Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2018

Câu chuyện văn chương 2

Câu chuyện văn chương 2
Cửa sẽ mở
Một ngày nọ tôi thấy ông tại buổi gặp mặt các nhà văn cao tuổi do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức mà tôi đến dự với tư cách phóng viên. Không khí rất đông vui giữa những người bạn văn chương già với nhau. Tôi lại thấy ông ngồi lặng lẽ một mình một ghế ở phía cuối hội trường. Chốc chốc, ông ghé lên hỏi người ngồi trước mình xem cái ông đang nói là ai. Cho dù người ấy có thể là một nhà văn nổi tiếng vừa được nhận giải thưởng cao. Dường như ông không mấy quan tâm điều đó. Ông lại tiếp tục lặng lẽ quan sát với một chút gì đó hơi khiêm tốn. Ông là nhà thơ được nhiều người biết đến cách đây hơn bốn mươi năm nhưng lại là hội viên mới kết nạp vào Hội Nhà văn vài năm lại đây, khi đã ngoài tám mươi tuổi. Ông là nhà thơ Việt Phương.
Tôi tìm đến nhà ông vào một ngày cuối thu. Giữa một khu phố chợ ồn ào náo nhiệt, ngôi nhà của ông có vẻ gì đó hơi thâm u, trầm lắng khiến tôi cảm thấy dè dặt khi bấm chuông. Ngôi nhà đó dường như tách biệt khỏi khung cảnh xung quanh. Nhà thơ Việt Phương mở cửa, nụ cười hiền hậu, trong bộ đồ giản dị nhưng sơ-vin nghiêm ngắn làm tôi nghĩ ngay đến hình ảnh một cán bộ chỉn chu và mẫu mực. Ở vào cái tuổi tám mươi tư nhưng phong thái của ông còn nhanh nhẹn lắm. Bước vào phòng khách nhà ông, tôi nghĩ ngay đến hai chữ: Thời gian. Một căn phòng nhuốm màu thời gian bởi những đồ vật trong đó: là bộ bàn ghế, là cây đàn dương cầm, là những bức tượng đồng, là chiếc máy khâu, là chiếc mâm đồng, là những bức tranh, là rất nhiều chiếc đồng hồ cũ mang phong cách châu Âu mà tôi không đếm được hết. Mỗi chiếc đồng hồ dừng lại ở một giờ khác nhau. Thời gian đã đi qua căn phòng này, đi qua những đồ vật này để lại một “màu men” đặc biệt.
Hơn nửa thế kỷ làm cố vấn cho các vị lãnh đạo cao cấp, có lẽ cuộc đời ông đã trải qua nhiều giây phút quan trọng liên quan đến sự đổi thay của cả đất nước. Nhưng giờ đây ông không muốn nhắc nhiều đến thời gian đã qua. Kể cả “nghi án” văn chương một thời người ta đã khoác lên cho ông rồi lại gỡ xuống, ông cũng không muốn nhắc đến nữa. Ông chỉ tâm niệm một điều rằng, hãy sống hết mình, làm việc hết mình bằng trí óc, bằng lương tâm và bằng trái tim của mình. Hết mình trải qua các cung bậc, mùi vị, sắc thái của cuộc sống này, đó cũng là một điều hạnh phúc. Buồn ư. Vui ư. Hạnh phúc ư. Đau khổ ư. Cuộc đời cho thế nào thì ta hãy đón nhận nó. Hãy trải nghiệm nó bằng chính tấm lòng mình.
Cuộc đời đẹp quá làm ta ngần ngại
cuộc đời đau quá làm ta mê mải.
Hai câu thơ như một lời tuyên ngôn sống. Một sự dấn thân quyết liệt và đầy chất lãng tử của một trái tim luôn khao khát và tin yêu vào tình yêu, tin yêu vào cuộc đời.
Bản thân người viết bài này cũng từng rất tò mò về tập thơ Cửa mở khiến ông lao đao, vì đã quá nhiều lần được nghe đọc những câu thơ như:
Năm xưa ta đã nói rất nhiều “cực kỳ” và “hết sức”
Tội nghiệp nhất là ta đã nói chân thành hết mực
Chưa biết rằng “trời” còn xanh hơn “trời xanh”
Ta thiếu sự trầm lắng đúc nên bởi nhiệt tình.
Ta cứ nghĩ đồng chí rồi thì không ai xấu nữa
trong hàng ngũ ta chỉ có chỗ của yêu thương
đã chọn đường đi, chẳng ai dừng ở giữa
Mạc Tư Khoa còn hơn cả thiên đường.
Ta nhất quyết đồng hồ Liên Xô
tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ
hình như đấy là niềm tin ý chí tự hào
mường tượng rằng trăng Trung Quốc
tròn hơn trăng nước Mỹ
sự ngây thơ tuyệt vời và ngờ nghệch làm sao.
Một phần tư thế kỷ đã qua đi và bây giờ ta đã biết
thế nào là thương yêu thế nào là chém giết
ta đã thấy những chỗ lõm lồi trên mặt trăng sao
những vết bùn trên tận đỉnh chín tầng cao.
Sức ta tăng bội phần khi ta say
đến trở thành rất tỉnh
Ta đã có thể nói với quân thù những lời bình tĩnh
“Tất cả những gì xấu xa của tao là thuộc về mày
tất cả những gì tốt đẹp của mày là thuộc về tao”.
Năm xưa ta vô tình tô đẹp cuộc đời để mà tin
Nay ta càng thêm tin mà không cần tô gì nữa cả
Quen thuộc rồi mọi bất ngờ kỳ lạ
Ta đã trả giá đau và ta đã học nhìn.
Ta đã gặp những điều không hề chờ đợi gặp
Nào đâu phải chỉ là rắn phục giữa vườn hoa
những kẻ tốt đến yếu mềm chỉ là đồ giẻ rách
rắn còn nằm cuộn khúc giữa lòng ta...
Ta nhìn hết sự xấu xa và bỗng nở nụ cười
mở đài địch như mở toang cánh cửa
nghe nó chửi ta mà tin ở ngày mai
ta đau lắm những nỗi đau sinh nở
cuộc đời, thân như hơi thở ta ơi
ta vui lắm những niềm vui cởi mở
cuộc đời yêu như vợ của ta ơi...”
(Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi)
Thời đó, người ta quen với lối tư duy bao cấp, nên không chấp nhận được một con người dám nói thẳng nói thật. Thực ra, trong tập thơ Cửa mở ông không hề nói xấu ai, ông chỉ phê phán cái sự giả dối, cái xấu trong mỗi con người chúng ta, hướng mọi người đến cái chân thật của cuộc đời, đến mặt tốt đẹp của con người, tránh để cho cái giả dối mê hoặc và cuốn mình đi. Đó chẳng phải là mục đích cuối cùng của văn chương nghệ thuật sao. Toàn bộ tập thơ Cửa mở đã toát lên một tấm lòng của người cộng sản chân chính.
Sau cái “nghi án” văn chương năm xưa, ông vẫn tiếp tục sáng tác, thỉnh thoảng đem in ở một vài tờ báo nhưng không in thành tập. Sau gần bốn mươi năm ông mới tập hợp bản thảo để xuất bản tập thơ thứ hai: Cửa đã mở. Kể từ đó đến nay, năm nào ông cũng cho in một tập thơ được dư luận chú ý. Trong ngần ấy năm, nhiều anh em bạn bè văn chương khuyên ông làm đơn, thậm chí Hội Nhà văn cho người đến mời ông viết đơn vào Hội nhưng ông đều từ chối. Ngoài tám mươi tuổi, sau khi được kết nạp vào Hội, ông tâm sự với mọi người rằng, anh trai ông là nhà văn Từ Bích Hoàng, hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, có dặn khi nào em cảm thấy mình xứng đáng thì hãy viết đơn vào Hội.
Trong suốt mấy tiếng đồng hồ, tôi lắng nghe, ông hầu như chỉ nói chuyện về triết học, về những lý luận kinh tế, chính trị và xã hội. Ông bảo sau ngần ấy năm công tác, lý luận đã ăn vào máu, là một nghề làm ông ham mê vô độ. Ông bảo đối với người làm nghiên cứu lý luận, điều quan trọng là không được sa vào giáo điều và sáo rỗng. Nghiên cứu để tìm ra phương pháp, và biến nó thành hành động, thành công cụ có ích cho xã hội. Giờ đây, hàng ngày ông vẫn làm công việc nghiên cứu lý luận đó. Còn với thơ thì giống như với một người bạn để tâm sự, giãi bày những buồn vui của lòng mình. Chính vì vậy hàng ngày vẫn đọc, vẫn nghiên cứu mọi vấn đề của xã hội, của đất nước, nhưng ông không mấy quan tâm đến đời sống văn chương. Hậu hiện đại ư. Tân hình thức ư. Hay những tranh cãi về nhà văn này, nhà thơ nọ, hội thảo cấp quốc gia hay hội thảo cấp phường xã, thỉnh thoảng ông nghe qua bạn bè kể lại. Ông cứ lặng lẽ viết những câu thơ bằng cảm xúc yêu thương bằng nỗi đau của mình về con người về cuộc đời một cách chân thật và giản dị. Ông bảo trong thơ của ông đầy chất lý luận, nhưng trong công tác lý luận thì không thể có thơ. Tuy nhiên, cũng đã có lúc, con người ham mê lý luận vô độ đã muốn vứt bỏ tất cả để được thanh thản với thơ:
Vứt nốt cảm giác và suy tưởng
tay trắng một mình với thơ.
Đối với ông thơ vẫn là một cõi đẹp riêng.
Trong suốt mấy chục năm công tác, luôn hưởng chế độ cán bộ cao cấp nhưng ông lại không có thực quyền, và dẫu vậy, các ý kiến của ông vẫn rất quan trọng, có thể tác động đến đời sống của mọi người dân. Ông bảo trong chính trị có một thứ quyền lực vô cùng ghê gớm đó là quyền lực của những kẻ xu nịnh, quyền lực của thân nhân người có quyền. Những con người đó có thể chi phối đến vận mệnh của cả dân tộc, có thể làm nghẹt thở hàng triệu sinh mệnh con người. Vì lẽ đó mà người Pháp có câu châm ngôn: “Mọi việc quốc gia không giải quyết ở phủ Tổng thống, mà giải quyết ở giường ngủ.” Bên cạnh cái quyền lực không thực quyền đó, lại còn có thứ quyền lực đáng sợ hơn nữa, đó là quyền lực từ thế lực bên ngoài. Nếu người có thực quyền không có đức, không có trình độ và không có bản lĩnh, hoặc chỉ thiếu một trong ba cái đó, rất dễ bị những thứ quyền lực kia chi phối, khi đó anh ta chỉ là con rối mà thôi, thậm chí sẽ là mầm họa cho dân tộc. Tôi cảm nhận được sự nghẹn ngào khi ông nói về vận nước trong quá khứ và hiện tại, khi ông nói về cuộc sống của những người dân nghèo mà ông đã chứng kiến và đang chứng kiến, khi ông nói chuyện về lòng tốt cũng như sự giả trá của con người....
Sẽ đến thời khắp bốn phương tử tế
cuối con đường có lẽ gặp con người
đi hết mọi chân trời và mọi nhẽ
mênh mông buồn vui thế bạn bè ơi.
(Đường)
Là một người con của Hà Nội, ông yêu từng góc phố, từng hàng cây, yêu những con người Hà Nội nhân hậu, và thanh lịch. Hà Nội của ông đã khác xưa nhiều quá và ông trăn trở với những sự đổi thay đó. Hà Nội của ông, hay đúng hơn là cả xã hội này đang có nhiều thứ “rác” nhưng ông không thể cứ nhìn vào những thứ rác rưởi đó mãi, bởi nếu từ một đống rác mà ta bươi ra sẽ thành một núi rác, bươi tiếp sẽ thành một đời rác. Hàng ngày ông vẫn lắng nghe những thân phận nghèo khổ bươn chải nơi phố chợ mà ông đang sống, lắng nghe thân phận của cậu bé đánh giày vẫn hay ngồi trước cổng nhà ông. Họ là những con người nghèo khổ, những thân phận tận cùng của xã hội nhưng họ có một tấm lòng đáng để ông trân trọng, sẻ chia. Chính họ là những người giúp ông đặt niềm tin vào cuộc đời, đặt niềm tin vào con người, giúp ông thấy được rằng Hà Nội của ông vẫn còn nhiều điều ấm áp, cao cả và đẹp đẽ.
Trong lúc trò chuyện, thỉnh thoảng ông lại nghẹn ngào khi đọc những câu thơ viết về tuổi thơ, viết về mẹ. Ông sinh ra và lớn lên tại ngôi nhà số 4 Mai Hắc Đế. Bố là giáo viên tiểu học, mẹ là nông dân trồng rau, trồng hoa của làng Yên Thái. Ông bảo thuở nhỏ ông rất lười học, chỉ suốt ngày mặc áo ba lỗ, quần xà lỏn, lang thang đầu đường xó chợ cùng chúng bạn. Chính những năm tháng đó đã cho ông nhiều bài học về con người và về cuộc đời. Ông đã từng cùng chúng bạn đi ăn mày ăn xin khắp phố phường Hà Nội trong nhiều năm, như là một trải nghiệm về cuộc đời để tích lũy vốn sống. Hồi đó ở Hà Nội có hai kiểu ăn mày. Một là ngồi ở góc phố, chờ mọi người qua lại thì xin. Còn ông thuộc kiểu ăn mày thứ hai, đến từng nhà gõ cửa để xin. Sau nhiều lần đi xin đều bị chủ nhà vác gậy, xua chó ra đuổi, ông mới nghĩ ra câu nói thật lâm li bi đát mong làm động lòng những gia đình giàu có: “Con cá sống về nước, con sống về cửa ông, sống về cửa bà. Con lạy ông, con lạy bà, đừng xua đuổi con, cho con xin chút cơm thừa canh cặn.” Nhưng rút cục thì những câu nói lâm li bi đát đó cũng không làm động lòng những gia đình giàu có. Ông và chúng bạn vẫn bị xua đuổi và ghẻ lạnh. Xin không được ở những gia đình giàu có ông lại đến xin ở những nhà nghèo khó và lần nào họ cũng cho ông chút gì đó. Ông đã từng đi nhặt những lá rau úa vàng vứt nơi góc đường góc chợ về nấu ăn cùng chúng bạn rồi đi vác lợn cho lò mổ để kiếm từng trinh, từng hào. Có nhiều khi cùng các bạn đi qua ngôi nhà của mình, ông bảo nhà tao đây nhưng không đứa bạn nào tin lời ông. Họ lại nghĩ, chắc ông vừa xin vào làm thằng nhỏ trong gia đình đó. Ông bảo, ông biết ơn thuở đầu đường xó chợ, biết ơn những người bạn đầu đường xó chợ nhưng đầy ân nghĩa đã rộng lòng dạy dỗ tuổi thơ của ông. Năm mười sáu tuổi, đang học tú tài phần hai thì ông bị bắt vì tham gia hoạt động cách mạng. Đến tháng 9 năm 1945, ông gia nhập quân giải phóng trong trung đoàn Nam tiến, tham gia vào các mặt trận miền Đông Nam bộ, Trung Nam bộ và Tây Nguyên. Năm 1947, mới mười chín tuổi, ông được Thủ tướng Phạm Văn Đồng, khi đó là Đại diện Trung ương Đảng, Bí thư liên khu ủy liên khu V, đưa về làm thư ký riêng. Ngoài công việc làm thư ký riêng cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng suốt năm mươi ba năm, ông còn tham gia nhóm tư vấn cho nhiều vị lãnh đạo cao cấp khác. Cho đến bây giờ khi đã hoàn toàn nghỉ hưu, ông vẫn được các cơ quan, tổ chức mời làm cố vấn, như: Trung tâm Minh triết Việt Nam, Viện nghiên cứu nhân lực nhân tài Việt Nam, Báo điện tử Vietnamnet, Báo Tia sáng, Hội đồng Lý luận Trung ương. Và mới đây nhất, ông được mời làm Viện trưởng Viện Trần Nhân Tông tại Việt Nam do các trí thức trong và ngoài nước lập ra.
Câu chuyện giữa tôi và ông luôn bị gián đoạn bởi những cuộc điện thoại gọi đến. Đó là cuộc điện thoại người bạn già của ông hỏi thăm sức khỏe, hay điện thoại mời ông tham dự hội thảo, mời ông làm cố vấn cho một tổ chức nào đó. Rồi tiếng chuông cửa lại vang lên, những người bạn thuở học sinh, từ trong miền Nam ra, đến thăm ông. Những người bạn của ông lại kể cho tôi nghe kỷ niệm thời thơ ấu. Họ bảo, Việt Phương từng là thần tượng của nhiều lớp học sinh sinh viên trong những năm 60 và 70 bởi những bài nói chuyện đầy sức thuyết phục, bằng sự thông minh, bằng những kiến thức lý luận chuyên sâu, bằng góc nhìn cương trực, dám nhìn thẳng vào sự thật, phê phán cái sai cái xấu trong xã hội, và bằng một cá tính mạnh mẽ, sôi nổi. Hồi đó, cơ quan hay trường học nào mời được Việt Phương đến nói chuyện thì coi đó là sự kiện quan trọng được trông đợi nhất. Cả cuộc đời làm chính trị và làm thơ.
Cả cuộc đời nghiên cứu lý luận, triết học. Cả cuộc đời đã và đang dấn thân sống, cống hiến. Ông rút ra được một bài học cơ bản nhất từ trong giáo lý của nhà Phật để làm lẽ sống cho mình. Tất cả là không có gì, không có gì là tất cả. Hãy sống sao cho không hổ thẹn với anh em bè bạn, người thân, không hổ thẹn với nhân dân và không hổ thẹn với chính mình.
Trần Vũ Long
Nhà thơ Việt Phương
• Tên khai sinh: Trần Quang Huy
• Sinh năm 1928
• Quê quán: Hà Nội
• Hoạt động: Hơn nửa thế kỷ làm thư ký cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng, làm cố vấn cho các lãnh đạo cao cấp qua các thời kỳ.
• Tác phẩm chính: tập thơ Cửa mở năm 1970; gần bốn mươi năm sau mới in tập thơ thứ hai Cửa đã mở, rồi các tập thơ Bơ vơ đông đảo, Cỏ dọc đường trần, Cát dưới chân người, Nhặt nắng trong sương.
Bóng mây qua đỉnh Việt
Cơn gió bóng mây qua đỉnh Việt
Mà như lau sậy có linh hồn!
(Pha Đin Q.D.)
I - Hành trang Quang Dũng, đã hết những tồn nghi?
Mục tiểu sử, ở cả hai tuyển tập Quang Dũng Tác phẩm chọn lọc (nhà xuất bản Văn Học,1988) và Tuyển tập Quang Dũng (nhà xuất bản Văn Học, 1999), nhà thơ Trần Lê Văn, trong lời đầu sách, sau khi đưa sơ yếu lý lịch Quang Dũng như trên, đã kể tiếp: “... Khoảng đầu những năm 1940, Quang Dũng thường giao du với những người bạn cùng lứa tuổi, có chí khí, có tinh thần yêu nước, đang cùng nhau ‘tìm đường’... Gặp và yêu cô Thạch ở Yên Bái, Dũng nhận làm thư ký ga Thị Cầu để được gần người yêu. Nhưng chẳng bao lâu anh lại ‘Nhẹ nhàng thân gửi kiếp ra đi’. Nhân có người bạn làm công nhân trên tuyến tàu chạy Vân Nam của công ty Hỏa xa Vân Nam, anh làm một chuyến viễn hành sang đấy, cũng là để đi cho biết đó biết đây và để vẽ những cảnh đẹp mà anh vẫn thấy trong tưởng tượng qua thơ Đường, thơ Tống.” Đoạn kể của Trần Lê Văn hoàn toàn đúng với con người, tính khí Quang Dũng, nhưng đã có một dư luận xấu sau này nhân khi Quang Dũng bị ảnh hưởng vụ Nhân văn – Giai phẩm đã làm thương tổn hành trình của ông (dường như trong chuyến sang Vân Nam ấy, Quang Dũng đã gia nhập Đảng Việt Nam Cách mạng đồng minh hội của Nguyễn Hải Thần!) kèm theo là sự suy diễn của một số người hiếu sự. Sinh thời đôi bạn Quang Dũng, Trần Lê Văn rất buồn, rất đau về những điều suy diễn này. Quang Dũng không thể tự biện minh cho mình, Trần Lê Văn thì không có cơ sở gì để thanh minh cho bạn. May thay, sau khi hai ông qua đời, tôi có dịp phỏng vấn nhà văn Tô Hoài nhân đến đặt bài Tết cho tờ Sức Khỏe và Đời Sống tôi cộng tác. Tôi trò chuyện với nhà văn Tô Hoài: “Nhờ lấy tư liệu viết về trường Cao đẳng Mỹ Thuật Đông Dương, tôi mới biết nhà văn Nhất Linh đã đỗ đầu trong kỳ thi vào trường này ngay khóa đầu tiên, năm 1925...” Cụ Tô Hoài rất minh mẫn, đáp: “Còn tôi thì biết Nguyễn Tường Tam hồi ấy còn ký tên Đông Sơn khi minh họa cho các báo Phong Hóa, Ngày Nay.” Cụ còn kể thêm: “Quang Dũng hồi lãng du ở Quảng Châu, họp ở Liễu Châu với cánh Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam. Ông Dũng mê Nguyễn Tường Tam lắm! Sau thấy họ Nguyễn chỉ uống rượu khỏe, ông chán, về đến Hà Nội là bỏ hẳn đám này về Sơn Tây học trường võ bị của ta.”
Tôi suýt reo lên vì mừng cho ông Quang Dũng, bởi chỉ duy nhất một người có thẩm quyền nói sự thật lý lịch nhà văn mà ai cũng phải tin là cụ Tô Hoài, nguyên bí thư Đảng ủy Hội Nhà văn Việt Nam thời Nhân văn – Giai phẩm, khi lý lịch nhà văn ít nhiều “có vấn đề” hồi đó được soi lên từng sợi tóc... Tôi chưa yên tâm, gặng hỏi lại: “Thưa bác, sự dính líu của ông Quang Dũng với nhóm đó đúng là chỉ thế thôi?” Tôi nhấn mạnh: “Bác cho phép tôi đưa in đúng câu này trong một bài viết để xóa bỏ những đồn thổi không đâu về ông Quang Dũng nhé!” Sau đó tôi đưa in lên báo Sức Khỏe và Đời Sống Xuân Kỷ Sửu (2009) bài báo Nhà văn Tô Hoài bơi giữa dòng đời ở tuổi 90. Tất nhiên tôi phải mang báo biếu đến vì cụ cũng có bài. Tôi đề nghị cụ xem lại câu cụ nói xem có sai chữ nào không. Cụ liếc qua rồi cười xòa: “Ông này quá cẩn thận!” Sau đó, tôi còn đưa in lại câu này nằm trong một bài báo khác “cho chắc ăn”: Nhà văn Tô Hoài – Trang viết lớn từ những chuyện nhỏ trên Sài Gòn Giải Phóng ngày 6-6-2010. Vậy là sự xác nhận của cụ Tô Hoài hai lần được in lên báo như trên cùng với Giải thưởng Nhà nước Quang Dũng được truy tặng năm 2001 phải chăng đã đánh dấu chấm hết, xua tan đám mây mù nếu còn lởn vởn đâu đó về cuộc đời nhà thơ Quang Dũng?
Quang Dũng tham gia cách mạng đúng ngày 19 tháng 8 năm 1945, tham gia đại đội vệ binh khu II ở Hà Nội, ông được cử làm chính trị viên phó đại đội. Tôi được biết khi nhóm Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam về nước, Quang Dũng có ý lo Nguyễn Tường Tam sẽ tìm cách bắt mối với ông, lúc này ông mới thấy rõ bộ mặt thật của nhóm này, còn khi Cách mạng chưa thành công, ông lang thang ở Liễu Châu, thì đảng cách mạng nào chả là của người yêu nước! Một vị có trách nhiệm ở Bắc bộ phủ được Quang Dũng tâm sự liền nghĩ cách tách ông xa khỏi Hà Nội. Thế là chàng được cử làm phái viên Phòng Quân vụ Bắc bộ, về vùng Sơn Tây tìm mua, thu thập những vũ khí quân đội Nhật đầu hàng, quân Tàu phù lén bán... Hồi tôi làm việc ở Phòng Văn nghệ Sở Văn hóa Hà Tây, được trò chuyện với cụ Nghĩa móm, nguyên chủ tịch huyện Ba Vì, cụ kể nhà thơ Quang Dũng gặp cụ từ năm đó, đã nhờ cụ giúp cất giấu một bộ phận quan trọng của chiếc máy bay trinh sát lấy được của quân đội Nhật. Sau đợt công tác đó, Quang Dũng được cử đi học lớp bổ túc quân sự ở Tổng Sơn Tây.
II – Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Sau những hoạt động kể trên, cuối xuân 1947, Quang Dũng gia nhập trung đoàn Tây Tiến với cấp bậc đại đội trưởng. Nhiệm vụ của đoàn quân là hành quân lên phía Tây, phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Lào – Việt đánh tiêu hao quân đội Pháp ở Thượng Lào. Lính Tây Tiến hầu hết là thanh niên Hà Nội, đủ các thành phần: công nhân, trí thức, dân nghèo thành thị, binh sĩ chế độ cũ, có nhà sư, có cả những cô đầu Khâm Thiên, đoàn quân phần lớn nguyên là học sinh của các trường Sư Phạm, Bưởi, Thăng Long, những tiểu trí thức Hà Nội mang sẵn trong tâm hồn hạt giống tài hoa và hào hoa đất Thăng Long, chờ bật mầm thành những cây đa, cây đề của giới văn nghệ sau này (các họa sĩ Văn Đa, Quang Thọ, nhà thơ Quang Dũng, nhạc sĩ Doãn Quang Khải, tác giả Vì nhân dân quên mình)...
Địa bàn đóng quân và hoạt động của Tây Tiến khá rộng: từ Mai Châu, Mộc Châu sang Sầm Nưa, cùng bộ đội Lào bảo vệ Sầm Nưa, chống hành động tái chiếm của quân đội Pháp, rồi vòng về qua phía Tây Thanh Hóa. Tinh thần đánh địch càng cao thì gian khổ, thiếu thốn như càng ghê gớm để thử thách ý chí của họ: Nhiều trận đánh phục kích, giáp lá cà làm giặc Pháp kinh hồn như trận Dốc Đẹt (trên đường từ Phố Vãng sang Mường Bi), trận chiến khốc liệt ở Xóm Trại, Bãi Sang, Chiềng Sại... có những chiến sĩ bị sốt rét, run cầm cập vẫn không rời trận địa. Không còn sức vần đá lăn xuống thì ném lựu đạn, không còn sức ném lựu đạn thì nằm nguyên chỗ, bóp cò chặn địch cho đồng đội lao xuống đánh giáp lá cà. Đoàn quân không mọc tóc vì sốt rét tóc không mọc được, quân xanh màu lá không chỉ vì lá ngụy trang xanh hay màu quân phục mà còn vì nước da tái mét vì sốt rét, thiếu thuốc, thiếu ăn. Đóng quân trong rừng, ở làng bản ven rừng thì sốt rét hoành hành, thuốc men cạn kiệt. Mỗi sáng, cô y tá bỏ được vài viên ký ninh vàng vào bình nước lớn, mỗi bệnh nhân được uống một hai chén làm phép. Số người chết bệnh do thiếu thuốc men, thiếu dinh dưỡng nhiều hơn chết trận. Khu đóng quân tản mát các xóm nên khi có người qua đời, phải lấy tiếng cồng làm hiệu, để bà con trong xóm đến giúp đỡ chôn cất, để những chiến sĩ còn khỏe về lán quân y tiễn đưa đồng đội. Giữa đêm vắng nghe hiệu cồng không khỏi có người tự hỏi: bao giờ thì đến tiếng cồng báo tử của mình? Đại đội trưởng Như Trang nằm bệnh xá, sáng tác bài Tiếng cồng quân y. Đài tưởng niệm ở Châu Trang hiện nay, bên cạnh lư hương có hình chiếc cồng. Những chiếc cồng di sản văn hóa dân tộc trở thành đồ tế khí với các liệt sĩ Tây Tiến, sau khi chúng đi vào thơ, nhạc, vào hội họa, điêu khắc của những đồng đội sống sót... Gỗ lạt đóng quan tài vừa rất thiếu vừa không đóng kịp, đành bó chiếu đem chôn. Rồi đến chiếu cũng thiếu, anh em có sáng kiến chẻ tre buộc bó thân liệt sĩ. Hội mẹ chiến sĩ thị trấn Vụ Bản, Lạc Sơn quyên góp được trăm đôi chiếu, đem đến. Phát biểu trước hàng quân, khi bà mẹ đại diện nói đến câu: bà con gom góp chiếu tặng lại đơn vị để... để... - thì khóc òa, không cần nói hết mà ai cũng hiểu! Đài tưởng niệm đặt ở Châu Trang, xã Thượng Cốc, huyện Lạc Sơn Hòa Bình, bên quả đồi cạnh quân y xá năm nào đã phủ kín gần hai trăm ngôi mộ những chiến sĩ trẻ áo bào thay chiếu anh về đất... (tư liệu: Tây Tiến, một thời và mãi mãi, nhà xuất bản Hà Nội, 2008. Thành ủy Hà Nội – Ban Tuyên giáo, Ban liên lạc cựu chiến binh Tây Tiến chịu trách nhiệm xuất bản). 
Với bao kỷ niệm Tây Tiến bi tráng người sống có, người chết có, Quang Dũng cùng đơn vị làm xong nhiệm vụ những chiến sĩ quốc tế đầu tiên của Quân đội nhân dân ở biên giới Việt – Lào trở về Hòa Bình chấn chỉnh lại đội ngũ. Đại đội trưởng Quang Dũng ở đó đến cuối năm 1948, rồi chuyển về đơn vị khác. Về đến Phù Lưu Chanh, Quang Dũng bần thần ngồi nhớ đồng đội, bồi hồi bao cảm xúc, ông viết một mạch bài thơ Nhớ Tây Tiến (sau Quang Dũng đổi là Tây Tiến). Sau đó, ông về Bộ tư lệnh Liên khu III làm trưởng tiểu ban Văn nghệ thuộc phòng Chính trị Liên khu cho đến ngày tiếp quản thủ đô 10-10-1954.
III – Nổi chìm bài thơ Tây Tiến
Bài thơ Tây Tiến không chỉ là bài thơ tiêu biểu trong sự nghiệp thơ Quang Dũng, nó còn là niềm vinh dự, thành phiên hiệu nổi tiếng của một trung đoàn bộ đội. Bài thơ Tây Tiến đã được khắc vào bia đá, bia tưởng niệm các liệt sĩ, ghi chiến tích trung đoàn 52 Tây Tiến dựng ở Mai Châu. Từng có cuộc mít tinh kỷ niệm tuổi sáu mươi của bài thơ vào tháng 3 năm 2008 của các cựu chiến binh trung đoàn và các con, cháu, chắt, bốn thế hệ những người còn sống hay đã chết, ngồi chật hội trường trường Đại học y tế Công cộng đường Giảng Võ, Hà Nội. Bài thơ đã được giảng dạy tại các trường trung học, tác giả của nó được đúc tượng đồng.
Khi phát biểu ở cuộc mít tinh kỷ niệm tuổi sáu mươi bài thơ Tây Tiến, tôi phân tích đại ý “Bài thơ Tây Tiến hội tụ được cả cái bi, cái tráng của thời đại. Cái buồn lãng mạn của người tiểu tư sản, tiểu trí thức do biết mình được đón nhận một chân lý lớn, nhưng cũng đồng thời đón nhận một gian nan lớn... Nếu cuộc chiến xảy ra giữa đôi bên ngang sức, hẳn không có trạng huống tình cảm này!... Chọi lại với đại bác, xe tăng chỉ có mấy khẩu súng trường, nhưng việc cần làm thì cứ làm và dám làm. Phố phường thân yêu với những “dáng kiều thơm” bỏ lại sau lưng, bao giờ ta gặp lại? Tương lai chưa hé ra chút gì sáng sủa, vì vậy mà nuối nhớ, mà buồn... Mọi trắc trở đã qua đi, bây giờ ta càng thấy chính bài thơ Tây Tiến chinh phục được lòng người nhờ chút buồn, chút lãng mạn đó, bởi đó là những gì chân thật nhất của con người tác giả, chưa biết đến sự ‘né tránh’, ‘dè chừng’, xuất hiện ở những giai đoạn sau này.”
Rõ ràng là, qua mỗi giai đoạn lịch sử, có sự thay đổi lớn lao của hoàn cảnh thì thơ Việt đều có những khúc ngoặt. Ở mỗi khúc ngoặt ta đều có thể kể tên vài tác phẩm làm mốc. Tôi thử đơn cử hai bài gây ấn tượng nhất với tôi: Đèo Cả của Hữu Loan và Tây Tiến của Quang Dũng. Cách cảm nghĩ, cách viết hai bài thơ này, không một tài thơ nào trước đó có thể viết được! Khi chúng đã được khí phách cả một thời đại ùa vào, chắp cánh cho chúng, gia tăng, bùng nổ nội cảm của tác giả đến mức họ tự thấy phải viết một cách mãnh liệt, khắc nghiệt thế nào đó để ngay từ nhịp điệu lẫn tu từ phải khác trước!
IV- Bài thơ đầu tiên và bài thơ thừa ra trong hành trang Quang Dũng
Quang Dũng làm thơ từ bao giờ? Ông hầu như không có sổ chép thơ mình theo thứ tự ngày tháng mà chỉ viết thành những tờ rời vương vãi hoặc viết trực tiếp trong sổ tay bè bạn. Nhưng ở những mốc thời gian đặc biệt thì ông nhớ, thí dụ năm phải rời xa đồng đội Tây Tiến, hoặc bài thơ đầu tiên mình làm. Nhưng chưa bao giờ ông nói ra điều đó nên ông Trần Lê Văn cũng không biết. Nhờ sự tình cờ đi tìm xuất xứ bài thơ Dặm về ông luôn ngâm ngợi, từ Hoàng Cầm đến Nguyễn Dậu ai cũng bảo của ông, nhờ bút tích ông ghi lại trong sổ chép thơ của bác sĩ quân y trung đoàn Tây Tiến Phan Quang Chấn (Đi tìm xuất xứ một bài thơ của Vân Long, báo Văn Nghệ 37, 16-9-1989). Quang Dũng chép chùm thơ năm bài, bác sĩ Chấn còn nhớ là vào khoảng 1949-1950 tại Hang Cáy Đầm Đa, Chi Nê, nơi đóng quân y viện của Trung đoàn.
Nét chữ gọn đẹp mà vẫn phóng khoáng, chỉ qua đó đã thấy lộ rõ bản sắc Quang Dũng: bài thơ Tỳ Bà hành của Bạch Cư Dị chép xong ông còn vẽ một chàng tư mã áo xanh dắt ngựa xuống bến sông. Dưới thuyền, một cô ca kỹ đứng đầu thuyền đón khách. Bài Đôi mắt người Sơn Tây và Tây Tiến dưới đề hai chữ tắt QD. Riêng bài Dặm về ông rất hay đọc cho mọi người nghe và ai cũng tưởng là của ông thì đề rõ tên bài không đề, dưới bài: không tác giả. Thật là sòng phẳng, không lập lờ gì với bài thơ hay vô chủ lúc ấy. Đặc biệt, bài đầu trang sổ ông chép là bài Chiêu Quân đề cuối bài QD 1937. Trời ơi! Quang Dũng làm thơ từ lâu thế ư? (tôi thốt lên lúc ấy) Vậy là năm sinh của ông 1921, ông làm bài này năm mười sáu tuổi. Phải chăng tôi đã tìm được bài thơ đầu tiên của Quang Dũng? Cho đến nay, bạn bè và thân nhân của ông, chưa ai biết một bài thơ nào ông làm sớm hơn thế! Với Quang Dũng, người không biết lưu giữ bản thảo của mình thì phát hiện này quả là lý thú! (Bài này được giới thiệu trên báo ngay sau đó, và mười năm sau, Tuyển tập Quang Dũng, 1999, Trần Lê Văn biên soạn đã xếp bài này (lần đầu in sách) ngay trang thơ đầu.)
Vậy là cùng lúc, tôi là người may mắn, thấy được bút tích ông chép tay bài Dặm về phù hợp với cái lắc đầu kiên quyết trên giường bệnh khi ông không đồng ý đưa bài này vào tập Mây đầu ôcủa ông sắp đưa in, cùng lúc, tôi biết bài thơ xưa nhất ông làm là Chiêu Quân (1937). Với bút pháp, chất lượng bài này và bài Cố quận 1940 nếu ông có ý thức lưu danh đưa in từ năm đó, thì mặc nhiên ông thuộc thế hệ các nhà thơ mới, như Tế Hanh, cũng sinh 1921, 17 tuổi làm bài thơ đầu, 18 tuổi in tập đầu, 19 tuổi Giải thưởng Tự lực văn đoàn...
V - Hồn nhiên mà độc đáo
Nhà thơ Quang Dũng độc đáo một cách hồn nhiên, ông cứ sống tự nhiên như chim trời cá nước mà thành độc đáo. Một buổi sớm mùa đông lạnh đến mười độ, nghe tiếng chuông gọi cửa, tôi tỉnh giấc, nhìn đồng hồ, mới hơn năm giờ sáng. Hẳn có ông bạn nào tỉnh xa về, xuống tàu xuống ô tô bến xe Long Biên mới gọi vào cái giờ quái ác này! Nhìn xuống đường, qua làn sương mù dày tôi vẫn nhận ra tấm lưng to như lưng gấu của ông Quang Dũng, ông đang chạy tại chỗ chắc để đỡ lạnh. Xuống mở cửa, vẫn chưa hết ngạc nhiên thì ông dúi vào tay tôi cuốn sách cỡ nhỏ: “Tặng ông cuốn sách mới, nhân tập chạy, lúc khác thì lại quên!” Đó là cuốn bút ký Những chặng đường Cao Bắc. Từ nhà ông đến tôi phải năm sáu cây số. Khi đi viết về lâm nghiệp, ông cục trưởng có nhã ý tặng mỗi nhà văn một sản phẩm của rừng, ông chỉ xin một bộ đồ đi rừng gồm giày tất chống vắt để lại đi tiếp...
Quang Dũng vóc dạc to lớn, đôn hậu, hóm hỉnh, nhưng có tính nhát. Ông Trần Lê Văn trêu bạn, vẫn định nghĩa: Quang Dũng là người mở cửa sổ thì sợ gió lùa, đóng cửa thì sợ thiếu không khí. Tôi chứng thực một lần ông lên căn gác phố cổ Nguyễn Siêu nhà tôi: Đó là kiểu cửa sập nằm ngang, thường ban ngày phải dùng móc sắt cố định cánh cửa mở, để lên xuống cho an toàn, đêm mới hạ xuống, gài then. Thế mà khi lên thang, ông vẫn gườm mắt nhìn cánh cửa, một cánh tay giơ lên sẵn sàng đỡ nếu cánh cửa sập xuống. Thấy chúng tôi bật cười, ông chữa ngượng: “Tôi biết không bao giờ chủ nhà để nó sập xuống đầu khách như cái bẫy chuột, nhưng... nhỡ trăm năm nó mới sập một lần, lại đúng lúc tôi lên, thì sao?”.  
Liệu có phải ông rút ra kinh nghiệm từ những lần “tai bay vạ gió”?
Quang Dũng làm thơ không nhiều. Khi chuẩn bị toàn tập cho ông, chúng tôi tổng hợp số bài thơ có trong tay chỉ có bốn mươi hai bài đã in trong các tuyển tập. Thơ chưa in vào sách có hai mươi ba bài (in lẻ trên báo và mới sưu tầm được). Vậy là cả đời thơ ông (cho đến nay) chỉ có sáu mươi lăm bài. Tinh hoa thơ ông hầu như đã tập trung ở tập Mây đầu ô.
Văn xuôi của ông, chủ yếu là bút ký, có hai mươi ba bài. Ở thể dạng này, nhiều mảng có thể coi như ông làm thơ bằng văn xuôi, cũng như gần hai chục bức tranh còn lại, coi như ông làm thơ bằng cây bút vẽ...
Vân Long
Nhà thơ Quang Dũng
• Tên thật: Bùi Đình Dậu (tức Diệm)
• Sinh năm 1921
• Quê quán: Phương Trì, Đan Phượng, Hà Nội
• Mất ngày 14 tháng 10 năm 1988 tại Hà Nội.
• Hoạt động: Trước Cách mạng: Học ban trung học trường Thăng Long, tốt nghiệp, đi dạy học tư ở Sơn Tây; từ Cách mạng: vào quân đội, công tác ở phòng Quân vụ Bắc bộ, phóng viên báo Chiến Đấu khu II; năm 1947: đi học trường Bổ túc trung cấp quân sự Sơn Tây. Sau đó về Trung đoàn Tây Tiến, làm Đại đội trưởng, Phó đoàn võ trang tuyên truyền Lào – Việt. Tháng 8-1951: xuất ngũ; từ hòa bình lập lại làm công tác biên tập văn nghệ ở các báo, và ở nhà xuất bản Văn Học.
• Tác phẩm chính: Bài thơ sông Hồng (truyện thơ, 1956); Mây đầu ô (thơ, 1986); Mùa hoa gạo (truyện ngắn, 1950); Đường lên Thuận Châu (bút ký, 1964); Nhà đồi (truyện ngắn, 1970); Rừng về xuôi(bút ký); Một chặng đường Cao Bắc (bút ký, 1983); Thơ văn Quang Dũng (tuyển thơ văn, 1988).
• Giải thưởng: Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt I, năm 2001.
Không còn thời gian để yêu
Tôi đã sống nhiều năm ở thị xã Cẩm Phả, thường xuyên gặp gỡ Tô Ngọc Hiến. Vì thế chăng mà từ khi anh mất, tôi luôn nghĩ về anh.
Ngày gần đây bất chợt mở cuốn Tô Ngọc Hiến - Tác phẩm chọn lọc– nhà xuất bản Hội Nhà văn năm 2008, sách khổ lớn, dày 720 trang, công trình do Tập đoàn than – khoáng sản Việt Nam chu cấp toàn bộ kinh phí in ấn. Tôi đọc bài viết của cháu Bùi Thị Mỹ Hạnh – con gái anh trong phần phụ lục, có tựa đề “Cha tôi – Nhà văn Tô Ngọc Hiến”. Thật quý hóa, cả đời văn Tô Ngọc Hiến dọc ngang ở vùng đất có khía cạnh chưa kịp nói, thì nay con gái yêu của anh nói hộ cha, cảm thông với cha cả về việc manh áo miếng cơm với người cầm bút thời bao cấp: “Đôi lần cảnh nhà quá bức xúc, ông đã quát lên với chúng tôi: ‘Nếu không vì chúng mày, tao chỉ cần túp lều tranh là đủ...’ Cha tôi nói đúng. Bởi ông có thể sống hết mình cho đam mê văn chương chữ nghĩa và cho miền đất mình đang sống...” Đoạn văn xúc động khiến tôi càng biết thêm về cây bút như có lửa cháy bên trong các trang viết, cho tình yêu và đất sống. Nói thì dễ, làm đâu có dễ. Văn Tô Ngọc Hiến trần trụi đến không cãi lại được. Tính cách Tô Ngọc Hiến còn độc đáo hơn. Tôi đặc biệt quý trọng anh ở cốt cách không a dua, không bao giờ sống núp bóng người khác. Nhiều người mến mộ anh và lắm kẻ không ưa anh một phần cũng ở điểm này. Dẫu sao Tô Ngọc Hiến vẫn là Tô Ngọc Hiến. Anh đã nói với tôi một lần kiểu như dằn hắt, mà không biết dằn hắt ai: “Làm cái thằng cầm bút không phải để khác đời, chứ thật ra rất khác. Có thể túng đói, mang nợ, làm phu khuân vác nuôi con ăn học nhưng sống bợ đỡ, đòn xóc hai đầu, dối trá đáng khinh lắm, dầu có viết cả ngàn trang cũng vất...” Anh thế đấy. Hiềm nỗi, anh ra đi quá sớm, để lại niềm tiếc thương cho bao người thân và bè bạn. Nhà thơ Trần Nhuận Minh, một người gần gũi với Tô Ngọc Hiến đã viết: “Tôi tin là anh đã bắt đầu. Một cây văn chạm vào bất cứ thứ gì cũng bật lên bản sắc, giọng điệu. Cái đó là công tu luyện của anh. Cái đó cũng là trời cho anh. Vậy mà anh đã nhắm mắt rồi, anh để lại sự day dứt, dày vò trước trang viết còn trắng rợn người với bao ấp ủ, yêu thương, giận hờn, đắng cay và hy vọng...” Đây là câu nói thật lòng, tôi nghĩ thế. Cùng là bạn văn chương, cho nhau, không có gì hơn.
Về nghiệp văn Tô Ngọc Hiến để lại khá nhiều. Ở đây không đề cập số trang. Phép đếm cùng các hàng chữ số đâu có nghĩa gì với tác phẩm văn học. Những cái nhà văn để lại nằm ngoài trang viết, thấm vào đất, thấm vào lòng người. Rồi người đời sẽ còn nhớ mãi các nhà văn suốt trong các năm dài phải bươn chải để sống để viết, đã bán báo, bán lịch, chạy quảng cáo để tồn tại... Có lần tôi đã viết: Con người ta ai cũng cần cơm ăn, áo mặc, cần cho con cái học hành. Nhà văn, nhà báo cũng là người, không phải là thánh nhân quân tử... Tô Ngọc Hiến cũng trong bối cảnh đó, anh đã vượt lên với các trang viết miêu tả nỗi niềm cùng số phận con người sống trên cả miền đất, từ tầng mỏ, biển khơi, biên giới: Anh có mặt trên khắp nẻo đường, tung bút trong nhiều thể loại. Một cuốn tiểu thuyết dày anh đã in: Hãy cho tôi sống lại. Sau khi anh mất, gia đình tập hợp di cảo cho in tiểu thuyết Ngôi nhà rắn rết. Trước đó anh có ba tập truyện vừa, một kịch bản phim chuyển thể từ truyện Giọt lệ Hạ Long đã dựng phim. Sức viết cùng sức vóc con người anh thật đáng nể. Tuy nhiên, như hồi sức đang trai, anh đã nói với tôi: “Mệnh tớ nặng về truyện ngắn.” Có nghĩa anh đã tự biết mình từ rất sớm. Vậy mà anh vẫn cứ lao vào tiểu thuyết, đầu tư không biết bao nhiêu thời gian, trí tuệ. Âu cũng là cái nghiệp. Tôi hiểu Tô Ngọc Hiến, biết rõ anh đam mê, trân trọng tiểu thuyết tới mức nào, không dưới ba lần được anh chia sẻ dự định cho tiểu thuyết. Ai ai cũng biết viết tiểu thuyết là khó. Nhưng viết truyện ngắn cũng đâu có dễ. Vậy mà có nhà văn thành danh ở truyện ngắn, quay sang dòng sông tiểu thuyết thấy mênh mông quá, càng bơi càng thấy xa... Đã có lần tôi kể Tô Ngọc Hiến với tiểu thuyết chỉ riêng việc đặt tên sách cũng qua ba sự thay đổi: Nhà máy không ống khói rồi Bắc cực quang nhiệt đới và cuối cùng: Hãy cho tôi sống lại. Lắm lúc tôi nghĩ trong anh pha tạp những dòng chảy, chưa đổ hẳn về ngả nào. Không phải bao biện, có lẽ nhận định trên gần đúng. Nói cách khác, tâm tư Tô Ngọc Hiến ít khi bình yên. Trăn trở tìm đề tài là một, trăn trở tìm chữ dùng là hai. Phần này càng rõ hơn, giấy trắng mực đen còn đó. Cũng có người viết truyện dài thật dễ, chữ nghĩa thánh hiền từ cha ông truyền lại, đem ra dùng quá phung phí, như gieo mạ vậy... Tô Ngọc Hiến không thế. Không gian trong truyện ngắn gò ép anh bao nhiêu năm, đến khi viết tiểu thuyết, anh mặc sức tung hoành, nhiều phen quá đà chứ không phải anh không nắm được quy cách của tiểu thuyết. Mà mê say quá cũng có hại. Cứ lấy nhân vật chính trong tiểu thuyết Hãy cho tôi sống lại – kỹ sư Hải – ra mà xét: chữ nghĩa chỉn chu, tính cách nhân vật góc cạnh, thấy rõ người viết rất am tường các lĩnh vực, nhiều lý sự, tuy vậy, điều tác giả mong đợi ở tiểu thuyết thì chưa đến... Về tiểu thuyết thứ hai gia đình cho xuất bản – Ngôi nhà rắn rết – thiết nghĩ, giá Tô Ngọc Hiến còn sống, chắc chắn anh sẽ sửa chữa nhiều, và cả tên sách anh cũng sẽ thay đổi...
Thành công của Tô Ngọc Hiến trong lĩnh vực truyện ngắn là quá rõ không thể phủ nhận. Có ý kiến cho rằng các truyện ngắn của Tô Ngọc Hiến thời ấy giờ đọc ít hứng thú. Trong cuộc đời không có ai chỉ sống bằng ký ức. Những người chỉ sống bằng ký ức ở thì hiện tại là đã tự tước đi thiên bẩm trời phú... Truyện ngắn Tô Ngọc Hiến một thời góp phần quan trọng làm nên diện mạo, bản sắc văn học hiện thực của vùng đất này. Đấy chính là cái được của một nhà văn từng sống, chết với ngòi bút. Khoảng từ đầu năm 1970 tới năm 1983, 1984 Tô Ngọc Hiến chuyên tâm cho truyện ngắn. Cây bút sắc sảo của anh tung hoành và thu kết quả đáng khâm phục. Ngay từ thời gian đó, anh hầu như đã hoàn thành sứ mạng của nhà văn. Đâu phải tự nhiên mười mấy năm trước nhà văn Lý Biên Cương nói về người bạn văn thân thiết đã mấy phen hai người đi trên hai bờ sông bị che khuất: “Văn Tô Ngọc Hiến cuồn cuộn, dai dẳng không chỉ ở truyện vừa, truyện dài, đặc biệt là ở truyện ngắn... Truyện nào của anh cũng lấp lánh phẩm chất người thợ, trước máu thịt, trước ngòi bút và những con người anh viết ra không dễ dàng quên. Những truyện ngắn của Tô Ngọc Hiến rất đáng giá. Sau Võ Huy Tâm, anh là một cây bút sống trên vùng than viết về thợ mỏ với cả tấm lòng... Về nghề, anh xứng đáng là nhà văn viết hoa...” (Tô Ngọc Hiến - Tác phẩm chọn lọc trang 696).
Tiếp theo ý của nhà văn Lý Biên Cương, nói cho công bằng, tôi thấy những truyện ngắn của Tô Ngọc Hiến viết trong thời gian dài được sàng lọc, in thành ba tập: Người Kiểm Tu – 1974; Mùa hoa sim cuối cùng – 1978; Mùa than trôi – 1982 thật sự đã đưa tên tuổi Tô Ngọc Hiến đứng ngang cùng các nhà văn Việt Nam tiêu biểu đương đại xuất hiện giai đoạn sau năm 1975. Việc anh được trao giải Nhất cuộc thi truyện ngắn của Tuần báo Văn Nghệ và trúng cử vào Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam là bằng chứng xác thực.
Đôi khi tự dưng tôi có ý nghĩ ngồ ngộ thấy Tô Ngọc Hiến nhà văn – con người có nét tinh thần hao hao giống Antatôli Kim nhà văn Nga gốc Triều Tiên. Tôi cứ mường tượng cái dáng cao lớn, rắn rỏi lẫn vào tốp người luồn lách giữa các bờ lau đường hẻm ngoằn ngoèo khô cằn trên vách núi cao lưng đeo túi đựng các củ sâm cao ly hiếm hoi mới đào nơi biên giới Nga – Triều để cho ra mắt bạn đọc những tác phẩm độc đáo đậm sắc thái dân tộc hòa quyện vào đời sống người dân vùng biên viễn như các truyện ngắn: Báo thù, Tình yêu và lòng ngay thẳng, Ngày ngày qua núi Đa Sa...
Đương nhiên Antatôli Kim là nhà văn Nga – người dân tộc xuất sắc, các trang văn của ông mới vượt qua các biên giới, vượt qua thời gian... Tô Ngọc Hiến cũng có những truyện ngắn xuất sắc mô tả đời sống cùng thân phận con người vùng mỏ, cả vùng biên thùy. Năm 1979, chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, từng đoàn quân rùng rùng ra trận xe tăng, đại bác, lương thảo, đạn dược, chông tre và cả đội văn nghệ xung kích. Có đợt Tô Ngọc Hiến và tôi đi cùng một mũi. Anh đã có mặt tại điểm chốt Cao Ba Lanh cao ngất ngưởng, Pò Hèn, Thán Phún len lỏi rừng quế, rừng hồi, rừng pơmu để có truyện Cây pơmu ra biển, anh có truyện ngắn Làng Cá, báo Văn Nghệ in trân trọng, minh họa màu của Văn Cao thể hiện ông già nghề cá cụt cả hai bàn tay, người gân guốc, trên chiếc thuyền nhỏ mong manh đương đầu cùng sóng dữ... Tô Ngọc Hiến cắt tấm minh họa lồng khung kính, đặt trước bàn làm việc. Mỗi lần tới nhà Tô Ngọc Hiến nhìn bức họa khác thường, tôi lại bị ám ảnh về chuyện đời, ám ảnh về bức minh họa có thần bút. Đoạn văn tả hai ông già nghề biển dưới đây (một người cụt hai tay, một người mất một con mắt) mang đậm văn phong Tô Ngọc Hiến: “Rít xong một hơi thuốc thật sâu và thật kêu, ông già Khuổi mới ngửa mặt lên, nhểu mồm ra, thở từng cuộn khói dày đặc. Hai cùi tay vẫn trân trân như những con mắt thịt câm lặng. Cả hai con mắt thật đỏ nọc, cũng câm lặng. Trước vầng lửa, vồng ngực trần của Bằng Khuổi dồ lên tựa một con sóng lớn. Và hình thể của người ngư dân ấy, phảng phất một pho tượng còn tạc dở, thiếu cả hai bàn tay. Ông lão ngồi xế bên bắp vế Bằng Khuổi, con mắt còn lại xếch lên như mắt cá vược, chốc chốc lại chớp liền mấy cái như bù đắp sự thiếu hụt của con mắt kia. Hai bàn tay còn nguyên vẹn và khỏe mạnh của ông già này, không lúc nào yên; cời những nhánh củi ra hoặc nhém thêm củi vào đống lửa...”
Từ ngày sang làm báo chuyên nghiệp, Tô Ngọc Hiến có điều kiện đi nhiều, thâm nhập thực tế sâu hơn ở các lĩnh vực. Vẫn cứ là việc viết báo nuôi văn, tranh luận với bạn bè, anh hay nổi quạu, đôi lông mày như hai con sâu róm cứ như muốn rụng lông vào người ta. Sau đấy làm lành ngay, lại tếu táo, ngả ngớn. Ai chưa hiểu bảo anh khó gần, này nọ. Tôi biết rõ, anh rất thực tế, đôi khi cái thực tế làm mờ người nghệ sĩ – nhà văn ở anh. Từ thái quá thành thử lắm lúc có vẻ khác đời. Tô Ngọc Hiến không có chất phiêu linh như người thơ Bùi Giáng, cũng không lầm lụi, ẩn dật như người văn Sơn Nam của đất Nam bộ. Tô Ngọc Hiến sôi động, đào hoa, đỏm dáng, kính thầy, thương bạn và cũng bạo mồm bạo miệng chưa từng. Anh hay dùng chữ bạo liệt: “Tiểu thuyết Đất Trắng của Nguyễn Trọng Oánh bạo liệt”, “Tình yêu bạo liệt.” Tô Ngọc Hiến là như vậy. Tôi thấy anh cũng có nhiều trang viết bạo liệt. Đã mười sáu năm (kể từ 1995) vắng bóng tác phẩm gây ấn tượng về miền đất xứ than này, đấy cũng là nhận định chung. Tôi đã viết bài về sự việc này. Cần có tầm nhìn rộng, cao và xa mới mong nhận biết giá trị của tác phẩm văn học, “Không còn thời gian để yêu, chỉ còn thời gian để chết”. Phải cảm thông cùng bạn văn tới mức nào, nhà thơ Trần Nhuận Minh mới đặt tên bài mình viết về Tô Ngọc Hiến như vậy...
Phan Thanh
Long Tiên Động tháng 6 năm 2001
Nhà văn Tô Ngọc Hiến
• Tên khai sinh: Bùi Thượng Hiến
• Sinh năm 1942
• Quê quán: huyện Xuân Thủy, tỉnh Nam Định
• Trú quán: Thị xã Cẩm Phả, Quảng Ninh
• Hoạt động: Từng làm việc tại nhà máy cơ khí Cẩm Phả, học trường viết Văn Nguyễn Du, sau đi viết văn, làm báo chuyên nghiệp, vào Hội Nhà văn 1978, ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn (khóa III).
• Tác phẩm chính: Người kiểm tu (tập truyện ngắn 1974); Mùa hoa sim cuối cùng (tập truyện ngắn 1978); Mùa than trôi (tập truyện ngắn 1982); Hãy cho tôi sống lại (tiểu thuyết 1988); Trên bến bờ riêng khuất (tập truyện vừa 1992); Đứa con của hồng thủy (tập truyện vừa 1996); Giọt lệ Hạ Long (kịch bản phim)...
• Giải thưởng: Giải Nhất cuộc thi truyện ngắn báo Văn Nghệ (1971-1972). Giải thưởng văn học Tổng công đoàn - Hội Nhà văn Việt Nam (giải chính thức và khuyến khích) với hai tập Người kiểm tu, Mùa than trôi.
• Ông mất ngày 1 tháng 3 năm 1998.
“Càng đi càng khát những chân trời”
Vũ Quần Phương thuộc lớp nhà thơ chống Mỹ, nhưng không giống như Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Nguyễn Khoa Điềm... thành tựu nổi bật trong thơ ông không phải là những bài thơ về chiến tranh. Cái làm nên tài năng của Vũ Quần Phương chính là chất suy tưởng và những tình cảm nồng thắm, bình dị được thể hiện trong những bài thơ trau chuốt về ngôn từ, hài hòa về âm điệu và hình ảnh được gạn lọc nhiều khi hóa thành biểu tượng. Thơ ông lúc trẻ đã lắng đằm, heo hút, về sau càng mênh mang, thăm thẳm và giàu triết luận.
Trong căn phòng đầy sách, một chiều xuân nắng vàng, Vũ Quần Phương chia sẻ với tôi về những ký ức của đời mình. Ông kể: “Sáu tuổi mình mồ côi bố. Mười tuổi đã xa nhà đi trọ học. Ngay từ những ngày ấy mình đã thấm thía nỗi cô đơn. Có lúc thấy mình lủi thủi không có ai chia sẻ. Cái nghĩ ngợi đến với mình từ rất sớm.” Đó là khởi đầu cho những uẩn khúc trong tâm tư, tạo nên chiều sâu của tâm hồn. Sau khi bố của ông mất, mẹ con ông phải sống nhờ trong một ngôi nhà thờ họ, mùa đông phải dán thêm giấy bóng che bớt cơn lạnh, đêm đêm gió thổi vào miếng giấy tạo thành những tiếng phù phù. Bao nhiêu năm rồi ông vẫn nhớ cái cảnh ấy. Không có nhà, thỉnh thoảng lại phải chuyển đi nơi này nơi khác, mẹ thì làm nghề dạy học không đủ tiền nuôi ba người con nên phải đi bán thêm cau trầu ngoài chợ. Cảnh đói nghèo ấy khiến ông sớm phải suy nghĩ và lo toan.
Vũ Quần Phương học hành cẩn thận, hết phổ thông, thi vào đại học Y Hà Nội rồi tốt nghiệp xuất sắc và về công tác tại bộ Y tế. Đối với ông, công việc khởi đầu như thế là thuận lợi. Nhưng rồi nỗi đam mê với thơ đã ám ảnh ông. Năm 1969 nhà thơ Chế Lan Viên khuyên ông về công tác ở Hội Nhà văn Việt Nam. Vũ Quần Phương ít nhiều có lưỡng lự. Mãi đến hai năm sau ông mới quyết định dứt bỏ nghề Y thì bên Hội Nhà văn đã đủ người, thế là ông về công tác tại chương trình tiếng thơ, thuộc ban Văn nghệ Đài tiếng nói Việt Nam. Từ đó, Vũ Quần Phương vừa biên tập cho chương trình, lại vừa tham gia nói chuyện thơ và trở thành một nhà thơ chuyên nghiệp, một nhà phê bình thơ có danh tiếng. Đến nay, Vũ Quần Phương đã có khoảng hai nghìn cuộc nói chuyện thơ cho đủ các tầng lớp nhân dân, khắp các miền đất nước và trở thành một trong những nhà bình luận thơ đương đại xuất sắc nhất hiện nay.
Có lần nhà thơ Trần Đăng Khoa nói, trong những năm chiến tranh, Vũ Quần Phương bị khuất lấp đi sau những nhà thơ khác. Đó là một sự thật. Tư chất của Vũ Quần Phương không thể ồn ào, náo động, cũng không có đủ hồn nhiên để có thể dễ dàng được truyền tụng trong cái thời thơ trở thành vũ khí đấu tranh. Ông bảo: “Thơ mình không cổ động chiến tranh, mình viết về chiến tranh ở cái dữ dội trong yên lặng của nó.” Một trong những bài thơ về chiến tranh có góc nhìn rất riêng của Vũ Quần Phương là bài Chiều (năm 1967) với những câu thơ chất chứa nỗi buồn ly biệt:
“Trong ráng chiều sắp lặn những đoàn quân đi
Bao chàng tuổi trẻ ôm đồm súng
Sách vở còn tươi trong mắt ngây
Dáng mẹ chờ con như dáng đá.”
Cách nhìn đó như một sự lạc điệu với xu thế chung. Nhưng đó cũng là sự báo hiệu cho một tài thơ sẽ còn đi xa khi không ngại ngần khám phá những nghịch lý, những phần hiện thực bị vùi lấp trong cái bão giông của thời đại và mỗi kiếp người.
Thực ra, một trong những bài thơ hay nhất của Vũ Quần Phương thời kỳ ấy không phải là thơ chiến tranh mà là thơ tình. Bài Trước biển ông viết năm 1970 trở thành một bài thơ được nhiều người yêu thích. Không đơn thuần nói về nỗi nhớ niềm thương, tình yêu ở đây gắn với những suy tư về cái vô tận mênh mông của khát vọng và cái hữu hạn, ngắn ngủi của kiếp người. Giọng điệu trữ tình đằm thắm, thế giới hình ảnh phong phú, đa tầng, những day dứt và thiết tha hòa trộn thành một tổng phổ cảm xúc có sức mê hoặc. 
“Vị biển mặn đến quá chừng mặn chát
Hạt muối đời hai đứa cắn chung nhau
Anh hiểu sao con sóng sớm bạc đầu
Anh hiểu sao chúng ta lại yêu nhau
Biển rộng quá biển cần bờ cần đất
Bờ đâu xa bờ còn là có thật
Biển không cùng biển vẫn đỡ hơn anh
Trưa biển này anh chỉ nắm tay anh
Sóng bạc đầu nhưng biển mãi tươi xanh
Khi ta hết cuộc đời kia vẫn thế...”
Làm ở chương trình tiếng thơ được mười hai năm, Vũ Quần Phương chuyển sang làm biên tập ở nhà xuất bản Văn Học. Trong sáu năm làm xuất bản, ông đã trực tiếp biên tập, tuyển chọn và giới thiệu nhiều tác phẩm có giá trị. Thời kỳ này Vũ Quần Phương dành nhiều thời gian để viết phê bình thơ. Nhà thơ Trần Đăng Khoa cho rằng Vũ Quần Phương có tài điểm huyệt văn chương, lột tả cái thần thái của bài thơ một cách chính xác và thuyết phục. Những bài bình thơ của ông luôn được đón nhận, nhất là với học sinh, sinh viên, trở thành một tài liệu tham khảo quan trọng đối với nhiều thế hệ học trò suốt mấy chục năm nay.
Từ năm 1990, ông chuyển sang Hội Văn nghệ Hà Nội. Từng làm chủ tịch Hội, tổng biên tập báo Người Hà Nội, sau đó lại về làm hiệu phó trường Viết văn Nguyễn Du. Nhưng có lẽ, chuyện chức tước không hợp với ông, nên ông xin từ chức để dành nhiều thời gian cho sáng tác. Ông tiếp tục công tác tại Hội Nhà văn Việt Nam, làm chủ tịch Hội đồng thơ trước khi về hưu năm 2005.
Đường thơ của Vũ Quần Phương dường như khá nhất quán. Những tố chất khởi phát thời tuổi trẻ dần dần đã trở thành nhân tố chính trong thơ ông. Càng ngày, thơ Vũ Quần Phương càng lộ rõ hai yếu tố chính là tính trữ tình và sự suy nghiệm. Ông cho rằng: “Thơ là kinh nghiệm sống được truyền đi bằng kênh của tình cảm.” Thời trẻ, ông thường làm thơ bằng những cảm xúc chợt đến, những giây phút thăng hoa xuất thần. Nhưng rồi từ cái phút xuất thần ấy, sự suy nghiệm đã đến len lỏi trong từng chi tiết, biến hóa trong từng hình ảnh. Ông kể, bài Trước biển được sáng tác trong một lúc tình cờ, nhưng bài thơ ấy đã trở thành một trong những tác phẩm sinh động nhất của ông. Về sau, khi đã có tuổi, ông thường làm thơ bằng chiêm nghiệm. Tôi hỏi ông, với trường hợp ấy, ý tưởng đến trước hay hình tượng đến trước? Ông trả lời: “Hình tượng đến trước.” Vũ Quần Phương hiểu rằng, trong một bài thơ, nếu chỉ có ý tưởng mà không có hình tượng độc đáo thì bài thơ sẽ chết. Vả lại, làm thơ, nếu chỉ có tư duy sâu sắc, thiếu đi cảm xúc, nếu chỉ có tỉnh táo, thiếu đi mộng ảo, thì bài thơ trần trụi. Nghề thơ khó vì thế, sự kết hợp của những thành tố tưởng chừng có thể phân định được ấy, thực ra lại tuân theo một quy luật đặc biệt, đầy bí mật và không dễ lý giải. Vì thế, bình thơ, hiểu thơ là một chuyện, làm thơ lại là chuyện khác, nó đòi hỏi tài năng.
Vũ Quần Phương khi đã có tuổi vẫn giữ được sức sáng tạo dồi dào. Thơ ông về sau này càng giản dị, sâu sắc, đa nghĩa và âm điệu giàu biến hóa hơn.
Tình cờ nhìn thấy loài hoa cúc biển, ông thương cho loài hoa:
Đẹp mà không ai hay
Nơi này xa xóm mạc
Nhưng hoa thì phải đẹp
Mà hương thì phải bay.
(Hoa cúc biển)
Lại có lần khác ông thầm xót đau khi thấy những bông hoa đào mới nở, sau ngày xuân bị người ta vứt vào xe rác, ông thốt lên Hết phận hoa thì thành phận rác (Đám tang hoa). Phận hoa cũng như phận người ấy thôi. Biết bao bậc anh tài bị quên lãng, thậm chí bị vùi lấp trong định kiến, oan khiên. Nhưng, con người vẫn phải sống theo chức phận, theo bản ngã của mình.
Trong các nhà thơ đương đại, Vũ Quần Phương là một trong những người đã hướng ngòi bút vào sâu thẳm thân phận và nghịch lý của kiếp người. Ông lấy chính mình ra để khảo sát, để suy nghiệm rồi đưa ra những suy tư nhiều lúc khiến người đọc phải giật mình.
Ngòi bút của Vũ Quần Phương cũng hướng vào luận chuyện đời, suy ngẫm về con người nói chung. Nhìn vào cái mặt nạ dân gian, ông thấy:
Gương mặt con người
Còn giữ nét ngây thơ loài thù
Và ông thấy trong đó cả những đau đớn truyền đời:
Nụ cười sáng nhưng u trầm đôi mắt
Gương mặt dài như giọt lệ đang rơi.
(Cặp môi người trên mặt nạ)
Trong hành trình thơ gần nửa thế kỷ của mình, Vũ Quần Phương đã đi từ tươi trẻ, sống động đến nghiệm suy, từ cảm xúc đến trí tuệ, từ hiện thực đến trừu tượng. Trong những năm sau này, thơ ông gần như bỏ qua mọi cầu kỳ về hình thức, phát triển mạnh ở trực giác, đi thẳng vào cốt lõi của sự việc và thường biểu đạt những đúc kết của cả một đời người. Kể ra, đó là một hành trình dài trong sự tìm kiếm mệt nhọc và không giới hạn của nhà thơ.
Trong cái thời náo nức những cuộc tìm kiếm các giá trị mới cho thơ, cả một xu hướng rộng lớn thoát dần khỏi những trào lưu cũ đã hình thành, thì Vũ Quần Phương gần như không bị tác động gì bởi tính thời thượng. Là người lịch lãm, đã đi đã sống mấy chục năm cuộn sóng của một thời bão tố, lại tiếp xúc với cả nền văn minh phương Tây, đã đọc và dịch thơ kim cổ, Vũ Quần Phương đã chọn con đường gạn lọc trong cuộc sống của mình những tinh túy để biến thành thơ. Và đó là con đường riêng, con đường của một người tin vào những giá trị trường cửu của thi ca, những quy luật cảm hóa của cái đẹp, thể hiện một cảm quan riêng và bản lĩnh sáng tạo vững vàng.
Không chỉ suy tư về chính mình, về kiếp người, về những chuyện thời thế, ông còn đi sâu vào những suy tư trước lịch sử:
Lịch sử như anh mù
Anh điếc
Anh câm
Lịch sử lề mề
Có khi lại nhanh như lửa cháy
Cái gì không thành tro?
Trong căn phòng tĩnh lặng, ông lật giở từng cuốn sổ học trò, tờ giấy khai sinh đã ố vàng dấu thời gian, bức ảnh cưới mấy mươi năm về trước. Ông nhắc tên từng người bạn cũ thuở thanh xuân.
Trong sâu thẳm, thơ ông lặng buồn, chênh chao, sương khói, nhưng trong đời thường, ông là người giàu tình cảm, sẻ chia và chu toàn. Và sẽ là thiếu sót, nếu không nhắc đến những bài thơ ông tặng mẹ, cha, tặng vợ, tặng con cháu, bạn bè, đồng nghiệp. Đó là những bài thơ bày tỏ một tấm lòng với những chi tiết nhiều khi rất thực mà sâu sắc, thiết tha.
Giờ tuổi ngoài bảy mươi, điều kiện kinh tế không còn phải lo nghĩ. Hai người con trai của ông đã thành đạt, trở thành người nổi tiếng tận bên Mỹ, một người là giáo sư toán học tài năng, một người là chuyên gia công nghệ của hãng Google. Vậy nhưng không niềm vui nào là trọn vẹn, hàng ngày ông vẫn thường da diết nhớ con, nhớ cháu. Nỗi nhớ triền miên, không dứt.
Và nữa, có lúc ông bần thần nhớ về những người thân yêu đã rời xa thế giới này, những người không bao giờ gặp lại, nhớ những gì đã gặp trên tít tắp đường đời.
Cảm giác nuối tiếc cuộc đời, nuối tiếc sự sống, nuối tiếc tình người là một cảm giác ôm trùm trong rất nhiều bài thơ của Vũ Quần Phương.
Thiên Sơn
Nhà thơ Vũ Quần Phương
• Tên khai sinh: Vũ Ngọc Chúc
• Sinh ngày: 8 tháng 9 năm 1940
• Quê quán: Hải Hậu, Nam Định
• Bác sĩ ở Bộ Y tế (1965-1974). Biên tập thơ Đài Tiếng nói Việt Nam (1972-1984). Trưởng ban Văn học hiện đại nhà xuất bản Văn học (1984-1991). Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội, Tổng biên tập báo Người Hà Nội (1991-1997). Đại biểu Quốc hội khóa IX (1992-1997). Phó tổng biên tập tạp chí Văn chương Việt Nam. Nguyên chủ tịch Hội đồng thơ, Phó Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng Viết văn Nguyễn Du, Hội Nhà văn Việt Nam.
• Tác phẩm đã xuất bản: Cỏ mùa xuân (thơ in chung, 1969); Hoa trong cây (thơ, 1977); Những điều cùng đến (thơ, 1983); Cát sáng (thơ in chung, 1985); Vầng trăng trong xe bò (thơ, 1988); Vết thời gian (thơ, 1996); Quên chữ quên câu (thơ, 2000); Giấy mênh mông trắng (thơ, 2003); Thơ với lời bình (phê bình, 1989); Đọc thơ Hương Tích (phê bình, 1990); Cưỡi ngựa máy xem Hoa Kỳ (2005).
• Giải thưởng Văn học: Giải chính thức của Hội Văn nghệ Hà Nội 1967 và 1971. Giải chính thức của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam 1976. Giải thưởng về thơ của Hội Nhà văn Việt Nam cho các tập Những điều cùng đến và Vết thời gian. Giải thưởng Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam năm 2000 cho tập Quên chữ quên câu và năm 2004 cho tập Giấy mênh mông trắng. Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
Nghệ hơn nhiều người Nghệ
Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi có lần bảo tôi: Em có về quê nên tranh thủ ghé thăm mấy anh lãnh đạo huyện. Các anh ấy tốt lắm! Anh em mình giúp được gì cho quê hương thì ráng giúp! Ông bảo, trước đây, ông về quê nhiều lần nhưng chưa bao giờ ghé huyện. Có lần ông nói chuyện, đọc thơ ở nhà máy đường Sông Lam cạnh cơ quan huyện, huyện có mời ông ghé thăm, ông cũng không sang. Về cuối đời ông ân hận. Ông bảo tôi đừng mắc lại sai lầm của ông. Ông đã sửa sai bằng cách viết hẳn một trường ca về Thanh Chương. Lúc tặng tôi tập trường ca này, ông bảo, anh chạy đua với thời gian, nên có nhiều chỗ bị dễ dãi. Thôi, mình cứ viết hết lòng còn được đến đâu hay đến đó!
Tôi và ông chỉ gặp nhau ở quê có đúng một lần. Hôm ấy ông và chị Từ về dự đám cưới con trai của cháu gái ông ở xã tôi. Lâu ngày gặp nhau, ông rủ tôi đi bách bộ nói chuyện. Hai anh em đi vòng quanh xóm, chuyện đang say thì người nhà gọi về. Không ngờ đó là lần tôi và ông song hành hít thở không khí quê hương duy nhất.
Nguyễn Bùi Vợi có bài thơ viết về tiếng Nghệ nổi tiếng. Bài thơ ông dịch tiếng Nghệ sang tiếng phổ thông cho vợ là chị Từ người Hà Nội nghe.
Cái gầu thì bảo cái đài
Ra sân thì bảo ra ngoài cái cươi
Chộ tức là thấy mình ơi
Trụng là nhúng đấy đừng cười nghe em
Thích chi thì bảo là sèm
Nghe ai bảo đọi thì mang bát vào
Cá quả lại gọi cá tràu
Vo troốc là bảo gội đầu đấy em...
(Tiếng Nghệ)
Đằng sau những câu chữ dung dị ấy của ông là cả một tấm lòng với quê hương. Ông tự hào là người Thanh Chương. Và, dù sống giữa thủ đô, và vợ là người Hà Nội gốc, ông vẫn giữ “chất Nghệ” của mình. Tôi thường nói đùa với Võ Thanh An, có hai ông anh Thanh Chương “kết tủa” giữa thủ đô. Gàn và khái thì Võ Thanh An và Nguyễn Bùi Vợi là không ai bằng! Ngày xưa, anh em đồng hương chơi với nhau hay bị coi là cục bộ, địa phương. Nhưng đó là chốn công quyền. Còn với anh em văn nghệ, thì mặc. Thích nhau quý nhau là chơi, bất chấp hết!
Anh Vợi gặp tôi lần đầu là tại Hội nghị Viết văn trẻ toàn quốc lần thứ ba tại Hà Nội (12-1985). Bấy giờ ông là nhà thơ nổi tiếng, đã có thơ được đưa vào sách giáo khoa giảng dạy trong nhà trường, còn tôi mới lớ ngớ đến với văn chương. Nguyễn Bùi Vợi người to cao, có mái tóc dày, để dài rất ấn tượng. Ông nhờ tôi chở ông từ trụ sở Hội Nhà văn về cơ quan ông. Sau lần gặp nhau hỏi han trò chuyện đó, ông thường để ý đến các sáng tác của tôi. Tôi nhớ, ông là người đầu tiên giới thiệu tập thơ của tôi trên báo Văn Nghệ. Tôi thích bài giới thiệu của ông, bởi, ông viết giới thiệu lời lẽ rất chừng mực, ông còn chỉ ra những vụng về mà tôi thường gặp phải trong thơ. Tuy nhiên, đằng sau những câu chữ thuần túy nghề nghiệp của ông, tôi vẫn đọc thấy tấm lòng ưu ái ông dành cho tôi.
Nguyễn Bùi Vợi không uống rượu. Là nhà thơ, nhà phê bình văn học khá nổi tiếng nhưng ông sống mô phạm. Mỗi lần gặp ông, tôi thu lượm được khá nhiều thông tin, có những thông tin từ ông về giới văn nghệ tôi sống để dạ, chết mang theo chứ không kể với ai. Ông là người say chuyện. Tùng Bách kể, Võ Văn Trực hay đến nhà Nguyễn Bùi Vợi chơi. Anh Trực ngồi suốt buổi không nói câu nào, chỉ im lặng ngồi nghe bạn nói. Lúc anh Trực về rồi, chị Từ mới nhỏ nhẹ bảo ông: Anh nói ít thôi, phải để cho anh Trực nói với chứ. Lần sau anh Trực đến, ông ngồi im, chờ mãi cũng chẳng thấy anh Trực nói gì, lúc anh Trực về rồi, chị Từ bảo: Các anh hôm nay có chuyện gì à? Ông bảo chị Từ: Bà thấy không, tôi có nói mất phần của nó đâu. Nó không nói thì tôi mới phải nói đấy chứ!
Tôi đến thăm nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi tất cả là ba lần. Nhưng hai lần là đến lúc ông đã ngã bệnh. Ngôi nhà khu Hồ Tây của ông thật khó tìm. Có địa chỉ nhà do ông ghi cho mà tìm vã mồ hôi. Ông bảo có được ngôi nhà này là do con ông đi làm ăn ở nước ngoài mang tiền về mua đất và xây cất lên. Tài sản của ông chỉ có sách, mà ông bảo, con ông chẳng có đứa nào theo nghề bố cả, ông định sau ngày ông mất, ông sẽ hiến toàn bộ sách về cho địa phương – xã Cát Văn quê ông. Hai lần sau thì một lần là thăm ông trong bệnh viện, và một lần là thăm khi ông về dưỡng bệnh tại nhà con gái gần nhà thơ Hoàng Cát. Tiếp tôi hai lần sau là chị Từ vợ ông. Chị Từ là một phụ nữ có gương mặt phúc hậu. Tôi đã đọc bài viết của ông, biết được mối tình của ông và cô học trò xinh đẹp, yêu văn chương và yêu thầy Vợi nhưng bị tổ chức cản ngăn vì gia đình bà là gia đình địa chủ. Nguyễn Bùi Vợi chấp nhận kỷ luật để giữ vẹn mối tình với bà. Cuộc đời ông đã trải qua bao nhiêu thăng trầm, từ Hà Nội lên Phú Thọ, từ Phú Thọ lại trở về Hà Nội. Từ nhà giáo viết văn, viết lý luận, phê bình, đến cán bộ ngành văn hóa – thông tin, rồi biên tập viên chương trình văn nghệ của Đài Tiếng nói Việt Nam, ở đâu ông cũng để lại dấu ấn nghề nghiệp được mọi người kính nể. Đặng Anh Dũng – Phó bí thư thường trực huyện ủy Thanh Chương có gửi tôi bài viết: Nguyễn Bùi Vợi – nhân cách một người Nghệ. Bài viết ghi lại khá đầy đủ tính cách con người Nguyễn Bùi Vợi, cứng rắn, cương nghị nhưng cũng rất dễ xúc động, mủi lòng. Mặc dầu xa quê từ rất lâu, nhưng ông luôn dành cho quê hương tình cảm sâu nặng. Ông nhớ quê, quý trọng và thương những con người ở quê. Khi nhắc đến những con người, những kỷ niệm ở quê, ông thường rưng rưng nước mắt. Theo tác giả bài viết, ông “Nghệ hơn nhiều người Nghệ”. Chất Nghệ – hiểu nôm na là tính cách Nghệ. Người Nghệ nào cũng có chất Nghệ trong mình. Nó là tổng hợp nhiều yếu tố từ ngôn ngữ, giao tiếp, phong cách sinh hoạt đặc trưng của người Nghệ nhưng biểu hiện rõ nhất trong chất Nghệ là sự thẳng thắn, không úp mở quanh co. Ông viết về mình và người Nghệ:
Đã nói khi nào cũng nói to
Đã nhìn ai thì nhìn thẳng mặt
Biết bao nhiêu bận bị mất lòng
Đánh chết cũng không chừa thói thật
Vì cái sự thẳng thắn, cương trực của mình mà nhiều người ngán ngại ông. Và ông thường bị đối xử thiếu công bằng trong công tác.
Nguyễn Bùi Vợi là người viết giai thoại trong làng văn khá nổi tiếng. Giai thoại là những chuyện lưu truyền trong dân gian, người viết lượm lặt đây đó rồi tập hợp lại. Cái tài của người viết là biết chọn những chi tiết đời sống để nói ít, viết ngắn mà chứa đựng trong nó cả cái bi, cái hài, có khi chỉ là của một người nhưng nói được cả những xót xa của một thời kỳ nào đó của lịch sử. Nhiều giai thoại trong làng văn do Nguyễn Bùi Vợi kể có sức lan tỏa rộng lớn và sống mãi với thời gian. Nhà văn, cũng tùy theo quan niệm mà đến với độc giả, và lưu lại trong lòng độc giả bằng một cách nào đó. Tài năng là thứ không thể bình đẳng trước mọi người bởi nó tiên thiên, bên ngoài ý muốn chủ quan của con người. Nhưng tài năng nếu chỉ được sử dụng cho mục đích vinh thân phì gia thì người đời cũng chẳng mất thời gian quan tâm đến làm gì. Chỉ khi tài năng được sử dụng để phụng sự cho cộng đồng, cho xã hội thì mới được xã hội ghi nhận. Tôi có cảm giác như Nguyễn Bùi Vợi có được cái gì quý giá nhất của mình thì đem phụng sự hết cho nghề nghiệp, cho cộng đồng, cho quê hương, đất nước. Ông làm gì cũng nhiệt huyết, cũng thành tâm cả. Nhưng trớ trêu thay, không phải lúc nào ông cũng được ghi nhận, được đối xử công bằng với những gì mình đã cống hiến. Là giáo viên dạy giỏi, được bộ trưởng khen, nhưng chỉ vì thật, vì ngang, vì thành phần gia đình người yêu là địa chủ mà bị đình chỉ công tác. Hết lòng cho việc thành lập Hội Văn nghệ, nhưng chính mình thì lại không có tên trong cơ cấu Ban chấp hành. Cả một đời cầm bút chỉ có thương yêu mà lại bị nghi là có vấn đề về chính trị... Nhưng ông vẫn sống lạc quan, ông vẫn sáng tác, vẫn hết lòng cho sự nghiệp chung, cho những người mà ông yêu thương, quý trọng.
Nói về thơ Nguyễn Bùi Vợi, có người cho rằng, thơ ông khi tập hợp vào một tập nó cứ na ná nhau, bình bình. Đúng là thơ ông không có sự bứt phá trong ngôn từ, trong hình thức, trong cách tân, đổi mới. Thơ ông là sự dung dị, là tiếng nói từ trái tim đa cảm của ông. Đòi hỏi ở nhà văn những cái gì không thuộc phong cách sáng tác của họ là hết sức phi lý. Đến với lòng người có muôn vạn nẻo. Ông có triết lý sáng tạo của mình. Một Tiếng Nghệ, một Qua Thậm Thình, một Bến cũ... cũng đủ làm nên chân dung một tâm hồn thơ. Không có cuộc đua tranh nào ở đây cả. Mỗi tác phẩm tự tìm cách đi vào lòng công chúng, không có điều kiện gì hết. Người già thì ai cũng phải trải qua tuổi trẻ, chứ người trẻ thì còn lâu mới có được cái trải nghiệm cuộc đời như họ.
Có câu chuyện kể rằng, khi lập mộ cho ông bí thư khoán hộ Kim Ngọc, người thân của ông hỏi ý kiến Nguyễn Bùi Vợi, xin khắc đá bài thơ ông viết về ông Kim Ngọc trước mộ ông. Nguyễn Bùi Vợi có nói rằng, ở đời chẳng có ai được trăm người quý cả trăm, khắc bài thơ ông lên đó, lỡ mai sau có người họ ghét ông, họ đòi đục bỏ bài thơ của ông thì sao? Và như vậy là làm đau Kim Ngọc đến hai lần. Ông Kim Ngọc làm đến bí thư tỉnh ủy còn bị đối xử bất công, mãi đến khi ông qua đời rồi người ta mới hiểu ông. Cũng là người từng bị đối xử bất công nên thơ Nguyễn Bùi Vợi viết về ông thật cảm động:
Sách không làm nên đời mà đời làm nên sách
Tay cầm lõm seo cày nên ông thấu lòng dân
Giọt mồ hôi mặn đồng những tháng năm khoán hộ
Êm ấm mọi nhà, cay đắng một mình ông
Nằm dưới đất, ngực còn thơm
Huân chương Độc lập
Nghe xôn xao đất nở những mùa vàng
Cánh đồng nào cũng thơm hồn Kim Ngọc
Người lặng lẽ đi về trong chuyện kể dân gian
Sau ngày Nguyễn Bùi Vợi mất, tôi có ý định một ngày nào đó về quê, tôi sẽ lên Cát Văn quê ông để được nghe kể về thời ấu thơ của ông, để ra bến sông mà thuở nhỏ ông vẫn cho trâu đầm và tắm sông ở đó. Ông tắm phía thượng nguồn, còn tôi tắm phía dưới, có thể nghe được cả tiếng cười đùa nghịch ngợm của trẻ con hai xã Tiên Hội quê tôi và Cát Văn quê ông. Cho đến bây giờ tôi vẫn chưa thực hiện được ước mơ đó. Quê ông nhiều mít, trám và quả gai (quả dứa). Quả gai chín thì tôi đã từng được ăn, nhưng quả gai xào thịt bò thì tôi được ăn lần đầu là ở Cát Văn quê ông. Bấy giờ tôi là Liên đội trưởng thiếu niên của xã về dự hội nghị thiếu niên toàn huyện họp tại xã ông. Tôi và ông cùng trong tổng Cát Ngạn. Cùng chung nhau một ngọn gió Lào thổi rạc bờ tre. Cùng chung nhau một dải sông Lam xanh trong. Vâng lời ông, tôi đã gặp các anh lãnh đạo huyện, đã thành cộng tác viên cho tờ tin của huyện nhà. Giúp được gì cho quê hương anh em mình ráng giúp! Tôi và ông chẳng có của nả gì để giúp, chỉ có tấm lòng và những cuốn sách gom góp cả đời. – Cái vốn làm người đó em cũng xin được tặng lại cho quê hương như anh đã làm. Anh Vợi ạ!
Người Thanh Chương đi ra “ăn nên làm nổi” cũng nhiều. Tôi đã gặp hội những nhà doanh nghiệp quê Thanh Chương tại Hà Nội. Thật cảm động khi được ăn món quê từ giữa lòng Hà Nội. Trám Cát Văn, cá Mát sông Giăng, nhút Thanh Tiên... Trong buổi gặp gỡ thân tình của người quê giữa thủ đô Hà Nội, Đặng Anh Dũng – Phó bí thư thường trực huyện ủy đọc lại bài thơ Nhớ quê của Nguyễn Bùi Vợi: Nhớ quê cả bốn mùa/ không riêng gì mùa mít.Nghe thơ ông, tôi chợt thấy bồi hồi. Cát Văn hay Thanh Chương nói chung nhiều mít thật. Nhưng sao tuổi nhỏ của mình vẫn thèm mít chín thế? Là tại vì, hồi ấy mình thiếu ngọt. Mà mít thường là để luộc ăn trừ bữa, chứ mít chín chỉ ăn chơi, không trừ bữa được, nên có mấy khi được ăn mít chín đâu mà chả thèm!
Đời người ta có khi chỉ mươi, mười lăm năm đầu đời là sống ở quê, còn thì phiêu dạt làm ăn sinh sống nơi đất khách quê người cả cuộc đời, nhưng không có gì có thể làm phai mờ được ký ức tuổi thơ cả. Quê hương không chỉ là nơi sinh, nơi chôn nhau cắt rốn, mà quê hương thấm đẫm trong lòng mỗi người bằng văn hóa, bằng ký ức tuổi thơ sâu đậm. Đấy chính là miền đất sáng tác suốt đời của nhiều nhà văn, trong đó có Nguyễn Bùi Vợi. Tôi nghĩ, ông đã quan niệm đúng, đã sống đúng và viết đúng, không có gì có thể thay được sự thành tâm, cả trong cuộc sống cũng như trong trang viết.
Lê Huy Mậu
Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi
• Sinh năm 1933
• Quê quán: Cát Văn, Thanh Chương, Nghệ An
• Tác phẩm đã xuất bản: Hạnh phúc (thơ, 1956); Câu chuyện tình yêu (thơ, 1957); Con gái cô Út Tịch (truyện thơ); Quê xanh (thơ, 1974); Anh là chiến sĩ (truyện dài, 1977); Gió nắng (thơ, 1983); Thơ giữa đời thường (thơ, 1986); Truyện vui các nhà văn (1993)...
• Giải thưởng văn học: Giải thơ báo Người Giáo Viên Nhân Dân(1961); bằng khen của Ủy ban Thiếu niên và nhi đồng cho truyện thơ Con gái cô Út Tịch; Giải A, Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội, bài thơ Tình yêu là vần mới. Giải thưởng Văn học Công nhân lần thứ tư, 1984; Giải A về thơ Văn học thiếu nhi, 2002.
Thu Bồn một tình yêu quá cỡ
Thế hệ các nhà văn chống Mỹ chọn Trường Sơn viết tiểu sử của mình. Trong trùng điệp, có một người đi đầu. Anh cao lớn, phong trần, dáng đi hơi chúi về phía trước. Do sức nặng của chiếc ba lô, và cũng còn do sức nặng của cuộc chiến. Đó là Thu Bồn. Người mà năm mười hai tuổi, đã được trao bó đuốc soi cho đồng chí đảng viên duy nhất của thôn là anh Ba Châu đi bó xác những bà con bị giết sau trận càn của lính Pháp. Người đã được chú bé làng Đêpapơlếch đứng soi đuốc suốt đêm cho anh viết trường ca Bài ca chim Chơ rao. Thỉnh thoảng anh lại bị giật mình vì tiếng nứa nổ trên tay chú bé. Người đã gùi đứa con đầu lòng, cháu Hà Thảo Nguyên bị nhiễm đi-ô-xin nặng, vượt Trường Sơn ba tháng ra Bắc bằng một chiếc ba lô đã được khoét thủng hai bên sườn để đứa trẻ có thể thò chân ra ngoài. Người kết thúc bài thơ viết tại chỗ trong tiếng vỗ tay sấm rền của cử tọa thủ đô Luanda trước sự chứng kiến của Tổng thống Nettô, nhà lãnh đạo vĩ đại và nhà thơ lớn của nhân dân Ăng-gô-la: Thu Bồn. Anh trở lại chiến trường sớm nhất, thử thách và vinh quang sớm nhất. Anh sống, khổ đau và hạnh phúc, đánh giặc và yêu đương đều quá cỡ. Một cá thể tràn trề sinh lực. Một bản năng tươi tốt và bền vững cho đến trang viết cuối cùng. Một người mà nắng gió và sóng dữ của đất Quảng cùng với bao nhiêu hiểm nghèo của đời lính đã đúc thành một khối thép sống, đủ sức làm thành những cơn bão trên trang viết, lại là người vô cùng cả tin và yếu đuối.
Còn nhớ, vào một ngày cuối những năm 60 của thế kỷ trước, được về thăm nhà mấy ngày, tôi tranh thủ về Hà Nội thăm một người anh kết nghĩa làm ở báo Người Giáo Viên Nhân Dân – Anh Phạm Phát. Trong câu chuyện, anh hỏi tôi:
- Em đã đọc Tre xanh của Thu Bồn chưa?
- Dạ, thư viện Trung đoàn của em chưa có.
- Trước khi vào chiến trường em cố tìm đọc. Có thể học ở đó rất nhiều. Vào trong ấy, gặp Thu Bồn cho anh gửi lời thăm. Anh và Thu Bồn cùng quê Quảng Nam và cùng học với nhau ở Đại học Sư Phạm.
Vào thời chiến, đơn vị sơ tán, lại là một đơn vị dự bị chiến lược của bộ, nơi đóng quân thường xa khuất, nên việc tìm đọc một cuốn sách là rất khó khăn. Nhưng khó khăn hơn là làm sao gặp được Thu Bồn giữa mênh mông chiến trường? Khi tôi vào tới Tây Nguyên và Mặt trận B5, thì Thu Bồn đã được chuyển ra Bắc điều trị. Phải mười năm sau, nguyện vọng ấy mới được thực hiện.
Cuối năm 1976, tôi được Tổng cục Chính trị gọi về chuẩn bị một danh sách các cây bút của quân đội sẽ được cử đi học trường Viết văn Nguyễn Du khóa I. Tôi được cho ở nhờ tạp chí Văn Nghệ Quân Đội – số 4 Lý Nam Đế. Ban ngày làm việc ở hội trường, tối lên ngủ nhờ trong phòng làm việc của anh Hồ Phương. Đối với các cây bút quân binh chủng chúng tôi hồi ấy, tạp chí Văn Nghệ Quân Đội là một cung đình. Cấp bậc thì thấp, văn chương chưa đâu vào đâu, tôi rất biết phận mình. Một tối mùa đông, trăng sáng và rất lạnh, tôi trằn trọc không ngủ được. Bỗng nghe vẳng tiếng nhạc đâu đó vọng lên. Tôi vùng dậy khoác chăn xuống ngồi bên ngoài hành lang, trước cửa phòng Thu Bồn, thu lu nghe nhạc quên cả rét. Tới một lúc, Thu Bồn có việc gì mở cửa ra ngoài. Nhìn thấy tôi cuộn tròn một đống, anh quát:
- Ai, ai đấy? Ngồi đây làm gì?
- Dạ, dạ, em là Thỉnh đây, mới ở xe tăng lên. Em nghe ké anh một chút.
- Ủa, Thỉnh hả, sao ngồi đây? Dô, dô đi.
Phòng anh ấm quá. Ngăn nắp và đẹp theo kiểu lính. Một dàn Tex AKay xịn. Một chai rượu Tây. Một đĩa thịt lợn quay cánh gián, một đĩa muối tiêu. Trên cả tuyệt vời. Phải nói là vương giả mới đúng. Tôi ngồi dè dặt uống, dè dặt ăn, dè dặt nói. Còn Thu Bồn thì nâng chén rượu, đi lại, đung đưa, đung đưa.
Sáu năm sau bữa tiệc âm nhạc thịnh soạn ấy, tôi được về làm việc tại tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Cùng ở cơ quan nhưng anh Thu Bồn ở tổ sáng tác nên đi miết. Lúc thì Tây Nguyên. Lúc thì chiến trường Campuchia. Lúc thì biên giới phía Bắc. Rồi sau đó anh xin vào biệt phái ở phía Nam. Năm 1985 anh bị rắc rối vì vấn đề sinh hoạt Đảng. Có một áp lực rất mạnh đòi phải xem xét vấn đề Đảng tịch của anh. Trong chi ủy, tôi không đồng ý với những kết luận vội vàng về anh, một người mà tôi rất kính phục. Một người mới mười hai tuổi đầu mà được đồng chí đảng viên duy nhất trong thôn trao cho lá cờ Đảng, và anh đã gìn giữ nó trong suốt những năm ngang dọc chiến trường, đến một trận đánh trên đồi E-ty chặn đường tiếp tế của địch từ Buôn Ma Thuột chạy về, anh trao nó cho một đồng đội tên Đoàn giơ cao lên để nghi binh địch, tạo điều kiện cho anh chỉ huy tiểu đội đánh quặp sườn, giữ được trận địa cho đến ngày Hiệp định Genève được ký kết. Con người ấy không thể nào xa Đảng được. Tôi xin được vào thành phố Hồ Chí Minh tìm hiểu sự việc. Thu Bồn lúc đó đang ở tại số 8 Đặng Thái Thân. Anh đãi tôi một bữa bia hơi đổ đầy một thùng lớn. Bia uống bằng bát, hệt một bữa tiệc của những tráng sĩ ngày xưa trước khi ra trận. Đến dự còn có Nguyễn Duy, Sơn Nam, Nguyễn Tiến Toàn, Hùng Kính và một số người khác. Chính hôm ấy, tôi được nghe lần đầu:
Lòng anh cơn nước đang ròng
Biển đau rút ruột cua còng chỏng chơ
Lấy khăn mà gói bơ vơ
Tay cầm nước mắt bao giờ sang sông.
Phải đợi lúc Thu Bồn ngà ngà, rồi nghe anh đọc thơ mới sướng. Có cái gì xa xót, hoang dại và đắng cay. Giọng anh, thơ anh đẩy tâm trạng lui về cõi mù khơi, thiên cổ, biến mọi người xung quanh thành những chiếc thuyền lênh đênh trên dòng vô định. Tôi mừng. Và thực sự xúc động. Thơ anh đã có một bước chuyển lớn. Dòng Thu Bồn qua bao thác ghềnh, xô bồ, dào dạt đã tới chỗ xoáy vực tâm tư. Người đọc còn chờ đợi gì hơn những nỗi niềm được nhà thơ hé mở:
Khêu lên em ngọn lửa bừng
Lửa như muốn khóc ngập ngừng tro than.
Tôi thường nói vui với Thu Bồn, anh là thi sĩ của lao lực, lao tâm và lao tình. Lao tâm xin nói ở đoạn dưới. Giờ xin nói lao lực và lao tình.
- Lao tình:
Bao năm gối núi đầu hóa đá
Tiếng hát từng rung Ngũ Giác Đài
Bao phen xa xứ người thương nhớ
Trăng sáng mà em áo vẫn cài
Nó là khổ thứ 5 trong bài Hành Phương Nam gồm mười khổ. Một bài thơ hay, rất Thu Bồn. Tại sao rất Thu Bồn? Ba câu trên hoành tráng quá, khí phách, trượng phu, lẫm liệt quá. Lúc đầu, đọc tới câu thứ ba, tôi chờ đợi cứ tưởng tác giả sẽ đẩy tiếp cái lẫm liệt, trượng phu, khí phách ấy lên nữa, ai dè, anh đột ngột hạ một câu trữ tình ngoại đề làm đảo phách cả đoạn thơ, khiến cho khổ thơ vừa có cái hào khí vừa có cái đắm say, vừa sảng khoái vừa ám ảnh. Đây là một sự kết hợp của tráng ca và tình ca. Đáng yêu sao hình ảnh người yêu thường trực trong anh ở mọi phương trời.
- Lao lực: Tôi không hiểu vì sao anh lại rời căn nhà mất bao công phu chăm chút ở Đặng Thái Thân thành phố Hồ Chí Minh để lên lập trại ở đất Lồ Ô. Đó là một mảnh đất toàn đá, cái khúc xương mà các nhà kinh doanh địa ốc nghiệp dư và chuyên nghiệp đã nhằn ra. Trước sự ái ngại của tôi, Thu Bồn nói:
- Lên đây cho đỡ nhớ chiến trường.
Tôi cự lại:
- Nhưng đây có phải là cái hòn non bộ đâu?
Anh cười lớn, ra vẻ “hãy đợi đấy”. Mấy lần sau tôi lên, một quang cảnh khác hẳn. Thu Bồn với đôi tay và đôi vai của mình đã biến một khu sỏi đá thành một địa chỉ du lịch sinh thái. Anh dẫn tôi đi xem cơ ngơi của anh, và dừng lại rất lâu ở bức tường đá. Tôi chỉ còn biết chắp tay bái phục: Anh là bà Nữ Oa vá trời thật rồi.
Bây giờ là chuyện lao tâm.
Đêm đã khuya, đợi cho khách về hết, Thu Bồn bảo tôi vào phòng làm việc. Anh chỉ cho tôi một đống bản thảo ngổn ngang. Cái đã đánh máy xong, cái đang sửa mo-rát. Cái đang “cày” dở. Tất cả đều nặng trịch. Và tự nó cất lên tiếng nói. Tôi đã báo cáo lại cái tiếng nói này, tiếng nói của những đứa con tinh thần dứt ruột của anh với những người có thẩm quyền. Không phải đợi lâu, bản báo cáo của tôi đã được chứng thực. Năm 1986, sáu tác phẩm tầm cỡ của Thu Bồn được xuất bản, những tác phẩm quan trọng nhất trong văn nghiệp của anh. Đó là:
- Đỉnh núi (tiểu thuyết)
- Mắt bồ câu và rừng phi tiễn (tiểu thuyết)
- Vùng pháo sáng (tiểu thuyết)
- Cửa ngõ miền Tây (tiểu thuyết)
- Em bé vào hang cọp (tiểu thuyết, 2 tập)
- Dưới tro (tập truyện ngắn)
Một năm xuất bản sáu tiểu thuyết và tập truyện ngắn. Tất cả đến mấy nghìn trang. Đó là một kỷ lục về sức làm việc phi thường của Thu Bồn cho đến nay chưa ai có thể vượt qua. Trước đó, anh cũng đã lập một kỷ lục về thơ. Từ 1975 đến 1985, mười năm anh cho xuất bản sáu trường ca:
- Quê hương mặt trời vàng (1975)
- Bazan khát (1976)
- Campuchia hy vọng (1978)
- Oran 76 ngọn (1979)
- Người vắt sữa bầu trời (1985)
- Thông điệp mùa xuân (1985)
Trong những năm chiến tranh, các nhà văn ở Trung Trung bộ nêu một phương châm sống rất quyết liệt: “sống rồi mới viết”. Thu Bồn nghiêm túc đi đầu thực hiện phương châm này. Năm 1965 Mỹ đổ quân ào ạt vào miền Nam. Thu Bồn xin đi một chuyến chín tháng đến khắp các chiến trường ác liệt của Tây Nguyên. Ngày 5 tháng 6 cùng năm, anh tham dự trận đánh trên đèo Thanh Bình. Diễn biến trận đánh đến lúc căng thẳng nhất, anh rời sở chỉ huy, lao xuống cùng đơn vị chặn đầu đoàn cơ giới địch, mặc kệ hai mươi chín chiếc trực thăng đang quần đảo trên đầu. Các chiến sĩ của ta cướp được một khẩu súng máy trên chiếc xe của địch, nhưng loay hoay mãi không biết tháo và bắn như thế nào. Thu Bồn nhảy phắt lên xe, thao tác rất nhanh, dùng ngay khẩu Bơrôninh Canađa bắn xối vào những chiếc trực thăng, buộc chúng phải tăng độ cao bay dạt ra vòng ngoài. Hăng máu, anh hạ nòng súng, xả đạn vào đội hình bộ binh đang bò lên chiếm điểm cao trước mặt. Trong các nhà văn mặc áo lính, Thu Bồn là người duy nhất sử dụng thành thạo tất cả các loại súng bộ binh của ta và của địch.
Nhưng “sống rồi mới viết” đối với Thu Bồn không có nghĩa là để lịch sử giải xong một bài toán khó rồi nhà văn mới “nhớ lại và suy nghĩ”. Anh có thể viết ngay tại chỗ trong lúc sự kiện đang diễn ra nóng bỏng. Tết Mậu Thân 1968, anh theo một cánh quân đánh vào Đà Nẵng. Sau khi nghe tin người yêu của một chiến sĩ Điện Ngọc bị địch bắn chết, anh viết ngay bài thơ Đà Nẵng gọi ta và sau một tiếng, bài thơ đã đến tay các chiến sĩ đang tiến vào thành phố. Một người từng “nhem nhuốc trong tro than làm rẫy, nhày nhụa trong những trận bom vùi chí tử, lam lũ qua những trận đói, nhưng lòng vui phơi phới” như Thu Bồn, người ấy hoàn toàn có đủ tư cách cất lên tiếng nói hệ trọng nhất của hàng triệu con người đang sống chết cho tự do. Đã bao nhiêu lần, thơ của Thu Bồn qua Đài Tiếng nói Việt Nam tạo nên những vùng sóng, những đồng vọng sâu xa từ mọi miền Tổ quốc.
Tôi cúi xuống hôn mảnh đất quê hương
Như hôn người yêu bao ngày xa cách
Tôi không khóc nhưng vẫn trào nước mắt
Con đã về đây với Mẹ – Mẹ quê hương
Trong những ngày Bác mất, có biết bao nhà thơ khóc Người. Nhưng hay nhất, cảm động nhất vẫn là Tố Hữu, Việt Phương, Thu Bồn, Trần Đăng Khoa, Hải Như, Viễn Phương của Việt Nam và Phlêch Pita Rôđighết của Cu Ba. Trong bài Gửi lòng con đến cùng Cha, vị thế, tâm trạng, trải nghiệm của tác giả hòa quyện với máu và nước mắt của đồng bào và chiến sĩ miền Nam. Bài thơ khiến ta thương nhớ Bác bao nhiêu lại càng thương nhớ miền Nam bấy nhiêu vì
Bạn từ bãi biển Hy rôn
Bạn còn đến kịp để hôn Bác Hồ
Mà con trông đợi Bác vô
Ngắm phương Bắc nhớ thủ đô quặn lòng.
Thu Bồn hấp dẫn chúng ta về nhiều lẽ, nhưng quan trọng nhất là sự trung thực. Anh đã tiếp nhận và chuyển bão táp của cuộc sống đến chúng ta bằng một tài năng và nhân cách được tôi luyện qua lửa bỏng và nước lạnh. Và mọi thủ pháp của anh, dù bay bổng, phóng túng, tài nghệ đến đâu người ta vẫn nhận ra cái cốt lõi của chân tâm. Và hình như chỉ Thu Bồn mới đủ tài làm cho người ta tin rằng, những hình tượng hoàn toàn mang tính phóng dụ của anh, không chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng, mà nó có gốc gác trong cuộc đời và số phận của anh.
Độc huyền tráng sĩ xưa ca cẩm
ta ôm xích đạo gãy vòng cung
môi hôn ngọn gió thơm hoa trái
núi cũng chiều ta đứng trập trùng
Bơi qua biển lửa ta về lại
gọi Thái Bình Dương đến dạo đàn
những cung xưa cũ lời em hát
còn cháy lòng ta lửa thử vàng
Thu Bồn nói cái to tát, sần sùi cũng làm ta tin yêu và cảm động, nói cái mảnh mai, riêng tư cũng làm ta cảm động, tin yêu. Và vì cái niềm tin ấy, thơ anh đã thành thứ của riêng của tất cả chúng ta. Và giống như với các tài năng lớn, lẽ ra chúng ta phải gửi những lời ru đến nấm mộ của người đã khuất, thì ngược lại, chính cố nhân đã gửi lại lời ru an ủi chúng ta:
Đừng hát nữa thu vàng em hãy ngủ
để anh nghe lá rụng cọ tim mình
xào xạc đấy nhưng trời yên tĩnh lạ
tay mơ hồ đang chạm những lời ru.
Hữu Thỉnh
Kỷ niệm 10 năm Anh đi xa 
17/6/2003 - 17/6/2013
Nhà văn Thu Bồn
• Tên khai sinh: Hà Đức Trọng
• Ngày sinh: 01-12-1935 • Ngày mất: 17-6-2003
• Quê quán: Điện Thắng, Điện Bàn, Quảng Nam • Đời hoạt động: Tham gia Thiếu sinh quân từ năm 12 tuổi; tham gia chiến đấu suốt cả hai cuộc kháng chiến trên nhiều mặt trận Miền Trung – Tây Nguyên, biên giới Tây Nam; biên tập viên tạp chí Văn Nghệ Quân Giải Phóng Trung Trung bộ, biên tập viên và cán bộ sáng tác của tạp chí Văn Nghệ Quân Đội.
• Các tác phẩm chính: Bài ca chim Chơ rao (1962, trường ca); Tre xanh (1969, thơ); Mặt đất không quên (1970, thơ); Quê hương mặt trời vàng (1975, trường ca); Bazan khát (1976, trường ca); Campuchia hy vọng (1978, trường ca); Oran 76 ngọn (1979, trường ca); Người vắt sữa bầu trời (1985, trường ca); Một trăm bài thơ tình nhờ em đặt tên (1992, thơ); Ôi nhớ mưa nguồn (1999, thơ); Chớp trắng (1970, tiểu thuyết); Hòn đảo chân ren (1972, tiểu thuyết); Dòng sông tuổi thơ (1973, tiểu thuyết); Dưới đám mây màu cánh vạc (1975, tiểu thuyết 2 tập); Em bé trong rừng thốt nốt(1979, truyện); Đỉnh núi (1980, tiểu thuyết); Mắt bồ câu và rừng phi tiễn (1986, tiểu thuyết); Vùng pháo sáng (1986, tiểu thuyết); Cửa ngõ miền Tây (1986, tiểu thuyết); Em bé vào hang cọp (1986, tiểu thuyết 2 tập); Dưới tro (1986, truyện ngắn).
• Các giải thưởng: giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu, 1965; giải thưởng thơ báo Hà Nội Mới, 1969; giải thưởng văn học quốc tế Hội Nhà văn Á-Phi, 1973; giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt I, 2001.
Góc chiếu giữa làng thơ
Chỉ với câu chuyện lúc trà dư tửu hậu mà tôi nể trọng ông. Có một thi sĩ già ở đất Hà thành. Nổi tiếng từ thời chống Pháp. Thơ hay mà có khí phách lắm. Người ấy đã về hưu được mấy niên. Từ dạo cáo quan về nhà, không thấy làm thơ nữa. Có cái bếp dột nắng dột mưa cũng không dọi lại được. Để giúp bạn, ông bèn chọn một chùm thơ cũ đăng báo. Gọi là một chút nhuận bút cho vui. Hẹn ngày trao tại nhà. Đó là một ngày hè nắng sắp đổ về chiều. Khi người ta bước vào tuổi tám mươi trời làm cho ngơ ngác. Không còn sinh khí nữa. Đến muỗi đốt trên mặt cũng chẳng buồn xua. Khi nhấc nắp ấm pha trà lên, thấy chặt cứng. Gia chủ đã quá lâu không có khách đến chơi nhà. Mốc xanh, mốc đỏ thi nhau mọc dài ra trên chút bã chè tội nghiệp ở dưới đáy... Một thời gian sau, người ấy lặng lẽ qua đời.
Phố Lý Nam Đế vốn là phố nhà binh. Ngôi nhà số 4. Nơi sản sinh ra bao nhiêu nhân tài làm nên nghề bút ở đây. Đến một đoạn ngắn nữa thì tới ngõ 12B. Cái đoạn ngắn buồn tẻ này, ông đã có một bài thơ đầy ẩn ức. Từ nhà sang cơ quan! Cơ quan chính là nhà số 4 đấy.
Từ nhà sang cơ quan chào hai cây đại già
Thả từng chùm hoa rơi trắng đất
Mình đi quẩn quanh ngày này sang ngày khác
Thời gian trôi qua từng đốt trăng gầy
Vậy mà đã cạn năm đầy tháng
Mùa qua mùa, mình có được như cây?
Cuối ngõ 12B nương náu một tập thể nhà binh cao bốn, năm tầng. Đi theo cầu thang xi măng. Cứ một khoảng tối rồi lại một khoảng sáng. Đến khoảng sáng thứ ba thì tới nơi. Đại tá, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đứng ở cửa đón khách. Đó là căn hộ khoảng ba buồng. Thêm buồng nhỏ nữa được cơi nới ra mà dân Hà Nội thân ái gọi là chuồng cọp. Nguyễn Đức Mậu bảo chẳng phải mình ông mà còn cả mấy chàng lính làm thơ, nhà ở cứ hay thích kiểu Liên Xô. Đất không lấy lại đòi bằng được căn hộ. Càng trên cao càng oách. Có ông còn ‘’khôn” đến mức vội vàng bán suất đất của mình như thể để tý nữa nó sẽ thiu mất. Rồi nhanh nhảu mua mấy trăm gạch hoa Thạch Bàn gia công lát kín nền căn hộ trên tầng cao cho sang... Chả cái dại nào giống cái dại nào. Họ mu mơ giữa bao tráo trở và bất trắc của kinh tế thị trường. Xã hội nửa tỉnh nửa mơ vào sâu trong cái chợ ấy rồi. Chả có mấy ai đi xe đạp và ăn chè đỗ đen nữa. Thì đi làm xe ôm. Đầu đường đại tá làm thơ, cuối đường thiếu tá đứng chờ... khách quen.
Căn hộ không có phòng khách riêng. Liền nhau một dải cho thoáng. Bộ bàn ghế uống nước độc một chiếc ghế dài cũ màu cánh gián. Trong căn hộ này, đêm đến, không hiểu ngài đại tá có còn bố trí quân ta ngủ theo đội hình đánh giặc nữa hay không?
Năm 2010, Nguyễn Đức Mậu cho xuất bản tuyển thơ về chiến tranh. Từ trong lòng cuộc chiến. Thơ có 99 bài. Không phải một tuyển thơ đầy đủ. Cũng là duyên nợ một đời thơ. Người ta mua bản quyền này trong vòng một năm mười triệu đồng. Tính từ bài thơ viết sớm nhất năm 1966 đến năm 2010 là bao nhiêu năm? Bao nhiêu nhân tình thế thái từ trong lòng cuộc chiến này. Ngủ rừng theo đội hình đánh giặc. Nắm mộ và cây trầm. Những vỏ đạn còn lại. Hoa lau đường 9. Bắc Lào gió nóng. Đêm thành cổ 1972. Khúc bi tráng ngã ba Đồng Lộc. Tiếng trẻ khóc nơi bản Lào lửa cháy. Trong lòng đất Củ Chi. Trên hầm Đờ Cát. Đêm ở Đồng Tháp Mười... tất, tất cả. Chỉ mười triệu đồng thôi. Có người băn khoăn cho là rẻ. Nguyễn Đức Mậu chỉ cười và cười thôi. Cái nòi thi sĩ. Thi sĩ hàng nghìn đời nay chẳng có ai làm thơ với cái đích kiếm tiền.
Nguyễn Đức Mậu viết nhiều thể loại. Ký sự. Truyện ngắn. Tiểu thuyết. Thơ. Ông nổi danh và được người ta nhắc đến hơn cả với danh hiệu nhà thơ. Có người bảo, lịch sử sẽ không quên một ai. Nhưng lịch sử có quyền lựa chọn. Thời chống Pháp. Người làm thơ đông đến một tiểu đoàn. Sau một trăm năm nữa. Tiểu đoàn ấy còn lại tên tuổi một tiểu đội, khoảng mười hai người. Thời chống Mỹ. Có đến một trung đoàn làm thơ. Sau một trăm năm nữa. Trung đoàn ấy cũng còn lại tên tuổi hơn một tiểu đội, khoảng hai mươi, hai mươi nhăm người. Nhiều ý kiến chia giai đoạn thơ theo thời gian lịch sử. Lấy mốc 1945 và 1975. Phân kỳ thơ. Tiền chiến 1930-1945, kháng chiến 1945-1975, hậu chiến 1975 đến nay. Chỉ là ước lệ thôi. Dòng thơ không phải lúc nào cũng hòa lẫn vào dòng lịch sử. Đôi khi nó âm thầm vòng ra xa để ngắm nhìn những khúc quanh nhân thế. Thi ca dạy con người niềm hy vọng ngay cả trong thời khắc lịch sử cay đắng nhất.
Sau 1975 một thời gian ngắn, lửa khói cam tuyền lại đốt đỏ thức mây ở hai đầu đất nước. Những người lính cầm súng bảo vệ non sông lại đi thêm gần hai mươi năm nữa. Một người trong số họ mặc áo trấn thủ vệ quốc đoàn từ mùa đông năm 1946 đi liên tục đến 1991, 1992 hỏi đã bao nhiêu lần tóc bạc? Người lính già ấy ít nhất cũng thất thập cổ lai hy mới cởi giáp trở về nhà. Thơ Việt Nam hiện đại hầu hết được thi sĩ của thời đại chúng ta viết trên mình ngựa chiến như cách nói của bậc tiền nhân. Đó là khúc ca bi tráng nhất trong lịch sử của đất nước này.
Hậu thế và thời gian sẽ công bằng thêu những câu thơ hay nhất trên lụa điều để ngàn đời treo dưới mái khuê văn. Ai trong số hai mươi nhăm người cùng thời với Nguyễn Đức Mậu được ghi tên? Rồi hậu thế sẽ thắp sáng lửa đèn trên dãy Trường Sơn, trên đỉnh núi còn mây phủ ở biên thùy phía Bắc, trên bạt ngàn lúa chín phương Nam để tôn vinh những người lính đã sống và đã chết, những thi sĩ một đời dâng hiến, cho thế kỷ XX. Tủ sách Tinh hoa thơ Việt in năm 2007 đã chọn 10 nhà thơ thời chống Mỹ. Nguyễn Đức Mậu được in 25 bài. Tôi nghĩ có thể chọn thêm 10 nhà thơ nữa của thời đó.
Thơ Nguyễn Đức Mậu có tiếng nói riêng. Không trộn lẫn với người khác được. Đây rộn rã mà vang xa Phạm Tiến Duật. Đây tài hoa mà đằm thắm Hữu Thỉnh. Đây nho nhã mà kiêu sa Bằng Việt. Đây bảng lảng xa xăm mà dịu hiền Thanh Thảo. Thơ Nguyễn Đức Mậu chân chất mặn mà, giàu tính tự sự, kỷ niệm và một tấm lòng nhân ái trang trải trên hầu hết các trang thơ. Ông tự sự đến mức có cả những tên người cụ thể trong không ít các bài thơ. Không ngại nói đến nấm mồ chết chóc giữa khói lửa chiến tranh. Không thi vị hóa mà trân trọng nâng niu những gì sâu lắng nhất, bé bỏng mà thơ ngây đến tội nghiệp con đò ẩn hiện giữa hai bờ lau sậy hoang sơ hay một ổ gà con mới nở giữa khoảng trống hố bom trong rừng chiều chiêm chiếp hoàng hôn. Cái chất lính trong thơ Nguyễn Đức Mậu thật rõ rệt. Nguyễn Đức Mậu đã dựng lên bức tranh khái quát và trần trụi về chiến tranh, về người lính gây bao xúc động cho người đọc.
- Mặt trận miền Tây
Sáu mươi cây số trời
Mặt trận miền Tây
Sáu mươi cây số đất
Mặt trận miền Tây
Sáu mươi cây số người.
- Nếu tất cả trở về đông đủ
Sư đoàn tôi sẽ thành mấy sư đoàn.
- Người hóa đá trọn đời nhan sắc
Anh sẽ về cho đá lại là em.
- Mùi tóc cháy mùi thịt da khét lẹt
Ngọn gió qua đồi hóa ngọn gió mồ côi
Khuôn mặt cháy đen
chỉ đôi mắt nhìn tôi không chịu khép
Như hai hốc đất sâu hai vết thủng vòm trời.
- Mười khẩu súng mười vùng quê dập nát
Đã vùi sâu trong gạch vỡ cổ thành.
- Qua nhiều dòng suối sâu tôi tìm được một viên đá nhỏ
Qua nhiều đêm rừng tôi nhặt về
khắc khoải giọng từ quy
Qua bãi bom ngổn ngang bới đất sâu tôi tìm được
Cái cúc áo người phá bom trong vàng sắc hoa quỳ.
- Năm người sập hầm chỉ riêng mình sống sót
Mình là ngón tay thừa trong thương tật bàn tay.
Nói chân chất là nói dòng chủ đạo. Nguyễn Đức Mậu không thiếu những câu thơ tài hoa. Hãy xem ông viết về các loài hoa thế nào. Đâu phải là hoa. Là người đấy. Biết đâu sợi tóc trong đêm bạc. Lại trùng với khắc nụ thành hoa. Là tâm hồn nhẹ như phấn thông vàng của thi nhân.
 - Một sớm sông Hồng mười bảy tuổi
Hoa gạo rơi trong nỗi nhớ nhà.
- Thương loài hoa muộn rừng sâu
Mong manh cánh mỏng có màu nắng mưa.
- Em thay áo, con đường Thu chợt sáng
Bước em qua hoa cúc nở trăng rằm.
- Em bỏ vườn quê sang xứ khác
Hoa ngẩn ngơ buồn trên luống mưa
Gom bao thương nhớ mà xa cách
Cúc vàng ơi vẫn cúc vàng xưa.
Đứng chân ở dòng thơ lấy tự sự làm chủ đạo là một con đường sáng tạo không dễ dàng. Dễ ít véo von bay bổng. Dễ kể lể dài dòng khó tập trung để đắp nổi những hình tượng thơ độc đáo. Nguyễn Đức Mậu vượt qua được cái rào cản đầy khó khăn đó. Ông đã viết lên những bài thơ có sức sống lâu bền. Nấm mộ và cây trầm. Chuyện nhỏ trong rừng. Gạch vỡ thành cổ. Cánh rừng nhiều đom đóm bay...
Tự sự nhưng khi cần tâm tình, cần “đào bới hư vô, tuôn chảy hư vô”, Nguyễn Đức Mậu cũng già tay lắm. Hãy xem thi sĩ với những dòng thơ quyện đầy khói lửa chiến tranh giãi bày một chút lẻ bóng ra sao.
- Dòng sông trắng một bờ đau
Mây bay nhuộm trắng một màu núi xa
Trắng thuyền trăng khuyết riêng ta
Trắng đêm lẻ bóng vào ra một mình.
- Bến quê một nhánh sông gầy
Một con đò nhỏ chở ngày và đêm
Chở anh về phía không em
Bao xa vắng cứ đầy thêm đò chiều.
Nếu Phạm Tiến Duật đã thắp sáng ngọn lửa đèn trong thi ca để soi tỏ khuôn mặt ngàn năm của những người ra trận thì sự mất ngủ của lửa đâu phải là của riêng Nguyễn Quang Thiều. Đó là sự mất ngủ của thi ca, sự mất ngủ của thời đại, của thân phận con người. Sự mất ngủ của những nụ tầm xuân trên bờ đê heo hút dọc các triền sông, của gánh hàng rong cô lẻ mẹ ta đã gánh trong tĩnh mịch của ngõ vắng chiều xưa... Là thi nhân, Nguyễn Đức Mậu cũng đã mất ngủ như thế. Tâm sự của vị tướng về hưu: Huân chương xếp vào góc tủ. Nay hàm tướng tá làm chi. Tuổi già công danh xem nhẹ. Cuộc đời như nước trôi đi. Cảm xúc mùa cày: Những hòm đạn không còn đạn bắn. Nằm phơi trần con số mồ côi. Mất ngủ trong tiếng ru tha thiết của hòa bình, tưởng ở cố hương mà lạc giữa cõi người.
Xa quê biền biệt tháng ngày
Ngủ rừng, ngủ phố đêm nay ngủ nhà...
Có gì xa lắc xa lơ
Mình như lạc giữa bến bờ nhân gian.
Cả một thời viết lách, mãi đến năm 2010 Nguyễn Đức Mậu mới cho in tập tiểu luận phê bình đầu tiên với nhan đề khiêm tốn. Niềm say mê ban đầu. Cả thảy có 43 bài viết ngắn. Tiểu luận của ông như những góc nhỏ tâm tình. Có không ít bài viết về hiếu nghĩa với các bạn thơ đã đi về cõi trăm năm. Nguyễn Bính. Khương Hữu Dụng. Đoàn Văn Cừ. Xuân Diệu. Tế Hanh. Thu Bồn. Phạm Tiến Duật. Duy Khán. Phùng Khắc Bắc. Thôi thì nghĩa tử là nghĩa tận. Mỗi bài viết là một vòng hoa nhỏ rưng rưng xúc động cho người ở chín suối yên lòng. Lắm khi chen vào những kỷ niệm khôn nguôi. Lạ lùng nhất là chuyện kể về tình bạn giữa Nguyễn Đức Mậu với thi sĩ Hoàng Nhuận Cầm. Ông Mậu chân chất bao nhiêu thì ông Cầm giang hồ lãng tử bấy nhiêu. Cầm như vương tôn công tử đi qua rừng. Những cây nấm màu nâu, màu nâu già. Tự dưng thức dậy bên vòm lá. Và Mẹ tôi giã gạo nuôi tôi. Chày mùa thu gõ mãi lời nước non. Man mác, tiêu dao quá Cầm ơi! Ấy vậy mà sự khác nhau ấy của tâm tính và thi ca lại làm cho họ là bạn của nhau. Những tay giang hồ gặp nhau nơi bến vắng. Một bậc thức giả ở phố Hàng Bạc có lời nhắn: “Tình bạn giữa Mậu và Cầm gợi nhớ đến sự đồng điệu trong sự khác biệt giữa Tô Hoài và Xuân Diệu. Tô Hoài giỏi giang đến mức được phong thánh trong giáo phận văn chương nước Việt rồi sao mà ông ấy còn... ác thế. Đọc Chiều chiều, Cát bụi chân ai... mà ghê cả người. Rõ là ma xó trong làng văn. Thôi thì chiêu tuyết cho Phan Kế An, Nguyễn Hải Trừng, Trinh Đường, Quang Dũng, Kim Lân, Phùng Quán, Đặng Đình Hưng, Trần Đức Thảo... được rồi. Sao lại nỡ kể cái chuyện yêu nhau trong màn mùi mẫn hồi ở chiến khu Việt Bắc làm chi. Chả gì người ta đã trở thành thiên cổ rồi!” Biết nói làm sao để bênh cụ Tô Hoài đây. Làm cái nghề văn chẳng bao giờ giữ được lâu cái gì trong bụng. Biết mà không nói đôi khi cũng có lỗi với nhân duyên. Nói ra cho nhẹ cái người trước khi đi gặp Mãn Giác Thiền sư. Làm cái nghề phê bình và nghề cầm bút cầm kéo biên tập văn thơ ở các tòa báo cũng... bạc lắm. Cắt bỏ, thêm vào nhiều khi mặt nặng, mặt nhẹ, mất anh, mất em. Có lẽ tiểu luận phê bình của Nguyễn Đức Mậu đã tránh được điều khó xử ấy chăng?
Phần lớn các bài viết của ông đều mang giọng tâm tình. Có hai bài viết mang tính chất sơ kết ở các trại sáng tác dưới tỉnh. Bài viết về thơ trên bia đá của Tú Xương, Nguyễn Khuyến, Quang Dũng... rất có tâm trạng. Về chuyện bếp núc trong nghề thơ cũng có một số bài. Một lần ông nói với tôi: Làm thơ khó nhất là cái kết. Tôi bảo: Nếu khó thì tìm cách không có kết nữa? Ông đưa ra một ví von thật dí dỏm. Nhiều bài thơ đã có kết lâu rồi nhưng tác giả vẫn cứ sợ chưa đủ. Chẳng khác gì đã mời khách vào nhà rồi lại mời ra. Thơ cần bùng nổ mà dây cháy chậm dài quá.
Hôm nay, sực nhớ gió bấc gửi đi trước những đám mây đen bồng bềnh lướt nhẹ qua thành phố lúc rạng đông. Để rồi đến đêm nó sẽ tới, vừa đi vừa hát bài hát tha phương không có tuổi. Lại một mùa đông nữa đến rồi. Thơ ca ngẫm đến cùng cũng chẳng phải là cành nguyệt quế có thật ở trên đầu. Để có một góc chiếu giữa làng thơ xứ Việt này, người ta đã phải trả giá một đời người mà vẫn chưa xong.
Nắm tay tạm biệt ông, tạm biệt ngõ 12B Lý Nam Đế, lòng tôi bâng khuâng nghĩ về sứ mệnh của người thi sĩ trên cõi đời này; nghĩ về những câu thơ tâm sự nghiệp làm thơ của Nguyễn Đức Mậu.
Khi mọi buồn vui trong lòng vơi cạn
Khi con tằm thiếu lá dâu xanh
Tôi lo ngại những hạt xoàn giả tạo
Những câu thơ tự trang điểm cho mình.
Khuất Bình Nguyên
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu
• Sinh năm 1948
• Quê quán: Nam Điền, Nam Trực, Nam Định
• Những tác phẩm đã xuất bản: Thơ người ra trận (in chung, 1971); Cây xanh đất lửa (1973); Áo trận (1976); Mưa trong rừng cháy (1976); Trường ca sư đoàn (1980); Bão và sau bão (1994); Cánh rừng nhiều đom đóm bay (1998); Mở bàn tay gặp núi (2008)... Văn xuôi: Con đường không quên (truyện ngắn, 1984); Ở phía rừng Lào (truyện vừa, 1984); Tướng và lính (tiểu thuyết, 1990); Chí Phèo mất tích (tiểu thuyết, 1993).
• Giải thưởng văn học: Giải chính thức văn học 27-7 với bài thơ Nấm mộ cây trầm (1977); Giải nhất cuộc thi thơ tuần báo Văn Nghệ (1972-1973); Giải thưởng Văn học đề tài chiến tranh Hội Nhà văn Việt Nam (1994); Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, đợt 1, 2001; Giải thưởng ASEAN, 2001 với tác phẩm Cánh rừng nhiều đom đóm bay, và nhiều giải thưởng khác.
“Sáu mặt đời lắc cắc tiếng thơ anh”
Lúc nào cũng có vẻ vội vàng, tất bật. Bây giờ đang lặng lẽ đấy, có thể mấy giây sau đã bùng nổ. Khi đi ngoài đường, quần áo xộc xệch, trên chiếc xe máy cũ, anh như người vô danh. Có khi đang ngồi quán bia hơi giữa ồn ào, náo nhiệt, anh lặng lẽ khóc. Hoàng Nhuận Cầm là vậy đấy. Nhưng khi lên sân khấu đọc thơ, khi phát biểu tham luận trong hội thảo, anh có thể làm cho cả một rừng người kinh ngạc, ngơ ngác, và thậm chí không nhịn được cười, không dừng được lệ. Trong con người Hoàng Nhuận Cầm có đủ cả sự giản dị bừng sáng. Đào hoa lắm. Khổ đau nhiều. Can trường và mơ mộng. Những phẩm chất tưởng chừng trái ngược lại song hành trong con người anh.
Hoàng Nhuận Cầm là nhà thơ tài năng thiên bẩm, với giọng thơ đẹp, như tiếng hót của một loài chim quý. Một khi giọng thơ ấy vút lên, lập tức được chú ý. Lần đầu tiên xuất hiện cách đây vừa tròn bốn mươi năm, với chùm thơ đoạt giải nhất trong cuộc thi thơ trên báo Văn Nghệ (năm 1972-1973), Hoàng Nhuận Cầm đã gây ấn tượng với những câu thơ đầy nhạc tính, vang vọng, óng ả.
Toàn bộ thơ của Hoàng Nhuận Cầm (được in trong bốn tập: Thơ tuổi 20, Những câu thơ viết đợi mặt trời, Xúc xắc mùa thu, Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến, gồm hơn trăm bài), có thể chia thành hai mảng lớn: thơ về chiến tranh và thơ tình yêu. Mảng thơ tình yêu của Hoàng Nhuận Cầm được chú ý hơn, nhưng mảng thơ chiến tranh cũng rất độc đáo. Và với cả hai mảng thơ này, chất trẻ trung, tươi mới, hào hoa thấm đẫm trong từng câu thơ, từng hình ảnh, khiến thơ anh lung linh, được giới trẻ đặc biệt yêu thích.
Gần hai mươi năm cùng công tác với Hoàng Nhuận Cầm trong ngành điện ảnh, tôi có điều kiện được tiếp xúc với anh nhiều trong các liên hoan phim, các hội thảo hoặc các buổi ra mắt phim. Nhưng có lẽ kỷ niệm đáng nhớ nhất với Hoàng Nhuận Cầm là lúc chúng tôi cùng trở lại thăm thành cổ Quảng Trị, nghĩa trang Trường Sơn, nghĩa trang Đường 9. Tôi đã chứng kiến cảnh Hoàng Nhuận Cầm như lạc giữa hàng ngàn nấm mộ. Lúc ấy anh cứ bước đi như trong mơ. Thỉnh thoảng anh lại giơ tay chào trước những hàng bia im lặng và thút thít khóc, đôi mắt đỏ hoe, gương mặt tràn lệ. Bao nhiêu đồng đội của anh nằm ở đây. Có lúc Hoàng Nhuận Cầm tựa như lạc bước vào dĩ vãng, anh bần thần như nhìn thấy gương mặt, giọng nói của bao đồng đội còn ngân lên xung quanh, những trận bom cày xới mặt đất...
Tình yêu đồng đội, những day dứt khôn nguôi của một người lính bao nhiêu năm đắm trong hoài niệm là cội nguồn những trăn trở để anh viết nên kịch bản phim Mùi cỏ cháy đã “bóp nát trái tim” của biết bao những người đang sống trong thời bình. Đó cũng là cội nguồn của những bài thơ chiến tranh độc đáo người học trò mặc áo lính, mộng mơ, hào hoa, sang trọng:
Vào mặt trận lúc mùa ve đang kêu
Dẫu hòn bi lăn hết vòng tuổi nhỏ
Trong những ba lô kia ai dám bảo là không có
Một hai ba giọng hát tiếng ve kim
(Vào mặt trận lúc mùa ve đang kêu)
Chính những câu thơ thế này của Hoàng Nhuận Cầm đã khiến nhà thơ Xuân Diệu đương thời thốt lên: “Tôi cảm thấy mến thương các chú lính vô hạn, ra trận mà trong ba lô vẫn có những con ve, những hòn bi.”
Mãi nhiều năm sau Hoàng Nhuận Cầm vẫn theo đuổi cái giọng thơ về chiến tranh không trộn lẫn ấy và đã để lại những câu thơ khoáng đạt nhạc điệu và những hình ảnh ngời sáng.
Đêm trong suốt áp ngực vào phương ấy
Nhớ lại mùi cỏ cháy suốt thời trai
Ngôi sao rơi trên dãy kẽm gai dài
Một vùng đất không tiếng gà cất gáy
Bao hăng nồng cỏ cháy rát hoàng hôn.
(Phương ấy)
Hơn hai mươi tuổi, Hoàng Nhuận Cầm đã có một giọng thơ độc đáo, hấp dẫn như có ma lực. Thơ anh là tiếng lòng của những người lính trẻ hào hoa, gác bút nghiên ra trận, vẫn thấy hoa phượng đỏ gắn với một trời kỷ niệm tuổi học trò “rơi như mưa, như máu ở bên đường”.
Sinh ra trong một gia đình nghệ sĩ Hà Nội, cha là nhạc sĩ Hoàng Giác, Hoàng Nhuận Cầm trở thành sinh viên văn khoa Đại học Tổng Hợp Hà Nội, rồi khi mới học xong năm thứ nhất, anh nhận lệnh nhập ngũ và sau đó được điều vào thành cổ Quảng Trị, nơi được mệnh danh là cái “cối xay thịt”. Trong nhiều đồng đội thân thiết cùng nhập ngũ hồi đó, Hoàng Nhuận Cầm may mắn đi đến tận cùng cuộc chiến và được hưởng niềm vui chiến thắng. Hết chiến tranh, trở về, anh tiếp tục theo học những năm còn lại ở khoa ngữ văn Đại học Tổng Hợp Hà Nội rồi công tác ở Hãng phim truyện Việt Nam.
Anh bảo, anh yêu điện ảnh đến phát mệt. Mấy chục năm làm biên kịch, anh có nhiều tác phẩm thành công như Đêm hội Long Trì, Hà Nội mùa đông năm 1946, Mùi cỏ cháy... Nhưng tình yêu với thơ của anh còn lớn hơn nhiều: “Với Cầm, không còn làm thơ được nữa tức là không thể thở, là sẽ chết dần, chết mòn, héo úa hết màu xanh”. Anh được đánh giá cao trong biên kịch điện ảnh, nhưng có lẽ điều ghim lại hình ảnh anh trong cuộc đời, làm nên diện mạo anh trước công chúng, là thơ.
Có một dạo, tình hình điện ảnh khó khăn, anh sang Hãng phim truyền hình. Anh làm nhiều việc, từ biên kịch đến diễn viên. Và, người xem còn biết đến anh với biệt danh “Bác sĩ Hoa Súng”. Tôi hỏi anh làm truyền hình bận thế, có thời gian cho thơ nữa không? Anh bảo: “Không, đến hãng, vừa mở trang thơ ra xem, ông quản lý bảo, anh đọc thơ làm gì? Đọc truyện tìm cái hay mà chuyển thể chứ sao lại đọc thơ?” Hoàng Nhuận Cầm rời Hãng phim truyền hình trở lại với Hãng phim truyện. Khi nhà nước cho phép lập hãng phim tư nhân, anh cũng nằm trong số những nghệ sĩ tiên phong đứng ra lập hãng phim Điệp Vân với mong muốn tìm một con đường mới cho công việc của mình. Nhưng cuối cùng, anh chẳng thâm nhập được vào cái nháo nhào của thời kinh tế thị trường. Trong cái cảnh đời náo động ấy, nhiều lúc anh ngơ ngác.
Hoàng Nhuận Cầm trước sau vẫn là người của mộng mơ và hoài niệm. Có khác chăng, anh đã trải qua những trận bão máu thời chiến tranh, và mang thêm những vết thương của hòa bình. Qua một thời cả nước đói nghèo, khổ cực, anh mất đi nhiều mộng mơ. Những mối tình đổ vỡ, những ký ức từng gìn giữ nâng niu đến một ngày tan nát. Đời anh có lúc bơ vơ, chao đảo. Những trắc trở ấy, đau thương ấy, một lần nữa, lại biến thành thơ. Càng về sau, thơ tình của Hoàng Nhuận Cầm càng dữ dội, nhưng cũng sâu lắng, day dứt và quyến rũ thêm.
Thơ tình Hoàng Nhuận Cầm từng đi vào sổ tay của mấy thế hệ học trò. Những bài thơ Chiếc lá đầu tiên, Xúc xắc mùa thu, Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến, Mây rất thờ ơ... có thể coi là những bài thơ vào loại hay nhất cho lứa tuổi học sinh, sinh viên. Hoàng Nhuận Cầm trở thành thần tượng cho nhiều người trẻ yêu thơ, và họ tìm thấy trong thơ anh những hình ảnh mê hồn, những ám ảnh không dứt...
Em thấy không tất cả đã xa rồi
Trong tiếng thở của thời gian rất khẽ
Tuổi thơ kia ra đi cao ngạo thế
Hoa súng tím vào trong mắt lắm say mê
Chùm phượng hồng yêu dấu ấy rời tay
Tiếng ve trong veo xé đôi hồ nước
Tiếng ve tiên tri vô tâm báo trước
Có lẽ một người cũng bắt đầu yêu
(Chiếc lá đầu tiên)
Và đây nữa, những câu thơ gây ấn tượng day dứt bởi âm điệu và hình ảnh:
Sẽ tan đi những thành phố bảy màu
Đôi trái cấm trong vườn đời em anh làm vỡ
Nhưng giọt mực thứ ba em ơi không thể lỡ
Xin trải lòng ta đón chấm xanh rơi
(Xúc xắc mùa thu)
Thơ anh từng được bao nhiêu người chuyền tay nhau, chép tặng nhau trong sổ tay, thành hành trang theo mãi trong đời. Thiết nghĩ, không nhiều nhà thơ trong chúng ta có được vinh hạnh đó. Nhiều lúc, anh cố tình lẩn vào đám đông, nhưng khi tên anh được xướng lên, lập tức có hàng trăm đôi mắt hướng về trầm trồ, ngưỡng mộ.
Hoàng Nhuận Cầm đã bước vào tuổi sáu mươi. Hơn mười năm nay anh không có thêm tập thơ nào. Một lần anh bảo, tập thơ mới của anh sẽ mang tên Tôi có đủ nỗi buồn để sống. Nhưng tập thơ mới chưa ai thấy đó vẫn là một bí mật mà lúc này anh chưa muốn nói đến nhiều.
Thơ ca đang gặp những thách thức gay gắt, độc giả ngày nay đã khác trước nhiều, nhưng Hoàng Nhuận Cầm vẫn là một thi sĩ được các thế hệ người đọc trẻ tuổi hôm nay và sau này yêu mến, mặc cho những trào lưu mới không ngừng sinh ra.
Thiên Sơn
Nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm
• Ngày sinh: Sinh ngày 7 tháng 2 năm 1952
• Quê quán: Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội
• Đời hoạt động: Năm 1969, học trường Đại học Tổng Hợp. Năm 1971 tình nguyện nhập ngũ vào Binh chủng Phòng không – Không quân. Đã chiến đấu tại các mặt trận Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế cho đến khi chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Năm 1976, giải ngũ trở về trường cũ tiếp tục học. Năm 1981 về công tác tại Hãng Phim truyện Việt Nam, rồi làm việc tại Đài Truyền hình Việt Nam. Năm 2005 trở lại làm việc tại Hãng Phim truyện Việt Nam.
• Các tác phẩm chính: Thơ tuổi 20 (thơ, in chung, 1974); Những câu thơ viết đợi mặt trời (thơ, 1983); Xúc xắc mùa thu (thơ, 1992); Thơ với tuổi thơ (2004); Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến (thơ, 2007); 36 bài thơ tuyển chọn (thơ, 2008). Một số kịch bản phim: Lầm lỗi, Đằng sau cánh cửa, Đêm hội Long Trì, Hà Nội – Mùa đông năm 46, Pháp trường trắng, Ai lên xứ hoa đào, Đoạn trường chiêm bao, Nhà tiên tri, Mùi cỏ cháy...
• Các giải thưởng: Giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn Nghệ 1972-1973. Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1993 (tập thơ Xúc xắc mùa thu). Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật (2012).
Một lão nông viết văn
Đối với người cầm bút, có một vùng đất gắn bó gan ruột, trở thành nguyên liệu cho cuộc đời sáng tác của mình quả là một điều may mắn. Mảnh đất đó thường là nơi mà họ được sinh ra và lớn lên, là quê hương máu thịt. Quê hương là mạch nguồn cảm xúc vô tận, cứ viết mãi viết mãi vẫn thấy chưa thỏa mãn với tình yêu họ đã dành cho mảnh đất đó. Tình yêu thì vô biên, nguyên liệu lại dồi dào, tuy nhiên để thành công không phải ai cũng làm được. Có lẽ nhà văn Ngô Ngọc Bội là một trong số ít những người cầm bút làm được điều đó.
Cả một đời viết văn, Ngô Ngọc Bội chỉ viết về đề tài nông thôn và bối cảnh cho các tác phẩm đó là mảnh đất quê hương ông. Ông sinh ra trong một gia đình trung lưu miền trung du Phú Thọ, bên hữu ngạn sông Thao. Cái mảnh đất vốn được xem là màu mỡ đó, mà đời sống người dân cũng chẳng khấm khá gì. Khi ông còn nhỏ, ngoài công việc đồng áng, bố mẹ ông còn mở một quán khâu vá để đủ tiền nuôi đàn con ăn học. Hàng ngày ông vẫn thấy mẹ thu gom những thẹo vải thừa vào bao tải để bán cho cô mua vải vụn, lông gà lông vịt, tóc rối. Rồi đến một ngày, cô chè chai tóc rối đó đi lấy chồng, không đến mua nữa. Ông vẫn thấy mẹ mình lèn từng tải vải vụn, xếp sau nhà. Thi thoảng, bà lại đem ra chắp nối lại, nhưng ông cũng không hỏi bà chắp nối những mảnh vải đó để làm gì. Sau nạn đói 1945, ông phải dang dở việc học hành để làm ruộng đỡ đần cha mẹ. Ngoài ra, ông thêm nghề trèo cọ, cắt lá cọ đem bán cho người ta lợp mái nhà. Hồi đó, ông là cao thủ trèo cọ trong vùng nên cũng có đồng ra đồng vào đỡ đần cuộc sống gia đình. Rồi, ông tham gia hoạt động cách mạng, vào Đảng, đến tuổi lấy vợ thì được bố mẹ tìm cho một cô gái ưng ý cùng làng. Ông bảo, chẳng bao giờ ông quên được hình ảnh cái giường tân hôn của vợ chồng ông. Trên chiếc giường tre trải một cặp chiếu cói mới. Đầu giường là hai chiếc gối và cái chăn được khâu bằng những thẹo vải đủ các màu xanh, nâu, đen, trắng. Mỗi thẹo vải chỉ bằng lá lúa, bao diêm, miếng nào to thì bằng bàn tay. Ông chợt bàng hoàng thương cho người mẹ tảo tần. Thì ra, cả chục năm trời, mẹ ông cóp nhặt những thẹo vải để làm thành đôi gối và cái chăn cho con trai cưới vợ. Chiếc chăn hàng ngàn thẹo vải, nặng tới sáu kilôgam. Những mép vải cộm lại phía trong ấm áp. Đêm tân hôn với ông có gì đó thật kỳ lạ. Mùi của những thẹo vải, mùi chiếu cói, mùi ẩm mốc của bức vách trát bùn đất còn chưa khô hẳn, cộng với mùi bồ kết trên tóc của người vợ trẻ cứ hòa quyện vào nhau. Những cái mùi đó cứ ám ảnh, văng vẳng suốt đời ông, đặc biệt trong những năm tháng công tác xa nhà.
Tôi từng về thăm nhà ông ở xã Phú Khê, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Một ngôi nhà hai tầng bên những tán cây hồng xiêm cổ thụ ngót cả trăm tuổi, tỏa bóng sum suê. Sau hai chục năm nghỉ hưu từ tuần báo Văn Nghệ, ông sống thanh bạch nơi chôn nhau cắt rốn cùng người vợ hiền hậu. Bà là mẫu người đặc trưng của phụ nữ nông thôn Bắc bộ. Từ ngày về làm dâu họ Ngô, bà lặng lẽ, tảo tần gánh vác gia đình nuôi đàn con khôn lớn. Còn ông Bội thì cứ công tác biền biệt cho đến ngày nghỉ hưu. Bà bảo bây giờ cuộc sống đỡ vất vả, sướng hơn trước rồi. Ông Bội thủng thẳng cười: “Vợ ông Bội thì lúc nào mà chẳng sướng.” Bà lão tỏ vẻ tự hào về ông chồng nhà văn của mình. Bà vẫn tự chăm sóc ông Bội chu đáo: cơm nước, thuốc men, giờ giấc sinh hoạt. Những lúc ông ngồi vào bàn viết, bà lặng lẽ đi đóng cổng ngoài cửa trong để đám trẻ nô đùa không ảnh hưởng đến công việc viết lách của ông. Bà bảo, ông cứ viết hết cuốn này đến quyển nọ nhưng bà chẳng đọc. Bà suốt ngày bận rộn với lợn gà, vườn tược, cơm nước, xem ông là người quan trọng, chỉ mỗi tội không có tiền bạc bao giờ. Tôi cười với bà: “Trong chiếu văn, ông nhà mình đúng là người quan trọng đấy bà ơi, chẳng gì thì cũng vừa được cái giải thưởng nhà nước đấy thôi, đâu phải ai cũng làm được điều đó.” Ông Bội cười hề hề: “Làm cái anh nhà văn quan trọng gì ba cái giải thưởng giải thiếc. Ấy nhưng mà cái giải thưởng đó họ cũng cho được khá tiền đấy cậu ạ. Thế mà bà cứ bảo chẳng có tiền bạc bao giờ.”
Có lẽ ai đã từng gặp nhà văn Ngô Ngọc Bội một lần thì chắc hẳn sẽ không bao giờ quên được gương mặt ấy, ánh mắt ấy: toát lên nét đôn hậu chất phác nhưng cũng hiện rõ vẻ rắn rỏi phong trần, từng trải. Ông ngoắt tôi: “Cậu đi theo tớ.” Bước xuống sân gạch trước nhà, ông chỉ ra cái ao cá, cách một vườn rau xanh mướt, rồi bảo: “Cách đây mấy năm, mỗi khi nhà có khách là tớ vẫn xuống ao bắt cá để nhắm rượu. Bây giờ thì chịu, đến rượu cũng chẳng uống nữa.” Tôi tò mò quan sát một cây sào to bằng bắp tay dài khoảng sáu, bảy mét, có những vấu chìa ra từ đầu đến ngọn khoảng một gang tay. Ông cười bảo: “Ngạc nhiên lắm phải không, cái này gọi là cây đà, dùng để trèo cọ. Ngày trước tớ vẫn trèo cọ bằng cây đà này đấy. Có những cây cọ cao bằng bốn đến năm lần cây đà này ý chứ. Nguy hiểm lắm. Cậu nhìn tay tớ đây này, khắp hai cánh tay đều là sẹo do trèo cọ cả đấy.” Ông kéo tay áo cho tôi xem những vết sẹo. Ông dẫn tôi đi vòng ra sau nhà, sang nhà ông anh trai để chỉ cho tôi gian nhà thờ họ. Anh trai ông đã mất, chỉ còn hai bà vợ, bà cả hơn chín mươi xem ra đã yếu và hơi lẫn, bà hai tám nhăm tuổi vẫn khỏe mạnh. Một mình bà hai làm tất cả mọi việc trong nhà và chăm sóc bà cả. Con cháu thì ở xa, một tháng về đôi ba lần. Tôi lại nhớ đến truyện ngắn Hai người đàn bà xóm trại của Nguyễn Quang Thiều. Hai người đàn bà trong truyện của Nguyễn Quang Thiều có hai ông chồng khác nhau, đều chưa có con, ở cùng nhau dưới một mái nhà nơi xóm bãi ven sông để chờ hai ông chồng bộ đội trở về. Còn hai bà lão mà tôi đang gặp đây là vợ cả vợ hai, đều có con cái, ra vào như hai cái bóng trong mấy gian nhà ngói nằm trên quả đồi bát úp miền trung du này. Họ đang đếm những năm tháng cuối cùng cuộc đời mình, và chẳng trông đợi điều gì. Có chăng họ chỉ chờ ngày con cháu về thăm, đỡ cô quạnh. Nhà văn Ngô Ngọc Bội quay sang tôi: “Văn học là đây chứ còn đâu nữa. Quê tớ có nhiều chuyện hay lắm, viết cả đời không hết được. Chính vì thế mà tớ luôn cảm thấy như người mắc nợ với quê hương, với nông thôn. Trong đầu tớ đang hình thành mấy cuốn tiểu thuyết nữa, tiếc rằng sức yếu rồi không viết được nữa. Đầu óc bây giờ không còn minh mẫn, cứ nhớ nhớ quên quên, mệt lắm.”
Trong gian nhà thờ họ, ông ngồi gác cả hai chân lên thành ghế, đầu đội chiếc mũ nồi, trông vẻ rất lãng tử, ông say sưa kể cho tôi nghe những câu chuyện của quê ông, những câu chuyện về gia đình và cuộc đời ông. Đang trò chuyện bỗng ông dừng lại và bảo: “Thôi chết cái thanh xà này bị mọt rồi cậu ơi. Đấy, cậu có thấy mọt nó ăn, rơi đầy cái phản kia không.” Rồi ông nói vọng với bà chị dâu thứ hai đang lúi húi trong bếp: “Bà ơi cái thanh này bị mọt ăn hỏng hết cả rồi. Thôi chết. Thế này thì bỏ mẹ.” Bà lão lật đật chạy từ dưới bếp lên xem, cầm cái chổi quét cứt mọt xuống nền nhà, rồi quét ra sân. Ông Bội lại ngoắt tay tôi: “Thôi ta lại về bên nhà đi cậu.” Vừa đi ông vừa bảo: “Ở cái xóm này, bây giờ toàn ông bà già với nhau. Con cháu kéo ra thành phố hết cả rồi. Buồn thì cũng có buồn. Ấy thế mà cũng quen đấy cậu ạ. Cứ như tớ, mấy chục năm làm việc dưới Hà Nội, nhưng bây giờ cho về Hà Nội ở với con cháu khoảng một tuần mà cũng không thể ở được. Nó ngột ngạt tù túng lắm cậu ạ. Ngày xưa ở Hà Nội, tớ cũng ít giao đãi bạn bè, cứ lặng lẽ viết lách là chính. Về đây gần gũi với thiên nhiên sướng hơn.”
Tôi cũng đã được nghe nhiều người kể, ông là người ít giao du với bạn bè văn chương. Đặc biệt với các tên tuổi lớn, những nhân vật quan trọng hoặc những ông nhà văn hay tỏ vẻ khụng khiệng, ông lại càng tránh. Ông bảo mỗi người có một công việc riêng, suy nghĩ riêng, một cách viết riêng, vậy thì cứ làm tròn bổn phận của mình đi. Với ông, ông đã chọn cho mình một cách sống, một cách viết rất Ngô Ngọc Bội.
Trong giới văn chương, người viết về đề tài nông thôn cũng nhiều nhưng viết để cho ra hồn cốt của nông thôn Việt Nam thì lại ít. Ngô Ngọc Bội đã làm được điều đó. Ngô Ngọc Bội như thể một ông nông dân vừa chân đất kéo cày vừa cầm bút viết văn. Tác phẩm của ông thấm chất chân quê để đến được cái chân thực của văn chương. Ông viết về đời sống, những vui buồn, đau khổ, hạnh phúc, diễn biến tâm lý của người nông dân như viết về chính con người mình vậy, làm toát lên rõ nét tinh thần nhà quê. Ông có cách miêu tả tâm lý con trâu trong từng hoàn cảnh khác nhau khiến người đọc thấy bỡ ngỡ, lý thú rồi bị hút vào theo. Hay ông miêu tả những cảnh yêu đương của trai gái nông thôn chân thực đến thế, vừa vụng về, vừa mộc mạc lại có duyên tinh tế. Tác phẩm của Ngô Ngọc Bội bám sát hình tượng người nông dân suốt một thời đoạn lịch sử, từ trong cách mạng, tham gia giải phóng, được giải phóng và xây dựng kinh tế. Cuộc sống nông dân trong văn Ngô Ngọc Bội sống động, có xung đột và hàn gắn, có nước mắt và nụ cười, có cái chung và cái riêng.
Ngô Ngọc Bội không chú tâm đến phong cách văn chương, ông viết như một bản năng đã được hoàn thiện bởi phông văn hóa về nông thôn và vốn liếng văn chương chữ nghĩa. Ông bảo, người cầm bút viết văn có hai dạng. Dạng từ tâm huyết viết thành tác phẩm. Dạng này viết chậm chạp. Nhưng khi đã chạm tới đích thì thành quả thường bền chắc, sâu lắng. Dạng thứ hai thường là do bịa tạc hoặc có nơi đặt hàng, chỉ cần nghe báo cáo là có sản phẩm. Dạng này thường viết nhanh hết cuốn này đến cuốn khác, nhưng văn chỉ có cốt truyện, sự việc, thiếu tình tiết, thiếu chi tiết sống và nội tâm nhân vật. Ông tự nhận mình là người viết thuộc vào dạng thứ nhất, vì vậy mà Ngô Ngọc Bội đã có cả một sách lược lâu dài, hoạch định cho cả đời cầm bút của mình.
Năm 1960, khi truyện ngắn Bộ quần áo mới được giải nhất cuộc thi truyện ngắn của báo Văn Học thuộc Hội Nhà văn Việt Nam, ông khẳng định việc cầm bút và đi vào nghiệp văn chương. Năm 1968, ông về công tác tại báo Văn Nghệ, đúng là nơi để ông thả sức học tập viết lách. Ông tranh thủ bổ sung kiến thức và tay nghề. Ông xông xáo đi viết bút ký phóng sự trên rừng dưới biển, trong nam ngoài bắc; nơi nào đặt chân đến ông đều ghi chép rất cẩn thận và viết. Những chuyến đi như thế giúp ông mở thêm tầm nhìn.
Trong những năm công tác ở báo Văn Nghệ, Ngô Ngọc Bội được anh em văn chương yêu mến và kính trọng về tài năng và đức độ. Mọi người gọi ông là “bà đỡ” cho rất nhiều cây bút. Sau này bọn họ nhiều người nổi tiếng hơn ông, nhưng họ vẫn nghĩ về ông với sự kính trọng và biết ơn. Những góp ý chân thành, những việc làm của ông khi đó giống như cái đòn bẩy, giúp họ có bài học, động lực để tiến xa hơn trong con đường văn chương đầy chông gai. Khi ông đã nghỉ hưu về quê, có nhiều người vẫn về tận nơi thăm ông như thăm một người anh, một người thầy, một vị ân nhân. Những năm ông làm trưởng ban văn xuôi ở báo Văn Nghệlà một giai đoạn hoàng kim của văn học, đặc biệt với văn xuôi. Thời kỳ đó báo Văn Nghệ tạo ra những cơn “địa chấn” với hàng loạt truyện ngắn, bút ký phóng sự. Nhà văn Nguyên Ngọc, tổng biên tập báo Văn Nghệ lúc đó, được ví như là tổng công trình sư, còn Ngô Ngọc Bội là kỹ sư thực hiện. Ông bảo, những năm biên tập văn xuôi ở báo Văn Nghệ, ông đã dùng thủ pháp “chập chờn” trên mặt báo. Lúc lảng ra, lúc lảng vào. Gọi là chiến thuật vỗ tay và tát. Một cái tát, chín cái vỗ tay. Hai cái tát, tám cái vỗ tay. Bốn cái tát, sáu cái vỗ tay. Rồi sáu cái tát, bốn cái vỗ tay. Nếu thấy anh nào nhăn mặt thì lại rút về, rồi tung ra mười cái vỗ tay. Hồi đó thấy báo Văn Nghệ mạnh dạn in những sáng tác mang tính đổi mới, đa chiều, phản biện, lập tức cộng tác viên cả nước rầm rập gửi bài tới. Văn Nghệ in từ ba vạn mỗi số, rồi lên tới năm vạn, có lúc lên đến bảy vạn tờ. Không khí đổi mới văn chương sôi động khắp cả nước.
Đang ngồi bàn nước, ông lại kéo tôi vào gian nhà trong. Căn phòng khoảng mười mét vuông, chỉ có cái tủ quần áo, cái giường, cái bàn viết và cái ghế đẩu, tất cả đều đã ngả màu đen bóng. Ông bảo mấy thứ đồ gỗ này là cùng một bộ, ông mua chúng từ tiền nhuận bút của cuốn Ao làng, cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông. Đó là cuốn tiểu thuyết góp phần làm nên tên tuổi Ngô Ngọc Bội, nhưng cũng phải lận đận hơn mười ba năm mới đem in được. Ông lúi húi tìm chìa khóa để mở cánh bên phải của cái tủ gỗ, rồi từ đó mở chốt của cánh cửa tủ bên trái. Từ trong khoang tủ tối om, ông bê ra mấy chồng sách vở, toàn là những bản thảo, sổ tay ghi chép, và những bài báo ông cắt ra dán vào thành một quyển. Những cuốn sổ tay ghi chép ngay ngắn từ trang đầu đến trang cuối, đánh số từng quyển rất cẩn thận. Rồi ông lại khệ nệ bê ra một chồng sách, đó là những tác phẩm của ông đã xuất bản, cuốn nào ông cũng ghi vào trang đầu, dòng chữ: “Bản lưu trữ của tác giả”. Ông bảo, cả một đời sống chết với văn chương, bây giờ nằm gọn trong cái tủ này, tính ra gần hai chục tác phẩm: tiểu thuyết và truyện ngắn, đấy là chưa kể cả trăm cái bút ký mà ông chưa tập hợp in thành sách.
Tôi nói với ông: “Khi nào lên Hà Nội, ông ghé vào báo Văn Nghệchơi với bọn con cho vui”. Ông lại cười tít mắt mà rằng: “Vui gì. Bây giờ có ai biết mình là ai, chỉ tổ làm mất thời gian của mọi người.” Ông tiễn tôi ra tận đầu làng. Nói là ra tận đầu làng nhưng cũng chỉ có mấy bước chân, bởi nhà ông nằm ngay đầu làng nhìn ra đồng lúa thẳng cánh cò bay. Nhìn từ xa ngôi nhà của ông nằm lúp xúp bên sườn một quả đồi bát úp, lác đác vài cây cọ cao. Bóng nhà văn Ngô Ngọc Bội, nhác trông cũng như một lão nông ra thăm đồng.
Trần Vũ Long
Nhà văn Ngô Ngọc Bội
• Ngày sinh 14-4-1928
• Quê quán: Xã Phú Khê, huyện Cẩm Khê, Phú Thọ
• Đời hoạt động: Từ năm 1945-1948: Thanh niên cứu quốc xã. 1948-1949: Cán sự huyện đội Cẩm Khê. 1949-1957: Cán bộ thông tin tuyên truyền huyện Đà Bắc, rồi tỉnh Hòa Bình. 1957-1968: Ty văn hóa Phú Thọ rồi Vĩnh Phú. 1968-1993: Trưởng ban biên tập văn xuôi báo Văn Nghệ. Năm 1994 nghỉ hưu.
• Các tác phẩm chính: Chị Cả Phây (tập truyện, 1963); Đất bỏng(ký sự, 1968); Ao làng (tiểu thuyết, 1975); Nợ đồi (tập truyện, 1984); Lá non (tiểu thuyết); Ác mộng (tiểu thuyết, 1990); Mênh mang cổng trời (tiểu thuyết, 1992); Gió đưa cành trúc (tiểu thuyết, 1994); Những mảnh vụn (tập truyện, 1996); Tơ vương (tiểu thuyết, 2000); Đường trường (tiểu thuyết, 2001); Đường trường khuất khúc (tiểu thuyết, 2003); Ẩm ương đi lấy chồng (tập truyện, 2005), và 67 bút ký, phóng sự phần lớn in trên báo Văn Nghệ chưa tập hợp thành sách. Kịch bản phim chân dung: Nhà văn Trung du(xưởng phim Hội Nhà văn Việt Nam sản xuất năm 2001).
• Giải thưởng văn học: Giải nhất truyện ngắn Bộ quần áo mới báo Văn Học năm 1960. Giải thưởng Ủy ban nông nghiệp Trung ương năm 1976, tiểu thuyết Ao làng. Giải thưởng văn học Hùng Vương tỉnh Vĩnh Phú, tiểu thuyết Ác mộng. Giải thưởng Côn Sơn tỉnh Hải Dương, tiểu thuyết Gió đưa cành trúc, 1991-1995. Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật (2012).
Là lạ một Sơn Tùng
Tới dự buổi lễ trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động ngày 22 tháng 7 năm 2011 cho nhà văn Sơn Tùng, tại trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam - số 9 Nguyễn Đình Chiểu, có Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, cùng đông đảo các nhà văn nhà thơ, bạn bè thân hữu, đại diện quê hương của nhà văn từ trong Nghệ An. Lên trao bằng công nhận danh hiệu Anh hùng Lao động cho nhà văn Sơn Tùng, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã phát biểu bày tỏ tình cảm chân thành của mình đối với người đồng đội, người bạn, người anh Sơn Tùng. Chủ tịch nước cũng đánh giá cao những đóng góp cho văn chương và nỗ lực phi thường của nhà văn Sơn Tùng. Nhà văn Sơn Tùng quan niệm: “Đạo là gốc của văn. Văn nhân đích thị dấn thân hành đạo.” Chính vì vậy mà ông đã trở thành một tấm gương sáng về nhân cách và phẩm giá của một con người và của một nhà văn.
Có lẽ Sơn Tùng là chất liệu để làm nên sự dày dặn của những sách, phim ảnh bắt mắt, tất nhiên phải những tay viết có tài, tựa như quý vật phải gặp được quý nhân vậy! Một Sơn Tùng thương tật hạng một trên bốn (theo tiêu chuẩn nhà nước là phải có người nuôi) chỉ còn ba ngón tay với bao nghị lực gắng gỏi để vượt thoát tình trạng phế nhân và quên lãng, thành nhà văn có danh với hơn 10 đầu sách (Búp sen xanh hơn hai mươi lần tái bản với sáu mươi vạn bản). Cô y tá Phan Hồng Mai xinh xắn từng minh chứng tình yêu là có thật đã neo chặt cuộc đời của mình với anh thương binh Bùi Sơn Tùng từng lê lết bê bết giường cứt chiếu đái dằng dặc hàng chục năm giời. Đã đành là người xứ Nghệ ngang thẳng nhưng giữa thời buổi những nhố nhăng chụp giật, mà vẫn có một Sơn Tùng tiết tháo kiên quyết từ chối ngay căn nhà mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngỏ ý tặng. Lý do thế này. Trong một lần tái bản Búp sen xanh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết lời tựa cho cuốn sách. Nhà văn Sơn Tùng bộc bạch rằng không muốn đeo mo cái tiếng vì viết sách về Bác Hồ mà lần đến cửa Thủ tướng xin nhà. Theo chân Bác thì được chứ chả nên ăn theo Bác!
Trận bom quái ác sáng ngày 15-4-1971 ở căn cứ R miền Đông Nam bộ, anh cán bộ văn phòng Sáu Phong Nguyễn Minh Triết khi phát hiện hầm của nhà báo kiêm bí thư chi bộ Bùi Sơn Tùng bị bom làm sập đã không quản nguy hiểm lao ngay sang bới tìm băng bó vết thương rồi xốc Sơn Tùng đi cấp cứu. Nếu chỉ chậm một chút vì mất máu và không được cứu chữa băng bó kịp thời thì chả có một nhà văn Sơn Tùng bây giờ. Đành một nhẽ cái ơn sinh tử lẫn chuyện cứu mạng người Việt mình trong hoạn nạn chiến tranh không hiếm. Nhưng cái tình đồng đội tình bạn tình anh em bền chắc có lẽ cũng hiếm được như giữa Sơn Tùng và Nguyễn Minh Triết. Ở những cương vị Bí thư TW Đoàn, Bí thư tỉnh ủy Bình Dương, Bí thư TP Hồ Chí Minh và sau này là Chủ tịch nước, ông Sáu Phong Nguyễn Minh Triết vẫn tranh thủ được thời gian lui tới với nhiều đồng đội những năm ở R nhưng nhiều lần hơn cả vẫn là đến thăm nhà văn thương binh Sơn Tùng. Những lần nhà văn bạo bệnh vì vết thương tái phát phải cấp cứu, Chủ tịch đều có mặt. Có lần, ở bệnh viện cấp cứu nhà văn Sơn Tùng, trong khoảng thời gian chuyện trò hiếm hoi, ông bộc bạch rằng với anh Sơn Tùng chúng tôi soi vào đấy nhiều lắm để giữ mình lẫn không thẹn với những người như anh Sơn Tùng... Có lẽ một trong những việc bấn bíu thời gian cuối nhiệm kỳ Chủ tịch nước, mới đây ngày 17-7- 2011, Chủ tịch nước đã đến căn hộ xập xệ ở ngõ Văn Chương, thăm Sơn Tùng, mừng nhà văn phục hồi tàm tạm sau cơn tai biến, thứ nữa cũng là đến mừng ông anh của tôi (từ dùng của Chủ tịch nước) vừa được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động!
Vv... và vv...
Là lạ có lẽ là cách nói khác đi về những bí ẩn. Mà giải mã những bí ẩn của Sơn Tùng, hình như chưa tận bờ sát góc và rốt ráo gì nhiều? Tỷ như việc viết tiểu sử danh nhân, xứ mình không hiếm không thiếu người viết lẫn tác phẩm. Nhưng dường như Sơn Tùng có cách riêng hơi bị lạ để giải mã để dân mình thân gần hơn một lãnh tụ một chính khách Hồ Chí Minh. Sơn Tùng không lẫn vào đám đông để hô thật to thật vang những khẩu hiệu. Tuân thủ ngặt nghèo cách riêng và lạ ấy, một Sơn Tùng lê lết thương tật những năm bao cấp khốn khó đã cùng bà vợ gom góp những đồng bạc dành dụm bạc mặt lui tới ở nhiều tỉnh phía Nam, lâu nhất vẫn là Nghệ An, rồi xa hơn là Phan Thiết, Đồng Tháp. Những chuyến đi ấy ông đã gặp gỡ hàng trăm người, ghi chép cẩn thận trong hàng chục cuốn sổ lọc ra đâu là nhân chứng đích thực đâu là hóng hớt và mang máng tỉnh táo chọn lựa chi tiết. Những chi tiết nhân văn lôi cuốn bắt mắt để bầu nên giá trị những cuốn sách viết về Bác Hồ như Búp sen xanh, Bông sen vàng, Hoa râm bụt...Xa hơn, điều chi mách bảo mà từ năm 1950, trong một chuyến đi công tác, anh cán bộ Đoàn Nghệ An Bùi Sơn Tùng đã rẽ qua Nam Đàn thăm người chị của Bác Hồ, bà Nguyễn Thị Thanh mà nhà văn gọi là o, cùng người anh cả của Bác là cụ Nguyễn Sinh Khiêm. (Mãi sau này qua nhà văn hóa giáo sư Phan Ngọc, chứ không phải nhà văn Sơn Tùng kể, tôi mới được biết, bà nội nhà văn Sơn Tùng là cháu họ bà nội Bác Hồ. Em trai ông nội nhà văn đỗ tú tài cùng khoa với em trai cụ Hoàng Xuân Đường ông ngoại Bác.)
Người anh cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh đương ốm nặng nhưng vẫn tỉnh táo để bắt chuyện với người cháu là Bùi Sơn Tùng mà cụ rất quý... Không biết cụ đã ký thác với Sơn Tùng những gì mà lần gặp đó là lần cuối. Chuyến đi công tác miền Tây Nghệ An ấy lúc trở về, Sơn Tùng không còn gặp được Bác Cả Nguyễn Sinh Khiêm. Cụ từ trần ngày 25 tháng Tám (âm lịch) Canh Dần, tức là ngày 6-10-1950. Đến ngày 9-11-1950, Bác Hồ mới biết tin anh Cả qua đời, Bác chuyển lời đau buồn thống thiết về họ Nguyễn Sinh: Than ôi tôi chịu tội bất đệ trước linh hồn anh và xin bà con nguyên lượng cho một người con đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước...
Việc nước? Tôi lẩn thẩn nghĩ đến thời điểm cụ Cả mất, Bác Hồ đang sắp huề trượng đăng sơn quan trận địa (chống gậy lên non xem trận địa) trong chiến dịch Biên giới nhằm thay đổi cục diện chiến trường?
Nhà văn rủ rỉ với tôi như đã từng nói và sẽ nói với bất cứ người nào khi đến nhà ông muốn tìm hiểu về những công trình ông đã đang và sẽ viết về Bác Hồ những điều mộc mạc như thế này: Tôi đi tìm cái vĩ đại của Bác qua những việc bình thường... Cuộc đời Bác Hồ không phải phân kỳ mà là bện quện của những tráng ca, hùng ca, bi ca... trong một vĩ nhân!
Những chuyện nhà chuyện nước chuyện chung chuyện riêng, những tư liệu này chỉ mỗi Sơn Tùng sở hữu? Cái gánh ấy, kho báu ấy, hình như Sơn Tùng mới chỉ san sẻ phần nào cho bạn đọc mà thôi?
Nói từ những ngày xa ấy, Sơn Tùng có ý thức để sau này viết tiểu sử về Chủ tịch Hồ Chí Minh có lẽ cũng đúng. Nhưng tôi cứ mang máng hình như là cái duyên? Mà duyên ấy không phải chia đều và ai cũng gặp được.
Một cái duyên nữa với Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Có lẽ một dịp thích hợp sẽ dẫn ra chuyện sơ kiến của nhà văn Sơn Tùng với Đại tướng. Mà cũng như là cái duyên? Trên vách Chiếu Văn căn hộ xập xệ của Sơn Tùng có bức ảnh nhà văn Sơn Tùng thân ái trong vòng tay của Đại tướng. Tác giả bức ảnh, người một thời gian chuyên chụp Đại tướng, nghệ sĩ nhiếp ảnh Trần Hồng. Lần ấy Trần Hồng đã kể tôi nghe, Đại tướng đã khóc khi gặp Sơn Tùng...
Chúng tôi bệt trên Chiếu Văn, chất giọng Nghệ trầm ấm, nhà văn kể lại những buổi làm việc của nhà văn với Đại tướng tại nhà riêng phố Hoàng Diệu từ những năm đầu chín mươi của thế kỷ trước.
Buổi làm việc? Nghe tôi hỏi lại, nhà văn cười nhẹ, nhắc lại làm việc chứ không phải lên chơi. Có buổi từ sáng xuyên sang cả chiều. Mà việc gì phải thông tầm vậy? Nhà văn cười, cũng là đề tài về Bác Hồ mà ông dùng cụm từ hơi bị lạ là cái vốn nguyên tủy của mình. Có cái nhà văn rất cần thông tin từ Đại tướng và cũng có thông tin Đại tướng cần... Không người giúp việc, không ghi chép. Giữa Đại tướng và nhà văn chỉ có một chiếc máy ghi âm. Cuối buổi làm việc, ý chừng để kiểm tra lại trí nhớ của nhà văn, bao giờ Đại tướng cũng hỏi lại những con số những sự kiện này khác. Đại tướng hài lòng vì Sơn Tùng ít quên...
Có lần Đại tướng giữ lại ăn cơm. Ông đã thực sự ngạc nhiên khi chứng kiến cái mâm vẹo vọ, đúng hơn là cái mâm bị méo. Võ Đại tướng mà dùng cái mâm này sao? Chừng như đọc được nét băn khoăn lẫn ngạc nhiên của Sơn Tùng, Đại tướng cười nói sang việc khác: bữa nay có Sơn Tùng nên bà Hà ưu tiên cho đĩa thịt bò xào. Để ý suốt buổi, Đại tướng đã có cái cà mèn đựng muối vừng. Như Đại tướng cho biết là bà vợ bao giờ cũng chuẩn bị sẵn. Chợt nhớ bữa cơm chiều năm nào Thủ tướng đãi hàn sĩ xứ Nghệ Sơn Tùng là một đĩa rau dền tía luộc đầy có ngọn. Một đĩa cá kho. Đĩa thịt rim mặn. Và một bát nước rau! Còn phần của Thủ tướng là củ khoai luộc chẻ tư cùng với ít cơm nếp.
Sơn Tùng cũng để ý đến cái toa lét xập xệ, đường nước dẫn nhiều đoạn đã gỉ sét trong tư gia Đại tướng...
Tôi nhớ có lúc ông trầm ngâm, người ta hay nói nhiều đến chữ nhẫn, đến phẩm chất nhẫn của Đại tướng. Nhưng vị nhân tướng này điều bất biến là dĩ công vi thượng chứ không hẳn là nhẫn? Một lần trong thời gian làm việc ở nhà riêng Đại tướng, phu nhân đại tướng có kể lại chuyện này. Bữa họp Hội đồng Bộ trưởng quyết định trao việc mới cho Đại tướng là Chủ tịch Ủy ban dân số và sinh đẻ có kế hoạch. Người giúp việc của Đại tướng ý chừng bức xúc về nói lại với phu nhân Đại tướng. Bà Hà cũng mang tâm trạng ấy ngỏ ngay với Đại tướng. Chỉ có hai vợ chồng với nhau, ông ung dung treo mũ áo rửa mặt rồi bình thản cười chuyện chi mà nghiêm trọng thế? Thế tôi với bà ở đâu ra? Các con mình ở đâu ra? Việc sinh việc dưỡng là việc lớn... Việc chi nhỏ mà lợi cho dân đều phải hết sức làm! Đại loại vậy, ông ấy đã nói thế thì còn nói thế nào nữa?
Lại một cái duyên của Sơn Tùng với Võ Đại tướng qua một chuyện.
Có một sĩ quan bộ đội tên lửa những năm miền Bắc tơi bời bom đạn. Người sĩ quan ấy là Nguyễn Ngọc Tân, trung úy kỹ sư trung đoàn 238 Bộ đội Tên lửa. Nhà văn Sơn Tùng biết Nguyễn Ngọc Tân cũng là tình cờ. Năm đó, phóng viên báo Tiền Phong Sơn Tùng tìm gặp những sinh viên tốt nghiệp xuất sắc ở các trường đại học mà bây giờ quen gọi là đỗ thủ khoa... Năm ấy Nguyễn Ngọc Tân là thủ khoa Hóa của Đại học Bách khoa xung phong vào bộ đội. Nguyễn Ngọc Tân lấy vợ nhưng không có tuần trăng mật vì đơn vị anh phải tức tốc lên đường về phía Nam để mật phục B52. Vợ anh là Thúy Lan, giáo viên trường Nguyễn Văn Trỗi lại sang khu sơ tán của trường tận Nam Ninh, Trung Quốc.
Xong trận mật phục ấy, từ chiến trường, Trung úy Nguyễn Ngọc Tân được lệnh trở lại Hà Nội để làm nhiệm vụ huấn luyện tiếp cho một đơn vị khoảng hơn một tuần. Nhớ người vợ mới cưới nhưng chưa bén hơi quen tiếng, Tân đánh liều điện sang Nam Ninh mong em về dù chỉ gặp nhau một phút... Nhớ vợ mà liều điện vậy chứ trung úy Tân không dám hy vọng. Nhưng ba ngày sau thì có một chiếc xe Vonga đen đỗ xịch trước cổng đơn vị Tân đang làm nhiệm vụ huấn luyện. Thì ra khi nhận được điện, cô giáo Thúy Lan bối rối lên gặp Ban giám hiệu. Cô không biết về Hà Nội bằng cách nào để kịp gặp được chồng? Một ông cán bộ tốt bụng mách cho cô giáo Lan cái tin mật là Đại tướng Võ Nguyên Giáp đi công tác đặc biệt sang Trung Quốc ghé Nam Ninh, sắp đến thăm trường và cũng sắp về nước bằng chuyên cơ.
Cô giáo mảnh mai Thúy Lan ấy đã đánh liều gặp... Đại tướng! Thúy Lan nói cháu có chồng mới cưới là kỹ sư của Bộ đội Tên lửa. Hòm thư là... Chồng cháu ra Hà Nội công tác đánh điện cho cháu... Không đợi cô giáo Thúy Lan nói hết, Đại tướng xúc động: “Cháu đi lấy hành lý rồi cùng về với chú...”
Gặp lại Sơn Tùng tại Hà Nội, niềm hạnh phúc vẫn tươi rói trên khuôn mặt dạn dày sương gió của chàng sĩ quan Bộ đội Tên lửa ấy. Anh Sơn Tùng ơi, nhờ Đại tướng mà bọn em đã có một tuần trăng mật tuyệt vời. Chỉ có vị Tổng Tư lệnh của bộ đội Cụ Hồ mới có tâm hồn và tình thương đó!
Chàng sĩ quan Bộ đội Tên lửa người Hà thành ấy đã hy sinh trong một trận đánh B52 ở Vĩnh Linh mùa hè năm 1968.
... Nghe Sơn Tùng kể lại chuyện trên, Đại tướng ngồi lặng. Hồi lâu ông nói rằng không biết được người sĩ quan bộ đội tên lửa ấy đã hy sinh!
Cầu cho nhà văn Sơn Tùng sau lần bạo bệnh mau bình phục. Bởi chẳng thể để dở dang một tiểu sử về Đại tướng Võ Nguyên Giápphải không nhà văn yêu quý? Mong nối tiếp một duyên lành của đời viết!
Xuân Ba
Nhà văn Sơn Tùng
• Tên khai sinh: Bùi Sơn Tùng
• Ngày sinh: Sinh ngày 8 tháng 8 năm 1928
• Quê quán: Làng Hoa Lũy, xã Diễn Kim, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
• Đời hoạt động: Năm 1944 tham gia Việt Minh tại quê nhà – Diễn Châu – Yên Thành – Quỳnh Lưu. Sau 1945 công tác Đoàn Thanh niên, viết báo phục vụ kháng chiến chống Pháp. 1955 là đại biểu thanh niên sinh viên Việt Nam dự Đại hội liên hoan thanh niên, sinh viên thế giới lần thứ V tại Vácsava, Ba Lan. Công tác giáo vụ Đại học Nhân Dân. 1960 làm báo Nông Nghiệp, Tiền Phong. 1965 là phóng viên chiến tranh vùng Thanh – Nghệ Tĩnh – Quảng Bình – Vĩnh Linh và vượt Trường Sơn vào Nam bộ... 1971 bị thương nặng tại miền Đông Nam bộ, thương binh hạng 1/4, năm 1972. Từ bấy đến nay tự khổ luyện để tàn mà không phế và viết. 
• Các tác phẩm chính: Chim én mùa xuân (diễn ca, 1962); Mười hai cô gái nông trường (truyện thơ, 1963); Bà mẹ làng Kim (truyện thơ, 1964); Xuân Lỗ Khê (ký, 1964); Đề tài Bác Hồ: Nhớ nguồn (tập truyện, 1974); Kỷ niệm tháng năm (truyện, 1976); Búp sen xanh(tiểu thuyết, 1982); Bông sen vàng (tiểu thuyết, 1990); Trái tim – quả đất (tiểu thuyết, 1990); Mẹ về (tập truyện, 1990); Hẹn gặp lại Sài Gòn (kịch bản phim, 1990); Từ làng Sen (truyện tranh, 1990); Hoa râm bụt (tập truyện, 1999); Bác về (truyện ký, 1990); Sáng ánh tâm đăng Hồ Chí Minh (2004); Bác ở nơi đây (ký, 2005); Nguyễn Ái Quốc trong ký ức bà mẹ Nga (tập truyện, 2007); Chung một tình thương Bác (tập truyện ngắn, 2008). Đề tài chiến tranh: Bên khung cửa sổ (tập truyện và ký, 1974); Lõm (tiểu thuyết, 1994); Vườn nắng (truyện vừa, 1997). Đề tài nhân vật lịch sử: Con người và con đường (truyện, 1976); Trần Phú (truyện, 1979); Nguyễn Hữu Tiến, người vẽ cờ Tổ quốc (truyện, 1981); Anh họa sĩ mù (truyện, 1981).
• Các giải thưởng: Giải thưởng đặc biệt cho tác phẩm Búp sen xanh.
Mỏng manh chiếc lá bồ đề
Hàng ngày tôi vẫn quen đi bộ thể dục buổi sáng trong khuôn viên của ngôi chùa cổ ngoại ô. Có một sáng cuối xuân trời còn se lạnh, ngôi chùa nằm tĩnh lặng trong sương khói, khẽ khàng những chiếc lá rơi. Lá của cây bồ đề. Tôi chợt se lòng nhớ một câu thơ ngời trong trí nhớ:
Em xa dần như chuông chùa phía trước
Cúi nhặt lá bồ đề anh thả xuống dương gian
Đó là câu thơ của nhà thơ xứ Nghệ, người anh kính mến của tôi: nhà thơ Võ Thanh An. Tôi được hạnh ngộ nhà thơ Võ Thanh An vào những năm 90 của thế kỷ trước, khi ông làm biên tập thơ của tuần báo Văn Nghệ – Hội Nhà văn Việt Nam. Ngày ấy, tôi mới tập làm thơ và được nhà thơ Định Hải đưa đến thăm ông để giới thiệu. Chúng tôi thả bộ từ khu Giảng Võ sang nhà ông ở Đê La Thành vào một tối mùa hè đầy gió. Bác Định Hải tâm sự: “Ông An này hay lắm, trực tính, sống với bạn bè thật lòng, làm biên tập có tâm.”
Hồi ấy, những người viết ở tỉnh lẻ như tôi ra Hà Nội được đến 17 Trần Quốc Toản còn rụt rè, huống chi lại diện kiến một người làm biên tập của báo thì quả là vinh dự lắm. Sắp gặp Võ Thanh An, tôi mừng và hồi hộp, vì nghe nói ông là người kỹ tính trong biên tập. Cái gì có thể xuê xoa nhưng với thơ thì không thể đùa. Nhà ông gần ngôi đình nhỏ. Căn phòng khách hơn mười mét vuông kê bộ tràng kỷ cũ, xung quanh xếp đầy sách, báo, chiếc quạt tai voi loạch xoạch phả gió. Cầm bản thảo của tôi, ông đọc chăm chú, trán nhíu lại, lấm tấm mồ hôi. Ông nói vang vang chẳng câu nệ, như nói với người thân quen: “Biết làm thơ, nhưng câu chữ còn thừa. Bài thơ phải có ý, cảm xúc thật, câu thơ phải nổi hình tượng. Chưa dùng được.”
Tôi hơi buồn. Lần gặp ấy đã gây một ấn tượng mạnh trong tôi về người biên tập thơ của một tuần báo uy tín. Sau này anh em đã thân quen, tôi còn nhiều lần được ông “quát” thẳng vào mặt về một chữ dùng ẩu. Tôi cũng biết nhiều người được ông góp ý thẳng thắn như vậy. Nhà thơ Phùng Ngọc Hùng kể: “Nghe ông An về quê công tác, làm việc với ủy ban, tôi ngập ngừng, mãi mới dám đến gặp, đưa thơ nhờ đọc. Cũng hoảng lắm khi ông nói oang oang về điểm yếu của bài thơ trước mấy ông quan tỉnh, ngượng chín cả mặt. Nhưng cũng từ đó, tôi bắt đầu có ý thức hơn khi cầm bút, để rồi trở thành một nhà thơ sau này.”
Võ Thanh An là người quyết liệt, yêu ghét đúng sai rõ ràng. Chính vì vậy mà có nhiều bạn bè thực sự hết lòng yêu quý, nhưng cũng làm không ít người mếch lòng bởi sự bộc trực của ông. Có lần trong quán bia ở Trần Quốc Toản chúng tôi ngồi nói chuyện văn thơ rôm rả. Có ông bạn ở miền trong nghe Võ Thanh An chê vài câu chữ của thơ mình mà tự ái, đỏ mặt bỏ đi. Sau này cũng không thấy ông bạn kia làm thơ nữa.
Hồi đó tôi hay lân la ngồi ở phòng mấy ông biên tập của báo Văn Nghệ, nghe các vị ấy góp ý cho các bạn viết mà học “lỏm” được nhiều điều. Trong căn phòng nhỏ hẹp của ban thơ, bản thảo gửi về dày cộm, các biên tập viên xoay mình đọc, vất vả mất công như đi cày vậy! Võ Thanh An đọc kỹ, soi từng câu, từng chữ, coi trọng câu từ, hình tượng. Nguyễn Quang Thiều thì thích cách viết mới về cảm xúc, phát hiện, cách tân, suy nghĩ lạ.
Hồi đó các nhà văn, nhà thơ ở báo Văn Nghệ là bà đỡ của nhiều cây bút. Ở ban thơ, ông An, ông Thiều đã giới thiệu nhiều cây bút mới, thành danh sau này như: Hoàng Trần Cương, Trần Anh Thái, Nghiêm Huyền Vũ, Mai Văn Phấn, Mạnh Lê...
Nhà thơ Võ Thanh An có tên khai sinh là Trần Quang Vinh, sinh năm 1942 ở Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An, ông lấy tên quê ghép lại một bút danh. Đấy là vùng đất nghèo nhưng có truyền thống hiếu học và anh hùng. Tôi đã sống ở đấy những ngày là sinh viên trường Vinh đi đắp đê chống lũ sông Lam. Làng quê dọc sông nghèo, mái tranh thấp, cây tre, cây mít, cây chè đầy vườn. Cơm ăn có nhút và cà. Cứ đọc thơ ông An là thấy:
Ngôi nhà mẹ con ta chơ vơ bên bến nước
Ngôi nhà ấy nhìn sang hòn rú Nguộc
Vẫn đứng mong lấp ló sau hàng tre.
Tôi yêu mến con người xứ Nghệ biết tự vượt làm chủ cuộc đời mình. Rú Hồng đó, sông Lam đây, câu hò ví dặm níu đọng lòng người đã nuôi dưỡng bao danh tài. Lứa bạn bè thuở ông như Hồ Phi Phục, Nguyễn Trọng Tạo, Thạch Quỳ, Vương Trọng... cùng lớn lên từ nguồn mạch đó. Những năm 1970, Võ Thanh An công tác ở ban Tuyên truyền thi đua ở Bộ Điện – Than, lăn lộn cùng công nhân. Năm 1971, học lớp bồi dưỡng viết văn trẻ. Năm 1977, ông về làm biên tập thơ rồi trưởng ban thơ của báo Văn Nghệ cho đến ngày về hưu.
Trong dòng chảy thơ Võ Thanh An, ta dễ nhận thấy hai thời kỳ rõ rệt. Thời kỳ đầu như các nhà thơ, ông ca ngợi đất nước, quê hương, người chiến sĩ, người lao động. Những năm cuối thập kỷ 80 thế kỷ trước, đất nước có những đòi hỏi đổi mới về kinh tế, xã hội, thơ Võ Thanh An khởi sắc diện mạo mới. Đây là giai đoạn chính của thơ ông. Từ thơ tự sự ông đến với thơ thế sự, nhập thế vào đạo làm người. Ông đằm thắm hơn trong suy nghĩ và cảm xúc. Khởi đầu là Thằng Bờm và Gửi sao Thần Nông được bạn đọc đón nhận. Thơ được truyền tay trong nhân dân, trình đọc ở Hội trường, báo hiệu một bứt phá mới về đề tài thơ. Thơ viết về thân phận con người. Ông lắng nghe nhân dân:
Bờm rằng Bờm đã ngán rồi
Những câu ngon ngọt loại người phú ông
Nói như trao núi cho sông
Mà mảnh mo quạt thì ông cứ giành.
Nhân dân hỏi ông:
Mặt bán đất, lưng bán trời
Hai sương một nắng là đời nhà nông
Sang hèn hạt gạo ăn cùng
Người trồng lúa chịu đói lòng được sao?
Những câu thơ còn mang tính thời sự đến bây giờ. Đến Lá bồ đề thơ ông trữ tình trong thế sự. Ngay thơ tình của ông cũng thế sự, nhân bản. Ông đã đến với thơ Thiền, đến với bản ngã của tâm hồn người. Mấy chục năm rồi, ông hướng về đạo Phật, tìm trong kinh sách những điều răn dạy về sống chết, tồn vong của cõi người. Ngày rằm, mồng một, ông ăn chay, đi chùa, bạn với sư tăng để lắng đọng tâm hồn. Thơ ông đã nói được những điều con người cần lý giải trong cõi tham, sân, si đó. Ông chiêm nghiệm:
Ngửa bàn tay lên
Lật bàn tay lại
Mặt trắng, mặt đen hai phía cũng tay mình.
Ông thấm thía:
Dạ thưa thầy, con tin sự nhịn là cứu cánh
Bao giờ cuộc đời lành hơn.
Ông răn mình:
Sự đời lắm rối bời
Kiếp người thì ngắn quá!
Cái thiện và cái ác, cái đẹp và cái xấu đều có trong mỗi chúng ta. Ta phải làm chủ thể cho thiện thắng ác, đẹp lấn xấu. Đó là sự phấn đấu của mỗi cá nhân. Sự sống là tốt lành. Lòng nhân hậu là cội nguồn. Thiên nhiên tồn tại, vận động luân hồi theo lẽ tự nhiên, ông thanh thản chấp nhận nó:
Như đất trời chẳng nói gì
Bốn mùa cây lá đến thì phải hoa
Câu thơ đẹp như thơ thiền. Sinh và tử, được và mất, ham hố đua tranh làm gì cho mệt kiếp người.
Ông là người sống hiếu nghĩa. Ông coi trọng chữ tín với bạn bè. Nhà thơ Đoàn Xuân Hòa kể chuyện ông hơn bốn mươi năm tìm lại người bạn sẻ chia tấm áo ấm cho ông thời đi học. Rồi ông tìm được mời bạn ra Hà Nội chơi, hai bạn già ôm nhau khóc. Ân nghĩa trả đền như chuyện cổ dân gian vậy. Do đó, ông có nhiều thơ viết về mẹ, về bạn đằm thắm, ơn nghĩa. Thơ viết về mẹ ở ta có nhiều, nhưng tôi quý trọng hai bài thơ vào loại hay, đó là Bờ sông vẫn gió của nhà thơ Trúc Thông và Vắng mẹ sợ chính nhà mình của ông An. Bài thơ ứa ra từ trái tim đau đáu nỗi đau khi mẹ không còn nữa.
... Đã bao đêm con nằm trằn trọc
Muốn về quê nhưng sợ gặp nhà mình
Không phải sợ gặp nhà mình đâu! Mà sợ gặp kỷ niệm về mẹ, về cội gốc đời mình. Bài thơ đọc rớt nước mắt nhưng trong trẻo cõi tâm cho người ta lớn dậy.
Thơ Võ Thanh An chặt chẽ câu tứ, đẹp câu chữ, chọn lọc hình tượng. Mỗi bài thơ, câu thơ, chữ thơ của ông đều găm vào trí nhớ bạn đọc. Chữ ông dùng đắt lắm, nó chính là hồn cốt thơ ông. Ông nhìn chóp đầu hương cháy trong đền thờ Mị Châu:
Như máu yêu kêu oan
Đầu mũi tên nức nở.
Ông ở giữa không gian để soi vào lòng mình:
Bốn bề thin thít lặng thinh
Buồn vui thế thái nhân tình đều suông.
Chữ “thin thít” sống động có hồn. Ông đón gió trước cửa thiền để trong lắng tâm mình và chỉ ông có hình tượng hoa đẹp, ấm cúng này:
Gió
tàn rồi
chùm hoa xòe hình bếp lửa
Khi ông viết:
Xanh đó và vàng đó
Đất se mặt lặng im.
Một từ “se mặt” ông đã thổi hồn vào mặt đất vô tri thành Mẹ đất bao dung, nhân hậu. Câu thơ lưu mãi ở người đọc.
Bây giờ nhà thơ Võ Thanh An đã ở tuổi bảy mươi, ông dành hết thời gian đọc kinh sách nhà Phật. Ông là người ít xê dịch, không đi xe máy, không dùng điện thoại di động. Đi đâu ông cũng đi xe ôm. Vì vậy mới có chuyện người xe ôm trở thành bạn thân của ông trong bao năm qua. Buổi sáng nào ông cũng thắp nén hương trên bàn thờ tổ tiên để tĩnh tâm răn mình không làm điều ác, tích việc thiện. Con cháu thành đạt, khỏe mạnh là niềm yên lành của ông giữa gia đình, bè bạn, xóm phố. Có một điều ấm lòng bạn bè vẫn thăm chơi, tặng sách, nhờ ông góp ý cho bài thơ mới. Tôi nhớ hàng năm trước cữ Tết âm lịch, nhà ông có giỗ, bạn bè quây tụ ấm cúng. Họ đọc thơ, nhắc về quê hương, bàn cả chuyện thời cuộc. Giờ ông chỉ ngồi nghe nhiều hơn. Nhân quả là vậy, ở hiền gặp lành, phải không ông anh của tôi!
Sau rằm tháng giêng năm Nhâm Thìn, tôi đến thăm ông. Ông đốt một lát trầm thơm, châm một ly trà nóng. Gặp tôi ông vui lắm và lại nói to oang oang như hồi còn trẻ vậy. Ông ít bình luận về sự đổi mới của thơ, các trào lưu của văn chương. Ông chỉ dặn tôi: “Thơ là tâm, không đùa cợt với tâm được.”
Nguyễn Ngọc Quế
Nhà thơ Võ Thanh An
• Tên khai sinh: Trần Quang Vinh
• Sinh năm 1942
• Quê quán: Xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, Nghệ An
• Từng công tác tại Bộ Điện Than, Tuần báo Văn Nghệ
• Tác phẩm đã xuất bản: Hoa trăm miền (thơ in chung), Thỏ bay vào hội (thơ thiếu nhi, viết chung với Phạm Tiến Duật, 1978), Thác điện (thơ, 1982), Những con chim báo mùa (thơ, 1990), Hành trình lên cạn lên cao (truyện thiếu nhi, 1996), Lá bồ đề (thơ, 1999).
Mười năm xa, nhớ bạn!
Mùa hè 2002, thời gian cuối cùng tôi bên Bế Kiến Quốc. Không phải ở tòa soạn Văn Nghệ, cũng không phải những đêm trắng rong chơi đường phố Tết cùng Thành Chương. Gần một tháng, đó là những ngày cuối cùng bên Quốc ở bệnh viện Việt Xô.
Anh bị ung thư phổi, bệnh đã nhiễm vào gan. Nhưng Bế Kiến Quốc không biết điều đó, chỉ biết bị đau phổi. Thi thoảng vắng Mai, thèm thuốc quá, anh xin tôi một hơi thuốc và cười: Bác sĩ đồng ý, khi nào thèm quá, có thể hút một điếu.
Tôi quen rồi thân với Bế Kiến Quốc từ 1984. Bấy giờ anh trực văn xuôi dưới quyền anh Ngô Ngọc Bội. Tôi viết truyện ngắn đầu tay, muốn thử sức mình, liền đe tới báo Văn Nghệ. Vài ngày sau, tôi nhận được cú điện thoại, mời tới tòa soạn. Quốc đón tôi ở phòng khách, với cái bắt tay chặt, bàn tay dâm dấp mồ hôi, đôi mắt ân cần và cười rất tươi. Chúng tôi chuyện gần hai tiếng. Anh nhận xét truyện ngắn và hỏi tôi kỹ về giai đoạn tham gia cuộc chiến, ở hiện tại, cả việc vì sao tôi viết. Sự cởi mở ban đầu làm tôi rất vui. Hai tuần sau, thật bất ngờ, anh hẹn: “Tối thứ năm, tới nhà in Nhân Dân xem cái truyện của ông ra đời thế nào.” Quốc đưa tôi vào phòng có tiếng máy ầm ầm, có băng chuyền lướt nhanh, ùn ùn trang báo chạy. Một công nhân tay lấm lem đen sì, đưa tôi trang báo còn thơm mực. Tôi đón lấy, nhìn truyện ngắn đầu tay và bật khóc! Quốc đứng bên cạnh, cười tươi, như chính anh hạnh phúc. Anh đặt bàn tay lên vai tôi, tay kia nắm lấy một bàn tay tôi lắc lắc.
Một con người nổi tiếng từ khi còn là sinh viên với bài thơ Những dòng sông, lại cả đời làm báo, quan tâm tới bạn mới viết, từ chi tiết tâm lý tinh tế vậy và vài điều tương tự sau này khích lệ tôi rất nhiều. Quan trọng hơn, Quốc luôn đòi hỏi bạn mình lao động nghệ thuật phải hết sức nghiêm túc, tìm tới cái đích cao hơn cái đã có. Ngày tôi viết Muối mặn, sau chuyến đi đồng muối với anh và các nhà báo như Nguyễn Hoàng Sơn, Xuân Ba, Hoàng Linh và Bùi Đức Khiêm. Đọc xong bản thảo, anh đập xuống bàn và nói: Nhà văn phải dựng lại hiện thực, cố gắng giản dị sự kiện và nhân vật. Truyện này ông viết giả! Tôi ức lắm, về nhà đọc lại và tìm ra tại sao Quốc lại chê là giả. Tin bạn, tôi mạnh dạn hủy bản thảo ấy, đánh vật một tháng sống với niềm đau xót của diêm dân, cấu trúc lại và Muối mặn được chọn in đúng Đại hội Đảng. Muối mặncó tiếng vang thời ấy, không chỉ bởi tính thân phận, mà nó còn đả phá căn bệnh thành tích trong công tác Đảng. Lưu Quang Vũ chuyển thành kịch chèo Muối mặn đời em, giật giải Nhất liên hoan sân khấu năm ấy. Sau chuyện này, một tối bên nhau, Quốc nói: Kinh thánh viết, chúng ta là muối của đất. Thọ có mối đồng cảm sâu sắc với người lao khổ. Ông cũng là muối của đất. Mình gọi ông là Thọ Muối, để phân biệt với ba nhà văn khác cũng tên là Thọ. Từ đó tôi có biệt danh trong làng văn là Thọ Muối.
Tôi vẫn giữ trong lòng sự biết ơn anh và nhà văn Ngô Ngọc Bội, ở năm tháng đầu chập chững ấy đã bồi dưỡng những kiến thức cơ bản của nghề viết nhọc nhằn và tinh tế. Anh ứng xử trường hợp tôi cũng y như anh ứng xử với Nguyễn Huy Thiệp, Phùng Gia Lộc, Nguyễn Việt Chiến v.v..., hay với cả bạn thân Thành Chương, hoặc thế hệ trẻ sau này như Di Li. Với Nguyễn Huy Thiệp, anh là người đầu tiên phát hiện ra tố chất đặc biệt ở văn tài này. Năm 1985, tôi đã in ba truyện ngắn, Quốc gọi, muốn tôi quen với anh Thiệp. Tôi đến. Quốc chỉ một người, tới xin tài liệu về làm sách cho Bộ Giáo dục, đi dép nhựa, ăn mặc tuềnh toàng, gầy gò, đen đủi, “mắt hổ” to, cái nhìn thẳng, trân trọng nói: hai ông quen nhau đi. Đây là Nguyễn Huy Thiệp. Trước đổi mới, Thiệp in truyện đầu tay Vết trượt không có tiếng vang lắm, tiếp sau đổi mới anh đi Những ngọn gió Hua Táp, đặc biệt đến Tướng về hưu thì trở thành hiện tượng chấn động văn đàn. Ngay từ tết ấy, Quốc đã nói với tôi: Thiệp là một văn tài! Cái nhìn đó trước cả sự giật mình của Nguyễn Khải phát biểu sau khi đọc Tướng về hưu. Bởi khi đó trong tay Quốc đã có Tướng về hưu, Chảy đi sông ơi và dăm truyện ngắn mà Nguyễn Huy Thiệp đã viết trước đó khá lâu. Thực chất, Quốc chỉ là cán bộ trực văn xuôi dưới quyền Ngô Ngọc Bội, song tất cả các truyện của Nguyễn Huy Thiệp thời ấy in ở Văn Nghệ đều do tay Bế Kiến Quốc trực tiếp biên tập rồi thông qua Ngô Ngọc Bội. Khi biên tập Tướng về hưu, Quốc đã cắt đi một câu, đoạn mô phỏng rất cận cảnh vài bộ phận của hài nhi trong chậu cám cho lợn. Điều này khiến Nguyễn Huy Thiệp giận Quốc, tận tới năm 1996, khi tôi ở Đức về, Thiệp mới nói ra với tôi. Tôi bảo Thiệp, hai ông giận nhau làm tôi rất buồn. Song Thiệp không biết rằng, kể cả khi anh giận, Bế Kiến Quốc vẫn bảo vệ anh, phát biểu thẳng với Chủ tịch Hội: Chúng ta còn nợ Nguyễn Huy Thiệp một giải thưởng – Khi năm ấy Hội Nhà văn không trao giải thưởng hàng năm cho tập truyện ngắn đầu tiên của Nguyễn Huy Thiệp.
Những ứng xử như thế, không chỉ rọi chiếu quá khứ, hàn gắn những hiểu lầm ở các nhà văn, mà nó còn có tác động tới sự sáng tạo của bạn nghệ thuật. Quốc chơi với Thành Chương rất thân. Thân tới độ Chương khi không tán thành Quốc điều gì, sẵn sàng mắng bạn rất gay gắt mà không lo Quốc giận. Nhưng sự đồng cảm về quan niệm thẩm mỹ ở Quốc với Chương cũng tạo nên những cú hích rất mạnh ở sự nghiệp sáng tạo hội họa của họa sĩ Thành Chương. Điều đó cũng diễn ra với thi sĩ Nguyễn Việt Chiến. Quốc luôn là người chia sẻ gần nhất với Chiến, ở một giai đoạn thơ, tạo cho Chiến các cú hích ngôn ngữ trong con người Tâm hồn thi sĩ thường trực Nguyễn Việt Chiến (chữ Thành Chương).
Đấy là con người Bế Kiến Quốc. Với văn chương phải công bằng, sòng phẳng và cũng ngang như một tình yêu! Tôi nhớ Tết cuối cùng với anh, khi bàn về phê bình, tôi nói, người làm phê bình khi rọi chiếu một tác phẩm nào đó, không chỉ là cái hay dở của tác phẩm ấy, mà phải đưa ra một khuynh hướng nghệ thuật mang chính Cái Tôi của tác giả. Đỗ Bạch Mai phản ứng tôi gay gắt. Tôi cứ đinh ninh Quốc về phía Mai, song sự thật trái lại, không nệ Mai là vợ, Quốc đã ủng hộ ý kiến tôi trong buổi tranh luận ấy.
Nói về đặc tính này, tôi phải nhắc lại việc in truyện ngắn Vườn Maria của tôi năm 1996. Số Tết năm ấy Quốc làm thư ký đã gần hoàn tất. Vườn Maria đưa muộn nên anh chưa kịp đọc. Truyện để trên bàn Quốc ở cái phòng nhỏ xíu. Bạn thân anh, nhà thơ Ngô Thế Oanh cầm lên đọc khen hay. Quốc đọc kế ngay và vui lắm. Quyết định đi số Tết. Song lẽ Vườn Maria khá dài, hơn 4500 từ, báo lại chật đất rồi. Tiếc cái truyện hay của bạn, anh bảo tự tay tôi phải cắt đi 500 từ. Tôi không chịu. Thời gian lại cận, anh cáu bảo: Ông đừng nghĩ một truyện in ở báo Tết làm nên một thương hiệu. Tôi nóng tính, cho là Quốc xúc phạm, bèn to tiếng: Tôi đ. chơi với ông nữa! Thành Chương lập tức dẫn tôi về nhà anh cho tôi hạ hỏa. Khi ấy đã 1 giờ đêm, Chương khuyên: “Ông nên quay lại báo. Quốc nó yêu ông đấy. Ông giận, nói vậy, nó buồn lắm. Không bỏ nhau được đâu!” Tôi quay lại báo. Trong cái phòng nhỏ, Quốc ngồi chìm lặng trong mù mịt khói thuốc, khuôn mặt buồn rười rượi. Cái gạt tàn ú hụ tàn thuốc. Tôi ân hận quá! Nhao lại bạn và chúng tôi ôm siết chặt nhau, đi qua nỗi sợ, chút xíu mất đi một người bạn tốt đều vì công việc chung cho tờ báo mà cả ba chúng tôi yêu mến. Ngoài cửa sổ đêm đông áp Tết năm ấy, Hà Nội cứ mưa lụt xụt và Chương tủm tỉm cười...
Quốc cũng không bảo thủ, không tự huyễn hoặc cái danh hão của một thi sĩ có giải thưởng từ rất sớm hay người có trọng trách ở tờ báo văn lớn nhất nước. Chơi với Thành Chương, Chiến và tôi, Bế Kiến Quốc rất chịu khó lắng nghe khi tụi tôi bàn về những bài thơ anh vừa viết. Đặc biệt anh quý tài Thành Chương nhặt sạn rất tinh và sửa chữa ngay khi bạn nhặt sạn trúng. Một lần đi Hòa Bình về, anh khoe viết bài tùy bút về Thủy điện Hòa Bình. Tôi đề nghị cho tôi biên tập lại. Anh đồng ý. Tôi không sửa một từ nào, vì ngôn ngữ ở bài ấy kỹ, chỉ thay đổi cách chấm phẩy, cố ý tạo ra tốc độ khác nhau ở từng đoạn, đòi hỏi cách chạy câu khác nhau, nhằm tạo ra không khí sôi động cần thiết từng cảnh chuyện. Quốc xem, đồng ý ngay. Anh không hề tự ái, lấy nê với bạn, dù khi đó Quốc đã ngồi ghế biên tập văn xuôi cả chục năm.
Quốc chính là người đôn đáo nhất khi tôi sau mười năm bỏ bút, quay lại với văn chương. Anh chọn từng bài thơ, biên tập in ba tập thơ. Anh thẩm kỹ từng truyện ngắn mới nhất. Ngày anh nằm trên giường bệnh, mệt mỏi thở, vẫn đọc hết chùm bảy truyện ngắn tôi dự thi bên Văn Nghệ Quân Đội và dặn: Lần này Thọ nhất định có giải cao! Ông đã chuyển động sau thời gian nghỉ dài. Ông đang sung lực, phải viết nữa! Nhưng nhớ, nhận giải bên quân đội xong, phải tránh xa các nhà báo, thì ông sẽ viết ào ạt và hay nữa. Sau này, anh Đỗ Chu cũng ân tình dặn như vậy, khi tôi đoạt giải Nhì tiểu thuyết Quyên. Đấy là cách các nhà văn đừng mân mêthành tích để viết nữa! Từ viện Việt – Xô ra thẳng sân bay đi Đức, tôi ôm Quốc. Nước mắt ứa ra! Đấy là vòng ôm lần cuối cùng của hai đứa.
Không phải chỉ có tôi được ứng xử như vậy. Với bạn văn như Đặng Ái, sau khi tốt nghiệp Nguyễn Du, chưa xin được việc để kiếm sống, Quốc đôn đáo khắp nơi, tìm cho Ái một ghế ở báo Nội Thương, để sinh nhai. Trường hợp nhà văn Phùng Gia Lộc đặc biệt hơn. Biên tập và đi trên Văn Nghệ bút ký: Cái đêm hôm ấy đêm gì, chấn động lương tâm xã hội, Bế Kiến Quốc còn hết lòng cưu mang Lộc sau đó. Nhà cửa chật, hơn chục mét vuông với bốn mạng người. Tài chính eo hẹp, Mai sinh cháu thứ hai, vợ chồng anh vẫn đỡ bữa Phùng Gia Lộc, lại vận động chúng tôi ủng hộ Lộc qua hạn họa bấy giờ. Kể cả 1992, khi anh Lộc qua đời, gia cảnh khó khăn, Quốc lại là trung tâm lá lành đùm lá rách.
Những ân tình của con người Bế Kiến Quốc được anh lý giải giản đơn: “Thọ ạ, văn chương là con đường khổ nhọc. Mình xưa được các anh như Xuân Diệu, Huy Cận giúp đỡ rất nhiều. Nên mình cũng phải quan tâm tới các bạn viết!”
Con người Bế Kiến Quốc ở sinh hoạt đôi khi tuềnh toàng, có thể do hệ lụy của cả quá trình khó khăn bao cấp, mọi thứ tạm bợ. Song với nghệ thuật ngôn ngữ thì Quốc rất khó tính, riết róng. Có thể chính vì thế mà ở thơ Quốc, nhất là ở tập thơ Cuối rễ đầu cành, không chỉ có sự tài hoa ở chữ nghĩa, giỏi giang nắm vững mẹo luật, ăm ắp tính nhạc điệu, mà còn có cái sâu thẳm về văn hóa ở thi pháp, ít ai yêu nghề, say nghề, nghiêm túc với nghề có được.
Bế Kiến Quốc là con người trong sáng, sống rất có lý tưởng, mặc dù qua nhiều phong ba, anh vẫn luôn hy vọng về cái thiện, về cái tử tế của cuộc đời. Sự công bằng thẳng thắn của anh không từ ai cả, kể cả với lãnh đạo, với bạn thân. Có phải chăng vì thế với ba bốn đời Tổng biên tập báo Văn Nghệ, anh luôn được chọn là người của công việc, song không ai cất nhắc một vị trí xứng với khả năng của anh!? Hai mươi năm làm công tác ở báo Văn Nghệ, rồi sang làm Tổng biên tập Người Hà Nội, anh để lại biết bao ân tình cho bạn văn. Tôi xin mượn lời thi sĩ Hữu Thỉnh, một thời trực tiếp là thủ trưởng của anh: Bế Kiến Quốc là một con người trung thực, nhất quán, đòi hỏi rất cao ở mình và bạn bè, đồng nghiệp (trích Nguyễn Việt Chiến).
Mười năm tôi bên Đức, xa anh, cộng với mười năm Quốc đã đi xa... mà tôi chưa khi nào quên người bạn văn luôn hướng cả đời, lẫn thơ về những vùng sáng của cuộc đời.
Thi thoảng lên thăm mộ cha tôi ở Thanh Tước, tôi vẫn ghé bên anh và đốt một điếu thuốc đặt bên di ảnh người bạn thi sĩ có lọn tóc trắng xóa như những vần thơ bay theo tôi suốt cả những tháng năm ly hương, như mây trắng ở thi đàn Việt Nam, bắt đầu: Từ nguồn nào, sông cũng nặng phù sa.
Nguyễn Văn Thọ
Nhà văn Bế Kiến Quốc
• Tên khai sinh: Bế Kiến Quốc
• Ngày sinh 19-5-1949 (ngày mất: 25-6-2002)
• Quê quán: Hà Nội
• Đời hoạt động: Tốt nghiệp đại học về làm cán bộ văn hóa – thông tin tại tỉnh Hà Tây (cũ); biên tập viên Tuần báo Văn Nghệ; học khóa bồi dưỡng tại Học viện Văn học M.Gorki (Liên Xô cũ); trưởng ban Ban Thơ, báo Văn Nghệ; Tổng biên tập báo Người Hà Nội.
• Các tác phẩm chính: Những dòng sông (1979, thơ, in chung); Chú ngựa mã sao (1971, truyện thơ thiếu nhi); Dòng suối thần kỳ(1984, truyện thơ thiếu nhi); Cuối rễ đầu cành (1994, thơ); Mãi mãi ngày đầu tiên (2002, thơ); Đất hứa (2003, thơ).
• Các giải thưởng: giải nhì cuộc thi thơ Tuần báo Văn Nghệ năm 1969; giải thưởng cuộc thi sáng tác cho thiếu nhi năm 1979 và năm 1985; giải thưởng cuộc thi viết về tài trí Việt Nam của tạp chí Thế giới mới, 1995-1996; giải thưởng các cuộc thi ký của báo Sài Gòn Giải phóng, năm 1985, của Đài Tiếng nói Việt Nam, năm 1986; Giải A giải thưởng ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật, năm 2002.
Lão Mai - Quế hương - Đời...
Tôi lần đầu làm quen với văn Đỗ Chu vào một đêm trong hang lưng chừng núi đại ngàn Trường Sơn. Giữa hai trận đánh, buộc phải hành quân. Khi ấy Hương cỏ mật cho tôi một cảm giác dịu dàng. Trận mạc khốn nạn, đầy hiểm nguy rình mò, lắm khó khăn mà dễ nản lòng. Hương cỏ mật, không có đùng đoàng, chẳng có kêu gọi nhập ngũ..., làm đêm chiến trận vốn căng như viên đạn vừa vút khỏi đầu súng, thoắt nhiên chùng xuống...
Hồi những năm tám mươi, loáng thoáng thấy ông ở báo Văn Nghệ, không dịp quen. Mãi tới 1996, tôi mới có dịp làm quen. Trưa, tôi mời Đỗ Chu dùng bữa. Bấy giờ, tôi còn làm ăn bên Đức, khá xông xênh, định ăn ở nơi thật sang. Đỗ Chu gạt phắt: Thôi, vào quán nhỏ nào đó! Một quán ăn bình dân ở phố Huế. Ông gọi một đĩa cơm với miếng thịt gà và ít dưa chua. Lại vài lần nữa, gặp ông với nhà thơ Hữu Việt ở quán nước kề cửa báo Tiền Phong. Quán ấy, Hữu Việt và tôi ngồi nhẵn ghế mà nào biết nhà quán đang có chuyện. Thế mà Đỗ Chu tường tận, thẽ thọt với chị, như lo việc nhà. Cái vẻ dung dị của ông, dẫu y phục tây hay ta đều chỉn chu, đồng điệu, bộ râu đến cái cặp kính nhìn hiền, hóm, là vẻ ngoài để chị hàng nước tin cậy chăng? Hay Đỗ Chu ăn nói ngoài đời có duyên? Như khi bên bè bạn văn, nhiều kẻ bị cuốn với các câu chuyện bông lơn, miên man với trí nhớ trác tuyệt, chân, giả chả khó lần. Còn nơi đây, không còn cái đùa cợt hằng ngày. Phải chăng, Đỗ Chu thấm hiểu cái cuộc sống trăm mối tơ vò, phức tạp thành thị, biến sơ thành thân, cứ hồn nhiên vào cuộc, là con người thật của Chu.
Lần nữa. Có nhà văn Nguyễn Bản, nhà thơ Nguyễn Phan Hách và tôi trên nhà xuất bản Hội Nhà văn. Đỗ Chu bàn sự viết, có chọc đùa tôi một câu, ra dáng đàn anh. Nguyễn Bản không biết anh Chu quý mến tôi, bèn mắng Chu ngay. Đỗ Chu im. Nhũn như con chi chi. Sau tôi hỏi, sao hôm ấy ngoan thế? Thường nhật, anh hoạt ngôn lắm cơ mà? Đáp: Nguyễn Bản là bậc thầy.
Tôi có ngôi nhà ở Ngọc Hà gần nhà Nguyễn Bản, thi thoảng có dùng bữa cùng. Một lần, tôi hỏi: “Anh dạy Đỗ Chu à?” Đáp: “Không! Tớ dạy ông anh Đỗ Chu. Cũng có học trò sau dạy Đỗ Chu.” À ra thế!
Đỗ Chu xuất thân từ dòng họ Chu có học ở vùng Kinh Bắc. “Từ năm bảy tuổi, các cụ trong vùng đã dạy tôi Hán Nôm. Bắt đầu phải Tam tự kinh rồi lầu lầu Tứ thư, Ngũ Kinh” – Chu từng kể. Mười tám tuổi vào quân ngũ, đã ít nhiều thông tỏ dăm bộ sách; những Lão, những Khổng, rồi các bậc thánh hiền của xứ Việt. “Đủ ít vốn còm để khai phá cái cơ bản văn hóa, triết học Á Châu.” Vào Ngọc Sơn, ông thau tháu dịch hai vế đối của thần Siêu, về sự ứng xử ở đời, sau lối cổng vào, để dặn lại cả Hữu Việt và tôi.
À ra thế! Cái căn cơ của người, thường nhật hay bông lơn, thi thoảng tức thời tế nhị xa gần, cười nhẹ ai khọng khạnh; cứ đùa đùa mà vỗ vai phê bình cả Chủ tịch tỉnh, lẫn cả sắc chức cao hơn hàng tỉnh. Nhưng với Nguyễn Bản, một nhà văn ẩn dật ở Ngọc Hà, không có chức sắc chi, Đỗ Chu vẫn nhớ chữ “Lễ”, nhớ là thầy của bậc thầy mình thuở xưa mà nhường bước, mà cung kính.
Chuyện thứ ba. Năm ngoái, tôi được ông mời tới nhà riêng dùng cơm tối. Tôi dẫn theo một người bạn ở Đức về, vốn mến mộ văn Chu. Tới, thấy ông xắn áo, tay dao, tay thớt. Ngạc nhiên lắm! Tôi cũng biết vợ ông vừa qua hai lần trọng bệnh. Chu đôn đáo khắp nơi, sang cả Tàu mời thầy thuốc, cứu vợ qua hai cơn tai biến. Từ đó, ông chẳng để vợ làm việc nặng, cả việc nấu ăn cần kỹ lưỡng. Đỗ Chu thoăn thoắt nhặt rau, thái thịt, sắp mâm, vợ chỉ phụ, nhoang nhoáng, xong các món đãi hai đứa em ở xa về. Cơm sắp ra mâm, Đỗ Chu còn mải mê văn chương với bạn tôi. Chợt sau lưng có tiếng ai, rất thiết tha: “Chu ơi, cơm dọn rồi, ra ăn đi!” Cứ ngỡ là ai mới về. Giọng trẻ thế! Quay lại, vẫn chỉ vợ Chu. Quan sát thấy, Đỗ Chu đối xử với vợ như với em gái yếu ớt đang dưỡng sức. Khi ăn, tình già chăm nhau từ gắp cá, ngọn rau. Tôi cũng hiểu, ông thương vợ, không muốn vợ buồn. Có đồng nào, vợ biết là đưa hết, đưa sạch cho một người luôn ám ảnh sự sợ hãi neo túng khi bệnh tật. Sự vậy, nên dù viết nhiều, nhuận bút báo dành tác giả danh nổi như Chu, chả eo hẹp gì, mà túi ông luôn rỗng rễnh. Thế mà lần sang Czeck, có người yêu văn ông, biếu ông vài trăm đô la, ông đưa cho một người Việt xa xứ cùng ngồi đấy, thản nhiên bảo: “Cho tay này thì đúng hơn. Nó viết thơ, yêu văn, lại nghèo hơn tớ.” Ấy là kẻ biết giữ cái ấm áp của lửa vùi trong tro trấu ngàn đời, nết ăn thói ở gia đình Việt, từ trong nhà đi ra ngoài đường. Tối. Ra về, vợ Chu cho hai đứa em bọc trám đen sơ chế. Ông bảo, làng tớ giờ chỉ còn nhà Chu có hơn hai chục gốc trám đen cổ thụ. Ngót nghét hai, ba trăm năm. Cả vùng Kinh Bắc, phá hết, chặt trụi loài trám đen rồi.
Về Đỗ Chu đã có vài người viết, tả cái chân quê, bỗ bã. Ai nói ông dại, chỉ nói ông khôn. Khôn thì rõ rồi, nhưng không khôn lỏi, khôn ranh. Tôi chụp những bức ảnh ông hút thuốc lào, chén trà bên hè; không chụp được lời xởi lởi của mấy bà chị đường phố Hà Nội quanh quanh Hội, nhận ra nhà văn, đon đả mang ghế mời ngồi, thăm hỏi Chu như một người thân. Không chụp được lời tâm tình của một trí thức gốc Hà Nội, ngồi bệt xuống cùng, phút bất chợt bên hè Hà Nội sớm Thu. Còn nhận ra Đỗ Chu ngậm xì gà Bolivar, phì phào bàn về văn hóa Tây Âu. Hay khi ông ngậm tẩu nhồi thuốc sợi Tobacco, nheo mắt nói về bề dày của văn hóa vùng Kinh Bắc, hoặc về cái lớn, cái hay, rực rỡ của nền văn hóa Hoa Hạ, cả cái dã man trong thói xưa, mưu nay ở Tàu... Những khi ấy, tôi ước có phép lạ, bưng anh Chu tới giữa Paris, đàng hoàng mồi xì gà Bolivar, uống cà phê bên bờ sông Seine, nói chuyện với mấy trí thức gộc người Việt ở Pháp.
Đấy là dăm cái võ vẽ, bóc tách ra, nhận biết đế cốt cho Con người văn Đỗ Chu?
Xuân tới, nhà văn Đỗ Chu vừa tròn bảy mươi. Cuộc đời làm văn chương của ông thế là tới năm mươi hai năm. Tính từ khi còn là cậu học sinh mười tám tuổi, trình làng đoản văn Ao làng, trên Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Năm kia, Đỗ Chu cho xuất bản Tổng thành truyện ngắn, hai tập, dày cả hơn ngàn trang, bao gồm 35 truyện ngắn. Cuối 2011, ông lại vừa ra mắt Tổng thành tùy bút bút ký và tản văn. Hai tập: Tản mạn trước đèn và Thăm thẳm bóng người, 800 trang. Sắp tới ông sẽ cho ra mắt nốt cuốn Đường xa. Đường xa là bao thân phận người Việt tỏa ra khắp thế giới. Những loài chim ngụp trôi trên sóng nước, dòng đời. Những câu chuyện tưởng như hoang đường mà có thật. Thế là đóng lại toàn bộ văn xuôi của Đỗ Chu! Có thể nhìn, suốt chiều dài văn chương Đỗ Chu bằng chính cái tên của hai tập tổng thành truyện ngắn. Đấy là đường văn khởi đã như chàng trai sức vóc gió mưa Mùa hạ, sau năm mươi năm trở thành Lão Mai, lừng lững trên văn đàn. Văn chương Việt Nam không thể thiếu ông, nhất là khi nói một nền văn học hiện đại, đồng hành với từng bước đi của nhân dân. Nói như thế không có nghĩa văn Đỗ Chu phỏng hiện thực, mà là văn ông không tách rời đời sống dân tộc, có trách nhiệm với các cuộc xoay đổi lịch sử cách mạng. Lại một cách chả giống ai, có sắc diện đặc biệt.
Trước hết, nói về mảng truyện ngắn. Nhân vật của ông đa phần xoay quanh người lính và con người sống ở nông thôn, gốc gác nông dân. Nhưng đọc cho kỹ, thì mới nhận ra, ông viết về nông thôn mà không bàn chuyện cày cuốc, lúa giống phân gio, việc ra hay vào hợp tác, lợi hại thế nào. Viết về người lính, ông tránh tiếng ùng oàng bom đạn. Ngay từ truyện đầu tiên Hương cỏ mật, áng văn đậm hương của những người tha thiết với quê hương mà nhập ngũ. Về nông dân và nông thôn, hay chiến tranh, những trang văn của Đỗ Chu đều đi sâu vào tâm lý và thân phận con người trong những cảnh huống nhất định. Bám vào chiến cuộc trong Mùa hạ, hay hậu chiến ở tổng tập Lão Mai, truyện Đỗ Chu đi sâu vào tâm tình của con người trong chiến tranh, sau chiến tranh. Những hành xử của họ trong gia đình, ngoài xã hội. Vậy là, Chu đem đến cho người đọc nhiều suy ngẫm rốt ráo về tình người và trách nhiệm làm Con Người. Đấy là vấn đề muôn đời của văn học. Đỗ Chu như cây mai già tới độ mãn khai, cho Văn chương Việt những áng văn khó trộn vào bất cứ tác giả nào.
Có người ví đại ý, Văn như loài cây. Có loại gỗ như đinh, lim, sến, táu. Gỗ nó làm đủ vật dụng trên đời. Còn loại gỗ xôm xốp chả thể làm nhà, đóng đồ, đóng thuyền, nhưng lại tỏa ra mùi hương quyến rũ làm người ta ngây ngất. Văn Đỗ Chu thuộc loài cây thứ hai, lõi mềm vô tích sự, vỏ thì sực hương như loài quế. Gỗ đóng thuyền thì di chuyển được, song hương của cỏ cây có khi bay xa hơn, sâu hơn, ngấm khẳm vào lòng người đeo đẳng mãi. Nên văn của Đỗ Chu, dù không có cốt truyện, ít chi tiết ám ảnh dữ dội, người ta vẫn nhớ lâu là như thế chăng? Sự ví von này làm Đỗ Chu giật thột và Trần Đăng Khoa thán phục. Tôi rất đồng cảm với nhận xét tinh tế này. Đỗ Chu là một văn tài có cái đại khí mà nhà văn cần có. Văn Đỗ Chu là thứ bền lâu, thứ trầm tư để suy ngẫm; đẹp mà không mong manh, hay ồn ào. Nói chung, văn Đỗ Chu mang dáng dấp tự sự, dù ở truyện hay ký, cũng gửi gắm vào đó cái nhìn và thái độ dứt khoát của Đỗ Chu với thời cuộc, với dân tộc, và cốt tử là những vấn đề thuộc tính của con người Việt. Cái hương quế: Con người Việt là trung tâm, văn hóa Việt là cái sắc diện bao trùm.
Còn hai tháng nữa Tết. Chu và tôi ngồi ăn trưa, ông trao cho tôi tập bản thảo 27 bài thơ, nhan đề là Thương Hạ, sắp xuất bản. Nói với tôi: Thi sĩ bây giờ nhan nhản. Anh chỉ là kẻ làm thơ không chuyên nghiệp, không đua tranh với ai.
Tôi đón Thương Hạ. Không ngạc nghiên gì khi ông dở dói thơ ca. Bởi vì, tạng ông, ở văn xuôi kể vật hay người, đều có phấn hương, lộ ra cái tâm hồn thi sĩ. Chu viết nhiều, xong đầu còn xăm xắp bao suy nghĩ miên man, nên thơ viết đều đều hơn năm, ra ngót nghét ba chục bài, có gì mà lạ!
Tôi hình dung một người đi trên đường phố Hà Nội sớm hôm. Áo quần bay phơ phất và chòm râu trắng phất phơ theo gió. Khuôn mặt thanh tao, đôi mắt tinh, hóm hỉnh... Đỗ Chu của tôi đấy! Với cuộc hành trình năm mươi năm, một đời văn, là Cây mai già mãn khai, cười trong gió đông Hà Nội.
Nguyễn Văn Thọ
 Nhà văn Đỗ Chu
• Tên khai sinh: Chu Bá Bình
• Sinh năm 1944
• Quê quán: xã Quảng Minh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang
• Học trung học tại trường cấp 3 Hàn Thuyên tỉnh Bắc Ninh, nhập ngũ tháng 7 năm 1963, 12 năm phục vụ tại Cục Chính trị Quân chủng phòng không – không quân. Chuyển về công tác tại Hội Nhà văn Việt Nam năm 1975.
• Các tác phẩm chính: Hương cỏ mật (tập truyện ngắn, 1963); Phù sa (tập truyện ngắn, 1966); Tháng Hai (tập truyện ngắn, 1969); Trung du (truyện ngắn, 1967); Gió qua thung lũng (truyện ngắn, 1971); Vòm trời quen thuộc (truyện ngắn, 1969); Đám cháy trước mặt (truyện ngắn, 1970); Những chân trời của các anh (tùy bút, 1990); Mảnh vườn xưa hoang vắng (truyện ngắn, 1989); Một loài chim trên sóng (truyện ngắn, 2001); Đỗ Chu truyện ngắn tuyển tập (2003); Tản mạn trước đèn (2004).
• Giải thưởng: Giải thưởng cuộc thi truyện ngắn của tạp chí Văn Nghệ Quân Đội năm 1963; Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2002; Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, đợt I năm 2001. Giải thưởng ASEAN năm 2004; Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2005.
Viết văn mà “làm văn” quá là... phản văn
Nói đến nhà văn Trung Trung Đỉnh, không khác được, độc giả lại nghĩ ngay đến nhà văn chuyên viết về đề tài chiến tranh. Không chỉ Lạc rừng, Lính trận mà cả trong những tác phẩm viết về đề tài hậu chiến của ông như: Ngõ lỗ thủng, Sống khó hơn là chết, Tiễn biệt những ngày buồn... những kỷ niệm về chiến tranh vẫn như là một vết cứa trong lòng của những người đang sống. Chiến trường, sự sống, cái chết, những mất mát và cả niềm hạnh phúc đã “tôi luyện” ngòi bút của ông. Viết như một sự thôi thúc, một sự trả nợ những tháng năm tuổi trẻ đã qua, và cũng có lúc viết là để “tiễn biệt ngày buồn”, văn của ông luôn trĩu nặng những trăn trở về cuộc đời, về phận người, và có sức ám ảnh kỳ lạ.
- Thưa nhà văn Trung Trung Đỉnh, đọc các tác phẩm của ông, có thể thấy rõ một điều rằng, phần lớn các tác phẩm của ông đều viết về người lính trong chiến tranh hoặc trong thời bình. Ta có thể gọi chung đó là mảng đề tài chiến tranh. Và, nếu thiếu đi mảng đề tài đó liệu có đủ làm nên một cái tên Trung Trung Đỉnh không thưa ông?
Nhà văn Trung Trung Đỉnh: Bạn hỏi vậy thì cũng giống như hỏi bác nông dân, bác ơi, nếu không trồng lúa trồng khoai thì bác có được gọi là nông dân không ạ? Hay, nếu nghề nông không trồng lúa trồng khoai thì có làm nên cái tên tuổi của ông nông dân không ạ?
Tóm lại là: Tôi không có ý định chọn đề tài mà đề tài nó chọn tôi. Cũng như nghề nông nó chọn bác nông dân, chứ bác ấy không chọn cái nghề đã “mặc định” vào thân phận bác ấy! Lỡ đã thế rồi. Cái số là thế, hay cái “nghiệp” cũng là thế.
- Trong tác phẩm của ông, hình ảnh người lính trong chiến tranh luôn rắn rỏi, mạnh mẽ không sợ gian khổ, hồn nhiên, nhưng người lính trở về với thời bình lại có gì đó mong manh trước những thử thách của cuộc sống. Họ có phải là những người lính đi lạc trong thời bình hay không thưa ông? Hay phải chăng đã có sự thay đổi chút gì đó trong sự thay đổi ý thức của nhà văn?
Nhà văn Trung Trung Đỉnh: Chính cuộc sống đã thay đổi “ý thức hệ” cho tôi. Cuộc chiến quá ác liệt, quá cam go, nhưng đó là cái ác liệt cái cam go mà thằng lính như tôi đều đã được rèn luyện, trải qua cả sống và chết nhưng nhất định... phải sống và chiến đấu để tồn tại. Còn hòa bình, người lính từ trong cuộc chiến ra, từ trong rừng ra, trăm anh mới có một vài anh tỉnh táo, nhưng “kỹ năng sống” nói như cách nói bây giờ, dù bản tính có lanh lẹn thì đa số đều vẫn thuộc dạng ngu ngơ. Tôi nhớ hồi mới giải phóng, ở Đà Nẵng, một hôm tôi được mấy anh bạn dân thành phố rủ đi uống cà phê, hẹn tới quán Trà Mi. Tôi xúng xính đi tới quán, vẻ khá sành điệu: cùng quần loe tóc hơi dài, dép sa-po cao cao, cũng đeo mắt kiếng tay cầm cuốn sách dày cộp vào quán ngồi đợi bạn. Cũng lặng lẽ chọn chỗ khuất, mở sách ra đọc như ai, thế mà bà chủ quán bảo với cô tiếp viên: “Mi đem cà phê ra cho chú bộ đội kia đi chớ, răng để chú ngồi chất ngất vậy.” Tôi hơi ngượng và cũng tạm nhận ra, dù có mặc gì, diễn vai gì thì cái “chú bộ đội” trong tôi nó cũng chìa ra trước mắt người ta, không giấu được. Thế rồi biết mình là ai để tôi cũng phải lao vào cuộc chiến đấu với cơm áo gạo tiền lương bổng. Và phải sống. Cũng phải dựng vợ gả chồng nuôi con thơ, xuôi ngược mới có cái ăn cái mặc... Quá trình ấy trui rèn anh ta và anh ta dần dần nhập cuộc, dù “sống khó hơn là chết” nhưng cũng phải “Tiễn biệt những ngày buồn” trong cái “Ngõ lỗ thủng” ấy thôi..
 - Ông có thể đánh giá một cách khái quát về thân phận người lính trong tiểu thuyết của mình: từ Ngõ lỗ thủng, Ngược chiều cái chết, Tiễn biệt những ngày buồn cho đến Lạc rừng, Lính trận?
Nhà văn Trung Trung Đỉnh: Đã là lính thì thân phận tất nhiên là hẩm hiu rồi. Chả thấy có anh nào khơ khớ một tí. Trong chiến tranh thì lanh lợi giỏi giang, cứ tưởng hòa bình sẽ oách hơn, khớ hơn một tí, ai dè cuộc sống luôn luôn “chơi quả ác” với anh ta. Đi đâu làm gì cũng thấy anh ta lóng nga lóng ngóng vụng về “như bò đội nón”, nhưng lại cứ hay... tinh tướng. Thua là cái chắc.
- Có người bảo văn học thời chống Mỹ giống như một dàn đồng ca, ca ngợi cái ta mà thiếu đi cá tính của cái tôi trong sáng tạo nghệ thuật. Ông nghĩ sao về điều này?
Nhà văn Trung Trung Đỉnh: Tôi nghĩ có lẽ nói như vậy cũng không sai, nhưng nếu chỉ có nói một vế như thế thì là nói lấy được. Hãy đọc Sen trong đồng của Nguyễn Thi đi. Hãy đọc thơ của Thanh Thảo hồi còn ở trong rừng Những người lính nói về thế hệ mình đi. Hãy đọc những cuốn sách viết về chiến tranh sau chiến tranh của thế hệ chống Mỹ như Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Bến không chồng của Dương Hướng đi. Đấy là ví dụ thôi, họ viết thoải mái tự nhiên trong “cái ta” đó cũng có khối “cái tôi” đấy ạ.
- Các cụ nhà ta vẫn có câu “văn là người”, theo ông điều này có đúng không? Văn chương của ông và con người ông có giống nhau không?
Nhà văn Trung Trung Đỉnh: Đúng mà không đúng. Giống mà không giống. Ấy là đúng và là giống vậy.
- Theo ông văn chương có chủ nghĩa không (hiện đại, hậu hiện đại, tân hình thức...)?  Điều cốt tử của một nhà văn và của một tác phẩm văn học là gì?
Nhà văn Trung Trung Đỉnh: Ồ, sao mà bắt bớ nhau vậy? Các cái chủ nghĩa là do các nhà lý sự chủ nghĩa họ lý sự ra nó chứ nhà văn thời nghĩ cắc cớ ngoằn ngoèo lôi thôi rắc rối ba cái con chữ làm gì chứ? Điều cốt tử của một nhà văn là viết văn, tức là sáng tác, tức là kể chuyện sao cho người ta tin đó là sự thật. Cũng như ứng xử ở đời, không thật thì có nói giời nói bể người ta cũng không tin.
- Theo nhận xét của cá nhân ông, thế hệ các nhà văn chống Mỹ và các nhà văn trẻ bây giờ có ưu điểm nhược điểm gì?
Nhà văn Trung Trung Đỉnh: Tôi thấy ưu điểm của anh này không bù đắp được cho anh kia. Vì thế theo tôi, anh nọ muốn làm anh kia sẽ không đời nào làm được. Thế nên, cứ yên tâm đi, thế hệ nào cũng sẽ có nhân vật của riêng mình. Lo hết phận mình là lo cho cuộc sống chung. Đi hết cái tôi sẽ gặp nhân loại.
- Với người cầm bút, họ luôn luôn nói rằng cần phải làm mới mình, nhưng đọc tác phẩm của ông vẫn thấy một kiểu viết đó và nó đã làm nên thương hiệu của nhà văn Trung Trung Đỉnh. Ông có nghĩ rằng mình đã tìm ra đúng lối đi cho mình hay sẽ phải làm mới mình trong các tác phẩm sắp tới?
Nhà văn Trung Trung Đỉnh: Cha sinh mẹ đẻ ra tôi đã thế này rồi. Ông Trời đã sinh ra cái tính của tôi nó xiên xiên xẹo xẹo, không làm gì nghiêm chỉnh được rồi. Cái mới dứt khoát không phải ở trong đề tài, cũng không phải thay đổi áo xống, thay đổi giọng nói mà ngụy trang được. Chuyện tôi thay đổi trang phục phong thái vẫn lộ ra nguyên hình cái “chú bộ đội” bên trong bản chất của tôi đã khiến bà chủ quán cà phê kia “gọi đúng” sự thật. Viết văn mà làm văn quá là... phản văn. Thế đấy!
Trần Quỳnh Nga
Nhà văn Trung Trung Đỉnh
• Tên khai sinh: Phạm Trung Đỉnh
• Ngày sinh: 21-9-1949
• Quê quán: xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
• Hoạt động: Xuất thân trong gia đình nông dân. Học hết phổ thông đi bộ đội, nhiều năm hoạt động ở chiến trường Tây Nguyên thời chống Mỹ cứu nước. Tốt nghiệp Trường Viết văn Nguyễn Du khóa 1. Từng là biên tập viên văn xuôi tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Ngoài viết văn còn làm thơ, viết kịch bản phim. Từ năm 2000: Phó tổng biên tập báo Văn Nghệ rồi Giám đốc nhà xuất bản Hội Nhà văn.
• Tác phẩm chính: Thung lũng Đá Hoa (truyện ngắn in chung, 1979); Người trong cuộc (truyện ngắn, 1980); Đêm nguyệt thực(truyện ngắn, 1982); Những người không chịu thiệt thòi (truyện ngắn, 1982); Ngược chiều cái chết (tiểu thuyết, 1989); Tiễn biệt những ngày buồn (tiểu thuyết, 1990); Chuyện tình ngõ lỗ thủng(tiểu thuyết, 1990); Bậc cao thủ (truyện ngắn, 1994); Lạc rừng (tiểu thuyết, 2000); Sống khó hơn là chết (tiểu thuyết, 2008).
• Giải thưởng: Giải A cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam (1998-2000) với tiểu thuyết Lạc rừng. Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
“Hộp đen” Nguyễn Quang Thiều
Thơ Nguyễn Quang Thiều, và cả con người anh nữa, có cái gì vừa bí ẩn, vừa cuốn hút. Và lúc này thì tôi đang ngồi trong một căn phòng tĩnh lặng đối diện với anh. Không biểu lộ vẻ gì là một con người hiện đại, thậm chí trông anh còn có phần cũ kỹ, cổ xưa. Vậy mà, con người ấy đã viết nên những bài thơ hết sức mới mẻ, lạ lẫm khiến cho biết bao người phải trăn trở.
Tuyển thơ lần thứ nhất của Nguyễn Quang Thiều mang tên Châu thổ tập hợp 144 bài thơ do anh sáng tác trong gần ba mươi năm. Có thể nói tập thơ này đã chứa đựng hầu hết những thành tựu thơ của anh cho đến nay. Đọc từ những bài đầu tiên được viết trước khi Nguyễn Quang Thiều đi học ở Cuba và chưa ảnh hưởng chút gì văn hóa Mỹ La tinh, ta đã thấy nó có yếu tố mới mẻ, và nhất quán với cả một rừng thơ anh viết sau này. Vẫn cái tâm thức hướng thượng, vẫn chất giản dị không một chút màu mè, vẫn sự quyến rũ từ một nội lực cảm xúc chân thành. Càng về sau thơ anh càng trở nên rậm rạp, phong phú và nhiều bí ẩn. Nhưng trong mỗi câu từ, trong mỗi hình ảnh đều mách bảo ta, nguồn gốc thơ Nguyễn Quang Thiều không phải là sự du nhập từ cõi xa lạ nào. Thơ anh sinh ra từ những dòng nham thạch nóng bỏng, ngổn ngang, hỗn độn của tâm linh. Nó phá bỏ cái khuôn thức thường thấy và mang một tiềm thức khác.
Anh chiêm nghiệm: “Tôi cho rằng quá trình sáng tạo trong thơ là quá trình phục hồi ký ức, phục hồi những phần sống từ những kiếp trước của chúng ta. Khi viết tôi chỉ dựa vào trực giác bên trong của mình.” Biết ngoài việc làm thơ, anh còn là một nhà báo danh tiếng, tôi hỏi Nguyễn Quang Thiều: “Khi làm báo, anh có thể bắt người đọc phải quan tâm đến tờ báo, với lối viết cuốn hút. Sao trong thơ anh lại chọn một lối thơ khó đọc và khó hiểu?” Nguyễn Quang Thiều nói tiếp: “Tôi muốn thơ là nơi mình được biểu lộ chính mình. Nơi ấy tôi được thả lòng mình, giống như một buổi chiều không có việc gì làm, tôi đã đi ra cánh đồng, đi mãi từ cánh đồng này sang cánh đồng khác và khi quay lại lạc mất lối về...”.  
Trước sau anh vẫn chỉ muốn là một người nhà quê.
Nguyễn Quang Thiều gắn bó với quê hương một cách kỳ lạ. Anh sinh ra ở xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, Hà Tây, nơi gắn liền với dòng sông Đáy, với làng quê buồn nghèo và hồn hậu, nơi chứa đầy những huyền thoại, những nghi lễ, những tù túng và huyễn hoặc. Anh hay nhắc đến ký ức về bà nội bị liệt phải nằm bất động trong một góc nhà. Bà nằm đó, mà kể cho anh nghe những câu chuyện tưởng tượng, những ký ức huyền hoặc nhuốm màu ma quái... Và chính những điều đó, đã gieo vào tuổi thơ anh những cảm thức khác lạ. Trở thành một hành trang trong tư duy sáng tạo sau này.
Chưa đến hai mươi tuổi, rời quê, Nguyễn Quang Thiều ra Hà Nội, học ở một trường văn hóa và ngoại ngữ của ngành công an. Rồi đi làm. Hàng đêm anh ngồi đọc thơ. Tình yêu thơ kỳ lạ đã thôi thúc anh đọc đến thuộc làu thơ của hàng trăm nhà thơ. Và anh bắt đầu làm thơ như một sự đòi hỏi của vô thức, của bản năng. Đó là những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước. Ngày ấy anh đâu dám nghĩ mình sẽ trở thành một nhà thơ... Nhưng rồi những bài thơ ra đời ngày một nhiều, anh tập hợp lại thành tập thơ Ngôi nhà tuổi 17. Đó là những cảm xúc đẹp đẽ, trong sáng buổi ban đầu, nhưng sau khi tập thơ ra đời, Nguyễn Quang Thiều nhanh chóng nhận ra, hình như trong giọng thơ của mình có lẫn với giọng một ai đó. Anh không bằng lòng với mình.
Tập thơ thứ hai Sự mất ngủ của lửa ra đời sau đó không lâu... Với tập thơ này Nguyễn Quang Thiều đã lần đầu tiên mang đến một thứ thơ khác, một thứ thơ khởi phát từ nội lực mạnh mẽ chất chứa những trầm tích bí mật, những huyền thoại bị vùi lấp, những gấp khúc của tư duy và sự hoang thẳm của những cơn mơ... Tựa như một cảnh giới kỳ dị, vừa ảo huyền, sương khói, vừa mộng mị lại vừa trần trụi, bộn bừa, không màu mè; vừa đơn sơ, vừa quen thuộc lại vừa ẩn chứa vẻ xa lạ...
Nguyễn Quang Thiều bảo, thật oan cho anh nếu nghĩ rằng anh cố tình du nhập vào trong nước một lối thơ nào đó ở nước ngoài. Không phải vậy đâu. Hồi viết Sự mất ngủ của lửa anh viết gần như bằng bản năng. Và đó là những dòng thơ tuôn chảy từ trong tâm hồn, từ cội nguồn của tâm tư, từ mạch ngầm của ký ức bao đời dồn tụ lại. Dù có năm năm học ở Cuba, nhưng Nguyễn Quang Thiều kể, anh chỉ được học tiếng Tây Ban Nha, tiếng Anh và những tác phẩm kinh điển của thế giới. Lúc ấy anh không hiểu nhiều văn học hiện đại của Mỹ La tinh và cũng chưa có một ý thức đầy đủ về sứ mệnh đổi mới trong thơ hiện đại. Với anh, làm thơ lúc ấy thật hồn nhiên và nó như một nhu cầu tự thân nhằm giải thoát mình.
Và như một định mệnh, Nguyễn Quang Thiều đã dấn thân vào con đường lẻ loi của thơ ca hồi bấy giờ. Sau giải thưởng của Hội Nhà văn, anh gặp không ít sự đắng đót. Những năm 1994-1995 đã bùng lên một cuộc tranh luận về thơ kéo dài và dữ dội.
Sau khi học ở Cu Ba từ 1984-1989, anh về nước và công tác ở Bộ Công an. Vì những lần tham gia phiên dịch cho Hội Nhà văn, anh được các nhà văn lãnh đạo Hội để ý. Đầu những năm 1990 anh được nhà văn Hữu Mai sang xin về công tác ở Hội Nhà văn Việt Nam. Lẽ ra anh được bố trí làm ở bộ phận đối ngoại, nhưng anh lại thích làm báo. Đó cũng là lý do anh gắn bó với báo Văn Nghệmột thời gian dài trước khi chuyển sang công tác ở Vietnamnet.
Sự nghiệp báo chí của Nguyễn Quang Thiều còn được đánh dấu bởi việc đã giúp nhà văn Hữu Ước sáng lập ra tờ An Ninh Thế Giới cuối tháng vào giữa thập niên chín mươi thế kỷ trước. Tờ báo ấy trong khoảng mười năm liền luôn giữ một lượng ấn bản trong top đầu các báo lớn trong nước. Và mấy năm gần đây, anh cũng là người tham gia sáng lập và thực hiện tờ Cảnh Sát Toàn Cầu được đông đảo bạn đọc quan tâm. Không dừng lại ở đó, anh tham gia sáng lập tờ Nghệ Thuật Mới, một tờ báo ngay từ buổi đầu đã có lượng ấn bản ấn tượng hơn bất kỳ một tờ báo văn học nào khác.
Là người viết nhiều thể loại, những năm qua trên báo chí, đã xuất hiện khoảng trên ba trăm bài ký, phóng sự, nghị luận, tản văn của Nguyễn Quang Thiều. Anh cũng viết nhiều kịch bản phim, vẽ tranh và tiểu thuyết, truyện ngắn... Hiện anh đã xuất bản mười tập thơ, mười sáu tập văn xuôi, ba tập sách dịch.
Ngoài thơ, có lẽ ở thể loại truyện ngắn anh gây được nhiều ấn tượng hơn cả. Truyện ngắn của anh hấp dẫn bởi chất thơ, bởi những chi tiết độc đáo và cả sắc màu kỳ ảo, chiều sâu nhân văn và triết lý. Anh thường tạo được những chi tiết đắt đầy bất ngờ cuối mỗi truyện, gây được ấn tượng sau mỗi cái kết. Với một người chuyên viết văn xuôi, nếu vươn đến tầm truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều chắc hẳn đã là một sự nghiệp vinh quang. Dù vậy, khi nói về truyện ngắn của mình anh vẫn chỉ nhận mình là “người kể chuyện” với những câu chuyện có cốt truyện mạch lạc, đề cập những vấn đề rất thực của đời sống con người, chứ không hẳn là người sáng tạo trong hình thức kể chuyện.
Tất cả bùng nổ của Nguyễn Quang Thiều là ở thơ của anh.
Đó là phần tinh túy nhất, thành công nhất, lạ lùng nhất ở con người sáng tạo của Nguyễn Quang Thiều.
Cảm giác như thơ Nguyễn Quang Thiều là một thứ hóa chất, ngay lập tức khi tiếp xúc với nó, người đọc đã phải trăn trở, vật vã với những ngẫm suy miên man không dứt. Vậy nên, thậm chí người đọc không cần hiểu hết điều Nguyễn Quang Thiều nói trong thơ mà hiệu quả của những bài thơ ấy vẫn có. Nguyễn Quang Thiều chủ trương một lối thơ mà với mỗi người đọc, tùy theo cảm nhận và trình độ, sẽ hình thành trong họ “một văn bản khác”. Anh bảo, đấy mới là đích đến của anh.
Một nhà thơ phương Tây đã nói đại ý rằng Nguyễn Quang Thiều là một nhà thơ đích thực “vì không ai biết trước trong mỗi bài thơ anh sẽ đưa người đọc đến đâu và điều gì sẽ diễn ra ngay tức thì.” Có vẻ như mỗi chữ với Nguyễn Quang Thiều đều hàm chứa một bí mật. Cả bài thơ là một thế giới với những cánh cửa bí ẩn đóng kín không biết đâu mà dò. Đặc điểm này nảy sinh từ việc các ý tưởng rất khác nhau, biên độ của tưởng tượng được mở rất rộng giữa những câu thơ đặt cạnh nhau. Và vì thế, để đi từ câu thơ này sang câu thơ khác, người đọc phải dò dẫm qua những khoảng mờ, những khúc gãy.
Nguyễn Quang Thiều như được sinh ra để ngập chìm trong dòng chảy cuộn xiết gập ghềnh của dòng thơ hiện đại. Sau sự bừng lóe của tài năng bẩm sinh là hành trình tìm kiếm không ngừng và khổ cực. Tôi hiểu, Nguyễn Quang Thiều là người cô đơn. Cái thế giới tâm hồn anh, cái thế giới thơ anh không dễ bước vào. Vậy nên, anh vẫn thường lắng tai nghe một tiếng nói chân thành, mở hồn đón đợi những tiếng vọng của yêu thương, đồng điệu.
“Tôi có một cảm giác rất lạ... Đó là sự gắn bó với những ngôi mộ của những người thân đã mất. Năm nào tôi cũng về quê và đưa những đứa con tôi đi thăm mộ ông bà...” Nguyễn Quang Thiều có cảm nhận rất rõ mối tương liên giữa người sống với người đã chết, sự gắn kết huyền bí của tâm linh giữa thế hệ này với thế hệ khác. Anh cũng cảm nhận rõ sự đồng điệu sâu xa của con người với linh hồn của đồng quê, xứ sở.
Xuất phát từ cội nguồn, từ những tín ngưỡng, từ phong tục, từ những hỗn mang văn hóa Nguyễn Quang Thiều đã gặp được sự đồng điệu ở những chân trời xa. Thơ và truyện của anh đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, được giới thiệu ở Mỹ, Úc, Pháp, Nhật Bản, Venezuela, Colombia, Đài Loan, Thái Lan, Indonesia... Nhiều nhà văn danh tiếng đã đánh giá cao tài năng độc đáo của Nguyễn Quang Thiều.
Dù bận nhiều, nhưng Nguyễn Quang Thiều vẫn tiếp tục viết và viết rất sung sức. Anh bảo anh có tập thơ văn xuôi mang tên Ghi chép về một thành phố đã mất tái hiện những ký ức về quê hương trải qua những thăng biến hiểm nghèo trong những tháng năm qua. Anh cũng đang hoàn thiện trường ca Lò mổ gửi gắm nhiều ngẫm suy về nhân sinh và nghịch lý của kiếp người.
Sự nghiệp của Nguyễn Quang Thiều tựa như một cột mốc. Sự xuất hiện của anh trên thi đàn đã đánh dấu một dòng chảy mới của thơ hiện đại ngày một lan rộng và kéo dài. Bên cạnh lối thơ truyền thống, dòng chảy mới này làm cho thơ Việt thêm phong phú và sinh động hơn, sâu sắc hơn, nhưng cũng huyền bí, khó tiếp cận hơn.
Thiên Sơn
Nhà văn Nguyễn Quang Thiều
• Tên khai sinh: Nguyễn Quang Thiều
• Ngày sinh: 13-3-1957
• Quê quán: Sơn Công, Ứng Hòa, Hà Nội
• Hoạt động: Học đại học tại Cuba; về nước phục vụ trong ngành Công an; nguyên trưởng ban Ban Thơ báo Văn Nghệ; ủy viên Ban chấp hành, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khóa VIII.
• Các tác phẩm chính:
Thơ: Ngôi nhà tuổi 17 (1990), Sự mất ngủ của lửa (1992), Những người đàn bà gánh nước sông (1995), Những người lính của làng (1996), Thơ Nguyễn Quang Thiều (1996), Nhịp điệu châu thổ mới (1997), Bài ca những con chim đêm (1999), Thơ tuyển cho thiếu nhi (2004), Cây ánh sáng (2009), Châu thổ (2010).
Văn xuôi: Mùa hoa cải bên sông (1989), Cái chết của bầy mối (1991), Thành phố chỉ sống 60 ngày (1991), Vòng nguyệt quế cô đơn (1991), Người đàn bà tóc trắng (1993), Tiếng gọi tình yêu (1993), Kẻ ám sát cánh đồng (1995), Đứa con hai dòng họ (1996), Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều (1998), Người cha (truyện thiếu nhi, 1998), Bí mật hồ cá thần (truyện thiếu nhi, 1998), Con quỷ gỗ (truyện thiếu nhi, 2000), Ngọn núi bà già mù (truyện thiếu nhi, 2001), Người nhìn thấy mặt trăng thật (2003), Người (chân dung văn học, 2008), Ba người (chân dung văn học - in chung, 2009), Có một kẻ rời bỏ thành phố (tiểu luận, 2010).
Dịch: Chó hoang Đingô (1995), Khoảng thời gian không ngủ (1997), Năm nhà thơ hiện đại Hàn Quốc (2002).
• Các giải thưởng: Giải thưởng thơ Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội 1983-1984; giải thưởng truyện ngắn Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội 1989-1990; giải thưởng truyện ngắn hay Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh năm 1991; giải thưởng thơ báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh năm 1993; giải thưởng bút ký tuần báo Văn Nghệ năm 1991; giải thưởng truyện ngắn Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội 1993-1994; giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993; giải thưởng thơ Liên đoàn Thanh niên Sinh viên Đại học Tổng Hợp La Havana năm 1986; giải thưởng nhà xuất bản Kim Đồng 2001-2002.
Kẻ mang gương mặt đời Đường
Tháng bảy năm nay mưa nhiều. Một chiều ngồi uống cà phê nhìn phố xá ngập nước trong mưa lại nhớ đến nhà văn Hòa Vang. Nhớ bởi truyện ngắn Sự tích ngày đẹp trời của ông. Nhớ và quả thực lúc đó chỉ muốn ông hiện ra, ngồi xuống cà phê cho đến lúc tưởng mình chìm mãi vào cơn mưa...
Có một ngày, hình như đang đi rất thong thả, tôi chợt thấy một gương mặt chầm chậm lướt qua. Mà hình như không phải lúc đang đi. Có lẽ lúc nâng chén rượu ngang mày. Mà hình như cũng không phải thế mà là lúc chợt nghe một giọng cười. Nhưng có lẽ là tất cả những khoảnh khắc như thế. Vẫn gương mặt ấy. Gương Mặt Đời Đường.
Tôi đã thốt lên như vậy.
Người mang gương mặt ấy là nhà văn Hòa Vang. Sẽ có không ít người tranh luận với tôi về cái tên gọi ấy. Gọi thế thì sang cho ông quá. Nhưng ông là một kẻ rất biết thế nào là cái sang và có không ít cái sang. Gọi thế thì ngang tàng quá. Ông vốn là một kẻ ngang tàng. Gọi thế thì phong trần quá. Ông là một kẻ phong trần. Gọi thế thì sầu vạn nỗi. Ông là kẻ sầu nhiều nỗi. Một mái tóc màu bàng bạc, những chòm râu bàng bạc. Bàng bạc chứ không phải bạc. Râu tóc ấy ánh lên màu sáng của chì. Vừa bay và vừa nặng. Tôi không rõ ông đã bao nhiêu tuổi. Có lẽ gần sáu mươi thì phải. Nhưng khi ông mang gương mặt ấy thì bốn mươi, sáu mươi hay bảy mươi cũng chỉ là một.
Tôi biết ông đã lâu lắm rồi. Lâu như đọc một cuốn sách Tàu thời niên thiếu thấy một gương mặt như thế. Tôi biết ông nhưng ít gần ông. Ông thế nào một cách rành mạch nhiều khi tôi không dám xác nhận. Tên ông bắt đầu vang lên trong đầu tôi khi tôi đọc truyện ngắn Sự tích ngày đẹp trời. Truyện ngắn ấy được giải thưởng báo Văn Nghệ có lẽ đã mười năm có lẻ. Ngày ấy, đọc xong truyện ngắn đó, tôi muốn được nhìn mặt ông. Một câu chuyện viết về sự thất bại của cả hai người anh hùng trong tình yêu: Sơn Tinh và Thủy Tinh. Đến bây giờ tôi vẫn nghĩ về câu chuyện ấy như thế. Mà tôi ngẫm thấy cuộc đời là như thế. Tình yêu mãi mãi là một bí ẩn. Ông đã viết tác phẩm đó với một ngôn ngữ quyến rũ lạ thường: buồn và lộng lẫy. Ngày nay văn chương tung hoành ngang dọc, nhiều trò lắm chiêu nhưng lại ít thấy vẻ đẹp và buồn thăm thẳm ấy.
Tôi muốn nhìn mặt ông không phải để xem cái người sinh ra triết lý: Tình yêu không bao giờ là tài sản của bạo lực và mưu mô mà là để ngắm nhìn gương mặt của người đã viết ra những câu văn đẹp. Rồi tôi gặp ông và ông làm tôi bối rối. Sau này tôi mới hiểu cái đẹp sinh ra từ một tâm hồn đẹp chứ không phải từ một khuôn mặt đẹp. Nói vậy không có nghĩa là ông xấu giai mà ngược lại. Nhưng gương mặt ông mãi mãi là gương mặt bất ổn. Sau này Hòa Vang viết Nhân Sứ và hàng chục cái khác sâu sắc hơn, lạnh lùng hơn, nghiệt ngã hơn nhưng lộng lẫy thì không hơn được Sự tích ngày đẹp trời. Nhận xét này có lẽ hơi cảm tính chăng? Nhưng tôi đang viết những dòng này không phải để lý giải hay phân tích tác phẩm. Tôi đang viết mơ hồ về một người cũng rất mơ hồ. Mơ hồ ở đây không phải là sự không hiểu biết về người mình đang viết. Tôi muốn nghĩ về ông như nghĩ về bao thân phận tôi thấy thấp thoáng đâu đó trên cõi thế này mà cụ thể ở cái thành phố thủ đô này. Có những người, có những cái chỉ thấp thoáng đâu đó mà lại ám ảnh ta, lại làm ta phải suy ngẫm không phải về phía tốt, phía chưa tốt mà là nghĩ về sự hiện diện của một cuộc đời. Bởi nhiều lúc, chính tôi cũng thấy tôi thấp thoáng đâu đó rồi lại biến mất mà lục tìm mãi cũng không thấy chính mình. Cuộc đời nhiều lúc thật kỳ lạ. Một cái thìa uống cafe bằng nhôm hơi xỉn màu nằm đâu đó trên mặt bàn loang lổ bóng tối trong một quán cafe cũ Hà Nội vào một chiều mùa đông mưa phùn xa xưa lại hiện lên lấp lánh và đẹp và thân thuộc lạ kỳ đến mức bây giờ ngồi uống cafe với cốc thìa sang trọng vẫn thấy cafe thiếu một cái gì đó thật quan trọng.
Cách đây dễ đến mươi năm, ông và nhà thơ người xứ Đoài Nguyễn Lương Ngọc đã làm một cuộc đi bộ dọc đất nước. Chính Hòa Vang nói với tôi làng Chùa quê tôi là lý do thôi thúc hai ông thực hiện chuyến đi ấy. Họ về làng Chùa và nghe câu chuyện về những người đã đứng lên chỉ đạo phá khu chùa cổ làng tôi. Một người sau này tuyệt tự. Ông ta nuôi mấy đứa con nuôi nhưng chúng cứ đến phá nát nhà ông rồi lại bỏ đi. Một người bị bệnh chửa bắp chân đau đớn cho đến khi chết. Ngày tiễn ông ở báo Văn Nghệ tôi cũng có mặt. Ông khoác ba lô chào tạm biệt mọi người ra đi. Chiếc ba lô to trùm kín lưng ông. Lưng ông còng xuống. Ông vốn là một người hơi thấp và hơi gù nên lúc đó nhìn ông còng hơn, như bị lún sâu trên đường giống như cái cọc bê tông bị đóng chìm dần xuống đất. Sau này gặp ông, tôi lại nhớ lại hình ảnh ngày ấy. Ông bước đi như một trong những kẻ nhẫn nại của thế gian. Hai người đi bộ thì bây giờ một người đã thiên thu. Hòa Vang vẫn còn đây.
Tôi không hỏi ông nhưng tôi tin đôi lúc ông vẫn nằm mộng thấy mình đi bộ. Không hiểu sao, tôi cứ nghĩ người như Hòa Vang sinh ra chỉ có thể đi bộ mà thôi. Hòa Vang đi xe máy thì trông thế nào nhỉ và ngồi ô tô Nhật thời nay thì hết sức đối nghịch. Có lẽ ông chỉ hợp với đi bộ hoặc cưỡi la. Hòa Vang mà cưỡi la với cái lưng hơi gù và râu tóc màu sáng của chì thì tuyệt đẹp. Nhất là từ khi tôi thấy ông mang một gương mặt cổ xưa. Cho dù ông là kẻ hào hoa, người Hà Nội chính gốc và sống với những tiện nghi của thời văn minh. Nhưng cổ xưa không phải là cái mà nhiều người hình dung. Tôi đã có một lần ngồi ăn trưa với ông trong một nhà hàng và tôi nhận thấy gương mặt Hòa Vang làm cho cả bữa tiệc ở nhà hàng đèn sáng tưng bừng với các cô tiếp viên mặc váy lưng đùi và tỏa mùi mỹ phẩm cao cấp cũng như bị lui về xa xưa. Tôi không bảo là tôi thích và cũng không bảo là tôi ghét gương mặt ấy mà là tôi bị ám ảnh về gương mặt mang cảm giác hoang hoang, bất ổn và đôi lúc xa xôi đến tận chân trời...
Quả thực khi viết những dòng này, tôi đã bấm máy gọi cho nhà văn Hòa Vang hai lần nhưng máy đang khóa. Ông tự khóa máy hay hết tiền quá lâu bị bưu điện khóa tôi cũng chẳng rõ. Tôi gọi để hỏi vài điều cho bài viết. Bởi tôi lại bị rơi vào cái mà tôi không muốn ngay từ đầu là viết về ông với sự mơ hồ của tôi và của chính ông. Nhưng cũng may là máy khóa. Bởi tôi không muốn viết rằng Hòa Vang đã từng chiến đấu ở chiến trường Nam bộ, từng làm việc ở Hãng phim truyện, từng đoạt nhiều giải thưởng văn chương vv... Và thế là tôi được viết về ông như viết về một kẻ hiện ra trong giấc mộng của mình. Những kẻ hiện ra trong giấc mộng lúc nào cũng ám ảnh đôi lúc đến hoảng hốt nhưng lại chẳng bao giờ cụ thể từng nét. Nhiều lúc đang viết, tôi mơ hồ đến phải tự hỏi: “Có một người là Hòa Vang như thế này thật không? Vì sao mi lại viết về một người mà có lúc mi nghĩ là không có thực, một người cứ như là mi tưởng tượng ra.” Vừa dứt câu hỏi thì Hòa Vang lại hiện ra quá rõ ràng với ngày tháng năm sinh, nghề nghiệp từng làm, nơi ở, ẩm thực, cá tính... Và ngay lúc đó tôi kêu lên: Thế mới là Hòa Vang. Hòa Vang là người mà khi tôi nghĩ ông mơ hồ thì ông vụt hiện thực có lúc đến khó chịu và khi tôi nghĩ ông hiện thực thì ông bỗng mơ hồ như không có.
Có lần tôi nói chuyện với một người bạn về Hòa Vang, ông bạn bảo: “Ông này hay gây sự lắm.” Hòa Vang ơi, ông có hay gây sự không? Hỏi thế thôi chứ tôi biết ông đã từng gây sự làm không ít người khó chịu. Bởi vì ông thẳng tính quá. Nhưng cho đến bây giờ thì tôi hiểu rằng: ông không hề gây sự với ai mà ông chỉ gây sự với chính ông mà thôi. Buồn tẻ quá thì ông gây sự phá sự buồn tẻ. Chung chung quá thì ông gây sự phá cái sự chung chung. Khách sáo quá thì ông gây sự phá cái khách sáo. Chật chội quá thì ông gây sự phá sự chật chội. Không công bằng thì ông gây sự đòi sự công bằng. Người yêu ông rất nhiều mà kẻ không thích ông cũng không ít. Chính thế mới đúng bản chất của đời sống này. Gây sự vậy thôi nhưng ông là một người đa cảm. Tôi có đọc một lá thư ông viết cho một người đã nói những điều ông thấy không đúng về ông thế mà giọng văn cứ thì thầm như viết cho tình nhân. Rồi còn mời người đó đến nhà chơi để đàm đạo cho thông tỏ những điều còn chưa thông tỏ giữa hai người. Tôi ít thấy những trường hợp như thế. Bởi quá nhiều người lỡ nói, lỡ viết đôi điều nào đó chưa thông tỏ về ai đó thì sẽ bị người đó lên báo, lên mạng chửi rủa cho chẳng còn đường sống.
Hòa Vang có cái thanh lịch của người Hà thành, có cái ngang tàng của kẻ sĩ Bắc Hà, có cái sâu sắc của kẻ thăng trầm. Nhưng có lẽ cái để lại ấn tượng cho tôi nhất chính là cái vang động kỳ lạ của văn trong Sự tích ngày đẹp trời, là một gương mặt của những kẻ sĩ đời Đường, là “Tiếu ngạo giang hồ”. Hòa Vang là một kẻ rong chơi nơi trần thế. Chỗ nào vui thì ghé, chỗ nào giận cũng qua, nghề gì cũng làm. Ông cứ đi, cứ thổn thức, cứ gây sự, cứ thở dài, cứ thanh lịch, cứ rắc rối, cứ khóc, cứ cười, cứ hiện thực, cứ mơ hồ... Ôi sống như vậy thì có một đồng trong túi cũng thấy giàu, có một ly nhỏ cũng thấy say, có một áo mỏng cũng thấy ấm, có một mình cũng thấy đông vui. Và cho đến lúc này, hình ảnh Hòa Vang hiện ra trong tôi vẫn là hình ảnh ông đang cưỡi một con la với cái lưng hơi gù đi qua thành Cửa Bắc.
Ông đi đâu thì tôi không biết.
Nguyễn Quang Thiều
Nhà văn Hòa Vang
• Tên khai sinh: Nguyễn Mạnh Hùng
• Ngày sinh: 03-11-1946 (ngày mất: 01-4-2006)
• Quê quán: Nhị Khê, Thường Tín, Hà Nội
• Đời hoạt động: Đi Thanh niên xung phong 1963-1968; sinh viên 1968-1971; bộ đội chiến trường Quảng Trị 1971-1974; làm giáo viên, 1974-1981; biên tập viên văn học, 1981-1990; nhà văn tự do, từ 1990.
• Các tác phẩm chính: Thầy Vũ (1982, truyện ký); Huyền thoại Rồng (1988, truyện); Tai quỷ (1993, tiểu thuyết); Sự tích những ngày đẹp trời (1996, tập truyện ngắn); Hiện tượng HVEYA (1988, tiểu thuyết).
• Các giải thưởng: Giải thưởng sáng tác Hà Nội năm 1971; giải thưởng cuộc thi viết về nhà trường, năm 1990; giải thưởng cuộc thi truyện ngắn báo Văn Nghệ năm 1991 và cuộc thi truyện ngắn tạp chí Thế Giới Mới năm 1993- 1994; tặng thưởng Văn học nghệ thuật của ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật năm 1996; tặng thưởng sáng tác hay của nhà xuất bản Hội Nhà văn, năm 1996.
Lập quê choa
Sau hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ ba (12-1985) Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức cho các nhà văn trẻ phía Nam một chuyến đi tham quan thực tế tại công trình thủy điện sông Đà. Trên chuyến xe đi sông Đà hôm ấy, Nguyễn Đức Thọ và Nguyễn Quang Lập là xôm trò nhất. Nguyễn Đức Thọ thì phổ chèo một đoạn nghị quyết. Nguyễn Quang Lập kể một câu chuyện tiếu lâm. Chuyện tiếu lâm thường là chuyện dân gian, không rõ tác giả. Người kể chuyện thường thêm thắt, thổi vào câu chuyện cái hồn chuyện, mang tinh thần của người kể nhiều hơn là người sáng tác ban đầu. Chuyện rằng, có mấy o xã viên ở Quảng Bình đi cấy lúa cạnh một đơn vị tên lửa phòng không. Khi có báo động máy bay địch, mấy o chạy lên bờ tìm chỗ ẩn nấp, các o chưa kịp nằm xuống thì bộ đội đã phóng tên lửa, làm mấy o ướt hết cả quần áo. Do mấy o khi thuật lại câu chuyện vừa thật thà, vừa hớ hênh nên người nghe liên tưởng ra chuyện khác... Lập nhại giọng mấy o xã viên khéo đến nỗi Trần Thùy Mai nghe cười chảy cả nước mắt!
Hồi ấy Lập chưa tới ba mươi, nhưng đã có “số má” trên văn đàn rồi. Hôm uống rượu cần tại một bản dân tộc Mường, Lập có đọc bài thơ. Và mình cũng chỉ biết Nguyễn Quang Lập không nhiều hơn thế cho tới khi gặp lại và quen nhau!
Mình thích truyện ngắn Nguyễn Quang Lập viết về ký ức chiến tranh, về vùng đất Quảng Bình quê Lập. Đọc truyện ngắn Nguyễn Quang Lập thấy nó phảng phất chuyện núi đồi và thảo nguyên của Aimatov. Nó lung linh, huyền ảo, ly kỳ và hấp dẫn từ đầu chí cuối.
Thú thật, có nhiều nhà văn tên tuổi, nhưng nếu hỏi mình nhớ tác phẩm nào của họ là mình tịt luôn. Thậm chí, khi cầm tờ Văn Nghệ, tên tuổi họ sờ sờ ra đấy mà mình cũng không đọc. Trái lại, có những tác giả tuy ít tên tuổi hoặc mới viết, nhiều khi mình bập vào tờ báo, có họ là đọc ngay. Đấy là nhờ văn họ viết ám ảnh. Sau Nguyễn Huy Thiệp, mình nghiện văn Nguyễn Quang Lập. Hắn viết ra cái gì mình cũng đọc ngấu nghiến. Truyện ngắn Nguyễn Quang Lập thường chỉ viết về những hồi ức, những dư âm của quá khứ. Đọc truyện Nguyễn Quang Lập chẳng thấy bóng dáng tác giả viết văn đâu cả, chỉ thấy câu chuyện đời nó oái oăm, nó ly kỳ dâu bể thế, chẳng nói thêm nói bớt gì cả. Lập có tài kể chuyện. Những chuyện dân dã thường ngày, chuyện tục, chuyện thanh gì Lập kể cũng hay, cũng hấp dẫn cả. Bây giờ thì Lập quá nổi tiếng, Lập thành quái kiệt trên văn đàn rồi, nhưng nếu chỉ kể riêng truyện ngắn thôi, không nói hay hay dở, mình bị ám ảnh văn chương bởi Nguyễn Huy Thiệp và Nguyễn Quang Lập. Nguyễn Huy Thiệp sắc sảo, bạo liệt. Còn Nguyễn Quang Lập thì chân thành, trong trẻo đến tận đáy tâm hồn.
Lập viết về các nhà văn bè bạn, về toàn những người gần gũi thân thiết, lại viết thật, viết bạo thế, không có cái chính tâm không viết được. Mình cứ thắc mắc mãi, hình như cả Nguyễn Huy Thiệp và Nguyễn Quang Lập chưa ai được cái giải văn học nào. Lạ thế. Mình hình dung cuộc sống nó như mặt hồ phẳng lặng, người vỗ được nên sóng cuộc đời thì dù có thời sự cách mấy cũng là ghê gớm lắm. Cái giải thưởng lớn nhất của văn chương lẽ nào lại không phải là tác phẩm có ảnh hưởng sâu rộng trong công chúng?
Nguyễn Quang Lập còn được nhắc đến như một nhà biên kịch tốp-ten của Việt Nam. Hỏi thì Lập bảo, viết văn nhuận bút thấp quá, không đủ tiền nuôi con, nên em theo bạn bè viết kịch bản phim kiếm tiền. Hàng loạt kịch bản phim và kịch của Lập ăn khách, nhưng đáng quý hơn cả là Lập không chạy theo thị hiếu tầm thường. Lập khai thác cuộc sống ở một khía cạnh khác, ấy là những mất mát, những đau thương trên từng số phận của con người qua chiến tranh, qua những thăng trầm của lịch sử. Dù rất cần tiền nhưng chưa bao giờ Nguyễn Quang Lập viết ẩu, chưa bao giờ hắn “làm tiền” trong văn hay trong kịch cả. Cứ nhìn vào những đạo diễn, những nhà xuất bản, những cơ quan báo chí mà Lập cộng tác, mà Lập nhờ vào đó để viết và sống thì khắc biết điều đó. Thái độ nghiêm chỉnh trong cầm bút cũng chứng tỏ cái chân tài của nhà văn.
Mình gặp lại Nguyễn Quang Lập lần đầu tại một quán nhậu ở Hà Nội. Có Nguyễn Trọng Tạo và một vài người nữa. Có nghe nói Lập bị tai nạn nhưng không hình dung được nó ác hiểm đến thế. Một nửa người của Lập gần như bị tê liệt hoàn toàn. Mình đã rớm nước mắt khi nghe Lập kể, em đã định nhảy lầu chết quách cho xong. Nằm một chỗ cả năm trời, khổ mình, khổ vợ con quá, nhiều lúc chỉ muốn chết. Em đã bò ra tới tận cửa sổ rồi, chỉ chút xíu nữa là xong thì thằng con ở đâu về gọi bố, thế là ôm lấy con mà khóc, và rồi, thương con quá không chết nữa, mà phải cố sống mà nuôi chúng nó. Mình lục túi có năm trăm đưa Lập. Bảo là tao đọc mày nhiều rồi mà chưa trả tiền. Mình nói cái gì Lập cũng dạ, nghe thương quá. Mình hơn Lập gần cả giáp. Lập đâu đấy với tất cả mọi người chứ không riêng gì mình. Cả sau này mình cũng thấy giữa đám đông hâm mộ, Lập vẫn tự nhiên tự tại chứ không kịch như một vài người nổi tiếng khác. Lập quý anh Tường, anh Quán. Chơi gan ruột với bạn bè có cá tính mạnh và luôn được đùm bọc bởi những tấm lòng của bè bạn. Hôm Văn Công Hùng rủ mình đến nhà Bọ Lập ở Hà Nội, trời mưa lâm thâm, lạnh nhưng mưa không đủ ướt. Đến nơi thì đã thấy Lập ngồi trong cái quán nước chờ. Hùng bảo, nó gửi tiền mua của em tập sách. Em muốn trao tận tay cho nó. Đang uống dở chai bia thì Nguyễn Trọng Tạo rủ đi nhậu. Có cô gì ở Pháp về mời tác giả Sông quê. Lập bảo, tý nữa đi với em, lúc em bị tai nạn cô này thường gửi thuốc Tây từ Pháp về cho em.
Mình đã hết sức ngạc nhiên khi có một tên Tây to đùng vào lễ phép chào thầy Lập. Hỏi thì biết tên này từng học tiếng Việt tại Hà Nội và có đến thỉnh thầy Lập về văn học Việt. Rồi Nguyễn Thanh Vân, rồi nhiều nhân vật tên tuổi trong giới sân khấu nữa đến nâng ly với Lập. Lập làm tất cả bằng một tay. Trông cứ tồi tội. Nhưng cái đầu hắn thì quá tuyệt vời. Hắn kể, cứ mỗi lần hắn bị giáng vào đầu thì hắn lại thông minh lên một tý. Lúc nhỏ, hắn dẫm phải lưỡi cuốc bị cán cuốc giáng vào đầu cho một phát, thế là từ chưa biết làm thơ thành biết làm thơ. Và đời giáng vào đầu hắn thêm nhiều lần đau đớn nữa mới thành ra hắn. Có thể đấy là hắn nói vui thôi nhưng không phải là không có lý.
Lập bắt đầu chơi blog từ lúc nào mình không nhớ rõ. Hắn kể là lúc hắn nằm nhà một mình buồn, con gái hắn mới lập cho hắn cái blog chơi cho đỡ buồn. Chẳng ngờ, nhờ blog mà đất nước lại có thêm một nhà báo điện tử Nguyễn Quang Lập. Hắn vốn là một kỹ sư bách khoa về vô tuyến điện, rất nhanh chóng hắn làm chủ cái phương tiện truyền thông hiện đại này để đến với mọi người. Blog Nguyễn Quang Lập nhanh chóng trở thành một blog hot nhất trong thế giới mạng Việt. Người ta nghiện đọc blog Lập tới mức quên ăn quên ngủ. Cái chất gây nghiện của hắn là “khẩu văn”. Không biết trước hắn có ai đã làm chưa, nhưng có làm thì cũng đến Nguyễn Quang Lập mới đắc địa, mới thành công vang dội thế. Hàng loạt điệp từ địa phương từ trong xó xỉnh xa xưa quê hắn được hắn biến thành thời thượng ăn khách làm rung động hết cả mọi giới. Con người và cái đẹp nói chung là một sự hợp lý. Mà cái gì hợp lý thì tồn tại. Không ai có thể bắt chước được Nguyễn Quang Lập mà thành công cả. Cái đặc sản văn chương “khẩu văn” này là của Nguyễn Quang Lập. Cái sáng tạo giọng văn độc đáo này của hắn, cộng với tài kể chuyện bẩm sinh, cộng với óc hài hước nghiêm chỉnh của hắn làm bao nhiêu người đang loay hoay tìm cách đổi mới, cách tân văn học Việt phải giật mình. Phải chăng, Nguyễn Quang Lập ban đầu chỉ định đem cái chất quê kiểng, cục mịch sắn khoai của quê mình ra “chơi” với văn minh hiện đại đất kinh kỳ mà thôi. Chẳng ngờ rằng, khi đặt bên cạnh vàng son muôn tía nghìn hồng, nó lại thành ra là thứ “đặc sản” đáng đọc, đáng xem hơn cả. Không phải trường hợp Nguyễn Quang Lập là mới mẻ gì. Ai chẳng biết Aimatov, Gamzatov của Nga chẳng đã làm được điều đó sao? Văn chương phải đi từ dân tộc mà ra thế giới. Bọ Lập, rồi Quê Choa, những cái tên gọi có vẻ nhún nhường, một thời là biểu tượng của sự “cố đỉn”, giờ thành ra như mốt thời thượng, và nhiều người tự hào được thơm lây nhờ Nguyễn Quang Lập.
Trước chuyến đi Mỹ, mình hỏi anh Đặng Hữu Trung, một cựu lãnh sự ngoại giao, mang cái gì cho bạn đây? Ở Mỹ không thiếu gì cả, nhưng quà thì chỉ có chè, cafe, mình Nghệ Tĩnh thì mang lạc, sang bên đó anh em rang lạc uống bia với nhau. Ngoài những thứ đã nói đó, mình mang thêm một đặc sản độc đáo nữa, đó là sách Nguyễn Quang Lập. Lập đưa mình chín cuốn. Cuốn nào cuốn nấy như cục gạch, nặng trình trịch. Mình chỉ mang đi có sáu cuốn làm quà. Ở Mỹ, qua mạng, người ta đọc Nguyễn Quang Lập cả rồi. Mình láu cá, bảo rằng Lập nó tặng anh (chị) cuốn sách. Ông bạn mình ở Mỹ cảm động lắm, bảo hôm nào về, anh nhớ cầm chai rượu tôi gửi biếu Nguyễn Quang Lập nhé. Báo hại mình tha chai rượu loanh quanh cả nghìn cây số trên đất Mỹ trước khi mang nó về Việt Nam cho Lập.
Thông thường chỉ có các ca sĩ, diễn viên điện ảnh là có fan hâm mộ. Các nhà văn không mấy ai có các fan hâm mộ như thế. Về điểm này, Nguyễn Quang Lập là một hiện tượng. Ở Vũng Tàu, Lập có những fan hâm mộ cuồng nhiệt. Hoàng Việt Quân – kỹ sư Liên doanh dầu khí Vietsovpetro là một fan như vậy. Vì muốn hỏi số di động Nguyễn Quang Lập mà Hoàng Việt Quân tìm mình. Nhớ hôm Lập xuống Vũng Tàu, do Hoàng Việt Quân mời, nhắn mình ra Gành Hào – một nhà hàng nổi tiếng thơ mộng ở Bãi Dâu, mặc dầu Lập đã dặn là anh đừng nói với ai em xuống đây nhé, mệt lắm! Nhưng đang nhậu vui vẻ thì có một fan hâm mộ đặc biệt đến tìm Lập. Đấy là cô Ngọc Mai – Chủ tịch Hội Người tàn tật Bà Rịa – Vũng Tàu. Người lái xe cõng cô Ngọc Mai như cõng em từ cổng nhà hàng cõng vào. Khổ thật! Người ta muốn nhìn xem Nguyễn Quang Lập mặt ngang mũi dọc ra sao mà viết hay thế? Hình như cô Ngọc Mai cũng chẳng có chuyện gì để nói với Lập cả, chỉ nhìn Lập như nhìn một vật thể lạ.
Hôm mình viết xong bài này, mail cho Lập xem thử; lại mail cả thư của chị Phan Chấn ở thư viện đại học Harvard cám ơn tác giả về cuốn sách Ký ức vụn mà mình thay mặt Lập gửi tặng thư viện, mình chỉ nhận được cái mail ngắn ngủn của Lập: Hihi, dạ, em cám ơn anh!
Lê Huy Mậu
Nhà văn Nguyễn Quang Lập
• Sinh năm 1956
• Quê quán: Thị trấn Ba Đồn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
• Những tác phẩm đã xuất bản: Một giờ trước lúc rạng sáng (truyện ngắn, 1986); Tiếng gọi phía mặt trời lặn (tập truyện, 1988); Những mảnh đời đen trắng (tiểu thuyết, 1989); Mười tám truyện ngắn Nguyễn Quang Lập (1997).
• Giải thưởng văn học: Giải thưởng báo Văn Nghệ (1986- 1987); Giải sân khấu 5 năm Bộ Quốc phòng (1985-1990); Giải Hội Nghệ sĩ Sân khấu và Hội Nhà văn Việt Nam năm 1990; và nhiều giải thưởng khác.
Viết vì nợ người, nợ nước
Gặp rồi quen, thành bạn vong niên với anh từ lúc nào tôi chẳng nhớ. Chiến tranh kết thúc, anh chọn Thừa Thiên Huế – miền đất một thời máu lửa – để trú ngụ, dấn thân hành nghiệp viết trả nợ đời. Tháng năm trôi qua, là một câu chuyện dài nhiều mất mát và có những nỗi buồn chát đắng. Vậy mà thấy anh vẫn giữ được nét sôi nổi, hồn hậu, yêu đời, vẻ an nhiên tự tại.
Cuối mùa thu 1959, Nguyễn Quang Hà có giấy báo đỗ đại học nhưng anh không được tựu trường. Lý do vì ông bà nội, ông bà ngoại anh đều thuộc thành phần địa chủ (dù ruộng đất thừa kế, không bóc lột và là địa chủ kháng chiến), còn ông thân sinh ra anh có một thời gian trước Cách mạng đi lính cho Pháp, hàm sĩ quan. Hồi tháng Tám 1945, ông đã vận động lôi kéo cả đội quân mình chỉ huy về theo cách mạng tham gia cướp chính quyền. Sau đó ông được cử làm Phó chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang.
Tuy nhiên, mớ công lênh chiến tích của gia đình, của người cha sớm thức tỉnh cũng không xóa nổi những định kiến nặng nề buổi ấy. Thế là cậu Tú đành xếp bút nghiên xuống thuyền làm “chân sào” chở hàng thuê ngược xuôi nay đây mai đó khắp các dòng sông vùng châu thổ sông Hồng. Anh bảo đời mình tưởng rồi sẽ gắn mãi với nghề phu thuyền lênh đênh khắp nẻo. Nhưng rồi đến một ngày Nguyễn Quang Hà được bố gọi về, vì ông có một người bạn thân đang thời chức sắc nể tình nhận anh vào dạy học ở một huyện xa.
Nguyễn Quang Hà được giao làm giáo viên dạy cấp II mà chưa học qua chương trình sư phạm một ngày nào. Thời đó người tốt nghiệp cấp III như anh còn hiếm lắm. Nhưng Nguyễn Quang Hà cũng chỉ làm thầy dạy được ngót bảy khóa học. Đến đầu năm 1967 anh giã từ bục giảng, cùng 155 giáo viên và giáo sinh trường Sư Phạm tỉnh Hà Bắc lên đường nhập ngũ đi chiến đấu ở chiến trường Thừa Thiên Huế.
Trước khi làm “anh chân sào” cho một thuyền buôn; trước khi thành một anh giáo làng bất đắc dĩ, Nguyễn Quang Hà từng là một sinh viên văn khoa hụt, sẵn năng khiếu văn chương và một tâm hồn đa cảm. Vì thế mà ngay từ những ngày đầu cùng đồng đội chiến đấu trên đất Huế, trải qua những cam go gian khổ, đói khát ác liệt, chứng kiến cảnh đồng bào vì hết lòng bảo vệ các anh mà bị kẻ thù giết hại; những đồng đội sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình không chút từ nan do dự, thì Nguyễn Quang Hà nghĩ ngay đến việc cầm bút. Anh tự nhủ: nhất định phải ghi lại những hành động dũng cảm, tấm lòng kiên trung, đức hy sinh cao cả của đồng bào, đồng chí xứ Huế trong tháng năm rất đỗi hào hùng nhưng cũng vô cùng bi tráng này.
Và, để tưởng nhớ nơi mình sinh ra, anh đã lấy chữ cái đầu địa danh quê hương mình ghép thành bút danh Nguyễn Quang Hà, rồi lặng lẽ cầm bút gửi hồn mình vào những bài thơ, bài báo viết về vùng đất, con người nơi anh đang sống và chiến đấu.
Ở chiến trường Thừa Thiên Huế những năm đánh Mỹ, các chiến binh có mặt trên vùng đất ngùn ngụt bom đạn, khói lửa này dường như ai cũng biết Công Trường 5, một đơn vị vũ trang rất nổi tiếng của Thành đội Huế. Ngày đó vì giữ bí mật nên gọi là “công trường” vậy, chứ phiên ra thì ngang cấp Trung đoàn bộ binh cỡ trên dưới hai nghìn cán bộ, chiến sĩ. Ông Thân Trọng Một là chỉ huy trưởng của đơn vị ấy. Dạo đó ông Một và Công trường 5 không chỉ nổi tiếng đánh giỏi ở Thừa Thiên Huế, mà tiếng tăm còn lừng lẫy cả Mặt trận Trị Thiên. Nguyễn Quang Hà là lính Công Trường 5, là quân của ông Một. Sau mỗi trận đi chiến đấu trở về căn cứ, lúc rảnh anh lại lặng lẽ kiếm vỏ bao thuốc lá, những mảnh giấy khả dĩ cặm cụi làm thơ, viết báo.
Rồi việc Nguyễn Quang Hà đang làm, ông Một biết. Ông bảo: “Hà về làm báo nhé?” Không đắn đo, anh gật đầu trong nỗi mừng vui khôn tả. Anh cảm ơn người thủ trưởng tài danh thao lược đã cho anh một cơ hội “vàng” là được cầm bút. Sau này trở thành nhà văn, năm 2002 Nguyễn Quang Hà đã viết cuốn truyện ký Thân Trọng Một – con người huyền thoại, nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân ấn hành. Đó cũng là một việc anh tri ân với ân nhân của mình.
Nguyễn Quang Hà được điều về làm phóng viên báo Cờ Giải Phóng – Cơ quan tuyên truyền của Mặt trận Thừa Thiên Huế vào năm 1970. Từ đó anh mê mải đi đến khắp nẻo đường mặt trận Thừa Thiên Huế. Khi cùng cán bộ, du kích xuống nằm vùng bám trụ dưới các ấp vùng sâu. Lúc lên rừng thâm nhập vào các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương vừa chiến đấu trở về căn cứ, lấy tài liệu viết bài.
Nguyễn Quang Hà có thơ đăng báo Cờ Giải Phóng vào năm 1968, tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, 1969. Những bài thơ anh viết nóng hổi không khí chiến đấu từ những quan sát trực diện, cảm xúc trào sôi chân thành của người trong cuộc. Những thi khúc hồn nhiên chân thực xúc động ấy được anh viết ngay dưới chiến hào, trong hầm chốt, đã làm lay động lòng người trong cuộc đã đành, mà cả những người ở hậu phương.
Đầu mùa hè năm 1974, Nguyễn Quang Hà bị thương lần thứ năm. Vết thương không nặng. Nhưng đã sáu bảy năm trời anh lăn lộn ở chiến trường, sức khỏe đã hao kiệt trầm trọng vì vết thương và sốt rét. Nguyễn Quang Hà được cấp trên cho ra Bắc điều dưỡng. Trong thời gian trên đất Bắc, anh tham dự lớp bồi dưỡng viết văn ở Quảng Bá của Hội Nhà văn Việt Nam, anh được hai bậc cao niên uy tín trong làng văn nước Việt là nhà văn Đoàn Giỏi, và nhà thơ Xuân Diệu trực tiếp kèm cặp. Thật là một cơ hội hiếm hoi được gần gũi các bậc thầy văn chương. Nguyễn Quang Hà tranh thủ đưa những bản thảo viết ở chiến trường cho hai thầy thẩm định. Sau khi đọc những bài thơ của Nguyễn Quang Hà, nhà thơ Xuân Diệu bảo: “Thơ của cậu in được, đủ một tập rồi đấy, cho in ngay đi.” Vui sướng nữa là tên tập thơ Tiếng gà trên điểm chốt đầu tay này của anh cũng là do nhà thơ Xuân Diệu đặt cho. Tập thơ do nhà xuất bản Giải Phóng ấn hành năm 1974. Rồi một hôm nhà văn Đoàn Giỏi rủ Nguyễn Quang Hà: “Cậu thử viết văn xuôi xem.” Vài ngày sau anh đưa cho nhà văn Đoàn Giỏi truyện ký viết về một đơn vị bộ binh Quân Giải phóng bám trụ giữ đất ở vùng tranh chấp khốc liệt hồi sau Mậu Thân. Đọc xong truyện ký đó, nhà văn Đoàn Giỏi bảo Nguyễn Quang Hà: “Chất của cậu là chất văn xuôi, không phải thơ.” Đến lượt nhà thơ Xuân Diệu cũng bảo anh: “Thơ của cậu Hà cũng là thơ văn xuôi.” Hai bậc thầy thơ văn không ai bảo ai mà đều phán, cũng có ý khuyên Nguyễn Quang Hà nên chọn đúng khả năng của mình. Từ đó Nguyễn Quang Hà dành nhiều thời gian, trí lực cho sáng tác văn xuôi. Còn với thơ, anh chỉ làm mỗi khi không thể lạnh lùng trước những đòi hỏi của cảm xúc.
Sau hơn bốn mươi năm mê mải đi, mê mải viết, đến nay Nguyễn Quang Hà đã cho xuất bản nhiều đầu sách, gồm hai tập thơ, mười tập truyện ngắn và ký sự, mười lăm tiểu thuyết. Nhưng anh bảo anh hiện vẫn còn cả ngàn trang bản thảo chưa đưa nhà in. Hầu hết những tác phẩm của Nguyễn Quang Hà đều viết về chiến tranh, viết về miền đất và con người xứ Huế – nơi anh đã sống, chiến đấu thời tuổi trẻ và bây giờ Huế đã là quê hương thứ hai của anh.
Cuối thế kỷ trước, Nguyễn Quang Hà từng có mười sáu mười bảy năm làm biên tập viên. Rồi thêm ba bốn năm đảm trách chức Tổng biên tập tạp chí Sông Hương. Công việc bù đầu, không biết anh kiếm đâu ra thời gian, sức lực mà viết được nhiều tác phẩm đến vậy. Mà Nguyễn Quang Hà đâu chỉ có viết văn, làm thơ, anh còn viết nhiều bài bút ký ca ngợi đất trời quê hương tổ quốc, viết nhiều thiên phóng sự đấu tranh với những ngang trái cuộc đời, bất công xã hội, được dư luận quan tâm và đánh giá cao phẩm chất, bản lĩnh của người cầm bút dám nói thẳng nói thật.
Hôm gặp Nguyễn Quang Hà ở Đồ Sơn, tôi bày tỏ sự thán phục sức làm việc bền dai quên mình của anh dành cho cuộc đời, cho văn chương. Nguyễn Quang Hà cười tóa lóa, bộc bạch rằng: “Nào có đáng gì đâu mà. Mình viết văn, làm thơ, viết báo mấy chục năm nay về đề tài chiến tranh, về thời hậu chiến vì mình là người trong cuộc nên muốn ghi lại cho lớp con cháu sau này biết thế nào là chiến tranh và hệ lụy của nó mà thôi. Mình dốc sức vào đề tài bấy nay cũng là để góp một ít tư liệu, dữ kiện, nói cách khác là ‘một mớ quặng thô’ mong cho những tài năng văn chương sau này có thể lựa chọn được cái gì đó sáng tạo, nó viết thay mình thôi cậu ạ.”
Tôi hiểu, anh không hề phách lối, cao đạo hay khiêm tốn giả vờ, mà lời nói ấy buột ra từ suy nghĩ và tấm lòng rất thành thật của anh. Nhưng tôi biết Nguyễn Quang Hà đã nhiều lần nhận giải thưởng của các cấp địa phương trao cho những tác phẩm tiêu biểu của anh. Tác phẩm gần đây nhất là tiểu thuyết Vùng lõm đã được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải Nhì trong cuộc thi Tiểu thuyết vào mùa đông năm 2010.
Nguyễn Quang Hà là người không chỉ có tấm lòng với văn chương, với cuộc đời như chúng ta đã biết, anh còn lặng lẽ làm nhiều việc tín nghĩa với những người còn sống hay đã chết quanh mình. Với người vợ cũ đã chia tay, anh đón chị cùng đứa con riêng của chị vào Huế sinh sống cho quần tụ với các con anh. Trong khuôn viên ngôi nhà không mấy rộng rãi bên bờ sông An Cựu, nơi Nguyễn Quang Hà đang sống, anh dành ra một diện tích đủ dựng một tượng đài nho nhỏ để tưởng vọng 139 liệt sĩ đại đội Ngô Gia Tự là đồng đội của anh hy sinh trên đất Huế thời đánh Mỹ. Hơn bốn mươi năm trước, 155 giáo viên, giáo sinh miền Kinh Bắc buông bút nghiên lại quê nhà đi chiến đấu, nay chỉ còn 16 người sống sót. Nguyễn Quang Hà là một trong số 16 người may mắn đó nên anh không thể đành lòng an hưởng, lặng thinh trước những người đã khuất.
Nguyễn Quang Hà năm nay tuổi đã cận thất tuần. Thương tích chiến tranh, thương tích mấy lần phẫu thuật căn bệnh đại tràng quái ác. Cái chết luôn rình rập nhưng anh chưa một ngày bỏ viết. Năm nào anh cũng dự một vài trại sáng tác văn chương các ngành, hội, trung ương, địa phương mời. Nghĩa là cái sự viết, hay nói đúng hơn, với anh, là nghiệp viết như đã mặc định vào anh không thể khác. Chị Võ Thị Quỳnh – người bạn đời của anh, cũng là đồng nghiệp (chị Quỳnh hiện là một giáo viên văn chương, một họa sĩ), kể rằng: “Mỗi lần sau khi rong ruổi khắp các miền đất nước trở về nhà sống bên vợ con, hằng sớm hay mỗi chiều, Nguyễn Quang Hà lại ra thắp nhang cúi đầu đứng lặng trước tượng đài các liệt sĩ đại đội Ngô Gia Tự, miệng thì thầm gì đó với cõi cao xanh tịnh vắng. Rồi Nguyễn Quang Hà trở vào nhà ngồi nơi bàn viết bắt đầu một cuộc hành xác mới. Nguyễn Quang Hà lại viết. Viết như là sự sống của anh.
Vũ Quốc Văn
Nhà văn Nguyễn Quang Hà
• Tên thật: Nguyễn Mạnh Tràng
• Sinh năm 1941
• Quê quán: Xã Quang Châu, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang
• Nhập ngũ năm 1967-1977. Chiến đấu và công tác ở Thừa Thiên Huế, thời chống Mỹ. Năm 1975 bị thương, ra Bắc, học lớp bồi dưỡng viết văn của Hội Nhà văn Việt Nam tại Quảng Bá, Hà Nội. Chuẩn bị giải phóng miền Nam thì trở lại chiến trường.
• Tác phẩm chính đã xuất bản: Tiếng gà trên điểm chốt (thơ, 1976); Bạn bè một thuở (truyện ngắn, 1984); Thời tôi mặc áo lính (tiểu thuyết, 1990); Sông dài như kiếm (tiểu thuyết, 2002); Thân Trọng Một – con người huyền thoại (truyện ký, 2003); Tiếng thở dài của đất (tiểu thuyết, 2006); Vùng lõm (tiểu thuyết 2009)...
• Giải thưởng văn học: Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (2003), giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết lần thứ III Hội Nhà văn Việt Nam 2010.
Nỗi buồn sau ánh hào quang
Trần Đăng Khoa trong suy nghĩ của tôi là một nhà thơ đặc biệt. Chưa thấy bao giờ trong lịch sử nước ta, một đứa trẻ tám tuổi lại có thơ hay đến thế. Và càng lạ lùng hơn, gần như chỉ trong ba năm với hai tập thơ Từ góc sân nhà em, Góc sân và khoảng trời, Trần Đăng Khoa đã làm nên một sự nghiệp với cả trăm bài thơ mà nghệ thuật thơ từ chỗ còn non nớt trở thành điêu luyện. Trong ba năm đầu đời thơ của Trần Đăng Khoa đã hình thành một ngôn ngữ thơ, một hệ thống hình tượng và bút pháp riêng cùng rất nhiều khoảnh khắc lóe sáng xuất thần. Trần Đăng Khoa có biệt tài trong liên tưởng, trong sự phác dựng chỉ bằng những nét chấm phá làm lộ ra cái thần của sự vật, và đáng nói là anh đã dựng nên một thế giới nhân vật gồm những cây cối, trăng hoa, núi sông và những con vật đồng thoại trở thành bạn thân thiết với trẻ em.
Trần Đăng Khoa tâm sự: “Khi bà ngoại tôi mất, mẹ tôi xé chiếc khăn tang thành hàng trăm mảnh nhỏ: Con hãy đeo tang cho cây cối đi, không nó héo lụi mất. Bà mất rồi. Con thấy cây cối nó có buồn không? Thế là tôi ra vườn, lụi cụi đeo tang cho cây trầu, cây cau, cây na... Cả khu vườn tôi trắng xóa màu tang. Trong mắt tôi cây cối, trâu bò, gà lợn, chó mèo cũng có niềm vui, nỗi buồn như những con người. Tình cảm ấy tôi tiếp nhận được từ mẹ”. Mẹ anh chính là người đầu tiên đã ảnh hưởng đến anh, đã đọc cho anh nghe những câu ca dao, tục ngữ mà sau này trở thành căn cốt trong tư duy sáng tạo của anh, biến anh thành nhà thơ tiêu biểu cho tâm hồn Việt thuần nhã, trong trẻo, hồn nhiên, đơn sơ mà tinh tế.
Một buổi chiều mùa thu năm 2000, trong căn phòng chung cư cũ của anh ở phố Lý Nam Đế, tôi đến tặng anh cuốn tiểu thuyết đầu tay của tôi Màu xanh ký ức. Anh đọc qua những trang viết về thời học trò trong sáng rồi bỗng dưng buồn lặng, anh nói: “Anh không có tuổi trẻ chú ạ. Hồi ấy anh rất khổ...” Sao lúc này tôi bỗng thấy anh già đến thế. Già một cách khủng khiếp. Lúc ấy đâu còn thấy cái vẻ hồn nhiên dí dỏm hơn đời của anh. Đối với tôi, và hẳn là với rất nhiều người, Trần Đăng Khoa đầy vinh quang, cái ánh hào quang do niềm ngưỡng mộ lớn lao từ hàng triệu độc giả choàng lên anh từ khi mới vào lớp một.
“Hồi ấy có nhiều người đã không tin anh chú ạ...” Anh bắt đầu kể. Họ không tin nổi một đứa bé quần áo nhếch nhác, lũn cũn đến lớp, lúc nào cũng dây mực xanh mực tím, ăn khoai ăn cháo, nằm trong những cái nong ngắm sao trời và chơi với những con giun con dế kia lại có thể làm được những bài thơ hay đến thế. Thậm chí có người còn nghi ngờ chính ông anh trai của Trần Đăng Khoa là nhà thơ Trần Nhuận Minh đã gà bài cho em (dù lúc ấy ông anh trai công tác và ở tận Quảng Ninh). Thế rồi nhiều người đã lục tục từ khắp các tỉnh kéo nhau về để xem mặt cậu bé Trần Đăng Khoa cho thỏa sự hiếu kỳ, nhiều người khác thì yêu cầu Trần Đăng Khoa làm thơ trước mặt họ để họ xem và khẳng định tài thơ của Trần Đăng Khoa có thật hay không. Một số người khác nữa, trong đó có ông Hồ Thiện Ngôn đã lặn lội về ở tại nhà Trần Đăng Khoa cả tháng trời để ra các tiêu đề thử tài Trần Đăng Khoa. Trước khi về, ông còn viết thư cho nhà thơ Trần Nhuận Minh yêu cầu nhà thơ không được về nhà trong những ngày ông đang thử tài cậu Khoa. Ông Hồ Thiện Ngôn bảo ông làm như thế là để báo cáo lên nhà thơ Tố Hữu (lúc đó là người phụ trách tuyên huấn). Thế là cậu Trần Đăng Khoa cứ phải gồng mình lên, phải làm hàng trăm bài thơ ứng tác để cho mọi người tin tài thơ của mình là có thật. Khi mọi người đã tin, danh tiếng của Trần Đăng Khoa vang lừng trong cả nước, còn vượt ra cả nước ngoài thì có người lại đồn ầm lên rằng thằng Khoa kiêu ngạo, nó có bác sĩ riêng, không phải ai đến nó cũng tiếp... Vì thế, cũng có người hiểu nhầm trách móc. Và thậm chí, có lần người ta còn đồn rằng Trần Đăng Khoa đã chết. Một bác ở Lạng Sơn nghe tin đó đã viết và gửi những bài thơ về nhà cho bố mẹ Trần Đăng Khoa để khóc một tài năng mệnh yểu...
Ở trường thì từ nhỏ Trần Đăng Khoa không được đối xử như một học trò bình thường. Các thầy cô luôn coi Khoa như bạn, như người lớn. Cậu nói, viết hay làm gì cũng luôn bị các thầy cô xem xét một cách đặc biệt. Một người khôn trước tuổi như Trần Đăng Khoa ngày càng bị những áp lực nhiều khi tưởng chừng như quá sức... Mãi sau này anh vẫn tiếc mình đã không có một tuổi thơ bình lặng, hồn nhiên và thoải mái như mọi người.
Trong nghiệp văn thơ, Trần Đăng Khoa chịu ba sự ảnh hưởng lớn: nguồn văn học dân gian của mẹ, những kiến thức về văn học hiện đại trong tủ sách của anh trai Trần Nhuận Minh, và một người thầy lớn hết sức nghiêm khắc là nhà thơ Xuân Diệu. Xuân Diệu đã nhiều lần về nhà Trần Đăng Khoa ở xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Ông chăm lo tài năng của Trần Đăng Khoa, uốn nắn cái mầm non tài năng ấy và giới thiệu thơ Trần Đăng Khoa cho bạn đọc cả nước.
Trần Đăng Khoa đã được sinh ra ở một đất nước yêu văn chương và trong một thời đại hoàng kim của thi ca. Cuối những năm sáu mươi, đầu những năm bảy mươi của thế kỷ trước, các nhà thơ chiếm một vị trí hàng đầu trong thang giá trị của người Việt. Mỗi một câu thơ, bài thơ hay ra đời liền được đón nhận với tấm lòng trân trọng của đông đảo bạn đọc. Và nhà thơ sống trong hào quang rực rỡ ấy đã được kích thích sáng tạo rất nhiều. Nhưng tài năng của Trần Đăng Khoa đến sớm và chỉ sau khoảng dăm năm anh gặp phải những khó khăn gay gắt trong sáng tạo. Khi đã vượt qua tuổi lên mười, Trần Đăng Khoa không thể viết theo lối cũ được nữa, những biến đổi trong tâm lý và những yêu cầu mới đối với một tài năng đã làm anh phải trăn trở. Trần Đăng Khoa bắt đầu viết trường ca, và làm những bài thơ bớt hồn nhiên, dần mang đậm suy tư, sâu lắng dần. Anh dần thoát khỏi cái hoàn thiện trẻ thơ và bắt đầu hình thành một giọng điệu mới. Nếu không phải là một tài năng lớn, Trần Đăng Khoa không thể vượt qua bước ngoặt hiểm nghèo này. Cuối cùng thì Trần Đăng Khoa cũng thành công khi anh lột xác thành cái giọng điệu tâm tình qua những bài thơ thuở bước chân vào lính và dấn thân trên những chiến trường ác liệt ở biên giới Tây Nam, hay sống cùng với lính đảo tận Trường Sa sóng gió. Thơ Trần Đăng Khoa dần lấy lại sự hồn nhiên và độc đáo trong hình tượng, trong giọng điệu ở tuổi hai mươi. Tập thơ Bên cửa sổ máy bay là một đỉnh cao mới trong sáng tác của anh.
Đầu thập niên chín mươi của thế kỷ trước, sau những năm lăn lộn trong quân ngũ, trải qua những chiến trường nóng bỏng, những địa danh khắc nghiệt, và kết thúc những năm học tập ở Viện Gorki tại Liên bang Nga, Trần Đăng Khoa đã trở thành một người trải từng và uyên bác. Thơ Trần Đăng Khoa lúc này mang nhiều suy ngẫm về kiếp người, về vinh quang và đau đớn, về sự mất còn trên thế gian đầy đổi thay, tráo trở. Không còn hồn nhiên như xưa, nhưng anh vẫn luôn giữ được giọng chân tình, giản dị, những ý tứ sâu xa và sự xuất thần. Làm sao có thể nói thơ Trần Đăng Khoa lúc này không hay? Chỉ có điều anh làm thơ ít hơn trước nhiều và càng ngày càng ít dần đi.
Trần Đăng Khoa chia sẻ: “Từ năm 1984 anh đã nói, mà chính ông N.I.Niculin đã ghi lại đấy, anh nói rằng, thơ suy tàn trên toàn cầu. Thơ sẽ chỉ còn thu hẹp lại trong một số ít người. Nhưng thơ không chết đâu nhé. Thơ vẫn sống, với một đời sống khác và sức ảnh hưởng của nó cũng giới hạn hơn.” Trong cuộc sống nhiều thay đổi, đổ vỡ cả từng mảng giá trị và lý tưởng, cả những hệ thống chính trị đã tồn tại trong hàng chục quốc gia khiến con người phải nhận thức lại nhiều điều.
Trần Đăng Khoa bảo thơ bây giờ chỉ còn là một phần trong sáng tác của anh. Trần Đăng Khoa viết tiểu thuyết, viết truyện ngắn, viết phê bình, chân dung văn học và nhiều thể loại khác. Vẫn với một giọng điệu riêng không lẫn, những câu chữ xuất thần, cái duyên văn ma lực, Trần Đăng Khoa lại chinh phục không ít người. Những Chân dung và đối thoại, Đảo Chìm, Người thường gặp... để lại nhiều tiếng vang trong làng văn khoảng hơn mười năm trở lại đây.
Trần Đăng Khoa thường rất bận rộn. Hàng ngày có bao nhiêu người ngưỡng mộ muốn xin gặp anh, có bao nhiêu việc ngoài kế hoạch xen vào khiến anh phải giải quyết. Có cả những việc tế nhị mà anh không dễ chối từ. Những ngày rời Ban Văn Nghệ của Đài Tiếng nói Việt Nam để sang xây dựng kênh phát thanh có hình VOVTV, nhiều hôm anh phải ở lại cơ quan đến khuya, thậm chí ngủ lại. Trong giai đoạn đầu, tất cả còn ngổn ngang, Trần Đăng Khoa ngồi bệt xuống sàn nhà để chỉ đạo anh em làm việc, mồ hôi lấm tấm trên áo anh. Những lúc ấy tôi thấy anh thực vất vả, cực nhọc như một thợ cày. Và cũng thấy anh nhiệt thành, hết lòng với công việc chung biết bao.
Những lần làm việc với Trần Đăng Khoa tôi thấy anh chẳng bao giờ sai hẹn. Những điều đã hứa thì dù bận mấy anh cũng làm. Có lúc không làm được thì anh gọi điện giải thích rõ lý do. Trần Đăng Khoa không hề đãng trí như có người vẫn nghĩ. Anh có trí nhớ lạ lùng. Có khi sau mười năm anh ngồi hỏi thăm tôi về một người bạn cũ mà tôi đã đưa đến thăm anh chỉ một lần duy nhất. Lúc bình lặng trông anh có phần cô đơn. Anh phàn nàn, bạn bè ít người hiểu mình. Có những người thân thiết hẳn hoi, khi viết bài đã dựng những chi tiết hoàn toàn xa lạ với con người thực của anh. Đối diện với chính mình, anh thường nặng trĩu suy tư. Nhà thơ như anh sao có thể làm ngơ với những cảnh đời đau đớn, những nghịch lý của số phận con người và nhiễu nhương của thế cuộc.
Có lúc Trần Đăng Khoa cũng muốn đi lang thang đây đó, làm những gì mình thích mà không bị ai chú ý. Nhưng anh đi đến đâu là có người nhận ra ngay. Có muốn giấu mình cũng không được. Anh bảo: “Hạnh phúc là lẫn vào số đông.”
Tôi hỏi anh, liệu thơ có trở lại thời hoàng kim? Trần Đăng Khoa nói thơ sẽ lại khẳng định vai trò của nó sau một thời suy thoái. Anh nói thêm, anh không thích lối viết cầu kỳ, rắc rối. Thơ cần dễ hiểu, dễ đi vào lòng người, để lại những ám ảnh trong nội tâm.
Một lần Trần Đăng Khoa tự nhận mình đã già và “không đắc đạo”. Có thể đó là lối nói khiêm tốn, cũng có thể đó là ý nghĩ chân thành của chính anh về bản thân mình. Và những gì chúng ta biết về Trần Đăng Khoa hôm nay chỉ mới là một phần, anh vẫn còn có thể làm nên những điều bất ngờ dậy sóng trong làng văn.
Thiên Sơn
Nhà thơ Trần Đăng Khoa
• Sinh ngày 24 tháng 4 năm 1958
• Quê quán: làng Trực Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
• Hoạt động: Từ nhỏ, ông đã được nhiều người cho là thần đồng thơ văn; 8 tuổi, đã có thơ được đăng báo; được biết đến nhiều với câu chuyện: khi mới hơn 10 tuổi đã đề nghị đổi câu thơ Đường ta đi rộng thênh thang tám thước thành Đường ta rộng thênh thang ta bước trong bài thơ Ta đi tới của nhà thơ nổi tiếng thời bấy giờ là Tố Hữu. Năm 1968, khi mới 10 tuổi, tập thơ đầu tiên của ông Từ góc sân nhà em được nhà xuất bản Kim Đồng xuất bản. Trần Đăng Khoa nhập ngũ năm 1975 khi đang học lớp 10/10 tại trường phổ thông cấp 3 Nam Sách. Sau ông được bổ sung về quân chủng hải quân. Sau đó ông theo học Trường Viết văn Nguyễn Du và được cử sang học tại Viện Văn học Thế giới M.Gorki thuộc Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Nga. Khi trở về nước ông làm biên tập viên Văn Nghệ Quân Đội. Từ tháng 6 năm 2004, khi đã mang quân hàm thượng tá Quân đội nhân dân Việt Nam, ông chuyển sang công tác tại Đài tiếng nói Việt Nam, giữ chức Phó Trưởng Ban Văn học nghệ thuật, sau đó là Trưởng Ban Văn học nghệ thuật Đài Tiếng nói Việt Nam. Năm 2008, khi Đài tiếng nói Việt Nam thành lập hệ phát thanh có hình VOVTV, ông được phân công làm Giám đốc đầu tiên của hệ này.
• Tác phẩm: Từ góc sân nhà em (thơ), Góc sân và khoảng trời (thơ), Thơ Trần Đăng Khoa (tập 1), Khúc hát người anh hùng (trường ca), Trừng phạt (trường ca), Giông bão (trường ca), Bên cửa sổ máy bay (thơ), Thơ Trần Đăng Khoa (tập 2). Văn xuôi: Chân dung và đối thoại, Người thường gặp, Đảo chìm...
• Giải thưởng: Ba lần giải nhất thơ báo Thiếu Niên Tiền Phong(1968, 1969, 1971), giải A cuộc thi thơ báo Văn Nghệ (1981-1982), giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt 1, năm 2001.
Nhiều tác giả
Theo https://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  hê bình văn học của tác giả trẻ Vũ Thị Trang ở Hà Nội Vũ Thị Trang còn có bút danh Trang Vũ, Mộc Miên, sinh trưởng ở Hải Dương, hiện sốn...