguyễn Tài Tuệ. Hát như rút ruột
mà hát. Đám đông lặng phắc. Thủ tướng Phạm Văn Đồng bước đến ân cần đặt vào tay
chị một bông hồng thắm.
Tôi đọc Những tầng cây săng lẻ trong vòng một tuần,
mất thêm một tuần nữa loanh quanh nghĩ về bảy truyện ngắn trong tập này. Loanh
quanh không phải để tìm một hướng viết lời tựa mà vì sức ám ảnh của những trang
văn Châu La Việt.
Từ những trang viết ấy tôi gặp lại tiếng gió lùa xào xạc vòm
lá những cánh rừng xa, tiếng gọi nghiêm trang của những năm tháng xa. Những
cánh rừng trận mạc, những tháng năm trận mạc, và tôi thầm cảm ơn anh về điều
đó, đấy là một giá trị làm nên sức nặng cho những trang viết.
Không có sự bắt đầu nào là toàn bích, những trang viết đầu
tay của mỗi nhà văn ít nhiều nhìn lại đều thấy có những thiếu hụt, với thời
gian sẽ được lấp dần đầy. Cái có thể để người đọc đặt niềm tin nơi anh là sau
những năm tháng lăn lộn nay anh đã thành từng trải.
Ngoại trừ Theo gió trăng ngàn có phần lạc lõng, đó
là những kỷ niệm nhuốm màu lãng mạn cũ rích, là những gì của ai khác, ở một đời
sống mà tác giả không được trải nghiệm. Sáu truyện còn lại rất nên bàn, mỗi
truyện mang một vẻ riêng mà vẫn có chung một mạch văn, một hơi thở tinh thần của
tác giả. Mộc mạc điềm nhiên, đôi chỗ vụng về, ấy vậy mà lại khơi gợi và ấm áp.
Bốn truyện đặt trong lòng sách đều là những truyện ít nhiều
còn sơ sài, nghĩ sơ sài viết cũng sơ sài. Thật tiếc vì nếu anh đừng quá vội, nếu
anh giữ được sự chậm rãi kỹ lưỡng, chịu khó bồi đắp nhiều hơn thì đó sẽ là những
truyện ngắn vững vàng.
Tập sách tựu trung chỉ còn có hai cái ở đầu và cuối sách là
đáng kể. Mở đầu bằng Những tầng cây săng lẻ. Một truyện ngắn công phu, tuyến
truyện phát triển tưởng như đơn giản, chỉ là một tự sự của người lính trẻ, vậy
mà lôi cuốn. Nó là một truyện hay, uyển chuyển nhịp điệu, giản dị như không cần
bất cứ một sự cầu kỳ phô diễn nào hết.
Đặt cuối sách là truyện Mai Pi Muôn, tiếng đồng bào
nghĩa là “một hai ba”.
Bút pháp tung hoành, điêu luyện và mới mẻ. Một Tây Nguyên hào
sảng, hoành tráng hiện lên giữa những xô đẩy dữ dội của lịch sử đất nước. Không
gian truyện rất gần không gian sử thi. Nhà văn trong khi đi tìm vốn sống ngoài
đời cũng là đi tìm vốn sống đầy ắp cất giấu trong lòng mình. Những mảng hiện thực
ở đây hiện lên ngồn ngộn, những nhân vật, những tình tiết, những cảm xúc ồ ạt
tràn ngập làm ngợp hồn người đọc. Đây là một thiên truyện được viết một mạch
hào hứng, đầy tự tin, một bản lĩnh vững vàng.
Tây Nguyên giữ một vị trí đặc biệt trong đời sống chung dân tộc,
là một đề tài lớn cho nhiều nhà văn đã và còn tiếp tục khám phá. Thiên truyện
này của Châu La Việt chỉ là một thành tựu nằm cạnh nhiều thành tựu khác, điều
đáng nói ở đây, nó là một thành tựu mang ý nghĩa đẳng cấp, không thấy có nhiều
lắm.
Sự đột trội của hai truyện vừa kể này đã khiến cho những truyện
khác ở tầm trung bình trong sách thành vô duyên đôi chút, nhưng biết làm sao,
đòi hỏi hết thảy mọi cái viết ra đều phải có đẳng cấp là không tưởng, ngay cả
những tác giả đồ sộ cũng khó làm nổi.
Được biết anh vốn đã làm báo nhiều năm, báo có yêu cầu, có đặc
thù của báo, văn lại có yêu cầu, có đặc thù của văn, kinh nghiệm cho biết khi
ngồi vào bàn văn ta phải nhanh chóng đẩy tay nhà báo trong mình lùi vào phía
sau. Thường thì anh ta rất thích xúi bẩy vớ vẩn khiến cái ta viết ra dễ văn báo
lẫn lộn. Ở đời không thiếu gì sự lẫn lộn nhưng cái lẫn lộn này nó làm khổ con
người ta lắm lắm. Đến chữ nghĩa cũng đâm lười nhác, mất hết nhung tuyết.
Hình như đời văn cũng nên dài và nên sinh động như một dòng
sông lớn, lắm ghềnh thác, quanh co uốn khúc, mùa vơi mùa đầy, rất giàu màu sắc
nhịp điệu, sau tất cả nó gặp biển và biến mất.
Những năm sắp đến với một Châu La Việt cầm bút chắc hẳn phải
là một chặng đường cật lực, không ít nhọc nhằn mà cũng không ít kiêu hãnh. Biết
làm sao, nếu muốn nhàn thân thì đã chẳng lựa chọn con đường khốn khổ này.
Người ta thường nói con nhà tông chẳng giống lông cũng giống
cánh. Trong ta như một thứ di truyền đã có sẵn từ buổi chào đời, đó là cái nết
thư hương con nhà. Cái mùi sách mùi mực rồi ra nó sẽ còn dẫn dụ ta đi đến những
đâu không rõ. Và không thể khác, đói no sang hèn, vẫn cứ phải cầm bút, bạn bè
đang chờ đợi ở ta, hãy viết như mẹ ta đã hát.
Ngậm từng chữ nhả từng lời, đau như lòng tằm và sang như tấm
lụa tằm tơ, say mê tột cùng mà yêu dấu cũng tột cùng.
Nhà văn Châu La Việt
• Tên khai sinh: Lê Khánh Hoài
• Sinh năm 1952 • Quê quán: Mai Xá, Gio Linh, Quảng Trị
• Là con trai nữ nghệ sĩ Tân Nhân. Nhập ngũ 1969. Đi chiến đấu
tại các mặt trận Lào và Trường Sơn. Đã tốt nghiệp khoa ngữ văn Đại học Sư Phạm
Hà Nội. Đã làm ở các báo: Thanh Niên, Thanh Niên – Thời Đại, Văn Nghệ Trẻ...
• Các tác phẩm đã in: Tập kịch Những bạn trẻ của tôi (nhà
xuất bản Quân Đội 1982); Chiếc khăn màu lửa cháy (nhà xuất bản Trẻ
1998); Năm bài thơ và năm chuyện kể về người lính (nhà xuất bản Lao Động
2010); Những tầng cây săng lẻ (nhà xuất bản Lao Động 2011); Nơi
không có mùa đông (nhà xuất bản Lao Động 2012); Mai Pi Muôn (nhà
xuất bản Văn Học 2013).
Như những ngọn gió sang thu
Tôi muốn mở đầu bài viết nhỏ về ông bằng một câu thơ nào đó
trong tập này. Nhưng tôi thực sự không biết bắt đầu bằng câu thơ nào. Có thể là
câu: Trái tim rung giấc mơ yêu lục lạc/ Hết một bến bờ lại thấy bến bờ
sau. Và có thể là câu: Có một người đi một người nhớ ven trời. Cũng
có thể là câu: Ta nhớ người dưng, người dưng như cánh hạc/ Chỉ còn dấu
chân lắc thắc một bên trời. Hay là bắt đầu với khổ thơ: Khe khẽ mà
thương khe khẽ nhớ/ Chim ri bờ cỏ với hoa vàng/ Khe khẽ mà nghe khe khẽ thở/
Người rất buồn và hoa rất thương. Nhưng ý nghĩ lấy khổ thơ đó mở đầu như một
lời dẫn, như mở một con đường đi vào thế giới thơ ông vừa hiện ra thì những câu
thơ khác lại chen vào: Tôi có phải cánh buồm mê mải đó/ Sóng sông gần vọng
sóng sông xa...
Cuối cùng, tôi đã không có được một quyết định. Tôi có lẽ
không có khả năng của một nhà phê bình để rành mạch hành trình thơ của ông.
Nhưng cũng không phải thế. Sau những lần gấp tập thơ của ông lại, tôi đã nhận
ra một cách chính xác sự thật mà tôi đã trải qua và lại đang trải qua lúc này.
Sự thật đó là: tôi rơi vào trạng thái nói trên không phải là lúng túng, không
phải là đắn đo... mà là tôi giống một người đứng trong một khu vườn rộng lớn ngập
tràn những tán lá. Và những câu thơ của ông là những ngọn gió của một ngày sang
thu lớp lớp thổi qua. Tiếng gió khua vang những vòm lá nhưng lại đầy mơ hồ cứ từng
đợt, từng đợt... trùm phủ lên tôi rồi lan tận cuối trời.
Xin bạn hãy lắng nghe một lần thôi những câu thơ tôi trích dẫn
ở trên và rất nhiều những câu thơ khác, lắng nghe thật yên tĩnh và bạn sẽ thấy
trong tâm hồn mình những vòm lá của khu vườn mùa thu xào xạc vang bất tận. Có
thể bạn đọc đọc hết tập thơ của ông để hiểu những gì đang vang lên trong tâm hồn
ông và cũng có thể chỉ đọc một câu thơ hoặc một khổ thơ cũng đủ để nhìn thấy địa
chỉ nơi tâm hồn ông trú ngụ, nhìn thấy con đường ông đã đi trong những cơn mơ.
Và tôi chính là người muốn chìm vào chỉ trong một câu thơ để thấy được ông. Những
câu thơ như vậy xuất hiện từ bài thơ đầu tiên và nối nhau cho đến bài thơ cuối
cùng trong tập sách. Và lúc này đây, tôi đang viết về thơ của ông không phải
cách viết của một nhà phê bình hay của một nhà nghiên cứu mà là tôi đang hồi tưởng
về ông. Hồi tưởng về những ngày ông còn sống. Mà cụ thể hơn là về một buổi trưa
của một ngày sang thu ông đến thăm tôi ở thị xã Hà Đông. Cho đến bây giờ và có
lẽ mãi mãi về sau, tôi đinh ninh rằng: trong những năm tháng ông còn sống,
chúng tôi chỉ gặp nhau đúng một lần và chỉ một lần. Bởi lần ấy, tôi nhìn thấy
ông và hình ảnh của ông lần đó lấn át tất cả những lần khác.
Ngày ấy, thị xã Hà Đông còn quá nhỏ bé và yên tĩnh. Con đường
chạy vào nhà tôi vắng lặng và rợp bóng những cây nhãn cổ thụ thẫm tối khi sang
thu. Từ ô cửa sổ căn phòng ngôi nhà nhỏ bé của mình, tôi nhìn thấy ông từ xa. Một
thoáng cô đơn lướt dọc con đường ấy, một thoáng mênh mang xa lắc, một sự câm lặng
của cái đầu cúi xuống, một khoảnh khắc buồn bã trong bước đi. Chỉ một thoáng rồi
tan biến. Nhưng tôi chẳng có lý do nào lúc đó để nghĩ rằng ông là một kẻ mang
theo cuộc đời mình những thoáng như vậy. Vì những ngày đó, tên tuổi ông đang được
nhiều bạn đọc hâm mộ với sự xuất hiện của Năm chiếc lá và những hoạt
động nghệ thuật khác. Nhưng bây giờ, khi đọc tập thơ này, tôi mới nhận ra rằng:
cái bóng ông đi dọc con đường nhỏ dưới bóng lá thẫm tối buổi trưa mùa thu xa
xôi ấy cũng giống con đường ông đi trong toàn bộ tập thơ này. Bởi buổi trưa đó,
ông mang đến ngôi nhà nhỏ bé của tôi một câu chuyện buồn.
Với tôi, hình như lúc nào cũng vậy, những câu thơ của ông thật
giản dị, tinh khôi, đầy run rẩy, mơ hồ, buồn bã, tràn ngập những giấc mơ xa xôi
và đôi lúc phù du ở thế gian này. Lúc nào ông cũng mơ về những bến bờ vô định
nào đấy trong cõi trần thế. Hết một bến bờ lại thấy bến bờ sau... Câu thơ như một
tiếng thì thầm khôn nguôi của ông trong bóng tối u huyền nằm giữa đời sống trần
tục và những giấc mơ. Câu thơ giản dị ấy đã gọi tên bản chất của đời sống, của
bản chất thi ca hay chính là bản chất những vẻ đẹp. Tất cả những vẻ đẹp ấy
không bao giờ ngừng lại mà mở ra, mở ra những bến bờ bất tận. Chính điều ấy đã
làm nhà thơ chỉ có thể ngừng viết khi trút hơi thở cuối cùng trên chiếc giường
thế gian của mình. Nếu coi bài thơ đầu tiên trong tập thơ này là bước đi đầu
tiên của thi sĩ Trần Hòa Bình trên con đường của số phận và bài thơ cuối cùng
trong tập này là bước chân cuối cùng của ông thì tôi không còn cách nói nào
khác là phải nói: Nỗi cô đơn thi sĩ và những giấc mơ không bao giờ dứt về một bến
bờ đã theo ông từ bước chân đầu tiên đến bước chân cuối cùng. Ông đã đi tìm một
bến bờ. Nhưng khi chạm một bến bờ ông lại thấy một bến bờ khác hiện ra và gọi
tên ông. Chính điều ấy, nó làm cho con người mà đặc biệt là các nghệ sĩ không
bao giờ ngưng sáng tạo, ngưng sự tìm kiếm, ngưng khát vọng về một đời sống đích
thực hơn đời sống họ đang sống. Chỉ những câu thơ và chỉ những câu thơ mới cho
chúng ta hiểu được cái sâu thẳm trong con người của một thi sĩ.
Khi Trần Hòa Bình còn sống, tôi không hiểu ông nhiều lắm vì
chúng tôi quá ít gặp nhau. Hơn nữa, tôi cũng không đọc được nhiều thơ ông. Chỉ
khi con gái ông đưa cho tôi bản thảo tập thơ này, tôi mới bắt đầu đọc một cách
đầy đủ và có hệ thống thơ ông. Và tất cả những bài thơ trong tập thơ này đã dựng
lên chân dung ông. Dựng lên một Trần Hòa Bình trong một ánh sáng khác và cả một
bóng tối khác của chính đời sống mà ông đã sống như một con người của xã hội. Tập
thơ đã dựng lên một khu vườn rộng lớn không một hàng rào phân cách. Và như những
ngọn gió sang thu, ông đi qua khu vườn đời sống ấy và làm những tán lá vang lên
mơ hồ và thổn thức. Tôi đã luôn cảnh giác và cố gắng chống lại một sự áp đặt
nào đó tinh quái nếu có lẩn vào trong cảm xúc của tôi khi viết về thơ ông.
Nhưng chân dung của ông mà tôi nhìn thấy qua toàn bộ tập thơ nó quá mạnh mẽ đã
làm cho tôi hoàn toàn tin đó là chân dung chính xác nhất về ông. Tôi không rõ
rành cái chân dung đời sống thường nhật của ông. Nhưng tôi không đi tìm cái
chân dung ấy. Tôi đi tìm ông trong thế giới thơ của ông – một thế giới mà chúng
ta ngày ngày mang cơn mơ và cả những cơn mơ đau đớn về nó. Đó là chân dung mong
manh nhưng ngập tràn một giấc mơ mãnh liệt của ông. Và tôi vẫn gọi đó là những
ngọn gió sang thu làm xao động và khua vang những lá, làm thức dậy hương thơm của
những hoa, làm đằm ngọt những quả và làm thổn thức những lý trí. Tôi viết những
dòng này bởi chính tôi là nhân chứng của những cảm xúc đó ngay trong chính lúc
này.
Ngọn gió sang thu Trần Hòa Bình giờ đã lan tận cuối trời. Ông
đã xa xôi như một cơn gió thổi qua khu vườn và như một đám mây về cuối biển. Và
tất cả những nơi và những gì ông đã đi qua đều vọng lại như tiếng lá xào xạc và
thoảng lại như hương thơm hoa trái. Đó là một thị trấn nhỏ, một bản miền núi, một
dòng sông, một hoàng hôn, một chiếc khăn tím bay trong chiều đông, một quả ổi
chín đắm hương, những quả duối vàng lóng lánh như những viên ngọc nằm trong nước,
những đám mây trôi qua bầu trời, những bông dã quỳ hoang dại, những trái bàng rụng
mùa thu, những đồi cọ trung du xa lắc, những bông hoa lau bạc trắng, một đầm
sen đang hạ ngào ngạt dâng hương cùng những gương mặt người mờ tỏ và những giọng
nói không bao giờ tan biến... Ông đã đi qua những nơi ấy, nhìn thấy những điều ấy...
và ông đã dừng lại thổn thức, da diết, buồn bã và cả đau đớn một lúc nào đó.
Ông không phải là nhà thơ của những tư tưởng triết học, tôn giáo hay của một hệ
thống ngôn ngữ cách tân. Ông thực sự là nhà thơ của những vẻ đẹp giản dị tràn
ngập thế gian này nhưng rung động không nguôi và với một tình yêu mê đắm. Và
tôi thấy, nhà thơ Trần Hòa Bình vừa như một cậu bé chạy đến kiệt sức trong cuộc
kiếm tìm trên thế gian này bởi mọi thứ cậu bé ấy nhìn thấy đều lung linh và làm
cậu không cưỡng nổi sự quyến rũ của nó, vừa là một ông già đã đủ tất cả để nhận
ra vẻ đẹp của đời sống và nâng niu những vẻ đẹp ấy như những báu vật vô giá.
NGUYỄN QUANG THIỀU
Nhà thơ Trần Hòa Bình
• Sinh năm 1956
• Mất năm 2008
• Quê quán: Quảng Oai, Sơn Tây, Hà Tây, nay là Ba Vì, Hà Nội
• Đời hoạt động: Năm 1979, sau khi tốt nghiệp đại học Sư phạm
Hà Nội I, làm giảng viên khoa ngữ văn trường Đại học Sư Phạm Hà Nội II. Sau đó
về công tác tại khoa báo chí, trường Đại học Báo Chí và Tuyên Truyền Hà Nội. Trần
Hòa Bình làm thơ, vẽ tranh, viết báo. Ông còn được biết đến như chuyên gia tâm
lý trên các mục “Gỡ rối tơ lòng” báo Tiền Phong, “Giải đáp tâm tư” trên tạp
chí Gia Đình.
































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét