Sáng tạo nghệ thuật và tiềm thức
Có sự có mặt của tiềm
thức như một thực tế không đồng nhất với ý thức - được coi là tầng sâu, tầng
nền của ý thức. Trong ngôn ngữ học các nhà khoa học đang nghiên cứu rất nhiều
về ngôn ngữ bên trong - tức cái có trước - khi nó chưa hiện ra thành ngôn ngữ
của một khái niệm, một biểu đạt.
Tư duy cảm xúc có
nhiều bậc, tư duy lô-gic cũng có nhiều bậc. Bậc cuối cùng của tư duy hình tượng
là biểu tượng - và bậc đầu tiên của tư duy lô-gic là khái niệm.
Tư duy hình tượng
|
Tư duy lô-gic
|
Cảm giác – cảm xúc –
hiện tượng – biểu tượng cụm biểu tượng tạo ra mệnh đề tiền ngôn ngữ
|
Khái niệm – mệnh đề…
|
Biểu tượng là kết quả
của thị giác. Trước khi được gọi tên ra, được trừu tượng hóa thành khái niệm -
tức có được hình thức biểu đạt bằng ngôn ngữ từ các kết quả tri giác thế giới
của con người, nó được biểu đạt bằng xung lực trực giác ngũ quan mà mức cao
nhất là biểu tượng thị giác. Bậc thông dịch cuối cùng dẫn đến khái niệm là hình
ảnh thị giác. Ngược lại khái niệm được dịch ra hình tượng đầu tiên ở bậc biểu
tượng thị giác. Giấc mơ phần nào chính là sự thông dịch, chiếu rọi ngôn ngữ lên
bình diện thị giác thành các hình ảnh.
Không phải tư duy hình
tượng là thuộc tầng tiềm thức. Tư duy nói chung là ở tầng ý thức. Song giữa tư
duy lô-gic và tư duy hình tượng có một khoảng cách: tư duy hình tượng gắn liền
hơn; có nhiều dây tơ ràng buộc nó với tầng tiềm thức. Mất ý thức trước hết là
mất khả năng tư duy lô-gic. Vậy mà bất cứ ai sáng tác đều cảm thấy rằng tư duy
lô-gic chỉ là cái bóng mờ ám ảnh họ khi sáng tác. Còn hình như sự lãng quên tư
duy lô-gic - quên sự lý giải, lùi xa cái bóng kia đi thì họ sẽ được bay nhảy
hơn - mọi cái họ làm ra thực sự là “mới” là “chưa có bao giờ” và đều xuất hiện
một cách bất ngờ, “ngẫu nhiên” không có quy luật, không có lô-gic nào dẫn dắt
cả. Họ đổ lỗi hay tính công cho cái gọi là óc tưởng tượng phong phú. Và
không ai tưởng tượng một cách lô-gic cả. Chỉ khi kết quả của tưởng tượng đã
hiển hiện ra rồi - người ta mới lý giải nó một cách ít nhiều lô-gic. Những
người thích bí hiểm hóa sáng tạo nghệ thuật lại phủ nhận tính lô-gic. Hoàn toàn
trông chờ vào thiên khai, vào phút nhập thần huyền bí và viện tới sự can thiệp
của một lực lượng siêu nhiên, thần thánh nào đó. Song nếu kết quả của tưởng
tượng phong phú có thể phân tích lý giải được một cách lô-gic - và quá trình
sinh ra nó cũng có thể suy đoán một cách lô-gic - Sau khi nó đã sinh ra - còn
trước đó thì tuyệt nhiên không, thì rõ ràng tư duy lô-gic không mâu thuẫn
mà còn gắn bó với óc tưởng tượng bằng những đường liên lạc phức tạp.
Hình tượng phát nguồn
từ cảm xúc trực quan. Mà cảm xúc trực quan có cơ chế sinh lý học cụ thể làm cơ
sở. Không có cơ sở này không có cảm xúc trực quan. Mặn, nhạt, chua, cay, xanh,
đỏ, tối, sáng, thơm, khẳn, nhẵn, xốp... đều do ta nếm, ngửi, nhìn, sờ mó mà
biết được. Không làm những động tác - đó ta không có những cảm giác trên. Tuy
nhiên thế nào là mặn, thế nào là nhạt, là xanh, là đỏ, là thơm, là khẳn thì lại
là chuyện khác. Cái đó không gắn chặt với cảm xúc trực quan, không đồng nhất
với cảm xúc trực quan. Có những cái vô hình khác can thiệp tạo ra cái “thế nào”
này. Do vậy hình tượng không gắn liền với da thịt với cảm xúc dù nó được sinh
ra từ đó.
Ta rẽ sang một đường
khác và trở lại vấn đề tiềm thức. Người ta thường lấy giấc mơ để tìm hiểu tiềm
thức. Giấc mơ là tầng biểu hiện có thể tri giác được cái mà ta gọi là tiềm
thức. Giấc mơ là một tập hợp các hình ảnh thị giác - hỗn độn - không có quy
luật - khi giải thích lô-gic (mặc dù những giấc mơ rất lô-gic nhưng khi đó
chúng là những giấc mơ nông cạn - căn bản tái hiện những việc cụ thể mà ban
ngày ta đã trải qua). Trong giấc mơ xuất hiện những hình ảnh không phải là sự
tái tạo những cái ta đã thấy, đã biết từ xa xưa bị lãng quên nay được nhớ lại. Nếu
người từ khi là tế bào đến khi trưởng thành lặp lại toàn bộ quá trình sinh học
của loài vật thượng đẳng nhất – thì tâm lý người ta cũng lặp lại toàn bộ tâm lý
của loài người song hành với quá trình sinh học kia. Trong khi đó trí
nhớ, ý thức của ta chỉ có thể thả dây xuống tới những năm thứ 3, 4 của đời
mình, tức vào cái tuổi con người tập nói, tập đi - để trở thành người. Còn
quãng thời gian ấu thơ dài đặc trước đó - tính không phải bằng 3, 4 năm mà bằng
hàng vạn năm thì ta không thể nào ý thức nổi, không thể nào nhớ lại nổi. Tiềm
thức, giấc mơ giúp ta thả dây gầu xuống sâu hơn nữa. Người ta hay so sánh tâm
lý nguyên thủy với tâm lý trẻ em - điều đó chứng minh rằng trẻ em từng lặp lại
quá trình phát triển tâm lý của loài người - bất chấp hoàn cảnh cụ thể mà nó
được hưởng. Chỉ từ khi “thành người” thực thụ của một thời đại nhất định nào đó
nó mới thành người “văn minh”. Tiềm thức không chỉ là cái “bồ rác” đựng những
đồ thải của ban ngày, cũng không phải chỉ là kho cất giấu những cái ý thức của
chúng ta tạm thời không cần để lúc nào cần thì lôi ra dùng. Cả sự tự ý lục lọi
cái kho này ý thức ta cũng không có quyền. Nếu có sự di truyền tâm lý, thì ở
đây có các yếu tố di truyền con người mà tất cả các dân tộc đều trải qua là di
truyền về nòi giống - được cấu kết và truyền cho người đời sau thuộc một nòi
giống nào đó. Về mặt di truyền tâm lý thị giác ta cũng thấy như vậy.
Trẻ em thoạt đầu chưa
phân biệt được màu, trẻ độ vài ba tháng bắt đầu nhìn thế giới. Chúng phân biệt
bằng hình dáng là chính. To, nhỏ, vuông, tròn đối với nó là tiêu chuẩn để phân
biệt. Hai hòn đá hai màu với chúng là một, quả bóng to với một hòn bi nhỏ lại
là hai thứ khác nhau. Cái đĩa với cái chén cũng vậy dù chúng cùng một màu. Phân
biệt được dáng hình như vậy là do chúng bắt đầu nhận biết được các đường viền
của đồ vật - bắt đầu tạo ra trong đầu khái niệm nét. Đó cũng là
thành tựu thị giác đầu tiên của con người. Trong các nền nghệ thuật nguyên thủy
đâu đâu ta cũng thấy nétđóng vai trò quan trọng đầu tiên. Các văn
chải, văn lược, những hình kỷ hà . . . là những nét mà con người đã tạo ra được
ảo giác quan được đào luyện. Nét vẽ của người nguyên thủy rất gần với những nét
vẽ đầu tiên của trẻ em.
Nếu tổ tiên người Việt
Nam sống ở một khu vực nhiều nắng mưa, nhiều độ ẩm. . . cảnh vật nơi đó có núi
đồi, cây cối đa dạng, cách sống của họ ở các vùng đồi, vùng đồng bằng - kinh tế
lúa nước buộc họ phải quan sát những vân mây. . . thì tâm lý thị giác của họ
phát triển theo một hướng khác những người ở sa mạc Gô-bi du mục và quen với
cát - gió nóng quanh năm. Hàng ngàn năm con mắt người Việt được đào luyện khác
con người ở Gô-bi. Họ hình thành những thói quen thị giác riêng biệt. F. Engels
nói mắt người nhìn thấy nhiều hơn mắt đại bàng nhưng mắt người ở mỗi nơi nhìn
thấy “nhiều hơn” theo một cách không giống nhau hoàn toàn. Thói quen thị giác
đó được di truyền trong nòi giống - góp phần tạo nên tâm lý thị giác của mỗi
nòi giống qua các thời kỳ. Nó là sợi dây vô hình làm cho mỹ thuật Đông Sơn - Lý
– Trần - Lê được xâu thành một chuỗi cườm chứ không phải những hạt ngọc rời
rạc. Ở người Việt màu lam, hồng, da cam, xanh lục . . . trở nên thân thiết gần
gũi - khác với sắc đen, xanh của tranh Đường, tranh Tống ở Trung Hoa. (Tất nhiên
ở đây có ảnh hưởng của luân lý, tôn giáo, triết học. . . nữa). Người miền nam
Âu châu, Hy Lạp, Italia, Tây Ban Nha hình như có cảm năng về màu sắc tinh nhạy
hơn người Bắc Âu khô cằn. Người Hà Lan, Đức hình như nhạy hơn người phương Nam
về đường nét và tối sáng. Tôi cứ tin rằng không phải người Hà Lan chắc
Rembrandt không vẽ được tối sáng tinh vi như thế. Và những cành cây khô đen trơ
trọi trong mùa đông tuyết trắng của Pieter Bruegel, hay những nét khắc đồng li
ti, uyển chuyển của Albrecht Durer không thể là sản phẩm con mắt người Italia
chói chang ánh nắng dưới trời Địa Trung Hải xanh rười rượi. Rồi cả quá trình
lịch sử, hoạt động xã hội và kinh tế của một giống nòi nào đó cũng tham gia vào
việc hình thành các thói quen thị giác, tạo ra cái tâm lý thị giác được di
truyền lại cho đời sau này. Nó cũng hình thành một thứ ngôn ngữ thị giác - Song
chúng không khác nhau như các thứ tiếng vì gắn chặt với một giác quan cụ thể -
có cơ sở của di truyền học, tâm lý cụ thể.
Tóm lại tôi muốn nói
rằng tâm lý thị giác có yếu tố di truyền. Tức ta có thể nhìn thấy và
nhìn như tổ tiên con người xa xưa đã nhìn, đã thấy như
người Việt cổ xưa, cha, ông, cụ, kỵ chúng ta đã từng nhìn từng thấy. Ở đây có
hai khía cạnh: Một là thói quen, gặp lại ta thấy nó gần gũi quen thuộc. Hai là
ta có thể thấy lại những hình ảnh mà tổ tiên ta đã từng nhìn thấy thật.
Ta biểu thị ý thức như
một mặt phẳng.
Còn tiềm thức như một
khối có mặt phẳng song song với mặt phẳng trên và có cội rễ sâu xa, vô cùng. Di
truyền là những sợi dây đọc tạo nên cái khối làm nền móng đó. Nhiều hạt của ý
thức bị xáo động trên cái sàng của nó và rơi xuống tầng dưới. (Những hạt này
tạm thời không cần thiết với con người. Goethe nói rất hay rằng: “Những cái gì
chúng ta biết, chúng ta đều không cần và cái ta cần thì ta lại không biết”).
Bản thân tầng dưới này cũng luôn luôn xáo động, xô đẩy lẫn nhau. Những hạt ở
tầng ý thức rơi xuống lốp bốp. Hợp với các hạt mọc lên từ tầng sâu vô tận của
tiềm thức, chúng va đập vào nhau gây ra các vụ nổ lốp bốp rồi có những hạt vọt
lên như những hạt mầm. Đến khi hạt nào đó từ tầng dưới vọt lên được tầng trên -
mọi người ý thức được sự có mặt của nó. Cái mầm đã nhú lên trên mặt đất - và
người ta nhìn ra nó, gọi nó là một cái cây. Khi nó mọc lên như vậy ai có thể
phân biệt được nó là một hạt vốn từ tầng sâu tiềm thức mọc lên hay những hạt từ
tầng ý thức rơi xuống nhiễm từ của tầng tiềm thức - mang sắc thái “bí hiểm” của
tiềm thức rồi vọt trở lại mặt đất như một cái gì khác lạ, ngẫu nhiên.
Thực ra phải biểu diễn
hai mặt phẳng trên như hai mặt phẳng gợn sóng - đồng pha hay lệch pha với nhau.
Cái khoảng cách giữ hai mặt phẳng này là trường hoạt động của tâm thần, cửa
tình cảm chúng ta. Sự hoạt động của ngũ quan và trí tuệ đóng vai trò động lực
cho sự chuyển động của hai mặt phẳng đó. Chúng là động cơ phát động hai mặt
phẳng tiềm thức và ý thức. Với tiềm thức: trực quan là động cơ chính, lý trí là
động cơ phụ và ở tầng ý thức thì ngược lại. Hai động cơ này đổi chỗ cho nhau.
Sáng tạo nghệ thuật-
phụ thuộc vào cái trường đệm giữa hai tầng này, phụ thuộc vào sự chuyển động đa
dạng của hai tảng này làm cho các hạt nảy lên, rơi xuống, va đập vào nhau và có
hạt sẽ từ tầng sâu tiềm thức vọt lên mặt đất nở hoa kết trái - trên tầng trên.
Ở trên đó nó lập tức trở thành thực thể của ý thức có thể phân tích lô-gic được
và nó góp phần tạo nên quang cảnh mới Ở tầng trên. Ngũ quan, tâm lý con người
làm quen với quang cảnh mới đó, ăn quả của những cái cây đó và biến nó thành
thân thể mình. Thế là từ thế hệ này sang thế hệ khác tầng tiềm thức - bị tiềm
thức hóa - cứ cao dần lên, dày thêm lên. Và thói quen trước đây vốn được ý thức
nay thành thói quen về vô thức tức lãng quên sự ý thức hóa ban đầu đi và mang
mầu sắc của trực quan, di truyền.
Như vậy ý thức và tiềm
thức tham gia kết hợp với nhau nhuần nhuyễn trong cơ chế sáng tạo nghệ thuật. Ở
đây dù có giải thích mấy đi nữa ta vẫn phải công nhận rằng có điều không giải
thích nổi - vì Ở tầng tiềm thức thực ra không có khái niệm giải thích. Khái
niệm này là đứa con cả của gia đình ý thức từ lâu rồi, cái “bí hiểm” ở đây
giống như việc tạo ra một đơn vị thông tin ở một ngã ba đường. Ta đi hết một
đoạn đường dài để tới ngã ba. Ở đó ta biết rằng có hai con đường để đi tới hai
đích khác nhau. Tại sao ta lại ngẫu nhiên chọn một trong hai con đường? Ta biết
rằng xác suất chọn một trong hai con đường là đ nhưng không thể biết tại sao
lại xảy ra quyết định đó. Nếu nói rằng vì ta có quán tính do đoạn đường dài
phía sau đẩy tới cũng có lý. Lúc đó ta rẽ ngoặt mà không ý thức rằng ta đã rẽ
ngoặt. Và sự rẽ ngoặt đó đã không xảy ra, không có giá trị, ta vẫn đi thẳng.
Nếu nói ta đã nhìn thấy cái đích nào cần đi tới nên mới chọn một trong hai con
đường thì làm sao biết được cái đích mà ta không tới, không định đi tới. Ta chỉ
biết có cái con đường mà ta đã đặt chân lên mà thôi. Đường đời một con người
cũng vậy, ta trải qua những ngã ba và đã chọn một con đường. Ta nhìn lại và đặt
giả thuyết nếu lúc đó ta không học ngành này mà học ngành khác không ở nơi này
mà ở nơi khác, không cưới vợ ta bây giờ mà cưới một cô khác thì ta sẽ khác đi.
. . Song mặt khác, khi những khả năng có thể đã xảy ra rồi thì các khả năng
khác không còn có thực nữa. Vì thế cho nên số phận một con người vừa
đầy rẫy tự do, đầy rẫy sự chọn lựa mà ai cũng thấy như nó bị tiền định không
thay đổi được nữa.
Số phận một con người
phức tạp vì anh ta đã đi qua nhiều chỗ ngoặt. Anh ta đã phải quyết định nhiều.
Nhưng điều đó chỉ làm cho người khác được nhiều thông tin còn chính anh ta vẫn
không có con đường nào khác, vẫn bị “con quay búng sẵn trên trời” dẫn dắt mất
rồi! Những người chống cự lại số phận, cho rằng “nhân định thắng thiên” là
những người có ý thức quyết định, vừa biết thực hiện một cách có ý thức sự chọn
của mình ở các ngã ba, vừa ý thức được sự thực đó, có cảm tưởng đã tạo ra một
số phận mới chứ không phải không có số phận. Thông tin thẩm mỹ cũng vậy. Khi
tôi chọn một mảng màu. Màu đó đẹp không ở tự thân màu đó - tự nó chỉ là một màu
thôi, không là các màu khác được (tiền định) nhưng nếu nó là kết quả của sự
chọn giữ một trong hai màu có thể chiếm chỗ đó thì nó không phong phú, không tự
do, không sáng tạo bằng việc nó là kết quả của sự chọn giữa 10 màu có khả năng
chiếm chỗ. Tác phẩm nghệ thuật hay, đẹp có số phận như một con người có số phận
- có ý thức “thắng thiên” - đi qua nhiều ngã rẽ của sự lựa chọn.
Sau khi dông dài tôi
xin quay lại vai trò của ý thức và tiềm thức trong sáng tạo nghệ thuật. Thứ
nhất: tác phẩm nghệ thuật phải hiện hình ra để mọi người khác ý thức được
nó, do vậy ý thức là cái bệ đỡ, là mặt đất mà trên đó tác phẩm phải lộ diện.
Nếu coi mặt phẳng ý thức như mặt phẳng đồng đại - thì thực tại là tác phẩm nghệ
thuật phải có mặt ở đó - để mọi người thấy nó.Thứ hai là thực tại
phong phú - ta càng có nhiều hạt của đời sống ý thức - càng cho nó lắc mạnh thì
từ cái sàng của nó càng có nhiều hạt rơi xuống tầng tiềm thức - càng có nhiều
hạt mầm được ươm dưới lớp đất sâu của tầng tiềm thức. Biết nhiều càng quên
nhiều. Câu đó không vu vơ mà rất có lý. Biết nhiều để quên nhiều - cho nó ủ kỹ
dưới tầng sâu, biến nó thành thói quen, thành “máu thịt” của mình - làm giàu
cho giai đoạn ta gọi là ấp ủ trong sáng tạo. Thứ ba là muốn
cho có hạt mầm từ tầng sâu nảy lên thì tầng ý thức phải có nhiều hạt rơi xuống
và phải rơi xuống mạnh mẽ - gây xáo động ở tầng dưới. Ý thức sâu sắc thực tại,
để cho thực tại vào mình có giá trị tạo ra những điều đó. Marxim Gorki không
làm việc vô bổ khi ông lăn lộn trên các nẻo đường của thực tại ý thức hết những
điều đó. Lý Bạch, Đỗ Phủ, không làm việc vô ích là sống hết thời mình. Và họ
không hề mô tả đơn thuần thời đại, không làm tấm gương phản ánh đơn thuần mà
hoạt động ý thức của họ rung ngân, làm xáo động làn sóng vô hình giữa tầng ý
thức và tiềm thức của họ, làm nảy nở những hạt mầm hiện lên thành những tác
phẩm. Mặt khác từ một luồng khói vô hình không giải thích nổi - với sự tham gia
của những hạt mầm tiềm thức sâu xa, Bosch (thế kỷ 15) đã vẽ những cảnh địa ngục
quái dị, trọng làm thân, gốc cây làm chân, đầu người thật, nón mũ là cái ván gỗ
trên đó có những người tí hon đi lại, người mỏ chim đầu hổ, con bọ có cánh
chuồn chuồn và bao nhiêu hình ảnh quái dị. Những hình ảnh đó có cái gì sâu sắc
dị thường về bản chất con người. Nó hoàn toàn không phải sự tính toán duy lý.
Có mãnh lực nào đó, từ đâu đó sâu xa đã thúc đẩy ông vẽ ra những điều đó, cảnh
đó. Những ấn tượng thị giác - quả như Freud nhận định - đều đến từ xa hơn rất
nhiều so với ấn tượng thính giác tạo ra cái gọi là tâm tứ - hình thức sơ khai
của ngôn ngữ bên trong.
Nếu tạm biểu thị một
cách gán ghép như trên với trục ngang là ý thức - thực tại - là chiều đồng đại,
trục đọc là tiềm thức - di truyền - lịch đại thì chắc chắn tác phẩm nghệ thuật
hiện ra ở ngã tư của hai trục dao động này. Tôi có thể sai ở từng khái niệm nêu
trên nhưng chắc chắn tác phẩm nghệ thuật là kết quả giao kết của các yếu tố đó.
Nguyễn Quân





.jpg)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét