Một thế kỷ thơ trào phúng Việt Nam
Bước qua thế kỷ XXI, nhìn lại văn học trào phúng thế kỷ
XX vẫn là điều cần thiết và cũng là yêu cầu chính đáng. Tiếng cười của thế kỷ
đó tồn tại được là do sự xuất hiện của những cây bút trào phúng sáng giá. Thử hỏi,
họ đã cười những gì trong thời đại mà họ đang sống?
Trước hết, “kính lão đắc thọ”, xin được mở đầu bằng nhà thơ
Nguyễn Khuyến (1835-1909), quê ở Nam Định. Ông xứng đáng là bậc “tiên chỉ” trên
vuông chiếu của nền văn học trào phúng thế kỷ XX. Tiếng cười của ông thâm trầm
và kín đáo. Tưởng là cười cợt, bông lơn nhưng ẩn sau từng dòng chữ là những giọt
nước mắt đau đời. Khi đất nước mất vào tay giặc Pháp, nhân cách lớn của Nguyễn
Khuyến là không cộng tác với chúng, lấy cớ mắt lòa.
Nhà thơ Nguyễn Khuyến (1835-1909)Có lần, ông được mời vào trình diện công sứ Hà Nam, thực chất
là để hắn kiểm tra thái độ chính trị. Cũng khăn áo chỉnh tề bước vào dinh, thay
vì chào hắn, ông hướng vào mấy cây cột vái mấy cái rồi nói: “Lạy cụ lớn ạ!”. Mọi
người bật cười. Ông xin lỗi mắt lòa, không trông thấy gì rõ cả. Viên công sứ giận
tím người, nhưng làm sao bắt bẻ được.
Khi chứng kiến Hội Tây được tổ chức hằng năm trên đất nước ta
thuở ấy – nhằm mừng ngày cách mạng Pháp (14.7.1789) ông chỉ thấy: “Bà quan tênh
nghếch xem bơi trải/ Thằng bé lom khom ghé hát chèo/ Cậy sức cây đu nhiều chị
nhún/ Tham tiền cột mỡ lắm anh leo” (Hội Tây).
Những câu thơ trào lộng này khiến ai đọc cũng ngậm ngùi, cũng
tủi nhục, cũng đớn đau khi nhìn lại một giai đoạn bi đát của lịch sử nước nhà.
Phải thấm nỗi đau, nỗi nhục ấy, Nguyễn Khuyến mới có thể hạ những câu như từng
đường gươm sắc bén.
Nhà thơ Tú Xương (1870-1907) là người đời truyền tụng: “Kìa
ai chín suối Xương không nát/ Có lẽ nghìn thu tiếng vẫn còn”. Lời tiên đoán ấy
không sai. Tú Xương nổi tiếng đến độ, người ta cho rằng đất Nam Định có hai đặc
sản: “Đọc thơ Xương, ăn chuối ngự”.
Tú Xương đã để lại một bản lĩnh thơ, một sự nghiệp văn học để
tạo nên cốt cách trào phúng và trữ tình – sau này, nhiều người cũng bắt đầu sự
nghiệp văn học bằng chữ “Tú” của Tú Xương. Có lẽ, ông là người có nhiều “môn đệ”
nhất: Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Tú Quỳ (Phan Quỳ), Tú Xơn (Tout seul: chỉ có một
mình – Phan Khôi), Tú Nạc, Tú Sụn, Tú Trọc, Tú Da… rồi Tú Kếu (Trần Đức Uyển),
Tú Lơ Khơ (Nguyễn Nhật Ánh), Tú Hợi (Lê Minh Quốc)…
Tiếng cười của Tú Xương sâu cay, phản ánh rõ nét những nhố
nhăng của cái xã hội buổi giao thời Pháp-Việt. Chẳng hạn, đây là cảnh lễ xướng
danh của khoa thi năm 1897: “Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ/ Ậm ọe quan trường miệng
thét loa/ Cờ kéo rợp trời quan sứ đến/ Váy lê quét đất mụ đầm ra/ Nhân tài đất
Bắc nào ai đó/ Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà”. Nghe mà ứa nước mắt.Nhà thơ Tú Xương (1870-1907)Trong số các “môn đệ” của Tú Xương, người nối danh không hổ
danh thầy là Tú Mỡ (1900-1976). Tiếng cười độc đáo của ông là biết kế thừa cái
hay của các sư phụ đi trước và từ ca dao, tục ngữ. Điều làm nên tên tuổi Tú Mỡ
là ông đã cười rất ác vào cái ông nghị… gật mà trước và sau ông chưa có ai vượt
qua nổi! Ông đã vẽ những bức chân dung bằng thơ với đường nét tiêu biểu nhất,
không lẫn lộn với ai khác.
Chẳng hạn, đây là một đoạn trong cảnh khuếch trương của các
ông nghị trước khi ra bầu cử, ta thấy có giọng châm biếm hài hước của Tú Xương:
“Lẳng lặng mà nghe họ diễn thuyết/ Công tâm, công ích, lời tâm huyết/ Phen này
mở hiệu viết văn thuê/ Dẫu chẳng làm giàu cũng đỡ kiết/ Họ quẳng tiền ra để cạnh
tranh/ Nghe đâu mỗi vé một “rồng xanh”/ Phen này có lẽ mưa ra bạc/ Mà nghị viên
ta khỏi phỗng sành” (Bầu cử). “Rồng xanh”: giấy bạc thời Pháp thuộc.
Không rõ, phong thổ của từng vùng đất có ảnh hưởng đến tâm
tính hay không, chứ giáp tỉnh Nam Định ở phía Nam là huyện Lý Nhân (Hà Nam) lại
có nhà thơ trào phúng nổi tiếng Kép Trà (1873-1923), tên thật Hoàng Thụy
Phương, kém Tú Xương 3 tuổi. Hầu như không một quan tham nào ở Hà Nam thoát khỏi
ngọn bút phê phán sắc bén của ông.
Sự kiện đáng kể nhất của Kép Trà là đã công khai tấn công bọn
“áo mão” mị dân trong lễ kỷ niệm thi hào Nguyễn Du, tối ngày 10-8-1924 tại Hội
Khai Trí Tiến Đức (Hà Nội). Bài thơ được truyền tụng nhiều nhất của ông là thuật
lại buổi lễ đó: “Mấy chị đào non cười khúc khích/ Một đoàn mặt trắng huýt lung
tung/ Tiên Điền, cụ hỡi hay chăng tá?/ Giỗ cụ, hương trầm bỗng thối hung” (Hỏi
cụ Tiên Điền).
Phan Điện (1874-1945) là cây cười tiêu biểu của Hà Tĩnh. Giống
như đàn anh Tú Xương, dù ông văn hay chữ tốt, nhưng khoa thi nào cũng… rớt vì
phạm trường quy! Người đầu tiên cười vua bù nhìn Bảo Đại có lẽ là Phan Điện.
Khi nhà vua ra Bắc, đi ngang qua huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh) cùng
với Nam Phương hoàng hậu, quan lại địa phương cho nam thanh nữ tú xếp hàng đầu
rồi giàn hương án để rước đón. Con nít trong làng rủ nhau đi xem “mặt rồng” ầm
ĩ nên làm đổ một bức tường, đè chết mấy trẻ nhỏ.
Trước sự kiện này, Phan Điện có bài thơ sâu cay: “Xiếc vùng Đức
Thọ có vui không?/ Cóc nhái hôm nay được thấy rồng!/ Gái đạo phát tài cười tủm
tỉm/ Trai lương phải tội chạy long đong/ Mề – đay xiết kể ơn hoàng thượng/ Tường
đổ thương thay lũ tiểu đồng/ Đố biết vì ai nên nỗi thế?/ Vì quan sở tại khéo
tâng công!” (Vì ai?).
Đi du lịch miền Trung, đến xứ Huế mộng mơ, chắc hẳn chúng ta
sẽ nhớ đến hai câu thơ viết về Huế thuở nước nhà còn nô lệ: “Núi Ngự không cây
cu ngủ đất/ Sông Hương vắng khách đĩ kêu trời!”.
Đó là thơ của cây bút trào phúng đất Thần kinh: Nguyễn Khoa
Vy (1881-1968), hiệu Thảo Am. Tương truyền, thuở nhỏ, có lần ông lẻn vào Tịnh
tâm hái trộm trái cây, gặp lúc vua Thành Thái và thị vệ đang ngồi chơi. Biết
đây là cậu học trò thuộc dòng khoa bảng Nguyễn Khoa nên nhà vua mới ra đề thử
tài.
Làm thơ xong, vua khen hay và thưởng cho vài chiếc kẹo, Nguyễn
Khoa Vy nhận ngay rồi quay lưng chạy. Lính lệ bắt lại ghép vào tội vô lễ với
Hoàng thượng, Nguyễn Khoa Vy liền đọc bài thơ tạ tội: “Đang nghịch không ngờ lại
gặp vua/ Còng lưng mà chạy rớt càng cua/ Bây giờ lại được vua ban thưởng/ Cảm tạ
đâu nào dám “bonjour”! (Không đề).
Tiếng Pháp xen lẫn vào bài thơ tiếng Việt thật tự nhiên- cũng
là phong cách cười kín đáo, tế nhị của người Huế vậy.
Vượt qua đèo Hải Vân vào Quảng Nam, có lẽ ta nên dừng chân lại
tâm tình với nhà thơ Tú Quỳ (1828-1926). Thơ trào phúng của ông khá nhiều, tựu
trung là đả kích cường hào ác bá và bài trừ mê tín dị đoan…
Chẳng hạn đối với những tên Việt gian, cộng tác với giặc Pháp
thì ông chưởi xéo qua bài thơ Vịnh con bò khá độc đáo: “Vũ trụ không qua đồng cỏ
tốt/ Sơn hà khó sánh miếng ăn no/ Thâm sơn ruộng thẳm dơ lưng cạch/ Cắm cổ lôi
cày mặc kẻ lo”.
Đi dần vào phương Nam, ta ắt gặp Phan Văn Trị (1830-1910)
không chỉ là một nhà thơ bút chiến số một của Nam kỳ, ông còn là cây bút trào
phúng có bản sắc độc đáo. Ông đả kích không khoan nhượng với cái xấu, sự lươn lẹo
của bọn Việt gian ngoi lên bằng con đường nịnh nọt giặc Pháp.
Hát bội là bài thơ tiêu biểu cho phong cách của ông: “Đứa ghẻ
ruồi, đứa lác voi/ Bao nhiêu xiêm áo cũng trơ mòi/ Người trung mặt đỏ đôi tròng
bạc/ Đứa nịnh râu đen mấy sợi còi/ Trên đỉnh có nhà còn lợp lọng/ Dưới chơn
không ngựa lại giơ roi/ Hèn chi chúng nói bội là bạc/ Bôi mặt đánh nhau cú lại
thoi”.
Còn có cả Học Lạc (1842-1915) nữa, tên thật Nguyễn Văn Học.
Dù học giỏi nhưng thi không đậu, lại gặp lúc Pháp thực hiện chế độ giáo dục
Pháp – Việt nên ông không tha thiết gì đến việc tiến thân bằng khoa cử nữa, bỏ
về Mỹ Tho học nghề làm thuốc Bắc kiếm sống. Ngòi bút của ông tấn công không trực
diện bọn hương chức tham nhũng qua các bài thơ vịnh Con tôm, Con trâu, Con chó
chết trôi…
Và đây là một trong những bài thơ tiêu biểu của ông, dù viết
về Ông làng hát bội nhưng ai cũng biết là Học Lạc ám chỉ ai: “Trong bụng trống
trơn, mang cổ giữa/ Trên đầu trọc lóc, bịt khăn ngang/ Vào buồng gọi tổ, châu đầu
lạy/ Ra rạp rằng con, nịt thắt mang”.
Hầu như xuyên suốt thế kỷ XX, ở vùng nào trên đất nước ta
cũng có những cây cười tiêu biểu. Sau năm 1945 cho đến năm 1975 ở ngoài Bắc nổi
lên những cây thơ trào phúng như Xích Điểu, Thợ Rèn, Nguyễn Đình, Sĩ Giang, Lã
Vọng, Búa Đanh, Huyền Thanh, Chính Nghĩa, Búa Tạ, Đặc Công v.v… Tiếng cười của
các cây bút này vẫn nặng về xây dựng lối sống mới và chủ yếu là đánh kẻ
thù xâm lược bằng những thủ pháp sắc sảo, có ấn tượng.
Xin giới thiệu một, hai cây bút tiêu biểu nhất, chẳng hạn, nhà
thơ Xích Điểu (1913-2003), người Hà Nội. Ngòi bút của ông tập trung châm biếm kẻ
thù và phê phán những biểu hiện tiêu cực trong xã hội.
Bài thơ Chống tiêu cực làng ta, ông phê thẳng tay: “Tưởng đâu
thuở trước bọn văn nô/ Rơi rớt thời nay vẫn sót lò/ Anh bảo bút đây vì tập thể/
Thật ra bút bợ cá nhân to/ Bút bic anh xài đỏ đỏ đen/ Tô màu thành tích nỏ cần
xem/ Chỉ cần đối tượng anh tâng bốc/ Luôn nhớ anh bằng những tiếng khen”…
Nhà thơ trào phúng Thợ Rèn, (1923-2008) tự nhận viết trào
phúng để phục vụ nhiệm vụ chính trị kịp thời, phê phán cái xấu trong nội bộ.
Một bài thơ tiêu biểu của Thợ Rèn là Tết Tây: “Chúc trước tết
Tây để tết ta/ Các quan liêm chính bớt ăn quà/ Nể lòng cấp dưới nên khôn nỡ/
Lòng vả lòng sung ta với ta/ Gần tết ngược xuôi khắp mọi miền/ Xe hơi rầm rập
phố Trường Yên/ Thời trân thức thức trên xe ấy/ Biết chở về đâu? Lẽ tất
nhiên!”.
Ngoài ra còn có thể kể thêm các anh tài khác như Bút Châm, Hạt
Tiêu, Ong Mật, Mực Đỏ, Dương Quân, Thiện Chí…
Về các cây bút trào phúng miền Nam (1954-1975), hầu như chưa
có chuyên luận nào đề cập đến. Có thể kể đến Tú Trọc, Hà Thượng Nhân, Cả Tếu,
Ch. Số Zách, Trạng Đớp, Tú Kếu, Cung Văn, Tú Ngang… Thơ trào phúng của họ có
lúc dám cà khịa cả chính quyền Sài Gòn. Và tất nhiên đã thơ trào phúng thì họ
không thể bỏ qua các sự kiện thời sự.
Lướt qua thế kỷ thơ trào phúng của thế kỷ XX dẫu do dung lượng
một bài báo chưa giới thiệu được trọn vẹn nhưng cũng đủ thấy cái kho kiến văn,
cái tầm ngạo nghễ của trí thức nước ta quả thật là rộng lớn vô biên.
5/5/2021Lê Bằng Hữu

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét