1/ Bùi Giáng, càng điên... càng tỉnh; Càng già... càng lãng mạn:
Trong bài “Chép thơ” in trong tập Bùi Giáng 1994 do thân nhân của Bùi
Giáng Xuất bản tại California năm 1995, có hai câu mở đầu như sau:
Chép bài thơ cũ tặng em
Những bài thơ mới tèm nhem tâm hồn
Ðó là nhận định của Bùi Giáng về chính thơ của ông: những bài thơ ông mới
viết sau này “tèm nhem tâm hồn”, hay nói cách khác, sướt mướt đầy những cảm
xúc dễ dãi, một điều hình như ông không thể tránh được nhưng ông lại không
thích mấy, nên ông không muốn chép tặng người thân.
Trong một bài thơ khác, “Từ bấy tới nay” in trong tập Thơ Bùi Giáng do
Thế Kỷ 21 xuất bản năm 1994, Bùi Giáng, một lần nữa, lại ghi nhận sự thay đổi
trong thơ của mình:
Chợt mùa thơ vội đổi giòng
Cỗi nguồn cũng bởi tự lòng mà ra
Nhớ, trong bài “Xuân xanh người Tàu” in trong tập mùa thu trong thi ca,
năm 1969, nhân nhắc đến Nam Phương Hoàng Hậu Nguyễn Thị Lan, Bùi Giáng làm
hai câu thơ, trong đó, câu đầu tiên hao hao như câu trên:
Chợt mùa thơ vội đăm chiêu
Bên mình phố thị Lan đìu hiu đi
Câu thơ sáu chữ, chỉ khác nhau hai chữ sau cùng. Nhưng đó là sự khác biệt
quyết định. Sự thay đổi, ngày xưa, chỉ là một sự thay đổi nhỏ nhoi: hơi thở tự
dưng chùng lắng xuống, trầm ngâm hẳn đi khi nhớ tới người phụ nữ mình ái mộ.
Sự thay đổi hiện nay không những đột ngột mà còn quyết liệt, toàn diện. Là một
sự “đổi giòng”. Từ sông Thương hay sông Mã hay ngược lại. Biến thơ Bùi Giáng,
giai đoạn trước, giai đoạn sau, có những khác biệt căn bản trong phong cách.
Trong bài “Thuở chưa điên” in trong tập thơ Bùi Giáng do Việt Thường xuất bản
tại Canada năm 1990, Bùi Giáng nói về hai đoạn thơ ấy:
Ấy là thơ thuở chưa điên
Ở trong dấu ngoặc quang xiên reo cười
Bây giờ xoang điệu đười ươi
Ðiệu hoa lầu các ngậm ngùi dấn thân
Bài thơ cấu trúc trên trục đối lập: lúc người chưa điên thì thơ lại như
điên; lúc người đã bị xem là điên thì thơ, đằng sau cái vẻ ngớ ngẩn và nhảm
nhí lại rất hiền triết, chứa đựng thật nhiều tâm sự hắt hiu về cuộc đời.
Trước năm 1975, Bùi Giáng đã có một số những cơn điên ngắn. Trong lời giới
thiệu Bùi Giáng in trong cuốn Thơ điên... thứ thiệt do Thái Bình Thiên Quốc
xuất bản tại Sài Gòn năm 1970, các bác sĩ làm việc trong dưỡng trí viện Nguyễn
Văn Hoài đồng thời cũng là những người đứng ra biên tập tập thơ, cho biết,
lúc đầu Bùi Giáng bị xếp vào loại điên nhẹ, nhưng từ tháng 5 năm 1969 thì ông
bị chuyển sang hạng điên nặng. Tuy nhiên trước năm 1975, ông chỉ bị điên từng
cơn. Sau 1975, bệnh tình của ông trở nên nặng hơn; những cơn điên đến với ông
thường xuyên hơn và cũng kéo dài hơn. Nhưng có điều lạ là, nếu so sánh các tập
thơ của Bùi Giáng xuất bản trước năm 1975, sau tập Mưa nguồn, với các tập thơ
của ông sau năm 1975, cả ở hải ngoại lẫn ở trong nước, chúng ta sẽ thấy ngay
là những tập thơ sau này tỉnh táo hơn hẳn.
Thơ Bùi Giáng trước năm 1975, trừ tập Mưa Nguồn và phần nào, tập ngàn
thu rớt hột, là một cuộc tra vấn đầy khắc khoải về khả năng của ngôn ngữ. Ðó
là những bài thơ viết về ngôn ngữ của một kẻ mà số phận bắt buộc phải sử dụng
ngôn ngữ như một phương tiện diễn đạt và hơn nữa, như một cách thế duy nhất để
tồn tại. Ông làm thơ như một kẻ say mê chơi trò chơi chữ nghĩa:
Một hôm gầu guốc gầm ghì
Hai hôm gần gũi cũng vì ba hôm
Bôm ha? đạn hả? Bao gồm
Gồm bao gạo đỏ bỏ gồm gạo đen
Dạo ấy Bùi Giáng có lẽ chưa đọc Jacques Derrda, triết gia hàng đầu
trong trào lưu hậu cấu trúc luận (post-structuralism) và hủy cơ luận
(desconstruction), người bắt đầu nổi tiếng tại Âu và Mỹ trong khoảng thời
gian từ 1967 đến 1972, nhưng mãi đến năm 1975, tôi chưa thấy có dấu hiệu gì
chứng tỏ là được biết đến nhiều tại Việt Nam. Trong lý thuyết của Derrida, có
một luận điểm quan trọng: nếu ngôn ngữ, nói theo Ferdinand de Saussure là một
hệ thống bao gồm một chuỗi những khác biệt về âm kết hợp với một chuỗi những
sự khác biệt về khái niệm thì, theo Derrida, mối quan hệ giữa âm và khái niệm,
hay nói theo thuật ngữ ngôn ngữ học, giữa cái biểu đại (signifier) và cái biểu
đạt (signified) không phải là một thứ quan hệ ổn định. Derrida đặt ra từ
“différer” trong tiếng Pháp vừa có nghĩa là hoãn vừa có nghĩa là khác. “Khác”
là một ý niệm về không gian: ký hiệu này được phân biệt với các ký hiệu khác.
“Hoãn”, ngược lại, là một ý niệm về thời gian: một cái biểu đạt để ám chỉ một
cái được biểu đạt khác, rồi đến lược nó nữa, cái được biểu đạt ấy lại trở
thành cái biểu đạt. Các mối quan hệ, cứ thế, lan rộng ra mãi. Minh chứng rõ
nhất cho điều này có thể được nhìn thấy trong từ điển. Chẳng hạn, chúng ta thử
tra chữ “viết”. Ý nghĩa của chữõ “viết”, tức cái được biểu đạt của ký hiệu
“viết” được ghi là “vạch những đường nét để tạo chữ”. Trong định nghĩa này, yếu
tố quan trọng nhất là “vạch”, “vạch” là gì? Với câu hỏi ấy, cái được biểu đạt
(“vạch”) tức khắc biến thành cái biểu đạt. Từ điển giải thích ý nghĩa của chữ
“vạch” là: “Tạo thành đường thành nét”. Nhưng “tạo “là gì? Từ Ðiển ghi: “Làm
cho từ không có trở thành có”. Nhưng “làm” là gì? v.v... Cứ thế, liên tục. Ðiều
này một mặt làm cho mỗi từ không những chỉ có quan hệ với từ khác trong quan
cảnh của nó mà còn có những quan hệ vô tận với những từ khác ở ngoài văn cảnh,
và mặc khác, quan trọng hơn, làm cho cái gọi là ý nghĩa cứ triển hạn mãi mãi
(2)
Bài thơ ở trên của Bùi Giáng là một đoạn trong chuỗi liên hệ vô tận
trong ngôn ngữ: chữ “một hôm” làm ông tưởng đến “hai hôm” rồi “ba hôm”, rồi
chữ “ba hôm” lảm ông liên tưởng đến cách nói lái “bôm ha”; rồi trong “bôm
ha”, từ tố “bôm” khiến ông liên tưởng đến “đạn”, từ âm tố “gao”, ông liên tưởng
đến “gạo”, v.v... thành ra, chữ “một hôm” không phải chỉ gợi ra ý nghĩa là một
đơn vị thời gian, mà còn gợi ra ý nghĩa là súng đạn, là cơm gạo. Xin mở một dấu
ngoặc: bài thơ này được Bùi Giáng sáng tác trong giai đoạn chiến tranh Việt
Nam đang hồi khốc liệt. Thời ấy, với nhiều người, với rất nhiều người, sống một
ngày đồng nghĩa với sự chịu đựng những đe dọa từ chiến tranh và từ sinh kế.
Tuy nhiên, nếu ngôn ngữ chỉ là một chuỗi những liên hệ bất tận như vậy
thì, như các nhà hậu cấu trúc luận sau này đã chỉ rõ, ngôn ngữ không còn khả
năng quy chiếu vế hiện thực và do đó, cũng không còn khả năng phát hiện chân
lý được nữa. Bùi Giáng hoàn toàn về điều đó. Trong bài “Phố phường cỏ mọc” in
trong tập Mùa thu trong thi ca, ông mỉa mai: “người ta tưởng chừng ngôn ngữ
có thể nói ra được sự thật”(3). Ai tưởng thì cứ tưởng, riêng ông, ông rất bi
quan:
Tôi gọi Mỹ Tho là Mỹ Thỏ
Mỹ Thọ muôn đời là Lục Tỉnh hôm nay
Tôi gọi Sóc Trăng là Sóc Trắng
Gọi người sương phụ gái thơ ngây.
Hoài nhi khả năng “tái hiện hiện thực” của ngôn ngữ, có khi Bùi Giáng bỏ
cuộc chơi trong lãnh vực ngữ nghĩa để đuổi bắt một trò chơi ở ngữ âm, với nhịp
điệu trầm bổng của các thanh, các âm. Ðó là những lúc Bùi Giáng làm những câu
thơ toàn bằng chữ Hán hoặc những câu thơ hoàn toàn vô nghĩa, trong đó, chỉ có
những tiếng động lanh canh lách cách của các âm, các vần, các thanh điệu va
chạm vào nhau mà thôi. (5)
Những trò tra vấn ngôn ngữ ấy, dù sao, cũng là những trò chơi của một
người trí thức. Tôi nghĩ, đó là ý nghĩa của cụm từ “ở trong dấu ngoặc” trong
đoạn thơ trên của Bùi Giáng. Sau này, chủ yếu là sau năm 1975, ông thoát được
những ám ảnh thuần túy trí thức ấy. Thơ của ông, đằng sau cái vẻ ngớ ngẩn
điên khùng, lại chứa đựng nhiều nhân tình hơn:
Bây giờ xoang điệu đười ươi
Ðiệu hoa lầu các ngậm ngùi dấn thân
Nói đến “xoang điệu đười ươi” là nói đến những yếu tố quậy phá bên
ngoài. Ở đây nên chú ý là Bùi Giáng, cả trước và sau năm 1975, đều nói đến
cái điên của mình; tuy nhiên, sau năm 1975, tần số xuất hiện của những bài viết
về cái điên ấy tăng lên rất cao. Hơn nữa, trong những bài thơ ấy, Bùi Giáng
nhắc đến cái điên của ông một cách cực kỳ tỉnh táo, như là cái điên của một
ai khác:
Chớm vừa tỉnh táo hôm qua
Mà hôm nay đã hét la vội vàng
Oàn ào quậy phá xóm làng
(Cho hay là giống) (6)
Ðôi khi với chút hài hước:
Ðiên cuồng mà tưởng nên thơ
Cuồng điên mà tưởng làm thơ như thần
(Tặng bạn điên)
Có khi vừa hài hước vừa nhuốm chút tự hào:
- Ủa, phải anh sáu Giáng đó không?
- Và cô có phải cô Bông năm nào?
- Anh còn nhớ rõ, ôi chao
- Vợ chồng tôi cũng lúc nào nhớ anh
- Anh điên mà dzui dzẻ thập thành
- Còn chúng tôi tỉnh táo mà đành buồn hiu! (7)
Ðiên, mà ý thức về cái điên của mình một cách sáng suốt như vậy, kể
cũng rất lạ lùng. Nhưng điều đáng lạ lùng hơn nữa là, càng điên thơ của Bùi
Giáng càng chất chứa nhân tình, hay nói theo ngôn ngữ của ông là “điệu hoa lầu
các ngậm ngùi dấn thân”. Thơ không còn là một trò chơi chữ nghĩa nữa mà là một
sự bộc bạch, một sự thố lộ tâm tình:
Lời tỉnh táo lời mê man
Ðiệu thê thiết rống điệu bàng hoàng ca
(Y ư mộng du ư mê)
Một tiếng đoạn trường:
Câu thơ viết ngắn viết dài
Ghép làm một mảnh miệt mài cho nhau
Ghép thật chậm ghép thật mau
Ghép lui ghép tới ghép gào rống tru
(Câu thơ viết ngắn)
Ngay cả khi may mắn, được hạnh phúc, Bùi Giáng cũng dùng thơ để gửi gắm
niềm vui:
Những tờ thơ mỏng tạc ghi
Niềm vui vô tận từ khi dì về
Chính vì đem hết tâm tình, cả vui lẫn buồn, cả hãnh phúc lẫn thống khổ,
gửi gắm vào thơ như vậy, cho nêm Bùi giáng mới khắc khoải trông đợi sự cảm
thông của người đọc, điều, trước năm 1975, có lẽ ông ít khi nghĩ tới:
Tôi cười tôi khóc bâng quơ
Người nghe người khóc có ngờ chi không
(Bao giờ)
Hay:
Xổ bầu tâm sự điêu linh
Ai người chia sẻ với mình với ta
(Một giờ)
Khát khao được thông cảm, có lúc ông năn nỉ:
Tặng nhau từ ngữ lạc lầm
Cũng xin hồng lệ hãy đầm đìa tuôn
(Y ư mộng du ư mê)
Nói đến “từ ngữ lạc lầm” là nói đến sự bất lực của người sử dụng ngôn
ngữ chứ không phải là sự bất lực của chính bản thân ngôn ngữ. Ðó là sự thất vọng
rất thực tế chứ không còn là một sự thất vọng mang tính siêu hình.
Người điên ngôn ngữ điệp trùng
Dở chừng như mộng dở chừng như mê
Thưa em ngôn ngữ quặt què
Làm sao nói được nghiệp nghề người điên
(Người điên)
Bùi Giáng, sau 1975, rõ ràng là một nhà thơ “ngậm ngùi dấn thân”. Ông
sống ngoài đường phố nhiều hơn trong nhà; thơ của ông cũng nhuốm nhiều chất bụi
của nhân sinh. Rời bỏ những trang sách triết học hiểm hóc của Nietszche, của
Heidegger, ông lắng nghe những tiếng nói âm thầm của đời sống chung quanh:
Anh đi đứng phố ngồi hè
Thiu thiu nằm ngủ lắng nghe chuyện gì.
(Cảm ơn)
Cũng ý tương tự, ông có một câu thơ khác không chừng ý vị hơn, mênh
mang hơn:
Chiêm bao đứng phố ngồi hè
Nghìn phương mây gói còn nghe ví dù
(Ví dù)
Nhà thơ đường phố ấy viết về mình một cách rất đỗi hiền hòa:
Ðường quanh ngõ quẹo lang thang
Niềm vui tao ngộ muôn vàn lạ thay
Trái tim mỗi mới mỗi ngày
Mỗi giờ phút động mây trời rung rinh
Ðường đi mất hút thình lình
Những khuôn mặt lạ những hình ảnh quen
Tạm nhờ men rượu nguôi quên
Niềm vui nỗi nhớ chênh vênh lạ lùng
(Ðường quanh ngõ quẹo)
Có thể nói, sau 1975, thơ của Bùi Giáng giảm chất siêu hình và tăng rất
nhiều cảm xúc. Thơ ông không còn là những cuộc tra vấn, “lời nghi vấn lời”,
mà chủ yếu là một sự bộc bạch tâm sự, “lời lời vô tận tự lòng mà ra”. Ông viết
nhiều về những buồn vui trong đời thường.
Tôi ngồi chép mãi bài thơ
Quẩn quanh vần điệu bao giờ cho xong
Ðôi phen lệ chảy ròng ròng
Tâm tình kín đáo giòng giòng tuôn ra
Tiếng cười tiếng khóc tiếng ca
Tưởng chừng khép mở màu hoa mấy mùa
(Chuyện bữa trước bữa sau)
Hình như Bùi Giáng cũng ngạc nhiên về điều ấy:
Rong chơi râu tóc bạc phơ
Còn nghe đắm đuối vần thơ yêu người
Ngạc nhiên, nhưng chưa chắc ông đã hài lòng khi ông tự biết:
Mỗi ngày thân thể mỗi gầy
Mỗi năm tim máu mỗi nhầy nhụa ra
(Mỗi ngày)
Có lẽ, Bùi Giáng xem những bài thơ xuất phát từ tim máu “nhầy nhụa” ấy
là những bài thơ “tèm nhem tâm hồn” chăng?
Ðiều rất thú vị là sau 1975, không phải chỉ có Bùi Giáng là trở thành
nhà thơ lãng mạn chủ nghĩa theo nghĩa là kẻ xem thơ chủ yếu như một sự bộc lộ
cảm xúc và nhắm tới, trước hết, mục đích giao cảm với tha nhân. Một sự “đổi
giòng” tương tự cũng diễn ra trong sáng tác của rất nhiều người khác, kể cả
Mai Thảo lẫn Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên, tuy ở mỗi người, mức độ và thời
điểm “đổi giòng” khác nhau. Hình như khi bị đẩy xuống tận cùng thảm họa,
không còn lại gì cả, người ta bắt đầu nghiêng xuống lắng nghe tâm tình của
mình một cách chăm chú và thành khẩn hơn, từ đó, người ta cũng đâm ra thèm
khát được thông cảm, được chia sẻ hơn chăng? Nếu đúng thế thì hiện tượng ít
nhiều chuyển sang xu hướng lãng mạng chủ nghĩa là một trong những đặc điểm lớn
của văn học miền Nam thời kỳ hậu 1975.
NGUYỄN HƯNG QUỐC
1. Trích trong tập thơ điên... thứ thiệt do Thái Bình Thiên quốc xuất bản
tại Sài Gòn năm 1970.
2. Quan điểm về ngôn ngữ và văn học của Jacques Derrida chủ yếu được
trình bày trong hai cuốn: De la grammatologie (Minuit, Paris, 1967), Gayatri
Chakravorty Spivak dịch ra tiếng Anh, of Grammatology, Johns Hopkins
University Press xuất bản năm 1976, và cuốn L’écriture et la différence
(Seuil, Paris, 1967), Alan Bass dịch sang tiếng Anh, Writing and Difference,
Routledge xuất bản tại London năm 1978. Cuốn sách giới thiệu Derrida một cách
vắn tắt và dễ đọc nhất có lẽ là cuốn Derrida của Christipher Johnson, Phoenix
xuất bản tại London năm 1997.
3. Bùi Giáng (1969), Mùa thu trong thi ca, Sống mới in lại tại Hoa kỳ,
không ghi năm, tr.223
4. Bài thơ này in trong tập Ngàn thu rớt hột; (tôi bị mất tập thơ này
và không nhớ số trang)
5. Về vấn đề ngôn ngữ trong thơ Bùi Giáng, xin xem thêm chương “Cuộc
hòa giải vô tận: trường hợp Bùi Giáng” trong cuốn thơ, v.v... của Nguyễn Hưng
Quốc, văn nghệ xuất bản, 1996, tr.181-216.
6. Tất cả những câu thơ của Bùi Giáng dẫn trong bài này nếu không có
chú thích riêng đều trích từ các tập thơ Bùi Giáng do Việt Thường xuất bản tại
Canada năm 1990; Thế Kỷ 21 xuất bản tại California năm 1994 và Bùi Văn Vịnh
xuất bản tại California năm 1995.
7. Ghi theo trí nhớ, không nhớ trong bài nào và tập nào.
2/ Bùi Giáng, nhà thơ của ngày tháng ngao du
Thi sĩ Bùi Giáng đã ra đi. Cuộc rong chơi rất đỗi tài tình của ông rồi
cũng tạm ngưng. Ngưng phần hình. Phần hồn hãy tiếp tục tồn sinh cùng sử lịch
qua tác phẩm của ông và chính cái sống rất mực Bùi Giáng nơi ông. Bùi Giáng
giờ đây đã thong dong bỏ chân xuống tháng ngày một cuộc lữ tao nhã khác, cho
riêng một đời thiêng Hoàng hạc.
Bùi Giáng đã trải một cánh bay dài mênh mông chiếc bóng trong bầu trời
Thi ca Việt Nam nửa thế kỷ qua. Có thể mai kia, khi thần thái xã hội bình an
hơn, việc thẩm định những giá trị được công bằng, trường hợp Bùi Giáng sẽ lại
được lật qua lộn về tự do, nghiêm túc hơn.
Tôi viết bài này như một tri ân đối với những gì Bùi Giáng lưu dấu nơi
tôi.
*Ðôi điều phân vân thưa trước
Hiểu về Bùi Giáng là khó; viết về ông thật vô cùng khó; nhất là Cõi Thơ
riêng ông. “Làm thơ chỉ là một cách dìu ba đào về chân trời khác”. Bùi Giáng
từng nói như thế. Nhưng tùy nghi vào thể điệu rong chơi ngôn ngữ của Bùi
Giáng thì nó không hẳn thế. Ba đào, chân trời? Hay Ba chân trào đời? Ba đời
trào chân? Hay chân, trời, ba, đào? Hay chân – trời – ba – đào? Dìu ba đào về
chân trời? Hay làm thơ là dìu chân trời về ba đào? Một trôi giạt đến mênh
mông, ngay từ thế sự ngữ ngôn. Thật khó cho cách thở và cách nghĩ của người
viết về ông - dù thở đủ kiểu và nghĩ ngợi ngay trong lúc chiêm bao.
Em về giũ áo mù sa/ trút quần phong nhụy cho tà huy bay (1). Ðây là câu
thơ đẹp ở nhiều góc độ, nhưng nó rất có ...vấn đề. Với một số não trạng thì
nó rất mông lung, người đọc sẽ không nắm rõ chủ đích của tác giả như khi đọc
câu: “Nếu anh sản xuất tăng gia, là em thu hoạch bò gà sắn khoai”, Cái gì là
áo mù sa? Và ta vào suppermarket nào để tìm cho ra cái phong nhụy quần? Do vậy,
viết về Bùi Giáng không phải cho quan nào cũng đọc.
Trong Lễ Hội Tháng Ba Bùi Giáng chỉ ra một con đường không có bốn bên
mép rìa: “Ðó là tiếng nói Tinh Thể Uyên Nguyên của thơ. Thy sỹ đã bước vào
Vòng Tay rộng Rãi của Thiên Nhiên, và cuộc tiến nhập đó đã đạt người Thy Sĩ
trong Cõi Nguồn Tinh Thể của mình”. Ðây là một đoạn viết hoa gấm nhưng dễ hiểu
về mặt trực nhận. Nó hãy còn xôn xao dưới lớp từ ngữ kia những ẩn nghĩa rất cần
thiết tìm ra để lý giải cho tận ngọn nguồn. Nó lại đòi hỏi một song trùng
tĩnh luận về Thiên Nhiên – Nhà thơ, Tinh thể - Tạp ngoại Thực tại, Biến, Dịch...
sau cùng là mối “liên hệ, phân hủy, lập dựng”, giữa Những – Cái – Tôi trong một
Vũ Trụ Riêng Tôi.
Quả thật, viết về Bùi Giáng là tôi làm cái việc chỉ vào cục gạch mà bảo
rằng đây là Như Lai phu nhân.
1. BÙI GIÁNG - VÀI NÉT CHÂN DUNG
Bùi Giáng sinh thời có một khuôn mặt kỳ dị với một cặp rắn của rắn. Nó
tròn vành vạnh, sắc sảo; khi Bùi Giáng nhìn tự nhiên là rất thông minh hiền từ;
khi trừng trừng chú mục nó biểu lộ một tinh lực rực lửa, kỳ bí; nó có hai màu
đen trắng quặn nhau, như cái hình vẽ biểu tượng cho thái cực; đôi mắt ấy luôn
rực sáng, như hai vì sao; nó là cái lò luyện đan để tất cả lời thơ phi phàm bốc
khói mây.
Ông có nụ cười khá bảng lảng, tha thứ; một giọng nói hiền hòa, không
phân tranh. Hai đặt trưng này họa ra một Bùi Giáng trọn một đời phiêu bồng,
ngoài Cõi, không tơ hào đến mảy may danh vọng quyền lực, không vợ con, không
mái nhà; ông sống tha thiết với cuộc đời nhưng thường trực ngay ngã ba ngã tư
những con đường lem luốt bụi giang hồ; dù thơ ông rất trang trọng, trí huệ.
Lý Bạch xưa đã từng uống rượu của triều đình, Ðào Tiềm đã lỡ ra làm
quan sau mới Qui khứ lai từ. Bùi Giáng không hẳn đã hơn Ðào Tiềm Lý Bạch
nhưng ông không thể, Khuất Nguyên giải quyết bế tắc nhưng ông thanh thản
rong chơi, kịch liệt đùa rỡn, luôn thông thái đổi mới cách chơi ngày ngày,
nguy nga tạo dựng một nhân sinh quan rộng tỏa trên mọi nẻo đường tư tưởng;
mãi tràn lan cuộc vui cùng nhân gian tháng rộng năm dài.
Như chúng ta, ông vẫn có nỗi buồn, vẫn nghe trong hương thời gian hắt
hiu nỗi đau, vẫn sống vào một thời đạn bom – đạn bom tiếng nổ và đạn bom của
lời; đạn bom thảm họa hiểm nghèo và đạn bom thương nhớ – nhưng ông đã gởi cuộc
đời mình vào cái thế giới huyền nhiệm của Thi ca, đã tàn dưới nguyệt cho trò
chơi riêng của mình. Ông cũng đã, như chúng ta được ân sủng và cùng lúc chịu
tác hại từ thánh nhân, sách vở, tư tưởng, đạo lý, nhưng ông đã minh triết hóa
giải nó vào một cuộc Ðiên, Một thế giới điên của nung nấu lửa tam muội, của
bên kia bĩ ngạn. Một lẽ Trung Dung trác tuyệt, trong cái Ðiên. Bỏ nhầm cuộc đời
xuống nhân loại buổi ấy chỉ có tả và hữu, ta và thù, chiến tranh là thường trực,
hòa bình chỉ là một nhịp thở ngắn ngủi, Bùi Giáng đã có một thần thái đỉnh đạt
để ngắm về nó, xem như bóng mây.
Sống giữa đời, ông có khả năng lấy mật đắng ớt cay làm ngọt. Ăn cơm để
thiu nguội rất nhiều ngày. Ông ăn chè ngọt nấu cả với tương chao, nêm vài con
mắm. Ông nỗi tam bành lúc người đời lẽ ra nên cười, được phúc đắt lợi. Ông rất
vui với những ngày chói lòa ánh dương trong một thị thành mà nhìn xe cộ tưởng
hưu nai: Buồn phố thị cũng xa bay như gió/ Cộ xe nhiều cũng nhảy bỗng như
hươu/ Bờ cõi dựng em xuân xanh còn đó/ Bến đào nguyên anh khoát áo khinh cừu.
Ông lạ sinh hoạt đời thường, lạ trong thi ca, tư tưởng. Ông rất đỗi cô đơn tự
đọa đày; vầy cuộc chơi múa hát chỗ vô thanh, đùa giỡn quỷ thần, tương đắc kẻ ở
mộ, nhớ nhung người sẽ tới. Ông trào lộng tuyệt cùng giữa bi đát, siêu thoát
ngay giữa một tồn sinh tinh mật. Nói chung cuộc sống của ông khá bí ẩn và kỳ
dị.
2. BÙI GIÁNG - NHỮNG GIAI THOẠI TIÊU BIỂU
Ðã có rất nhiều giai thoại, huyền thoại về ông; vô số được thế gian tô
bồi sau này, khó minh xác thực hư. Xin lai rai vài chuyện tiêu biểu.
Chuyện thứ nhất. Xưa kia ở Quảng Nam, quê chúng tôi, người ta kể rằng
khi còn trả Bùi Giáng đã có vợ. Vợ sớm qua đời . Hôm tẩm liệm, ông nhơ người
hàng xóm làm thịt 21 con gà.Ông thành tâm bỏ gà còn thịt sống vào quan tài tẩm
liệm người vợ thân yêu. Họ hàng thấy quái. Bèn căn ngăn. Ông bảo: “vợ tôi ưa
ăn thịt gà, nay có thể lên thiên đường hoặc xuống địa phủ chi đó, thịt gà đâu
ăn” Câu chuyện trên là hoàn toàn khó tin. Bịa đặt, phao tin đồn nhảm, gia
đình người ta kiện cho. Nhưng cái tuyệt hảo ở đây là người đời rất đỗi yêu
ông, giai thoại trên như phóng họa phần nào những quái ảnh kỳ tâm nơi một Bùi
Giáng lắm điều xem ra bất khả tư nghị. Bà đi thể điệu bước ra/ tay khăn tay
áo là hoa thêu thùa/ bà về cỏ rậm dậu thưa/ đêm tàn cấm nguyệt chiều trưa lâm
tuyền.
Chuyện thứ hai. Vào đầu thập niên sáu mươi có lúc ông đi dạy Việt văn ở
trường trung học tỉnh lỵ. Một hôm giảng truyện Kiều, đến chỗ nàng Kiều phải hồng
trần lư u lạc, thầy Giáng khóc òa. Khóc vỡ tan. Nhảy phóc qua cửa sổ lớp học,
băng bộ ra bến xe, về Sài Gòn. Học trò nam nữ ngồi chờ mãi, tưởng thầy đi đâu
đó sẽ trở lại. Trên bàn sách vở, bao thuốc lá hãy còn. Hóa ra thầy bay luôn,
bỏ lớp bỏ trường, bỏ cả tỉnh lỵ nhiều năm sau. Hỏi hà cớ. Thầy ngậm ngùi nói
mần răng trở lại nơi Em Kiều đã một lần hy sinh cho cái trò chơi nhân gian kỳ
ảo chỗ liên tồn.
Nguyễn Du xưa kia đã một lần than thở “Ðịa địa xứ xứ giai mịch la” (2).
Bùi Giáng hôm nay có thể.
Sau này, đọc Mùa Thu Thi Ca, đoạn nói về Ðoạn trường tân thanh, ta thấy
ông viết:
“Nguyễn Du không kinh hoàng nhảy lui. Cũng không bị tẩu hỏa nhập ma rú
lên một tiếng như Zarathustra also sprach. Ông đạm nhiên làm Nam Hải Ðiếu Ðồ.
Kẻ câu cái gì tại Nam Hải?
Ðáp vào câu hỏi ấy, ta xin một câu thơ phùng khánh:
Con làm Nam Hải Ðiếu Ðồ
Ngồi câu con Cá Hư Vô Tâm Hồn
Tựu trung mỗi phen sờ mó vào Kiều nhi, vừa chạm tới những tuyệt diệu từ
lãng đãng phù động kia, chớm gặp xuân đã ngộ phải Thu, vừa ướm hỏi ra thu đã
vấp phải Ðông Phong Thanh Hạ, vừa tân thanh ngâm bãi đã trường đoạn thê
nhiên, chợt mới hội thương tình đã hốt bách cảm sinh, mới vừa mơ màng nhìn Hồng
Lĩnh vân phong đã giật mình nghe ra Tiền Ðường triều tiêu, chưa kịp qui ẩn
kinh, đã bàng hoàng với phiến oan thanh.. Bỏ ra Nam Hải buông câu chỉ bắt được
Hư Vô Con Cá..”.
Chuyện thứ ba. 1975. Thời của thu vàng một loáng hóa rừng phong hoang hồng,
xao xác đến muôn trùng số mệnh con người hoa cỏ. Tôi có dịp lai rai sống với
Bùi Trung Niên Thy Sỹ. Thưở ấy đói kinh. Người người tăng gia, nhà nhà sản xuất.
Cuốc đào cả lề đường hè phố, vườn biệt thự, trồng luống khoai hàng sắn. Cày sới
nát bộ não vì cái ăn, cái Ði – Ở. Tâm linh màu chì. Một hôm chúng tôi đang đi
long nhong gần nhà thờ Ba Chuông kiếm vài chung quốc lũi, Bùi Giáng bỗng nói
cha ta về nhà chút đã. Tôi hỏi về mần chi. Ông bảo cho heo gà ăn chớ không tụi
nó chết. Hóa ra thi sĩ cũng tăng gia sản xuất. Về nhà – trong hẻm, gần cửa xe
lửa số 6 – đã thấy ngay trước hàng hiên có mấy con...heo đất, mấy con vịt nhựa
– loại được khoét một đường rãnh trên lưng, để bỏ tiền tiết kiệm. Chúng được
đặt trong rọ, hoặc úp bằng những cái rỗ đàng hoàng, như heo gà thật. Bên con
heo đất hãy còn mấy cọng rau tươi, nơi gà vịt nhựa có dăm hạt gạo vung vãi. Một
người bà con nói nhỏ với tôi: “Phải chăm sóc cẩn thận, ảnh về thấy heo gà
không có thức ăn ảnh khóc”.
Trên đây, ba giai thoại tiêu biểu về mỗi Bùi Giáng.
Giai đoạn đầu, thuở liệm vợ bằng gà sống đã phôi pha hoang đường, định
mện chỉ ra ông sẽ là một hiện tượng kỳ vĩ, khác người. Một cái Ðiên đang hăm
he cái Tỉnh. Một Muôn Ðiệu Tài Hoa sẽ vùi chôn người Bùi Giáng thường tình.
Cuộc điêu linh sẽ gạn lọc, phiên dịch, phơi bày ông ra giữa trận đồ hoang vu
nồng cháy của Phố Thị Ðìu Hiu của Mù Sa cố Quận. Sông ơi em bỏ sa mù/ đi
thiêm thiếp cõi quân thù gọi nhau/... Một đời lận đận đo rồi đếm/ Mỏi gối người
đi đứng lại ngồi.
Giai thoại thứ hai nhằm vào thời ông rời quê nhà – xứ Trung Việt đẽ hằng
chăn dê; đã lùa bò vào đồi sim trái chín – để vào Sài Gòn; là khởi nguyên nơi
ông mùa tinh hoa tụ hội: Thi tập Mưa Nguồn chào đời. Xin chào nhau giữa con
đường/ mùa xuân phía trước miên trường phía sau. Sau đó là những tuyệt phẩm:
Lá Hoa Cồn, Ngàn Thu Rớt Hột, Mùa Thu Thi Ca, Ðường Ði Trong Rừng, Sương Tì Hải,
Sa Mạc Phát Tiết, Sa Mạc Trường Ca, Trăng Châu Thổ, Lễ Hội Tháng Ba, Sương
Bình Nguyên, Biển Ðông Xe Cát, Lời Cố Quận, Ngày Tháng Ngao Du v.v... ông dịch
vô số tác giả từ đông chí tây, cổ kim; dịch rất tài hoa thông suốt, như Hoàng
Tử Bé, Ngộ Nhận, Khung cửa hẹp, Kim Kiếm Ðiêu Linh, Hòa Âm Ðiền Dã v.v...
Sức điên, sức rong chơi, sức đọc, sức làm việc của Bùi Giáng là vô cùng
tận. Ông là tượng trưng cho sự nhạy cảm, sự thông minh thoáng đạt, và sự bất
định, bay bổng. Ðây là tai họa chính ông, đọa đày trực diện. Lúc này ông đã
là một hấp lực kỳ vĩ với người đọc. Ðọc ông là si mê mơ màng, là lơ đãng tìm
ra thuốc chữa cho một cần thiết thoát ly, đối kháng, chối từ, tái thẩm định.
Là dìu dặt vào hương vị đắng cay mật ngọt thời hoang hóa hòn đạn làm nổ trái
bom, điêu linh giữa tồn sinh phân hủy, giữa gươm đao đang thừa mà hụt hao
nhân ái. Là chiến đấu thoát vượt cuộc khổn vây công bằng tự do; một xô bồ rừng
rú tư tưởng; một trần gian xanh đen đến tiêu hao, phân ly chính mình. Bờ lúa
của Bùi Giáng.
Em chết bên bờ lúa
Ðể lại trên đường mòn
Một dấu chân bước của
Một bàn chân bé con
Anh qua miền cao nguyên
Nhìn mây trời bữa nọ
Ðêm cuồng mưa khóc điên
Trăng cuồng khuya cuốn gió
Mười năm sau xuống ruộng
Ðếm lại lúa bờ liền
Máu trong mình mòn rỗng
Xương trong mình rã riêng
Anh đi về đô hội
Ngó phố thị mơ màng
Anh vùi thân trong tội lỗi
Chợt đêm nào gió bờ nọ bay sang.
Giai thoại thứ ba là hiển thị cuộc hí lộng đã dắt díu thi sĩ chơi với đất
nhựa vô tri. Ký gởi sự sống trên những “con - vật – không – có – sống – không
– có – chết”, là lúc ông xấn tới tột đỉnh đất trời đổ lộn nguyên khê. Ông
tình táo trong một trạng thái đặt biệt của người điên. Ông sắp xếp cái Ðiên
theo cách người tỉnh. Cái điên phần nào giúp ông siêu thoát. Nhưng cũng đặc
biệt đọa đày cho ông là chính ông ý thức về cái điên của mình. Xuống sông xuống
biển hãi hùng/ mà không thể giết được linh hồn mình/ Trải bao nhiêu trận bất
bình/ cuồng điên tôi tự giết mình tôi chơi/ Là: Tôi từ khởi sự cuồng điên/
tôi từ uống rượu triền miên tháng ngày/ hét la tháng rộng năm dài/ tình yêu
tiêu diệt từ ngoài tử sinh.
Khoảng đầu thập niên 70 có lần người ta đưa ông vào nhà thương Biên Hòa
chữa cái bệnh đứng ngã ba nhìn ra ngã bảy. Từ nhà thương điên trở ra, bửa gặp
nhau thấy ông rất tỉnh. Bèn hỏi một câu thường tình: “Nhà thương điên Biên
Hòa trị cái tẩu hỏa hay hỉ!”. Ông trả lời tỉnh queo: “Chữa trị quái gì đâu.
Chẳng là ở ngoài mình thấy mình điên số một, khi vô nhà thương điên mới hiểu
ra mình là đồ bỏ, điên nhí, điên tiểu thủ công nghiệp; trong nhà thương điên
nhiều cha điên thượng thừa, điên vĩ đại hơn mình nhiều. Do vậy mà mình tự động
thôi điên”.
Có thể Bùi Giáng chẳng điên. Thiên địa nó tẩu hỏa nhập ma; chính thái cực
lưỡng nghi nó lôi ông vào trận địa gây cấn tà huy. Hãy đọc một đoạn nhỏ trong
Mùa Thu Thi Ca, sau khi nhà thơ đứt phèo phổi được tin Marilyn Monroe đang lộng
– lẫy – một - tòa lại tự động chuyển – sang – từ - trần bên trời Tây:
Mọi nhỏ – Tại sao chị tự tử
Monroe – Tại vì chị là người da trắng. Huống hồ nữa là...
Mọi nhỏ – Là sao huống nữa?
Monroe – huống nữa là màu da trắng của chị còn trắng hơn tất cả
màu da của mọi người da trắng khác.
Mọi nhỏ – Thế nghĩa là màu da trắng của chị đã đạt quai nhai cảnh giới
của lô hỏa thuần thanh thánh thần thiên tiên liên tồn tố bạch?
Monroe – Nhiên
Mọi nhỏ – Sao gọi là liên tồn tố bạch?
Monroe – Tố bạch là tách bộ.
Mọi nhỏ – Còn liên tồn? Cũng đồng nghĩa với tồn liên chăng?
Monroe – Nhiên”
Sau, chết rồi mà em Monroe lại gặp tình cờ em Mọi Nhỏ. Mọi nhỏ lúc này
đã dấn mình một cách nhiệt huyết vào trung tâm điểm lửa đạn chiến tranh Việt
Nam. Monroe ngậm ngùi hỏi:
Monroe – Chị tự tử đã đành. Sao em cũng tự tử? Em ở trong rừng mát mẻ,
em tự tử làm gì cho phí mất màu da bồ quân bánh mật của em như thế?
Mọi nhỏ – Em đâu có tự tử. Chính là thật ra cái hòn đạn nó tự tử em.
Monroe – Hòn đạn nào như thế?
Mọi nhỏ – Hòn đạn hoặc trái bom gì đấy. Nó nổ một trận tam bành. Nó tự
tử mất em, đồng thời với cái truông đèo thơ mộng chiều hôm qua.
Monroe – Sao em không dời đi nơi nào ẩn trú, lại ở yên một chỗ mà
chờ đợi đạn bom mà làm gì như thế?
Mọi nhỏ – Dời đi nơi khác thì đồng thời phải dời cái truông đèo
đi nơi khác. Em sức mấy mà làm cho xuể sự đó. Kể ra lúc bấy giờ em cũng định
lặn xuống ở dưới đáy nước cái khe kia thì thật là bảo đảm nhưng không kịp.
Cái bom nổ còn chớp nhoáng hơn cái ý định nảy ra trong đầu óc em”.
Ðâu phải con người không chuẩn bị kịp cho một trái bom nổ chớp nhoáng.
Trong kiếp người chúng ta có những cái vô cùng không kịp. Ðã vô cùng từ bỏ vườn
cũ truông đèo không mang theo, trong hun hút máu xương. Ðã một phương trời
gom nhặt phút sống, mà vắng mất nắm đất bên đàng chỗ cổng làng khe nước rẩy
nương. Bây giờ ta hỏi lại thu/ Khu vườn lá ngọc sao thu phiêu bồng. Nơi hải
giác thiên nhai anh hay tôi, em Mọi hay Ðêm Nguyệt Cầm Ca – Ly, đã thức giấc
nỗi lòng nhật mộ hương quan hà xứ thị (3). Và đâu phải anh tự do hân hạnh được
quyền có hay không cái tẩu hỏa nhập ma. Trái bom nó – tư -ï tử - em kia mà.
3. BÙI GIÁNG- TỀ THIÊN NGÔN NGỮ
Thơ Bùi Giáng còn với người đọc bây giờ hay không? Với thời gian,
hiện thực luôn bị xé rách, cầy xới, đào thải. Lỗi thời ngay khi còn là bây –
giờ. Mỗi sát na, nghệ thuật mỗi chuyển dịch, thay áo, vì cái kỳ cùng tốc độ
thế kỷ. Nhưng ngay hôm nay vẫn có một số đông người thưởng ngoạn say mê Bùi
Giáng. Vẫn thấy lạ ý tưởng. Vẫn thấy mới ngôn ngữ. Vẫn nhận ra ở đó một thế
giới giàu mộng tưởng, đôi khi sầm uất những linh cảm xuất thần. Người đọc rất
đỗi hoang mang bay bổng, kỳ thú chỗ khó thể hiểu thấu đạt thơ Bùi Giáng,
nhưng cảm được. Ðọc qua mắt, bằng đầu, với trái tim, từ hồn. Một hồn rất nhẹ,
rất bơ vơ, rất rộng xanh của biển trời, và rất khắc nghiệt trí tuệ của thời đại.
Từ đó, tiếp cận thơ Bùi Giáng người ta nghiêm chỉnh bâng khuâng, và được dịp
rong chơi trong một não trạng bấy lâu khô hơn nhựa, cần thiết phải thích ứng
bon chen.
Bùi Giáng không hề cực nhọc hô hào nhiệm vụ giáo dục quần chúng, văn dĩ
tải đạo mà là những phóng mình đỉnh điểm tự do cho riêng người thưởng ngoạn.
Nhưng rõ ràng Cái Ðẹp cần nó, và ÐạÏo không thể thiếu nó: tự do viết, tự do đọc,
tự do tư tưởng. Với Bùi Giáng, tuy Ðau, nhưng tất cả là Rỡn là Rong chơi, trò
chơi, cuộc chơi. Hí trường này bãng lãng mà không thiếu xót đau một quá trình
khổn bách kiếp người. Nếu Ông Trời Xanh và Bà Trời Trắng nói được, nếu Như
Lai và Như Lai Phu Nhân hạ cố, nếu Phó Như Lai và Phó Như Lai Ái nữ mà trả lời
được, sẽ trả lời mệt nghỉ, với những Ðiều Rỡn mà Bùi Giáng lót đường huyền ẩn
như kinh. Khi còn nói xử thế nhược đại mộng/ hồ vi lao kỳ sinh (4) là còn so
bì, chẳng là chơi. Ðiên chơi cho bớt điên đầu/ điên đầu cho bớt điên rầu rĩ
chơi/...Buồn vui ai biết đâu ngờ/ nằm trong tử diệt nhớ giờ tái sinh/... Rỡn,
Chơi, có thể là hình thái sinh động nhất, rất mực nghiêm chỉnh cho một săn đuổi
thực tế, làm chủ những trò ảo hóa mà tự nhiên xã hội cùng thiên nhiên kim cổ
hãy còn tàn nhẫn dấu mặt.
Ðầu tiên là Bùi Giáng chơi ngôn ngữ thiên tài. Ông sài chữ một cách hào
phóng, phung phí. Ông tự thân thoát khỏi ý nghĩa ngôn tự, ngữ cảnh nhào lộn,
đu bay, không gốc rễ, như cảnh ráp nối người giữa không trung cuộc nhảy dù biểu
diễn. Như cái pháo hoa xòe cánh trong đêm Hội, thể hiện cái rực rỡ rất đỗi
đánh thức, lại rất đỗi phù du. Do bản thân sự ngao du rong ruổi trong sa mạc
chữ nghĩa, trong thế giới ảo hóa này, thơ Bùi Giáng tạo cho người đọc một giá
trị cảm thức sâu sắc, bàng hoàng, đẩy tới những hoài cảm, tưởng vọng mênh
mông hơn, chính ý lực của bài thơ mà từ đầu tác giả muốn hàm gởi.
Bùi Giáng giàu ngôn ngữ như cát bãi biển. Mỗi chữ lại ẩn tàng nhiều mặt
biểu hiện, đa dung mạo, đa nội lực. Nó có khả năng biểu thị rộng lớn cái Tận Cùng
Ý Nghĩa, không phải ÐÃ – Nói, mà là Sẽ – Nói. Ðầu khe lá cỏ phai rồi/ đã vang
tiếng ngựa bên lời ước mong/... Em nhìn nhé giờ đây ta trở lại/ nghe giậy hồng
một mùa cũ tái sinh. Ông dùng từ Hán Nôm đến mức tuyệt hảo, và đảo lộn, nói
lái, trá hình, ngẩu hứng, ẩn dụ lại rất mực tài tình. Ðôi khi chữ dùng của
ông tuồng vô nghĩa nhưng là một mật ngữ, mật mã. Ông phóng khoáng rất coi thường
hạng người mà ông cho rằng hương nho, nho nguyện, mọt sách, bỏ câu chữ lên
bàn cân xem bao lạng mới dùng; ông khing bỉ bọn viết sách cứ tả núi phải có đỉnh,
tả con bò phải có hai lỗ tai. Vì chỗ tế nhị này mà rất nhiều người –hàm cả
người làm thơ viết văn – đã dị ứng, đố kỵ, không hiểu, rồi không chịu được
Bùi Giáng. Họ không muốn đọc, hoặc có đọc mà thiếu khả năng thẩm thấu thứ chữ
nghĩa nhảy múa, bay lượn như gió, biến hóa của mây. Họ từ khước ông khi ông
còn đi trên mặt đất. Họ cư xử ông bằng thái độ trong “nội ô của nhà thương
Biên Hòa”. Chỉ hôm ông qua đời, đột nhiên – nhưng không đáng ngạc nhiên – tất
cả môn phái “ngũ nhạc”, không kể chính tà, hữu chiêu vô chiêu, nhà văn thượng
thư cùng nhà văn vỉa hè, đều tề tựu trước quan tài Bùi Giáng đầy đủ. Phàm
nhân của hai chân lý đối nghịch bên này và bên kia Pyréneés đã may mắn có một
dịp nhịp nhàng, thầm lặng nghiêng mình dưới chân Núi.

Toàn bộ thơ Bùi Giáng không có cái cách làm dáng trí thức, gây nhiêu
khê đến rắc rối hoặc làm loãng cuộc chữ nghĩa đẹp đẽ trong tiếng Việt nghìn
xưa vốn có. Ông là một nhà thơ triết nhân nhưng không hàm nghĩa thơ phải nêu
chí cao trí cả như quan niệm cổ điển hằng mong đợi ở thi nhân. Trừ những thơ
văn xuôi triết luận – và những bài thơ ông dịch tam bành qua một trận thấu
triệt đến ngọn nguồn, mà khó nói ra cặn kẻ khi đường đầu cùng
Heidegger, Rikle, Holderlin, Shakespeare, Neitzche... thơ Bùi Giáng hầu hết
hình thành qua ngôn ngữ thông thường, xã hội càng ngày càng dùng đủ, rặt nôm,
lại lắm khi những ngữ từ rất lem luốc bụi giang hồ. Nó đã nhẹ tênh, gần gũi,
tự nhiên như nói chuyện, giản dị đầm ấm như ca dao. Nó rất kỳ cục, thường hằng,
nhưng tinh tế. Nó rất đơn sơ như là một chứng minh cho kỷ thuật thượng thừa của
Bùi Giáng. Trong lịch sử văn học nước nhà ít thấy thi nhân nào – kể cả thi
nhân ta rất mực mến yêu thờ phụng như Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Tản Ðà – bày
cuộc vui chơi chữ nghĩa đó đây một cách đơn giản nhưng thâm thúy, trù phú và
thiết tha ngộ nghĩnh như Bùi Giáng. Ghì môi cơn mộng la đà/ tiêu dao suốt cõi
mù sa bên rừng/nửa vời trăng rộng mông lung/ đường xa nghi hoặc tháp tùng ni
cô/... Tôi chấp nhận trăm lần trong thổn thức/ tôi bàng hoàng hốt hoảng những
đêm đêm/ tôi xin chịu cuồng si để sáng suốt/ tôi đui mù cho thỏa dạ yêu em/
Bùi Giáng có một não trạng khá đặc biệt; giật mình mơ hoang có thể mỗi
cánh chuồn chuồn bay chiều; mỗi dặm hài hôm nay không còn động vang của Thúy Kiều;
bắt gặp màu xanh trong sắc tím; nghe ra hơi thờ của Lão Trang từ nghìn dặm
tháo lui; con nai vàng ngơ ngác đạp lên lá vàng khô? Ðã là một quá ư nặng nề,
dày xéo đối với ông. Phải nhẹ hơn nữa kia. Nhẹ hơn cả hư không rỗng trống. Vì
cái não trạng vọng viễn phi biên giới kia mà khi tiếp cận với những Khổng Tử,
Hoelderlin, Heidegger, Homère, Empédocle, Nerval, Whitman, Lão Tử, Nguyễn Du,
Khuất Nguyên, Vương Bột... là cùng lúc Bùi Giáng phải chịu đựng một sự công
phá chính tâm hồn mình. Ông băng băng dong rủi trong mông lung tri thức rất mực
uyên bác, sầm uất tưởng tượng, chói lọi cái bãi hoang vô thức từ im lìm bấy
lâu giấc ngủ. Ông bất trắc dẫm lên một mặt đất rạn vỡ, bất nhẫn và vô tình
trùng phùng một định mệnh tùy ngẫu, trói buộc. Lại bất trắc bị trùng vây bởi
một trận đồ ngôn ngữ của thơ, của hồn thơ. Của Ðiên. Và của Ý Thức Về Cái
Ðiên. Sự thể ấy làm ông rất đỗi sáng suốt trong điên đảo, chưa nói một đã lộ
lồ mười, đi trên đường độc đã thấy muôn nghìn ngã ba ngã bảy, chưa kịp nhớ Mẫu
thân phùng Khánh đã hoài Nam Phương Hoàng Hậu, vừa sơm mai tươi sáng bình
sinh đã chợt tồn vọng cơn thảm đạm đêm Xiêm La Hy Lạp; thế rồi ông viết tràng
giang, bằng cả vô thức, ông cuồng ngây tẩu hỏa dịch bừa sangthơ Việt cả những
đoạn triết luận chằng chịt; dịch cả thơ ra thơ; ông cũng cố Nguyễn Du bằng
cách hợp lực làm thơ ký chung Nguyễn Du – Bùi – Trung – Niên – Thy – Sĩ. Ông ổn
định, ông dịch, ông chuyển tải tư tưởng bằng cách triệt hạ chính bản, khuynh
đảo chữ nghĩa bằng cách lạ thường; biến những chữ cụ thể, những nghĩa đã chết
trong cố định trở thành một hiện trình khác hơn, lại rất thơ, tinh diệu, biến
hóa hơn. Ông làm giầu nghìn lần tiếng Việt. Một số nhà thơ, nhà sáng tác
phương Nam trong nhiều năm, không chối bỏ rằng mình đã xài, đã từ lâu tự
nhiên sâu thẳm bị ảnh hưởng cách dùng chữ nghĩa từ thiên tài Bùi Giáng.

Những địa danh quê hương – TrungViệt, Vĩnh Trinh, Quế Sơn, Bình Thạnh,
Gò Vấp, Cửu Long, Cà Mau, Huế, Hà Tỉnh, Sài Gòn, Bạc Liêu, v.v...- đã hiện ra
trong thơ Bùi Giáng rực rỡ gấm hoa, êm đềm màu núi, thổn thức như suối nguồn.
Ðêm thưa Vĩ dạ về gần/ đã từ lâu lắm thiên thần nhớ em/... Ngồi đây tưởng nhớ
xa xăm/ Nhớ nhung lục tỉnh trăng trằm Long Xuyên/ ba mươi năm trước hiện tiền/
hình về hiện tại bóng nghiêng nghiêng đầu/ Có lúc ông tiên tri giỡn chơi một
cách lạ lùng – mà sau này lúc đời sống cô đơn ngột ngạt – ta đọc lại đến ứa
nước mắt:
Tôi gọi Bình dương là bình dưỡng
Dượng dì ơi thương nhớ cháu nhiều không
Tôi gọi Cần thơ là Cần thở
Cần thơ ơi... cần thở đến bao giờ?
Bình? Dưỡng? Thở. Không hề là chơi chữ. Mà là tiếng kêu thống thiếtcủa
tâm linh trước một thế giới người đã kiệt cạn nhân tính, đánh trào bình đẳng
tự do; đã phơi phới những lừa mị, tàn nhẫn cùng nhau; đã tinh vi biến những
đòi hỏi nhân sinh cần thiết thật sự trở thành trừu tượng trêu người trên khẩu
hiệu giấy tờ.
Khác với tất cả thi nhân đông tây kim cổ, Bùi Giáng động đậy bay lượn với
đủ sinh vật côn trùng. Chuồn chuồn châu chấu, con nai rừng chú dê nội, bươm
bướm bò gà, cả... vi trùng sâu bọ cũng trùng trùng mộng ảo yêu thương. Aáy, mộng
đời đi với mộng rồi/ trời ơi trăng rớt ngó trăng rơi/ con ruồi con kiến con
châu chấu/ bươm bướm chuồn chuồn cũng thế thôi/...Còn yêu mãi và yêu nhau
mãi/ trần gian ôi cánh bướm với chuồn chuốn/ con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại/
con vi trùng cùng sâu bọ cũng yêu luôn/
Bùi Giáng dùng cả những loại chữ nghĩa “thép – đã – tôi” như hạ quyết
tâm, chỉ tiêu, gia tăng, bổ sung, khu vực,... Hãy xem ông bùa phép vung vải,
lắm xór xa mà đậm đà hài hước: Ngày nay hạ quyết tâm rồi/ về trần thế bốc lột
người thế gian/ tình yêu đã lỗi muôn vàng/ chỉ còn bốc lột vạn ngàn máu
tim/... mỗi năm mồng một ra giêng/ con dẫn ông đạo suốt miền vực khu/ khu này
Bình Thạnh quận khu/ khu trên Gò Vấp tuyệt trù lưu phong/ dưới kia Bà Chiểu
Lăng Ông/ lên xe buýt thẳng đông chơi Sài Gòn.
Chính thế giới ngôn ngữ Bùi Giáng bày cuộc lập nhiên như thế nên khi đọc
thơ ông ta không nên vô ích cưỡng lại, cho đẳng cấp suy nghĩ, cho trí tuệ làm
việc, mà hãy thong dong trôi theo, tà tà thơ thẩn, rất mực vô tình như nhìn
con tàu chiều không có bóng hình ai trên ấy. Ta sẽ bắt gặp một thần thái
thanh tao hơn, một tổng thể bát ngát hơn, bởi vì đó chính là Thơ. Nó rộng rãi
và thơ thới hình thành từ một thiên tài chung qui chỉ vì thơ mà điên, mà sống
để điên cùng thơ.
4. BÙI GIÁNG - NGAO DU TƯ TƯỞNG
Nói đến nhà thơ là nói tới rượu và mỹ nhân. Lý Bạch một đời sống chết
cùng rượu. Ông làm thơ tặng vợ thú nhận một năm ba trăm sáu mươi ngày mình
túy lúy như con nê hóa bùn: tam bách lục thập nhật, nhật nhật túy như nê (tặng
nội) Apollinaire một đời ngắn ngủi, nhưng đã rất nhiều nàng, cô Linda, nàng
Annie Playden. Marie Laurencin, nàng Louise de Coligny Châtillon, Madeleine
Pagès... Các nàng của thi nhân này duy chung một mẫu số: Tình Yêu. Nhưng ở
Bùi Giáng là khác thể điệu, rất nhiều mẫu số. Ông có Mẫu thân Phùng Khánh, mẹ
Trí Hải (tuy hai mà một), mẹ về đứng giữa đầu sân/ cuối cùng mẹ bước vô ngần
Mẹï đi/ Kim Cương kỳ nữ, Nường Monroe, Gái Xiêm La, Gái Tô Châu, Hà Thanh ca
sĩ/ Ði về phố rộng mà ra/ đi tu giảng dị cô hà thanh ôi/ mấy em Da đen Phi
Châu, em Mọi Nàng Ðạm Tiên, Thúy Vân Thúy Kiều, Bé con Bình Thạnh, những chị
miệt quê, Thiếm Năm Sáo xã Tân Phong/ Thiếm về chín suối long đong thế
nào/... Ôi người thục nữ Long Xuyên/ Tìm đâu thấy lại thuyền quyên một lần. Những
con người hữu hình, những em vô hình, những nàng sương bóng, bây giờ em ở nơi
đâu/ cỏ trong mình mẩy em sầu ra sao, đã mang mác thị trùng trong một Bùi
Giáng tha thiết đến tê điếng, điên ngây. Một Bùi Giáng ngoại thế bằng hồn mà
lòng đau kiếp người truyền động đến nguyên sơ. Bàng hoàng đuổi bắt một bản
lai diện mục ẩn huyền. Mỗi Phùng Khánh Trí Hải, mỗi Kiều nhi, mỗi em Mọi là mỗi
trận địa cuồng mê đến đằm đìa phủ chụp người thơ trong bàng hoàng nương náu.
Bàng hoàng thể phách, mộng hoài đêm Da Ðen tới Rú Rừng Da Trắng, Apollinaire
tìm người yêu có thật, dấn mình trong một diễm ảo nhu cầu. Bùi Giáng hư vô
hóa tất cả trong miên trường vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương.

Mỹ nhân? Cái Ðẹp? Lý Tưởng? Một phương? Hãy tìm chỗ mù sa cố quận? Ðảo
lên nguyên khê, lộn về phố thị, chỗ sân ga bến tàu, trên chiếc giường làm
tình, giữa bàn hội nghị, lúc ngâm vịnh khi nhảy disco, ở đâu? nơi nào? trong
Cõi Tồn Sinh rất nhiều Ðánh Mất này một đúng nghĩa Lý tưởng? Cái Ðẹp? Vả,
trong tuyệt trù ngóng vọng còn chăng một thiên nhất phương để kỳ gởi? Em còn ở
với sơn hà/ Anh còn mất hút gần xa mất hoài... Hỏi rằng người ở quê đâu/ thưa
rằng tôi ở rất lâu quê nhà.
Tuy nhiên, với những người con yêu dấu, cuộc bám trụ mang nặng tổn thất
này xem ra vẫn là một giềng mối đạo lý mãi mãi tươi xanh đạo lý. Nó hoài hoài
thơ mộng khi quê nhà đã là một hiện trường có thật - trần trụi từ khi tôi ở
truồng chào đời đến lúc tôi không còn khả năng bận mỗi bộ áo quần để chui vào
quan tài - là thế, không nên giải thích nữa, tuy chưa hóa đá nhưng quanh tôi
vốn vậy; diễn dịch nó bằng cách nói đương nhiên cạn cợt mà tất nhiên sâu thẳm,
như nói về một cục gạch, mỗi bếp lò dạ thưa xứ Huế bây giờ/ vẫn còn núi Ngự
bên bờ sông Hương.
Một câu hỏi cần thiết tôi muốn hỏi: “Quê nhà Bùi Giáng nơi đâu?”. Ðã hẳn
là quê nhà ông “thưa rằng” đó không? Bùi Giáng chưa hề định nghĩa một quê nhà
rộng hẹp, ghét yêu, kiểu Quốc văn giáo khoa thư; mặc dù ông từng tha thiết
yêu, và khẩn thiết, kêu gọi vi trùng, chuồn chuồn châu chấu, tập thể bò dê trong đồi sim trái chín hãy rộng lòng để cùng ông hòa mình cuộc thương
yêu. Ðã không hề giam mình trong định nghĩa, lại càng không giam mình trên một
mặt đất dù nó khá mênh mông, vậy Bùi Giáng có một quê nhà nào trong cái vũ trụ
mà ông đọa đày khắc khoải gọi tên.
Có thể, hiển nhiên là có thể thôi, Bùi Giáng có một mái nhà trong một
quê hương rộng dài: Cõi Thơ. Trên quê hương không chiều kích không gian và thời
gian đó Bùi Giáng là đứa con trung thành rất mực dưới mái nhà Thơ, và là một
tay kịch liệt tung hoành, mặc tình dâng hiến, thỏa dạ cuồng si trong quê
thương Thơ. Ở đó ông trùng phùng những công dân thế giới, những con người ưu
tú từ nhân loại cổ kim.
Hãy đọc một trong những bài thơ sau cùng của ông:
Uống xong ly rượu cuối cùng
Bỗng nhiên chợt nhớ đã từng đầu tiên.
Uống như uống nước ngọc tuyền
Từ đầu tiên mộng tới phiền muộn sau
Uống xong ly rượu cùng nhau
Hẹn rằng mai sẽ quên nhau muôn đời
Em còn ở lại vui chơi
Suốt năm suốt tháng suốt nơi lan tràn
Riêng anh về suốt suối vàng
Trùng phùng Lý Bạch nghênh ngang Tản Ðà
Em còn ở với sơn hà
Anh còn mất hút gần xa mất hoài
(Uống rượu)
Thường tình thi hẹn là để gặp lại, nhưng Bùi Giáng hẹn là để “quên nhau
muôn đời”. Lời di chúc cho Em trước một ra Ði. Nó buồn tênh nhưng sáng ngời
cái khí phách thanh sạch, ngời sáng của một Thi sĩ. Giả từ phương này trùng
phùng được Lý Bạch Tản Ðà đầu kia. Uống ly rượu cuối cùng trong thần thái đầu
tiên. Không hề là Vĩnh biệt, chỉ có Ra Ði, là Ðược về. Ðặc biệt ở đây mọi
hình tượng hiện tồn vọng viễn chỉ tinh mật góp lại một từ, đó là Em. Không phải
Bùi Giáng hôm nay mệt mỏi, hóa ra hiền từ, không còn bay phá trong thế giới
chữ nghĩa muôn điệu của ông, mà Em chỉ là Một Tiếng Kêu. Là nhất phiến hàn
thanh tống cổ kim (5) Em là Ai? Người ta đã từng gọi Tự do là Mi kia mà. Tây
cầm cung bậc xô ngang/ nửa chừng dâu biển lấp ngàn ước mong. Tuy nhiên Anh suốt
suối vàng, vẫn mong Em còn suốt cõi tràn lan vui chơi. Một chia biệt buồn bã
vẫn tràn đầy tự nhiên, hò hẹn, hy vọng; một cuộc đùa vui trong sáng, tự tại.
Mây rừng tháng chạp bổ sung/ Mộng đi theo mộng cuối cùng cho mai.
Sau cùng, một điều nên đề cập tới - không thể tách rời khi viết về một
Bùi Giáng thơ - đó là phong cách đặc biệt của ông trong khảo luận, dịch thuật
và những bài tạp luận. Vì đây cũng chính là thơ.
Bùi Giáng đề cập đến tất thảy các nguồn triết học đông tây cổ kim (Hàng
trăm thi sĩ triết nhân nhà tư tưởng đã được đề cập), ông ca ngợi cùng lúc
cũng phê phán tất thảy từ Khổng, Trang, Lão, đến Socrate, Platon, Heidegger,
Kant, Sartre...nhưng cái nhìn của ông - qua văn xuôi - rất thơ, lẫn thơ mộng,
lẫn mộng mị, do vậy ta nên đọc theo cách chịu chơi, như một thưởng ngoạn lấy
cái thi vị. Trong bài Ðạo Ðức Kinh ông đề cập tới Ðạo như vầy: “Không tin tưởng
vào bất cứ gì mà vẫn yêu đời, ấy là đạo vậy. Tin tưởng tất cả mà vẫn chán đời,
ấy là đạo vậy... Không đi lính mà mặc áo nhà binh ấy là đạo vậy. Ði tu mà cứ
ăn mặn hoài, ấy là đạo vậy... “Trong Ði Vào Cõi Thơ là thế này: “Thế nghĩa là
gì? Có một cõi và một cuộc đi. Cuộc đi có nhiều thể thái. Có thể đi theo lối
chu du của ông Khổng Tử. Có thể đi theo lối ngồi im không rục rịch suốt bao
nhiêu diên trường tuế nguyệt dưới gốc cây bồ đề theo lối Như Lai. Cũng có thể
đi theo lối anh lùa bò vào đồi sim trái chín”... Trong Ðường Ði Trong Rừng,
Bùi Giáng làm thơ lý luận về học thuật một thôi rồi quay ra “tả cảnh” các triết
gia thi sĩ thế này: “Ôi đìu hiu con chim nhạn Hoellderli! ôi con ngỗng trời
bất tuyệt Nguyễn Du! con hạt vàng huyền ảo Nervar! Con sư tử hống thời
phương thảo lục Nietzsche! Con tượng vương hồi xứ lạc hoa hồng Heidegger! Con
du hí thần thông tam muội tận Shakespeare! Con phiêu bồng hồng nhạn tuyết
trung khan Homer Sopholes! ôi con gà rừng con nai rú!...”.
Những phạm trù tư tưởng được ông đùa chơi đề cập, thường là thông qua
chiều kích của ngôn ngữ hình tượng, biểu trưng, hơn là Ðáp - Giải bằng Lý. Ông
bày ra trên bàn tiệc hình nhi thượng là những cô em phương trời, ông phó Như
Lai, bà Trời Trắng; bằng một kỷ thuật dựng hình lổn ngổn, lý luận không biết
đâu là Hỏi ra Ðáp vào. Bởi, bày ra câu hỏi cũng chính là một Trả lời. Trả lời
chính là một nan vấn, khẩn thiết một khởi đầu cho một tra vấn mới. Giải mã được:
“Vì sao hôm nay đã đánh mất Nguyên sơ” có nghĩa là “vì sao Sơ nguyên không là
hôm nay”, như thế là ta đã đẩy đưa một sự vụ thật ra đơn giản trở thành ảm đạm
rối rắm; ngay lúc ấy ta đắm chìm trong một tưởng mộng sơ nguyên khi đang sống
trên một mặt đất trầm trọng với đạn bom thương nhớ, Tại ni hằng thể là ta tự
tình. Dưới mái lợp ngàn ngàn tinh tú này luôn hồi vọng những tiếng kêu xanh
đen, lạc loài. Và bao nhiêu lời giải đáp là ngần ấy nhân lên những nan vấn kế
thừa. Vậy thì và nghe bằng vô ngôn thông vậy.
Vì sao có sự thể vừa tinh mật vừa phồn tạp trong một Bùi Giáng. Chúng
ta nên hiểu thêm một con người khác trong ông. Ðó là một Bùi Giáng thông tuệ
hãy còn lưu dấu sâu xa cái gốc gác thánh thiện một trẻ thơ lớn lên từ luống
cày nương rẫy. Cái thật thà hài thơ ấy đã trở thành bản chất, đã nằm trong bịt
bùng tầng tầng vùi lấp của cõi thời gian đời người. Nó được nén chặt, đè kín,
được lay - out kỹ càng nơi vô thức nhưng nó có sức bật dậy và phóng bủa mông
lung khi được thực tại click vào nó. Nó đã giúp ông bao năm lang thang giữa
phố thị mà vẫn vô tình gắn chặt với hương đồng cỏ nội, với nương rẫy vườn rau
lối ngỏ quê mùa - cả thơ văn lẫn con người. Phát biểu của ông lắm khi dân giả
thật thà, thể hiện một cái Ðẹp trần trụi, khật khùng, thô, không hào nhoáng
son phết. Ngôn ngữ Bùi Giáng là mặt bằng của tranh lụa, của tranh sơn dầu, cả
cả hốc hang một tượng điêu khắc.
Bùi Giáng cũng là người rất mực tình cảm, rất mực thiết tha với bất cứ
cái đẹp nào. Sống ở đâu ông cũng lưu lại một nỗi nhớ, một kỷ niệm, một nhắc
nhở. Nhưng cái nhớ ấy không cạn liệt mà đã hóa thân là mơ màng, tưởng vọng,
bay bổng tiếng kêu chung của phận người. Ông điên giữa phố thị nhưng Mỹ Tho
Sài Gòn vẫn là nơi thuận tiện ngắm trời mây, dễ dàng hà tiện, dễ dàng bê bối,
không cần thiết nhân danh tháng ngày để tiết kiệm thời gian. Ở đời sáng uống
cà phê/ quán trong hẻm nhỏ như quê quán nhà/ ngoại ô thành phố phồn hoa/ ấy
Sài Gòn ấy thiết tha bấy chầy.
Tóm lại, cuộc phiêu bạt của Bùi Giáng qua cuộc đời này là hình ảnh của
một thiên thần trên chốn lưu đày. Nơi đây ông đã tự thân bày cuộc ngao du,
minh triết hí lộng. Ðể chi vậy? Ðể viên mãn: “Cuộc đời ở nơi tạm cư”; và đánh trả cái nhân danh thiên đàng, lãnh địa của mọi nguồn gốc lưu
đày.
Bùi Giáng đã có một đời thơ năm mươi năm sáng tác; hơn hai mươi năm ông
đã cùng các nhà thơ lỗi lạc Phương Nam mở ra một vận hội Muôn Màu cho Văn Hóa
Phương Nam. Nhưng nhìn ở bất cứ gốc cạnh nào ông mãi mãi là một thi hào riêng
Cõi, độc lập, một bát ngát tượng đài. Do đó, tôi thấy không nên - không thể
qui kết định đặt Bùi Giáng vào một trường phái khuynh hướng, một tổ chức nào
cả. Mọi nhản hiệu có lẽ chỉ vô tình khoanh tròn, thu hẹp, công thức hóa cái
thế giới Thi Ca dài rộng mênh mông của Bùi Giáng.
Lời tạm biệt:
Anh Bùi Giáng! Hôm nay anh đã thật sự có ngày tháng ngao du. Anh để lại
đây một tượng đài trong lòng người đọc giữa bạn bà anh em; một tượng đài
không cần thiết phải xay bằng bê - tông cốt thép mới đời đời bền vững. Hôm kia
tôi ghé Bình Thạnh để thắp anh một nén nhang. Con đường mưa, đầy vườn lá rụng.
Tôi nhớ anh Những Ngày. Ngày ở Ðại Học Vạn Hạnh. Ngày ngồi cà phê Nắng Mới.
Ngày của những Ðêm Ðen Giữa Ban Ngày. Mỗi chúng ta bị thời gian nghiền
nát mỗi cách, nhưng anh luôn là một khuông mẫu tự nghiến nát đặc biệt. Tôi rất
khoái cuộc tự hủy mang tính nhiệm mầu tỏa bóng của anh.
Tương lai sẽ nói gì? đó là quyền của tương lai. Nhưng tương lai sẽ có một
thái độ rất trung thực, thanh sạch, và tích cực lưu giữ những gì là tốt đẹp
Hôm nay. Chúng ta không ích kỷ kỳ vọng tương lai nhớ mình, nhưng Ngày Mai sẽ
có trách nhiệm lưu giữ anh, soi sáng những gí anh để lại. Chúng ta chưa hề đi
vào những con đường hầm chưa không có đầu kia.
Sau cùng, tôi nghiêng mình xin lỗi anh vì đã quá ngớ ngẩn bàn luận về
thơ anh, điều mà anh rất ghét kỵ. Anh chẳng bảo: ”thơ chẳng có gì để bàn ra
tán vào. Muốn, hãy cứ làm một bài thơ tương phùng nọ để đáp vào tận địa một
bài thơ kia”. Nếu anh trách giận, tôi sẽ cười như niềm vui nhắc bảo bà đầm ấm
thưa rằng: “cõi bờ con mắt Hoa nghiêm/ tường vôi lá cỏ lim dim vô cùng”.
Mong thượng giới hãy dành một xuất tự do để Con Người Chịu Chơi được tiếp
tục cuộc tràn lan phiêu bồng.
CUNG TÍCH BIỀN
(1) Thơ văn Bùi Giáng được trích từ Mưa Nguồn, Ðường Ði
Trong Rừng, Mùa Thu Thi Ca, Lễ Hội Tháng Ba, Sa Mạc Trường Ca, Biển Ðông Xe
Cát, Trăng Châu Thổ. Ngày Tháng Ngao Du, Rong Rêu, Ðêm Ngắm Trăng, và những
bài thơ sau cùng chưa in thành thi tập.
(2) Trên mặt đất này đâu đâu cũng là dòng Mịch La.
(3) Lúc trời chiều đứng ngắm cảnh tự hỏi đâu là Quê nhà - Hoàng Hạc Lâu, Thôi Hiệu.
(4) Sống ở trên đời như giấc mộng lớn, làm chi cho vất vả
thân mình- Xuân Nhật Túy Khởi Ngôn Chí - Lý Bạch.
(5) Một tiếng sóng lạnh tiễn đưa kim cổ - Nguyễn Du.
Theo http://trieuxuan.info/
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét