Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2018

Câu chuyện văn chương 1

Câu chuyện văn chương 1
Lời nói đầu
KỲ THÚ NHỮNG CÂU CHUYỆN VĂN CHƯƠNG
Từ xưa tới nay, những câu chuyện về cuộc đời và lao động sáng tạo của các văn nhân thi sĩ luôn được người đời chú ý. Sự thăng trầm ngang trái của kiếp người thì ai cũng từng nếm trải, đâu chỉ có văn nhân? Nhưng khác với người đời văn nhân coi những thăng trầm ngang trái đó như những trải nghiệm mà khi đã vượt qua thì nó lập tức được coi như một thứ vốn liếng để tiếp tục suy ngẫm, khám phá rồi từ đó mà viết nên những câu thơ, những trang văn thấm đẫm nhân tình. Người đọc tìm được ở nhà văn, nhà thơ sự tri âm, tri kỷ chính là từ những gì được chưng cất từ những trải nghiệm quý giá ấy.
Bạn đọc yêu văn chương thời nào cũng muốn lật qua mỗi trang sách để tìm những mã nguồn sáng tạo của mỗi tác giả. Ông ta (hay bà ta) đã sống như thế nào, có từng trải qua những gian nan, những đau khổ dằn vặt như những nhân vật mà ông ta sáng tạo nên hay không? Có lẽ vì thế nên những trang hồi ức, những nét phác họa chân dung, hay chỉ những cuộc đối thoại văn chương luôn thu hút được sự quan tâm của bạn đọc. Thậm chí có những thiên hồi ký, những trang chân dung của một nhà văn còn có sức hấp dẫn không kém gì những tác phẩm văn chương của chính nhà văn ấy. Trường hợp của nhà văn Tô Hoài, nhà văn Nguyễn Tuân là những ví dụ điển hình. Gần đây hơn, những câu chuyện từ sự trải nghiệm cuộc đời đến trang sách của nhà văn Lê Lựu, nhà thơ Phạm Tiến Duật, nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ hay những giai thoại về nhà thơ Trần Đăng Khoa cũng luôn lôi cuốn bạn đọc. Muốn hiểu được tác phẩm, trước hết phải hiểu được chính con người đã làm nên những tác phẩm ấy. Mà cuộc đời các văn nhân thì luôn được phủ một màn sương huyền bí?
Đã vậy, lao động nhà văn là một loại lao động đặc thù, nhiều khi cũng nhuốm màu huyền bí, khiến người ta càng cố gắng tìm cách lý giải thì nó lại càng mù mờ khó hiểu. Thí dụ, theo quy luật thông thường thì nhà văn càng có nhiều năm sáng tác, càng giỏi nghề, càng từng trải thì càng phải viết hay hơn. Nhưng oái oăm là không ít nhà văn cho đến khi đã về già, gối mỏi chân chồn rồi, đành buông ra một lời thú nhận: cuối cùng thì phải thừa nhận tác phẩm hay nhất trong cuộc đời cầm bút của mình lại là... những tác phẩm đầu tay! Một nghịch lý khác, cũng khá phổ biến, ấy là tác phẩm hay nhất của một nhà văn, nhà thơ nhiều khi lại không phải là tác phẩm mà ông ta (hay bà ta) dụng công nhất, lao tâm khổ tứ nhất mà lại là sản phẩm sinh ra trong một phút ngẫu hứng, thậm chí sinh ra sau một giấc mơ và được hoàn thành rất nhanh chứ không phải kỳ khu mài từng chữ như người đọc sau này hình dung?
Tất cả những bí ẩn, những khoảng mờ trong cuộc đời và lao động nghệ thuật của nhà văn làm nên sự hấp dẫn đặc biệt của Tuyển tập Những câu chuyện văn chương mà bạn đang có trên tay. Cộng thêm vào đó là những cuộc đối thoại, phỏng vấn, tranh luận văn chương vô tiền khoáng hậu giúp bạn có thêm nhiều thông tin và cảm thấy như mình đang can dự vào những biến động không ngừng của đời sống văn chương nghệ thuật, mà ở đó tranh luận và đối thoại luôn đồng nghĩa với sáng tạo và kiếm tìm chân lý.
Đó là lý do mà Tuần báo Văn Nghệ cộng tác với Nhà xuất bản Trẻ để cho ra mắt bạn đọc tập sách này.
Nhà văn Khuất Quang Thụy
Đường xưa dấu cũ
Được biết nhà văn Trần Độ có một khối lượng phong phú tác phẩm về nhiều vấn đề xã hội nhưng tới gần đây tôi mới được đọc hệ thống hơn văn chương của ông. Chưa đầy đủ! Bởi vì chưa sưu tầm hết và cũng còn bởi nhiều bài sinh thời ông chưa công bố. Đây chỉ là những gì đã phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng từ ngày ông tham gia cách mạng trước năm 1945 tới thập kỷ cuối cùng của thế kỷ trước. Đọc nhanh để rồi hình dung ra ngọn bút nhà văn đã bao viễn tầm nhìn rộng lớn, vừa khái quát, vừa cụ thể, vừa sắc sảo lý luận và cũng rất sống động đời thường. Ở cương vị như ông, ủy viên trung ương Đảng, phó chủ tịch Quốc hội, trưởng ban Văn hóa văn nghệ trung ương, trung tướng, phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân... văn chương rất dễ đi vào những vấn đề lý luận chỉ đạo, nhưng nhà văn Trần Độ không thế, và sự cuốn hút qua những trang viết của ông một phần không nhỏ chính là bởi như vậy. Những đề bài chân thành mộc mạc, chẳng hạn: Lý tưởng – ước mơ và nghĩa vụ, Đạo đức Hồ Chí Minh trong quân đội, Chung quanh câu chuyện nghĩa vụ, Kể chuyện Điện Biên, Mấy em giải phóng... đọc cuốn hút, không phải ở chữ nghĩa bóng bẩy, hình tượng ngọt ngào, mà chính ở nội dung bộc lộ tình cảm yêu mến đắm say của người cầm bút.
Sinh thời ông, tôi đôi lần tiếp xúc với ông nhưng không được gặp riêng bao giờ. Hồi Nguyễn Du khóa một ông có tới nói chuyện với cương vị lãnh đạo cấp cao nhưng ông không huấn thị, rằng chúng ta phải thế này, phải thế khác, hay văn chương phải thế nọ, phải thế kia; nhìn hội trường toàn những cây bút, ông như đang tâm sự với độc giả của mình. Tôi không nhớ lắm những gì ông nói, nhưng có chi tiết không bao giờ quên, ông đã mở đầu rằng cái trường mà chúng tôi đang theo học, Nguyễn Du khóa một lúc đó với danh nghĩa Nhà nước là một khoa của trường Văn hóa. Tôi ghi nhớ hình ảnh ông đứng sau bục giảng, người hơi đậm nhưng không cao, nhè nhẹ nhấp nhô, và giọng cất lên dí dỏm: Nhà văn phải là tài năng bẩm sinh cùng với lao động miệt mài và do cuộc đời đào tạo. Nhưng tiếp thu tri thức vẫn vô cùng cần thiết để nâng ta lên và vì vậy anh em mình có mặt ở đây. Ngôi trường này cũng qua nhiều thăng trầm và phát triển. Lúc đầu là trường Lý luận nghiệp vụ Bộ Văn hóa. Sau thành cao đẳng Văn hóa. Nhưng tôi thì tôi cứ gọi thân mật là trường Ô Chợ Dừa cho dễ nhớ và dễ tìm. Tất cả vui cười xôn xao làm cho buổi thuyết trình của ông trở thành cuộc trao đổi thân tình. Ít lâu sau tôi nhận được giấy mời đánh máy trên một nửa tờ pơluya (pelure) đen đen thời ấy mở đầu thế này: Ban Văn hóa văn nghệ và đồng chí Trần Độ muốn gặp mặt thân mật một số nhà văn để nghe ý kiến của các anh, các chị về những vấn đề sáng tác và đời sống... Địa điểm... Đúng hẹn tôi tới 51 Trần Hưng Đạo, thấy ông ngồi nói chuyện với nhà văn Nguyên Ngọc, khi ấy đang là bí thư Đảng Đoàn, phó tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam. Chừng hai mươi người dự mà tôi nhớ có Hữu Thỉnh, Nguyễn Trí Huân, Trịnh Đình Khôi... Ông tập trung lắng nghe, hầu như không nói gì cả.
Từ lâu tôi đã đọc một số bài của ông, như: Bên sông đón súng, Anh bộ đội tuổi hai mươi viết nhân ngày kỷ niệm 22 tháng 12 năm 1964; rồi Anh hùng và chân lý ký tên Cửu Long hình như in nhiều kỳ trên báo Quân Đội Nhân Dân... Và cũng như đọc bao tác phẩm của những tác giả khác, nhớ nhưng chỉ biết vậy, tới hôm nay đọc lại có hệ thống các tác phẩm tạm gọi là bút ký của ông, tôi suy ngẫm nhiều về sự đồ sộ của ngòi bút, sự bao quát của tầm nhìn, sự đắm say của nhiệt huyết. Điều dễ xảy ra với người đọc hôm nay, là cảm giác mệt mỏi, nếu không nói là ngán ngẩm, khi mở những trang viết cũ, nhất là với thể ký mà ta thường cho là ít chất văn chương. Tôi không phải nhà phê bình văn học, lại chẳng bao giờ dám phát biểu nhận xét về văn chương của ai đó theo lối nghĩ và lối cảm của nhà phê bình văn học, nhưng tôi quả thực say sưa khi đọc bút ký của ông, chẳng phải vì có mối quan hệ riêng biệt gì mà chỉ với tư cách bạn đọc thông thường. Hãy chỉ nói riêng về thể loại này, ông đã kéo ta đi suốt từ những ngày đất nước đắm chìm dưới ách đế quốc Pháp và phát xít Nhật, cho tới giai đoạn chuẩn bị tổng khởi nghĩa, khi ông lúc là bảo vệ lúc là thư ký cho đồng chí tổng bí thư Trường Chinh, tới những năm đánh Pháp và đánh Mĩ, tới cả sau này, ngòi bút của ông không hề mệt mỏi, không phân tâm, lúc nào cũng hào sảng. Sức sống ấy cảm hóa người đọc rất nhiều, làm cho văn chương ông tới hôm nay vẫn có ích cho đời và cần cho đời.
Những trang ông viết về đồng chí đậm đà tình người. Ông ngợi ca từ anh binh nhì, chị du kích vùng ven, tới vị tướng là cấp trên của mình, cũng đều với giọng văn trân trọng như nhau, lời lẽ thắm thiết và chí tình, chí lý như nhau. Hai nữ chiến sĩ thi đua Diệu Linh và Nguyễn Thị Thắm mà ông gặp ở hậu cứ B2 năm 1968 và đã viết trong bài Lớn lên trong bão táp dài mười tám trang; hình bóng các chị hiện qua từng câu, từng chữ trân trọng chẳng khác các bài viết về nữ tướng Nguyễn Thị Định, về đại tướng Nguyễn Chí Thanh, đại tướng Lê Trọng Tấn, về tổng bí thư Trường Chinh... Ông ngợi ca mà đọc lên ta thấy đúng tầm, đúng cỡ, không hề có giọng tâng bốc sường sượng làm người đọc ngượng ngùng. Bài Người lính già đầu bạc để cho ta nhiều suy nghĩ cùng với niềm xúc động lớn lao. Nhân danh chiến sĩ Điện Biên ông gửi gắm tâm huyết của mình vào lý tưởng chiến đấu, vào hình bóng Bác Hồ với lá cờ quyết chiến quyết thắng Bác trao với nghĩa tình cao thượng của cả những thế hệ và những con người một lòng một dạ hiến dâng. Ông viết bài này năm 1993, lúc tuổi đã cao và sức đã yếu nếu ông không viết gì và không nghĩ gì ta vẫn cho rằng đó là phong độ vốn có của người cao tuổi sau khi đã hoàn thành vẻ vang và trọn vẹn nghĩa vụ với đời, nhưng ở ông vẫn là sự đắm say ngòi bút cùng trách nhiệm lớn lao trước thời cuộc. Cũng như thế với bài Đường xưa dấu cũ và bài Điện Biên Phủ truyền thuyết làm cho người đọc hôm nay, dù đã thưởng thức quá nhiều những trang sách, hay báo chí về Điện Biên Phủ, vẫn say sưa đọc và suy ngẫm khi gấp sách lại. Bởi người viết đã truyền cảm hứng và tình yêu cho ta và muốn vậy, chính người viết, là nhà văn Trần Độ, phải giữ vững ngọn lửa nồng ấm thế nào với con người và sự kiện mình đề cập tới. Suốt gần trăm bài viết của ông, tôi đồ rằng, nếu in khổ mười ba mười chín lẽ thường trên dưới hai ngàn trang sách, không thấy ông nói chút gì về mình. Chẳng hạn, phải vất vả thế nào để vượt qua gian khổ này, hy sinh nọ, nếu có đề cập tới cũng chỉ như là nói lại sự kiện ấy để dẫn chuyện. Vượt khỏi tù tội trên đường kẻ thù áp tải từ Sơn La về xuôi để đày đi Côn Đảo, lẩn trốn kẻ thù ở Đông Anh những ngày Mặt trận Việt Minh, cho cả tới khi được phong trung tướng, trở lại chiến trường miền Đông Nam bộ cũng vậy. Ông đã đặt ông là học trò trong sự kỳ vĩ của nhân dân anh hùng và quân đội anh hùng.
Chúng ta đều biết Đề cương văn hóa Việt Nam do chính đồng chí tổng bí thư Trường Chinh soạn thảo và sau đó đến với giới văn hóa và văn học. Chúng ta cũng đã đọc hồi ký của nhiều nhà văn lớp trước như Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi –... thấy như Lê Quang Đạo, Vũ Quốc Uy... thay mặt Đảng tới truyền đạt tinh thần bản đề cương cho các nhà văn. Quả đúng như vậy. Nhưng đọc các bài viết của nhà văn Trần Độ thì thấy chính ông, với cương vị bảo vệ và thư ký của tổng bí thư đã đem văn bản này tới các vị Lê Quang Đạo và Vũ Quốc Uy. Ông không trực tiếp dự các buổi mạn đàm về nội dung: Dân tộc – Khoa học và đại chúng với các nhà văn nhưng là sợi dây nối giữa lãnh đạo với các nhà văn. Khối lượng lớn lao tôi được đọc gồm gần hai nghìn trang vi tính khổ A4 thì phần được xếp vào thể loại ký và truyện chừng một nghìn trang. Nhưng những trang văn đầy sức sống của ông thì ký và truyện như hòa vào làm một, bởi trong ký có truyện và trong truyện có ký. Ông có mặt ở chiến trường miền Nam khi Mỹ ồ ạt đưa quân vào chuyển tình thế sang chiến tranh cục bộ. Năm 1974 trở ra, thấy miền Bắc đổi thay, những bước đi lên nhiều và cũng lắm tồn tại làm ai đó tâm huyết với dân, với nước phân vân, suy ngẫm. Ông lặng lẽ và cân nhắc, rồi sau khi tham quan nghỉ dưỡng ở Đức trở về, ông quyết định viết những dòng gửi các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng và nhà nước gọi là thư tâm huyết. Ta không bàn ở đây nội dung thư đúng tới đâu và được lắng nghe ra sao mà chỉ muốn nhấn mạnh rằng, ông là con người sục sôi ý nghĩ, lúc nào cũng đau đáu tư cách mình là công dân, là người con nước Việt, cùng trách nhiệm cao cả của chiến sĩ. Cho nên đọc văn của ông đôi khi ta thấy ngậm ngùi. Suốt những trang văn đầy hơi thở đời sống ấy tôi thấy sảng khoái và khá thú vị khi ông viết về tướng Nguyễn Sơn. Chân dung của lưỡng quốc tướng quân Nguyễn Sơn khá độc đáo và dường như có một không hai trên thế giới đã được ông ghi lại chân thực bằng ngôn ngữ rất sống động. Mở đầu là chuyện ông dẫn một tốp nhà văn đàn anh tới gặp tướng Nguyễn Sơn. Ông Sơn vui vẻ bắt tay từng người nhưng tới Trần Độ thấy trẻ quá, lại chẳng có tên tuổi, bèn hỏi:
- Mày là thằng nào? Biết gì văn chương mà ngồi ở đây?
Người khác có thể tự ái. Nhưng Trần Độ không. Ông khiêm tốn thưa:
- Em muốn được nghe và học tập các bậc đàn anh.
Thế là Nguyễn Sơn cho phép. Và trong thâm tâm ông bái phục tài ăn nói và hiểu biết của vị tướng về văn học cũng như các vấn đề xã hội. Khi được giao nhiệm vụ sang nước bạn bàn việc trọng đại, may sao trên đường có tướng Nguyễn Sơn cùng đi. Nhân vị tướng trở về tổ quốc thứ hai của mình là Trung Quốc, Trần Độ rất mừng và đề nghị được giúp đỡ. Tướng Sơn vui vẻ nhận lời. Nhưng với hiểu biết sâu rộng và ngôn ngữ giao tiếp tuyệt vời, lại nắm rõ nhiệm vụ của ông Độ, vị tướng thông loát tất cả và nhân vật chính là ông chỉ còn biết nghe theo. Tôi bỗng dưng nhớ lại những ngày hè năm 1968, ở chiến trường Quảng Trị, khi ấy tôi tham gia chiến đấu trong đội hình trung đoàn pháo binh DKB, một bữa sáng ra thấy truyền đơn chúng rải trắng rừng, cầm mấy tờ đọc vội thì nào là: Các bạn còn chiến đấu làm gì nữa, đừng hy sinh vô ích khi Hoa Kỳ và Bắc Việt sẽ ngồi vào bàn đàm phán... Nào là: Vì sao cụ Phan Nho vui mừng hoặc vì sao ông Hồ Hữu Ngân hăng hái hoạt động... và thật bất ngờ, có một tờ in tít lớn: Tướng Trần Độ đã chết... cùng lời lẽ tóm tắt Trần Độ là một trong những tác giả cuộc tấn công vào Sài Gòn Mậu Thân vừa qua và bức ảnh chụp ông nằm nghiêng, quần áo bà ba, trong tư thế hơi co quắp, tắt thở. Tôi không hiểu thực hư, không dám nói chuyện với ai, càng không dám hỏi ai, nhất là với cấp trên, vì mình đang phấn đấu vào Đảng, thành phần không tốt lại xem truyền đơn địch thì coi như mọi sự đi đứt. Đành im lặng cho rằng đó cũng là lẽ thường. Thời năm 1968 ấy tôi đã đọc ông qua một số bài in trên báo, cho nên khi ở Nguyễn Du khóa một, nghe ông nói, tôi cứ ngắm nhìn ông và đợi xem ông có nói gì về chuyện này hay không. Nhưng không! Ông chỉ nói về văn chương như trao đổi mạn đàm. Và đến năm 1995 tôi được điều về làm chánh văn phòng Hội Nhà văn Việt Nam, trong một buổi gặp gỡ các nhà văn cao tuổi nhân dịp xuân mới, cuộc vui kết thúc, mọi người ra về, tôi thấy một người đàn ông phong độ ung dung cứ đứng mãi trên sân như có ý muốn bắt chuyện với ai, ngờ ngợ như nhà văn Trần Độ. Khoảng mươi mười lăm năm không gặp lại nay nhìn ông có khác, tôi đi đến và hỏi:
- Thưa bác, bác có phải nhà văn Trần Độ?
Ông vui vẻ và tất nhiên không thể nhận ra tôi là lớp đàn em về mọi mặt.
- Đồng chí là... làm gì ở đây?
- Thưa... Em là chánh văn phòng.
- Nghĩa là giúp việc cho Nguyễn Khoa Điềm và Hữu Thỉnh? Vậy thì tốt quá. Nếu sau này có việc gì quan hệ tới hội mình cứ liên lạc với Chiêu được chứ?
Ông có liên hệ một số việc nhưng xin được đề cập vào dịp khác. Gần tới ngày đại hội đại biểu các nhà văn ông có gửi cho tôi một tài liệu nay tôi vẫn còn lưu giữ. Tôi hiểu ông đã yếu, nhưng rõ ràng sức viết vẫn dồi dào, đặc biệt mối quan tâm tới cuộc đời và sáng tác văn học vẫn sục sôi. Từ hôm ấy tôi có tới nhà ông đôi lần, cũng chỉ nhằm thưa lại chuyện này chuyện khác, nhưng ông tiếp tôi như đối với một người bạn, và trao đổi về những tác phẩm đang có dư luận lúc bấy giờ. Về nhà tôi đọc lại bài ký Đường xưa dấu cũ của ông mà lòng cảm phục. Từng dòng chữ toát lên tâm hồn một chiến binh lăn lộn suốt cả cuộc đời vì dân vì nước, hòa nhã, khiêm nhường, khi về già, trên đường qua Nghĩa Lộ và trở lại Điện Biên, gặp lại cảnh xưa người cũ, nôn nao trong lòng nhớ đồng đội hy sinh, bùi ngùi, mến mộ và cảm thông với ai đó cuộc đời không may mắn – Cái đọng lại đằng sau tất cả qua những dòng chữ ấy là tình người. Cũng như chính trong một bài ký khác ông đã kể, tại một hội nghị ở Matxcơva, các cựu chiến binh Nga phát hiện ra ông là cựu chiến binh Điện Biên Phủ đã trân trọng giới thiệu và ngợi ca ông, ông đã phát biểu: Đồng đội tôi làm nên chiến thắng và chính những con người anh dũng ngã xuống ấy đã hiến dâng cả thân mình cho sự nghiệp vĩ đại của dân tộc Việt Nam chúng tôi.
Tô Đức Chiêu
Nhà văn Trần Độ
• Tên thật: Tạ Ngọc Phách
• Sinh ngày 23 tháng 9 năm 1923
• Quê quán: Tây Giang, Tiền Hải, Thái Bình
• Trước Cách mạng tháng Tám tham gia làm báo Cờ Giải Phóng, Suối Reo, sau Cách mạng làm tờ Quân Giải Phóng, 1947-1950 làm Chủ nhiệm báo Vệ Quốc Quân. Là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam từ 1957. Từng là Chính ủy Trung đoàn, Sư đoàn, Quân khu, Phó Chính ủy Quân giải phóng miền Nam, Ủy viên Trung ương Đảng (các khóa III, IV, V, VI) Trung tướng Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Trưởng ban Văn hóa – Văn nghệ Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa – Giáo dục Quốc hội (khóa VII, VIII), Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Hội đồng Nhà nước. Ông mất năm 2002 tại Hà Nội.
• Tác phẩm chính: Bên sông đón súng (bút ký, hồi ức, 1964, 1982), Anh bộ đội (tùy bút, 1986), Đồng đội (bút ký, truyện ngắn, 1988).
Nhập thân vào đất nước để nhập thần vào thơ
Chuyện lạ bên giường bệnh
Nhà thơ Trinh Đường ra đi đúng vào những ngày sũng nước cuối thu, sau đợt bão mà đất trời như nhòa lẫn, không còn ranh giới... Sau giây phút chứng kiến sự lóe sáng kỳ lạ của con người nhà thơ cũng lạ kỳ không kém trước lúc ra đi, tôi đã tâm nguyện, hằng năm đến ngày này, sẽ thắp một nén tâm hương, tưởng nhớ đến ông...
Khi được biết bệnh viện đã trả về, sinh mệnh nhà thơ Trinh Đường chỉ còn tính ngày giờ, tôi lao xe đến nhà ông ở một xóm nhỏ thuộc thôn Viên sâu hút trong làng Cổ Nhuế...
Đến cửa, một không khí hoang lạnh khác thường. Không biết bà Hải vợ ông và các con ông đi lo liệu những gì mà tôi không gặp một ai. Ở tầng dưới, ngôi nhà có treo mấy chữ La Vân Hiên để ông luôn nhớ đến vùng quê La Vân (huyện Đại Lộc – Quảng Nam) mà ông từng than trong thơ: Tập kết ba mươi năm/ Tóc xanh giờ đã bạc/ Suốt đời đi giành nước/ Trở thành người không quê/ Một đi không được về...
Tôi rón bước lên tầng gác ông vẫn nghỉ ngơi và làm việc. Thấy tiếng đài bán dẫn đang phát một bản tin thời tiết, tôi mới yên tâm. Nhưng, bên cạnh đấy là nhà thơ Trinh Đường nằm ngửa, mặt hốc hác, mắt nhắm bất động, hẳn là đang nghe tin tức thì ông mệt quá, thiếp vào giấc ngủ! Tôi tắt đài, vớ tờ báo, ngả mình ra chiếc ghế vải ngay cạnh, yên lặng chờ ông tự tỉnh dậy. Được dăm phút, tôi bỗng hoảng lên vì sự im ắng quá mức, không nghe cả tiếng thở của nhà thơ. Nhỡ cụ “đi” đúng lúc này thì thật phiền!.. Tôi đứng dậy, đưa tay ra trước mũi nhà thơ. May quá, vẫn còn thấy âm ấm. Do tiếng dịch ghế làm ông tỉnh lại, ông lào phào: “Ai đấy?” “Vân Long đây! Anh không nên ngồi dậy, tôi vào bệnh viện, biết anh vừa về nên tôi đến thăm.”
Ông nghe tôi, nằm mà trò chuyện. Hóa ra ông đã biết rõ căn bệnh hiểm của mình từ lần mổ trước, ông nói rất nhỏ: “Bác sĩ hết phép rồi, mình chờ... đi đây!” Nhưng như thói quen, ông lại nói về công việc (Trời! cái ông già này! Vậy còn lúc nào nữa để ông nghĩ một chút về riêng ông?).  
Dưới chân giường của ông là hai cái túi bằng nhựa tái sinh quen thuộc, một túi căng phồng, đầy ắp bản thảo đang biên soạn, một túi ló ra hàng chục cái phong bì đã dán sẵn tem. Nói đến công việc thì tiếng ông rõ dần:
- Chưa nghĩ được tên tập cho hay, nhưng đề tài này thì... hay đấy! Thơ về châu thổ sông Hồng... phải... hai nghìn trang có ít đâu! Mình... mình mới đi được năm tỉnh... đã phải nằm. Thằng... thằng Minh (Vũ Đình Minh) viết tựa thì cậu... phải viết lời bạt!... (Đó là bản thảo Tuyển tập thơ Đất nước do ông nghĩ ra và tự đi thực hiện.)
Vốn đã quen tính “áp đặt” của ông, và hễ đụng đến công việc là ông sôi nổi hẳn lên, tôi vội can:
- Thôi đi anh! Lúc này nghỉ ngơi cái đã, anh còn nói đến công việc là tôi về đây!
Không được bàn công việc biên tập thì ông chuyển sang đề tài khác, thì vẫn là thơ, ông còn quan tâm đến gì nữa đâu! “Gần đây mình làm được một chùm thơ, đây này!” Ông vơ dưới gối lên một xếp giấy viết tay, chữ vẫn đều tăm tắp. Tôi lo cụ hăng lên, tự đọc cả chùm thì... tôi vẫn là người gây ra sự suy kiệt của cụ. Tôi giành lấy xếp giấy: “Anh cứ nằm yên đấy mà nghe, tôi đọc cho cả hai người! Có điều, phóng xe đi từ sáng, tôi cũng mỏi lắm, tôi nửa nằm trên chiếc ghế này mà đọc nhé!”.  
Lần lượt, tôi đọc to từng bài: Nói chuyện với cái giường, Qua đèo, Lan man sau mê man... Căn phòng vắng, quanh nhà cũng vắng lặng, giọng tôi càng lúc càng cất cao theo thi hứng những câu thơ của ông, những câu tưởng như rời rạc, ít liên hệ với nhau: Mắt em nhìn anh hay mảnh trăng cài/ Cãi được mệnh trời là ai, là ai?/ Cho còn thì còn, không còn thì thôi!...(Lan man sau mê man).  
Giọng thơ của ông già quen dùng từ Hán Việt, nay đôi lúc cứ phá ngang ra, như ông đang đối thoại, tranh cãi với ai, gây một khí vị hoang lạ, thách thức... Đang đọc, nghe tiếng động, tôi liếc ngang: nhà thơ Trinh Đường nhỏm dậy dần. Mới đầu thì nằm nghiêng, chống một tay trên gối để “nhìn cho rõ” câu thơ từ miệng tôi phát ra. Đến khi tôi đọc bài Còn, mất:
Ai người sống đã chết
Ai người chết đang còn
Ngang nhiên giữa trời đất
Ta sống cùng nước non.  
thì nhà thơ ngồi thẳng dậy, đôi mắt phát lộ những tia sáng lạ.
Một ông già cao cao, gầy guộc, mặt hốc hác, ngỡ không còn sinh khí, từ lúc nằm bất động như một xác ướp Ai Cập, bỗng chuyển dần sang trạng thái hưng phấn làm tôi gai người, ngỡ như mình là một gã phù thủy đang đọc thần chú cho xác chết sống dậy. Ông lại bị chính thơ ông hớp hồn!
Trong căn phòng người bệnh thập tử nhất sinh, bỗng xảy ra một tình trạng ngược đời: Người khỏe đến thăm bệnh nhân thì nằm trên ghế xếp đọc thơ, còn bệnh nhân thì ngồi thẳng người, đau đáu “nhìn” những câu thơ của chính mình, say sưa và hứng khởi.
Chùm thơ của ông mà tôi chắc chắn là những dòng cuối cùng trước khi ông ra đi, không ít những câu thơ như tuyên ngôn:
Nhập thế hay xuất thế
Cỏ bờ hay bụi bờ
Nhập thân vào đất nước
Mới nhập thần vào thơ!
(Vĩ thanh)
Nhà thơ Trinh Đường từng “nhập thế” dẫn nhóm bạn Khuê Văn của ông đi khắp các ngả đường đất nước (mà mọi người gọi đùa ông là Trinh đoàn trưởng). Nhà thơ Trinh Đường từng “xuất thế” lập bàn thờ các vị thần thơ ngay trong nhà mình. Giữa cơ chế thị trường, thơ là món hàng thấp giá nhất thì vẫn còn có người như ông, say mê sự nghiệp của mình đến hơi thở cuối cùng. Ông là một bậc thánh tử vì đạo!
Chỉ sau tôi mới biết, từ bệnh viện về không đến một ngày đêm thì ông ra đi. Hóa ra tôi là người cuối cùng khơi gợi và được chứng kiến phút lóe sáng kỳ lạ của nhà thơ như trên. Mới chiều hôm trước gần ông, khoảng 3 giờ chiều hôm sau tôi đã nhận được điện thoại của nhà thơ Trần Phương Trà trong tiếng nghẹn ngào: “Ông Trinh Đường đi rồi!...” Đó là chiều ngày 28 tháng 9 năm 2001.
Nhập thân vào đất nước
Quan niệm của nhà thơ Trinh Đường: “Thơ như cái mặt trống, phải có hiện thực cuộc sống đập vào nó mới rung vang lên được.” Xuất phát từ quan niệm này, ông đã nghĩ ra cách tổ chức một nhóm anh em nhà văn đi thực tế thường xuyên trong thập niên 80 của thế kỷ trước, giữa giai đoạn không có một nguồn kinh phí nào của Hội Nhà văn hay của cá nhân nào lo nổi. Những năm sau chiến tranh, mỗi nhà văn chỉ lo đủ sống cho gia đình mình đã khá vất vả! Ông tính “đầu vào” bằng cách liên hệ với các ngành để họ cho xe đưa đón, tạo điều kiện cho nhà văn hiểu rõ được hoạt động của ngành. Ông lo “đầu ra” bằng cách triệu tập một nhóm bạn văn đang công tác ở các báo đài trung ương và Hà Nội, khi viết được tác phẩm, mỗi nhà sẽ “tự sản tự tiêu” ngay trên phương tiện sở hữu của ngành mình, phong phú ra thì sẽ in thành tập sáng tác, nếu người chủ quản muốn tuyên truyền rộng ngành mình. Thậm chí nhóm này còn ra được tạp chí ngành nuôi ong, sống được mấy năm. Chính vì vậy, nhóm Khuê Văn chí cốt đầu tiên được hình thành là sáu nhà văn. Người đầu tiên, tất nhiên là Trinh đoàn trưởng, rồi Ngô Quân Miện (báo Độc Lập), Võ Văn Trực (báo Văn Nghệ), Vũ Đình Minh (đài Truyền hình Hà Nội), Trần Phương Trà (đài Tiếng nói Việt Nam), Nguyễn Thái Vận (nhà xuất bản Lao Động). Ngành đầu tiên tiếp đón nồng nhiệt và tạo được nhiều cuộc đi nhất là ngành nuôi ong, bởi ngành này có chân rết tỏa ra khắp mọi ngả đường đất nước, cỏ hoa trên xứ sở nhiệt đới này đâu mà không có. Có các vùng hoa là có thợ nuôi ong. Bản thân các nhà thơ, nhà văn cũng giống như những con ong luyện phấn hoa của thực tế làm mật! Vậy là các anh bay ra Cồn Ngạn – Thái Bình như những cánh ong đi hút mật hoa sú vẹt, lúc bay về thì hoa nhãn Hưng Yên, hoa táo Bách Thuận... Có hôm, Trinh Đường đi làm với công nhân ngành ong, bị ong đốt, mặt mũi sưng húp, khuya đêm vẫn thắp đèn trong màn viết viết xóa xóa những câu thơ vừa nảy nở. Có chuyến cả nhóm ngồi chen nhau trên chiếc xe Zeep của Tổng cục Hậu cần, vượt con suối lớn vùng Hòa Lạc khi cơn bão vừa tan. Qua ngầm, nước chảy xiết quá, cuốn chiếc xe nhào xuống suối, chìm nghỉm. Trinh Đường là người đầu tiên thoát ra được, bơi vào bờ, nhờ đồng bào đưa sào nứa cho mấy anh em bám lấy lội vào. Đêm ấy phải mượn quần áo khô của các chiến sĩ, đọc thơ bên lửa trại vẫn hào hứng, sôi nổi... Trong khoảng chục năm nhóm Khuê Văn hoạt động, có năm đi nhiều nhất đến ba mươi tám chuyến.
Kết mật
Cả đời, con ong cần mẫn Trinh Đường đã kết tụ được mười bốn ổ mật ngát thơm: mười bốn tập thơ và trường ca, xuất bản đều đặn từ 1960 đến 2001. Chưa kể các tập bút ký, truyện ngắn và biên soạn. Cuộc đời Vì thơ của ông gồm hai sự nghiệp: sáng tác và biên tập, phần sau, sự đóng góp của ông cho xã hội lại lớn hơn phần trước.
Thời kỳ chống Mỹ, những người làm thơ chỉ có vài tờ báo để in thơ, diễn đàn trung tâm vẫn là trang thơ báo Văn Nghệ. Người biên tập để lại dấu ấn đậm nét nhất trong lòng các nhà thơ trẻ lúc ấy là nhà thơ, nhà biên tập Trinh Đường. Bằng những nhận định, có lúc võ đoán về bài thơ này, bài thơ kia, tác giả đã kích thích lòng ham sáng tạo của các nhà thơ trẻ. Còn gì buồn bằng, kể cả khi bài thơ được in ra, mà không có một hồi âm khen chê gì phía độc giả, người biên tập! Với cái quyền thẩm định cho bài thơ ra mắt công chúng, tiếng nói nhận định của ông rất có trọng lượng. Ông luôn tạo ra sự ganh đua giữa các vùng thơ Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Quảng Bình. Một lần ông bảo tôi: “Mình sẽ ra một trang thơ riêng cho các cậu Hà Nội gồm Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Vũ Quần Phương, Lưu Quang Vũ... xem các cậu Hải Phòng có địch được cánh Hà Nội?” Tôi chất vấn: “Thế Hoàng Hưng với tôi có được tham gia trang Hải Phòng không?” (chả là tôi và Hưng vừa chuyển công tác xuống Hải Phòng, gia đình vẫn ở Hà Nội.) Ông Trinh Đường ngồi ngẩn ra toan tính. Bỗng ông “à” lên một tiếng: “Thế này, cậu này!... Căn cứ vào sổ gạo. Cậu ăn sổ gạo Hải Phòng, cậu phải tham gia trang thơ Hải Phòng!”
Chúng tôi cùng cười thoải mái, vì đã biết... dùng sổ gạo để giải quyết vấn đề của thơ.
Sự bình phán của ông dẫu nhiều cảm tính, hơi bốc, nhưng cái lõi thường là đúng. Là người luôn hướng tới cái mới, ông khen đấy, nhưng có lúc lại sổ toẹt: “Thơ các cậu cổ lỗ sĩ bỏ mẹ! Dùng thơ ấy như đánh giặc bằng con dao cùn!”
- Thế theo anh, tiêu chí của thơ hiện đại là thế nào?
Ông lại ngẩn ra, suy nghĩ. Lúc này, chắc ông nghĩ đến vai trò biên tập viên một tờ báo của Hội Nhà văn, lời nói phải “có lập trường”, không được thiên về hình thức:
- A! Thế này cậu à! Bài thơ hiện đại phải có tư tưởng hiện đại, có nội dung hiện đại, và quan trọng là cách thể hiện hiện đại.
Tôi biết ông chỉ nhằm nhằm vào yếu tố thứ ba, nhưng do ông có cân nhắc lại nên quan niệm đó của ông căn bản vẫn đúng. Rồi ông thấp giọng đọc cho tôi nghe một bài thơ như ví dụ về thơ hiện đại, và dặn đừng nói cho ai khác biết. Đó là bài thơ in trên một tờ báo ở Sài Gòn những năm đất nước bị chia cắt, tác giả cỡ như Thanh Tâm Tuyền, Du Tử Lê gì đó. Hồi ấy, đọc báo địch, lại khen cái hay của báo địch là “có vấn đề tư tưởng” rồi đó! Giọng Quảng Nam đặc sệt của ông đã khó nghe, lại như đọc thầm, sợ... “tai vách mạch rừng”, tôi nghe chữ được chữ mất, chưa kịp hiểu gì cả thì ông đã xuýt xoa: “Cậu thấy không? Bài thơ ghê gớm đấy chứ!”
Thể hiện thơ cho mới mẻ là yêu cầu của ông với thơ nói chung, xin đừng căn cứ vào thơ ông, bởi lực bất tòng tâm, có phải cứ muốn là làm mới được thơ ngay đâu! Thơ ông sử dụng nhiều từ Hán Việt nên câu thơ đanh quánh, súc tích nhưng lại thiếu sự bay bổng... Lạ một điều, việc đời ông rất hồn nhiên, thơ lại ít sự hồn nhiên.
Nhưng, nếu cần nêu lên một nhà thơ có tâm, nhiệt huyết với công việc biên tập thơ thì không ai hơn Trinh Đường. Có lần tôi ra Cát Hải mở trại sáng tác, tình cờ được đọc ở nhà Hồ Anh Tuấn (giáo viên, anh ruột nhà văn Hồ Anh Thái, sau là chủ tịch Hội Văn nghệ Hải Phòng) ba lá thư của ông Trinh Đường. Anh Tuấn nhận được trong vòng mươi hôm chỉ để góp ý sửa cho hoàn chỉnh một bài thơ. Trong cuốn Nhà văn hiện đại Việt Nam, ông tự nói về mình: “Về đào tạo lớp người kế tục, nổi lên trong và sau chống Mỹ và công việc của Hội, ít nhiều có sự đóng góp của tôi.” Đằng sau câu nói giản dị ấy là biết bao tâm lực, không ai tính đếm nổi!
Thời bom đạn, đi lại khó khăn, giới làm thơ chỉ biết theo dõi hoạt động sáng tạo của nhau qua thơ in trên mấy tờ báo lớn, mà trung tâm định hướng là tờ Văn Nghệ, mà giai đoạn nhà thơ Trinh Đường cầm trịch là sôi động nhất, vì cái tính sôi nổi, quyết đoán đến mức chủ quan của ông.
Tôi công tác ở Hải Phòng, mỗi lần về Hà Nội thăm gia đình dù ở nơi sơ tán xa trung tâm, thế nào cũng phải tìm cách ghé căn gác đã bị bom đánh nứt một mé tường giữa phố Bà Triệu của ông. Đến đấy không chỉ để biết “tăm hơi” những bài thơ tôi gửi, mà còn cả của các chiến hữu Hải Phòng, và hoạt động thơ cả nước qua sự bình phán, khẳng định nhiều khi võ đoán của Trinh Đường:
- Này! Cậu có biết thằng làm thơ ghê gớm nhất Hải Phòng bây giờ là ai không?
Không đợi tôi trả lời, ông nói ngay: “Thằng T.H. đó! Nó là ông vua thơ, thật đấy!”
Chỉ chưa đầy hai tháng sau, ông lại hỏi tôi câu ấy. Tôi cười: “Hẳn vẫn là T.H. chứ ai!” Ông gạt phăng: “Không! Thằng T.V. bây giờ mới gớm!” Rồi ông thông báo tiếp: “Hãy đón đọc bài thơ của T.L. sẽ in Văn Nghệ số tới, đó là bài đinh của cả năm nay đấy!”
Những lời bình phán dứt khoát đó đã kích động cả giới trẻ. Người tán thành, người phản đối, nhưng ai cũng nỗ lực để lọt vào mắt xanh của ông. Còn gì buồn hơn khi bài thơ in ra, rơi vào vắng lặng, không một hồi âm!
Khi không còn công cụ trong tay (trang thơ báo Văn Nghệ) ông vẫn tự tạo ra các xuất bản phẩm cho giới thơ. Nhân đại hội Nhà văn, ông đề nghị mỗi nhà thơ gửi cho một bài thơ hay tự chọn, kèm câu trả lời ngắn gọn Làm thế nào để có thơ hay? Chẳng ai tin là sách in được, vì đúng lúc vừa xóa bao cấp, không nhà xuất bản nào dám in thơ khi mạng lưới phát hành, thư viện vẫn mua sách đã bị tê liệt trên toàn quốc, thậm chí đến tập thơ Chim làm ra giócủa Huy Cận để nhà in suốt hai năm, cuối cùng nhà thơ cấp quốc gia này cũng phải nộp tiền, nhà xuất bản Tác Phẩm Mới mới dám cho in. Thế mà Ngày hội thơ đã ra đời gồm gần đủ các nhà thơ hội viên với những suy nghĩ trải nghiệm phong phú về thơ kèm theo bài thơ tác giả tự cho là đạt nhất của mình. Một tài liệu hết sức bổ ích cho các nhà nghiên cứu văn học. Ông còn một mình đứng ra vận động, thư từ gửi đi khắp nơi, thu thập bài, chuẩn bị cho Tuyển tập thơ thế kỷ gồm ba tập, Một thế kỷ thơ Việt tập I (nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin 1995) đã ra đời, bản thảo hai tập sau đã hoàn chỉnh chờ điều kiện để xuất bản. Đây là lần đầu tiên ở nước ta, một cá nhân nhà thơ đứng ra làm tuyển tập thơ thế kỷ! Đặc biệt, ông còn chú ý đến các nhà thơ chưa là hội viên, bùng nở từ sau đổi mới văn học, các nhà nghiên cứu thơ, thay vì đọc hàng trăm loại báo, hàng ngàn tập thơ, nay chỉ cần đọc hai tập tuyển Những gương mặt thơ mới I và II (nhà xuất bản Thanh Niên, khoảng một nghìn trang). Nhờ sự “áp đặt” của ông, mà tôi đã viết được bài nói đầu cho Những gương mặt thơ mới tập II, thực chất là giới thiệu được sự phong phú sinh động của lớp người mới nhập vào dòng chảy thơ Việt, nay hầu như những tác giả này đã trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Để sưu tầm, biên tập, soạn thảo hai tập đó, ông đã bỏ tiền lương hưu đi Nam về Bắc, gặp gỡ các tác giả, riêng tiền bưu phí đã đủ thâm thủng đồng lương hưu còm cõi của nhà thơ.
Ông già tuổi tám mươi, cao gầy, tấm lưng vẫn thẳng, lúc nào cũng sôi nổi những dự định, gợi tôi nhớ đến hiệp sĩ Đông Kisốt (Don Quichotte) từ hình dáng đến cái tính muốn “vá trời lấp biển”, tự tin đến mức chủ quan của ông.
Báo cáo với quê hương...
Ông thật chân thành khi tự nói về mình trong tập Nhà văn Việt Nam hiện đại: Từ các hoạt động văn nghệ, sáng tác đến phê bình, từ công việc được giao phó, đến những nỗ lực (thực hiện sáng kiến) cá nhân, tôi tự thấy đã làm việc hết sức mình cho học thuật, cho cách mạng, Tổ quốc... Quả vậy! Ông chỉ tận tụy với một việc, không màng chức vụ. Chức vụ cao nhất của ông là nhà thơ, nghề nghiệp suốt đời của ông là biên tập thơ, phê bình thơ.
Sau ngày thống nhất đất nước, trong một chuyến đi xuyên Việt, tôi dừng chân ở Đà Nẵng, nhà thơ Trinh Đường gặp tôi, ông mừng quá reo lên: “A! Sáng mai thế nào cậu cũng phải có mặt với mình trong một cuộc họp mặt rất quan trọng!”.  
Thì ra ông chủ động mời bà con họ hàng ông đến họp mặt, để ông được báo cáo với bà con quê hương Quảng Nam: Công việc nhà thơ Trinh Đường đã làm từ những ngày đi tập kết. Một việc hết sức thiêng liêng với ông. Ông cẩn trọng viết nắn nót từng dòng trong một cuốn vở những điều định nói với bà con, buổi báo cáo có đặt máy ghi âm, hẳn sẽ là một tài liệu quý cho bảo tàng các nhà văn!
Nhưng quan sát thực tế không khí cuộc họp, tôi vừa cảm động vừa buồn cười khi được làm nhân chứng trong cuộc báo cáo đó mà cử tọa có khá nhiều người sinh sống ở vùng đô thị miền Nam làm những nghề thiết thực như lái xe, chủ tiệm ăn, thợ giày, thợ điện... chẳng có chút khái niệm gì về văn chương chữ nghĩa. Cách mạng tháng Tám thành công, người ta được biết ông làm phân hội trưởng Phân hội Văn nghệ Quảng Nam Đà Nẵng thì còn hiểu được ông là trùm cánh hát tuồng hát bội gì đấy... Nhiều người là đàn em ông ra đi kháng chiến đều đã thành cán bộ lãnh đạo cấp huyện, cấp tỉnh, có vị còn là bộ thứ trưởng, may ra khi gặp việc rắc rối, bà con còn được cậy nhờ. Còn ông Trinh Đường này, trở về quê với chức biên tập viên, nghe như một thư ký đang tập sự biên chép gì vậy. Hay là ông bị kỷ luật? Làm sao ông tự giải tỏa nỗi thắc mắc của bà con, nếu không nhờ đến bạn bè? May thay, buổi gặp đó có nhà thơ Đông Trình, một thầy giáo có tiếng ở Đà Nẵng, lúc đó là cán bộ tuyên huấn Mặt trận Tổ quốc tỉnh, từng đi thuyết giảng ở nhiều nơi, đã cho họ biết: anh chỉ là người học trò nhỏ của nhà thơ Trinh Đường. Còn tôi, tình cờ ghé thăm, cũng nói được đôi chút tâm huyết, đóng góp không nhỏ của ông cho những bộ sách quý sẽ tồn tại hàng thế kỷ...
Để thực hiện mọi dự định sưu tầm, tuyển chọn ngổn ngang, ông phải đi nhiều hơn ai hết. Trời đã đền bù phần nào cho ông, có nhiều câu thơ hay ông đã “nhặt” được ở trên đường. Trên một chuyến tàu Bắc Nam, ông đang hào hứng hợp chuyện với một nữ đồng hành, thì người phụ nữ khả ái này lại xuống ga dọc đường, chỉ còn cô đơn mình ông: Tàu đi tiếp với nỗi buồn xuyên Việt.
Người phụ nữ ấy đâu biết nhà thơ già vẫn lãng mạn như buổi thiếu thời:
Anh xuống ga còn có nửa người...
Vân Long
Nhà thơ Trinh Đường
Tên khai sinh: Trương Đình
- Sinh năm: 1919
- Quê quán: thôn Đại Thắng, xã Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam
- Mất ngày: 28-9-2001
- Ông sáng tác nhiều tác phẩm thơ: Hoa gạo, Hạt giống, Thủy triều, Bạch Đằng tráng khúc, Giao mùa, Phượng hoàng con, Quán trọ, Hội hóa trang, Cà Mau, Hành trình. Về văn: Làm cầu Kha Lam (ký, 1957); Ngày và đêm một lứa đôi (truyện ngắn, 1982); phê bình, lý luận biên soạn: Ngày hội thơ, Những gương mặt thơ mới, Thơ với tuổi học trò, Một thế kỷ thơ Việt, Thơ thế kỷ XX.
Vài kỷ niệm về Nguyễn
Trên đất nước này có bao nhiêu nhà văn, nhà thơ họ Nguyễn, nhưng nếu chỉ nói đến “Nguyễn” thì những người thích đọc bao giờ cũng nghĩ ngay đó là Nguyễn Tuân. Thì cũng như người dân Trung Quốc nói đến Lý, Đỗ vậy. Còn một điều lạ nữa là nhắc đến Nguyễn Tuân, người ta thường nghĩ đến những chi tiết trong cuộc sống đời thường của ông mà ta nhớ được qua những lần gặp gỡ với nhà văn, chứ chẳng ai nói đến văn ông, các tác phẩm của ông, vì hầu như có một mặc định là những ai đã yêu thích ông thì đều đã đọc hầu như tất cả những gì ông viết. Mà những cái ông đã viết, dù có đọc đến thuộc lòng rồi thì cũng không dễ gì tóm tắt mà kể lại. Văn của ông là thế. Nó cuốn người ta đọc, hồi hộp dõi theo từng dòng chữ, từng con chữ để rồi thở phào nhẹ nhõm sau những phát hiện mới mẻ về ý tứ, về ngôn từ... và rồi không thể nhớ được mọi tình tiết, nhưng lại có cảm giác như mình vừa nhặt thêm được những đồng xu bằng vàng quý giá cho đời sống của mình...
Nhà văn Nguyễn Tuân (giữa) với họa sĩ 
Bùi Xuân Phái (trái) và nhạc sĩ Văn Cao (phải)
Tôi cũng không nhớ rõ là tôi đọc Nguyễn lần đầu là vào năm nào, tuổi nào? Chỉ nhớ mang máng là vào giữa những năm học trung học trong một ngôi trường sơ tán trên Việt Bắc thời kháng chiến chống Pháp, lũ học trò mười bốn mười lăm tuổi chúng tôi ngày đêm chúi mũi vào những cuốn sách kiếm hiệp, tiểu thuyết trinh thám hay sách của Tự lực văn đoàn, của văn thơ lãng mạn trước cách mạng... trước khi những cuốn sách này được tập trung đem đốt ở sân trường. Tự nhiên sau đó không biết ở đâu ra những bài tùy bút trong Vang bóng một thời lại xuất hiện trong cặp sách của lũ chúng tôi, chúng tôi lại truyền tay nhau đọc Chém treo ngành, Chữ người tử tù, Cái ấm đất, Chùa Đàn... và hàng chục tùy bút khác, trước khi các cuốn sách kháng chiến đến với chúng tôi, như Tùy bút Kháng chiến của Nguyễn Tuân, Thơ của Bút Chiến Đấu(Tú Mỡ), tiểu thuyết Xung kích của Nguyễn Đình Thi, truyện vừa Đôi mắt của Nam Cao, truyện ngắn Làng của Kim Lân, các bài thơ Phá đường, Bầm ơi, Cá nước của Tố Hữu, Đồng chí của Chính Hữu... Thế rồi những con chữ của Nguyễn Tuân cứ chập chờn bám theo tôi cho đến khi về Hà Nội tiếp quản...
Thế mà cơ hội đến, như một quà tặng trời cho. Đầu năm 1964, tôi ghi tên học một lớp Viết ký sự báo chí do Hội Nhà báo mở, ở lớp này người ta đã mời thêm các nhà văn chuyên nghiệp như Đào Vũ, Bùi Hiển và Nguyễn Tuân đến giảng bài như những hoạt động ngoại khóa. Lớp chỉ có hơn mười nhà báo trẻ của nhiều tờ báo ở Hà Nội ngày đó, hằng tối đến tụ tập tại một căn gác nhỏ của ngôi nhà số 65 trên đường Nguyễn Du... Nguyễn Tuân đến lớp, gây ấn tượng ngay với chúng tôi với cái vẻ ngoài hơi bạt mạng, chiếc mũi nhòm mồm, hàng ria mép cộng với đôi mắt nhỏ nheo nheo sau cặp kính lão trông thật hóm hỉnh và gần gũi. Thật sự không ai nghĩ ông đã ngoài năm mươi. Lũ chúng tôi chỉ bằng nửa tuổi ông, nhưng cứ tự nhiên gọi ông lúc là anh, lúc là bác, thân tình. Ông vào lớp đặt túi tài liệu lên bàn, gập người cúi chào chúng tôi thật thấp rồi ngẩng lên: “Xin phép cho tôi được điểm danh?” – đúng như một thầy giáo chính hiệu. Ông gọi tên từng người theo thứ tự trong sổ điểm danh mà Hội Nhà báo đã lập. Ngón tay ông dò theo từng dòng, rồi ông dừng lại ngước cặp kính lên gọi: “Vũ Phạm...?” Tôi đứng lên dõng dạc: “Thưa... tôi có mặt!” Nguyễn hỏi: “Anh... người làng Đôn Thư?” - “Vâng, tôi quê Đôn Thư, Hà Đông...” - tôi ngạc nhiên ngập ngừng đôi chút, chờ đợi. “Thế thì... anh có họ hàng gì với Thám hoa Vũ Phạm Hàm?” - “Dạ, thưa tôi là cháu nội của ông Vũ...” Nguyễn hơi mỉm cười, hàng ria mép rung nhẹ, nét mặt giãn ra, rồi như đùa, như thật, ông phẩy tay nói: “Thế thì anh... về đi, không phải học nữa! Về, về!...”
Mãi sau này có dịp cùng đi một chuyến công tác với ông, tôi tò mò hỏi lại Nguyễn: “Sao hồi đó bác lại đuổi tôi không cho học?” Nguyễn cười: “Thì anh là cháu nội Vũ Phạm Thám hoa có học hay không thì anh sẽ vẫn có thể viết được, nếu anh không viết được thì có học cũng bằng thừa... Mà sau đó anh có học không, tôi chỉ đến lớp ấy có một buổi nên không biết.” Tôi cho ông biết là hồi đó, dù có bị ông “đuổi”, tôi vẫn học những giờ khác, học cho hết khóa và cũng nhờ đó mà tôi biết thêm được những kinh nghiệm thành công của những nhà báo, nhà văn tên tuổi. Và cũng nghĩ là Nguyễn đã dạy tôi một bài học đích đáng “Không chỉ dựa vào gien mà còn phải dựa vào sự dày công học hành”...
Dịp sau mà tôi được đi cùng với Nguyễn để nhắc lại chuyện cũ đó là vào cuối năm 1964. Khi đó ngành Giao thông tổ chức cho các nhà văn, nhà báo ngược sông Đà bằng tàu thủy, tôi được đi tháp tùng đoàn, gồm có Nguyễn Tuân, Văn Cao, Thành Thế Vỹ, Bùi Hạnh Cẩn, Bảo Định Giang, nhà nhiếp ảnh Nguyễn Chính. Sự kiện tàu thủy ngược sông Đà là sự kiện mới, sau gần hai năm phá thác dọn ghềnh đoạn từ Chợ Bờ lên đến phía trên Tạ Khoa vài chục cây số, để có thể khai thác đường thủy tuyến sông Đà, chở hàng lên cho đồng bào và các công trường Tây Bắc, đỡ đòn cho con đường quốc lộ số 6 gập ghềnh hiểm trở. Chuyến đi này là chuyến đi đầu tiên để “nghiệm thu” tuyến đường sông đã nạo vét chỉnh trị xong xuôi.
Gọi là tàu thủy, nhưng chiếc tàu chở đoàn hôm ấy chỉ là chiếc ca nô chở khách có máy 135 mã lực, với nhóm nhà văn nhà báo đi thực tế trên sông Đà, thì đã là thú vị lắm, vì từ trước các ông chỉ ngược Tây Bắc bằng đường bộ. Chạy được hơn một giờ thì đã đến gần bến phà Chợ Bờ. Thuyền trưởng Tuyết ghé bến yêu cầu đoàn khách lên bờ đi bộ, nghỉ ngơi, chờ anh cho tàu vượt Thác Bờ. Đây là một cái thác không cao lắm nhưng dài. Đội công trình đường sông đã phá hàng ngàn mét khối đá giữa lòng sông, hạ dốc, tạo luồng cho tàu kéo sà lan vài ba chục tấn có thể ngược được thác. Vì đây là chuyến đi nghiệm thu nên thuyền trưởng không muốn để đoàn khách ngồi trên tàu, để đảm bảo an toàn...
Chiều tối hôm đó chúng tôi ngủ tại bến Vạn Yên. Đây là một bản người Thái nhỏ ngay bên bến phà, còn thị trấn huyện lỵ Phù Yên thì ở cách đây những hơn mười kilô-mét. Trước khi rời tàu lên bờ, ông Bình Tâm, trưởng đoàn, dặn dò: “Tối nay các bác lên nghỉ nhà sàn Thái trên trấn Vạn Yên, các bác không phải mang theo đồ lề gì cả...” Nguyễn Tuân lùi lại sau tay túm lấy Văn Cao, liếc mắt nét mặt rất hóm hỉnh tủm tỉm nói nhỏ: “Này, họ bảo không phải mang đồ lề gì lên cả, nhưng ông nhớ mang theo cái ấy... lên nhé...” khiến Văn Cao đỏ cả mặt. Cái chất hóm ấy của Nguyễn đã theo ông suốt cuộc đời văn nghiệp, làm nên sự lung linh của những con chữ...
Lại nói đến sự sáng tạo chữ nghĩa của Nguyễn, cũng trong cái đêm hôm ngủ nhà sàn Thái với Nguyễn với các bác nhà văn nhà thơ, tôi rụt rè nói với ông: “...Trong Sông Đà của bác, em thấy có một chữ bác dùng rất lạ, rất hay, rất hình ảnh. Nhưng với cánh cầu đường lục lộ chúng em thì chữ ấy lại là một lời trách móc...” “Chữ gì?” Nguyễn hỏi. “Đó là cái chữ hoa lốp ấy là bác nói về những hằn vết bánh xe, những vân lốp của ta-lông xe ô tô tải khi chạy trên mặt đường cấp phối mới tinh trên con đường quốc lộ số 6 hồi nào. Những hoa lốp trên đường đẹp quá phải không bác. Nhưng về kỹ thuật làm đường thì như vậy là chúng em mắc lỗi. Mặt đường cấp phối sau khi lu lèn đủ tiêu chuẩn xong phải được như mặt sân đất nện ở quê ta. Nếu xe đi qua mà để lại vết là coi như chưa đạt yêu cầu...” Nguyễn Tuân cười xòa, nói: “Thì ra mấy cái anh lục lộ này cũng lắm chuyện thật! Thế sau khi đọc bài ấy, cấp trên của anh có kiểm điểm anh không? Không hả, thế là hoa lốp vẫn cứ là hoa lốp trên đường, đẹp thật đấy chứ, phải không? Vì có hoa lốp chứng tỏ con đường làm xong đã có xe đi, nếu chẳng có xe đi thì đường còn ý nghĩa gì?”
Sáng hôm sau ngủ dậy, ông kéo tôi ra trạm bưu điện Vạn Yên. Sau khi cúi đầu vào ghi-sê chào cô nhân viên bưu điện, Nguyễn thò tay vào trong chiếc túi vải lấy ra một cuốn sổ, mở ra trang mới rồi trịnh trọng nói: “Nhờ đồng chí đóng cho tôi một cái dấu tròn của Trạm Vạn Yên ngày hôm nay, cái con dấu mà vẫn đóng trên thư bưu chính ấy, và đồng chí ghi tên họ đồng chí bên dưới, chả là để cho tôi làm kỷ niệm mình đã đến Vạn Yên thôi mà!” Nguyễn để đất Vạn Yên in dấu lên cuốn sổ của ông, và ngược lại ông cũng in dấu một nhà văn lớn lên ký ức một cô gái bưu điện trẻ trung ở một vùng đất hẻo lánh giữa núi rừng Sơn La xa lắc.
Chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ trên miền bắc, tôi ít được gặp ông. Ông mải mê đi và viết, có thể ông đã đi tới mọi nơi đang có tiếng súng đánh trả máy bay giặc, bảo vệ đồng bào. Rồi tôi được đọc đều đều Sông tuyến, Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi... Rồi ông đi họp hội nghị hòa bình thế giới ở Helsinki. Chẳng biết ông viết Phở hồi nào, mà tôi lại đọc bài ấy đúng vào cái lúc hội nghị Helsinki đang họp. Thế rồi ông về Hà Nội. Tôi lại có dịp gặp ông đúng ngày 21-12-1972, khi máy bay Mỹ đánh bom ga Hà Nội. Vừa dứt tiếng bom, ông đã có mặt ngay ở ngã ba đường Phan Bội Châu – Trần Hưng Đạo. Ông đứng như trời trồng giữa đường, chiếc mũ lá cầm tay, nhìn về nhà ga chỉ còn là một đống gạch vụn. Phải mất đến vài mươi phút như thế, ông mới chầm chậm quay về căn gác nhỏ trong ngõ Vạn Kiếp, ngồi lỳ trong nhà. Rồi ít ngày sau đó, ông lại leo lên con tuấn mã – chiếc xe đạp Sterling đàn ông, ghi đông ca-rê, và chiếc túi vải bạt, đạp hối hả về phía Tây. Gặp ông trên đoạn đê La Thành, ông dừng xe, một chân chống xuống đất gật đầu ra hiệu đáp lại cái chào của tôi rồi ghé tai tôi nói nhỏ: “Tôi lại đi anh ạ!” Vâng ông lại đi, như ông đã từng xê dịch suốt hơn nửa thế kỷ nay rồi... Tôi biết ông lại đến một chỗ nào đó không định trước và để lại những dấu ấn với những con người bình thường ở mỗi góc đất của Tổ quốc mình...
Nhìn ông cắm cúi đạp xe với cái lưng hơi gù gù tôi chạnh lòng cảm phục. Đạn bom thời chiến, rồi rủi ro cạm bẫy của con người có động tới được cái khối đá quý là ông, nhà văn vô cùng yêu quý của chúng tôi? Rồi đây ông sẽ trở về con ngõ nhỏ, ông lại tự mình đẽo ra từng vẩy đá lấp lánh là những con chữ để trịnh trọng bày lên trang giấy cho chúng ta thưởng thức và góp nhặt, làm giàu...
Nhớ có lần liều đến nhà thăm ông, vào đến phòng, liếc mắt lên bàn của ông có đến hai cuốn sổ giấy khổ rộng gấp đôi giấy tập học trò, một tập ông đề “Tôi Đọc” còn cuốn kia “Tôi Viết”. Không dám hỏi, chỉ nghĩ “Cái mỏ quặng đá quý trong đầu ông bao giờ mới khai thác hết?”... Nhìn ông ngồi rung đùi đọc báo một cách ung dung không vội vàng, lại nhớ một hôm tôi từ tòa soạn bất ngờ lững thững ra Thủy Tạ uống bia hơi (lúc đó bên ngoài nhà Thủy Tạ có một quầy bia hơi bán kèm lạc rang) chợt từ xa đã thấy bóng Nguyễn ngồi một mình một cốc bia và đĩa lạc. Vừa sán đến chào ông, và một câu hỏi tự nhiên bật ra: “Bác có khỏe không ạ?” Ông nghiêm nét mặt, hỏi ngay lại: “Không khỏe mà tôi lại chịu được đòn từ sáng tới giờ à?” - Tôi ngớ ra không hiểu, lẳng lặng lấy một cốc bia ngồi xuống bên ông, chẳng dám hỏi câu gì nữa. Mãi sau này mới biết, hôm đó ông phải trần tình trước sự phê phán thiên tùy bút Tình Rừng của mình. Ông bực mình thật sự vì sao mà họ nghĩ hẹp như thế? Sao họ không hiểu được tấm lòng nhân ái mênh mông của ông? Bây giờ cứ mỗi lần thấy cảnh rừng bị tàn phá, lũ lụt hủy hoại bao tài sản và cuộc sống của người nông dân nghèo khổ, tôi lại cứ nghĩ đến Nguyễn với Tình Rừng.
Nhờ quen biết Nguyễn mà tôi mới biết thêm nhiều văn nghệ sĩ khác và hiểu tình bạn trong sáng công bằng và không vụ lợi của các ông. Họa sĩ Lê Chính là họa sĩ trình bày báo Văn Nghệ một thời, vợ chồng họa sĩ ở trong một căn phòng của chung cư 96 phố Huế, nơi ở của nhiều văn nghệ sĩ trước đây, như Lưu Quang Thuận, Phan Thanh Nam, Ngô Huỳnh... Có khoảng dăm ba người hay đến chơi và là bạn thân của ông Chính. Đó là Văn Cao, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tuân, Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Sĩ Ngọc... Các ông chơi với nhau như cách của những người bạn rượu, vì thế không mấy khi họ có mặt được cùng một lúc. Lúc người này, khi người khác. Nguyễn thường đến một mình và không hay ngồi lâu, dù lúc nào ông đến cũng mang theo một bi-đông Trung Quốc hai lít rượu gạo. Câu đầu tiên Nguyễn hỏi ông Chính cũng là: “Vua độ này thế nào?” ấy là Nguyễn hỏi thăm về Văn Cao. Ông Chính giải thích: Nguyễn Tuân vẫn thường gọi Văn Cao như thế. Chẳng ai dám hỏi Nguyễn là do căn cớ gì? Hôm tình cờ gặp Nguyễn Tuân ở nhà Lê Chính, cũng đã lâu lắm, Nguyễn đã dành cho tôi một đặc ân là nhận xét về tôi. Nguyễn nói với Lê Chính: “Cái anh này - ông hất hàm chỉ tôi - được đấy. Anh có nhớ cái truyện ngắn mà anh trình bày cái tít đẹp mê hồn trên báo, truyện Đêm trăng rằm không? Truyện cũ rích về tình yêu, nhưng cách viết của hắn thì đáng nể, chẳng có tên của anh của ả mà chi tiết tâm tình thì ngồn ngộn, nhất là viết như thế thì chẳng thể kể lại được. Đúng không?” Thì ra ông nhà văn lớn Nguyễn Tuân cũng đọc cả cái truyện ngắn đầu tay của tôi đăng trên báo Văn Nghệ hồi 1962, đọc và nhớ. Thật là một bộ óc đồ sộ. Như trên tôi đã nói, bộ óc của ông giống như một khối đá quý có mật độ vô cùng đậm đặc.
Nguyễn Tuân mất đến nay đã được hơn hai mươi năm rồi, nhưng những kỷ niệm về ông trong tôi lúc nào cũng long lanh như những con chữ của ông trong những thiên tùy bút có một không hai của nền văn học nước nhà.
Vũ Phạm Chánh
Nhà văn Nguyễn Tuân
• Tên khai sinh: Nguyễn Tuân
• Ngày sinh: 10-7-1910 (ngày mất: 28-7-1987)
• Quê quán: Hà Nội
• Đời hoạt động: Từ thập niên 1930 viết văn và làm báo, có tác phẩm đăng trên các báo và tạp chí như Trung Bắc Tân Văn, Đông Tây, An Nam tạp chí, Tao Đàn, Hà Nội Tân Văn, Thanh Nghị, Tiểu Thuyết Thứ Bảy; năm 1946 vào công tác văn hóa ở Khu V; từ 1948 đến 1956 làm Tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam; từ 1958, làm Ủy viên Ban chấp hành Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa I và II.
• Các tác phẩm chính: Ngọn đèn dầu lạc (1939, phóng sự); Vang bóng một thời (1940, truyện); Chiếc lư đồng mắt cua (1941, tùy bút); Tàn đèn dầu lạc (1941, phóng sự); Một chuyến đi (1941, du ký); Tùy bút I (1941, tùy bút); Tóc chị Hoài (1943, tùy bút); Tùy bút II(1943, tùy bút); Nguyễn (1945, truyện); Chùa Đàn (1946, truyện); Đường vui (1949, tùy bút); Tình chiến dịch (1950, tùy bút); Thắng càn (1953, truyện); Chú Giao làng Seo (1953, truyện thiếu nhi); Đi thăm Trung Hoa (1955, tùy bút); Tùy bút kháng chiến (1955, tùy bút); Tùy bút kháng chiến và hòa bình (1956, tùy bút); Truyện một cái thuyền đất (1958, truyện thiếu nhi); Sông Đà (1960, tùy bút); Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972, tùy bút); Ký (1976, bút ký).
• Các giải thưởng: Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật, đợt I, năm 1996.
Theo chân Tô Hoài
Phải nói là ông chủ Tân Dân Vũ Đình Long đã có “đôi mắt xanh” rất nghề để phát hiện và đặt sự tin cậy Tô Hoài trong và sau Con dế mèn (1940). Sáng tạo một “nhân vật” Dế mèn trong thế giới các sinh vật nhỏ bé giữa thiên nhiên, ở tuổi ngoài hai mươi, Tô Hoài bộc lộ một tài năng đột xuất về nhiều mặt. Đó là khả năng hóa thân vào sự sống của vật và đồng thời đưa lại cho thế giới vật sự sống của người. Sự chung sống, sự hòa trộn, sự chuyển hóa của hai thế giới đã giúp cho bạn đọc cảm giác mở rộng, nhân đôi các giới hạn sống trong một xã hội tù túng, ngột ngạt. Dẫu tất cả chỉ diễn ra trong một khu vườn nhà hoặc một cánh đồng làng ven đô có tên Nghĩa Đô, nhưng lại xiết bao to rộng và khoáng đạt, có thể chứa biết bao cuộc rong chơi, du lịch cho dế, cũng chính là ước mơ của người, của thế giới người.
Ở tuổi hai mươi, ngòi bút Tô Hoài thật đã xiết bao linh hoạt. Quan sát kỹ lưỡng và tinh tế. Ngôn ngữ tự nhiên mà giàu có. Thiên nhiên khoáng đãng mà thơ mộng. Nhân vật có dáng riêng, giọng riêng và đều sắc nét.
Tuổi ngoài hai mươi vẫn còn chưa nguôi cái bồng bột, sôi nổi trong các hoạt động của hội, đoàn ái hữu những năm Mặt trận Bình dân mà Tô Hoài tham gia ở một vùng quê có nghề thủ công. Cây bút Tô Hoài đã đưa được vào truyện khát vọng của một tuổi trẻ ham hoạt động và mong một cuộc sống thanh bình trong một thế giới đại đồng. Những chung đụng và trải nghiệm của dế mèn quả đã được miêu tả một cách hồn nhiên thế giới tự nhiên, nhưng là một tự nhiên nhuốm ý thức về nhân quần, về xã hội. Mà xã hội, nó là chuyện của con người, của thế giới người...
Sau Dế mèn... Tô Hoài tiếp tục đưa chúng ta vào thế giới loài vật, như trong O chuột và Chuột thành phố... Và cùng với thế giới loài vật, đó là thế giới người – những người thân, kẻ sơ của tác giả ở một làng quê ven đô, có tên Nghĩa Đô, kề với Kẻ Chợ, gắn với Kẻ Chợ, bởi những chuyến tàu điện leng keng và chậm rãi đưa con người vào sự rộn rịp, ồn náo của phố phường. Một làng quê luôn có sự thâm nhập của sự sống thành thị nhưng vẫn còn xa cách và biệt lập với thành thị, vào một thời Tây sang, đưa xã hội ta chuyển vào guồng quay của chế độ thuộc địa.
Tình yêu và niềm vui tuổi trẻ nơi một cái làng quê có nghề canh cửi thường sóng đôi trong truyện Tô Hoài để tạo nên một dư vị lãng mạn nhẹ nhàng. Nhưng rồi niềm vui ấy cũng dần dần phôi pha vì cuộc sống đầy những lo toan và khó khăn thời cuộc ngày một đè nặng. Những cuộc tình không mấy khi đến đích, và nguyên cớ chính thường là do sự chen ngang của một toan tính vụ lợi. Mọi thề nguyền dù sắt son đến mấy rồi cũng theo gió bay. Cặp tình nhân chia tay, nhưng “không ai nghĩ đến chuyện đi đâu. Vào Sài Gòn đường xa lăng lắc. Đi tu phải cạo trọc đầu mà cũng khổ lắm. Những lời cả quyết kia hai người đã quên.” (Lụa)
Cái nhìn tinh tế, hóm hỉnh, lắm lúc như bông đùa, nghịch ngợm rất thích hợp với Tô Hoài ở sự miêu tả này. Sau hơn một nửa thế kỷ cách mạng rồi chiến tranh, trở lại với thời bình với những lo toan cho sự sống cần lao, mới thấy lại giá trị của cách nhìn và miêu tả này ở Tô Hoài. Không lên giọng. Không cao đàm, khoát luận. Thậm chí không muốn có bất cứ sự can thiệp nào của một ý chí chủ quan nhằm xác định một “chủ đề” tư tưởng, truyện của Tô Hoài cứ tự nhiên mà thủ thỉ cái tiếng nói nhi nhiên của bản thân sự sống.
Hồi ký Cỏ dại kể một chuyến hành hương ra thành phố của chính tác giả, trong vai Cu Bưởi. Ấy là một cái nhìn về thành phố ngộ nghĩnh mà sắc nét qua cách nhìn trẻ thơ. Một cái nhìn đượm buồn. Quả là, với Tô Hoài, không đi đâu, và ở bất cứ lứa tuổi nào mà thoát được cái buồn “định mệnh” ấy.
Dấu ấn phong tục vẫn là nét nổi trội trong văn Tô Hoài qua tập truyện Nhà nghèo và các tiểu thuyết Giăng thề, Quê người, Xóm Giếng... Thế nhưng sau cái bề mặt phong tục gần như không đổi ấy là một dòng sống tuôn chảy ở phía sâu – nó là sự phôi pha, sự tàn lụi của những số phận, những kiếp người. Ở đây, gốc rễ của mọi bần hàn, quẫn bách là do sự suy thoái chung của nền kinh tế thuộc địa. Là chuyện hàng Tây, hàng Tàu bóp chết hàng ta; đưa tới hàng họ ế ẩm, người làm hết việc, thất nghiệp. Rồi nghèo đói. Thảm cảnh nghèo đói ùa vào mọi nhà, rồi loang ra cả làng, cả vùng không trừ ai. Không việc làm, không có cái ăn rồi sinh ra trộm cắp. Rồi phải bán đất, bán nhà. Rồi phải bỏ làng mà đi. Cả một vùng quê tiêu điều rồi tàn tạ. Và tàn tạ rất nhanh. Tổng thể bức tranh Quê người là một sự tàn tạ và sụp đổ như chính cái xà ngang của ngôi nhà ọp ẹp bị gục đổ ở cuối truyện...
Cách mạng tháng Tám, cũng như Nguyên Hồng trong hai tập Địa ngục và Lò lửa, Tô Hoài có ngay truyện vừa Vỡ tỉnh đăng liền ba kỳ báo Tiên phong (tháng 9-1946). Đó là chuyện ở vùng ven thị xã Sơn Tây trong ngày Nhật đảo chính Pháp, ngày “vỡ tỉnh” gây xôn xao cho cả một vùng quê gần như đang im lìm trong tàn lụi và chờ đợi một cái gì không rõ. “Vỡ tỉnh” trong con mắt người dân là một cuộc loạn đả, xáo trộn, chẳng biết ai thắng ai thua, mà chỉ biết đấy là cơ hội hiếm hoi cho những ai thích tò mò và mong hôi của. Bởi “cái tỉnh lỵ trước mặt bừng bừng, xôn xao, ngổn ngang, rơi vãi của nả”... Dưới mắt Tô Hoài, đám nhân vật trong Vỡ tỉnhvẫn là một đám quần chúng vừa tò mò, hăm hở, vừa nháo nhác, sợ sệt đi tìm sự sống trong cái chết mà họ không sao hiểu được.
Câu chuyện được Tô Hoài viết sau Cách mạng tháng Tám nhưng mạch đời Vỡ tỉnh cũng vẫn là sự tiếp nối của Cỏ dại, Giăng thề, Quê người... Dẫu sao, sự đổi đời của dân tộc sớm muộn rồi cũng làm thay đổi cảm quan nghệ thuật Tô Hoài. Nhà văn gốc Hà Nội, quen thuộc và quanh quẩn nơi một vùng quê ngoại thành, rồi sẽ khởi động một cuộc đi lớn, một hành trình dài theo kháng chiến và theo đất nước, để thuộc vào đội ngũ hàng đầu nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau 1945. Những cuộc đi, rồi sẽ trở thành niềm vui thích, sự đam mê của ông. Để, như sau này ta sẽ thấy, ông là một trong số ít người đi rất nhiều và rất khỏe. Để, vừa đi vừa viết, không có cuộc đi nào mà ông không có cái viết; đi rồi viết và viết rồi đi; viết trong và sau khi đi; viết xong lại viết tiếp; và cứ thế không lúc nào ngưng nghỉ, cho đến tuổi sáu mươi, bảy mươi, rồi tám mươi...
Là phóng viên báo Cứu quốc của Tổng bộ Việt Minh, Tô Hoài có mặt ở Vĩnh Yên, Việt Trì – nơi chính quyền cách mạng phải đối phó với các mưu đồ chống phá của Quốc dân đảng. Rồi vào mặt trận phía Nam, đến Nha Trang, lên Tây Nguyên. Từ đó mà có Nhớ quê, Lên Củng Sơn... Đầu kháng chiến, Tô Hoài trở lại mặt trận chung quanh Hà Nội. Giữa 1947, Tô Hoài lên Việt Bắc... Từ đây bắt đầu một dòng chảy mới và lớn trong nguồn văn Tô Hoài, để có Núi Cứu quốc, Ngược sông Thao, Chính phủ tạm vay, Xuống làng...
Từ 1952, trở về Hội Văn nghệ Việt Nam, theo bộ đội vào giải phóng Tây Bắc, Tô Hoài đi sâu vào các khu du kích của các dân tộc Mường, Dao, Thái trắng ở Bản Thải và Ngọn Lao thuộc châu Phù Yên, rồi qua khu du kích 99 sang Trạm Tấu, lên Tú Lệ, lên châu Than Uyên, châu Quỳnh Nhai, qua châu Tuần Giáo, vào châu Điện Biên. Rồi lại từ các khu du kích dân tộc H’mông xuống những vùng mới giải phóng, các làng dân tộc Thái trên cả bốn cánh đồng phì nhiêu của Tây Bắc.
Đây là cái vốn lớn để Tô Hoài viết Truyện Tây Bắc (1953), và Miền Tây (1968); hai đỉnh cao, đoạt hai giải thưởng lớn trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn.
Vậy là một chu trình sống mới – cách mạng và kháng chiến đã vào văn Tô Hoài, sau cái thế giới nhân vật đã quá quen thuộc với ông ở làng quê Nghĩa Đô. Vậy là, đã đến với ông không chỉ là các khoảng rộng mà còn là những tầm cao của đất nước và con người; để cùng với nó, bạn đọc dần dần nhận ra một Tô Hoài mới. Mới, không phải chỉ ở đề tài, mà còn ở trong bút pháp, giọng điệu. Sự chia sẻ, sự đồng cảm, những rưng rưng xúc động và những niềm vui tin đã làm ấm lên nhiều trang văn Tô Hoài, thay cho cái nhìn ngộ nghĩnh, khinh bạc và đượm buồn trước 1945.
Đề tài vùng cao Tô Hoài vẫn còn tiếp tục sau Miền Tây, với Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ (1971), rồi Họ Giàng ở Phìn Sa (1984), Nhớ Mai Châu (1988). Rõ ràng nhà văn vẫn theo đuổi nó với một kiên nhẫn và hứng thú không nản mỏi, trong khi nhiều cây bút người Kinh khác như Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng, Phượng Vũ... đã bỏ cuộc, và nhiều cây bút người dân tộc lớp lớp đã trưởng thành. Dường như vẫn khắc khoải trong ông niềm mong muốn giải đáp những bí ẩn nào đó nơi mảnh đất biên cương dẫu xa xôi mà vẫn gắn rất sâu với cộng đồng dân tộc. Tính đến Nhớ Mai Châu, cuốn sách trở lại chất liệu xứ Mường thời kỳ đầu cách mạng, trong giành giật, xâu xé giữa Pháp – Nhật và Tàu Tưởng để biến mảnh đất này thành căn cứ địa phản động xuyên Á, Tô Hoài đã có chẵn bốn mươi năm chung thủy với một đề tài. Thế nhưng, vào cuối những năm tám mươi, và đầu những năm chín mươi, Tô Hoài đã bước vào tuổi bảy mươi “xưa nay hiếm”, cái tuổi buộc ông phải tính toán, để chuyển dần cảm hứng viết sang một mạch nguồn khác – mạch của hồi ức, chân dung và kỷ niệm, cùng là những miền sống thân thuộc – đó là Hà Nội trong cả hai chiều: quá khứ, hiện tại và một ít nhe nhắm tương lai của nó.
Khó mà nói trong các nguồn mạch làm nên dòng sông chữ nghĩa nơi văn Tô Hoài mạch nào là chìm, mạch nào là nổi. Có chìm và có nổi, nhưng nổi hoặc chìm vẫn đều dồi dào trữ lượng và mang sự sống riêng, sự sống Tô Hoài. Có sự sống dường như ông đã phải nỗ lực để nắm bắt nó, như sự sống ở vùng cao. Có sự sống lại tự nhiên mà đến, tự nhiên mà có, dường như không cần đến một nỗ lực nào, như từ nguồn nước chảy ra là nước. Tôi muốn nói đến một mảng đề tài Hà Nội – ngoại ô, quê ông; cũng trong bối cảnh đó là sự sống động của những kỷ niệm, những chân dung, những phần đời, sôi nổi hoặc tẻ nhạt, nghiêm trang hoặc ngộ nghĩnh, hanh thông hoặc trắc trở của tác giả.
Trong một bài trả lời phỏng vấn của Tô Hoài đăng trên Kiến Thức Ngày Nay năm 1992 do Lương Xuân Đoàn và Lê Xuân Sơn thực hiện có đoạn: “Tôi thật mừng được bạn đọc tinh tế nhận ra như thế. Bởi vì, tuy viết lâu năm, viết nhiều, cho đến bây giờ đề tài chủ yếu vẫn là viết về người ngoại thành Hà Nội. Ở trong làng, xung quanh cứ tự nhiên mà vào mình, mà mình đã lớn lên, đã sống và hoạt động trong đó. Còn kỷ niệm nào sâu sắc hơn những sự việc mà chính mình từng trải.” Tôi chú ý thời điểm 1992 của bài phỏng vấn khi Tô Hoài đã ở tuổi ngoài bảy mươi. Ấy là tuổi đã quá đủ, quá thừa cho việc nhận rõ về mình. Từ tuổi bảy mươi hai với Cát bụi chân ai, in năm 1992, cho đến tuổi bảy mươi chín với Chiều chiều, in năm 1999 – ấy là sự trở về trọn vẹn của Tô Hoài với những miền thân thuộc. Hai cuốn sách cách nhau bảy năm, gần như là sự tiếp tục và xen cài nhau trên từng mảng hồi ức và kỷ niệm của nhà văn; tức là những kỷ niệm gắn với nghề nghiệp, gắn với các đồng nghiệp (ngoài nghề viết, Tô Hoài còn bao nhiêu nghề khác), gắn với bối cảnh Hà Nội trên hai chiều không gian, thời gian được mở ra khá rộng theo đường đời và công việc của Tô Hoài.
Đọc Cát bụi chân ai, rồi đọc Chiều chiều, người đọc luôn luôn được cuốn hút bởi những gì mới mẻ, không trùng lặp, không nhạt mờ, không kém sút trong cái kho kỷ niệm của nhà văn. Chẳng cao giọng, cũng chẳng cần phải ra bộ khiêm nhường, Tô Hoài cứ tự nhiên mà kể về những gì mình từng biết, từng trải. Trên cái kho ít thấy dấu hiệu vơi cạn đó, Tô Hoài cứ nhẩn nha dắt bạn đọc cùng đi với mình, đến những gì lạ mà quen, hoặc quen mà lạ. Và chính với khả năng hoán đổi vị thế ấy mà làm nên sức hút của văn hồi ức Tô Hoài. Lạ chứ, chuyện ca sĩ Trần Khánh – nghệ sĩ nội thành, công chức lưu dung1, người hát cực hay mà chưa học hát bao giờ, lại lận đận vì “lý lịch”, lên sàn diễn, hai đứa con ngồi chầu hẫu phía trước, rối rít huơ tay đánh nhịp theo bố... Cũng chẳng kém lạ, Nguyên Hồng với món nem đặc biệt làm bằng rau đàn bà đẻ, sốt sắng đãi Tô Hoài, bởi “cái thằng xơi được bọ hung thì nó còn từ cái gì”! Cũng Nguyên Hồng với hành trình Nhã Nam – Hà Nội trên yên chiếc xe đạp thiếu nhi Liên Xô không phanh, màu xanh rợ cùng bộ râu sum suê một cách khác thường ở tuổi 50, bởi manh-xơ-lam (dao cạo râu) là thứ hàng lúc này còn rất hiếm. Về Nguyễn Tuân với cái “tái bút” trong bức thư gửi Tô Hoài nói chuyện ong đốt mà làm bận rộn cho những người làm công việc “theo dõi”... Lạ thế, nhưng mà quen trong khí hậu văn nghệ một thời. Quen trong tính cách những nhân vật “nổi tiếng”, những nhân vật thường được người đời quan tâm và dệt nên bao giai thoại.
Tôi đọc Cát bụi chân ai, rồi đọc Chiều chiều, với hứng thú không giảm, nếu không nói là còn tăng. Ấy cũng là sự lạ trong cái chu trình nói chung của nghiệp văn. Chẳng phải là cá biệt việc những tập hai, tập ba sút hẳn đi trong sức viết, khiến cho những bộ sách nhiều tập, vào bất cứ thời gian nào ở ta, cũng đều gây ngờ vực. Còn với Tô Hoài, đọc xong Chiều chiều tôi vẫn cảm thấy ông còn trường vốn để viết. Còn bao khoảng sống mà ông chưa viết, hoặc chưa viết kỹ. Để rồi sau Chiều chiều là Cái áo tế, là Giấc mộng ông thợ dìu... Không kể Ba người khác, phải sau hơn mười năm mới có thể in ra. Tất cả đều cho ta sống tiếp những cuộc đời thường, những mảnh đời thường mà thiếu nó, khó mà hình dung được rõ nét và thú vị đến thế về những ngày sống của ta và những người quanh ta trong cái thế kỷ XX đầy những sự kiện sôi động này. Nhiều năm trước đây, nghe ông nói ông đang chuẩn bị một cuốn tiểu thuyết mới về thời bao cấp mà bộ nhớ thì gần như đã đầy ăm ắp, chỉ cần có sức khỏe để ngồi vào bàn, cái sức khỏe trời cho ở tuổi ngoài tám lăm, rồi chín mươi và ngoài chín mươi... và để gây hứng thú cho việc viết, ông đang đọc lại Đôn Kihôtê, và thấy phục sát đất cái ông nhà văn Tây Ban Nha vĩ đại này.
Ở quãng giữa Cát bụi chân ai và Chiều chiều, Tô Hoài còn cho in hai tập Chuyện cũ Hà Nội (1998) ngót sáu trăm trang, kể 106 chuyện liên quan đến Hà Nội xưa và nay. Nhiều chuyện nghe cái tên đã thấy ham đọc, và quả là cầm đến sách tôi không thể ngưng đọc. Ở nhiều chuyện cứ vừa đọc vừa cười tủm một mình. Ấy là những chuyện cũ Hà Nội có gốc gác từ xa xưa, gần nhất là từ đầu thế kỷ: Phố mới, Băm sáu phố phường, Phố nghề, Phố và làng, Chợ, Kẻ Chợ... Rồi Tàu điện, Xem phim, Cúp tóc, Hát ả đào, Cái xe đạp...Hoặc chuyện cũ và mới: Nem Sài Gòn, Chả cá, Bia, Bánh cuốn, Rau thơm, Cơm đầu ghế, Cháo, Phở...
Xem Chuyện cũ Hà Nội càng thấy cái kho chuyện trong trí nhớ của Tô Hoài thật đầy, có dễ còn hơn cái kho ở Nguyễn Công Hoan trong Nhớ gì ghi nấy.
Đề tài Hà Nội trong một quá khứ sâu hơn cũng là câu chuyện Tô Hoài theo đuổi lâu dài. Từ Mười năm mà ngược lên Người ven thành, Câu chuyện bên bờ Đầm Sen cửa miếu Đồng Cổ, rồi Kẻ cướp bến Bỏi... Khỏi phải nói đến sự dụng công của Tô Hoài trong tra cứu các thư tịch để cho cuộc sống đạt được khuôn mặt lịch sử mà không tùy tiện, bịa đặt. Khỏi phải nói niềm ham say tìm kiếm sự gắn nối giữa cái chung và cái riêng để đạt được một hòa sắc độc đáo về cái chất “người ven thành”... Thế nhưng người lao động kỳ khu và kiên nhẫn đó, người lao động không ngừng và không mỏi đó đã được đón nhận như thế nào qua thời gian, vẫn có lúc là câu hỏi khiến tôi bâng khuâng. Ấy là khi có ai đó mỗi lúc gặp, hoặc được nghe nhắc đến Tô Hoài, thì chỉ cần nói gọn một cái tên: ông Dế mèn, hoặc tác giả Dế mèn... Vậy chỉ có Dế mèn là đáng nhớ, hoặc đáng kể thôi ư, nơi một người viết có trên một trăm năm mươi đầu sách, với bao là giải thưởng lớn nhỏ? Nguyễn Văn Bổng có lần kể tâm sự bùi ngùi của Tô Hoài: về những cuốn sách không bán được; những cuốn nhà xuất bản đã nhận in rồi bỗng trả lại bản thảo vì không đủ số lượng để phát hành; về những bản thảo phải xé lẻ đăng báo trước, đến khi gom lại cho in vẫn không hết ý kiến vào ra... “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay” – là người viết kiên tâm với nghề, Tô Hoài phải có một bản lĩnh chịu đựng; và hẳn ông thường cũng phải chịu đựng như thế kể từ tuổi ngoài hai mươi, hàng tháng đến ông chủ Tân Dân nhận hợp đồng khoán viết từng kỳ, cho đến tuổi tám mươi, rồi ngoài tám mươi, với những bản thảo đã được chuẩn bị rất kỹ mà vẫn cứ phải chờ đợi trong những năm tận cùng thế kỷ, mà chưa thể in ra, hoặc không thể tái bản. Hiểu cặn kẽ mọi vui buồn, vinh nhục của nghề, để nếu có niềm vui khi được chờ đón, xưng tụng thì cũng phải biết chấp nhận cái buồn của sự thờ ơ, ế ẩm. Không kể có lúc còn bị tai tiếng, hoặc những nặng nề của phán xét...
Trước 1945, chỉ trong khoảng thời gian trên ba mươi năm, đời sống văn chương là sự tiếp nối của nhiều thế hệ viết, nhiều kiểu người viết khác nhau, kể từ Phan Bội Châu đến Tản Đà, Trần Tuấn Khải, Hồ Biểu Chánh, Hoàng Ngọc Phách...; để từ sau Hoàng Ngọc Phách mà đến Tự lực văn đoàn. Tự lực văn đoàn rực rỡ đến thế cũng chỉ ở ngôi trong dăm năm, rồi nhường chỗ cho các kiện tướng của trào lưu hiện thực: Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng... Lại dăm năm tiếp, sau lừng lẫy của những tên tuổi trên mà xuất hiện Nam Cao, Tô Hoài... Tô Hoài, đứng bên Nam Cao với một diện mạo riêng, đủ sức làm nên một cuộc chạy tiếp sức cho đến 1945. Rồi, cũng vẫn Tô Hoài, thật sự dẻo dai trong ngót bảy mươi năm tiếp theo, tính từ sau 1945 cho đến ngoài năm 2000, rồi vượt khỏi đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Cuộc đi này mới thật là dài, những mười hai lần hơn trước 1945. Nó không còn là cuộc chạy thi, mà là cuộc đi đường trường, có lúc gấp gáp, có lúc nhẩn nha qua rất nhiều chặng, cùng với năm, sáu thế hệ người viết nối tiếp, và với thế giới nhân vật khó nói hết sự đông đúc của nó trong không gian và thời gian. Hơn chín mươi năm tuổi đời, hơn bảy mươi năm tuổi nghề – tính cả trước và sau 1945, một hành trình thật là dài trong tương ứng với đời người, cho đến khi tôi viết bài này, với trước mặt, những tựa sách vừa in, cùng bao là tựa sách đã và sẽ còn tái bản, kể từ Dế mèn phiêu lưu ký, viết cách đây ngót bảy mươi nhăm năm, tôi thấy Tô Hoài vẫn đang trong một hiện diện tròn đầy như chưa hề ngưng nghỉ. Chưa hề bỏ cuộc, càng không lúc nào thua cuộc, Tô Hoài vẫn là người cùng thời với bao thế hệ người viết và người đọc, từ nửa đầu thế kỷ trước cho đến hết thập niên đầu thế kỷ này.
Phong Lê
Chú thích:
1. Những khái niệm hàm ý tiêu cực, để chỉ những người không tham gia kháng chiến, hoặc là công chức cũ được giữ lại.
Nhà văn Tô Hoài
• Tên khai sinh: Nguyễn Sen
• Sinh năm 1920
• Quê quán: thôn Cát Động, thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Hà Nội
• Tốt nghiệp trường Nguyễn Ái Quốc. Từng là Tổng thư ký, Bí thư Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Văn nghệ Hà Nội. Nay là Chủ tịch danh dự Hội Văn học - Nghệ thuật Hà Nội.
• Xuất bản và in lại nhiều lần hơn 150 đầu sách cho đối tượng bạn đọc người lớn và thiếu nhi. Tác phẩm tiêu biểu: Dế mèn phiêu lưu ký (1941) tái bản nhiều lần và dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.
• Giải Nhất tiểu thuyết Hội Văn nghệ Việt Nam (Truyện Tây Bắc, 1956). Giải A Hội Văn nghệ Hà Nội (tiểu thuyết Quê nhà, 1967). Giải thưởng Hoa Sen Hội Nhà văn Á - Phi (tiểu thuyết Miền Tây, 1970). Giải thưởng Thăng Long Ủy ban Nhân dân Hà Nội (tập hồi ký Chuyện cũ Hà Nội, 1980). Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật đợt I, 1996.
Có ba con người trong Lý Văn Sâm
Đó là: người chiến sĩ cách mạng, người quản lý văn nghệ, và nhà văn. Làm quản lý văn nghệ, ông đã lên tới cái ghế quyền lực cao của ngành này: Tổng thư ký Hội Văn nghệ giải phóng, Phó chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học – Nghệ thuật Việt Nam. Ở địa phương là Chủ tịch Hội Văn nghệ Đồng Nai. Là một chiến sĩ được cách mạng giác ngộ, ông đã tham gia treo cờ, rải truyền đơn trong nhà lồng chợ Biên Hòa. Từ năm 1947 đến năm 1950 nhà văn cộng sản Lý Văn Sâm viết văn viết báo ở Sài Gòn. Ông “dùng cán bút làm đòn xoay chế độ” khơi dậy tình yêu quê hương đất nước, tinh thần quật khởi, đả phá chế độ thực dân Pháp.
Là con của một ông chủ hầm than, sau khi cha qua đời, Lý Văn Sâm đã phải lo cai quản những hầm than do cha để lại. Nhưng ông lại không hào hứng gì trong việc làm ra nhiều than để đốt lên những ngọn lửa cho những xe chạy bằng than mà chỉ hứng thú với việc làm ra chữ nghĩa để đốt lên lòng yêu quê hương đất nước, khát vọng tự do độc lập trong người Việt. Trước cảnh nước mất, nhà tan, đời khổ, ông cảm thấy bế tắc. “Tuy nhiên, quê hương vẫn nhiều hấp dẫn, con người bị đè nén nên vẫn âm ỉ một sự vùng dậy trong lòng. Sự vật chung quanh nhen nhúm và trang bị cho tôi một triết lý mới, không thể tồn tại như một thứ thảo mộc vô tri. Sống phải có suy nghĩ và hành động... Thế thì tôi làm báo, tôi viết văn. Bước vô cái nghề này coi mòi hợp với năng khiếu của tôi. Không gào thét căm phẫn được thì than thở ngậm ngùi cho vơi bớt những gì đè nặng tâm tư.” Trong bài viết: Truyện ngắn đầu tay của tôi (Báo Văn Nghệ Đồng Nai số tháng 7-1985) ông giãi bày con đường đến với văn chương như vậy. Trong văn chương nghệ thuật ông tự nhận mình “thảy cao đá lẹ”. Viết truyện ngắn, bút ký, tiểu thuyết, làm thơ, soạn cải lương, đóng kịch... ông đều trải qua, nhưng để lại cho ông tên tuổi là văn xuôi. Tác phẩm của Lý Văn Sâm co cụm ở ba mảng đề tài: truyện đường rừng, truyện vùng tạm bị chiếm và truyện kháng chiến. Lý Văn Sâm có hơn mười năm nở rộ tài năng, từ năm 1941 khi ông đăng truyện ngắn Cây nhị Sông Phố trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy đến năm 1956 với truyện ngắn Chuông rung trên tháp đổ đăng trên báo Xuân Dân Tộc. Giai đoạn cao vút trong sáng tác của ông là từ năm 1947-1950. Thật lạ lùng trong bốn năm sống vất vưởng trong vòng vây bọc của kẻ thù thì tài năng của ông lại nở rộ nhất. Sau năm 1956, Lý Văn Sâm viết ít hẳn, chỉ có một số truyện kháng chiến và những kỷ niệm về bạn bè văn nghệ trong đó khá nhất là truyện Chuyện người thổi sáo ở Bến Xuân. Các sáng tác của Lý Văn Sâm đã hiện lên hình sông, dáng núi, cảnh rừng và nhất là con người miền Đông Nam bộ, đặc biệt là cảnh và người ở hai vùng đất Sài Gòn và Đồng Nai.
Cái tài kể chuyện của ông là chỉ với vài dòng mở đầu đã tạo dựng được không khí truyện, sau đó ông cuốn người đọc vào không khí ấy và diễn biến câu chuyện cùng sự phát triển tính cách nhân vật. Vốn có tâm hồn lãng mạn, tâm hồn ấy lại được tắm trong một vùng quê với bóng núi, hình cây, tiếng chim, lời suối, lại có nhiều năm sống ở Sài Gòn, Đồng Nai, chiến khu Đ, cộng với ảnh hưởng của văn học Pháp, Lý Văn Sâm thường có văn phong mượt mà, uyển chuyển trữ tình giàu chất thơ. Mỗi lần đọc truyện của Lý Văn Sâm tôi cứ liên tưởng tới tiếng sáo dìu dặt, bay bổng, âm vang chứa đựng tâm hồn cao đẹp của bác Năm Trừu.
Sống vất vưởng rày đây mai đó bằng tiền nhuận bút. Chủ nhà báo, chủ nhà xuất bản nuôi. Chưa viết được thì ứng trước tiền, có nhuận bút thì trừ sau. Cơm dĩa, bánh mì, cà phê vợt, thuốc lá loại xoàng, ngủ trên bàn, trên chồng sách báo, ở gác xép... cứ thế sống lay lắt bốn năm trời ở “Hòn ngọc Viễn Đông” xung quanh dày đặc, tua tủa bọn mật vụ, bọn lính, lũ phản bội... Nhân vật Grigôri của Sôlôkhốp chỉ ngủ một mắt, một mắt thức để coi chừng đời, Lý Văn Sâm ngủ phải mở cả hai mắt. Hễ động là vọt. Mỗi tuần lễ phải đổi chỗ ở không dưới ba lần, có đêm phải đổi chỗ ở hai lần. Với vóc người nhỏ nhắn nhưng nhanh nhẹn ông đã trườn trên mái tôn nóng hầm hập, luồn dưới ống cống ngập nước, chạy trong những con hẻm ngoắt ngoéo, lao vào đám đông để trà trộn, nhảy lên xe đò để tẩu thoát. Các bút danh thay đổi liên tục. Hơn chục cái bút danh, nhưng phải quên những bút danh, nếu không đang mơ màng bị bọn công an chìm quát tên bút danh tự nhận là tra tay vào còng số tám. Nhân đây cũng nói thêm một điều. Có nhà phê bình cho rằng Lý Văn Sâm lãng tử viết ra rồi vứt tác phẩm của mình ở đâu không biết, viết để trang trải tâm hồn mình rồi để... cho gió cuốn đi. Thực ra không phải vậy. Trong hoàn cảnh sống và viết ở vùng tạm chiếm không thể cất giữ tác phẩm được. Đang ở nhà này, gửi tác phẩm ở đó, nghe động là vọt. Chủ nhà cũng vọt theo, hoặc bị bắt giữ, thẩm vấn. Ai ở nhà mà giữ tác phẩm đã in, bản thảo chưa in. Việc thất lạc là lẽ đương nhiên. Cũng trong thời gian này ông trở thành cán bộ điệp báo khéo léo khai thác nhiều thông tin cho công cuộc kháng chiến. Năm 1950 Lý Văn Sâm vào chiến khu và sau hiệp định Genève năm 1954 ông quay trở lại thành. Với dũng khí và tài năng của mình ông đã bắn một phát đại bác vào chế độ Ngô Đình Diệm bằng truyện ngắn Chuông rung trên tháp đổ. Bút danh Bách Thảo Sương của Lý Văn Sâm bị lộ, ông bị bắt giam ở bót Catinat. Tên chánh mật thám Đỗ Kiến Nhượng trợn mắt gầm lên:
- Một truyện ngắn nguy hiểm. Anh bị bắt vì cái truyện ngắn nguy hiểm đó. Anh biết không? Tại sao anh dám động đến tổng thống của chúng tôi? Anh ở tù rục xương, anh biết không?...
Nhà văn của chúng ta vốn vóc dáng mình hạc xương mai phải giơ hai bàn tay xương xẩu ra, thằng ác ôn cao to mập mạp lấy thước kẻ học trò dần xuống bàn tay. Mỗi lần trợn mắt lấy hết sức lực đập xuống hai bàn tay, nó lại nghiến răng đay nghiến: “Cho mày viết Chuông rung trên tháp đổ này. Cho mày viết Thèm một ngọn đèn này, cho mày viết Ngàn sau sông Dịch, Dịch, Dịch, Dịch... này...” Hai bàn tay tóe máu, chỉ còn thấy trơ xương...
Từ bót Catinat Lý Văn Sâm bị đưa về nhà lao Tân Hiệp (Biên Hòa). Đêm 2-12-1956 hơn năm trăm tù nhân nhà lao Tân Hiệp nổi dậy phá khám. Họ tuông chạy từng đám đông sau đó tõe ra từng nhóm. Có những người bị trúng đạn bắn từ tháp canh hy sinh ngay tại chỗ như nhà báo Dương Tử Giang, người bạn văn thân thiết của Lý Văn Sâm. Thuở ấy khu Phúc Hải, Tân Phong còn hoang vu lắm, nhà cửa thưa thớt. Những nhóm người xuyên qua cánh rừng cao su, xé màn đêm, băng qua những hàng rào dây thép gai. Có những chị bị thép gai cào tuột quần, mấy anh nam giới cởi quần dài cho mặc, mấy anh chỉ mặc quần xà lỏn mà chạy. Trên trời máy bay địch quần thảo, kêu gọi, hù dọa. Súng địch bắn xối xả. Những người thoát tù mang trong mình khát vọng tự do khẩn trương tìm đường về chiến khu. Tác giả Chuông rung trên tháp đổ tới mé sông Đồng Nai, khúc ngã ba Bình Ninh. Nhìn ra mặt sông thấy tàu giặc chạy liền sông, ngẩng lên trời từng bầy trực thăng phành phạch lên cao xuống thấp. Chúng sà xuống những dề lục bình rọi đèn săm soi tìm tù nhân nổi loạn, gió xoáy xiết cả một vùng, sóng sông lừng lững nổi lên vỗ liên hồi vào mạn bờ. Trước lũ giặc điên cuồng không thể vượt qua sông được, Lý Văn Sâm đành ngậm ngùi dẫn người bạn tù hướng về chiến khu Đ. Chuyến nổi dậy phá khám ấy là chuyến rời thành phố quê hương để rồi mười chín năm sau – năm 1975, Lý Văn Sâm mới trở về trong đoàn quân giải phóng với cương vị là Tổng thư ký Hội Văn nghệ giải phóng...
Năm 1979 nhà văn Lý Văn Sâm về Đồng Nai nhận chức Chủ tịch Hội Văn nghệ Đồng Nai. Anh em nói đùa: “Ăn cơm nhà vác tù và quê hương.” Lương bổng thì ở Hội Văn nghệ thành phố, công việc ở quê hương Đồng Nai. Đến năm 1981 ông có thêm một cấp phó nữa là nhà văn Hoàng Văn Bổn. Hai ông già là cặp đôi hoàn hảo. Chú Hai Sâm thì ở chiến khu ra, chú Chín Bổn tập kết về. Chú Hai một thời oanh liệt, hoạt động tung hoành, tác phẩm gây tiếng vang lẫy lừng trong vòng vây kẻ thù. Chú Chín là người lính một đời xông pha trận mạc, ra hết kịch bản đến tiểu thuyết, ký sự. Về Đồng Nai chú Chín vẫn hăng say “sản xuất” ra nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký. Chú Hai thì khó khăn hơn lâu lâu mới cho ra một truyện ngắn hoặc một kỷ niệm về bạn bè văn nghệ. Có điều hai ông già đều rất hiền lành, tốt bụng, đôi lúc đến mức cả tin, ngây thơ. Được sự cầm cân nảy mực của hai ông, hoạt động của Hội Văn nghệ khởi sắc thấy rõ. Có lần cao hứng chú Hai khoe: “Một đời người, một đời văn, hai đời vợ, bốn bận tù đày còn được như vầy là ngon rồi.” Còn khu vườn văn tài hoa đầy hương sắc thì ông phủ bằng một tấm vải có tên là Phù phiếm. Cuối đời ông tâm sự với nhà văn Hoàng Văn Bổn: “Tụi mình thật phù hoa và phù phiếm.” Thậm chí khi về hưu chú Hai còn triệt luôn cái danh xưng nhà văn bằng tấm cac-vi-dít (carte visite): Lý Văn Sâm. Đảng viên. Hưu trí.
Mười ba năm làm Chủ tịch Hội Văn nghệ Đồng Nai (1979-1993) mỗi tuần lên Hội vài ba ngày để giải quyết công việc, nhà văn Lý Văn Sâm ở lại trong căn phòng đơn sơ của Hội. Một cái bàn, một cái giường, vài ba bộ quần áo, dây may-so để đun nước là tài sản của chú Hai những ngày ở Hội. Ông ngại ngùng trước những buổi tiệc tùng sang trọng, xa lánh đám đông ồn ào, không thích đao to búa lớn, sống ẩn nhẫn chìm khuất giữa mọi người. Một đời đối mặt với bọn ác ôn, bọn cảnh sát chìm nổi, chịu bao ngón đòn tra tấn dã man, hứng bao nhiêu bom đạn chú Hai không hề run sợ, chỉ sợ những người hay nổ. Chú bảo: Lúc còn trẻ mình sợ nhứt là mấy thằng cha già hay nổ, trời ơi, có thằng nổ văng mạng mà không cần biết người ta có nghe mình nói hay không...
Những năm tháng tuổi già nhà văn Lý Văn Sâm viết rất nhọc nhằn, nhiều khi đến Hội thấy chú ngồi thừ một mình ngẫm nghĩ mà thương. Viết về cái mới thì sao bằng lớp trẻ, viết về cái cũ cũng phải khác đi chứ cứ lối cũ ta về thì ai đọc. Cái thời chú phát tiết tinh hoa chữ nghĩa kéo dài hơn mười năm (1941-1956) nay còn đâu nữa. Viết ẩu để kiếm tiền thì tự nhận chìm tên tuổi. Là nhà văn tài hoa, lừng lẫy một thời, ông có quan niệm nghiêm ngặt về văn chương và nhà văn. Ông nói với nhà văn trẻ Nguyễn Đức Thọ: “Văn chương có nhiều loại lắm nghe Thọ, văn chương chính đạo là thứ văn khó làm nhất nhưng đó mới chính là con đường nhà văn đeo đuổi. Bây giờ chú muốn viết mà không viết nổi, nghĩ cũng buồn... Đọc lại những cái mình viết trước đây, mắc cỡ thấy mẹ...”
Nét sinh hoạt của nhà văn Lý Văn Sâm mà anh em trong Hội thường gọi tên thân mật là chú Hai cũng có nhiều đặc biệt. Hầu như chú Hai không ăn thịt cá, rau đậu, chỉ ăn món... bột Bích Chi. Năm 1991 đi trại sáng tác ở Long Hải chúng tôi ngồi quanh bàn ăn ê hề các món đặc sản biển, chờ mãi không thấy chú Hai xuống, tôi lần lên phòng thì thấy chú đang xúc bột Bích Chi ăn... như em bé. Quanh năm chú chỉ ăn thứ bột trẻ em ấy mà vẫn khỏe mạnh, minh mẫn. Chú Hai ghiền cà phê, mỗi ngày hai ba cữ, không kén chọn loại cà phê nào. Uống không nhâm nhi mà theo kiểu người lao động, ực một cái là hết. Chú uống cùng bạn bè kháng chiến, có khi cùng ông Chín Bổn liêu xiêu ra quán gần Hội uống, lúc thì với hội viên, các cháu văn phòng hội, còn thuốc thì gần như liên tục điếu này nối điếu khác, toàn loại thuốc nặng như Đà Lạt, Hoa Mai, những ngón tay xương xẩu ám vàng khói thuốc...
Sau cơn tai biến, nhà văn Lý Văn Sâm trở về thăm quê hương lần cuối trên chiếc xe lăn. Đài truyền hình thành phố làm bộ phim về ông. Người chỉ còn một dúm như chú bé lên mười, miệng méo xệch, ông ngồi trên chiếc xe lăn chầm chậm trôi trên đường phố Biên Hòa. Những con đường, những dãy phố đều in dấu kỷ niệm của một đời người, một đời văn. Phố chợ này là nơi anh Hai Sâm rải truyền đơn, những cánh truyền đơn làm xôn xao cả Biên Hòa. Tòa nhà cao ngất kia là nơi anh Hai Sâm xông vào cướp chính quyền trong niềm vui dâng trào. Ôi, trường tiểu học Nguyễn Du nơi cậu bé Sâm đã học những vần thơ đầu tiên khiến tâm hồn cậu càng bay bổng, lãng mạn. Và đây nữa, đường Cách mạng tháng Tám nơi anh Hai Sâm cùng nhà sử học Lương Văn Lựu mở hiệu sách Sông Phố lúc nào cũng tấp nập người ra vào, anh Hai Sâm vừa bán hàng vừa đọc sách. Là một người đào hoa, anh Hai Sâm có bao nhiêu mối tình giăng mắc trên thành phố này. Có người mê văn anh bỏ cả gia đình để theo, người thì đang sống bên trời Tây không lấy được anh chỉ mong lúc chết đi được chôn cạnh mộ anh... Xe ô tô đưa nhà văn về quê, chiếc xe lăn len lách giữa những hàng mộ chí để tìm ông cụ thân sinh của ông. Ông bỗng ân hận vì lúc ông cụ còn sống hai cha con hai chí hướng khác nhau nên ít tâm sự cùng nhau. Ô tô đưa ông tới sông Đồng Nai, khúc bến đò Bình Ninh, xe lăn được đẩy tới sát mép nước. Như nhận ra người con yêu của quê hương lâu ngày mới gặp, sóng sông vồ vập vỗ vào bánh xe lăn. Ông rửa mặt bằng nước sông như những ngày thơ bé đã rửa. Nhìn đăm đăm về phía xa Lý Văn Sâm đã nhận ra cái làng của mình với vạt mía xanh rì, bắp trổ cờ phất phơ. Ông chợt thấy lạ lùng vì chỉ một khúc sông thôi mà có bốn nhà văn nhà thơ: Huỳnh Văn Nghệ, Bình Nguyên Lộc, Lý Văn Sâm, Hoàng Văn Bổn. Bộ tứ văn chương Đồng Nai, mỗi người một hoàn cảnh, mỗi người một vẻ. Nhìn xéo lên trên cái làng của mình là cánh rừng bạt ngàn, nơi ngày xưa anh Hai Sâm thường cưỡi ngựa đi thăm các hầm than. Sống giữa núi rừng thâm u, hoang vắng anh chỉ biết trút nỗi niềm vào cây viết và trang giấy. Lặng lẽ nhìn cảnh vật từ đôi mắt nhà văn ứa ra hai giọt nước mắt. Có phải ông đang xúc động hay đang thầm cảm ơn quê hương đã sinh ra và nuôi dưỡng mình, một chiến sĩ gan góc, trung kiên, một nhà văn tài hoa...
Dẫu danh xưng đó, sinh thời chẳng bao giờ ông chịu nhận.
Bùi Quang Tú
Nhà văn Lý Văn Sâm
• Sinh năm 1921
• Quê quán: Bình Long, Vĩnh Cửu, Đồng Nai
• Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 làm nghề lâm sản, viết báo, viết văn ở Sài Gòn. Sau 1945 làm cán bộ tuyên truyền tỉnh Biên Hòa. Cán bộ đặc khu Sài Gòn – Chợ Lớn. Sau 1954 tiếp tục hoạt động tại Sài Gòn, thư ký tòa soạn báo Văn Nghệ Giải Phóng. Tổng thư ký Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam Việt Nam, Vụ trưởng Vụ Nghệ thuật, Ủy viên Đảng đoàn Bộ Văn hóa thông tin thuộc chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Sau 1975, Phó Tổng thư ký Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa 3, đại biểu Quốc hội khóa 6.
• Tác phẩm đã xuất bản: Sương gió biên thùy (truyện ngắn, 1948); Mười năm hận sử (truyện vừa, 1948); Sau dãy Trường Sơn (truyện dài, 1949); Ngàn sen sông Địch (truyện ngắn, 1988); Tiểu thuyết Lý Văn Sâm (1992) cùng nhiều truyện ngắn khác.
• Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
Ông Bổng vẫn đấy
Nguyễn Văn Bổng đứng vào lớp cha chú chúng tôi, nhưng tôi vẫn quen gọi ông bằng anh. Ông sinh năm 1921 tại làng Bình Cư, xã Đại Quang, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Vùng đất quê ông giàu truyền thống yêu nước và văn học. Cha ông là nhà nho đã dạy ông văn học chữ Hán. Ngay từ năm chín, mười tuổi, Nguyễn Văn Bổng đã bắt đầu tập làm thơ, viết truyện. Truyện dài đầu tiên Đêm tối ông gửi dự thi Giải thưởng Tự lực văn đoàn đã được nhà thơ Tú Mỡ khen. Năm 1937, đang học năm thứ nhất bậc tú tài ở trường Khải Định (Quốc Học) Huế, ông tham gia biểu tình đón sứ giả của Mặt trận Bình dân Pháp, sang điều tra tình hình Đông Dương, bị nhà đương cục Pháp cắt học bổng. Sau khi đậu tú tài, ông dạy học ở Huế, viết văn và có những truyện được đăng ở báo Sài Gòn, Hà Nội như Say nửa chừng, Đáy sông Hương, Cha mẹ, Làm lại cuộc đời...
Cách mạng tháng Tám 1945 thổi bừng ngọn lửa yêu nước âm ỉ trong lòng người trí thức trẻ Nguyễn Văn Bổng. Ông vừa làm việc ở Ty Thông tin tuyên truyền thành phố Đà Nẵng (cơ quan mang bí danh Thái Phiên) vừa đứng ra thành lập và làm Hiệu trưởng Trung học Thái Phiên; ông cũng trong Ban chấp hành Hội Văn hóa cứu quốc Đà Nẵng. Ông viết một số bút ký về cuộc đổi mới do cách mạng đem lại. Những bút ký trong tập Nhập vào đám đông của ông được trích đăng trên báo Quyết Thắng, cơ quan của Mặt trận Việt minh Trung bộ. Hè năm 1946, ông mang tập bút ký này ra in ở Hà Nội tại nhà xuất bản Tiền Phong, cơ quan của Hội Văn hóa cứu quốc Việt Nam.
Rời Hà Nội, ông tức tốc trở về Đà Nẵng tham gia kháng chiến, phụ trách Ban Tuyên truyền quân dân chính Quảng Nam Đà Nẵng, làm báo Quyết Thắng, làm Trưởng ty Thông tin tỉnh, ủy viên Ban chấp hành Văn hóa kháng chiến Liên khu V. Ông hào hứng sáng tác phục vụ cách mạng với các vở kịch: Quỷ loạn, Em Sinh, Đà Nẵng, Đêm đông xuân... Vở Em Sinh được công diễn trong Đại hội Văn nghệ Liên khu V năm 1948.
Cuối năm 1948, ông chuyển hẳn sang công tác văn nghệ, lần lượt đảm nhiệm các chức vụ Chi hội phó chi hội Văn nghệ Liên khu V, biên tập Tạp chí Miền Nam, cơ quan của Liên đoàn Văn hóa kháng chiến Liên khu V, tổng biên tập báo Văn Nghệ Liên khu V. Vừa làm lãnh đạo ông vừa hăm hở xuống cơ sở, tham gia chiến dịch Đông Xuân 1949-1950 ở mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng. Bàn chân ông in dấu các địa bàn gian khổ ác liệt nhất của Khu, từ vùng cát ven biển đến đèo núi Tây Nguyên. Ông thường xuyên đi về với đất mẹ Quảng Nam khoai sắn, say mê ghi chép, nghiên cứu tư liệu, sáng tác tập truyện Cái bắt tay của người tù binh (1949) gây tiếng vang rộng rãi trong Khu. Năm 1950, ông in chung với nhà văn Nguyễn Chí Trung tập bút ký Đà Nẵng. Với vốn tích lũy ông đã viết cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Con trâu (1952). Tiểu thuyết này đánh dấu một mốc quan trọng trong đời sáng tác của Nguyễn Văn Bổng. Tiểu thuyết đã được giải thưởng Phạm Văn Đồng ở Liên khu V và giải thưởng của Hội Văn nghệ Việt Nam (1954-1955) đưa tên tuổi của ông vang khắp cả nước. Sau này, tác phẩm này còn được trích giảng trong sách giáo khoa mà thế hệ của tôi đã được học.
Cuối năm 1953, Nguyễn Văn Bổng vượt Trường Sơn nghìn dặm ra Việt Bắc dự Hội nghị Tuyên huấn cải cách ruộng đất rồi ở lại tham gia cải cách ruộng đất ở Thái Nguyên. Năm 1954, hòa bình lập lại trên miền Bắc, ông chuyển về làm báo Nhân Dân với chức vụ trưởng ban Nông nghiệp của báo. Ông vừa làm công tác lãnh đạo, lo tin bài cho các trang báo hàng ngày vừa đi thực tế viết bài về cải cách ruộng đất, về tổ đổi công, hợp tác xã – những mô hình mới của nông thôn miền Bắc. Từ đó, các tác phẩm Cắm thẻ Đồng Câu, Bếp đỏ lửa lần lượt ra mắt bạn đọc. Ông đau đáu nhớ quê hương miền Nam, và dồn tình cảm ấy trong truyện ngắn Người chị rất xúc động. Từ năm 1956, ông chuyển về công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam, làm phó tổng thư ký. Ông cũng tham gia sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957) và được bầu làm ủy viên Thường vụ khóa đầu tiên. Dù bận việc đến đâu ông cũng không rời cây bút. Ông xông xáo đi và hoàn thành tập bút ký Đón một mùa xuân mới ở miền Nam, vở kịch Dân cụ Hồ, truyện phim Đường về Nam.
Nhà văn Nguyễn Văn Bổng thời kỳ ở 
chiến trường miền Nam. 
Từ trái sang: Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, nhà văn 
Nguyễn Văn Bổng và nhà văn Lý Văn Sâm.
Năm 1962, ông trở về miền Nam như nhiều chiến sĩ ở các ngành khác, để lại miền Bắc người vợ đảm đang cùng bốn đứa con nhỏ. Ngày ấy việc đi Nam còn bí mật, nhiều độc giả ngạc nhiên không thấy tên Nguyễn Văn Bổng xuất hiện trên báo chí miền Bắc. Lúc đó, ông đang đảm nhiệm trưởng ban Văn nghệ, ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam và phó tổng thư ký Hội Văn nghệ giải phóng miền Nam với bút danh Trần Hiếu Minh. Anh em văn nghệ ở miền Nam thân mật gọi ông là Anh Tám Nhàn. Ông lại xông xáo đi khắp nơi, vừa có mặt ở Bến Tre, quê hương đồng khởi, lại thấy ông xuất hiện ở chót mũi Cà Mau, rừng U Minh, Đông Nam Bộ. Khi trở về, ông cặm cụi suốt ngày đêm, hối hả viết như sợ không kịp hoàn thành nhiệm vụ, như sợ lỡ hẹn với nhân dân và chiến sĩ những nơi mình đến. Từ những đêm thức đỏ mắt ấy, tập bút ký Cửu Long cuộn sóng (giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu 1965) và tiểu thuyết Rừng U Minh ra đời. Nhà văn Từ Sơn, cùng đơn vị với ông hồi ấy, kể rằng: “Ở căn cứ Lãng Bạc, anh Tám Nhàn hối hả viết Rừng U Minh. Anh viết với tốc độ nhanh kỳ lạ, viết tới đâu là đưa cho cô Trúc đánh máy ngay hàng ngày. Anh viết được nhiều đến mức cô Trúc đánh máy không kịp, dù cô đánh máy có năng suất hai mươi, hai mươi nhăm “táp” mỗi ngày. Bản thảo đánh máy xong, anh gửi ra Hà Nội. Các bản còn lại anh cho vào thùng đạn Mỹ đem cất giấu nhiều nơi đề phòng B52 đánh trúng chỗ này chỗ khác.” Tác phẩm Rừng U Minh viết về cuộc chiến đấu của quân dân ở miền đất tận cùng cực Nam của tổ quốc đã đánh dấu một bước phát triển mới của ông với tư cách là nhà tiểu thuyết.
Vừa chấm dấu chấm cuối cùng kết thúc tiểu thuyết Rừng U Minh, Nguyễn Văn Bổng được điều vào công tác bí mật ở nội thành Sài Gòn. Hoạt động ở Sài Gòn có khó hơn ở căn cứ, ở đây đi lại, ăn ở không công khai như ở núi rừng mà được các cơ sở hướng dẫn, bảo vệ. Người hoạt động ở thành phố phải cải trang.
Tại Sài Gòn, với nhiều bút danh, ông viết cho báo Tin Văn của giới trí thức. Ông xông xáo đi trong cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân 1968. Với những hiểu biết phong phú về những năm ấy, ông viết tập bút ký Sài Gòn ta đó và sau này viết tiểu thuyết Áo trắng.
Cuối năm 1968, có tin đồn thất thiệt ông đã hy sinh, nhiều bạn bè ở Hà Nội đã khóc ông. Nhà văn Đoàn Minh Tuấn kể: Lần ấy tôi và Đoàn Giỏi nghe tin anh hy sinh, mỗi lần uống rượu nhà ông Giỏi, tôi, Hoàng Trung Thông rót thêm một chén và thắp nén hương tưởng nhớ bạn cố tri. Bỗng một hôm Nguyễn Văn Bổng xuất hiện như trong truyện cổ tích. Ông vừa được điều ra Hà Nội, tham gia Thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam và làm tổng biên tập báo Văn Nghệ, như ông vẫn ở nguyên đó, chưa hề xa Hà Nội ngày nào.
Cuối năm 1974, anh em văn nghệ giải phóng lại gặp ông trong chiến dịch Buôn Ma Thuột, như ông chưa hề rời khỏi miền Nam ngày nào. Nguyễn Văn Bổng vẫn xông xáo, hăm hở, ghi chép. Ông là nhà văn đầu tiên có mặt tại Sài Gòn đúng 12 giờ trưa ngày 30-4-1975 tại dinh Độc Lập. Nhiều người ở Đô Thành vẫn tưởng ông bám trụ tại đó suốt từ năm 1968.
Sau ngày giải phóng, ông làm tổng biên tập báo Văn Nghệ và mở những đợt đi sâu, đi dài ở nhiều vùng kháng chiến cũ ông đã từng qua hoặc chưa bao giờ được đặt chân đến để lấy tư liệu, viết các tập bút ký Đường đất nước, Ghi chép ở Tây Nguyên, tập truyện ngắn Chuyện bên cầu chữ Y và các tiểu thuyết Áo trắng, Sài Gòn 1967. Tiểu thuyết Áo trắng chẳng rõ thế nào được dịch ra tiếng Hàn Quốc với tên Áo trắng Sài Gòn. Sau khi ra đời nó bị cấm phát hành nhưng nhanh chóng được sao chụp thành hàng vạn bản phổ biến trong các trường đại học Hàn Quốc như là một cuốn cẩm nang hướng dẫn sinh viên phương pháp đấu tranh, cách tổ chức đấu tranh và cổ vũ họ bằng ngọn lửa của một tuổi trẻ tự nhận thức, dám đứng lên làm cách mạng dân chủ.
Tác phẩm cuối đời của ông, tiểu thuyết Cuộc đời được xuất bản năm 1989. Lúc này, ông đang bệnh nên không viết được, phải đọc cho vợ ghi. Tiểu thuyết Cuộc đời như cuộc tổng kết về đời ông, đi Bắc về Nam, trải qua bao vùng đất, bao hoàn cảnh, qua những biến động dữ dội của lịch sử dân tộc suốt ba mươi năm kháng chiến.
Nguyễn Văn Bổng rất nghiêm khắc khi làm việc, nhất là trong việc biên tập. Ông cẩn thận, không chấp nhận ai làm ẩu, kể cả với những bạn thân. Trong cuộc sống ông là người khiêm tốn, hòa nhã, giản dị, nhân hậu, luôn bao dung với người khác, luôn nhận trách nhiệm về mình. Ông rất vui mừng khi người khác có thành tích trong cuộc sống và sáng tác. Có một lần, chúng tôi mời ông về làm chủ khảo cho Trại sáng tác văn học ở Quảng Nam – Đà Nẵng. Ông không quản ngày đêm đọc, sửa chữa, góp ý từng tác phẩm của anh em trẻ.
Ông bực bội góp ý thẳng cánh khi gặp một truyện đáng lẽ sẽ tốt lại được viết với một văn phong cẩu thả, nhạt nhẽo. Ông nói chuyện kinh nghiệm sáng tác, đi thực tế, cách lấy tài liệu cho anh em trẻ. Vào khoảng năm 1991, ông nhận làm chủ biên tập Văn miền Trung thế kỷ XX của nhà xuất bản Đà Nẵng. Lúc này ông đã yếu, phải nằm trên võng làm việc luôn nhắc nhở anh em biên tập đừng bỏ sót tác giả nào, truyện hay nào. “Nói đến Nguyễn Văn Bổng trước hết chúng ta nói đến một nhà văn của xứ Quảng anh hùng, giàu bản sắc, một nhà văn hàng đầu của văn xuôi Việt Nam hiện đại, một bút lực dồi dào với những tác phẩm tràn đầy nhựa sống, là nói đến một khối lượng lớn những tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký có giá trị mà tiêu biểu là Con trâu, Rừng U Minh, Cuộc đời. Những tác phẩm bộn bề chất liệu hiện thực, đậm đà hơi thở nóng hổi của cuộc đời với một thế giới nhân vật đa dạng, những cảnh sống giàu màu sắc phong tục tập quán miền Nam, những trang viết biểu hiện rực rỡ vốn sống và tài năng của ông, một nhà văn gắn bó tha thiết với cuộc đời rộng lớn của cách mạng, dân tộc, tâm huyết với sự nghiệp của Đảng và đất nước.
“Nói đến Nguyễn Văn Bổng là nói đến một nhà văn chiến sĩ vào Nam ra Bắc, xông xáo nơi đầu sóng ngọn gió, sống trọn một cuộc đời đầy biến động và thử thách khắc nghiệt, đi cùng lịch sử đất nước, luôn có mặt ở nơi mũi nhọn, những điểm nóng của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.”
Những lời trên được nhà thơ Hữu Thỉnh chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đọc trong lễ truy điệu nhà văn Nguyễn Văn Bổng vào ngày 13 tháng 7 năm 2001.
Nhưng tôi biết, tôi nghĩ, tôi tin như một nhà văn Nga, dịch giả Marian Tkachop, bạn của Nguyễn Văn Bổng, xúc động nói khi nghe tin ông mất: “Ông Bổng vẫn đấy.”
Thanh Quế
Nhà văn Nguyễn Văn Bổng
• Ngày sinh: 1-1-1921
• Quê quán: Xã Đại Quang, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam
• Đời hoạt động: Trong kháng chiến chống Pháp là chi hội phó chi hội Văn nghệ Liên khu V. Tập kết ra Bắc, tiếp tục hoạt động văn nghệ, là Phó Tổng thư ký Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam (khóa 1), Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (khóa 1, khóa 2, khóa 3), riêng khóa 2, khóa 3 là ủy viên Thường vụ. Từ 1963 vào chiến trường miền Nam, là Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ giải phóng miền Nam với bút danh Trần Hiếu Minh. Từ năm 1972 trở lại Hội Nhà văn Việt Nam, từng làm Tổng biên tập Tuần báo Văn Nghệ.
• Các tác phẩm chính: Say nửa chừng (truyện ngắn, 1944); Con trâu (tiểu thuyết, 1952); Cửu Long cuộn sóng (tập bút ký, 1965); Rừng U Minh (tiểu thuyết, 1970); Áo trắng (tiểu thuyết, 1972); Đường đất nước (tập bút ký, 1976); Ghi chép về Tây Nguyên (tập bút ký, 1978); Sài Gòn 1967 (tiểu thuyết, 1983); Chuyện bên cầu chữ Y (tập truyện, 1985); Tiểu thuyết cuộc đời (tiểu thuyết, 1989); Thời đã qua (tập bút ký, 1995).
• Giải thưởng văn học: Con trâu, tiểu thuyết giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam (1954-1955). Cửu Long cuộn sóng, tập bút ký, giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu của Hội đồng Văn học nghệ thuật Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt II, năm 2000.
Cánh hoa và búa tạ
Tôi biết đến Vĩnh Mai bắt đầu từ bài thơ Khóc Hoài. Đô Lương là “thành phố nứa”, gần như thủ phủ của Nghệ An thời kháng chiến chống Pháp. Chúng tôi thường lên đó mua sách báo. Tôi vớ được tờ báo Thép mới của Chi hội Văn nghệ Liên khu IV, trong đó có in bài Khóc Hoài.
Chuyền tay nhau đọc và đứa nào cũng thuộc rất nhanh. Ra đồng chăn trâu chúng tôi thường hát nghêu ngao: Tau với mi hẹn nhau từ khu bộ/ Lúc trở về cố sáng tác văn chương... Ba mươi tuổi, đời mi còn căng nhựa/ Hứa một mùa hoa đẹp, quả thơm ngon/ Đời quanh ta đương chói dậy vàng son/ Mi đã chết? Trời ơi là uất ức...
Sau đó ít lâu, cùng phổ biến với bài Khóc Hoài là bài Anh Hoe Tânvề nghỉ phép của Huy Phương, bài O Bưởi làng tôi của Trần Hữu Thung. Đồng ruộng, xóm làng vang lên những bài ca kháng chiến, như những bài đồng dao. Không những trẻ chăn trâu hát, mà các chòi phát thanh cũng vang lên gióng giả trong buổi hoàng hôn. Các ông các bà trước đây thường xúm quanh gốc đa, kể vè cho nhau nghe, thì nay cũng đọc những bài ca kháng chiến như Khóc Hoài, Anh Hoe Tân về nghỉ phép, O Bưởi làng tôi...
Thơ Vĩnh Mai vừa ra đời đã chiếm được cảm tình trong dân chúng, nhất là dân chúng đang hào hứng bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp. Tôi lần mò tìm đọc những bài luận văn chính trị của anh in trong tạp chí Học Tập của Chi hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác Liên khu IV. Mấy chục năm sau, nhà văn Nguyễn Địch Dũng cũng cho tôi biết: Hồi ở Việt Bắc, nhà văn đã từng nghe Vĩnh Mai thuyết trình một số bài học chính trị khá sâu sắc... Thì ra, Vĩnh Mai là một nhà thơ, đồng thời là một nhà chính trị. Trước khi là một nhà thơ, anh là một nhà chính trị lão luyện.
Sau khi đậu tú tài Tây loại Nhì (Trần Quỳnh đậu loại Nhất), anh tham gia hoạt động cách mạng bí mật, đã từng ngồi tù ở Lao Bảo, Buôn Ma Thuột cùng với Tố Hữu, Đặng Thí... Viên Tuần Thơ (Quảng Trị) đã có lần mơn trớn anh: “Anh Tú Hoằng ơi (Hoằng là tên khai sinh của Vĩnh Mai), anh học giỏi, đỗ cao, sao không đi làm với Chính phủ Pháp cho sướng thân, mà lại đi làm cộng sản cho uổng.” Vĩnh Mai đáp thẳng thừng: “Vì học giỏi, đỗ cao mới hiểu biết để đi làm cộng sản, không chịu đi làm quan cho Tây áp bức nhân dân lao động.” Anh cũng đã từng tranh luận tay đôi bằng tiếng Pháp với một linh mục Pháp về tôn giáo và chủ nghĩa cộng sản, không hề giấu giếm quan điểm của mình. Đang làm chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa Tuy Hòa, anh ra lệnh bắt Ngô Đình Diệm, ít lâu sau có lệnh của cấp trên giải Ngô Đình Diệm ra Huế.
Sau Cách mạng tháng Tám, anh đã từng là bí thư Thành ủy Huế, thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị. Rồi sau đó, anh hoạt động trong Chi hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác Liên khu IV và Chi hội Văn nghệ Liên khu IV... Từ đó, anh say mê làm thơ phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp, rồi phục vụ công cuộc xây dựng hòa bình.
Trong thời gian bị giam cầm tại nhà lao thực dân Pháp, anh đã có ý thức dùng khả năng sáng tác của mình để động viên các bạn tù. Anh đã sáng tác những bài thơ Biệt ly, Hậu Nam quan hừng hực lòng yêu nước và chí căm thù giặc. Anh dạy cho một số đồng chí học thuộc lòng. Rồi người này đọc chuyền cho người kia nghe. Cả trại tù đồng thanh ngâm vang lên. Lính canh ngục lúc đầu dậm dọa. Nhưng dần dần chúng cũng lờ đi, thậm chí còn hùa vào với tù nhân, ngâm thơ và hát. Tết đến anh đề xuất làm tờ báo miệng Vịt đực. Mỗi người góp vào một bài, hoặc ca dao, hoặc thơ, hoặc văn xuôi. Anh góp một truyện vui, lẩm bẩm học thuộc, rồi đọc vang lên. Tù nhân cười sặc sụa...
Dân tộc được giải phóng. Tù chính trị được giải phóng. Như con chim sổ lồng bay vào trời xanh mênh mông, Vĩnh Mai say sưa công tác và say sưa sáng tác.
Anh ghép tên con sông và ngọn núi quê hương làm bút danh của mình: sông Vĩnh non Mai. Tên Vĩnh Mai cùng với tên các nhà thơ khu IV và đông đảo đội ngũ nhà thơ cả nước hòa nhịp đồng ca hành quân vào cuộc trường kỳ kháng chiến. Nam khu IV là Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên nằm trong vùng tạm chiếm, phong trào du kích phát triển mạnh. Nguyễn Văn Thương sáng tác bài hát Bình Trị Thiên khói lửa nổi tiếng. Thơ ca cũng hào hứng ca vang Ngò cải đơm hoa của Lưu Trọng Lư, Thăm lúa của Trần Hữu Thung, Cô lái đò của Lương An... và Vĩnh Mai cũng bắt nhịp nhanh chóng với một loạt bài Người dân quân xã, Mùa lúa chín, Quê tôi... Hình ảnh cuộc chiến tranh nhân dân và hình ảnh người du kích hiện rõ trong thơ anh: Giặc trên không đổ xuống/ Giặc dưới nước ùn lên/ Giặc vây chặt bốn bên/ Đèn dày như bổ lưới/ Nhưng giặc vào xóm dưới/ Anh đã tới làng trên/ Giặc cất bước đi lên/ Anh vòng quanh trở xuống/ Anh lộn quèo lộn cuống/ Giữa thiết giáp, xe tăng/ Quyết ôm chặt xóm làng/ Như ấp iu núm ruột... Đương thời, Hải Triều hết sức tán dương. Quần chúng cũng vừa đánh giặc vừa sản xuất vừa đọc thơ. Ở miền Trung, trước đây hầu như làng nào cũng có người đặt vè và nhiều làng có phong tục ngồi từng đám đông kể vè cho nhau nghe. Kể vè là một nhịp điệu dân ca quen thuộc của miền Trung. Theo tôi, Vĩnh Mai chịu ảnh hưởng máu thịt của nhịp điệu kể vè dân gian. Cho nên dân gian dễ thuộc và họ đọc cho nhau nghe những bài thơ của anh như kể vè trước đây. Cộng vào đó, ở nước ta, có truyền thống làm thơ truyện (truyện nôm khuyết danh), đến kháng chiến chống Pháp, nhiều bài thơ có tính truyện kể được nhân dân đón nhận. Mà có tính truyện thì thường là hay kể lể dài dòng, đôi khi mất tính thơ.
Trong kháng chiến chống Pháp, thường có loại thơ kể lể bằng những đoạn thơ bốn chữ năm chữ hoặc thơ tự do, rồi kết thúc đoạn thơ đó bằng một câu lục bát. Vĩnh Mai cũng viết những bài điển hình cho loại thơ đó. Dưới ngòi bút của anh, đồng quê hiện ra thật đáng yêu: Từng mảnh đất rộn ràng/ Vui như ngày khởi nghĩa/ Tiếng cười vang bốn phía/ Đón trước mùa phản công/ Lưng vươn lưng cúi, lưng còng/ Lưng gồ lấp lánh dưới đồng nắng trưa/ Đất vỡ dưới liếp bừa/ Ngon như nồi bánh đúc/ Lưỡi cày gang thúc thúc/ Xé toạc lớp bùn sâu/ Mồ hôi dầm mảnh áo nâu/ Chân người hối hả chân trâu vội vàng...
Tôi không “địa phương chủ nghĩa”, nhưng cũng xin mạnh dạn có nhận xét: Thơ của các nhà thơ miền Trung có nét hao hao giống nhau. Nguyễn Du viết: Văn chương nết đất thông minh tính giời. Nết đất của miền Trung cũng có thể sản sinh ra văn chương miền Trung chứ sao? Có lần, nhà thơ Tế Hanh trò chuyện với tôi: Thơ của các nhà thơ miền Trung, nhất là ở Liên khu IV, khỏe, chắc, nhưng mà khô. Bài Khóc Hoài được phổ biến rộng trong dân gian Liên khu IV là do tình cảm chân thực và tha thiết của tác giả, nhưng cái tình lại kéo theo sự kể lể và nội dung của nó có tính kể vè.
Trong thơ Vĩnh Mai, lúc nào cái tình cũng làm chủ và lấn át cái sự, có những câu tinh lọc thật dễ thương: Mùa thu dừng lại ở Long Biên/ Để một mình tôi lên Vĩnh Yên (Lên Vĩnh Yên)/ Như những dòng sông chảy lướt qua/ Tháng ngày đọng lại những phù sa/ Ân tình ủ lớp phù sa ấy/ Mỗi độ xuân về lại nở hoa... (Gửi Phương Chi).
Hòa bình lập lại, Vĩnh Mai đảm nhiệm các chức vụ: Chánh văn phòng Hội Liên hiệp Văn học – nghệ thuật Việt Nam, rồi trưởng ban thơ báo Văn Nghệ. Lúc này, trong xã hội và trong giới văn nghệ, bộc lộ một số hiện tượng tiêu cực, nhất là trong tầng lớp có quyền chức. Tính của Vĩnh Mai thì thẳng như ruột ngựa, đôi khi thiếu sách lược, anh cứ nói thẳng thừng những điều chướng tai gai mắt. Không nén được, anh làm những bài thơ châm biếm sâu cay. Đả vào cái nạn loạn họp, anh viết: Ngang lưng thì thắt phương châm/ Đầu đội chính sách tay cầm chủ trương/ Đôi chân đứng vững lập trường/ Hữu thân hữu “họp”, không đường nào ra. Đả vào cái loại cán bộ nịnh trên lừa dưới, anh viết: Gặp trên khúm núm lưng tôm bạc/ Thấy gái ngo ngoe đít cá vàng. Phong trào đi B (đi chiến trường miền Nam) đang rầm rộ, có một số người lẩn tránh để làm những việc bậy bạ, anh đả thẳng tay: Người đi Bê ông cũng đi Bê/ Bê hết của ngon vật lạ về/ Bê bạn bè về nhà nhậu nhẹt/ Bê nhân tình lên gác mân mê...
Trên trang báo Văn Nghệ, anh đề xuất mở chuyên mục “đòn bút” để in thơ trào phúng. Được nhiều nhà thơ hưởng ứng, ký bút danh: Thơ Châm, Đặc Công... Còn anh thì ký bút danh Búa Tạ. Thơ của Búa Tạ được phổ biến khá rộng trong giới văn nghệ và trong đông đảo bạn đọc. Anh nói với chị Thiếu Mai đang phụ trách mục lý luận, phê bình: “Con người ta quý nhất là đức tính trung thực. Làm lý luận, phê bình như cô thì lại càng phải trung thực.” Chị Thiếu Mai vốn là người trực tính, nghe lời nhà thơ đàn anh, càng trực tính. Có một nhà phê bình vừa được in bài trên báo Văn Nghệ, đến cảm ơn Thiếu Mai. Qua trò chuyện, những lời ông ta nói ngược lại những lời đã viết trong bài phê bình. Thiếu Mai cho rằng ông ta lèo lá, viết một đường nói một nẻo, chị liền giơ “búa tạ”: “Tôi không muốn tiếp những người thiếu trung thực.”
Làm biên tập ở báo Văn Nghệ có cái khó là phải đọc hàng chồng bản thảo của đủ tầng lớp người: Từ nhà văn có tên tuổi đến người mới vào nghề. Phải lựa chiều ứng xử cho vừa lòng họ. Vĩnh Mai thì đối với bất kỳ bài của ai cũng “thẳng ruột ngựa”. Có hai trường hợp thế này: Nhà thơ X có bài gửi đến. Vĩnh Mai đề nghị chữa mấy câu.
Nhà thơ X nghĩ mình là cỡ lão làng trong làng thơ, không chịu chữa. Vĩnh Mai trả lời: “Anh không chịu chữa mấy câu này thì đưa in báo khác. Muốn in báo này thì phải chữa.”
Trường hợp thứ hai: Cây bút trẻ nọ gửi nhiều bài mà không in được. Anh ta đã ba lần mời Vĩnh Mai đi uống cà phê, ông không đi. Mời lần thứ tư, ông đành nhận lời. Uống xong, ông nói: “Cảm ơn anh đã cho tôi uống cà phê. Nhưng thơ anh thì chưa đăng được. Chùm thơ của anh vừa rồi dở quá.”
Không phải đến bây giờ, mà từ xưa, Vĩnh Mai vốn là người không sợ ai. Hồi ở nhà tù Buôn Ma Thuột, tên chủ ngục Miguet thấy anh thông minh và giỏi tiếng Pháp, bèn nhờ anh dạy cho con trai hắn với chế độ ưu đãi thầy giáo đặc biệt. Dạy được ba ngày, anh trả con trai cho chủ ngục và nói: “Thằng con anh dốt quá, may ra nó cầm dùi cui giỏi chứ không biết cầm bút.” Miguet giận tím mặt mà không dám phản ứng gì.
Con người như thế, chả trách thơ của Búa Tạ được nhiều người thuộc. Thơ trữ tình hay. Thơ trào phúng cũng hay. Đúng như nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo phác họa chân dung anh: Người cao mà chẳng đi khom/ Tay cầm búa tạ, tay thơm hoa nhài/ Mùa thu sững nhớ Vĩnh Mai/ Long Biên dừng lại tưởng ai gọi mình.”
Võ Văn Trực
Nhà thơ Vĩnh Mai
• Tên khai sinh: Nguyễn Hoằng
• Sinh năm: 1918
• Quê quán: thôn An Tiên, xã Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị
• Đời hoạt động: Năm 1936 tham gia hoạt động trong phong trào học sinh thanh niên dân chủ ở Huế. Năm 1940 bị Pháp bắt và đày đi Buôn Ma Thuột. Sau hòa bình 1954 làm cán bộ tuyên giáo; từ năm 1956 làm biên tập viên và phụ trách tổ thơ của tuần báo Văn Nghệ.
• Tác phẩm đã xuất bản: Khóc Hoài (thơ, 1946); Người dân quân xã (thơ, 1947); Đôn và Thanh (thơ, 1954); Lên đường (thơ, 1961); Tiếng hát (thơ, 1971); Đất đen và hoa thắm (thơ, 1982); Từ mùa xuân ấy (thơ, 1982); Chàng trai ấy (tuyển thơ, 1992).
Người lữ khách trên chuyến tàu đời
Quê mẹ
Ông Hà Kiến Huân là một Hoa kiều quê gốc ở Quảng Đông, Trung Quốc, từ nhỏ đã dạt sang Việt Nam, sống tại huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Vào một buổi chiều muộn, trên bờ sông Ghép thuộc làng Ngọc Giáp, Hà Kiến Huân qua sông bằng con đò của cô lái đò Đặng Thị Văn. Chuyến đò này đã bắt đầu mối tình của họ, rồi chẳng bao lâu sau, hai người nên duyên chồng vợ. Đến năm 1916 thì họ sinh được con trai, đặt tên là Hà Triệu Anh. “Hà Anh”, phát âm tiếng Quảng Đông (Trung Quốc) là “Hồ Dzếnh”. Thế rồi, hai mươi năm sau, thơ ca Việt Nam hiện đại xuất hiện một thi sĩ tài hoa có bút danh khá lạ lùng, là Hồ Dzếnh.
Thời thơ ấu, Hồ Dzếnh sống với cha, mẹ tại Quảng Xương, Thanh Hóa, vài năm sau được lên thị xã Thanh Hóa, học ở Trường Dòng. Năm 1931, mới mười lăm tuổi, Hồ Dzếnh ra Hà Nội, khi làm gia sư, lúc làm công cho các hiệu buôn người Hoa, để sống và để có thể theo học bậc Thành chung. Những năm làm thuê kiếm sống và theo học Thành chung ở Hà Nội, mỗi khi có được thời gian nghỉ là Hồ Dzếnh lại về quê ngoại. Một lần về quê, lúc chiều đã xuống, lại cũng bên bến đò Ghép vắng lặng thuộc làng Ngọc Giáp, Quảng Xương, Hồ Dzếnh gọi mãi mới có con đò của một cô gái ghé tới. Và chuyến qua sông hôm đó cũng bắt đầu một mối tình. Mối tình này đã khiến người trai này cầm bút làm thơ, vậy nên cuộc đời lại có thêm một thi sĩ: Trên đường về nhớ đầy.../ Chiều chậm đưa chân ngày/ Tiếng buồn vang trong mây.../ Có phải sầu vạn cổ/ Chất trong hồn chiều nay” (bài Màu cây trong khói, những lần in sau được đổi là Chiều)... Ngay từ những bài thơ đầu tiên đăng trên báo Trung Bắc Chủ Nhật và Tiểu Thuyết Thứ Bảy, dường như Hồ Dzếnh đã muốn dâng trọn tâm hồn mình cho quê mẹ, nơi ông sinh ra và cũng là nơi ông có mối tình đầu. Bài thơ Cảm xúc rất nổi tiếng đương thời cho thấy, mối tình đầu của nhà thơ sâu xa hơn và lớn lao hơn tình ái của người trai với người gái, nó là tình yêu đối với quê hương, bản quán. Sinh ra, rồi sống trọn đời, thi sĩ này chỉ biết có quê mẹ, đó là Việt Nam: Cô gái Việt Nam ơi!/ Từ thuở khai sinh lận đận rồi/ Tôi biết tình cô u uất lắm/ Xa nhau đành chỉ nhớ nhau thôi... Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực/ Cho lòng cô gái Việt Nam tươi. Trong hồi ức của mình, nhà văn Vũ Bằng đã viết: “Mỗi khi thấy Hồ Dzếnh ngồi buồn ngâm bài thơ ấy thì tôi lại yên trí rằng cô gái Việt Nam đó chính là vợ anh; mà có biết vợ anh thì ta mới thấy thương và quý tình yêu thủy chung của Hồ Dzếnh đến ngần nào...”
Mối tình đầu
Người Hồ Dzếnh yêu là Nguyễn Thị Huyền Nhân, một thiếu nữ tham gia hoạt động yêu nước từ năm 1942. Tình yêu đó đã khiến thi sĩ sống lặng lẽ như khép mình giữa làng văn chương đầy sôi động ở Hà thành và lẳng lặng viết những bài thơ lãng mạn, ngôn ngữ thơ mới lạ, đặc biệt là rất nặng tình:
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé
Tôi sẽ trách, cố nhiên, nhưng rất nhẹ
Nếu trót đi em hãy gắng quay về
Tình mất vui lúc đã vẹn câu thề
Đời chỉ đẹp khi hãy còn dang dở
Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ
Cho ngàn sau lơ lửng với ngàn xưa...
(Ngập ngừng)
Trong sáu năm sống xa người yêu, Hồ Dzếnh cho ra đời năm tác phẩm: Chân trời cũ (tập truyện, 1942), Một chuyện tình mười lăm năm trước (tiểu thuyết, 1942), Quê ngoại (tập thơ, 1943), Cô gái Bình Xuyên (tiểu thuyết, 1946), Hoa xuân đất Việt (tập thơ, 1946). Trong các tác phẩm đó, Chân trời cũ, nhà văn Thạch Lam viết lời tựa, và tập thơ Quê ngoại với lời đề từ trang trọng Kính dâng mẹ ở đầu sách, đã tạo nên tiếng vang lớn trong đời sống văn chương đương thời. Đặc biệt, trong Quê ngoại, nhiều bài thơ, nhiều câu thơ trầm buồn, nhưng có sức lay động lòng người rất sâu xa: Tôi là người lữ khách/ Màu chiều khó làm khuây.../ Nhớ nhà châm điếu thuốc/ Khói huyền bay lên cây (bài Chiều). Có lẽ, trong sâu thẳm tâm hồn thi sĩ này vẫn phảng phất nỗi vọng nhớ về cố quốc, một chút buồn Chiêu Quân, một chút động lòng với dáng liễu Động Đình, với trăng thu Dương Tử, mây chiều Giang Nam... Nhưng, Quê ngoại là tập thơ chan chứa tình cảm của một người con đối với mẹ, đối với Việt Nam. Đặc điểm nổi bật nữa là, thơ lục bát của Hồ Dzếnh rất giàu mỹ cảm, những hình ảnh làng quê Việt vào thơ ông thật bình dị mà đẹp lấp lánh: Trời không nắng cũng không mưa/ Chỉ hiu hiu rét cho vừa nhớ nhung.../ Dưới chân mỗi lối thu vàng/ Tình xa lắm lắm tôi càng muốn yêu! (bài Màu thu năm ngoái); và những câu trong bài Lũy tre xanh: Tôi yêu, nhưng chính là say/ Tình quê Nam Việt, bàn tay dịu dàng/ Thơ tôi: đê thắm, bướm vàng/ Con sông be bé, cái làng xa xa...
Sau khi cho xuất bản tiểu thuyết Cô gái Bình Xuyên, kháng chiến chống Pháp bùng nổ, năm 1948 Hồ Dzếnh về Thanh Hóa và lập gia đình. Thời gian này, sức khỏe của bà Nguyễn Thị Huyền Nhân kém đi nhiều. Hai vợ chồng Hồ Dzếnh tản cư về làng Neo thuộc phủ Thọ (nay thuộc huyện Thọ Xuân), Thanh Hóa, sống trong một căn nhà nho nhỏ bên bờ sông Nông Giang. Năm 1950, nỗi bất hạnh lớn ập tới, do bệnh tật, bà Huyền Nhân qua đời, để lại cho Hồ Dzếnh đứa con trai mới bốn tháng tuổi. Sau này, nhà văn Vũ Bằng có viết về hoàn cảnh “gà trống nuôi con” của Hồ Dzếnh thực là tủi nhục mà cũng thực là cao đẹp và can đảm. Nhiều anh em văn nghệ kháng chiến chống Pháp hồi ấy ở Khu IV nhớ mãi hình ảnh thi sĩ Hồ Dzếnh “mặc chiếc áo bành tô màu cứt ngựa, chân đi dép, địu đứa con nhỏ trên lưng, lúc thì vơ vẩn đầu sông, lúc thì chui vào bụi để tránh máy bay bắn phá... Đúng theo lối của những người đàn bà Tàu muôn thuở, Hồ Dzếnh lấy một tấm vải bố quấn lưng lại, rồi làm hai cái dải buộc chéo hai vai, cho đứa con vào trong cái túi trên lưng, đi khắp nẻo đường Khu IV”. Như vậy, Hồ Dzếnh đã địu con đi xin bú nhờ (bú chực) trên các nẻo đường Khu IV. Cũng theo nhà văn Vũ Bằng, “không có người đàn ông thứ hai nào nuôi con khổ cực như Hồ Dzếnh, một mặt lo chạy loạn, một mặt lo ăn, một mặt nữa là phải kiếm cho con chút sữa để sống qua ngày...”.  
“Tôi đem số phận gửi trong má đào”
Đó là câu thơ của Hồ Dzếnh, trong bài Chuyến tàu đời, viết năm 1938, khi đang làm thuê kiếm sống ở Hà thành và ngày đêm thương nhớ bà Huyền Nhân. Khi viết bài Chuyến tàu đời, Hồ Dzếnh mới 22 tuổi. Ông mở đầu bài thơ: Nhiều lần tôi nghĩ bao la/ Đời là quán khách, tôi là giấc mơ/ Trao duyên rất đỗi tình cờ/ Không mong ước hẹn, không ngờ gặp nhau. Có thể do mặc cảm về thân phận ly hương, lại sớm đắm say với mối tình đầu đến mức “không mong ước hẹn”, nên từ nỗi tủi khổ, Hồ Dzếnh có được sức suy nghĩ rất sâu về cõi đời rằng, bắt đầu một số phận, người ta lên chuyến tàu đời, rồi sẽ kết thúc bằng việc xuống ga... Thơ lục bát của Hồ Dzếnh thật nhuần nhuyễn, lại rất dồi dào sự sống, và sự sống trong Chuyến tàu đời chứa đựng quy luật nhân sinh thật sâu sắc:
Đường đời bóng núi sông qua
Nay đang nắng mới, mai là cảnh xưa
Có tôi tàu đã đông thừa
Không tôi, chợ chẳng hề thưa vãn người,
Mất còn có nghĩa gì tôi
Tôi là chút ít của đời chút không
Bài thơ về một phận người, như một hơi thở dài, một hơi thở dài thật buồn, thật sâu, và sau hơi thở dài lại thấy lòng nhẹ nhõm hẳn đi:
Dặm trần bụi cuốn mây dong
Tôi đem số phận gửi trong má đào
Từng phen gió lạnh bay vào
Bâng khuâng: ta xuống ga nào hở em?
Người vợ thứ hai
Năm 1953, Hồ Dzếnh được chính quyền kháng chiến tỉnh Thanh Hóa cấp giấy phép cho về Hà Nội chữa bệnh cho con và tìm kiếm người thân thất lạc đã lâu. Để sống và nuôi con, ông đã làm phóng viên cho báo Thần Chung xuất bản tại Sài Gòn những năm 1953- 1954. Về sống ở Hà Nội, Hồ Dzếnh không tìm được người thân thất lạc nào, nhưng đã gặp lại bà Nguyễn Thị Hồng Nhật, vợ nhà thơ Trần Trung Phương, vốn là bạn thân của ông. Những năm Hồ Dzếnh gặp gian nan, lận đận ở Thanh Hóa thì ở Hà Nội bà Hồng Nhật và ông Trần Trung Phương cũng gặp không ít khổ nạn. Hai người cưới nhau, mới có được con trai năm tháng tuổi thì Trần Trung Phương bị bệnh lao, bà Nhật vừa nuôi con, vừa chạy vạy thuốc thang chăm chồng chữa bệnh. Đương thời, bệnh lao là một trong tứ chứng nan y. Chưa đầy một năm sau, Trần Trung Phương qua đời. Trước khi mất ông có để lại một số bài thơ đã in báo và những di cảo, với ý, nếu bà Nhật gặp lại được Hồ Dzếnh thì nhờ người bạn ấy tìm cách xuất bản cho. Và rồi, bà Hồng Nhật đã tìm gặp lại Hồ Dzếnh, đưa tập bản thảo của Trần Trung Phương, nhờ ông giúp thực hiện ý nguyện của người chồng quá cố.
Tập thơ Những vần thơ sáng của Trần Trung Phương đã được xuất bản. Và sau đó, bà Hồng Nhật và Hồ Dzếnh, với hoàn cảnh tương tự như nhau, lại có sự đồng điệu trong tình cảm, nên đã quyết định đến với nhau. Năm 1954, hai người tổ chức lễ cưới, đạm bạc, nhưng đậm tình nghĩa. Trong đám cưới, có một nhà văn rất hiểu đời sống tình cảm của Hồ Dzếnh và Hồng Nhật, đã ra một vế đối thật độc đáo, mời mọi người đối lại: “Vợ góa nhà văn lấy nhà văn góa vợ.” Một bạn thơ khác biết rõ cuộc đời Hồ Dzếnh, cảm động đối lại: “Con nuôi nước Việt nhờ nước Việt nuôi con...” Có thể nói, từ khi có mái ấm gia đình lần thứ hai, thi sĩ Hồ Dzếnh bắt đầu được sống những ngày thật hạnh phúc. Năm 1955, Hồ Dzếnh cho xuất bản vở kịch Đi hay ở, thể hiện rất rõ quan điểm cuộc sống của ông khi đất nước ta bước vào giai đoạn tạm thời bị chia cắt. Năm 1957, ông tham dự đại hội thành lập Hội Nhà văn Việt Nam; sau đó ông được bầu vào Ban chấp hành Hội Liên hiệp Văn học – Nghệ thuật Việt Nam (nay là Ủy ban toàn quốc các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam). Hai người con riêng của ông và bà Hồng Nhật, là Chính và Cường luôn thương yêu nhau như anh em ruột thịt...
Chàng lữ khách xuống ga vào một ngày thu
Sức khỏe Hồ Dzếnh không tốt lắm, năm 1988 ông còn cố để sửa chữa hoàn tất và cho in Hồ Dzếnh, tác phẩm chọn lọc. Khi tác phẩm này đến với bạn đọc, công chúng văn học đã phải sửng sốt bởi những bài thơ và trang văn chan chứa hồn quê nước Việt; đặc biệt, văn và thơ ấy có sức sống rất mãnh liệt, bền mãi với thời gian! Những năm sau đó, ông ốm yếu luôn. Khi biết không sống thêm được nữa, Hồ Dzếnh đòi về nhà. Nửa đêm, hai con trai thuê xe của bệnh viện đưa ông về 80 phố Hòa Mã. Bà Hồng Nhật vẫn thức chờ. Ông đã hôn mê. Bà quỳ bên giường, ruột đau như cắt, nhưng không khóc được. Có lẽ do vậy mà ông lại cựa mình, mở mắt, gọi nhỏ: “Mình ơi!” Rồi ông tắt thở luôn. Đó là ngày 13-8-1991 (mồng bốn tháng Bảy năm Tân Mùi). Hà Nội đang vào thu, nắng thật trong, gió thì mơn man, như nắng và gió trong thơ Hồ Dzếnh: Mênh mông xanh thắm phai tờ/ Chân đi vương vấn lời thơ ngậm ngùi...
Sau ít ngày, khi dọn lại nơi Hồ Dzếnh thường ngồi đọc sách, ghi chép, bà Hồng Nhật thấy trong cuốn sổ tay của ông có một bài thơ viết tặng bà:
Mình vừa là chị là em
Tấm lòng người mẹ trái tim bạn đời
Mai này tới phút chia phôi
Hai ta ai sẽ là người tiễn nhau?
Xót mình đã lắm thương đau
Tôi xin làm kẻ đi sau đỡ mình
Cuộc đời đâu phải phù sinh
Nước non chan chứa nghĩa tình, mình ơi!
Thơ như thế, không chỉ riêng bà Hồng Nhật, mà bạn đọc văn chương nói chung đều thấy, cuộc sống được đưa vào văn chương thật bình dị và chân chất, mà hay đến mức khiến người ta ứa nước mắt!
Anh Chi
Nhà thơ Hồ Dzếnh
Tên khai sinh: Hà Triệu Anh
• Sinh năm 1916
• Quê quán: xã Quảng Trường, huyện Quảng Xương, Thanh Hóa. Mất ngày 13 tháng 8 năm 1991
• Tác phẩm đã xuất bản: Chân trời cũ (truyện ngắn, 1942); Một truyện tình mười lăm năm về trước (tiểu thuyết, 1942); Quê ngoại(thơ, 1943); Cô gái Bình Xuyên (tiểu thuyết, 1946); Hoa xuân đất Việt (thơ, 1946); Người nữ cứu thương Trung Hoa (kịch một màn, công diễn 1947); Đi hay ở (kịch một màn, công diễn 1955); Hồ Dzếnh tác phẩm chọn lọc (tuyển chọn, 1988).
• Giải thưởng: giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
Người độc thoại với chính mình
Nếu như âm nhạc Văn Cao đã được khẳng định ở Việt Nam trong thế kỷ XX thì các lĩnh vực sáng tác khác, là họa và đặc biệt là thơ của ông dường như chưa được nghiên cứu thấu đáo. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cho biết, khi ông và Nguyễn Thụy Kha, Thanh Thảo tuyển chọn tập thơ Lá của Văn Cao để in, có ít nhất một bài thơ của ông đã bị bỏ ra, đó là bài Đồng chí của tôi nói về chuyện đối xử bất nhẫn giữa những người cùng một chiến hào với nhau. Văn Cao từ những năm 50 của thế kỷ trước đã có cái nhìn xuyên thẳng vào hiện thực, nói lên cả những mặt hạn chế của cuộc cách mạng, cả những bất trắc khó lường trong cuộc sống.
Giờ đây nhìn lại sự nghiệp thơ Văn Cao, ta không khỏi ngạc nhiên, khi chỉ trong hơn mười năm kể từ khi có tác phẩm thơ đầu tiên, từ một nhà lãng mạn cuối mùa, ông đã làm một hành trình dài lao thẳng vào hiện đại, góp phần mở ra một cánh cửa mới cho thơ hiện đại Việt Nam.
Ngọn lửa thơ của Văn Cao sung sức và bùng cháy nhất chính ở thời điểm ông viết Trường ca những người trên cửa biển năm 1956. Cảm xúc sôi trào. Ý tứ sắc sảo. Câu thơ hoạt. Hình tượng thơ gây nhiều ám ảnh. Từ thời điểm này về trước, Văn Cao thiên về cảm xúc, cảm giác và những hình ảnh lãng mạn. Sau thời điểm này, Văn Cao chuyển dần sang ẩn dụ, tượng trưng với những hình ảnh biểu tượng hết sức sâu sắc.
Cuộc đời Văn Cao, có thể nói, cũng gặp phải những bước ngoặt ngặt nghèo từ sau khi viết Trường ca những người trên cửa biển. Trước đó, là một đoạn đời nhiều xiêu dạt, hào hùng, lãng mạn. Sau đó là những năm tù túng, và chìm trong ưu tư triền miên.
Văn Cao sinh ra ở Hải Phòng trong một gia đình công chức, cha của Văn Cao vốn là đốc công nhà máy nước Hải Phòng. Thuở nhỏ, Văn Cao học ở trường tiểu học Bonnal, sau lên học trung học tại trường dòng Saint Josef, là nơi ông bắt đầu học âm nhạc. Năm 1938, khi mới mười lăm tuổi, vì gia đình sa sút, Văn Cao bỏ học sau khi kết thúc năm thứ hai bậc thành chung.
Mười sáu tuổi ông đã làm thơ, viết nhạc và giành được những thành công đầu tiên. Tuy nhiên, theo nhà thơ Văn Thao, con trai ông, thì Văn Cao làm thơ lúc chỉ mới mười hai, mười ba tuổi. Văn Cao đến với thơ trước khi đến với nhạc, họa và thơ cũng là cõi riêng ông thổ lộ những suy tư thăm thẳm về cuộc đời mình, những chiêm nghiệm trước hiện thực ngặt nghèo.
Cuối những năm 30, đầu những năm 40 thế kỷ trước, phong trào thơ mới bắt đầu cạn dần dòng chảy của nó. Những sáng tác đầu tiên của Văn Cao (bài thơ đầu tiên giữ lại được ghi sáng tác năm1939) chịu ảnh hưởng của tư duy thơ mới, nhưng lối dùng chữ vẫn còn nặng về Hán Việt, nhạc thơ còn chưa thật nhuần nhuyễn. Nhưng, chỉ khoảng một năm sau, khi ông viết Một đêm đàn lạnh trên sông Huế (1940) thì độ điêu luyện, mượt mà đã không kém các bậc đàn anh trong thơ mới trước đó. Và cũng chỉ mấy năm sau, ông viết Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc thì không chỉ độ điêu luyện đã lên đến đỉnh, mà còn cho thấy một cách nhìn, cách miêu tả hiện thực đến tận cùng trước thảm họa khủng khiếp nạn đói năm 1945. Đó là thời điểm Văn Cao đã hoàn toàn vượt qua ảnh hưởng của thơ mới và nghiêng theo chủ nghĩa hiện thực.
Hồi còn học ở trường Saint Josef, Hải Phòng, Văn Cao tham gia làm một tờ báo cùng các bạn trong lớp. Lúc ấy, ông đã tự tay trình bày báo và biên tập thơ của bạn hữu. Văn Cao cũng tham gia hướng đạo sinh, trở thành đại biểu của tổ chức này được mời đi dự hội nghị toàn Đông Dương tổ chức ở Huế. Sau khi gia đình sa sút, bố mất, chị gái lấy chồng trong Nam ra chịu tang cha, Văn Cao có thời kỳ theo chị vào Sài Gòn kiếm sống, nhưng sau đời sống khó khăn, ông không muốn phiền đến gia đình anh chị nên trở lại miền Bắc. Khoảng cuối năm 1943, đầu 1944, Văn Cao rời Hải Phòng lên Hà Nội học thêm và có lúc do khó khăn phải ở nhờ một người chị từng là cô gái nhảy nổi tiếng của Hải Phòng xiêu dạt lên Khâm Thiên. Những năm lưu lạc ấy đã giúp Văn Cao lăn lộn trong giông tố cuộc đời và hiểu thêm chuyện đời, chuyện thế sự. Nhưng rồi, như một quy luật, hầu hết những nghệ sĩ lớn hồi đó đều tham gia Việt Minh, Văn Cao cũng thế. Ông được ông Vũ Quý giác ngộ và gợi ý ông dùng tài năng của mình phục vụ cho cách mạng. Văn Cao từ mười sáu đến mười tám tuổi đã cắm những cái mốc trong âm nhạc với Suối mơ, Trương Chi, Buồn tàn thu, thì hai mươi mốt tuổi đã viết Tiến quân ca, để rồi một năm sau đó trở thành Quốc ca. Và cũng từ đó, ông liên tục sáng tác những tác phẩm hào hùng Thăng Long hành khúc ca, Trường ca sông Lô, Không quân Việt Nam, Tiến về Hà Nôi...
Nửa cuối thập niên 40 của thế kỷ trước, Văn Cao có vài bài thơ, mà đáng chú ý phải nói đến Ngoại ô mùa thu năm 1946.
Trở lại với thời điểm bước ngoặt trong thơ Văn Cao, chính là khi ông viết trường ca Những người trên cửa biển. Ở trường ca này, Văn Cao lấy Hải Phòng làm một hoán dụ như “Việt Nam thu nhỏ”. Hải Phòng hiện lên trong thác lũ của chiến tranh và trong mơ ước nhào nặn lại hình hài của mình vươn đến cuộc sống mới. Và cũng chính ở đây, bên cạnh những thành công và mơ ước, Văn Cao đã không ngại ngần đề cập những hiểm họa khó lường trừ trong hàng ngũ những người cách mạng.
“Kẻ thù của chúng ta xuất hiện
Những con rồng đất khi đỏ khi xanh
Lẫn trong hàng ngũ
Những con bói cá đậu trên những dây buồm
Đang đo mực nước
Những con bạch tuộc
Bao tay chân cố dìm một con người”
“Đất nước đang lên da lên thịt
Đất nước còn đang nhỏ máu ngày ngày
Ta muốn gói cuộc đời gọn gàng như trái vải
Đã thấy loài sâu nằm dài trong cuống...”
“Những tên muốn ôm cây mùa xuân không cho mọc
Những tên muốn cây to che cớm mầm non.”
Và ông cũng đã thấy những bi kịch lặng thầm:
“Không có tiếng vỡ trong không gian
Sao có tiếng vỡ trong lòng tiếng vang âm rên rỉ.”
Bản lĩnh Văn Cao, sự trung thực của ngòi bút, tính dự báo sâu sắc – điều này làm cho không ít người có quan điểm hẹp hòi, lấy làm khó chịu.
Cũng tại thời điểm này, Văn Cao viết bài Mấy ý nghĩ thơ như một tuyên ngôn về thơ, đặt ra những vấn đề lớn về thơ hiện đại. Văn Cao đặc biệt nhấn mạnh đến tính tư tưởng của thơ: “Chúng ta đã qua một thời kỳ dài thiên về cảm xúc và một thời kỳ cảm giác, cái thời kỳ thiên về tư tưởng có phải đang bắt đầu không?”
Văn Cao bắt đầu có những đột phá cả trong khai thác đề tài và nghệ thuật biểu hiện.
Bài Anh có nghe thấy không là một cách đặt vấn đề về nội dung mới cho thơ. Trong đề từ, Văn Cao ghi “Gửi một nhà thơ”. Và ông viết:
Chỗ nào cũng có tiếng
Chưa nói lên
Văn Cao không ngại ngần chỉ ra:
Chung quanh còn những người khôn ngoan
Không có mồm
Mắt không bao giờ nhìn thẳng
Những con mèo ngủ yên trên ghế
Trong một cuộc dọn nhà
Những con sên chưa dám ló đầu ra
Những dây leo càng ngày càng tốt lá
Kẻ thù lớn nhất của cách mạng chính là những kẻ xảo trá, cơ hội lẫn vào hàng ngũ những người Cách mạng để phá hoại nó. Hiện thực mà Văn Cao cảnh báo, tiếc thay đã không được khắc phục, không được chỉnh đốn kịp thời.
Trong cái thời sung sức ấy, Văn Cao cũng chú trọng đến cách tân hình thức. Điều đáng nói là Văn Cao đề cao sự phù hợp giữa nội dung và hình thức thơ. Trong bài Gửi những nhà thơ, ông viết:
Hãy xếp lại thang âm
A ba ca
Da đa la ma
Ôi vần thơ nhạc điệu
Trong trúc trắc nặng nề ngột ngạt
Trong chua chát ngậm ngùi hàng ngày quằn quại
Chết mòn chết mòn chết mòn
Ở một chỗ khác, ông cũng ví cánh thơ du dương như chiếc máy bay của người đầu tiên tập lái. Ông cho rằng, nhà thơ hãy giữ lại thang âm và đôi cánh/ Trong cuộc đời cao tiếng hát du dương.
Từ những năm 60 của thế kỷ trước, cuộc sống của Văn Cao trở nên nặng nề, cô độc. Ông gần như không làm nhạc, phải vẽ minh họa cho báo hoặc vẽ bìa sách để kiếm sống và thường phải chịu cảnh đói nghèo. Ông cũng ít làm thơ. Hầu hết là những bài thơ viết và để trong sổ tay, thỉnh thoảng mới được đọc lên chia sẻ với bạn hữu trong những cuộc rượu.
Mãi mấy chục năm sau, khi đất nước đã mở cửa, đổi mới thơ Văn Cao được tập hợp trong một tập Lá. Sau khi Văn Cao mất, những tuyển thơ của ông mới dần dần được in nhưng vẫn còn một số bài thơ gai góc đến giờ vẫn chưa xuất hiện chính thức trong tập nào.
Càng về sau, Văn Cao làm thơ như là một cuộc độc thoại với chính mình. Trước đây có lần ông muốn hét to lên, cảnh báo về những hiện trạng nguy hiểm đang dần dần lộ diện trong đời sống, nhưng chẳng ai nghe thấy, tiếng thét của ông tựa như gặp một triền núi dựng đứng chắn lại:
Khi tôi hú lên thật to
Không nghe tiếng tôi nữa
Như viên đá rơi vào im lặng
Những ngọn núi dựng lên đen trũi
Bờ một cái vực khổng lồ
Nơi cả mặt trời mặt trăng
Thường lặn xuống không tiếng động.
(Lòng núi)
Đến lúc chìm trong cô độc, ưu tư, Văn Cao chua xót nhận ra:
Bỗng nhiên
Bóng người ấy che mất
Nửa mặt của tôi
(Nguyệt thực)
Thơ Văn Cao tiến những bước dài trong sự chiêm nghiệm về thân phận con người, về những nghịch lý của thời đại. Trong nghệ thuật biểu hiện, ông đã chọn lối ẩn dụ, tượng trưng như một phương thức biểu đạt chính, tạo ra những bài thơ trùng điệp các tầng ngữ nghĩa, gợi liên tưởng và ngẫm suy không dứt.
“Sự thất bại thường gặp trong một bài thơ là khép lại: Khép tất cả sự muốn nghĩ và muốn nói.” Văn Cao đã từng quan niệm như vậy, và ông đã thành công khi biến mỗi bài thơ của mình thành một tác nhân kích thích suy nghĩ của độc giả. Có thể coi mỗi bài thơ như một câu hỏi nhức buốt về sự sống, hoặc một tấm gương để độc giả soi vào và tự ngẫm suy về chính mình, về thời đại mình. Bài thơ Văn Cao vì thế không phải là một văn bản chết, cứng đờ trên giấy, nó lung linh, sống động và biến hóa tùy theo sức cảm và nghĩ của độc giả. Đó chính là sự hấp dẫn đặc biệt của thơ Văn Cao.
Bài Năm buổi sáng không có trong sự thật là một thành công quan trọng trong nỗ lực hiện đại hóa thơ của Văn Cao. Bài thơ mở ra cái thế giới của tưởng tượng, của giả tưởng. Buổi sáng thứ nhất, khi tỉnh dậy bỗng cả phố biến đâu mất, Mặt đất đỏ màu gạch nung/ như miệng quả núi lửa. Buổi sáng thứ hai tỉnh dậy không nghe tiếng chim hót, không nghe tiếng chân đi, không ai nhìn miệng tôi gào thét. Tất cả chỉ có im lặng. Và nhà thơ cảm thấy Hình như nơi đây bị đày trong im lặng. Buổi sáng thứ ba, nhà thơ thấy không phải mình thức dậy/ một người nào đó trong tôi đang thở, thế rồi từ đó, bao nhiêu điều khủng khiếp đã diễn ra. Từ khi ấy, chúng tôi hai người suy nghĩ/ Hai kẻ thù nhau/ Hai thái cực tâm hồn/ Hai người ấy trong một người chịu đựng/ mưu hại lẫn nhau. Buổi sáng thứ tư, cả phố phường như mở hội. Mọi con người đeo mặt nạ đi chơi nhưng nhà thơ lại nhìn thấy Nước mắt mồ hôi/ chảy ra trên từng mặt nạ. Bài thơ kết lại bằng buổi sáng thứ năm ấm áp. Trong căn phòng trong suốt thủy tinh, Em ở đây với anh, Da thịt em cho anh sưởi, Chúng ta đi vào bí mật của mùa xuân.
Nếu như Năm buổi sáng không có trong sự thật hướng ngoại, mô tả những cảnh ngộ chung của nhiều người, hoặc khái quát về cái chung, thì Ba biến khúc tuổi sáu lăm là một lối thơ nghiêng về ẩn dụ nói lên cảnh ngộ của một con người. Biến khúc thứ nhất, kể rằng, một người cho tôi con dao găm và tác giả vô tình ném con dao qua cửa sổ trong đêm. Bỗng có tiếng ngã ngoài sân, một người trúng tim đã chết. Tác giả thanh minh:Tôi không hề biết người ấy/ Tôi là kẻ không muốn giết người/ Chỉ biết bóng tối/ mà tôi đã ném dao. Biến khúc thứ hai, kể về một oan khiên: Bỗng nhiên mọi người nhìn tôi/ một ai đó kêu lên thằng ăn cắp. Thế rồi, khi chạy hết cả cuộc đời, sắp gục xuống, tỉnh dậy mồ hôi chảy/ tôi lại thấy tôi là người chưa phạm tội. Biến khúc thứ ba, kể: Tôi rơi vào mạng nhện/ mạng nhện cuốn lấy tôi/ không còn cách gì gỡ được. Đây là một bài thơ đau đớn, nói về sự vô tình nghiệt ngã, sự xô đẩy của thời thế tạo nên số phận oan nghiệt của một con người.
Trừ một số bài thơ dài, mà trường độ cảm xúc và tính khái quát không thua kém những trường ca, thì về cơ bản, thời kỳ những năm 60, 70 của thế kỷ trước, thơ Văn Cao trở nên ngắn gọn, cô đúc. Ông tìm sự liên kết trong ý tứ, hình ảnh, trong nhạc điệu, tức là sự liên kết từ bên trong chứ ít khi sử dụng những vần điệu vang vọng. Hình ảnh trong thơ ông thường biến nghĩa, cấu trúc câu cũng linh hoạt khơi gợi sự ngẫm ngợi. Hầu hết thơ ông quãng sau đặt ra những thách thức bí ẩn khiến người đọc phải giải mã điều thực sự nhà thơ muốn nói phía sau mỗi câu từ.
Dù không sáng tác nhiều thơ (khoảng sáu mươi bài thơ và một trường ca), Văn Cao cũng đã ôm chứa trong ông bước dịch chuyển lớn lao mang dấu ấn của hơn nửa thế kỷ tìm đường của thơ Việt. Từ một nhà lãng mạn, Văn Cao đã nỗ lực để trở thành một nhà thơ hiện thực, từ một nhà hiện thực, Văn Cao đã tiến thêm một bước vào lãnh địa của thơ tượng trưng. Trong thơ ông người ta tìm thấy cả dấu ấn thân phận nhà thơ, lẫn nỗi cay đắng của một giai đoạn lịch sử đầy cam go, thách thức.
Thiên Sơn
Nhà văn Văn Cao
• Tên khai sinh: Nguyễn Văn Cao
• Sinh ngày 15-11-1923 (tại Hải Phòng)
• Quê quán: thôn An Lễ, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, Nam Định
• Mất ngày 10-7-1995 tại Hà Nội.
• Hoạt động: là một nhạc sĩ, một họa sĩ tài năng. Tác giả của bài Tiến quân ca, Quốc ca của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Nguyên là Phó Tổng thư ký Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhạc sĩ Việt Nam (khóa 1 và 3).
• Tác phẩm đã xuất bản: Cái hầm sông (kịch, 1948); Những người trên cửa biển (trường ca, 1956); Lá (thơ, 1988).
• Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt 1 năm 1996.
Người thơ ấy đã nhặt từng con chữ
Thuở nhỏ, còn ở làng Thanh Thủy Thượng, ông thường được gọi là Cu Bê. Cu Bê – tên cúng cơm của nhà thơ Phùng Quán. Năm mười bốn tuổi, vào những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, tháng 1-1946, ông đã tham gia Vệ quốc đoàn. Tuổi nhỏ, nhưng chí không nhỏ, cậu thanh niên Phùng Quán đã muốn làm anh bộ đội cụ Hồ. Phùng Quán được giao cho làm chân liên lạc, đi trinh sát bám địch quanh các đồn bót vùng ven đô Huế và trong nội thành. Lớn thêm chút nữa khi trở thành thiếu sinh quân Liên khu IV, vóc dáng thư sinh, giọng trầm ấm, ông được cán bộ chỉ huy đưa ngay vào đoàn văn công. Suốt mấy năm trời ông cũng chỉ được giao cho chân kéo phông màn vào đọc thơ cho bộ đội và nhân dân nghe.
Năm hai mươi hai tuổi, dù chưa một lần đặt chân tới Côn Lôn, qua lời kể của các chiến sĩ tù Côn Đảo và trí tưởng tượng phi thường của một thi sĩ tương lai ông đã viết tiểu thuyết Vượt Côn Đảo. Chỉ trong vòng một năm, tiểu thuyết Vượt Côn Đảo của nhà văn Phùng Quán đã được tái bản đến bốn lần. Vượt Côn Đảovượt qua biên giới để đến với bạn đọc Liên Xô.
Năm hai mươi ba tuổi, Phùng Quán đã cho ra mắt tập Trường ca Võ Thị Sáu. Tập thơ của ông đã giành giải Nhất cuộc thi sáng tác hưởng ứng đại hội Liên hoan Thanh niên Sinh viên thế giới tổ chức tại Warszawa thủ đô của Ba Lan. Chỉ ít lâu sau đó ông cho ra đời tiếp tập thơ thứ hai: Tôi muốn mời bạn đến Tổ quốc tôi, Thạch Sanh cháu Bác Hồ và một tập truyện cho thiếu nhi Cuộc đời một đôi dép cao su.
Năm hai mươi tư tuổi (1956), Phùng Quán đã là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Vào những năm tháng ấy, tên tuổi của Phùng Quán nổi lên như một hiện tượng trong đời sống văn học Việt Nam vừa mới đi qua cuộc chiến tranh chống Pháp chín năm thần thánh. Trong con mắt của những anh học trò nghèo yêu thích văn chương, đang mài đũng quần trên ghế nhà trường đầu óc đầy huyễn hoặc mộng văn chương, nhà văn Phùng Quán đúng là một người hùng, là tấm gương soi cho thế hệ trẻ khuyến khích sự lao động sáng tạo...
Nhiều năm sau, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong một lần đến viếng thăm ngôi nhà của Phùng Quán, thắp nén nhang tưởng nhớ một người con xứ Huế, nhà thơ đã viết về Phùng Quán như sau: Người nằm chân đưa về Hồ Tây/ Gió mùa đông thổi lạnh chân gầy/ Cuộc viễn du nào buồn đến vậy/ Người hùng thời niên thiếu tôi ơi / Người mộng mơ một thời đánh giặc/ Người tóc râu một thời thị trường/ Cuộc viễn du nào buồn đến vậy/ Người hùng thời niên thiếu tôi ơi! / Gió vẫn gió của ngàn năm trước/ Sóng vẫn sóng của nghìn bể dâu/ Hồ Tây đang mùa sương khói/ Hồ Tây đang độ hoa đào/ Người hùng thời niên thiếu tôi ơi!
Kể từ năm 1956, vừa đúng ba mươi năm sau, 1986, tôi mới được tận mắt nhìn thấy người hùng Phùng Quán. Năm ấy ông đã năm mươi sáu tuổi. Lần đầu tiên ông đặt chân tới Nha Trang, đi cùng với ông còn có nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo và một vài nhà thơ trẻ yêu mến ông. Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước đã được mười một năm, bây giờ ông mới có được một chuyến hành hương xuôi Nam. Râu tóc bạc. Bộ quần áo nâu bạc màu may theo kiểu xưa. Đầu đội mũ lá. Vai khoác theo chiếc bị cói của những người dân miền biển. Lủng củng bên trong lẫn với vài bộ quần áo là bi đông rượu. Đất mới có phần làm ông e ngại. Người gặp ông không phải ai cũng mừng vui, ngỡ ngàng, có người còn tỏ ra e ngại. Tác giả của Vượt Côn Đảo đây ư? Tác giả của Lời mẹ dặn đây ư? Nhiều người phụ nữ, trí thức đã có tuổi ở Nha Trang vốn xưa kia sống trong vùng Mỹ – ngụy càng ngỡ ngàng khi nhìn thấy nhà thơ Phùng Quán lần đầu.
Đêm ấy những người yêu văn nghệ ở Nha Trang và cả ngàn thầy trò trường Cao đẳng Sư Phạm nhiều người rơi nước mắt khi nhìn thấy nhà thơ Phùng Quán được mời lên đọc thơ, ông đã quỳ gối giữa giảng đường đọc bài thơ Tạ làng bằng một giọng trầm ấm, xúc động, mang âm sắc không đổi thay của người xứ Huế.
Con tạ đất làng/ Thấm đẫm máu bao anh hùng đã khuất/ Không ngọn cỏ nào không long lanh nước mắt/ Không lá cây nào không mặn chát gian lao... Con tạ/ Manh chiếu rách con nằm. Con tạ/ Câu ca dao mẹ con hát/ Tất cả thành sữa ngọt/ Nuôi con ngày trứng nước/ Để hôm nay con được sống/ Được lớn khôn/ Được chiến đấu hết mình/ Vì tự do của Tổ quốc/ Được ca hát hết mình/ Tổ quốc thành thơ...
Thầy hiệu trưởng Lê Phương, một người thầy mà rất nhiều các anh chị học sinh đã từng theo học ở các trường miền Nam trên đất Bắc, được thầy dạy dỗ. Sau hai mươi năm thầy trở lại Nha Trang, vẫn đứng trên bục giảng, tóc bạc trắng như cước nhìn nhà thơ Phùng Quán đọc thơ, lặng lẽ rút khăn lau nước mắt. Những cô nữ sinh Nha Trang áo dài tha thướt đã quen với những cuộc tọa đàm, hội thảo sinh hoạt Đoàn Đội, viết báo tường, đọc thơ trong những cuộc vui nhưng chưa bao giờ được chứng kiến một cảnh tượng lạ, mối giao cảm đến kỳ lạ giữa nhà thơ và người thưởng thức thơ. Vừa uy nghiêm, vừa xúc động. Còn nhà thơ Phùng Quán, cũng có thể ông đã gặp cảnh tượng ấy ở giảng đường Đại học Huế, ở chính cái sân đình làng Thanh Thủy Thượng, nơi đã sinh ra ông, nhưng ông vẫn ngơ ngác khi nhìn thấy những tràng vỗ tay vang dội, ngỡ ngàng nhận lấy những bông hoa hồng từ tay các thầy cô giáo, các em nữ sinh mang lên tặng ông.
Một hội trường rộng đủ sức chứa cả nghìn người, được chống đỡ bằng những cột gỗ kèo sắt, lợp tôn. Ngột ngạt vì hơi nóng nhưng mọi người như quên hết để được nghe thơ của các nhà thơ mà họ đã từng quen biết như Giang Nam, Nguyên Hồ, Đào Xuân Quý, Nguyễn Gia Nùng, Liên Nam,... Nhưng tự trong sâu thẳm, đây là lần đầu tiên được nghe thơ và nhìn tận mắt nhà thơ Phùng Quán. Hàng chục chiếc ghế băng ở cuối giảng đường bị gẫy vì sinh viên chen vai thích cánh đứng lên nhìn để cho rõ mặt tác giả Vượt Côn Đảo, Như con cò vàng trong cổ tích, Pắc Pó đón Bác về, Tuổi thơ dữ dội.
Cầm cuốn sách Nhớ Phùng Quán do nhà xuất bản Trẻ ấn hành, tôi giật mình khi nhìn thấy tên những tác phẩm của Phùng Quán đã xuất bản suốt một đời văn của ông. Có tác phẩm mang tên ông. Có những tác phẩm ông phải ký bằng tên khác...
Cái quãng cách ba mươi năm có lúc ông từng đi gánh phân, cuốc đất ở Thái Bình, khi đi chặt củi đào mương ở Thanh Hóa, Phú Thọ; lúc làm anh công nhân chạy việc ở Thủ đô... Con người nhà văn, nhà thơ đầy chất nghệ sĩ ở Phùng Quán cùng với nghị lực phi thường của ông vẫn quậy cựa sống, quậy cựa yêu, dễ xúc động và âm thầm viết. Viết để có nhuận bút nuôi vợ con như có lần ông đã nói với tôi ở trên bãi biển Nha Trang trong một buổi chiều hoàng hôn tím ngắt đổ xuống lưng núi Đồng Bò. Viết để tự khẳng định mình, chứng tỏ mình hệt như lần đầu tiên khi mới chỉ là cậu bé mười bốn tuổi ông đã đến xin đại đội trưởng của Trung đoàn 101 để vào bộ đội được đi đánh giặc cứu nước. Cái Trung đoàn 101 ấy vào những năm 1967, 1968 trong chiến dịch Mậu Thân mang biệt danh Công trường V, số phận run rủi tôi trở thành người lính bộ binh của Công trường V (Trung đoàn 101). Nhiều người chỉ huy cũ từng đánh giặc những năm kháng chiến chống Pháp, đồng đội của nhà thơ Phùng Quán, họ vẫn bám trụ trên mảnh đất ấy những năm đánh Mỹ vẫn còn nhớ tới ông trong những đêm liên hoan văn nghệ...
Các tác phẩm của Phùng Quán cùng với cuộc đời ông cứ nối dài theo năm tháng, giống như từng bước bàn chân trần của ông in hằn trên dấu cát Nha Trang lúc con nước ròng. Mặt trăng trồi lên sau mỏm Hòn Rùa, ánh vàng lấp lánh trên mặt nước biển đang dần sẫm lại. Tôi vỡ ra một điều giản dị: Chỉ có một nhà văn như Phùng Quán, thật sự yêu nghề, yêu người, tự tin mới đủ sức vượt qua giới hạn của nỗi cơ cực khổ đau, vượt qua được chính mình để đêm đêm tự hành xác trên những trang giấy kẻ hàng.
Đại hội Nhà văn lần thứ V (1995), chúng tôi, những nhà văn của miền Trung, đã dành thời gian đến thăm ngôi nhà của vợ chồng nhà văn Phùng Quán bên Hồ Tây, thắp nén nhang tưởng nhớ ông. Vẫn còn nhìn thấy ngôi nhà chòi mà ông vẫn gọi một cách hài hước là Nghinh Phong Các, ẩn khuất sau những bụi lau sậy, nơi ông ngồi làm thơ và câu cá. Bây giờ khu đất sau trường Chu Văn An đã có nhiều đổi thay. Con đường bê tông bao quanh một vùng hồ. Quán sá mọc lên như nấm. Con phố ấy suốt ngày bị vây hãm bởi đám nhà bạt, nhà sàn, tiệm ăn với biển hiệu xanh đỏ... Tiếng xe máy, tiếng xe ôtô xen lẫn với tiếng chào mời vẫy khách. Thỉnh thoảng tôi cũng được bạn bè mời lên ăn quán cá Hồ Tây. Gió vẫn vần vũ quét trên mặt hồ gợn sóng. Những ngôi nhà tầng thấp, tầng cao lô xô, khấp khểnh bao quanh lấy hồ trông xa chẳng khác nào những cây cọc nhọn cha ông ta đã từng cắm ở cửa sông Bạch Đằng, chặn giặc. Khách đến ăn phần đông là người trẻ, kẻ có tiền. Tiếng nói cười rổn rảng. Rất ít người trong số ấy biết rằng, chỉ cách nơi họ ngồi ăn không xa là nơi ở của nhà thơ Phùng Quán một thời. Chỗ ấy, những bụi lau, bờ cỏ, dứa dại đã bị phát quang. Bầy chim Sâm cầm cũng chẳng còn... Một ngày chưa xa, có nhiều buổi chiều Phùng Quán ẩn mình trong đám lau sậy thả câu, lắng tai nghe cá đớp bóng, tiếng chuông chùa Trấn Vũ ngân vang ngân vang trong buổi chiều tàn. Hoàng hôn tím đỏ loang trên mặt hồ nước. Vẳng lên tiếng bìm bịp, le le trong các mảng bèo tây nổi bập bềnh trên sóng. Và cả tiếng chuông tàu điện leng keng ngược đường lên Bưởi.
Phùng Quán đã nhặt từng con chữ cho thơ và suy ngẫm sự đời.
Đỗ Kim Cuông
Nhà thơ Phùng Quán
• Sinh tháng 1 năm 1932
• Quê quán: xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Mất ngày 22 tháng 1 năm 1995 tại Hà Nội.
• Tham gia quân đội trong thời kỳ chống Pháp, sau chuyển sang làm công tác văn hóa.
• Tác phẩm chính: Vượt Côn Đảo (truyện, 1955); Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo (trường ca, 1955); Trên bờ Hiền Lương (bút ký, 1956). Sáng tác cho thiếu nhi: Thạch Sanh cháu Bác Hồ (1956); Cuộc đời đôi dép cao su (1956); Tuổi thơ dữ dội (1988); Người du kích hói đầu (1990); Tiếng đàn trong rừng thẳm (1991).
• Giải thưởng: Giải ba Hội Văn nghệ Việt Nam (1954- 1955) cho tiểu thuyết Vượt Côn Đảo. Giải A, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam cho tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội năm 1987. Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
Mãi mãi tuổi hoa niên
Tôi đến với thơ Tế Hanh từ một trong những tác phẩm đầu tiên của anh viết hồi còn đi học ở Huế: Những ngày nghỉ học (1938). Tôi không nhớ đã đọc bài thơ ấy ở đâu, trên báo Ngày Nay hay trong tập Hoa niên, tập thơ đầu tiên của tác giả. Những câu thơ đến bây giờ tôi vẫn thuộc lòng:
Những ngày nghỉ học tôi hay tới
Đón chuyến tàu đi đến những ga
Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt
Lòng buồn đau xót nỗi chia xa
Tôi thấy tôi thương những chuyến tàu
Ngàn đời không đủ sức đi mau 
Có chi vương víu trong hơi máy
Mấy chiếc toa đầy nặng khổ đau...
Thời kỳ 1941-1945 tôi học ở trường Quốc học Quy Nhơn. Xa quê hương, gia đình trên hai trăm cây số, mỗi năm chỉ được hai lần về sống với làng quê, với những người ruột thịt của mình (Tết và nghỉ hè) trong tôi luôn khắc khoải nỗi nhớ quê, nhớ người thân. Trường tôi lại ở gần ga xe lửa Quy Nhơn, ngày đêm vang vọng tiếng còi tàu. Đêm nằm trong ký túc xá, theo dõi từng chuyến tàu đi, về đến thuộc lòng... Không thể nào ngủ được. Thế rồi, cùng với một vài bạn thân cùng quê Khánh Hòa, chúng tôi bí mật tổ chức “xé rào” (hiểu theo nghĩa đen và nghĩa bóng). Đứa canh chừng bác cai trường (bảo vệ), đứa dọn gai, trổ lối chui qua rào keo phía sau ký túc xá, sau đó ngụy trang lại cẩn thận. Từ đó mỗi buổi chiều, sau giờ ăn cơm tập thể ở nhà ăn, chúng tôi lại nháy nhau trốn khỏi trường bằng lối đi “tự tạo” ấy để ra ga chơi, xem người đi, người về, xem những cuộc tiễn đưa có khi đẫm nước mắt. Một thời gian sau, bác cai Năm (bảo vệ) phát hiện được hành động gian dối ấy. Lẽ ra chúng tôi đã bị kỷ luật, ghi vào học bạ nếu bác ấy báo cáo lên hội đồng kỷ luật của nhà trường. Điều bất ngờ là bác không làm như vậy. Có lẽ bác thương tình lũ trẻ xa quê nhớ nhà... nên chỉ rầy la qua loa và còn dặn “đừng để ông hiệu trưởng (người Pháp) hoặc tổng giám thị bắt gặp, sẽ bị đuổi học đấy!”.
Tôi mê bài thơ của Tế Hanh trong hoàn cảnh đặc biệt ấy và đương nhiên như lớp bạn mê văn học của trường rất muốn gặp tác giả, dù biết rằng mình chỉ là chú bé mười ba, mười bốn tuổi.
Tôi không ngờ sự “thẩm định” thơ của tôi lại khá chính xác. Sau năm 1975, đọc lại sách và báo trong thành những năm 1939-1945 tôi mới biết: bài thơ Những ngày nghỉ học cùng với bài thơ Quê hương của Tế Hanh là hai bài thơ hay nổi trội trong tập Nghẹn ngào gồm ba mươi bài được giải khuyến khích về thơ của Tự lực văn đoàn năm 1939. Thành phần ban giám khảo giải văn chương danh giá này gồm những nhà văn, nhà thơ tên tuổi: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Thế Lữ, Tú Mỡ. Tôi trích một đoạn trên báo viết về sự kiện này:
Đồng hạng với nữ sĩ Anh Thơ trong giải khuyến khích của Tự lực văn đoàn năm 1939, Tế Hanh được giới yêu thơ mến tiếng qua tập thơ Nghẹn ngào. Nghẹn ngào chứa đựng hai thi phẩm xuất sắc của Tế Hanh Quê hương và Những ngày nghỉ học. Nó đem đến cho tác giả – một thiếu niên hay rụt rè, ngượng nghịu như chàng rể mới – chiếc ghế ngồi trên thi đàn Việt Nam khi nhà văn Nhất Linh, một thành viên Ban giám khảo viết đôi lời khen tặng như sau:
“Có thể gọi là hai bài thơ hay của thi ca Việt Nam và hai bài đó đủ xác định giá trị của nhà thơ Tế Hanh.”
Tôi xin viết thêm về bài Quê hương. Như chúng ta đều biết bài thơ nói trên tác giả dành để tặng quê hương thân yêu của mình: xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Bài thơ có cái chân chất, thật thà của người dân vùng sông nước, vừa có cái hào khí của những chiến binh làm chủ biển khơi:
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông
Khi trời trong gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang...
Bài Quê hương là một trong hai bài thơ hay của Tế Hanh trước Cách mạng tháng Tám, khi anh bắt đầu đi vào làng thơ. Rất tiếc tôi lại không “có duyên” với tác phẩm này như bài Những ngày nghỉ học. Điều này cũng dễ hiểu: tôi quá “vồ vập” quá say mê với bài thơ diễn tả trực tiếp tâm trạng học trò của mình, vô tình “để rơi”’ một hạt ngọc. Đọc lại hai câu:
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ
tôi nhiều lần tự hỏi: sao mình lại lướt qua quá dễ dàng những câu thơ đẹp và lãng mạn đến như vậy?
Trong kháng chiến chống Pháp nhà thơ Tế Hanh sống và hoạt động ở vùng tự do Liên khu V (gọi tắt là Nam, Ngãi, Bình, Phú) với những trách nhiệm rất quan trọng: cán bộ ban Tuyên truyền Mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng; ủy viên ban phụ trách trường Trung học Bình dân Nam Trung bộ do đích thân đồng chí Phạm Văn Đồng đại diện Chính phủ thành lập và hướng dẫn. Đặc biệt anh còn tham gia lãnh đạo Liên đoàn Văn hóa kháng chiến Nam Trung Bộ và năm 1949 là thành viên sáng lập và lãnh đạo Hội Văn nghệ Liên khu V (tôi nhớ hồi đó có tên Chi hội Văn nghệ Khu V, trực thuộc Hội Văn Nghệ Việt Nam). Lúc này sự nghiệp sáng tác của anh đã khá ấn tượng bởi ba tập thơ Hoa niên, Hoa mùa thi và Nhân dân một lòng.
Cùng trong thời gian ấy, ở cái tuổi mười sáu tôi đã tham gia kháng chiến ở Khánh Hòa, quê hương tôi cũng là tỉnh đầu tiên nổ súng đánh Pháp ở Nam Trung bộ, chỉ sau Sài Gòn đúng một tháng. Với ngày 23 tháng 10 lịch sử, ngày mở đầu cuộc chiến đấu ác liệt 101 ngày đêm, bao vây và tiêu hao, tiêu diệt quân viễn chinh Pháp đổ bộ bằng đường biển lên thành phố Nha Trang, mặt trận Nha Trang đã thu hút hàng vạn người – từ bộ đội chủ lực, địa phương và dân quân du kích (có cả lực lượng Nam tiến từ miền Bắc và bắc miền Trung chi viện). Tôi được cách mạng phân công làm cán bộ thông tin tuyên truyền và văn hóa văn nghệ của thành. Hồi đó có bằng “thành chung” như tôi đã là trí thức rồi! Tôi theo bộ đội đánh đồn, vừa gọi loa tuyên truyền vừa làm thơ, viết văn, viết báo cho tờ báo Thắng của tỉnh để động viên tinh thần chiến đấu của quân và dân ta. Tờ báo và các tài liệu tuyên truyền được chuyển về cấp trên để báo cáo và lưu trữ. Qua thư một số bạn bè ở Khu và cán bộ đi công tác về, tôi biết tạp chí Miền Nam và báo Văn Nghệ Liên khu V có đăng lại hai bài thơ của tôi Về vùng tạm chiếm và Tôi sẽ trả thù cho anh được dư luận rất hoan nghênh. Có lẽ anh Tế Hanh biết tên tôi từ đó.
Năm 1951, trên đường vào cực Nam (Ninh Thuận, Bình Thuận) công tác, đoàn văn nghệ sĩ của Khu do anh Tế Hanh làm trưởng đoàn đã ghé lại chiến khu Khánh Hòa. Thời cơ bao nhiêu năm chờ đợi mong được gặp anh đã đến nhưng tiếc rằng tôi đã bỏ mất cơ hội. Trong chiến tranh, biết bao lần tôi đã “vô duyên” như thế! Tôi đang bận xuống vùng địch hậu cùng bộ đội làm công tác võ trang tuyên truyền. Khi tôi về cơ quan được anh chị em kể lại: “Nhà thơ Tế Hanh có hỏi thăm anh, tiếc là không được gặp anh, một cây bút trẻ Khánh Hòa mà anh nói ‘rất có triển vọng’. Biết anh hồi trước học ban thành chung trường Quốc học Quy Nhơn anh rất vui. Anh khen tác phẩm của anh và chúc anh viết nhiều và hay.” “Ở vùng bị chiếm mà có nhà thơ, nhà văn cách mạng sống và chiến đấu với nhân dân là rất quý. Khi về nhất định tôi sẽ gặp được anh Giang Nam.”
Tôi mừng như bắt được vàng và ngày ngày ngóng trông, chờ đợi. Một thời gian sau được đọc trên báo của Khu bài thơ Người đàn bà Ninh Thuận tôi biết anh đã trở về cơ quan ở vùng tự do rồi. Tôi không trách anh vì tôi biết có nhiều tuyến đường bí mật trên đất liền, trên biển và hải đảo... và đoàn đi đường nào là do tình hình hoạt động của địch và sự sắp xếp của cấp trên.
Người đàn bà Ninh Thuận (1951) là một bài thơ đậm chất hiện thực ác liệt của chiến tranh, viết theo lối kể chuyện:
Chị em phải chịu tật nguyền
Trời ơi, vợ đổi vợ chuyền là đây.
Chị này bị bắn phơi thây
Chị kia treo ngược trên cây mất đầu...
Bài thơ hơi “dân gian” một chút, có lẽ theo quan điểm có lúc thịnh hành ở Khu V hồi đó: “Thơ phải mang tính đại chúng, dễ nhớ dễ thuộc...” nên có những hạn chế nhất định, Tuy nhiên có hai câu làm tôi giật mình:
Lần đầu tôi thấy chị cười
Cái cười hiền hậu của người Cực Nam
Theo tôi đó là hai câu thơ hay mà tôi cảm được mặc dù tôi biết: nụ cười hiền hậu ấy có phải riêng của người cực Nam đâu! Chính tác giả, trong phút xúc động sâu sắc với nỗi đau khổ của người phụ nữ đang đứng trước mặt mình đã “thổi hồn” vào nụ cười của chị. “Cái cười” ấy đã vượt lên bom đạn, tang tóc để mãi mãi là biểu tượng của tâm hồn Việt Nam: hiền hậu, thủy chung, yêu quê hương, yêu cuộc sống... của người dân cực Nam Trung bộ.
Tôi không ngờ cuộc gặp gỡ đầu tiên của tôi với nhà thơ Tế Hanh lại diễn ra trong hoàn cảnh mà tôi không lường trước được. Đó là vào tháng 4-1975, không phải ở Sài Gòn mà ở Hà Nội.
Giữa tháng 3-1975, tôi đang có mặt ở sở chỉ huy tiền phương của khối Tuyên huấn, báo chí, văn hóa văn nghệ Trung ương Cục ở một địa điểm giáp ranh hai tỉnh Tây Ninh và Bình Dương thì được điện thoại của ban Tuyên huấn mời về gấp. Lúc này quân ta vừa giải phóng Buôn Ma Thuột và triển khai việc bao vây, cô lập Đà Nẵng và một số tỉnh miền Trung. Tôi hồi hộp, hy vọng mình sẽ được biệt phái ra miền Trung theo chân các chiến sĩ về giải phóng quê hương mình. Không ngờ lúc gặp nhau, thường trực Ban Tuyên huấn lại giao một nhiệm vụ khác: đi Hà Nội! “Có điện khẩn của Trung ương yêu cầu miền Nam cử một đoàn nhà thơ đi Hungary dự hội nghị quốc tế về thơ kỷ niệm 30 năm ngày chiến thắng chủ nghĩa phát xít với tư cách là người đang ở chiến trường đánh Mỹ.” Trung ương Cục đã quyết định thành lập đoàn 3 người: Giang Nam (trưởng đoàn), nhà thơ Viễn Phương và nhà thơ Chim Trắng thay mặt cho các nhà thơ miền Nam đi dự hội nghị.
Được đi quốc tế trong lúc cả ba anh em chúng tôi chưa hề biết Hà Nội đáng lẽ là niềm vui lên, nhưng ngược lại làm chúng tôi rất buồn. Không ai muốn đi khi chiến thắng đã gần kề. Các anh lãnh đạo Ban đặc biệt là đồng chí Trần Bạch Đằng rất thông cảm tâm trạng của chúng tôi và đã lắng nghe rất kiên nhẫn các lý lẽ mà chúng tôi trình bày. Cuối cùng các anh đã kết luận: “Không thể làm gì khác, đó là chỉ thị của Trung ương mà chúng ta phải chấp hành. Các đồng chí hãy về chuẩn bị ngay để chiều nay lên đường cho kịp các chuyến xe ra bên quân đội.”
Chúng tôi rời Lộc Ninh ngày 26 tháng 3 năm 1975, ngày 9 tháng 4 đến Vĩnh Linh và bốn ngày sau nữa đã có mặt ở Hà Nội. Đoàn được nhà thơ Bảo Định Giang đưa lên gặp đồng chí Tố Hữu. Lần này thì kế hoạch đi bị phá sản trong nỗi vui mừng khôn xiết của chúng tôi. Nhà thơ Tố Hữu thông báo: “Trung ương quyết định đoàn nhà thơ miền Nam không đi Hungary nữa, việc ấy để ngoài này lo. Các anh nghỉ ngơi, thăm thú Hà Nội, Hải Phòng chuẩn bị sức khỏe để có mặt ở Sài Gòn trong ngày vui chiến thắng.” Và ngày 18-4 là cuộc họp lớn của văn nghệ sĩ tại Nhà hát lớn để chuẩn bị làm nhiệm vụ mới. Đoàn chúng tôi vinh dự được ban tổ chức xếp ngồi hàng ghế đầu bên cạnh các anh mà mình từng nghe tiếng nhưng chưa được gặp mặt: Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Tuân, Lưu Trọng Lư... Đương nhiên trong số đó có hai nhà văn có kỷ niệm đặc biệt với tôi: nhà văn Nguyễn Văn Bổng (đã có thời làm Trưởng tiểu ban Văn nghệ Trung ương Cục, người lãnh đạo trực tiếp của tôi hồi ở chiến trường (1963-1968) và nhà thơ Tế Hanh, người mà tôi đã lỡ dịp gặp nhau năm 1951 ở Khánh Hòa.
Bây giờ mới gặp nhau đây
Mà lòng đã chắc những ngày một hai.  
Tôi đã cầm tay anh mà nói trong nỗi xúc động không kiềm chế được: “Chúng ta đã lỡ hẹn 24 năm về trước chắc anh còn nhớ. Ngày ấy tôi đã xem bài thơ Người đàn bà Ninh Thuận như một lời nhắn kín đáo anh gởi lại chúng tôi ở chiến trường. Tôi đã đọc dù không được nhiều lắm những bài thơ của anh thời chống Mỹ. Tôi rất thích Nhớ con sông quê hương, Chiêm bao, Hà Nội vắng em, Bài thơ tình ở Hàng Châu. Và ở cái tuổi ‘nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò’ của tôi ở Quy Nhơn tôi đã mê Những ngày nghỉ học, sao mà dễ thương, lãng mạn đến như vậy!”
Nhà thơ Tế Hanh nắm chặt tay tôi: “Cám ơn Giang Nam. Còn ở Hà Nội thì nhớ ghé thăm tụi mình ở 10 Nguyễn Thượng Hiền. Mình và Nguyễn Văn Bổng ở tầng một, sát cạnh nhau.”
Những năm sau đó, khi tôi được điều động ra Hà Nội công tác ở Hội Nhà văn, tôi vẫn thường đến thăm các anh, nghe các anh góp ý kiến và những kinh nghiệm về công tác chuyên môn, công tác quản lý tổ chức, về chất lượng tác phẩm, về tuần báo Văn Nghệ mà tôi là tổng biên tập. Đặc biệt chính anh Tế Hanh với tư cách là người cùng quê Khu V đã giúp tôi hiểu thêm về Hà Nội, về con người Hà Nội, về cách ứng xử... khi tôi còn là một anh “lính mới”. Có thời gian anh và tôi cùng là thành viên Hội đồng Thơ Hội Nhà văn Việt Nam gồm Xuân Diệu, Hoàng Trung Thông, Tế Hanh, Giang Nam, Hữu Thỉnh (1984-1989). Tôi học được ở anh rất nhiều điều bổ ích: trầm tĩnh và sâu sắc, sắc bén trong nhận định. Cho đến ngày anh và anh Bổng lâm bệnh nặng còn tôi thì đã về công tác ở Khánh Hòa, mỗi lần ra Hà Nội tôi đều ghé số 10 Nguyễn Thượng Hiền, nơi tôi có những người anh, người bạn trọn đời yêu thương, quý mến nhau để thăm hỏi sức khỏe và mang đến các anh những món quà nhỏ của Nha Trang mà các anh rất thích.
Cách đây hơn một tháng, tôi được mời ra dự cuộc họp mặt lớn của các nhà văn nhân kỷ niệm Nghìn năm Thăng Long – Hà Nội. Khi tuổi đã ở buổi xế chiều mà được về lại thủ đô, thăm thú cảnh quan và bạn bè ngày xưa thì đó là một hạnh phúc lớn. Nhân dịp này tôi đã chọn ngày 10-10-2010, ngày đại lễ kết thúc các hoạt động kỷ niệm để viếng mộ anh ruột tôi, một tiến sĩ ngữ văn đang yên nghỉ ở nghĩa trang Thanh Tước. Đây là lần đầu tiên tôi đến nghĩa trang này (do các cháu, con anh chị tôi đưa đi). Anh và chị dâu tôi đã mất, tôi trở thành người lớn nhất trong gia đình, thay mặt những người đã ra đi để động viên và giúp đỡ các cháu.
Chiều hôm ấy chúng tôi có mặt ở nghĩa trang. Lần theo các bia mộ ở hàng thứ nhất từ trên xuống, tôi tìm được mộ của anh tôi ô đầu hàng. Trong lúc chờ các cháu sắp đặt hương, hoa tôi tiếp tục thăm các ngôi mộ còn lại cùng hàng. Bất ngờ cách mộ anh tôi bốn ngôi mộ; một tấm bia đập vào mắt tôi: TẾ HANH nhà thơ (1921-2009). Tôi dừng lặng, bồi hồi và nước mắt trào ra. Và điều kỳ diệu thứ hai đã xảy ra: ở hàng thứ năm từ trên xuống, tôi đã gặp bia mộ của tác giả Núi Đôi: VŨ CAO, nhà thơ (1922-2007). Tôi đốt hương cắm lên từng ngôi mộ và khấn thành tiếng: “Các anh đã yên nghỉ nơi đây, bên nhau như hồi còn sống để gia đình, con cháu và bạn bè biết nơi thăm viếng. Phía sau nỗi mất mát lớn lao là niềm vui lớn lao đã cống hiến những gì đẹp nhất của đời mình cho quê hương, đất nước. Bên cạnh hai nhà thơ nổi tiếng là nhà ngôn ngữ học cũng nổi tiếng. Nếu thích, các anh có thể tiếp tục những cuộc đàm đạo, tranh luận về văn học, về thơ...” Các cháu nghe tôi khấn đều ngạc nhiên và che miệng cười. Chúng cắm thêm hương, đặt những cành hoa hồng lên mộ những nhà thơ mà chúng cũng yêu như tôi.
Về đến Nha Trang, tôi tỉ mẩn mở “kho tài liệu quý” của mình để tìm các kỷ niệm của bạn bè văn nghệ sĩ: thư từ, tác phẩm còn giữ lại được. Về nhà thơ Tế Hanh, tôi có ba tập thơ tự tay anh đề tặng cho tôi. Lạ một điều (không biết tình cờ hay cố ý) anh đã chọn thời điểm Mùa xuân để tặng thơ: Mùa xuân 1977 (tập thơ Giữa những ngày xuân), mùa xuân 1986 (tập thơ Bài ca sự sống) và mùa xuân 1988 (Tuyển tập thơ Tế Hanh). Tôi hiểu anh rất yêu mùa Xuân, mùa của đất trời đổi mới, mùa của sức trẻ, của tuổi HOA NIÊN như tên tập thơ đầu tiên của anh.
Cuối đông 2010
Giang Nam
Nhà thơ Tế Hanh
• Sinh ngày 20 tháng 6 năm 1921
• Quê quán: xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
• Đời hoạt động: Tham gia Cách mạng tháng 8-1945. Đã trải qua các công tác văn hóa, giáo dục ở Huế, Đà Nẵng. Năm 1948, ở trong Ban phụ trách Liên đoàn Văn hóa kháng chiến Nam Trung bộ. Ủy viên thường vụ Chi Hội Văn nghệ Trung ương. Năm 1957 khi thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, là Ủy viên thường vụ Hội khóa I, II. Ủy viên thường vụ Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam (1963), tham gia nhiều khóa Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, giữ các chức vụ: Trưởng ban đối ngoại (1968), Chủ tịch Hội đồng dịch (1983) Chủ tịch Hội đồng thơ (1986).
• Mất ngày 16 tháng 7 năm 2009 tại Hà Nội
• Tác phẩm chính đã xuất bản: Các tập thơ Hoa niên (1945), Hoa mùa thi (1948), Nhân dân một lòng (1960), Bài thơ tháng bảy(1961), Hai nửa yêu thương (1963), Khúc ca mới (1966), Đi suốt bài ca (1970), Câu chuyện quê hương (1973), Theo những tháng ngày (1974), Giữa những ngày xuân (1977), Con đường và dòng sông (1980), Bài ca sự sống (1985), Tế Hanh tuyển tập (1987), Thơ Tế Hanh (1989), Vườn xưa (1992), Giữa anh và em (1992), Em chờ anh (1994), Tưởng nhớ nhà thơ Tế Hanh (2010).
• Giải thưởng văn học: Giải Tự lực văn đoàn năm 1939. Giải thưởng Phạm Văn Đồng do Hội Văn nghệ Liên khu V tặng. Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật đợt I, năm 1996.
Chuyện tình yêu khó nói lắm anh ơi...
Tôi biết nhà thơ Giang Nam qua bài thơ Quê hương từ thuở nhỏ. Tên tuổi và tác phẩm của ông lừng lững trên thi đàn được tôi chép vào sổ tay thơ với những bài thơ đi cùng năm tháng khác. Mãi đến gần đây, do yêu cầu công việc nên tôi mới có dịp nhiều lần đến căn nhà số 46 Yersin của vợ chồng ông nằm yên bình giữa thành phố biển Nha Trang (Khánh Hòa). Quả thực, lần đầu tiên được diện kiến, tôi không khỏi bất ngờ vì Giang Nam lại có nhân dạng tướng mạo khá cứng cáp so với cái tuổi tám mươi nhăm của một đời người...
Tình yêu và dâu bể
Tôi muốn gặp nhà thơ Giang Nam nhưng lại không gọi điện hẹn trước. Chính vì vậy, nên lần đầu tiên đến, tôi không gặp được nhà thơ, ông bận đi họp cán bộ hưu trí ở phường. Cũng may, nhờ thế mà tôi được trò chuyện với vợ nhà thơ Giang Nam là bà Phạm Thị Triều. Trước mặt tôi, một người phụ nữ đã ngoài tám mươi nhưng rất đẹp lão, dáng người mảnh cao, gương mặt hiền từ phúc hậu, đôi môi hồng và giọng nói đặc sệt đất phố Nha Trang. Hơn một giờ đồng hồ trò chuyện, bà kể cho tôi nghe đủ điều. Niềm vui của bà thể hiện rõ nhất về chuyện hai vợ chồng bà còn mạnh khỏe, Giang Nam vẫn đọc sách và sáng tác bình thường. Trong dòng hoài niệm bềnh bồng đan xen những mẫu chuyện đứt nối, bà nhớ lại câu chuyện tình yêu của hai người.
Ngày ấy, cô bé Phạm Thị Triều sống với gia đình ở phường Vĩnh Trường (Nha Trang). Vừa mới lớn, Triều theo chị gái lên vùng căn cứ Đồng Bò hoạt động cách mạng rồi một thời gian sau được điều về làm ở khối Dân chính của Tỉnh ủy Phú Khánh, đóng ở Đá Bàn. Chính nơi đây, cô đã gặp chàng trai Nguyễn Sung (tên thật của Giang Nam). Mười sáu tuổi, Sung vừa nghỉ học từ Quy Nhơn về vì Nhật đảo chính Pháp (8-1945), trường đóng cửa. Anh trở lại xã Vạn Thắng quê nhà tham gia công tác thông tin tuyên truyền. Nhờ công tác phong trào và viết báo tốt, khoảng đầu năm 1954, anh được điều về căn cứ Đá Bàn.
Dù tình trong như đã nhưng hồi ấy chuyện yêu đương trong cùng tổ chức rất nghiêm ngặt. Tuy nhiên, tình trai gái không thể giấu được ai. Cũng may, mọi người đều thương nên trước ngày anh ra Bình Định tham gia Đoàn sĩ quan liên bộ đình chiến, chuẩn bị cho việc ký kết Hiệp định Genève, đơn vị đã tổ chức đám cưới cho hai người. Vợ chồng trẻ ở với nhau được hai ngày thì Nguyễn Sung lên đường. Không ngờ đây là cuộc chia ly không hẹn ngày về, tình vợ chồng từ đây xa cách, trải qua nhiều dâu bể...
Sau tháng 7-1954, Nguyễn Sung trở lại hoạt động ở Nha Trang nhưng đôi vợ chồng trẻ vẫn không thể gặp nhau vì nguyên tắc bí mật cách mạng. Đến 1958, tổ chức chuyển vùng công tác cho cả hai vào Biên Hòa, vợ chồng mới sống bên nhau. Trong hồi ký Sống và viết ở chiến trường, Giang Nam viết: “Chúng tôi thuê một căn nhà lá trong một xóm nghèo ở Biên Hòa để ở. Hằng ngày vợ tôi bán bánh bò ngoài chợ, tôi làm công cho một tư sản thầu khoán người Việt. Tuy cuộc sống nghèo khổ nhưng chúng tôi rất vui vì bốn năm sau ngày cưới mới có dịp gặp nhau. Rồi vợ tôi sinh một cháu gái. Đó là nỗi vui mừng của tôi. Tuy nhiên công việc của người chủ gắn với mỏ đá ở Long Khánh nên tôi thường xuyên xa nhà... Khi con tôi được vài tháng tuổi thì tỉnh ủy Phú Khánh rút tôi về lại.” Đêm anh đi, con gái khóc nhiều. Nghe lời người chủ nhà hỏi về người chồng bỗng dưng vắng mặt, bà Triều phải nuốt nước mắt nói dối rằng ông lên Buôn Ma Thuột làm vì lương rất cao để chủ khỏi nghi ngờ. Chủ nhà tỏ ra giận, trách anh là người chồng chẳng ra gì, ham tiền để vợ con khổ. Thương đứa trẻ khóc hoài, bà chủ nói: “Trẻ nhỏ coi vậy mà khôn lắm, nó nhớ cha nó đó. Cô coi cái áo nào của chú đắp cho nó ngủ.” Không biết vì mùi mồ hôi quen thuộc hay vì cái gì khác mà con bé sau đó nín khóc và ngủ được. Chi tiết này, sau được Giang Nam đưa vào bài thơ Lá thư thành phố: Con vẫn ăn chơi, em vẫn khỏe/ Anh yên lòng nhé chốn xa xăm/ Dây bầu sai trái bên đầu ngõ/ Vẫn đợi anh về hái nấu canh/ Con nhớ anh thường đêm biếng ngủ/ Nó khóc làm em cũng khóc theo/ Anh gửi về em manh áo cũ/ Đắp cho con đỡ nhớ anh nhiều...
Giang Nam về Khánh Hòa, bà Triều ở lại vừa hoạt động 
bí mật, vừa nuôi con một mình. Một đêm năm 1959, 
địch ập vào bắt mẹ con bà Triều giải đi.
Cảm xúc quê hương
Câu chuyện giữa tôi với bà Triều tại căn nhà số 46 Yersin được tiếp tục bằng chi tiết “cô bé nhà bên” trong bài thơ Quê hương. Bà nói, có nhiều người thắc mắc hỏi, cô gái đó có phải là tôi hay một người con gái nào khác, nếu là tôi sao lại có câu “giặc bắn em rồi quăng mất xác”, nói rồi bà cười tươi hạnh phúc...
Câu chuyện này, được Giang Nam kể tường tận, chi tiết trong những lần gặp sau. Theo Giang Nam, khi vợ con bị bắt, tổ chức đã cho người dò la tung tích nhưng không tìm ra manh mối. Một buổi chiều, đồng chí phó bí thư tỉnh ủy đã gọi ông lên chỗ làm việc, anh hỏi về tình hình công tác sức khỏe với một thái độ trìu mến. “Tôi linh cảm có điều không lành xảy ra mà anh đang giấu tôi. Quả nhiên sau đó anh nói thật: tin của cơ sở trong thành vừa báo cho biết, vợ và con gái tôi bị địch bắt trước đó hơn một năm đã bị chúng thủ tiêu trong nhà tù tại Phú Lợi, Sài Gòn. Tôi choáng váng trước cái tin đột ngột như trời vừa sập xuống đầu mình. Tôi không đủ can đảm hỏi điều gì nữa.” Và đêm đó, dưới chân núi Hòn Dù cách thành phố Nha Trang bốn mươi cây số về phía Tây, nơi đóng căn cứ bí mật của tỉnh ủy, Giang Nam ngồi trong căn chòi nhỏ của mình dưới tán lá rừng, bên ngọn đèn dầu lù mù được che kín cả ba mặt, chỉ trừ một chút ánh sáng rọi trên trang giấy, ông đã viết bài thơ Quê hương. “Hầu như tôi viết một mạch không xóa sửa, hình ảnh cứ như được sắp sẵn và hiện ra đầu ngọn bút. Từng đoạn nước mắt tôi cứ trào ra, nhất là hai câu cuối cùng của bài: Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/ Có một phần xương thịt của em tôi.” Y như máu thịt của người yêu đã hóa thành hạt bụi trộn vào mỗi hòn đất dù nhỏ nhất trên trái đất này. Thật tình, trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn của cách mạng miền Nam, cái sống và cái chết chỉ cách nhau một sợi tóc, Giang Nam không có ý định làm một bài thơ tình đòi hỏi sự tinh tế, chắt lọc đến cao độ. “Tôi cũng không ngờ bài thơ tôi viết trong giây phút đau đớn của đời mình lại thành một bài thơ tình yêu được nhiều người đọc và yêu thích.”
Người thẩm định Quê hương đầu tiên chính là người báo hung tin trên. Bài thơ ký bút danh Giang Nam và được tác giả gửi ra Hà Nội cho báo Thống Nhất, một tờ báo được Trung ương chuyển vào Nam lúc đó. Giang Nam gửi bài thơ đi vì hy vọng nó được in báo. Khoảng tháng năm, năm 1961, trên đường công tác ở huyện Khánh Sơn, Giang Nam nghe Đài tiếng nói Việt Nam công bố giải thưởng thơ 1960-1961 của tạp chí Văn Nghệ. Ông mừng không thể tả vì Quê hương được giải nhì (không có giải nhất). Theo lời nhà phê bình Hoài Thanh, bài thơ Quê hương từ miền Nam gửi ra cho báo Thống Nhất, các anh bên báo thấy bài thơ hay, phù hợp với tình hình miền Nam nên gửi qua dự thi và được giải nhì. Sau này, Giang Nam nhận được một bức thư của nhà thơ Hoàng Trung Thông từ Hà Nội, thư có đoạn viết: “Thân gửi bạn Giang Nam. Sau ba tháng làm việc, ban giám khảo cuộc thi thơ đã chấm và chọn xong những tác phẩm được giải. Hôm nay chúng tôi rất sung sướng báo tin trước để anh rõ bài thơ Quê hương của anh đã được ban giám khảo tặng giải nhì...”.  
Giang Nam cứ đinh ninh rằng vợ con đã bị địch giết, không ngờ sau ba năm mất tung tích, năm 1962 vợ con được địch thả về do không tìm ra lý do buộc tội. Gia đình được đoàn tụ nhưng ngay sau đó, Giang Nam lại được điều lên bổ sung cho Ban Tuyên huấn Khu. Vậy là vợ chồng con cái phải tạm chia tay nữa để Giang Nam về cơ quan mới đóng tận vùng giáp ranh Đăk Lăk. Sau đó ông được cử đi học Trường Đảng do Trung ương cục miền Nam mở ở Tây Ninh và được giữ lại làm phó tổng thư ký Hội Văn nghệ giải phóng. Năm 1968 bà Triều và con gái lại bị bắt lần hai do lộ đầu mối. Bà Triều kể: “Hai mẹ con tôi bị địch buộc tội, đưa ra tòa mấy lần nhưng không thành là nhờ một luật sư tốt bụng bào chữa giúp. Chính vì thế mà không bị đày ra Côn Đảo.” Đến sau hiệp định Paris (1973) được ký kết bà mới được trả về. Sau ngày giải phóng, vợ chồng Giang Nam tìm người luật sư này khắp nơi để trả ơn nhưng không gặp.
Tuổi già hạnh phúc
Sau khi đất nước thống nhất, vợ chồng Giang Nam vẫn phải sống xa cách. Ông tiếp tục hoạt động kiện toàn các tổ chức văn nghệ của Sài Gòn, bà Triều công tác tại Nha Trang. Năm 1978, Giang Nam được điều ra Hà Nội phụ trách mảng văn nghệ miền Nam kiêm Tổng biên tập báo Văn Nghệ. Nói về thời gian này, bà Triều tâm sự: “Ông động viên tôi ra Hà Nội ở. Tôi ra nhìn thấy cảnh ông ăn ở tạm bợ khổ cực ở cơ quan Văn nghệ số 65 Nguyễn Du tôi đã òa khóc.” Do cuộc sống và thói quen nên bà Triều không thể ở miền Bắc được. Vậy là hai người phải chịu cảnh kẻ Nam người Bắc. Sau đó một thời gian, tỉnh Khánh Hòa xin Trung ương điều Giang Nam về công tác tại tỉnh nhà. Về quê hương, ông đảm đương cương vị Phó Chủ tịch Tỉnh giai đoạn 1989-1993, nhiều năm Giang Nam là Chủ tịch Hội Văn nghệ Phú Khánh và Khánh Hòa, đại biểu Quốc hội khóa 6 (1976-1981).
Từ đây, cuộc sống gia đình Giang Nam mới được đoàn tụ thật sự. Căn nhà của vợ chồng ông đang ở được bà Triều mua lại của một người quen từ trước giải phóng. Căn nhà rộng rãi, thoáng mát, phía trước hiên là thư phòng, bên trên có những dò lan ra hoa đều đặn, nơi Giang Nam ngồi đọc báo, sáng tác và tiếp khách mỗi ngày. Trong căn nhà ấy, bất cứ ai bước vào cũng thấy niềm vui và hạnh phúc của một đôi bạn ngoài tám mươi mà vẫn vui vẻ tình tứ như thuở nào. Ông bà sống giản dị điềm đạm nhưng qua cách tiếp khách cũng đủ thấy họ trọng nghĩa tình. Trong căn nhà ấy, ngày ngày cô con gái duy nhất của ông bà hai lần vào tù cùng mẹ nay đã là một phụ nữ thành đạt vẫn về bên cha mẹ. Có lẽ ông trời đã cho vợ chồng Giang Nam chữ thọ để họ được hạnh phúc bên nhau trọn vẹn những năm cuối đời, bù lại những gì đã mất mát phải gánh chịu trong chiến tranh. Người viết bài này cũng cầu mong cho ông bà sức khỏe để được ở bên nhau đến trên trăm tuổi già.
Đào Tấn Trực
Nhà thơ Giang Nam
• Tên khai sinh: Nguyễn Sung
• Sinh ngày: 2-2-1929
• Quê quán: xã Ninh Bình, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa
• Tham gia Cách mạng từ tháng 8 năm 1945, làm Phó Trưởng ty Thông tin tỉnh Khánh Hòa. Sau hiệp định Genève ở lại miền Nam làm Phó ban Tuyên huấn Tỉnh ủy, Phó Tổng thư ký Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam, Ủy viên Ban Tuyên huấn khu Sài Gòn – Gia Định. Sau 4-1975 là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa 2 và 3. Tổng biên tập báo Văn Nghệ, Trưởng ban đối ngoại Hội Nhà văn Việt Nam. Đại biểu Quốc hội khóa VI. Chủ tịch Hội Văn nghệ Phú Khánh và Khánh Hòa (1984-1989), Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hòa (1989-1993).
• Tác phẩm chính: Tháng Tám ngày mai (thơ, 1962); Quê hương (thơ, 1965); Người anh hùng Đồng Tháp (trường ca, 1969); Vầng sáng phía chân trời (thơ, 1975); Hạnh phúc từ nay (thơ, 1978); Thành phố chưa dừng chân (thơ, 1985); Ánh chớp đêm giao thừa (trường ca, 1998); Sông Dinh mùa trăng khuyết (trường ca, 2002); Lắng nghe thời gian (thơ, 2008); Vở kịch cô giáo (truyện, 1962); Người Giồng Tre (truyện, 1969); Trên tuyến lửa (truyện ký, 1984); Rút từ sổ tay chiến tranh (truyện ký, 1987); Sống và viết ở chiến trường (hồi ký văn học, 2004)...
• Giải thưởng: Giải nhì tạp chí Văn Nghệ (1961), với bài thơ Quê hương. Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu (1965) với tập thơ Quê hương. Giải thưởng Văn học nghệ thuật Khánh Hòa 1975-2000 về thơ; Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, đợt 1 (2001) với ba tập thơ Quê hương, Hạnh phúc từ nay, Thành phố chưa dừng chân; Giải thưởng Văn học nghệ thuật Khánh Hòa (2002) cho trường ca Sông Dinh mùa trăng khuyết. Tặng thưởng của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam năm 2002 cho trường ca Sông Dinh mùa trăng khuyết. Giải thưởng Văn học nghệ thuật Khánh Hòa 2001-2005 cho hồi ký Sống và viết ở chiến trường.
Ngoảc đếnh cùng nhà thơ Nông Viết Toại
Ngoảc đếnh, tiếng Tày nghĩa là NGOÁI NHÌN là tên tập thơ tiếng Tày (không dịch ra tiếng Việt) của nhà thơ Nông Viết Toại, xuất bản năm 2006, nhân kỷ niệm 80 năm ngày sinh (ông sinh ngày 15- 5-1926). Tập thơ mỏng nhưng “dày” về chữ nghĩa, “dày” chất thơ! Tôi và nhà nghiên cứu Văn hóa – văn nghệ Vương Hùng viết lời giới thiệu bằng tiếng Tày in ở đầu sách. Cuối năm 2012 tôi trở lại Bản Áng, tỉnh Bắc Kạn thăm ông. Bảy năm sau ngày Ngoảc đếnh ra đời nhìn lại tám mươi năm cuộc đời và thơ, giờ ông vẫn như xưa: Vui vẻ, hóm hỉnh, chân tình, yêu quý con người!
Nhà thơ Dương Khau Luông, chủ tịch Hội Văn học – Nghệ thuật Bắc Kạn nói với tôi rằng, khi đưa bản thảo tập thơ tuyển (tiếng Tày) cho Hội, nhà thơ tự đặt hai tên sách là Ngoảc đếnh và Nặm Lìn (Nước Dây) để Hội chọn lấy một! Điều này cho thấy ông rất tôn trọng bạn bè văn nghệ, nhưng cũng cho thấy một chút vẻ tự ti (hay khiêm tốn!). Ấy là bản tính cố hữu trong ông như ông tự nhận “Người ta thường nói người có tài cũng thường có tật. Với tôi, tài chẳng có mà tật thì lắm. Có lẽ không bỏ qua lần nào, khi gặp nhau trò chuyện mà anh (nhà thơ Nông Quốc Chấn) không nhắc đến cái tật khá cơ bản của tôi là thường mang nặng tư tưởng nhu nhược, tự ti, thiếu tự tin. Từ công tác đến làm thơ văn”. (Tuyển tập Nông Viết Toại, nhà xuất bản Văn Hóa – Thông Tin, 2005, trang 326).
Nhà thơ Nông Viết Toại là em trai ruột nhà thơ hào hoa, tài cao và thành đạt Nông Quốc Chấn. Có lẽ cảm thấy mình bị “cớm bóng” bởi người anh nổi tiếng nên ông lại càng tỏ ra tự ti. Đây lại thêm một “bằng chứng”: “Năm 1971 hai anh em (Nông Quốc Chấn và Nông Viết Toại) được gặp nhau, cũng đến dự cuộc họp của Sở Văn hóa khu Việt Bắc tổ chức ở huyện Trùng Khánh (Cao Bằng). Anh em tôi buổi trưa đi dạo phố chợ Cô Sầu trở về. Đồng chí trưởng ty văn hóa đang đi tới phía trước. ‘Gần tuổi năm mươi mà ông anh vẫn dáng thư sinh lắm. Còn ông em, thì...’. Tôi cướp lời ông trưởng ty điền luôn... ‘Thì cũng trắng trẻo như củ tam thất mười phần mười chứ gì...’ Cả ba chúng tôi cười.” (Tuyển tập Nông Viết Toại – trang 328)
Ông không hề bị “cớm bóng” bởi anh trai mình, ít nhất là trong mảng thơ Tày. Nhà nghiên cứu Vương Hùng nhận xét thật tinh: “Thơ Nông Viết Toại chọn được những ý hay, lời hay, nhất là từ lấp láy, đặt đắc địa trong câu thơ, bài thơ như những hạt đá quý đính đúng chỗ trên tấm lụa đẹp! Đó mới thực là thơ Nông Viết Toại: Không giống ai, không lẫn lộn với những thứ thơ khác, đó chính là những từ Tày gốc, khác xa những thứ Tày pha, Tày giả vờ, Tày Lưu quan...” (lời giới thiệu Ngoảc đếnh).
Thơ Nông Viết Toại “không giống ai” còn ở giọng thơ đậm chất uy-mua (hài hước, hóm hỉnh, humour) như trong các bài: Tốc Khóa – Mất quần; Tả lảo bâư – Bỏ thuốc lá v.v. Giọng thơ ảnh hưởng từ Slấy Hậu (nhà thơ Tày nổi tiếng Hoàng Đức Hậu), thầy dạy chữ, dạy thơ cho mấy anh em ông. Nói như vậy không có nghĩa học với thầy Hậu thì thơ giống thơ thầy Hậu. Điều cốt yếu là tố chất thơ nơi ông, chất uy mua có lẽ bắt đầu từ tên khai sinh bố mẹ đặt cho ông: Nông Đình Hân! – chữ Hân bắt nguồn từ tiếng Tày: Hôn Hỉ (vui vẻ), chứ không có nghĩa Hân là con cáo!... Vùng Cốc Đán – huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn (trước đây thuộc tỉnh Cao Bằng) là một vùng đất Văn, bằng chứng rõ nhất là ở mẩu đất chật hẹp đó (mà Nông Viết Toại bảo là: khặp khẹp) có đến ba nhà thơ, nhà văn nổi tiếng: Nông Quốc Chấn, Nông Viết Toại, Nông Minh Châu. (Nhà văn Nông Minh Châu là anh em con dì, con già với nhà thơ Nông Quốc Chấn, Nông Viết Toại)...
Cũng nên “ngoảc đếnh”, nhìn lại những chặng đường Đời và Thơ của nhà thơ Nông Viết Toại: Năm 1947 bắt đầu có thơ. Năm 1952 ông được cử phụ trách đoàn Văn công Liên khu Việt Bắc, ông viết kịch, viết truyện ngắn, đặt lời cho các điệu dân ca dân tộc (như bài Then Rặp xuân, đến nay vẫn được nhiều nghệ sĩ biểu diễn, thu băng). Mười lăm năm làm trưởng đoàn Nghệ thuật ca múa nhạc Việt Bắc, nhiều năm làm việc tại Sở Văn hóa khu tự trị Việt Bắc và Hội Văn nghệ Việt Bắc rồi giữ chức vụ giám đốc bảo tàng Văn hóa các dân tộc... Đóng góp của Nông Viết Toại cho đời sống văn hóa các dân tộc là không nhỏ và những tác phẩm thơ, văn, tiểu luận, sưu tầm, biên khảo của ông đã góp phần làm giàu thêm vốn văn hóa, văn nghệ miền núi, dân tộc.
Thành tựu thơ đến với ông rất sớm. Ngay từ năm 1957 ông đã in ba cuốn sách: Sloại slóc vứt pây, Hai em bé mồ côi, Nam Kim – Thị Đan. Với “số vốn” ban đầu đó, năm 1958, ông được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam, chỉ sau đợt đầu (năm 1957) gồm những thành viên sáng lập! Ông kể chuyện vui: “Mình vào Hội năm 1958 cùng các nhà thơ Hoàng Hạc, Cầm Biêu... Vậy mà năm 1985, ông Chính Hữu, nhắc mình viết đơn xin vào Hội!” Tôi chỉ tủm tỉm cười vì chuyện vào hội cũng lắm điều vui, kể như, điều lệ Hội Nhà văn Việt Nam ghi rõ: Ai muốn vào hội, cần có ít nhất hai cuốn sách được xuất bản – đó là Luật! Vậy mà có người “mưu cao” chỉ có một đầu sách mà vẫn “lách” được vào Hội. Tài đến thế là cùng!
Nông Viết Toại là người không ngần ngại nói thật! Mới nhất là trong bản tham luận ông viết cho hội thảo Then Tày, (viết xong ngày 1-12-2012) ông phê phán sự phóng đại quá mức Then Tày: “Năm 1973 Sở Văn hóa khu Việt Bắc có tổ chức đợt sưu tầm giới thiệu Then tương đối quy mô, kế hoạch. Đợt sưu tầm chủ yếu cũng là ở huyện Hòa An – Cao Bằng. Đợt này do đồng chí Nông Văn Hoản – Phó Giám đốc Sở Văn hóa khu trực tiếp điều hành kế hoạch, kết quả cũng chỉ sao chép phần lời. Nhóm sưu tầm phần nhiều thuận tay với phần văn học. Nhà văn Nông Minh Châu có giới thiệu trên tờ tạp chí Văn Nghệ Việt Bắc chương Khảm Hải (Vượt biển). Sau đó các ông Hoàng Quý, Vi Quốc Bảo dựa trên đó có phần phóng đại như một tác phẩm văn học Tày cổ là quá mức. Thực ra Khảm Hải chỉ là một chương, đoạn của một đêm Then, thậm chí có bạn do thiếu tìm hiểu kỹ đã có ý muốn xếp Khảm Hải ngang Sống Chụ son sao (Tiễn dặn người yêu) của đồng bào Thái!”
Thật là một “phát hiện” và “cải chính” bất ngờ!
Nhà thơ Nông Viết Toại đam mê sưu tầm, nghiên cứu vốn cổ dân tộc và ông đã có nhiều thành công ở lĩnh vực này. Truyện thơ Nam Kim – Thị Đan do ông sưu tầm và biên dịch được in năm 1957 vẫn là một công trình đến nay chưa hề cũ! Ở nhà ông còn lưu giữ nhiều văn bản Nôm Tày in trên giấy bản xám, mốc. Năm 2006, ông tặng tôi bản dịch TRUYỆN KIỀU của dịch giả Thân Văn Lư dịch ra tiếng Tày. Tôi đem về cho bà Thân Thị Kim Liên (con gái cụ Thân Văn Lư) in ra sách vào năm 2008. Đợt này nhà thơ Nông Viết Toại lại cho tôi “mượn vĩnh viễn” nhiều bản Nôm Tày để tôi nghiên cứu, biên dịch. Tôi chỉ biết cám ơn ông về cái tình mà ông dành cho tôi.
Ông là một người chịu nhiều mất mát. Vợ ông bị bệnh tim, ốm đau liên miên và đã mất cách đây hai mươi chín năm. Hai mươi chín năm lẻ bóng, ông gồng mình sống vui, sống khỏe, tiếp tục cống hiến, gây dựng và làm chỗ dựa cho con cháu. Nghỉ hưu ông về Bắc Kạn làm căn nhà nhỏ trong lũng ở. Nhà nước cấp cho ông một mảnh đất tại thị xã, ông có năm mươi triệu đồng từ chính sách đãi ngộ lão thành cách mạng, vay mượn thêm xây được căn nhà... chẳng may con cháu vướng vào chuyện tiền nong ông đành bán rẻ căn nhà để trả nợ. Tuổi già, ông sống với người con trai thứ hai ở Bản Áng, nào ngờ con trai ông năm 2006 tai biến mạch máu gần như nằm liệt, thân già lại phải ra tay “chăm sóc”. “Cuộc đời nhiều khi quay ngược, mình buộc phải quay theo. Biết làm sao!” Ông nhìn nhận vẻ cay đắng, nhưng không sầu, không bi.
Đời ông chẳng như tên ông nên khi viết văn ông đổi tên từ Nông Đình Hân ra Nông Viết Toại mong được một chút toại nguyện. Nhà nghiên cứu Vương Hùng luận về chữ Viết Toại như thế này: “Viết là nói, Toại là bình tâm, vừa lòng. Đúng như thế, thơ Nông Viết Toại viết ra hợp với tâm, vừa với lòng của người Tày – Nùng ở bốn phương. Bạn đọc mong được đọc những bài thơ hay của ông. Nhà thơ càng có tuổi thơ càng hay. Không sợ đường xa, sông rộng. Tâm tình ông tỉnh táo, vui vẻ nên ông viết thêm được nhiều bài thơ mới, thơ hay.”
Bản Áng (Vũng sâu), buổi trưa nắng vàng. Nhà thơ Nông Viết Toại tiễn tôi ra tận đầu con đường hẹp, khuất nẻo. Ông nắm tay tôi, giọng xa xăm: “Uyên ạ, Tắc lẻ tâu... nhưng Pâu cả váo cẩn trọng! Cẩn trọng!” – Ông giảng giải thêm “Gãy đứt thì nối lại nhưng chắc mối nối sẽ xù xì, không chắc, không đẹp như cũ. Hãy suy tính cho thật thấu đáo.” Tôi sững người! Đây là lời khuyên của bậc cha chú với con cháu, của người anh đối với người em, hay của người bạn với người bạn... Có lẽ là tất cả! Đó chính là kinh nghiệm, lời tâm sự ông chắt ra từ cuộc đời nhiều mất mát, khổ đau của ông dành cho tôi.
Tôi “ngoảc đếnh” nhìn dáng đi của nhà thơ già nhẹ nhàng, thanh thoát. Nghe giọng cười vang của ông mà chợt nhớ tới ấp Cầu Đen (Yên Thế) của nhà văn Nguyên Hồng. Bản Áng – Bắc Kạn sẽ giữ mãi Hình ông và Tình ông – Nhà thơ Nông Viết Toại.
Hoàng Quảng Uyên
Nhà thơ Nông Viết Toại
• Tên khai sinh: Nông Đình Hân
• Sinh ngày 15-5-1926
• Quê quán: Xã Châu Khê (nay là Tốc Đán), Ngân Sơn, Cao Bằng
• Dân tộc: Tày
• Tháng 4-1942: vào Hội Việt Minh ở xã Tốc Đán. 1945: phụ trách một xã, sau đó tham gia đội tuyên truyền kháng Nhật ở huyện. 1946: trưởng phòng Thông tin huyện, kiêm cán bộ huyện ủy (Huyện bộ Việt Minh, do Đảng chưa ra công khai). 1947-1951: Phó Bí thư, Bí thư huyện ủy Ngân Sơn và Na Rì. 1952-1966: đội trưởng Văn công Bắc Kạn, trưởng đoàn Văn công nhân dân Khu Việt Bắc. 1966-1976: Sở văn hóa Khu, Hội Văn nghệ Việt Bắc. 1977-1988: Trưởng phòng Giáo vụ Trường Văn hóa nghệ thuật Việt Bắc, Giám đốc Bảo tàng văn hóa các dân tộc (thành phố Thái Nguyên).
• Tác phẩm chính: Slại sloá vít pây cằm đây củng cỏ (Xấu xa bỏ đi, điều lành trò chuyện, thơ Tày); Kin ngày phuối khát (Ăn ngay nói thẳng), thơ châm biếm Tày, 1956); Đét chang nâư (Nắng ban trưa, thơ tiếng Tày, 1976); Đoạn đường ngoặt (truyện ngắn, dịch từ tiếng Tày, tập Boỏng tàng tập éo, 1982).
Trò chuyện với một trưởng lão
Cầm trên tay ba cuốn sách mới Chế Lan Viên – Người trồng hoa trên đá, Huy Cận – Ngọn lửa thiêng không tắt và Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi, lại nghe chính tác giả cho biết sắp tới ông sẽ in tiếp cuốn về Tế Hanh nữa, tôi không khỏi ngỡ ngàng. Trước đó là Nam Cao, Tô Hoài, là Hồ Chí Minh, là Tố Hữu. Mới gần đây là Xuân Diệu. Ông thích và đã viết về Nguyễn Bính với cuốn Nguyễn Bính thi sĩ của đồng quê (1994) nhưng tiếc là không được gặp tác giả. Sau này ông viết về những người mình đã gặp, đã trò chuyện. Hễ ai có công với văn chương Việt Nam, con người này hình như đều không quên. Với sức làm việc như thế này, chắc gì mấy người trẻ theo nổi một ông già đã bảy mươi sáu, xưa nay hiếm. Mà đâu chỉ sức làm việc, còn cả tấm lòng, cả sự cần mẫn với con đường đã chọn. Những con người như Hà Minh Đức liệu giờ còn được bao nhiêu? Hiếm quá. Tự nhiên thấy ngậm ngùi...
Tôi có duyên nợ với Hà Minh Đức từ hồi còn mười chín, đôi mươi. Hồi ấy ông dạy tôi ở Khoa Ngữ văn – Đại học Tổng Hợp Hà Nội. Cách nhau ít tuổi nhưng hồi ấy thầy ra thầy, trò ra trò, giữa ông và chúng tôi có cái khoảng cách mà sự “kính nhi viễn chi” tạo ra, không dễ vượt qua. Nhưng dù xa cách, tôi vẫn nhớ như in những buổi sáng, ông bước cao bước thấp đường ruộng xóm núi đến lớp Văn khóa 8 của tôi, nơi ông làm chủ nhiệm. Bộ quần áo gụ xoàng xĩnh như thầy Hoàng Xuân Nhị, thầy Hoàng Như Mai, thầy Lê Đình Kỵ, thầy Nguyễn Tài Cẩn và rất nhiều thầy giáo, cô giáo trong “dàn thầy học trong mơ” hồi bấy giờ. Giọng đều đều, không ra nói với học trò cũng không ra nói với mình. Và đêm đến, trong căn nhà lợp rạ nơi xóm núi Đại Từ, ngọn đèn dầu trên bàn của Hà Minh Đức sáng rất khuya. Chúng tôi ít ai nghĩ rằng sự nghiệp văn chương của ông bắt đầu từ đó.
- Thưa ông, ông có nhớ đích xác mình đến với phê bình, nghiên cứu từ bao giờ không?
- Tốt nghiệp Đại học Sư Phạm Hà Nội ra, tôi bắt đầu làm nghề dạy học, kể ra đến nay cũng được năm mươi tư năm không đứt quãng trong đó ba mươi ba tuổi đã chủ nhiệm một lớp, đông nhất của trường cũng là lớp sau này thành đạt hiếm có của trường, cho đến năm 1990 thì kiêm nhiệm Chủ nhiệm khoa Báo chí và năm 1995 lại kiêm nhiệm Viện trưởng Viện Văn học trong hơn bảy năm. Tôi chí thú với nghề giáo và tự hào về nó. Ngay đến việc phê bình, nghiên cứu văn chương, cũng từ nghề giáo. Dạy sinh viên, hướng dẫn các thạc sĩ, tiến sĩ (tôi đã hướng dẫn khoảng hai mươi hai tiến sĩ văn học, người gần đây nhất là tiến sĩ Nguyễn Duy Tờ, giám đốc nhà xuất bản Thuận Hóa). Những điều mình chưa biết thì phải tìm tòi, nghiên cứu, lúc đầu chỉ để phục vụ bài giảng, dần dà những điều biết được cứ dày lên, cứ thôi thúc mình tìm hiểu thêm, thế là thành “nhà nghiên cứu”. Cũng phải nói thêm, tôi mê văn và rất trọng văn nữa. Không có tấm lòng, muốn thành công trong văn chương, kể cũng khó. Văn chương nhiều khi rất tình cờ. Như người đãi vàng, có khi đám cát lắng đáy sông nó đãi đằng mình những thứ vô giá.
- Thế còn nhà phê bình, nghiên cứu? Ông có hài lòng về sự tôn xưng ấy không?
- Được gọi như thế là niềm tự hào, là một trách nhiệm. Đấy là một nghề. Gắn với văn học nhưng lại không hoàn toàn phụ thuộc vào văn bản tác phẩm, vào ý muốn của các nhà văn. Ở tinh chất của nó, nó phát hiện, định hướng cho người đọc và định hướng cho người đọc cũng đồng nghĩa với định hướng cho văn học. Tất nhiên là góp phần định hướng thôi, không dám nhận cả.
Nhưng phê bình và nghiên cứu cũng có cái khác nhau đấy. Phê bình thường tức thì. Nghiên cứu được lùi xa hơn, có thì giờ để ngẫm nghĩ, lật đi lật lại và ít chịu áp lực hơn. Phê bình có lớp lang, thế hệ khá rõ. Người làm phê bình không mấy khi vượt qua thế hệ mình và cũng không nên vượt quá thế hệ mình. Biết thế nên đâu như khoảng những năm 80 trở lại đây, tôi thôi viết phê bình, chuyển dần sang nghiên cứu và bây giờ chỉ còn là nhà nghiên cứu. Những cuốn sách gần đây là kết quả của sự nghiên cứu ấy.
Lại như chuyện sáng tác. Thường thì khi trẻ người ta sáng tác, khi về già nghiên cứu. Tôi ngược lại, trẻ đã nghiên cứu, già làm thơ, viết bút ký. Thơ in đến tập thứ năm, cũng là dày dặn. Bút ký sau tập Ba lần đến nước Mỹ, mới đây ra tập Nước Nga thu vàng và miên man tuyết trắng trên nền tư liệu khá ít ỏi nhưng cũng được khen. Tôi ở Nga không nhiều nhưng sống với nước Nga thì nhiều, hơn hàng mấy chục năm, từ thời sinh viên qua các tác phẩm của các nhà văn Nga và bè bạn người Nga. Nhưng tôi biết, thế chứ nhiều nữa, người ta cũng chỉ gọi nhà nghiên cứu Hà Minh Đức chứ không ai gọi mình là nhà thơ hay nhà văn xuôi. Tuy thế tôi vẫn vui. Nhà nọ, nhà kia bây giờ cũng vừa vừa thôi như cách nói hai trong một, ba trong một.
- Phê bình hay nghiên cứu, trọng ở việc khen chê. Người ta có cách ngôn: Ai chê đúng, đó là thầy ta. Ai khen đúng, đó là bạn ta. Người khen ta mà khen không đúng, là kẻ thù của ta đó! Ông thấy sao về câu cách ngôn này?
- Câu đó hay nhưng ở đời mà thực hiện được là rất khó, nhất là trong khen chê văn chương. Có khi muốn khen nhưng phải nói vừa phải. Có khi muốn chê nhưng không tiện. Với lại chuyện khen chê văn chương có bối cảnh của nó. Nhiều người trích dẫn câu này câu nọ, nhưng lại tách nó ra khỏi văn cảnh, ra khỏi bối cảnh xã hội của câu trích đó. Tôi nghĩ như thế là không nên. Tôi thấy Nguyễn Du không trực tiếp chê ai bao giờ, nhưng qua Truyện Kiều, qua thơ chữ Hán, thấy ông khen chê rất rạch ròi. Khen chê còn do tính cách. Cùng một thời, nhưng Tú Xương quyết liệt, sâu cay; Nguyễn Khuyến thâm trầm, chỉ như cười mỉm chứ không bao giờ cười ra tiếng. Tôi đã dành nhiều trang viết cho Hồ Chí Minh, và cả những nhà triết học lớn, lãnh tụ của chủ nghĩa cộng sản như Mác, Ăng ghen, Lê-nin. Những trang viết ấy là công sức nghiên cứu cẩn trọng, khách quan của tôi trong một thời gian dài. Khi bàn về họ, tôi luôn có khen có chê, không một chiều. Tôi chưa bao giờ khen Tế Hanh, Anh Thơ là tài hoa, nhưng khen Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên tài hoa. Ngay với Xuân Diệu là người tôi rất quý mến, trong bài Một hướng đi trong thơviết về Xuân Diệu khi Xuân Diệu còn sống, tôi tỏ ý chê chủ trương thơ “chân chân thật thật” của ông. Gặp tôi, Xuân Diệu bảo: “Người khác với mình như thế là không xong đâu. Nhưng với Hà Minh Đức, thôi cho qua!” Xuân Diệu nói thế có ý trách, nhưng tôi lại coi đó là một lời khen.
Nói như thế không có nghĩa là bảo thủ, mình luôn đúng. Mấy chục năm là một cuộc vận động, một hành trình dài. Tôi cố gắng giữ tính nhất quán và sự thận trọng. Văn chương không thể vội vàng, hùa theo phong trào nhất thời.
- Nhìn lại mấy chục năm văn học nghệ thuật, người ta thấy sự a dua như một căn bệnh. Sáng tác cũng vậy mà phê bình, nghiên cứu cũng vậy. Đánh ai đánh hội đồng mà khen ai cũng khen hội đồng nốt.
- Cho tôi nói về tôi thôi. Tôi không a dua. Không chỉ tôi nói mà người khác cũng nói thế. Trong một bài viết Bạn văn một thời, Nguyễn Đình Thi từng nói: “Hà Minh Đức không bao giờ đánh hôi.” Hồi Nhân văn – Giai phẩm, tôi không viết bài nào dù hồi ấy, cán bộ giảng dạy Đại học Sư Phạm Hà Nội và Đại học Tổng Hợp Hà Nội có các giáo sư Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Trương Tửu và một vài người khác, ngay bên cạnh. Tôi nghĩ mình là sinh viên mới ra trường, chưa hiểu hết lẽ đời lẽ đạo mà vội vã phê phán các thầy sao? Tôi bảo vệ Nguyễn Công Hoan với tác phẩm Đống rác cũ, Tô Hoài với Mười năm. Chắc anh còn nhớ tôi ở cùng Ban liên lạc thơ mới do nhà thơ Huy Cận chủ trì nhằm bảo vệ giá trị của thơ mới, Hà Minh Đức cũng bảo vệ Tự lực văn đoàn từ một cuộc hội thảo thời đổi mới đến xuất bản một tập sách dày dặn về Tự lực văn đoàn vào những lúc khó khăn. Từng sống với không khí văn học thời ấy anh biết, khen được những tác giả, tác phẩm đó phải lội ngược dòng, nghĩa là rất cần sự dũng cảm. Gần đây thôi, tôi viết bài dài ba mươi trang chứng minh Nhật ký trong tù là của Hồ Chí Minh, không thể của ai khác từ một lập luận khách quan, khoa học phê phán lại Lê Hữu Mục với cuốn sách Nhật ký trong tù không phải của Hồ Chí Minh. Bài viết của tôi hình như đã chấm dứt một cuộc rêu rao ầm ĩ không đáng có. Trường hợp cuốn Mác – Ăng ghen về văn học nghệ thuật đến bây giờ, tôi vẫn tâm đắc câu của Đinh Gia Khánh sau khi đọc cuốn này: “Mình tưởng ông nặng về sao chép nhưng đây là một trong số cuốn hay nhất của ông.” Tôi cố gắng nghiên cứu khá kỹ Mác – Ăng ghen – Lênin vì về văn hóa văn nghệ tôi coi đó là những trí tuệ lớn của nhân loại. Gần đây, tôi đã hoàn thành một cuốn nữa về ba ông, đó là cuốn Mác – Ăng ghen – Lênin với báo chí. Khi đưa in, chỉ định in 500 cuốn theo thông lệ nhưng nhà xuất bản đề nghị in 1.500 cuốn, tôi rất mừng. Các vị này còn có thể nghiên cứu tiếp nữa. Chẳng hạn năm 1975, tôi và giáo sư Lê Đình Kỵ tuyển chọn Mác – Ăng ghen bàn về văn học – nghệ thuật (hồi ấy nhà xuất bản đề nghị không ghi tên người tuyển chọn).
Bây giờ, tôi thấy với các nhà kinh điển có thể làm rộng hơn, về cả những vấn đề văn hóa. Tóm lại, với tinh thần khiêm tốn tôi nghĩ tôi là một nhà giáo có chuyên môn và trách nhiệm được tin cậy, một nhà nghiên cứu cần mẫn với những công trình có ích, kiên định với những gì mình đã khen chê. Tôi luôn nhất quán, chỉ có điều sự nhất quán đó, có nhiều cách biểu hiện khác nhau. Tại đại hội của Hội Nhà văn lần thứ IV, có người bảo tôi: Tham luận của anh có tính khoa học nhưng anh bắn lên trời, còn ở đây người ta bắn nhau, người này bắn người kia, nhóm này bắn nhóm kia.” Tôi chỉ cười.
- Xin hỏi một câu hơi riêng tư, ông yêu như thế nào?
- Là người, ai mà không từng yêu. Nhưng tôi xin phép không nói về chuyện này. Tôi là một nhà giáo. Và tôi muốn giữ sự êm ấm, hạnh phúc cho những người yêu mình và mình đã yêu.
- Thế thì đành thôi vậy. Nhưng câu này, chắc ông có thể trả lời, ông có cô đơn không?
- Rất cô đơn. Về đời sống riêng, chắc anh biết rồi. Tôi đang sống với con gái và không nguôi nhớ về cháu trai đã mất. Có lúc vui vẻ nhưng có lúc trống vắng lắm. Vì cô đơn, tôi mới làm việc nhiều vậy. Nhưng nghĩ cho cùng, muốn nghiên cứu, cũng cần một gia đình yên ấm. Về văn nghiệp và cả nghề giáo nữa, tôi không ít thiệt thòi. Tôi không có ai hỗ trợ và cũng ít người hiểu mình. Có những điều mình nói trên báo với tinh thần góp ý chân thành, thẳng thắn mà người ta vẫn cứ làm. Khi mọi việc rõ ra, mình đúng nhưng họ vẫn vô can như một số vấn đề trong giáo dục. Với một thầy giáo lâu năm điều này phải suy nghĩ lắm. Nó cũng là một trong những cội nguồn của nỗi cô đơn, phải chăng người già ngày nay nói ít người lắng nghe.
- Tôi cũng đọc được tâm tư ấy trong những cuốn sách ông viết về Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên và cả những người khác nữa. Ông có nghĩ rằng mình viết về người khác cũng là để thổ lộ chính mình không?
- Anh nói vừa đúng, vừa chưa đúng. Chưa đúng vì tôi viết về Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên và sau này còn có Nguyễn Đình Thi, Tế Hanh... trước hết là để nghiên cứu về những người đó một cách khách quan, trung thực. Tôi nảy ra ý định nghiên cứu về họ từ cự ly gần, từ những thổ lộ trực tiếp của họ đã lâu, cách đây vài chục năm, tư liệu có đến hàng trăm trang. Tuy ít hơn họ đến mười, mười lăm tuổi nhưng tôi may mắn được các anh ấy coi là bạn vong niên, được gặp gỡ thường xuyên, có lần đi công tác cũng mời đi bằng được, nhiều điều con cháu cũng không nói mà vẫn nói cho mình nghe. Qua những câu chuyện như thế, tôi nghĩ cũng là một cách hay nếu ta dựng lại chân dung nghệ thuật của họ qua những lần trò chuyện, một cách như Real Tivi các anh bây giờ vẫn dùng vậy. Nhưng dù sao, phần chuyên luận về họ vẫn là phần chính, nghĩa là nghiên cứu văn học trước hết phải từ văn bản. Phần trò chuyện là bổ sung, làm phong phú, đa chiều thêm văn bản. Còn đúng là nghiên cứu cũng cần sự đồng điệu, cần cảm xúc mới viết được. Những người tôi viết về họ bấy nay đều là những người tôi yêu mến, kính trọng, tìm được trong họ sự đồng điệu, đồng khí tương cầu. Họ cũng là người “tầm cỡ”, có chuyện để nói, để viết. Những người sau này mà tôi gặp, tôi thấy không bằng họ ở nhiều mặt. Bảo viết về một người mình coi thường, mình ghét thì khó hay cho nên tôi thường không theo hướng này.
- Cho phép tò mò một chút, ông có dự định gì đang ấp ủ?
- Anh ạ, quỹ thời gian của tôi đã cạn rồi. Tôi cố giữ gìn sức khỏe để hoàn thành một số công việc. Năm 2011 tôi cho xuất bản cuốn Nguyễn Đình Thi – chim phượng bay từ núi và sau đó là Tế Hanh – mãi mãi hoa niên nhân kỷ niệm 90 năm sinh nhà thơ Tế Hanh. Những cuốn sách này đã được chuẩn bị trong nhiều năm. Và một việc cuối cùng là hoàn thiện công trình nghiên cứu Một thế kỷ thơ Việt (1900-2000). Rất khó nhưng tôi quyết tâm làm và đã viết xong bản thảo lần đầu. Mong thời gian sẽ ủng hộ cho tôi.
Vũ Duy Thông
Nhà văn Hà Minh Đức
• Sinh ngày 3-5-1935
• Quê quán: Vĩnh An, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa
• Dân tộc: Kinh
• Hoạt động: Tốt nghiệp Đại học Sư Phạm Hà Nội. Từ 1957: Cán bộ giảng dạy trường Đại học Tổng Hợp (nay là Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn) Hà Nội. Các chức vụ đã đảm nhiệm: Giáo sư văn học, Chủ nhiệm bộ môn Lý luận Văn học, Phó chủ nhiệm khoa Văn, Chủ nhiệm khoa Báo chí (1990-2000), kiêm nhiệm Viện trưởng Viện Văn học (1995-2002); Tổng biên tập tạp chí Văn học(1995- 2003), Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa III, Ủy viên Hội đồng Lý luận phê bình Văn học nghệ thuật Trung ương.
• Tác phẩm chính: Nam Cao – nhà văn hiện thực xuất sắc (nghiên cứu, 1962); Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại(chuyên luận, 1974); C.Mac, Ph.Anghen, V.I.Lenin và những vấn đề lý luận văn nghệ (nghiên cứu, 1983); Nguyễn Bính – thi sĩ của đồng quê (chuyên luận 1994); Một thời đại trong thi ca (nghiên cứu, 1996); Khảo luận văn chương (1999); Sự nghiệp văn học và báo chí Hồ Chí Minh (2000); Hà Minh Đức – tuyển tập (3 tập, 3000 trang, 2004). Và 5 tập tiểu luận: Nhà văn và tác phẩm (1971), Thực tiễn cách mạng và sáng tạo thi ca (1979), Thời gian và trang sách (1987); Đi tìm chân lý nghệ thuật (1998), Văn chương, tài năng và phong cách (2001), 4 tập bút ký: Vị giáo sư và ẩn sĩ đường (1996), Ba lần đến nước Mỹ (2000), Tản mạn đầu ô (2002), Đi một ngày đàng (2004). 4 tập thơ: Đi hết một mùa thu (1999), Ở giữa ngày đông (2001), Những giọt nghĩ trong đêm (2002), Khoảng trời gió cát bay (2003).
• Giải thưởng: Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1983- 1984 (công trình Nhà văn Việt Nam 2 tập viết chung với GS. Phan Cự Đệ). Giải B Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1998 (công trình Đi tìm chân lý nghệ thuật). Giải thưởng Nhà nước về Khoa học xã hội (2000). Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật (2001).
Tôi tự hào vì những năm tháng ấy...
Đây là bài trả lời phỏng vấn cuối cùng của nhà văn Trần Hoài Dương về thời gian ông làm việc tại báo Văn Nghệ. Trong buổi làm việc đó, ông đã tâm sự rất chân tình “Mười hai năm ở báo Văn Nghệ là tươi đẹp nhất của tôi”... Tiếc thay bài báo chưa kịp hoàn thành thì ông đã đột ngột ra đi...
Tôi về báo Văn Nghệ từ cuối năm 1969 đến cuối năm 1981, giai đoạn mười hai năm là khoảng thời gian rất đẹp. Báo Văn Nghệ thời kỳ đó rất sang trọng và rất mạnh. Bây giờ rất nhiều báo và rất nhiều nơi để đăng, chứ thời kỳ ấy để được đăng trên báo Văn Nghệ rất khó. Khó hơn in bốn, năm quyển sách. Vì cả nước chỉ có một tờ báo Văn Nghệ và vị thế của tờ báo rất cao, những người xuất hiện trên tờ báo thời ấy cũng rất khó khăn, rất hiếm. Lực lượng văn nghệ thập niên 70 rất mạnh, ban biên tập rất hùng hậu: Hoài Thanh, Nguyễn Văn Bổng, Đào Vũ, Kim Lân; thơ có Phạm Hổ, Vĩnh Mai, Trinh Đường, Xuân Quỳnh; văn xuôi có Võ Huy Tâm, Trần Hoài Dương, Xuân Trình (sau là Tổng thư ký Hội Nghệ sĩ sân khấu), Ngô Ngọc Bội, Hồng Phi, Nguyễn Phan Hách, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Trần Ninh Hồ, Ngô Văn Phú...
Theo tôi, họ là những nhà văn mà làm biên tập thì rất lợi thế vì thẩm mỹ rất tinh. Họ đọc và chỉnh sửa hay trao đổi với tác giả, họ có kinh nghiệm và giúp chất lượng bản thảo được nâng cao rất nhiều. Cho nên rất nhiều cây bút viết ở nơi khác chưa xuất hiện trên báo Văn Nghệ coi như chưa thành danh. Có được một, hai truyện ngắn hay hai ba bài thơ trên Văn Nghệ coi như một “chứng chỉ” đủ để đi vào văn chương, được bạn đọc chú ý, coi như thành danh.
Trước cả thập kỷ 70, có những gương mặt lần đầu tiên xuất hiện trên báo Văn Nghệ. Chúng tôi là những người đầu tiên chứng kiến các bản thảo. Có những người gửi vài ba chục tác phẩm, cuối cùng mới được dùng. Và khi được dùng rồi, họ có đà viết. Về sau họ trở thành lực lượng rất quan trọng như Nhật Tuấn, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Khắc Phục, Lê Minh Khuê, Chu Lai, Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Phúc Lai, Vũ Hữu Ái, Đặng Ái, Trần Đức Tiến, Anh Động, Nguyễn Thanh và ngay cả Lê Văn Thảo...
Thời đó có các bài ở miền Nam gửi ra, nhận được là mừng lắm, mừng hơn cả những gì mình viết được, rất quý và trân trọng. Trong đó, truyện đầu tiên xuất hiện của Lê Văn Thảo là Đêm Tháp Mười. Tôi và nhà văn Võ Huy Tâm nghe anh chị miền Nam gởi ra chỗ anh Bảo Định Giang liền sang xin nhưng cũng thật nhiêu khê vì họ giữ gìn bản thảo kỹ càng, sợ thất lạc. Muốn xin được phải chờ ghi sổ, đánh máy... rồi mới gởi các báo. Chờ được trong tay có bản thảo thì rất lâu. Trường hợp Đêm Tháp Mười mượn về đánh máy (lịch đánh máy theo từng tổ cũng khó khăn) nhưng họ không cho mượn. Tôi và anh Võ Huy Tâm mượn ngay tại chỗ và ngồi chép tay mất ba buổi. Đọc thì thấy không khí rất Nam bộ nhưng còn rườm rà, dài. Sau đó về biên tập kỹ, cắt xén lấy một phần, sau trở thành truyện ngắn hay.
Tất cả ở giai đoạn ấy hầu hết những người mới xuất hiện, hiện nay họ đóng vai trò là những cây bút chủ lực của Hội Nhà văn. Chúng tôi có cái may mắn là chứng kiến được những bước đầu tiên vào văn chương của họ.
Báo Văn Nghệ thời ấy rất vui. Một là lực lượng rất mạnh và thứ hai đều rất trong sáng, hết lòng vì công việc.
Riêng trong tổ văn xuôi cả chục người đều là những cây bút sừng sỏ, gai góc, đầy cá tính. Tất cả anh em hơn chục năm ở với nhau, nói chung có lúc này lúc kia đụng chạm nhưng vì công việc, biết tôn trọng lẫn nhau, rất đoàn kết.
Lúc tôi phụ trách tổ văn xuôi, tôi có đề xuất với bác Hoài Thanh và ban biên tập là thay phiên nhau một nửa đi viết, nửa ở nhà biên tập. Qua đó thỏa mãn nguyện vọng riêng của từng người, có điều kiện để anh em viết. Bên cạnh đó giúp cho tờ báo luôn luôn có những bút ký, phóng sự, ghi chép, truyện ngắn... phản ánh được đúng không khí cuộc sống.
Công tác cộng tác viên rất quan trọng
Tôi nhận thấy, các báo bây giờ viết lẫn lộn, dùng tên này tên nọ để ký tên và dùng tờ báo của mình để tiêu thụ tác phẩm mà không mở rộng quan hệ cộng tác viên chỉ quanh quẩn người trong nhà.
Thời chúng tôi, vừa là người trong nhà vừa là những nhà văn tên tuổi xuất hiện được trên báo nhưng đồng thời vừa sử dụng được của cộng tác viên. Và đặc biệt coi trọng cộng tác viên cả lão làng và người mới viết, thường xuyên viết thư mời chào, đôn đốc, thúc giục họ viết. Chúng tôi rất có ý thức về việc xây dựng cộng tác viên, nhất là lớp trẻ. Không chỉ ở báo Văn Nghệ có bài mà còn giúp cho họ thành danh.
Vì người mới viết văn cả hàng chục tác phẩm mà không dùng thì họ sẽ nản nhưng nếu mình biết khơi gợi họ, dùng họ một vài cái, họ có đà và thành nhà văn. Rất nhiều người chết oan vì sự không tận tâm của người biên tập.
Về cộng tác viên lão làng, chúng tôi thường xuyên liên hệ với những cây bút chủ lực và để chuẩn bị bài hay cho số báo Tết, số báo quan trọng, đặc biệt..., chúng tôi phải “mai phục” chí ít nửa năm để đặt bài. Báo chỉ có một ô tô, chúng tôi phải đi liên hệ với các cơ sở, các bộ, các nông trường, các nhà máy ở các tỉnh... xin họ chuyến ô tô và hứa sẽ viết cho họ. Khi được, mời từ nhà văn Nguyễn Tuân, Nguyễn Thành Long, nhà thơ Quang Dũng... tổ chức, tạo điều kiện để họ đi Tây Bắc, khu gang thép Thái Nguyên, nông trường Mộc Châu...
Về cộng tác viên mới xuất hiện, viết được hai truyện ngắn, chúng tôi đã để ý và có sổ lưu danh sách, theo dõi họ. Nói thật, ban văn xuôi theo dõi sát, nắm tình hình rõ hơn cả Hội Nhà văn, vì họ gửi tác phẩm cho báo chứ đâu gửi Hội.
Riêng tôi, đọc mấy chục bản thảo của một số người vừa mới viết (trước đó đã bị vứt bỏ), tôi moi những truyện bị phê “truyện nhạt”, đọc lại và “vớt” được rất nhiều, trong đó có những truyện sau đoạt giải Nhì, Ba, Khuyến khích...
Hễ nhận được một bản thảo nào hay, cả tổ đọc rồi khen và cảm thấy vui. Vui hơn là mình viết. Ai có gì hay mình dùng ngay, viết thư chèo kéo, động viên, đặt bài.
Theo tôi, công tác cộng tác viên vô cùng quan trọng, nó làm cho tờ báo sống được hay không. Bây giờ một số nhà biên tập, nhà văn, nhà báo ở các tòa soạn hình như họ thấy gửi các nơi khác khó dùng “người khôn của khó”, họ tự biên tự diễn ở báo nhà. Họ không chịu mất công mời người ngoài, ai muốn thành danh, ai không thì... mặc.
Để tờ báo phát triển, không muốn tờ báo đơn điệu, chúng tôi luôn luôn ý thức nâng cao chất lượng. Biên tập viên phần lớn là những cây bút viết về nông thôn như Ngô Ngọc Bội, Hoài An, Nguyễn Thị Ngọc Tú. Còn nhiều bản thảo phản ánh thời sự đơn điệu thì chúng tôi đấu tranh với nhau làm cho trên mặt báo luôn luôn cải tiến, phong phú, sinh động, đa dạng và chấp nhận nhiều phong cách, đề tài hơn. Vì báo Văn Nghệ mà đăng thiên về một đề tài, lập tức bạn đọc, cộng tác viên thấy đề tài đó đang ăn thì sẽ viết theo, dễ sáo mòn.
Mở rộng nhiều chuyên mục
Hiện nay báo Văn Nghệ không còn chuyên mục Đó đây cuộc sống con người như nhiều năm trước. Ví dụ nhiều bản thảo không dùng được nhưng có những mảng sắc sảo, rất hay. Những đoạn khắc họa một chân dung, hoặc một đoạn miêu tả về cảnh sắc thiên nhiên... bỏ đi thì rất uổng. Tôi trao đổi với bác Hoài Thanh (chủ nhiệm báo Văn Nghệ), anh Đào Vũ rằng, rất nhiều bản thảo bỏ đi thì đúng thôi vì nhiều người mới viết nhưng bỏ đi thấy xót ruột quá. Có những mảng họ mới viết nhưng rất hay, có sự tươi non, sự phập phồng có nhớ nhung, luyến tiếc hơn cả những người viết lâu năm mà đành phải bỏ, uổng lắm. Tôi đề xuất và bàn với anh Đào Vũ (lúc đó là Phó Tổng biên tập) ban biên tập cho phép mở mục: Đó đây cuộc sống con người để chuyên đăng một đến hai trang (in bốn năm mẩu) những đoạn trích ra từ bản thảo không dùng được (vì chưa hoàn chỉnh một truyện ngắn). Theo tôi, đó là những đoạn văn rất sinh động, những mảng khắc họa, ký họa chân dung văn học rất sắc sảo, có khi đó là cảnh sắc, như một buổi sáng sớm của cánh đồng mùa gặt, cảnh lao động trên công trường hầm hập không khí... In như thế người viết trẻ rất phấn khởi vì tuy không được in trọn vẹn nhưng giúp họ tự tin, sửa chữa để viết tốt hơn.
Mở mục Đó đây cuộc sống con người rất bổ ích, nó vừa khuyến khích những người mới viết nhưng đồng thời phản ánh đời sống văn học phong phú, sinh động, đa dạng hơn. Do vậy báo Văn Nghệ hiện nay cần “cựa quậy” tìm những chuyên mục cho tờ báo sinh động, hấp dẫn, dung nạp nhiều phong cách hơn.
Mười hai năm với nhiều kỷ niệm vui có, buồn có, rất thú vị nhưng cũng có những va vấp như vụ Cây táo ông Lành của Hoàng Cát, Người không đi cùng chuyến tàu của Nguyễn Quang Thân... Nhưng nói chung, nhìn lại một giai đoạn thời đó chúng tôi làm việc hết lòng cho tờ báo Văn Nghệ, một thời rất tươi đẹp mà tôi may mắn được làm việc. Tôi tự hào vì có được những năm tháng ấy đã giúp ích cho tôi được rất nhiều như quen biết hầu hết được các nhân vật xuất sắc của văn học Việt Nam. Đặc biệt tôi chứng kiến những vui buồn cả lớp già lẫn lớp trẻ (mà về sau họ đều là những cây bút thành danh cả). Theo tôi, văn chương cũng có thời vụ, giai đoạn nó rộ lên từng thế hệ, cũng vừa do thời đại nhưng cũng là “trời cho” được một vài tài năng văn học, vì trong văn chương không phải cố mà được. Thế hệ tôi là thế hệ chủ lực trong văn học thời chống Mỹ. Tôi sẽ ghi lại trong hồi ký sắp in.
Nguyễn Tý (ghi)
Nhà văn Trần Hoài Dương
• Tên khai sinh: Trần Bắc Quỳ
• Sinh ngày: 8-11-1943
• Quê quán: thành phố Hải Dương. Mất năm 2011.
• Đời hoạt động: Tốt nghiệp hạng ưu Trường Báo Chí Trung ương khóa I năm 1961, về công tác tại tạp chí Học Tập (nay là tạp chí Cộng Sản) làm biên tập viên đến năm 1968. 1969-1970 đi thực tế ở Trường Giáo dục trẻ em phạm pháp của Bộ Giáo dục. 1971-1981, làm báo Văn Nghệ Hội Nhà văn Việt Nam, là biên tập viên, sau đó phụ trách Ban Văn xuôi. 1982-1992: công tác tại nhà xuất bản Măng Non sau chuyển thành nhà xuất bản Trẻ, là trưởng ban văn học. 1992 đến nay là nhà văn tự do. Chuyên viết cho thiếu nhi từ đầu những năm 1960.
• Tác phẩm chính: Em bé và bông hồng (tập truyện ngắn, 1963); Đến những nơi xa (tập truyện ngắn, 1968); Cây lá đỏ (tập truyện ngắn, 1971); Cuộc phiêu lưu của những con chữ (tập truyện ngắn, 1975); Con đường nhỏ (tập truyện ngắn, 1976); Hoa của biển(truyện dài, 1976); Người tù vượt ngục và em nhỏ trên đảo (truyện dài, 1979); Lá non (tập truyện ngắn, 1981); Áng mây (tập truyện ngắn, 1988); Mầm đước (truyện dài, 1994); Nhớ một mùa hoa thạch thảo (tập truyện ngắn, 1994); Cô bé mảnh khảnh (truyện ngắn chọn lọc, 1996); Nắng phương Nam (tập truyện ngắn, 1998); Trần Hoài Dương - truyện ngắn chọn lọc (1998); Hoa cỏ thì thầm(1999); Miền xanh thẳm (truyện dài, 2000); Tuyển tập Trần Hoài Dương (2000); Trần Hoài Dương - Truyện chọn lọc (2006). Ngoài ra còn viết kịch bản phim hoạt hình và kịch bản múa rối cho thiếu nhi, trong đó đã có 5 kịch bản được dựng thành phim.
• Giải thưởng: Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và Ủy ban Thiếu niên và Nhi đồng Trung ương năm 1968 với tác phẩm Cuộc phiêu lưu của những con chữ. Giải thưởng loại B (không có giải A) của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2001 với tác phẩm Miền xanh thẳm. Và nhiều giải thưởng khác.
Người bơi ngược về cõi lặng
Tôi không nhớ bằng cách nào mà những năm đang học đại học tôi đã biết Nguyễn Khoa Điềm là con trai nhà phê bình Hải Triều Nguyễn Khoa Văn – người đã có cuộc tranh luận ấn tượng thời Tự lực văn đoàn với nhà phê bình Hoài Thanh, chủ đề: “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh?” Lại còn biết anh đã tốt nghiệp Đại học Sư Phạm Văn và đã vào chiến trường Trị – Thiên từ ngày đầu chống Mỹ. Có lẽ sự tìm hiểu này bắt đầu từ những bài thơ Nguyễn Khoa Điềm gửi từ chiến trường ra in báo Văn Nghệ. Hình như đó là một ám ảnh lập thể trong bài thơ Con gà đất, khẩu súng. Bẵng đi vài năm, tôi tốt nghiệp đại học rồi vào bộ đội, làm lính Quảng Trị 1972. Chính những ngày Quảng Trị, tôi mới chính thức đọc có hệ thống thơ Nguyễn Khoa Điềm trong Đất ngoại ô do nhà xuất bản Giải Phóng ấn hành đầu năm 1972 và chuyển đến các đơn vị quân đội bằng đường quân bưu. Đất ngoại ô là một trong những tập thơ khiến tôi bắt đầu có ý thức làm thơ ở chiến trường. Lúc đó, mặc dù đã đọc lén Cửa mở của Việt Phương, đã nghe truyền thông rầm rộ về Phạm Tiến Duật, tôi vẫn cảm thấy Đất ngoại ô vừa thực và vừa lạ. Thực là vì toàn chuyện chiến trường, mặt trận, chiến khu không thể bịa ra được. Nhưng lạ vì cách lập tứ, tạo thi ảnh và nhịp điệu thơ. Trước Đất ngoại ô, tôi chưa gặp được. Ám ảnh cũ lại hằn lên. Sự liên hệ thi ảnh giữa con gà đất tuổi thơ với cây kèn – “con gà sắt” ngày thanh xuân nô lệ. Thật khác thường khi đọc: Người thổi kèn thấy đời mình xoay trong ống sắt/ muốn ngắt hơi/ Anh bỗng mơ một con gà bảy sắc. Nở như hoa trên môi/ Đó là con gà bốn mùa không vỡ nát... Và thật bất ngờ trong liên tưởng sau con gà đất, cây kèn là khẩu súng: Người thổi kèn nhận phần mình khẩu súng/ như nhận một chỗ ngồi dưới tay nhạc trưởng/ Anh đã đi từ con gà đất cây kèn và khẩu súng/ Để nhận lấy tình yêu từ thuở ban đầu. Đọc Đất ngoại ô, tôi nhận ra một Nguyễn Khoa Điềm rất say mê âm nhạc. Những câu thơ viết về âm nhạc của anh đều mang đến một rung động khác thường. Ví dụ: Trong tiếng hát nấc dài cuối ngã ba sâu, Đau biết mấy lần mẹ hát khúc ca dao, Xuống lòng sông nức nở khúc Nam Ai, Sao em không về tập hát/ để bài hát nghẹn ngào ngực anh, Ôi những điều cần phải hát say mê/ là bài hát vô cùng Tổ quốc, Hay một sóc Bon Bo bỗng ngân thành tiếng hát, Đêm Hà Nội bắn rơi máy bay thù bỗng vang giọng Bích Liên. Có đoạn, cảm giác âm nhạc thấm đầy câu chữ:
Anh nhớ đêm nào nghe nhạc Beethoven
mưa thấm đẫm qua hầm gỉ nhờn trên mặt
bom tọa độ vung xòe năm ngón sắt
muốn bới tung chỗ kiêu hãnh chúng ta nằm
trong chương cuối cùng bản giao hưởng số năm.
và đây nữa trong tứ thơ đầy ẩn dụ Con chim thời gian
Côộc
Côộc
Côộc
con gõ kiến đại ngàn
gõ nhịp thời gian...
chim vỗ cánh về đây
khắc lên cây cháy bỏng
bằng một nốt rê trầm
ta bỗng nghe
tiếng nhặt khoan nhịp sênh tiền mẹ hát....
Có khi âm nhạc chứa trong nhịp thơ bốn chữ ở Chiếc nôi vàng. Ai một lần hành quân qua Trường Sơn ngày nắng mà không ngây ngất đến lặng người khi thấy một khoảng nắng chiếu trên cỏ giữa thâm nghiêm đại ngàn:
Một vuông trời nhỏ
mở giữa hàng cây
mỗi mai nắng đổ
thành nôi vàng rây
đưa nôi... đưa nôi...
chiến khu bồi hồi
ru em khôn lớn
tháng ngày không vơi...
Có lẽ bởi cảm quan âm nhạc Nguyễn Khoa Điềm thường đưa vào rung động thơ nên bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ đã được nhạc sĩ Trần Hoàn – người đàn anh ở chiến khu Trị – Thiên, phổ nhạc rất thành công khi chọn ra những đoạn ru.
Năm 1974 là năm tôi thường xuyên đi lại đoạn Trường Sơn thuộc Trị – Thiên và Quảng Nam để tổ chức xây dựng đường dây thông tin chiến lược quân sự xuyên Trường Sơn vào Tây Nguyên và tới Đông Nam bộ. Những địa danh trong Đất ngoại ô hóa quen thuộc với tôi như A Nhân, A Đợt, A Đời, dốc Ngàn Tám... khiến tôi càng thấy thấm thía hơn những câu thơ Nguyễn Khoa Điềm. Giữa lúc đó, thì quân bưu lại mang tới đơn vị tôi Mặt đường khát vọng của anh cũng do nhà xuất bản Văn Nghệ Giải Phóng ấn hành đầu 1974. Tập trường ca mà Nguyễn Khoa Điềm khiêm nhường gọi là thơ dài đã gây thêm ấn tượng mạnh mẽ trong tôi về một tầm vóc thơ chống Mỹ của thế hệ chúng tôi. Nhất là khi chương Đất nước được ca sĩ Quang Hưng đọc trên phần đệm piano vang trên làn sóng điện: Đất là nơi anh đến trường/ Nước là nơi em tắm/ Đất nước là nơi ta hò hẹn/ Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm... nghe vừa dào dạt, vừa bâng khuâng một nỗi niềm vừa xưa cũ, vừa mới mẻ. Tôi đọc ngấu nghiến và gần như thuộc lòng cả chín chương. Chính Mặt đường khát vọng là gợi ý bố cục duy nhất để tôi viết trường ca Năm tháng và chiều cao và Gió Tây Nguyên ngay sau ngày thống nhất. Bây giờ, khi làm tuyển tập bốn mươi năm làm thơ, Nguyễn Khoa Điềm đưa vào một phần trong chương Đất nước. Điều ấy cho thấy một bản lĩnh dám nhìn thẳng vào mình để chắt lọc ra những tinh túy. Tuy nhiên, đọc lại Mặt đường khát vọng, vẫn thấy đầy âm vang hào hùng thời chiến tranh. Cũng năm tháng ấy, bài thơ Hình dung về Chê Ghêvara của Nguyễn Khoa Điềm in trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội cũng là một ấn tượng không nhạt phai. Hình ảnh một người chiến sĩ đi xuyên rừng Bolivia tổ chức du kích, là một hình ảnh nối tiếp, trong tấm gương thời đại cho chúng tôi soi vào sau hình ảnh Paven Corsaghin. Chê thật sống động trong thơ Nguyễn Khoa Điềm.
Đến năm 1987, đọc tập thơ Ngôi nhà có ngọn lửa ấm của Nguyễn Khoa Điềm được giải thưởng Hội Nhà văn, cảm thấy bên cạnh Nguyễn Khoa Điềm hồn hậu mà sâu sắc thuở nào, có thêm một Nguyễn Khoa Điềm gia tăng triết lý trong liều lượng thơ. Triết lý đa chiều. Có lẽ đó cũng là kết quả nhận thức về thực trạng thời hậu chiến của riêng từng người làm thơ. Vậy mà trong phần thơ Nguyễn Khoa Điềm xuất bản bằng tiếng Anh ở Mỹ (in chung cùng Phạm Tiến Duật, Nguyễn Đức Mậu và Lâm Thị Mỹ Dạ – bán khá chạy), bài thơ Chiều Hương Giang hồn hậu thuần khiết lại trở thành cảm hứng cho một nhạc sĩ giao hưởng Mỹ gốc Nhật Paul Chihara viết ra một giao hưởng với ngôn ngữ âm nhạc rất hiện đại mang tên An Afternoon on the Perfume River dài mười hai phút do dàn nhạc Giao hưởng Odense trình tấu và thu âm dưới đũa chỉ huy của nhạc trưởng Paul Mann, phát hành CD năm 2008.
... Nhưng chiều nay, con bò gặm cỏ
Bên dòng sông, như chưa biết chiều tan
Tôi với nó lặng im, bè bạn
Mắt nó nhìn dìu dịu nước Hương Giang
Những buổi chiều, những buổi chiều quê hương...
Sau khi tuyển tập Thơ Nguyễn Khoa Điềm ấn hành năm 1990, năm 1993 Nguyễn Khoa Điềm ra nhận công tác làm Thứ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin ở Hà Nội. Rất nhiều người nghĩ rằng Nguyễn Khoa Điềm đã khép lại sự nghiệp thơ để “mải miết trên đường hoạn lộ” như anh từng thổ lộ trong thơ. Ngay cả khi anh kiêm nhiệm chức Tổng Thư ký Hội Nhà văn khóa V (1995-2000) sau đó là Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin, rồi Ủy viên Bộ Chính trị – Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2001-2006). Vậy mà hóa ra trong hơn mười năm này, với Nguyễn Khoa Điềm chỉ như một chuyến đi “thực tế đặc biệt” và hơi dài. Ngay sau khi nghỉ hưu về ở Huế, nghiệp thơ lại kéo anh trở lại vị trí một nhà thơ. Đã có không ít người sau chuyến đi “thực tế đặc biệt” như Nguyễn Khoa Điềm đã thực sự đoạn tuyệt với thơ hoặc có làm thì cũng là rất ít những bài thơ chìm khuất giữa đại dương đám đông. Riêng Nguyễn Khoa Điềm thì khác, như loài cá hồi theo sông ra đại dương, đã lại bơi ngược về ngọn nguồn để đẻ trứng, anh đã bơi ngược như thế về Cõi lặng của mình và sinh ra những bài thơ mới: Cõi lặng. Tôi vượt qua ghềnh thác/ Đến những miền trong xanh. Một tuyên ngôn thanh thản cho một thời kỳ mới của thơ mình đã được viết ra không lưỡng lự:
Bây giờ là lúc có thể chia tay điện thoại để bàn,
cạc-vi-dit, nắm đấm mi-crô
Tự do lên mạng với đời sống, ăn ngủ với bụi đường
Một mình một ba lô và xe đạp
Bây giờ gió gọi anh đi
Mặt trời đánh nhịp về tám hướng
Từ giã cà vạt, giày đen, lời trịnh trọng
Anh là một với cánh đồng, cánh hẩu với quán cóc,
ăn chịu với cỏ
Hò hát một mình, đọc những gì yêu thích, ghi
chép những gì cần ghi chép
Thế giới thật rộng, những ngả đường độ lượng
Cho anh làm mới cuộc đời mình...
Nguyễn Khoa Điềm gọi đây là mùa viết thứ ba của mình – mùa trở về vườn xưa. Sau Cõi lặng ấn hành 2007, cõi lặng trong thơ Nguyễn Khoa Điềm hôm nay vẫn tiếp tục loang vào tuyển tập thơ của anh ấn hành 2011. Trong cõi lặng, Nguyễn Khoa Điềm đủ trầm tĩnh chiêm nghiệm lại chuyến đi “thực tế đặc biệt” để nâng tầm vóc thơ của mình lên một hạn mức mới. Không mảy may một dấu vết nào của dằn hắt, ăn thua, chỉ thấy những chiu chắt nhận thức được vuốt thành thơ nhẹ nhàng như thở: Khi mồ hôi trở nên quá rẻ/ Kẻ ranh ma trở nên quá giàu; Nhận ra trong mỗi khuôn mặt đen sạm/ Những tháng ngày bỏ quên; Nhiều khi đá dạy ta mềm mỏng/ Sự tàn nhẫn nhắc ta điều lành; Dòng nước sẽ rửa sạch sự đớn hèn/ Dẫu có khi đã nhường lời cho bọn khoác lác; Khi không còn gì tin tưởng, ông tin tưởng chỗ mình đứng/ Ông đến với nhân dân không phải một cách tạo dáng/ Chỉ vì nhân dân cho ông ánh sáng.... Đọc những câu thơ này, những câu thơ Nguyễn Khoa Điềm tạc ra chân dung thủ tướng Võ Văn Kiệt nhận thấy sự sâu sắc của nhà thơ đã thực đến độ chín muồi. Và anh vẫn chân thành cổ võ, thôi thúc các thế hệ thơ hãy làm rạng danh thơ Việt Nam với thế giới:
Đây là những người được lựa chọn
Trên mảnh đất không có nhiều lựa chọn
Họ mở cuộc đi dài đổi mới thi ca
Đôi khi là lịch sử
Họ làm những đứa trẻ nhìn họ
bằng ánh mắt thèm thuồng
Chạy về bắt bà đọc lại ca dao
Các cụ già thử lại giọng lẩy Kiều
Bọn du đãng mượn thơ Hồ Xuân Hương
làm hũ rượu...
Cứ thế đoàn người hầm hố và cay cực
Đi khắp núi sông
Đánh thức nhân dân bằng cặp dùi lục bát
Mong đợi những giọt nước mắt
Lăn trên bình minh trong trẻo một ngày
Bơi ngược về cõi lặng. Nguyễn Khoa Điềm có thêm mùa thơ thứ ba ngay thật, đáng trân trọng như “Cỏ vĩnh hằng”.
Nguyễn Thụy Kha
Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm
• Sinh năm 1943
• Quê quán: làng An Cựu, xã Thủy An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế
• Tốt nghiệp Đại học Sư Phạm Hà Nội khóa 1961-1964. Hoạt động ở chiến trường tỉnh Thừa Thiên – Huế 1964- 1975. Sau 1975 công tác ở Thừa Thiên – Huế. Năm 1993 công tác ở Bộ Văn hóa – Thông tin, ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương. Bắt đầu sáng tác từ năm 1969. Ủy viên ban Thư ký Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa III. Tổng thư ký Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa V. Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, Chủ tịch hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương.
• Tác phẩm đã xuất bản: Đất ngoại ô (thơ, 1973), Cửa thép (ký, 1972), Mặt đường khát vọng (trường ca, 1974), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (thơ, 1972), Thơ Nguyễn Khoa Điềm (thơ, 1990).
• Giải thưởng văn học: Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, Giải thưởng Nhà nước về Văn học, nghệ thuật năm 2001 cùng nhiều giải thưởng khác.
Nhiều tác giả
Theo https://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  hê bình văn học của tác giả trẻ Vũ Thị Trang ở Hà Nội Vũ Thị Trang còn có bút danh Trang Vũ, Mộc Miên, sinh trưởng ở Hải Dương, hiện sốn...