Nhà văn Đặng Thai Mai chọn câu “Kiều” hay nhất
Hè
1958, vì là trợ lý của giáo sư Đặng Thai Mai tại Khoa Văn chung của hai trường
Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Tổng hợp Hà Nội, tôi được giao nhiệm vụ tháp
tùng “ông cụ” đi nghỉ mát ở Sầm Sơn (Thanh Hóa). Trong thời gian sống cạnh Thầy,
qua những chuyện đàm đạo tôi học được nhiều điều bổ ích, quý báu. Hôm đó, trong
không khí thầy trò thân mật như cha con, tôi hỏi thầy:
- Dạ! theo thầy, trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, câu
thơ nào hay nhất? Ông cụ nhếch mép cười – vẫn cái cười hóm nhẹ, đôn hậu, thâm
thúy rất Đặng Thai Mai – trả lời ngay:
-
Câu ấy, chứ còn câu nào.
-
Dạ câu nào ạ?
-
Câu Nguyễn Du tả cơ thể Thúy Kiều:
Rõ
ràng trong ngọc trắng ngà,
Tôi hỏi:
Dạ! đây là thầy nói với em giữa bãi biển Sầm Sơn lộng gió ban chiều, chứ về giảng
đường đại học, thầy có nói như vậy không ạ, với mọi người sinh viên? Thầy tôi
đã nghiêm mặt lại, nói với một giọng cương quyết có pha chút gay gắt: sao lại
không? Tôi hơi sợ và không dám thả giọng bông lơn gì thêm. Câu chuyện đó xảy ra
cách đây 34 năm. Và sau đó, trong quan hệ thầy trò đã bao phen gần gũi, cho đến
ngày thầy qua đời, tôi cũng không bao giờ trở lại trò chuyện với thầy về hai
câu thơ Kiều hay nhất này nữa. Nhưng trong lòng thì vẫn vương vấn, vẫn nhiều lần
suy nghĩ về cách chọn của người thầy, nhà văn, vị học giả- mà trí thức Việt
Nam, dù theo chính kiến nào cũng kính nể này.
Hẳn là
từ lâu, đến với Truyện Kiều, người Việt Nam vẫn có thú chơi, thi nhau chọn và
giải thích câu Kiều nào hay nhất (chứ không phải hay duy nhất). Và dĩ nhiên là
đã có nhiều cách chọn. Không ít người đã chọn 2 câu:
Dưới
câu nước chảy trong veo
Bên cầu
tơ liễu bóng chiều thướt tha.
Hai
câu thơ này hay là ở giá trị tâm lý đi đôi với giá trị tạo cảnh và tạo hình là
để tạo tình. Nguyễn Du viết hai câu thơ này là nhằm gói lại cái chuyện Kim Kiều
vừa gặp nhau buổi đầu đã chớm nở một mối tình trong sáng tuyệt trần. Có điều,
đây đang là “tình trong”, chưa phải “tình ngoài”: “Tình trong như đã mặt ngoài
còn e” đó mà nói ra là Kim Kiều đã yêu nhau thì quả là tồ, chẳng tế nhị gì.
Nguyễn Du thiên tài – mà ở ông, trước hết là có một khả năng vào bậc thánh
trong việc nhận thức và phản ánh tâm lý con người trong sáng tạo nghệ thuật, sẽ
không bao giờ, dù là một lần, sa vào sự thô thiển đó. Ông đã gói chuyện lại bằng
hai câu thơ tả cảnh mà riêng hình thức tả cảnh này đã là một sự thích ứng không
thể nào hơn với trạng thái “tình trong” kia. Nguyễn Du đã lấy cái kín, để nói
cái kín, nhưng đâu phải kín bưng, kín mít để không ai hiểu ra chuyện gì trong
đó nữa? Với Nguyễn Du, trong trường hợp này, kín mà vẫn hở. Thế mới thành chuyện.
Trong hai câu thơ tả cảnh này, cái độ “trong veo” của giòng “nước chảy” dưới cầu
kia là gì? Những cành liễu bên cầu có lá dài, mềm như tơ rủ xuống, bóng liễu
ban chiều ngả dài hòa quyện với giòng nước “trong veo” xuôi chảy, chập chờn
“thướt tha” và không đứt kia là gì? Từ đâu ra ? Nếu không phải là từ cái “tình
trong như đã mặt ngoài còn e” trong sáng tuyệt trần đó.
Nói
hai câu Kiều này là hay nhất, rất đúng. Nhưng không ít người còn chọn hai câu
này:
Đau đớn
thay phận đàn bà,
Hai
câu thơ thật là đơn giản. Tưởng như ai cũng làm được.Ấy nhưng hoàn toàn không.
Phụ nữ, đàn bà Việt Nam khổ, tự đời nảo đời nào, nhưng văn chương Việt Nam trước
Nguyễn Du đã nói gi được nỗi “đau đớn” đó? – Có. Văn học dân gian đã nói nhiều,
nhưng thiếu độ khái quát. Riêng văn học viết, văn học bác học thì đến trước thời
Nguyễn Du một ít và cùng thời Nguyễn Du mới cất tiếng được, nhưng cũng
chưa ai nói đến độ là quy luật là “lời chung” , là cái “phận” đàn bà “đau đớn
thay” này. Mà Nguyễn Du đâu chỉ nói về cái “bạc mệnh” của cái phận đàn bà Việt
Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Mộng Liên Đường chẳng đã nhận xét rất
đúng: Nguyễn Du có con mắt trông thấu sáu cõi, có tấm lòng nghĩ tới muôn đời”
đó sao. Trên trái đất này, ở đâu và lúc nào, với quá khứ đã đành, còn với hiện
tại và tương lai, chả lẽ tiếng kêu xé lòng của Nguyễn Du trong hai câu thơ này
đã thôi không cần thiết? Nói hai câu Kiều này là hay nhất, cũng rất đúng.
Nhưng
hãy trở lại với hai câu Kiều mà học giả Đặng Thai Mai đã chọn. Phải nói ngay,
đây là một hình tượng khỏa thân không có trong Kim Vân Kiều Truyện của Thanh
Tâm tài nhân – Trung Quốc và là độc nhất vô nhị trong lịch sử văn chương Trung đại
Việt Nam. Đến hôm nay, dù văn chương Việt Nam đã bắt đầu không né tránh cái thứ
của “cấm” ấy nữa nhưng tôi vẫn có thể tin chắc mà nói rằng: chưa một ái xứng
đáng là học trò của Nguyễn Du trong chuyện này. Con người trong đó bao gồm hai
giống đực và cái, là một thực thể tự nhiên trước khi là một thực thể xã hội và
vẫn là thực thể tự nhiên trong khi đã trở thành thực thể xã hội. Trong muôn vàn
thực thể tự nhiên, con người là thực thể đẹp nhất, vô song. Đó là chân lý tuyệt
đối. Nhưng nhân loại không phải ở đâu lúc nào cũng dễ phát hiện được chân lý
đó, kể cả hôm nay. Không tính đến tín ngưỡng thờ Linga, thờ sinh thực khí có mặt
từ thời cổ tại một số nước, thì có thể nói là phương Tây đặc biệt là thời đại
Phục hưng, đã đi trước nhân loại trong việc phát hiện, nhận thức chân lý này.
Chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng ở phương Tây, từ chỗ thoát ra khỏi tư tưởng
thần quyền của thời trung cổ cho rằng chúa sáng tạo ra muôn loài (trong đó có
loài người) đã đi đến ý tưởng cao đẹp: Con người trước hết là con người tự nhiên,
con người chưa cần mặc quần áo-là trung tâm của vũ trụ. Một hệ thống quan điểm
triết học mang tính nhân văn cao đẹp đã được hình thành, phát triển từ ý tưởng
cốt lõi đó. Một thời đại văn minh huy hoàng thông qua vai trò sáng tạo của nhiều
thiên tài “khổng lồ”của thời đại Phục hưng trên các lĩnh vực văn hóa, khoa học,
nghệ thuật…là sản phẩm thực tiễn của nền triết học nhân văn vĩ đại đó. Nói
riêng , trong nghệ thuật (đặc biệt là điêu khắc, hội họa), nghệ thuật khỏa thân
phát triển và đã để lại nhiều thành tựu kiệt xuất có giá trị vĩnh hằng đối với
nhân loại, cũng là nhờ có sự phát hiện chân lý trên về con người tự nhiên. Cũng
cần nói thêm, ở đây không chỉ có sự cao cả, sự thăng hoa, mà còn có sự đê hèn,
thú vật. Tất nhiên, đã là đê hèn, thú vật thì chẳng còn gì là nghệ thuật mặc dù
vẫn có từ nghệ thuật kiêu dâm, đáng phỉ nhổ.
Ở Việt
Nam ta, trong suốt thời trung đại, với hoàn cảnh chế độ phong kiến, nông nghiệp
lạc hậu, với sự chi phối nặng nề của đạo Nho, kể cả đạo Phật, con người tự
nhiên (cũng như con người cá thể: L’ individu), theo quan niệm nhân văn cao đẹp
như trên, có thể nói là chưa được phát hiện. Ít ra, trong phạm vi văn học là
như vậy. Dù đã có một truyện cổ tích Chử Đồng Tử trong đó có cuộc gặp gỡ kỳ thú
của hai con người tự nhiên, một đực một cái, Chử Đồng Tử và Tiên Dung mà thực
ra chưa được hình tượng hóa. Dù đã có một bài thơ “Thiếu nữ ngủ ngày” của bà
chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương, thật là táo bạo nhưng vẫn dừng lại ở mức độ hớ
hênh, vô ý, vừa đủ khêu gợi sự thèm thuồng của các bậc “quân tử” đạo đức giả mà
thôi. Tất cả, có lẽ chỉ có thế. Cho nên mới nói Nguyễn Du là người tạo ra bức
tranh khỏa thân phụ nữ độc nhất vô nhị trong lịch sử văn học thời trung đại ở
Việt Nam. Nhưng điều quan trọng đáng nói hơn là Nguyễn Du đã vẽ lên hình tượng
khỏa thân đó với tất cả sự trong sáng tuyệt vời mà quan niệm nhân văn cao cả,
đòi hỏi. Nhìn vào thủ pháp văn chương của Nguyễn Du sẽ thấy rõ điều đó. Nếu
với hai câu “Dưới cầu nước chảy trong veo; Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt
tha”, Nguyễn Du đã dùng thủ pháp kín nhưng hở , thì ở hai câu thơ vẽ tranh khỏa
thân nàng Kiều này ông làm ngược lại, hở nhưng kín. Ông nói “Rõ ràng trong ngọc
trắng ngà; Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên”, nghĩa là cơ thể nàng đẹp tuyệt
trần, đẹp đến mê người như thế nhưng nào nó là cái gì cụ thể đố ai biết. Nguyễn
Du nói “rõ ràng” mà chẳng rõ ràng gì. Hai chữ “rõ ràng” của Nguyễn Du cứ như là
một sự đánh lừa người đọc, nhưng là sự đánh lừa hóm hỉnh, dễ thương, mà xét cho
cùng chính là chuyện ông tự giữ cho mình mà cũng là giữ cho người đọc, ở sự
trong sáng của tâm hồn. Khi đến với bức tượng khỏa thân này, người đọc cứ tha hồ
mà tưởng tượng, tự hình dung, tự chiêm ngưỡng. Thế là đủ. Không nên khác nữa.
Và đến đây thì có thể nói thêm thế này được chăng? Tung ra một bức tượng khỏa
thân của Thúy Kiều như trên vừa nói, quả là Nguyễn Du như ném một trái bom
nguyên tử vào thành trì ý thức hệ phong kiến vốn là kiên cố trong lịch sử Việt
Nam thời trung đại (mà đâu chỉ Việt Nam). Nếu đúng vậy thì cách chọn hai câu Kiều
của sư phụ tôi: nhà văn-học giả Đặng Thai Mai, không chỉ là đúng mà còn là cao
siêu. Xin được nhắc lại: đây là chuyện đã xảy ra vào mùa hè 1958, cách đây 34
năm mà mọi người biết, bấy giờ trên sách báo Mác xít, trong các giảng đường đại
học tại Hà Nội, cũng như ngoài xã hội, người ta quan niệm như thế nào về cái thứ
“của cấm” này. Tôi chỉ tiếc là hôm nay sư phụ (thầy cũng như cha) của tôi đã
không còn nữa ở thế giới này để lại chỉ bảo, chấm bài viết này cho tôi như thuở
nào, vẫn chấm bài, vẫn chỉ bảo lúc tôi là học trò, là trợ lý của thầy. Tôi xin
bù lại sự mất mát đó bằng cách nhờ bạn đọc xét, thẩm định cho vây.



.jpg)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét