Trà âm
"Người bạn tri kỷ cùng ta uống trà hẳn phải là người bạn
hiền, chỉ cần đưa mắt là hiểu lòng nhau, lấy gì mà mua cho được ở cõi đời còn đầy
ô nhiễm và phiền muộn này? Có duyên phận lắm mới được cùng nhau hạnh ngộ với
người tri kỷ bên một chén trà quý".
Nguyễn Tuân
Xe dừng lại trước cánh cổng gỗ ngã màu xưa cũ, Nguyên đưa mắt
nhìn không gian tĩnh lặng bên trong. Khoảng sân trồng đầy cỏ cây xanh mướt được
sắp xếp cẩn thận gọn gàng bị ngăn cách với khói bụi ồn ào bằng hàng rào râm bụt
nở hoa đỏ rực. Con đường rải đá cuội xuyên qua vườn thuốc dẫn lối vào ngôi nhà
gỗ cổ kính lợp ngói âm dương thấp thoáng màu rêu. Bên cạnh nhà có hồ nước nhỏ
trồng sen. Những chiếc lá xanh thẫm xòe rộng phủ kín mặt hồ, ẩn hiện phía sau
vô số đóa hoa hồng phơn phớt. Đứng bên ngoài cũng có thể cảm nhận sự trong lành
thanh sạch của không khí ngập tràn hương sen và vị thuốc theo từng làn gió.
Nguyên không lên tiếng gọi chủ nhà, tự nhiên mở cổng đi vào.
Bước theo con đường nhỏ dưới bóng cây mát rượi, nghe tiếng lạo xạo của đá sỏi
dưới chân, tiếng chim kêu ríu rít xa gần, anh cảm thấy sự mệt mỏi trong tâm hồn
lẫn thể xác từ từ tan biến. Nguyên không đến đây để xem bệnh lấy thuốc, cũng
không làm công quả giúp vườn. Anh đến đây để thăm cô cháu ngoại của ông thầy
thuốc Nam dùng hơn nửa cuộc đời chữa bệnh từ thiện cho người nghèo. Cô gái tên
chỉ có hai chữ Nguyễn Trầm, là người chị không cùng huyết thống.
Anh và cô biết nhau năm mười sáu tuổi, lần đầu gặp trong buổi
họp mặt gia đình. Tất nhiên, ngày đó không có sự xuất hiện của mẹ ruột cô. Bà ấy
đã xem người chồng phản bội không còn sống trên đời. Ngày ly hôn cũng là ngày
chết của ông, ngày tấm ảnh cột băng vải đen được đặt lên bàn thờ nghi ngút khói
hương bánh trái. Ngày giỗ mỗi năm, Trầm đều phải cùng mẹ gói bánh tét, nấu mâm
cơm cúng người cha vẫn còn khỏe mạnh đang sống cuộc đời giàu sang hạnh phúc bên
cạnh cô vợ mới và đứa con trai thông minh khấu khỉnh. Bị thờ sống dường như chẳng
ảnh hưởng đến tâm trạng của ông, thậm chí có lần anh đã thấy ông thản nhiên ăn
bánh tét cúng đám giỗ của mình do cô mang đến. Nếu là anh chắc không bao giờ muốn
biết cảm giác đó ngon miệng thế nào.
Mẹ của anh đã giật chồng từ tay kẻ khác, hay mẹ của cô trước
kia đã cướp mất bạn trai người ta. Chuyện thế hệ trước là ai vay ai trả, Nguyên
không muốn tính, anh chỉ biết nhờ những ân oán đó mà được quen cô. Tiếng
"chị" là do anh tự gọi, vì một phút đùa giỡn bốc đồng thời niên thiếu,
muốn nhìn thấy vẻ mặt khó chịu của cô gái trẻ bị cho là già, nhưng hoàn toàn vô
vọng. Sau này, anh biết cô nhỏ hơn mình ba tháng tuổi, nhưng mọi chuyện không
thể sửa lại, thói quen có bao giờ dễ đổi, trong gia đình cũng cần phân lớn nhỏ
rõ ràng.
Tiếng guốc mộc gõ nhẹ nhàng trên nền gạch tàu vang lên khe khẽ.
Người con gái vóc dáng thanh nhã mặc áo bà ba tím với quần lụa trắng, mái tóc
dài đen nhánh xõa tới lưng, trên cổ đeo một chiếc kiềng bạc mỏng mảnh từ trong
nhà bước ra hàng hiên. Cô đứng trong bóng râm mờ tối nhưng vải lụa tơ tằm Tân
Châu khoác trên người dường như vẫn óng ánh phát sáng, mềm mại mượt mà đến mát
lạnh.
Nụ cười phảng phất trên đôi môi cô hướng về phía anh thay một
lời chào. Nguyên đành mỉm cười chào lại.
Cô lúc nào cũng trầm lặng kín đáo, cử chỉ luôn chừng mực ôn
hòa, đôi khi tiếp đãi anh giống một vị khách lạ hơn bạn bè cùng tuổi, càng dị
biệt với người thân trong nhà dù biết nhau đã quá mười năm, dù lần này cách biệt
hơn sáu tháng. Từ khi ra trường, Nguyên không có nhiều thời gian trống, nhưng
muốn đến thăm phải chọn những ngày vắng người chữa bệnh, phải hẹn trước để
tránh mặt mẹ cô vì có lần đang giữa tuần trà thì bà đến, không nói một lời hất
đổ khay trà rồi giận dữ bỏ đi.
Trầm nhìn mảnh sứ nâu vỡ nát cùng nước trà loang loáng, mỉm
cười bảo anh trở về, mọi chuyện còn lại để mình thu xếp.
Vẻ mặt cô lúc đó làm Nguyên nghĩ việc vừa xảy ra là một giấc
mơ. Bình thản điềm tĩnh đến hờ hững lạnh nhạt, dường như phiền não trên đời
không bận vào tâm, sân si trần thế không vướng vào lòng. Sự lãnh đạm xa cách mà
lịch thiệp hòa nhã trong đối nhân xử thế làm người khác không dám quấy nhiễu,
không thể trái lời. Khí chất của cô được di truyền từ trong xương máu, được kế
thừa từ dòng dõi thư hương, là thứ mà một kẻ xuất thân như anh rèn luyện mấy chục
năm may ra sánh được. Tiểu thư đài các thế phiệt trâm anh cũng không phải hư
danh hão huyền.
Ngồi xuống trường kỹ bằng gỗ sao lên màu đen bóng dưới mái hiên,
Nguyên nhìn cô gái trước mặt mình đang chuyên chú vệ sinh làm nóng trà cụ. Đôi
tay mảnh mai của Trầm nâng niu từng chén trà màu đất nâu mộc mạc bằng gốm tử sa
Bát Tràng như chúng là bảo vật vô giá. Đôi bàn tay đó qua nhiều năm xem mạch bốc
thuốc, trồng cây hái dược đã có vài vết chai sần, nhưng vẫn hòa hợp tuyệt vời với
việc viết chữ vẽ tranh, pha trà gảy đàn. Trên cổ tay trái của cô là chiếc vòng
cẩm thạch màu xanh lý với chất đá trong suốt quý hiếm mà anh tặng vào lần sinh
nhật hai mươi mốt tuổi. Chiếc vòng đó gắn liền với ký ức chẳng mấy dễ chịu về một
hành động ngớ ngẩn anh đã làm.
Nguyên từng hỏi cô sao vẫn giữ chiếc vòng. Trầm khẽ cười vì
nó rất đẹp, vì để nhớ một điều anh đã nói.
Câu trả lời mang hàm ý khiêu khích thản nhiên trở thành thử
thách kéo dài đến ngày nay, làm mối quan hệ cả hai trở nên kỳ quái khó tả. Anh
không biết cô lo sợ điều gì, là thù oán năm xưa hay lòng người hiện tại, hoặc
chỉ xem như một trò đùa và chẳng nhớ lời mình từng nói. Thậm chí, anh tự hỏi cô
có ôm oán hận, muốn biến điều này thành phương thức trả thù dù ngoài mặt bình
tĩnh làm ngơ. Cô là người cầu toàn khó tính, nhưng chứng kiến gia đình tan vỡ,
nhìn cha mẹ trở mặt hận thù, chính bản thân rơi vào phiền phức với đứa em cùng
cha khác mẹ, làm sao tha thứ kẻ gây ra cớ sự và người có liên quan? Nhưng có thể
anh đã đoán sai tất cả vì mấy ai đo được lòng người. Những suy nghĩ của cô anh
chưa bao giờ hiểu hết, không thể nắm bắt tựa nước chảy mây trôi.
- Sao hôm nay im lặng như vậy?
Trầm đột nhiên ngẩng mặt nhìn anh, thanh âm quan tâm nhẹ hẫng
cùng ánh mắt sắc sảo thăm dò tan biến rất nhanh. Nguyên nghiêng người, tựa đầu
lên cánh tay chống trên thành ghế.
- Nhớ lại vài chuyện cũ.
Cô không hỏi tiếp vì ấm nước bằng đất nung nấu trên lò than bập
bùng cháy đỏ đã sắp sôi đến độ đầu nhang, nếu để nước quá sôi thì trà sẽ nồng gọi
là cháy trà, còn chưa đủ sôi thì trà không phai. Nước pha trà là quan trọng nhất
vì nghệ thuật uống trà của người Việt gói gọn trong câu: nhất thủy, nhì trà,
tam bôi, tứ bình, ngũ quần anh. Nước pha trà ngon nhất là sương đêm hứng trên
lá sen sáng sớm, hay nước mưa hứng từ tàu cau, người cầu kỳ pha nước giếng với
nước mưa gọi là nước âm dương. Những chuyện này đều là cô dạy anh, cho anh biết
uống một chén trà cũng rất công phu phức tạp, mà đây chỉ là bước đầu của việc
thưởng trà.
Trầm lấy ba đóa sen đang cắm trong bình sứ hoa lam trang trí
phong cảnh sơn thủy đặt lên bàn. Mỗi đóa hoa đều bị bao lại bởi một chiếc lá
sen, buộc bằng dây lạt. Trà được ướp hương trực tiếp trong hoa sen vừa chớm nở
vẫn còn hồng thắm trên hồ suốt một ngày một đêm rồi hái vào lúc vừa rạng sáng.
Loại hoa dùng ướp trà phải là sen bách diệp có hàng trăm cánh nhỏ ôm sát nhụy
hoa, hương thơm nồng đậm thanh tao hơn sen quỳ bình thường. Tuy hoa sen cô dùng
không chính gốc Tây Hồ, không hưởng được khí hậu thổ nhưỡng nơi địa linh nhân
kiệt nhưng tính chất không sai biệt nhiều.
Khi nước sôi thích hợp, cô dùng muỗng gỗ tre múc trà trong
hoa để vào bình gọi là ngọc diệp hồi cung. Lượng trà vừa đủ hai người đối ẩm.
Châm nước lần đầu gọi là cao sơn trường thủy, dội từ trên cao xuống nhầm tạo ra
một lực làm tan bụi bẩn trong trà, để trà khô vừa thấm rồi đổ nước bỏ ngay.
Châm nước lần hai gọi là hạ sơn nhập thủy, đậy nắp lại rồi tưới nước sôi lên
toàn bình trà nhằm giữ nhiệt độ tốt nhất. Có câu rằng tửu tam trà nhị, tức là
chén rượu thứ ba mới bắt đầu ngấm, trà nước thứ hai mới bắt đầu ngon, nhưng trà
nước thứ hai cũng là chuẩn nhất, mùi vị hương thơm tuyệt diệu nhất.
Khi không khí thanh mát dưới hiên quyện chặt hương trà vừa dậy,
Trầm xếp hai chén trà hột mít khít miệng vào nhau, chậm rãi nâng chiếc bình quả
lê nóng ấm. Trà được rót thông thả phát ra tiếng róc rách rất khẽ, xoay vòng giữa
hai chén đến khi ngập ba phần tư lòng chén gọi là Quan Công tuần thành. Cô
không dùng cách truyền thống rót trà vào chén Tống rồi chuyển sang chén Quân để
giữ hương vị và độ nóng. Chén trà được cầm bằng tay phải, ngón trỏ và ngón cái
đỡ miệng chén, ngón giữa đỡ đáy chén gọi là tam long giá ngọc. Cô dùng tay trái
nâng tay phải dâng chén ngang mày rồi đưa sang anh, cung kính cúi đầu mời trà.
Nguyên nhìn vào đôi mắt đen thẫm tĩnh lặng của cô thật lâu mới
đưa tay ra nhận, cũng cung kính cúi đầu. Anh cầm chén bằng tay trái rồi đưa
sang tay phải, ánh mắt dõi theo màu nước sóng sánh sắc vàng nhạt trong suốt,
trên bề mặt vương một lớp "tuyết" mỏng phải nhìn thật kỹ mới thấy.
Không vội vã uống cạn, anh đưa chén qua dưới mũi để tận hưởng hương thơm màu sắc
của trà gọi là du sơn lãm thủy rồi mới từ từ thưởng thức. Nhấp một ngụm nhỏ, chất
lỏng nóng ấm vừa chạm đầu lưỡi mang theo vị đắng, đượm mà không nồng, mùi hương
tinh tế thoang thoảng. Hớp một ngụm lớn để trà tràn vào mọi ngõ ngách trong
khoang miệng, trôi qua cổ họng đọng lại vị ngọt dịu dàng. Chén trà trên tay anh
chỉ còn lại một tầng nước mỏng đủ cho người dùng kiểm chứng tiền hương, tiền vị
và hậu vị của loại trà quý.
Trầm từng nói một chén trà không xóa hết ưu tư phiền não
nhưng đổi được một phút thanh thản an nhiên.
Hoàn cảnh của anh thật sự cần một phút tĩnh tâm như thế.
Nguyên ở chốn thương trường, kiếm tiền bạc chẳng khác săn mạng người, cho dù
không thủ đoạn độc ác cũng mấy lần thiếu mất lương tâm. Tìm công ty thua lỗ phá
sản rồi thu mua sát nhập theo yêu cầu của khách hàng có đôi khi làm vài người tự
sát. Và vừa rồi chuyện đó lại xảy ra. Trầm và anh là hai thế giới. Nhưng Trầm với
anh là một góc bình yên, là nhân tính không thể chối bỏ. Phần bản ngã không bị
nhuộm mùi tiền của anh được cô tìm thấy, vịn vào đó nhắc nhở lương tri cùng
thanh tẩy tâm hồn. Cô giống như một liều thuốc an thần giúp anh được bình tâm
an tĩnh sau nhiều hợp đồng căng thẳng rã rời.
- Nằm nghỉ một lát đi.
Cô nhã nhặn nói, chờ anh uống hết chén trà rồi rót thêm, động
tác uyển chuyển thành thục vô cùng đẹp mắt. Nguyên nghiền ngẫm hương vị đọng lại
cùng sắc màu của nước, tất cả đều tuyệt hảo vô song, nếu không nhằm thì nước
pha trà hôm nay là sương đêm đọng trên lá sen, còn loại trà quý được dùng là cổ
thụ Shan Tuyết. Anh cười cười, giọng điệu đùa giỡn.
- Uống một chén trà đầy đủ lễ nghi, pha chế cầu kỳ như vậy
làm tôi lo lắng quá. Chị đang tức giận chuyện gì sao?
- Lâu ngày cũng phải nhắc lại nếu không sẽ quên mất.
Trầm nhẹ nhàng đáp chẳng ăn nhập vấn đề, đứng lên bước vào
nhà, khi trở lại cầm theo một chiếc đàn thập lục huyền thân gỗ nâu bóng khảm xà
cừ tinh xảo. Cô đã được ông ngoại dạy nhạc lý từ nhỏ, mười lăm tuổi có thể thay
ông tham gia ban ngũ tuyệt gảy đàn tranh, đàn nguyệt hoặc tỳ bà trong những buổi
sinh hoạt đờn ca tài tử, nhiều lúc hát vọng cổ góp vui. Ba ngón tay đeo
móng gảy đồi mồi dạo trên mười sáu dây đồng làm phát ra giai điệu thanh thúy,
lúc réo rắt như tiếng suối chảy nhanh, lúc êm đềm như sông rộng lững lờ. Khúc dạo
đầu tương tự bài Lưu thủy, một trong hai mươi bản Tổ của cổ nhạc tài tử Nam bộ
mà anh đã nghe cô đàn nhiều lần.
Âm nhạc du dương êm ái vang lên hòa với tiếng gió lùa qua vườn
cây xào xạc, trải trên mặt nước hồ sen lăn tăn sóng gợn rung rinh hoa lá. Làn
khói mỏng manh bảng lảng trong không gian lờ mờ sáng tối dưới bóng mát mái hiên
làm khung cảnh thêm phần hư ảo. Nguyên nhắm mắt lại, chìm vào những thanh âm vô
hình mênh mông, suy nghĩ trong tâm trí không còn hỗn loạn, thân thể dường như
nhẹ tênh bồng bềnh trôi theo giai điệu thăng trầm tha thiết. Anh nhận ra bản nhạc
này rất quen, dường như đã nghe cô đàn rất lâu trước đây nhưng nhất thời không
thể nhớ tên. Tuy nhiên, anh không đủ tỉnh táo để hỏi thêm vì cơn buồn ngủ đã đột
ngột kéo đến.
Lúc thức dậy bóng chiều đã ngả, trà cũng nguội lạnh từ lâu,
chỉ còn một mình Nguyên nằm trên trường kỷ cạnh hồ sen. Ánh tà dương tàn úa
xuyên qua tán lá đọng trong lòng bàn tay có chút buồn thảm tịch mịch. Đầu óc
anh vẫn còn mơ màng chưa tỉnh nhưng sự tò mò bỗng dưng không sao áp chế. Anh đứng
lên đi tìm cô, muốn nhanh chóng biết tên khúc nhạc, dạo quanh một vòng không gặp,
lúc trở lại trường kỷ thấy cô đang ngồi chờ. Trên bàn trà là chiếc gối nhỏ màu
tím sẫm thêu hoa sen khéo léo dùng kê tay bắt mạch. Anh không cần hỏi, hiểu
chuyện ngồi xuống, tự nhiên để tay trái lên gối nhưng vẫn cười nói:
- Đâu cần nghiêm trọng như vậy. Tôi sẽ còn sống rất lâu để ám
ảnh chị.
Trầm nhàn nhạt cười, im lặng đặt mấy ngón tay mảnh khảnh lên
mạch tượng trên cổ tay anh. Cô hơi nghiêng đầu, tập trung công việc nhưng vẻ mặt
vẫn toát lên nét ung dung bình thản lạ kỳ. Làn gió nhẹ lướt qua, mấy sợi tóc
mai buông xõa bị thổi tán loạn che gương mặt thanh tú, anh bất giác vươn tay
vén gọn cho cô, vô tình chạm nhẹ làn da mịn màng có chút xanh xao liền rụt lại.
Cô không thích những hành động thân thiết quá mức khi chưa cho phép, đặc biệt
là kẻ khác chạm vào mình dù hàng ngày tiếp xúc khá nhiều người. Thái độ lạnh
lùng tách biệt không phải do lễ giáo gia phong mà là bản chất bẩm sinh.
- Phước đức cả đời tôi tích được cũng không đủ cho Nguyên đền
tội.
Giọng cô bình thường không phát hiện vui buồn. Cô cầm lấy gối
tím đứng lên, quay lưng đi bỏ lại một câu:
- Con người không phải sắt đá, cho dù thân xác hay tâm hồn.
- Điệu nhạc vừa rồi chị đàn tên là gì?
- Vọng kim lang.
Nguyên nghe câu trả lời, thất thần nhìn dáng cô khuất sau góc
vách một lúc lâu mới thu hồi ánh mắt. Anh nâng chén trà lạnh đưa lên môi uống,
hương thơm chưa phai vị đắng chưa nhạt, đọng một chút ngọt thanh trong cổ họng.
Lần đầu tiên Trầm pha trà cho anh là năm mười bảy tuổi, cũng là lần đầu tiên
anh nghe cô đàn. Vào một ngày mưa gió âm u, anh sang nhà mẹ nhưng cửa đóng vắng
tanh, ngồi chịu lạnh dưới mái che cổng rào như một thằng ăn mày thì tình cờ gặp
cô đi ngang. Lúc đó, quan hệ hai người vô cùng lạnh nhạt, chưa từng nói với
nhau quá ba câu chào hỏi. Tuy nhiên, cô vẫn kéo anh đến nhà ngoại. Bởi vì cô là
một thầy thuốc tương lai, bởi vì vết thương trên người anh đã thấm máu ra ngoài
lớp áo trắng học sinh loang lổ.
Trầm thương hại anh. Nguyên hiểu điều đó. Tình cảnh thê thảm
của một đứa trẻ vị thành niên luôn bị cha ruột đánh đập khi ông say xỉn như một
cách giải tỏa ức chế của kẻ vô dụng nghiện rượu. Anh có thể chống lại ông, có
thể kiện ông vì tội bạo hành hoặc bỏ rơi ông để đến sống cùng mẹ, nhưng anh là
người thân duy nhất còn lại của ông và ngôi biệt thự xa hoa kia không có chỗ
cho anh tồn tại, luôn khiến anh lạc lõng chênh vênh khó lòng hòa nhập, dù cha
dượng cũng không ghét bỏ. Trong nhận thức, người cha thất bại bị vợ cắm sừng
còn tội nghiệp hơn anh rất nhiều, nên cuối cùng chỉ chọn cách trốn tránh. Có lẽ
sự cảm thông ngu xuẩn được sinh ra từ trong huyết thống, và trên đời cũng chỉ
có thân nhân mới khiến anh cam tâm tình nguyện tự mình chịu khổ.
Khi đến phòng thuốc, anh thấy cô đang ở một mình, cẩn trọng
chọn từng vị thuốc, tự tay gói bằng giấy dầu từng thang một. Lúc mới gặp Trầm,
anh tưởng cô chỉ là loại tiểu thư kiêu căng nông cạn hoặc yếu đuối ngây ngô,
nhưng qua vài lần tiếp xúc đã biết mình sai lầm thế nào. Người con gái này dùng
hai từ "tài hoa, tinh tế" để hình dung cũng là khiêm tốn. Một thời
gian dài, anh vừa ngưỡng mộ vừa ganh tỵ với cô, hai kẻ có gia đình cùng chung
nghịch cảnh nhưng số phận khác biệt quá nhiều. Và tình cảm đó theo thời gian dần
dần biến đổi. Anh biết mình mơ mộng trèo cao nhưng tuổi trẻ cuồng nhiệt cố chấp
chẳng sợ té đau nên đương nhiên thổ lộ.
Sau mấy giây bàng hoàng ngắn ngủi, Trầm cười nói rằng, quà
sinh nhật này cô sẽ nhận, xem nó ở bên cạnh mình được bao lâu. Còn câu nói kia
không hề nhắc đến.
Thân phận Nguyên bây giác khác hẳn ngày xưa, không còn là đứa
trẻ nghèo hèn lông bông khổ sở. Sự thành đạt được đánh đổi bằng mồ hôi nước mắt,
bằng lao động kiệt lực mấy mươi năm. Anh đã đủ tự tin bản lĩnh, tiền tài địa vị
để lặp lại câu nói trước kia nhưng chưa từng làm vậy. Khoảng cách giữa anh và
cô dù được cân bằng, nhưng nhìn theo góc độ khác vẫn xa xôi vời vợi, một khoảng
cách chẳng dễ dàng khỏa lấp, chưa tính đến áp lực gia đình. Anh từng nghĩ tình
trạng này đã đủ, cùng cô hội ngộ bên một chén trà quý, qua bao năm tháng tri âm
tri kỷ, đến cuối đời cũng không phá vỡ hữu hảo tương giao. Nhưng việc cô làm lời
cô nói hôm nay giống như viên đá ném vào mặt hồ phẳng lặng, làm dâng lên sóng vỗ
tràn bờ.
- Có chuyện gì muốn nói với tôi sao?
Cô vừa buộc mấy thang thuốc vào nhau vừa hỏi, không ngẩng mặt
nhìn. Những tủ đựng thuốc bằng gỗ nâu đồ sộ lấp kín bốn mặt vách cùng ánh đèn
trắng xanh lạnh lẽo phủ khắp không gian làm vóc dáng mảnh mai càng thêm yếu nhược,
tạo cảm giác cô liêu hiu quạnh đầy bi thương. Ở tuổi của cô, phụ nữ nông thôn
đã tay bế tay bồng, nhưng Trầm vẫn cô đơn lẻ bóng. Mấy lần anh nghe mẹ nói có
người muốn mai mối làm quen hoặc chính thức đưa mâm xem mắt nhưng đều bị từ chối.
Anh không muốn đoán cũng không hỏi nguyên nhân, vì cảm giác đứng trên tầng băng
mỏng, động một chút có thể vỡ tan, làm bản thân chìm trong rét buốt.
Anh bước qua ngạch cửa đến bên bàn thuốc, lẳng lặng nhìn cô.
Trái tim anh quá ngây thơ bất cẩn, vì một lần băng vết thương, một chén trà sen
cùng một khúc Vọng kim lang an ủi liền rung động, bị người ta lấy mất suốt bao
nhiêu năm, chính mình không tự tay đoạt lại, cũng chẳng nhờ người khác giúp đỡ
tìm về. Sống cùng với tâm tình tuyệt vọng có đôi lần nghĩ muốn buông tay nhưng
chấp niệm quá sâu khiến anh vô thức không cách nào làm được. Sự việc tiến triển
đến bước này, anh vừa vui mừng kinh ngạc vừa lo lắng hoang mang.
- Chỉ là dưỡng tâm an thần, thêm một chút thuốc bổ. Mỗi ngày
một thang sắc ba lần uống, mỗi lần sắc còn lại một chén nước, uống vào buổi
sáng, trưa và chiều. Nguyên đừng bỏ ngang như lần trước.
Cô nhẹ giọng dặn dò, đẩy túi thuốc trên bàn về phía anh.
Nguyên bất chợt đưa tay nắm lấy hai vai cô kéo lại gần, giữ thật chặt không cho
phản kháng. Không khí trong phòng trở nên dị thường ngột ngạt, tĩnh lặng đến mức
có thể nghe rõ tiếng tim đập liên hồi. Anh nhìn thẳng vào đôi mắt bình lặng như
mặt hồ đêm của cô, nghiêm túc hỏi:
- Trầm muốn nghe tôi nói chuyện gì?
- Nguyên không có can đảm đối mặt với điều mình suy đoán hay
sao?
Anh không trả lời, ghì chặt cô vào lòng, cúi đầu thì thầm bên
tai cô.
- Tôi yêu em.
- Tôi biết.
Trầm khẽ cười đáp lại, lịch thiệp tao nhã mà mê hoặc lạ thường.
Cô tựa đầu lên vai anh, bàn tay níu lấy một góc áo người đang ôm xiết mình.
Nguyên chợt hiểu rằng cô vẫn để mắt đến anh từ ngày mưa đó,
thậm chí âm thầm chăm sóc quan tâm, chỉ là biểu hiện lúc xa lúc gần vì kiêng kỵ
vài điều phiền phức, vì tâm tư lo nghĩ bất an. Tình cảm của cô tựa một chén trà
quý, pha chế rất cầu kỳ tinh tế, thưởng thức phải từ tốn tận tâm, mới chạm vào
nóng đắng khó trôi nhưng quen thuộc sẽ thấy hậu ngọt hương thơm vương vấn lâu
dài, giúp người ta tâm bình khí hòa an nhàn thanh tĩnh. Anh may mắn với tới vì
kiên trì thành tâm, nhiều hơn là ngoan cố bất chấp.
Tình yêu chôn sâu tận đáy lòng tưởng như hóa tro tàn nhưng vẫn
âm ỉ cháy nay bị khơi lên thành ngọn lửa lan tràn. Con đường phía trước lắm
gian nan trở ngại nhưng đồng tâm hiệp lực thì sẽ vượt qua.
Chú thích:
1. Lụa Tân Châu: Tân Châu là thị xã thuộc tỉnh An Giang, Nam
Bộ. Sản phẩm nổi tiếng là lãnh Mỹ A nhuộm bằng trái mặc mưa, màu đen bóng loáng
mát lạnh, màu bền không phai. Ngày nay, lụa Tân Châu được nhuộm nhiều màu sắc
khác nhau bằng chất liệu tự nhiên. Nếu miền Bắc có lụa Vạn Phúc (Hà Đông) thì
miền Nam có lụa Tân Châu.
2. Gốm tử sa Bát Tràng: "Thứ nhất Thế Đức gan gà, thứ
nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần" là 3 loại ấm trà quý bằng đất tử sa chỉ có ở
Nghi Hưng, Giang Tô, Trung Quốc. Ngày nay, làng gốm Bát Tràng đã pha được loại
đất tử sa xuất xứ Việt Nam bằng cách trộn nhiều loại đất ở đồng bằng sông Hồng
để chế tạo trà cụ.
3. Nhất thủy, nhì trà, tam bôi, tứ bình, ngũ quần anh: bôi là
chén uống trà, ngũ quần anh là những người ngồi chung với nhau để uống trà.
4. Trà Shan Tuyết: có xuất xứ từ xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn,
tỉnh Yên Bái. Cây trà cổ thụ Suối Giàng từ 200 đến 300 năm tuổi, là loại trà
quý, rất khó pha. Một chén trà Shan Tuyết pha đúng cách có màu vàng nhạt trong
sáng, hương thanh mát thoang thoảng, hậu vị đậm lâu dài. Việt Nam còn nhiều loại
trà quý khác như trà Tân Cương - Thái Nguyên, trà Tà Xùa - Sơn La...
5. Đàn tranh: còn gọi là thập lục huyền cầm, bán nguyệt cầm
vì mặt đàn hình bán nguyệt và số dây là 16 tức là gần với nửa tháng, tuy nhiên
vẫn có loại 15, 17 hay 19 dây, xuất hiện ở Việt Nam từ thời Lý – Trần.
6. 20 bản Tổ của cổ nhạc tài tử Nam bộ: gồm 3 bài Nam, 6 bài
Bắc, 7 bài Lễ, 4 bài Oán, ngoài ra còn 4 bài Oán phụ. 20 bài Tổ giai điệu vui
tươi, buồn thảm khác nhau chia làm bốn mùa xuân hạ thu đông.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét