Một vài gương mặt thơ nữ
đương đại miền Trung
Ngô Hương Giang
Trong dòng chảy chung của văn
học, thơ nữ có ảnh hưởng không nhỏ tới việc hình thành và phát triển các khuynh
hướng thơ Việt Nam đương đại. Theo đó, việc giới thiệu và phác thảo căn nguyên
hình thành các khuynh hướng thơ là công việc cần làm của các nhà nghiên cứu.
Trong bài viết này, chúng tôi thu hẹp phần nhận định của mình trong lĩnh vực
thơ nữ đương đại khu vực miền Trung, đánh giá bước đầu về các khuynh hướng,
cũng như phong cách thơ tiểu biểu của họ.
Nhìn chung, khuynh hướng chủ đạo trong thơ nữ đương đại miền
Trung đi sâu bộc lộ cái tôi nghệ thuật của mình. Họ lặn sâu vào thế giới kí
hiệu, tìm kiếm khoảng trống cô đơn. Vấn đề thời đại không còn mang tính định
hướng sáng tác cụ thể như trước, họ mở rộng tư duy thơ tới hướng cách tân về
hình thức. Các nữ thi tìm kiếm khoảng không nghệ thuật của mình trong cách biểu
tả ngôn ngữ phóng khoáng, vượt thoát sự quy định của chủ nghĩa đề tài. Cảm hứng
chủ đạo trong thơ họ vẫn là những thao thức về tình yêu, về sự sống, sự cô đơn
của con người. Từ đó, thơ nữ đương đại miền trung xuất hiện hai khuynh hướng
thơ tiêu biểu: Khuynh hướng tìm kiếm cái tôi cô đơn sáng tạo đích thực và
khuynh hướng tìm về văn hoá dân tộc trong dòng chảy thơ hiện đại.
1. Khuynh hướng tìm kiếm cái tôi cô đơn sáng tạo đích thực
1. Khuynh hướng tìm kiếm cái tôi cô đơn sáng tạo đích thực
Khuynh hướng này không phải là điều mới mẻ trong sáng tạo thi
ca, tìm kiếm cái tôi cô đơn sáng tạo như là mạch chính muôn đời của thơ. Nó
xuất phát từ cảm nghiệm về sự vắng vẻ, đơn độc của con người trong cuộc sống.
Do đó, căn bản tư duy nghệ thuật thơ đi ra từ đây. Tuy nhiên, nếu như trước
đây, thi nhân thường tìm kiếm cái tôi cô đơn trong các khuynh hướng thơ ca siêu
thực hay lãng mạn, vùi mình vào những ốc đảo cô đơn của tiềm thức, thì các nữ
thi đương đại miền Trung lại rẽ sang một nhánh độc lập và “con người” hơn. Họ
đi tìm cái tôi cô đơn của mình để cắt nghĩa nguyên nhân những rạn nứt hạnh phúc
trong đời sống, do đó, thơ họ mang giữ âm hưởng hiện thực chứ không có ý niệm
thoát li cuộc sống theo kiểu “ta là một là riêng là thứ nhất”, đó là trường hợp
của Lưu Ly với Bốn
mùa yêu (2005), Gọi em ở cuối thiên đường (2010),
Lữ Thị Mai với Giấc (2010), Đông Hà với Thơ Đá (1999), Người đàn bà che mặt (2010)…
Tất nhiên cái tôi cô đơn, bao giờ cũng vậy, nhà thơ sáng tạo ra trước hết là để
tự nghiệm mình rồi mới đến nghiệm đời. Mình được ý thức như một tiên khởi cô
đơn rồi mới đến cô đơn nhân loại, cô đơn sự sống. Theo tôi làm được điều ấy
cũng là đóng góp lớn.
Sinh năm 1978, Lưu Ly hiện đang là hội viên Hội Văn học nghệ
thuật Thừa Thiên Huế, tác phẩm chính mà chị xuất bản:Bốn mùa yêu (2005), Gọi em ở cuối thiên đường (2011). Lưu Ly đam mê thơ cháy bỏng,
chị làm thơ và có thơ đăng báo khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Thơ chị là bản
tường trình về khát vọng yêu cháy bỏng của người con gái Huế, dường như thể,
tình yêu với người thơ này là đam mê bất tận: Khi
tình yêu dồn lí trí vào tim/ Anh và em bỗng dưng thành ngớ ngẩn/ Người độ lượng
bỏ qua vì tình ái/ Kẻ khắt khe trách: chúng điên cuồng… Vậy mà ta vẫn đến cùng
nhau - không hề toan tính/ mặc những rủa nguyền ta lú lẫn vì Yêu.
Lẽ thường, khi con người trải mình ra với tình yêu, thì cũng chính họ trở thành
nạn nhân của sự cô đơn từ tình yêu ấy, để rồi nhận ra: Hai chúng ta cứ tưởng
mình thành thật/ Không biết vì yêu ta đóng kịch với đời! (Vì yêu). Âu, đó cũng
là phận chung của phía bên kia thơ tình: bi kịch và cô đơn. Dẫu sao, Lưu Ly
cũng tạo được một thương hiệu riêng cho thơ chị ở xứ sở trầm lắng này, từ Bốn mùa yêu tới Gọi
em ở cuối thiên đường là
quá trình người thơ kiếm tìm bản thể đích thực trong mình. Dù đã cố ghìm nén
cái tôi cô đơn thành những kí hiệu thơ da diết, nhưng ý niệm cô đơn trong thơ
chị không sao thoát li khỏi những tiết điệu, tông giọng trầm buồn phía sau
những hình ảnh thơ tưởng chừng “vui là bất tận”.
Tốt nghiệp trường viết văn Nguyễn Du, hiện công tác tại Thời báo Mê Kông,
Lữ Thị Mai có nhiều thơ đăng báo và dự thi khi cô còn là sinh viên. Khởi đầu sự
nghiệp thơ của mình với tập Giấc,
Lữ Thị Mai đã găm vào sự sống hoài niệm vọng sâu từ tiềm thức, gợi dậy những
khắc khoải mỏng manh của kiếp đời bằng tình yêu và đam mê sống có ý nghĩa.
Thường thì, thi nhân đến với thơ không chỉ là cái duyên e lệ với vọng âm chiều
sâu con chữ, họ đến với thơ còn như mong muốn diễn giải về mình, diễn giải về
cuộc đời. Nhưng thật khó có thi nhân nào diễn giải về cuộc đời mà lại không
bước qua giây phút diễn giải về mình. Họ chọn tình yêu như là cách gần nhất để
cuộc đời và cái tôi nghệ sĩ sáp nhập như một nguyên cớ nhưng cũng là nguyên
nhân để thơ thăng hoa và người làm thơ tìm được khoái cảm nghệ thuật. Thơ Mai
đã gieo lên cuộc đời này bằng những ám ảnh về sự sống: …làm sao để đặt một cái tên lạ/
cho cánh đồng lạ,/ cho loài hoa lạ/ con bướm nâu rủ phấn bạc nỗi niềm (Giấc),
một ám ảnh - kiến tạo. Làm thơ thì tất nhiên nhà thơ nào cũng phải ám ảnh về
một hiện tượng nào đó, dù ít hay nhiều vì ám ảnh là tiền đề của suy niệm, triết
lí nhưng ám ảnh-kiến tạo thì lại là mặt khuất của thơ không dễ gì cắt nghĩa hay
giải thích thành văn bản. Mai đã găm ám ảnh của mình trước sự sống trong hình
hài những con chữ gầy guộc, sắc nhọn, nhấn vào khoảng không chới với tâm thức
con người những xúc cảm đa dạng: nơi
đây, kí ức dòng trôi tự đào huyệt chôn mình/ lòng cát sâu lặn nụ cười thản
nhiên của sóng,
để rồi nhận ra những gương mặt cuộc đời đang bị thời gian làm méo mó, xô lệch con sông đổi dòng nước
mắt/ từng mặt người trôi/ dọc dài tiêu điều bãi giữa (Ngày của sông Hồng). Ngoài thiên tính
thơ, tôi nghĩ Mai cũng là một người phu chữ thận trọng. Ngôn từ thơ của chị
triết lý mà như không triết lý, suy niệm mà tưởng như không suy niệm, sâu sắc
mà giản dị.
Những sự vật hiện tượng bình thường khi đi vào thơ Mai dường như lột xác trở thành sinh thể biết cắt nghĩa về cuộc đời, để rồi từ những cắt nghĩa ấy, chị đã thu vào tiềm thức rung cảm nghệ thuật: giấc ngủ theo về những lá khô/ gió cứ thổi và cây sa ngã/ có người nằm nghiêng không dám trở mình/ sợ chết chìm bởi muôn vàn lời hứa (Nằm mộng). Một chiếc lá thu, một cơn gió thổi, một chút trở mình, đơn giản vậy thôi nhưng phía sâu thẳm của những kí hiệu giản đơn ấy lại là đôi mắt đỏ hoe đang nhìn chằm chằm vào những gương mặt ẩn hiện xa xăm đâu đó, không phải để phê phán mà để tự mình “cô đơn” với cuộc đời: ngàn lá khô bay/ rất nhiều phong thư mặc nhiên bùng cháy/ người nằm nghiêng không lời kêu cứu/ chỉ một cánh chuồn tiễn biệt bão giông (Nằm mộng).
Những sự vật hiện tượng bình thường khi đi vào thơ Mai dường như lột xác trở thành sinh thể biết cắt nghĩa về cuộc đời, để rồi từ những cắt nghĩa ấy, chị đã thu vào tiềm thức rung cảm nghệ thuật: giấc ngủ theo về những lá khô/ gió cứ thổi và cây sa ngã/ có người nằm nghiêng không dám trở mình/ sợ chết chìm bởi muôn vàn lời hứa (Nằm mộng). Một chiếc lá thu, một cơn gió thổi, một chút trở mình, đơn giản vậy thôi nhưng phía sâu thẳm của những kí hiệu giản đơn ấy lại là đôi mắt đỏ hoe đang nhìn chằm chằm vào những gương mặt ẩn hiện xa xăm đâu đó, không phải để phê phán mà để tự mình “cô đơn” với cuộc đời: ngàn lá khô bay/ rất nhiều phong thư mặc nhiên bùng cháy/ người nằm nghiêng không lời kêu cứu/ chỉ một cánh chuồn tiễn biệt bão giông (Nằm mộng).
Cũng hướng cái tôi của đời thơ vào sâu thẳm tiềm thức, nhưng thơ
Đông Hà lại là diện mạo khác của cô đơn nghệ sĩ. Chị tìm đến khoảng trống của
mình nhưng là để cắt nghĩa nguyên do cho sự cô đơn hiện hữu. Tất nhiên, cái lí
để sự sống được cắt nghĩa nằm trong chính khắc khoải về cuộc đời của người thơ.
Nhưng có mấy ai khắc khoải về đời thơ, nếu không trải qua giây phút khắc khoải
về nghi vấn trong mình. Đông Hà đi ngược quy luật ấy, chị không xem cái gì đến
với mình là linh cảm định mệnh như Nguyễn Thị Anh Đào, mà xem Rồi như thể cái
đi là định mệnh. Sáng tạo thơ, thực ra là nhà thơ đang sáng tạo lại cuộc đời
bằng ý niệm. Kinh nghiệm sống, kinh nghiệm mỹ cảm của mỗi nhà thơ quy định cách
thế xây dựng cuộc sống trong thế giới nghệ thuật của họ. Tại sao Đông Hà xem
“cái đi là định mệnh”? Có lẽ quan niệm này xuất phát từ chính hiện thực cuộc
sống của chị. Là cô giáo tại Quốc học Huế, Đông Hà làm thơ từ rất sớm, tác phẩm
chính: Thơ đá (1999), Người đàn bà che mặt (2010)… Thơ Đông Hà triết lí về số
phận, là bản văn về định mệnh. Chị sáng tác thơ bằng ý niệm hơn là bằng hiện
thực được cắt nghĩa. Từ ý niệm cho mình tới ý niệm cho đời, từ ý niệm tình yêu
đến ý niệm sự sống, cái chết. Với chị, cuộc đời là một trò chơi và thơ chị là ý
niệm sự sống trong trò chơi số phận ấy. Chị đã gỡ gạc cuộc đời bằng giọt nước
mắt thơ như để kéo lại định mệnh sống, kéo lại khoảng không đơn độc của mình
khi về đêm, khi sương ướt mặt người, khi đã
buồn một chuyến hơn sương khói/ đã thả ra về một trái tim… (Giờ thì
đã muộn). Với sự mẫn cảm cần thiết của một nhà thơ, Đông Hà đã khóc cuộc đời
bằng ký ức và ảo ảnh do mình dựng lên như một nguyên cớ để đến gần hơn với sự
sống: Nên, thôi được, ta thua người trận cuối/ thua cả tay môi mắt lẫn nụ cười/
thua hết thảy ngươi bằng lòng thì nói/ duy giọt nước mắt này... có thắng nổi ta
không? (Trận cuối). Chịu nhận mình là người thua cuộc trước định mệnh ám vào cá
thể như một duyên số, Đông Hà hướng đến cuộc đời bằng sự dè dặt như ám ảnh sẽ
làm tổn thương cuộc đời khi mở mình ra trước hiện thực. Phải chăng sự rụt rè ấy
đã phơi bày quan niệm cái- cho- đi mới là định mệnh ở thơ chị? Điều này hơi lí
tính hoá, nhưng nó lại đúng với thi nhân và đúng với ý nghĩa hiện sinh của con
người. Cho đi có nghĩa là chịu ràng buộc vào trách nhiệm với ta và với người.
2. Khuynh hướng tìm về văn hoá dân tộc trong dòng chảy thơ hiện đại
2. Khuynh hướng tìm về văn hoá dân tộc trong dòng chảy thơ hiện đại
Một vấn đề đặt ra với thơ nữ đương đại miền Trung là: có hay
không một hệ hình ý thức nữ quyền trong thơ? Ý thức về nữ quyền trong thơ, nói
đơn giản là ý thức về mình như một sự sống có ý nghĩa. Và vì, sống có ý nghĩa
nên cá nhân nữ thi xem sự phơi bày khát vọng sống, khát vọng yêu thành những
cơn “bạo động chữ” những đợt “xô đẩy kí hiệu” trong cảm nghiệm thơ. Thơ nữ miền
Trung, nếu đứng ở ý thức nữ quyền để lí giải, thì nó chưa thực sự trở thành
phong cách lưu giữ dấu ấn riêng như một số gương mặt thơ nữ miền Bắc hoặc khu
vực Tây Nguyên (Lê Vi Thủy, Hồng Thủy Tiên, Ngô Thị Thanh Vân…). Âu, sự rụt rè
ấy cũng là do nếp văn hoá vùng miền quy định thiên tính nữ trong thơ họ. Cái
thật thà, chất phác, dịu dàng trong phẩm tính người phụ nữ miền Trung đã hạn
chế ý thức chủ động tìm kiếm khát vọng sống riêng biệt. Nhưng điều ấy không có
nghĩa, ý thức về mình trong người thơ của họ bị quy giản về độ không chiều sâu
văn hoá, ở mặt khuất nào đó, thơ họ đang dự cảm sự phá cách triệt để vào một
ngày không xa. Vì căn nguyên đó, cho nên, trong dòng chảy riêng của thơ nữ miền
Trung đã xuất hiện khuynh hướng tìm về văn hoá Việt Nam ẩn dưới hình thức thơ
hiện đại, có thể kể đến, Nguyễn Thị Anh Đào với Ngày không trở lại,
Ngô Thị Thục Trang với Hạt
yêu thương, Viết
cho tình đầu, Viết cho thời mãi xa, yêu…
Giống như Lưu Ly, Đông Hà, Nguyễn Thị Anh Đào cũng tìm kiếm cái tôi bản thể cô đơn của mình trong thơ, nhưng với chị, tìm về cô đơn là để Nhốt nỗi buồn lại để ngưng niềm vui lên khuôn mặt. Sinh năm 1979, là hội viên Hội Văn học nghệ thuật Đà Nẵng, đã xuất bản tập thơ: Ngày không trở lại (2007), thơ Nguyễn Thị Anh Đào là sự trỗi dậy của cái tôi cô đơn, xem cuộc đời là một định mệnh và cô đơn thi sĩ là mặt khuất của định mệnh ấy: Ừ thôi em ngủ/ bên những cánh đồng mục ruỗng, ẩm thấp/ ừ thôi em tạ từ/ mùa yêu không còn mong đợi/ con đường trơn và dốc/ con đường không bàn chân bước qua/ con đường không ngả rẽ.../ Đêm huyền tịch/ nước sóng sánh bờ mi/ ngực òa vỡ/ những giọt đắng cuối cùng/ bỏng rát... (Huyễn hoặc). Cũng là mở mình ra trước hiện thực nghiệt ngã nhiều gai góc, nhưng Anh Đào đã chọn lối viết khắc kỷ với chàng thơ. Vui là vui gượng vậy thôi! Thơ chị dù viết trong xúc cảm nào thì vẫn hắt lên phong cách riêng biệt, một phong cách thơ truyền thống - hiện đại, thiên về hoài niệm, một “nỗi buồn xanh” khỏa lấp những khoảng trống ký ức. Thơ Anh Đào mang hơi thở tình yêu sự sống, khao khát yêu, nhưng lại sợ tình yêu mỏng manh bị màn đêm cô đơn của bốn bức tường chiếm chỗ trong sự lạnh lẽo mình đối mặt với mình: không đến được cuối con đường/ cùng anh/ khi bóng chiều rạn vỡ/ sao em cần hơi ấm/ đôi khi chỉ thoáng một nụ cười? (Chiều nay sông khóc). Tuy cảm xúc bao trùm thơ chị thấm đẫm một nỗi buồn khó cắt nghĩa, nhưng trong sâu thẳm thức nhận của tôi, tôi chợt nhận ra có một ngọn lửa vẫn âm ỉ cháy trong lồng ngực của nàng thơ, một mầm non đang nhú trên mảnh đất tâm hồn hàng ngày phải lặn sâu vào hiện thực và suy niệm về bản chất của nó… đúng như chị từng tâm sự: Linh cảm với tôi là một định mệnh.
Thơ cũng thế. Khi bạn đọc thơ tôi, nghĩa là bạn đã trải qua những con sóng nhẹ của tâm hồn tôi – Những định mệnh ràng buộc mà không thể lý giải đơn thuần bằng lời nói –Tôi lặng lẽ sáng tác và lặng lẽ chiêm nghiệm. Trở lại với trạng thái bình yên, đôi khi tâm hồn tôi lại tự ngân lên nhiều đợt sóng. Tôi luôn công bằng với chính mình và tác phẩm. Cách thẩm thấu cuối cùng là khi một tác phẩm ra đời, hãy thả nổi để tác phẩm tự tồn tại. Nhà thơ không nên gò mình vào một khuôn mẫu có sẵn nào cả…
Giống như Lưu Ly, Đông Hà, Nguyễn Thị Anh Đào cũng tìm kiếm cái tôi bản thể cô đơn của mình trong thơ, nhưng với chị, tìm về cô đơn là để Nhốt nỗi buồn lại để ngưng niềm vui lên khuôn mặt. Sinh năm 1979, là hội viên Hội Văn học nghệ thuật Đà Nẵng, đã xuất bản tập thơ: Ngày không trở lại (2007), thơ Nguyễn Thị Anh Đào là sự trỗi dậy của cái tôi cô đơn, xem cuộc đời là một định mệnh và cô đơn thi sĩ là mặt khuất của định mệnh ấy: Ừ thôi em ngủ/ bên những cánh đồng mục ruỗng, ẩm thấp/ ừ thôi em tạ từ/ mùa yêu không còn mong đợi/ con đường trơn và dốc/ con đường không bàn chân bước qua/ con đường không ngả rẽ.../ Đêm huyền tịch/ nước sóng sánh bờ mi/ ngực òa vỡ/ những giọt đắng cuối cùng/ bỏng rát... (Huyễn hoặc). Cũng là mở mình ra trước hiện thực nghiệt ngã nhiều gai góc, nhưng Anh Đào đã chọn lối viết khắc kỷ với chàng thơ. Vui là vui gượng vậy thôi! Thơ chị dù viết trong xúc cảm nào thì vẫn hắt lên phong cách riêng biệt, một phong cách thơ truyền thống - hiện đại, thiên về hoài niệm, một “nỗi buồn xanh” khỏa lấp những khoảng trống ký ức. Thơ Anh Đào mang hơi thở tình yêu sự sống, khao khát yêu, nhưng lại sợ tình yêu mỏng manh bị màn đêm cô đơn của bốn bức tường chiếm chỗ trong sự lạnh lẽo mình đối mặt với mình: không đến được cuối con đường/ cùng anh/ khi bóng chiều rạn vỡ/ sao em cần hơi ấm/ đôi khi chỉ thoáng một nụ cười? (Chiều nay sông khóc). Tuy cảm xúc bao trùm thơ chị thấm đẫm một nỗi buồn khó cắt nghĩa, nhưng trong sâu thẳm thức nhận của tôi, tôi chợt nhận ra có một ngọn lửa vẫn âm ỉ cháy trong lồng ngực của nàng thơ, một mầm non đang nhú trên mảnh đất tâm hồn hàng ngày phải lặn sâu vào hiện thực và suy niệm về bản chất của nó… đúng như chị từng tâm sự: Linh cảm với tôi là một định mệnh.
Thơ cũng thế. Khi bạn đọc thơ tôi, nghĩa là bạn đã trải qua những con sóng nhẹ của tâm hồn tôi – Những định mệnh ràng buộc mà không thể lý giải đơn thuần bằng lời nói –Tôi lặng lẽ sáng tác và lặng lẽ chiêm nghiệm. Trở lại với trạng thái bình yên, đôi khi tâm hồn tôi lại tự ngân lên nhiều đợt sóng. Tôi luôn công bằng với chính mình và tác phẩm. Cách thẩm thấu cuối cùng là khi một tác phẩm ra đời, hãy thả nổi để tác phẩm tự tồn tại. Nhà thơ không nên gò mình vào một khuôn mẫu có sẵn nào cả…
Vốn là người đam mê làm thơ từ nhỏ, từng đạt giải trong cuộc thi
thơ Bút hoa của tạp
chí Tài hoa trẻ năm
2005, Ngô Thị Thục Trang đã chọn lối đi cho thơ của mình bằng những chuyến hành
hương về nguồn với kí ức. Thơ chị không lên gân khi diễn tả cảm xúc, hay vùi
mình vào những lối viết tân thời. Thục Trang chọn lối biểu cảm ngôn ngữ dễ
hiểu, nhưng không kém tinh tế trong hình ảnh. Chị đã xoay ngược kim đồng hồ của
thực tại, uốn những vần thơ đỏng đảnh của lối thơ tân thời để hành hương về quá
khứ, khôi phục những tượng đài ký ức bị thời gian làm cho biến đổi: Sao bỗng những hoàng hôn thèm
quay quắt một dáng trâu/ lững thững triền đồi hoa dại/ những tinh mơ không
tiếng gà vang gáy/ con chơ vơ trong ngôi nhà hộp ngột hơi người/ Sao bỗng bàn
chân thèm lội bùn mùa đông/ tóc bỗng thèm thoảng hương bồ kết/ thèm lăn ngủ
đống rơm mùa gặt/ thèm lối xoan tim tím nắng đầu xuân (Nguồn). Do đó, thơ chị
ít mơ màng như thơ siêu thực, tượng trưng, thiếu vắng dòng phiêu lưu của thơ
tân - hình thức, lại chẳng phải là chút bẽn lẽn, lơ đãng để hồn thơ bay theo
những đám mây vẩn vơ hay ánh trăng mơ màng của lối viết lãng mạn; thơ chị thực
như những gì chị kể:
Những cái gì trong quá khứ không thể quên/ Em gọi tên nó là kỷ niệm/ Những lúc nhớ nghe lòng xao xuyến/ Nghe bâng khuâng một nỗi gì không thể gọi thành tên (Kỷ niệm). Những hình ảnh, những biểu tượng, dù đã được chị cố tình biến đổi theo các trạng huống huyền thoại văn bản, nhưng điều ấy chưa đủ để nó lưu lạc và tách khỏi ký ức mà chị mơ về trong thế giới nghệ thuật do mình dựng lên: Hạnh phúc là gì người có biết không?/ Buổi tan trường cùng đạp xe dưới những giàn hoa giấy/ Lần giận nhau người nhìn tôi ngúng nguẩy/Cướp hồn tôi từ độ ấy học trò/Thế là cuối cùng bến hẹn thành bến mơ/ Hoa gạo rưng rưng cháy chưa hết thời thiếu nữ/ Tôi làm con chim đa đa hát câu: “Người ơi còn nhớ?”/ Tôi làm/ con chim đa đa hát câu: Hữu duyên vô nợ (Viết cho tình đầu). Giữa lúc thơ Việt đang bộn bề và lạm phát về cách thức diễn giải, thì Thục Trang lại chọn lối kể chuyện lồng dưới hình thức thơ tự do như một phản ứng, đồng thời cũng là để khẳng định cái tôi của mình trong thế giới thơ hỗn loạn ấy. Điều này đã giúp cho Trang có một “dòng riêng giữa nguồn chung” nhưng cũng là thách thức với đường thơ của chị, vì, với lối tự sự - thơ, bên cạnh khả năng diễn giải chân thực xúc cảm, thì việc tạo cho mình chỗ đứng trong hình thức biểu đạt cũng là vấn đề cần đặt ra. Chị muốn khẳng định mình thì phải chinh phục bạn đọc không chỉ chiều sâu tâm thức mà còn là quá trình hiện đại hóa ngôn ngữ biểu đạt. Giá trị thơ chỉ có được khi nó dung hòa giữa nội dung và hình thức, giữa tâm thức sáng tạo và văn bản - biểu tượng. Tôi tin là Thục Trang sẽ làm được điều ấy trong một tương lai không xa.
Những cái gì trong quá khứ không thể quên/ Em gọi tên nó là kỷ niệm/ Những lúc nhớ nghe lòng xao xuyến/ Nghe bâng khuâng một nỗi gì không thể gọi thành tên (Kỷ niệm). Những hình ảnh, những biểu tượng, dù đã được chị cố tình biến đổi theo các trạng huống huyền thoại văn bản, nhưng điều ấy chưa đủ để nó lưu lạc và tách khỏi ký ức mà chị mơ về trong thế giới nghệ thuật do mình dựng lên: Hạnh phúc là gì người có biết không?/ Buổi tan trường cùng đạp xe dưới những giàn hoa giấy/ Lần giận nhau người nhìn tôi ngúng nguẩy/Cướp hồn tôi từ độ ấy học trò/Thế là cuối cùng bến hẹn thành bến mơ/ Hoa gạo rưng rưng cháy chưa hết thời thiếu nữ/ Tôi làm con chim đa đa hát câu: “Người ơi còn nhớ?”/ Tôi làm/ con chim đa đa hát câu: Hữu duyên vô nợ (Viết cho tình đầu). Giữa lúc thơ Việt đang bộn bề và lạm phát về cách thức diễn giải, thì Thục Trang lại chọn lối kể chuyện lồng dưới hình thức thơ tự do như một phản ứng, đồng thời cũng là để khẳng định cái tôi của mình trong thế giới thơ hỗn loạn ấy. Điều này đã giúp cho Trang có một “dòng riêng giữa nguồn chung” nhưng cũng là thách thức với đường thơ của chị, vì, với lối tự sự - thơ, bên cạnh khả năng diễn giải chân thực xúc cảm, thì việc tạo cho mình chỗ đứng trong hình thức biểu đạt cũng là vấn đề cần đặt ra. Chị muốn khẳng định mình thì phải chinh phục bạn đọc không chỉ chiều sâu tâm thức mà còn là quá trình hiện đại hóa ngôn ngữ biểu đạt. Giá trị thơ chỉ có được khi nó dung hòa giữa nội dung và hình thức, giữa tâm thức sáng tạo và văn bản - biểu tượng. Tôi tin là Thục Trang sẽ làm được điều ấy trong một tương lai không xa.
Khi
văn bản này khép lại bằng những biểu hiệu thô ráp của ngôn ngữ, thì các nữ thi
miền Trung vẫn hàng ngày phải trăn trở với thơ để làm đẹp cho đời. Dù biết
rằng, văn bản này chỉ là vài dòng liệt kê phong cách sơ sài, chưa đủ bao quát
thơ các chị cũng như các nữ sĩ khác, nhưng với những gì đã đề cập, tôi tin rằng
những gương mặt thơ tiêu biểu trên sẽ làm được cuộc chuyển mình mạnh mẽ của
dòng thơ nữ miền Trung trong dòng chảy của thơ nữ Việt Nam đương đại






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét