Đấy là bài thơ bốn câu của nghệ sĩ nhiếp ảnh Lê Bá Đương:
Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ
Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm.
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm.
Trước hết nói một chút về tác giả.
Anh Lê Bá Dương hiện nay là Nghệ sĩ Nhiếp ảnh, Hội viên hội
Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam, là nhà báo, phóng viên thường trú của báo Văn Hoá tại
Nha Trang. Quê chính của anh ở Nghệ An, nhập ngũ năm 15 tuổi, và ngay trong trận
đánh vào thôn Tây Trì (Đông Hà) khi 15 tuổi “cộng” 49 ngày, anh đã trở thành
dũng sỹ diệt Mỹ. Những năm tiếp theo từ 1968 đến 1973, qua nhiều trận đánh nổi
tiếng trên chiến trường Quảng Trị, anh đã được tặng nhiều danh hiệu dũng sỹ diệt
Mỹ, dũng sỹ diệt cơ giới, dũng sỹ diệt máy bay… và người chiến sỹ với hơn chục
vết thương trên người ấy cũng đã hai lần được đề nghị tuyên dương anh hùng
nhưng rồi vết thương chồng vết thương, việc hoàn tất hồ sơ mấy lần dở dang
không thành. Hồi ấy, trên mặt trận B5 (đường 9, Quảng Trị) từng đã dấy lên
phong trào “Xung kích như Lê Bá Dươngg, chốt chặt như Lê Bá Dương”. Báo Nhân
Dân, Quân Đội Nhân Dân, Tiền Phong đã có nhiều bài viết và in ảnh Lê Bá Dương mặt
trẻ măng, kẹp AK giữa chiến trường khói lửa mà mắt cứ trong văn vắt, môi mím chặt
mà cứ thấy phảng phất một nụ cười. Hồi ấy, chiến trường Quảng Trị, mỗi ngày hao
hụt quân số hàng trăm, hồi ấy, máu và lửa, xác ta và xác địch lộn tùng phèo, đất
đá không đủ để che quân...
Bây giờ ở Quảng Trị, vào tháng 7, có một phong trào rất đẹp
là toàn dân kết bè hoa thả xuống dòng Thạch Hãn, con sông đang chứa trong lòng
nó hàng trăm linh hồn liệt sĩ đã lặng lẽ chìm trong những ngày đỏ lửa hào hùng ấy.
Nhưng trước khi nó thành phong trào như bây giờ, vào hồi đang còn khó khăn nhất
của thời bao cấp, người cựu chiến binh Lê Bá Dương ấy đã dồn lương và nhuận bút
mỗi năm làm một chuyến tàu chợ vào tháng 7, từ Nha Trang ra Quảng Trị, anh mua
hết hoa ở chợ Quảng Trị rồi mang ra sông thả. Ban đầu nhiều người ngạc nhiên,
có người còn bảo: ông khùng. Hàng chục năm như thế, đến thời ông Vũ Trọng Kim
làm bí thư thì ông mới phát động nó thành phong trào rầm rộ như ngày nay...
Trở lại bài thơ
Chiều ngày 27 tháng 7 năm 1987, sau khi thả hoa cho đồng đội,
anh ngồi lặng trên bờ sông ngắm những chiếc thuyền nặng nề ngược dòng Thạch
Hãn. Thanh bình quá thể, vô tư quá thể, nhưng ai biết, ai nhớ, dưới đáy sông
kia còn bao nhiêu đồng đội của anh đang nằm lặng lẽ. Bất chợt những câu thơ vụt
ra:
Đò lên Thạch Hãn xin chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.
Tan chợ chiều xuôi đò có vội
Xin, xin đừng khuấy đục dòng trong.
Sau này khi công bố trên Tạp chí Khoa học Công Nghệ Khánh Hòa
năm 1990, nhà văn Đỗ Kim Cuông (giờ là vụ trưởng vụ văn nghệ Ban Tuyên Giáo
Trung ương) khuyên anh sửa lại. Và bài thơ được hoàn chỉnh là:
Đò lên Thach Hãn ơi chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm.
Nhưng vấn đề là, với bài thơ 4 câu, bài thơ duy nhất của Lê
Bá Dương, hiện nay có khá nhiều dị bản, kể cả khi nó được khắc rất trang trọng
trong nhà lưu niệm nghĩa trang liệt sĩ Quảng Trị lẫn khi được trích dẫn rất nhiều
trên báo chí trong dịp 27/7 vừa qua
Trước hết là chữ “lên”, phần lớn đều ghi là “Xuôi”. Xin thưa,
nếu “xuôi” thì không phải chèo, mà chỉ “lái” thôi. Chèo đò và lái đò là hai động
tác khác nhau. Tiếp đến là chữ “ơi”, nhiều người dùng là “xin”. Bản thân Lê Bá
Dương khi sửa từ "xin" thành “Ơi” là thán từ gọi đò – ơi đò… bớ đò…đò
ơi theo đúng phương ngữ Quảng Trị, nghe thắt thẻo và có tiếng đồng vọng lênh
lan trên sóng nước. Thêm nữa, ở bản gốc thì câu thứ 4 đã có từ "xin"
rồi. Nhưng theo chúng tôi, trong trường hợp này dùng “Xin” hay “ơi” cũng đều khả
dĩ. Câu dưới dị bản mới nặng, ấy là “còn đó” thành “còn có”. Chữ “còn đó” hay
hơn, mênh mang hơn, phổ quát hơn, mở hơn. Lê Bá Dương không phải nhà thơ chuyên
nghiệp nhưng anh đã sử dụng chữ rất hợp lý và chính xác. Hai câu dưới thì có một
dị bản là “bờ bãi” và “bờ mãi”, thì theo chúng tôi, dùng từ nào cũng được, dẫu
“mãi mãi” hay hơn, vĩnh cửu hơn. “Bờ bãi” vừa cụ thể, vừa hẹp, chữ “bãi” như một
từ láy phái sinh…
Có lẽ do bài thơ là tiếng lòng chung cho mọi người, đặc biệt
là bài thơ còn được gắn với việc một người lính hàng năm một đôi lần về thắp
hương thả hoa cho đồng bào, đồng đội, vì vậy, từ khi xuất hiện trên báo bài thơ
đã được mọi người chú ý. Người này nhớ một vài câu, người khác nhớ cả bài 4
câu, nhưng thường thì mọi người nhớ và thuộc hai câu đầu trong cả bài thơ 4
câu… Và ngay cả 2 câu đầu đó cũng vẫn có vài từ khác nhau như đã dẫn. Chúng tôi
thống kê có các dị bản như sau:
Dị bản 1:
Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm.
Dị bản 2:
Khác với DB1 ở từ ơi thay cho từ xin trong câu đầu:
Khác với DB1 ở từ ơi thay cho từ xin trong câu đầu:
Đò xuôi Thạch Hãn ơi chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm
Dị bản 3:
Khác với dị bản 2 ở từ "Có" thay cho từ "Đó":
Khác với dị bản 2 ở từ "Có" thay cho từ "Đó":
Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ
Đáy sông còn có bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm...
Cũng có bản từ hai mươi trong câu thứ 3 được đổi thành từ đôi
mươi…
Tuy nhiên không chỉ có dị bản. Xung quanh bài thơ cũng xuất
hiện nhiều giai thoại.
Do bài thơ là tiếng lòng lại được viết và xuất hiện từ mảnh đất
thiêng, nhạy cảm là Quảng Trị nên được rất nhiều người trên cả nước biết đến.
Hiện tại bình quân mỗi ngày tác giả cũng có một cuộc điện thoại từ đâu đó trên
cả nước gọi hỏi về bài thơ. Thậm chí khách hàng tại Phú Yên còn gọi lên tổng
đài 108 đề nghị cung cấp thông tin bài thơ, tên, số điện thoại tác giả…Ngay cả
tựa bài thơ “Lời người bên sông” cũng là một trong những giai thoại đó. Do là một
cảm xúc được biểu đạt như một lời thỉnh cầu, bởi vậy lúc đầu bài thơ không có tựa
đề, cho dù chỉ là cái tựa “vô đề “ như những bài thơ khác. Sau này khi người
biên tập tạp chí đưa bài thơ đi nhà in, thấy thiếu cái tựa bài liền gọi điện hỏi
xem tựa bài thơ thế nào? Nghe hỏi vậy, tác giả giải thích: Đó chỉ là lời người
bên sông… Không ngờ người biên tập cứ nghĩ đó là câu trả lời của tác giả và thế
là “lời người bên sông” bỗng thành tên bài thơ.
Ngoài ra, Lê Bá Dương còn một bài thơ 2 câu được viết trong một
tình huống khác. Hôm chuẩn bị vào sâu về phía nam mặt trận, cô bé trong nhà dân
chợt hỏi: Chú ơi, tại sao lại gọi là quân giải phóng Bắc Quảng Trị. Vội quá,
anh lấy bút viết vội vào trang sách học trò của cô bé hai câu thơ và cũng là
hai vế đối:
Một khẩu súng giữ hai trời Nam Bắc
Một dấu chân in màu đất hai miền.
Mãi mới đây, nhân dịp kỷ niệm 35 năm giải phóng Quảng Trị,
"cô bé" bây giờ đã là cựu du kích trao lại cho Lê Bá Dương tờ giấy kẻ
ngang đã úa vàng nhưng vẫn nguyên nét chữ viết 2 câu thơ. Hôm đi cùng đồng đội
lên cao điểm 544, Nghệ sĩ nhiếp ảnh Đoàn Công Tính đã đề nghị một nhà thư pháp
viết hai câu thơ mà anh nói là tuyên ngôn hay nhất bằng thơ về quân giải phóng
Bắc Quảng Trị của Lê Bá Dương.
Có bài viết này là vì khi đọc Văn Nghệ Quân đội online, tôi gặp
câu hỏi của một độc giả về các dị bản của bài thơ. Hiện tượng "nhà thơ một
bài" đã từng có trong lịch sử văn chương. Với bài thơ này, có thể cũng xếp
Lê Bá Dương vào trường hợp ấy...
Pleiku 17/9/2007
VĂN CÔNG HÙNG




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét