Viết về Phạm Phú Hải, tôi mang cảm giác mình đang ngồi đếm
sao. Đối diện với cái mênh mông của tâm hồn như vũ trụ kia, tôi thong thả đếm
từng ánh sao trời mà mơ hồ tưởng tượng rồi lại cảm thấy bất lực vì không đủ sức
đếm hết tất cả sao trên trời gom hết ánh sáng vào tay mình. Nhưng may cho tôi,
tôi tâm đắc triết lý quen thuộc của một triết gia Hy Lạp: "Không ai tắm
hai lần trên một dòng sông". Đọc thơ cũng vậy. Mỗi lần đọc lại một bài
thơ, hay thậm chí một câu thơ của ông, tôi nảy sinh những ý niệm khác. Khác với
những người khác, chắc vậy, khác với cả chính tôi trước đó. Nghĩa là sẽ chẳng
bao giờ có ai, kể cả tôi, đếm hết sao trên trời, cũng như gom được hết những ý
niệm nảy sinh từng giờ từng phút. Đó là công việc không cần thiết và vô nghĩa.
Nhưng điều đó đã giúp tôi có thể ung dung đặt bút lạm bàn về thơ ông, như một
nén nhang tưởng niệm anh linh thi sĩ quá cố.
Nếu đặt toàn bộ tác phẩm của Phạm Phú Hải vào
dòng chảy lịch sử văn học, hầu mong tìm một ý nghĩa đóng góp vào tiến trình
phát triển của ngôn ngữ và nghệ thuật thơ ca, có thể là một công việc không
mang lại kết quả. Thơ Phạm Phú Hải hầu như nằm ngoài cái dòng chảy đó.
Có thể xem đó là một khía cạnh thất bại của thơ
ông. Bởi vì thơ được cấu thành từ nội dung và hình thức, nếu chỉ quan tâm đến
nội dung không thôi, chưa đủ, thơ còn là nghệ thuật của ngôn ngữ. Các thủ pháp
nghệ thuật như âm, vần, nhịp, đối, hoán dụ, ẩn dụ, điệp từ điệp ngữ, ngắt câu
xuống dòng… được sử dụng một cách nhuần nhuyễn trong các thể loại thơ lục bát,
thất ngôn, ngũ ngôn, thất ngôn bát cú Đường luật đã quá quen thuộc từ rất nhiều
bài thơ của Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Hồ Xuân Hương, Huyện Thanh Quan, Nguyễn Du
cho đến Tản Đà, Hàn Mặc Tử, Bùi Giáng… nghĩa là các thủ pháp nghệ thuật trong
thơ Phạm Phú Hải không còn khả năng làm lạ hóa cảm xúc của người đọc về ngôn
ngữ.
Nhưng thành công của thơ ông ở mặt khác. Ông là
thầy phù thủy trong việc sử dụng ngôn từ để kiến tạo một cõi thơ riêng mà những
hình ảnh những ý những lời có tác động mạnh mẽ đến tận cõi sâu thẳm của lòng
người. Ông không cố công tìm tòi hay khai phá những thử nghiệm mới mẻ. Thơ ông
như những gì đã sẵn có. Và bởi vì cái tính không mục đích, nên Phạm Phú Hải mới
là Phạm Phú Hải, thơ ông mang nét đặc sắc riêng không trộn lẫn bất kỳ ai. Như
các nhà phân tâm học đã chứng minh, hiếm có hành động nào của con người hoàn
toàn là kết quả của ý thức. Đặc biệt, trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật, phần
vô thức và tiềm thức chiếm một vai trò rất lớn. Thơ Phạm Phú Hải lấp lánh trong
cái cõi vô thức và tiềm thức chiếm ngự.
Và đó chính là cái hay của thơ ông: hôm nay, hay
trăm năm sau, đoán chắc rằng những câu thơ tài hoa còn sống hoài sống mãi,
"thác là thể phách, còn là tinh anh", cái tinh anh kết tụ là cái còn.
1. Câu thơ nhỏ đỏ con tim
Thơ
Phạm Phú Hải là thơ của một con người sống trọn vẹn với thơ. Là con mắt, hơi
thở, là thức ăn, nước uống, là tâm hồn của một thi sỹ chân chính nhất, hồn
nhiên và trăn trở nhất. Thơ ông trọn vẹn là ông, không hơn không kém, hay nói
cách khác, ông chính là thơ, ông với thơ là một. Ông sống với thơ và sống bằng
thơ, chịu nhận đọa đày, chịu nhận trầm luân trong cuộc chơi kiếm tìm Chân Thiện
Mỹ
Hôn em
bằng môi má này
May em
mới hiểu đọa đày là thơ
Thái
độ của ông dành cho thơ nguyên thủy là một tình yêu chân thật và trân trọng.
Không phải ai cũng mang thái độ đó. Thơ hầu hết được sử dụng như một phương
tiện, để bày tỏ cảm xúc, bày tỏ tình yêu:
Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc
Áo
nàng xanh anh hái lá sân trường
(Nguyên
Sa)
hay để
mang một sứ mệnh nào đó có tính chất lịch sử hay xã hội, như Chế Lan Viên đã
từng khắc khoải:
Ở đất nước ba tuổi đã rời nôi lên ngựa
sắt
Tuổi
trẻ chơi lau đã chơi trò đánh giặc (…)
Thơ
chỉ sống một phần cho mình còn ba phần cho nhiệm vụ
Nghĩ
mà thương
(Sử)
Với
Phạm Phú Hải, ông trân trọng thơ như trân trọng một tri âm, ông đã cùng thơ dắt
tay đi vào một thế giới riêng để mà vui buồn cười khóc. Cái thế giới ấy chính
là cõi lòng hoang lạnh, bát ngát, với không gian của "con đàng máu
tươi", "bầy sương dại", "sương phủ vầng trăng lạnh" ,
không gian đầy "xác bướm khô", đầy "trăng đêm không trắng", "bầy chim đom đóm/nhả ánh sáng sao băng", của "đêm đẫm máu ngà
ngà", "những con sông máu sệt", "nắng tươm ra một khối vàng
mù"… với thời gian mang "mùi tử biệt", thời gian "sột
soạt", thời gian không phân biệt quá khứ hay hiện tại " nắng năm nay
là nắng của năm nào, nắng năm nào năm nào nhớ quá", "trưa đứng bóng
đặc dày âm khí"...
Càng
bát ngát càng trống trải và lạnh lẽo, nên những thanh âm cũng buốt giá khi rơi
tõm vào đó: "tiếng hú" chất chứa cả tinh lực của một tâm hồn quá đỗi
cô độc:
Con ngồi hú khắp mười phương
Hú bà
trăng đỏ hú hương khói mờ
Hú
hoàng hôn hú tinh mơ
Mòn
hơi con ngất giữa bờ tử sinh
(Vuốt
mắt)
Ngày
xưa người xưa cũng từng cất lên thanh âm rợn ngợp như thế
Hữu thì trực thượng cô phong đỉnh
Trường
khiếu nhất thanh hàn thái hư
(Ngôn
Hoài - Không Lộ thiền sư)
Một
tiếng kêu dài lạnh nhân gian và lạnh cả mai hậu.
Nhưng
tiếng thét của Thiền sư nhà Lý cách đây cả nghìn năm là tiếng thét reo vui giải
thoát khỏi xác thân bé nhỏ mà thể nhập với vũ trụ bao la vô cùng. Tiếng thét
trong "Ngôn Hoài" bật lên từ khổ đau của cả một dân tộc ngậm đắng
nuốt cay đã vùng mình trỗi dậy giành quyền độc lập tự chủ dưới ách đô hộ của
phong kiến phương Bắc. Tiếng thét ấy đầy đủ tự do và kiêu hùng.
Ngày
nay có chàng thi sĩ họ Phạm cũng đã khiến hư không phải lạnh vô cùng bằng tiếng
hú gọi cuống cuồng giữa cuộc chơi sinh tử:
Có phải ta đang tìm giữa khuya chút máu
trưa?
Quay
ngược hồn sông về bến cũ
Máu
trưa cát bụi lỡ lầm
Ta vô
vọng cuống cuồng hú gọi
(Hú
gọi cát bụi)
Tôi vọng tiếng tôi về núi đá
Núi đá
ngàn năm vẫn lặng im
Mấy ai
hiểu được hồn u uất
Của kẻ
qua sông tự thả chìm
(Máu
chợt buồn)
Tiếng
hú lạnh lẽo kia, thoát ra từ trái tim, từ máu lệ, là thanh âm phá vỡ cái cô
liêu nghiệt ngã, nhưng chính nó càng làm tăng thêm cái lạnh của hư không. Tiếng
hú đau đáu một nỗi đời mà người đã tâm cảm bằng bao lần sống trong đó:
Cười rũ môi cho đời đau tiếng nói
Chiều
lang thang phố đọ mắt cùng người
Những
bàn chân ngược hai chiều di động
Quay
cho đều rồi sấp ngửa cũng lăn xuôi
Và đó
cũng là tiếng hú cầu đáp lại, tiếng hú gọi tri âm. Nhưng mà, "hiểu nhau
đời có bao tri kỷ?"
Ẩn sau những tiếng hú cười
Cơn
đau rừng rú không nguôi vết bầm
(Rừng
rú mùa mùa)
Thanh
âm chất ngất tự phát từ một "tâm u tối hồn
không buồn bã động" là thanh âm chủ đạo trên nền bản hợp xướng
trầm buồn đầy "thanh âm phủ mê mê",
"tiếng chuông khuya rời rã", là tiếng gà, tiếng vượn, tiếng "lũ lâu la hát", tiếng những "thanh
âm bị thương, lê vào thân tôi trú ẩn", tiếng "những
hồn oan hú gọi nhau"…
Một
điểm đáng lưu ý và dễ nhận thấy, là trong bản hợp xướng kia, tần số "tiếng
gà" xuất hiện rất nhiều, "tiếng gà lạnh
ngang lưng", " tiếng gà thơm xương trắng", "tiếng gà lạc
thanh", "tiếng gà đầu đêm", "tiếng gà cô quạnh",
"tiếng gà khuya tàn tạ"…
Kể từ giũ áo phôi pha
Bụi bay bốn phía tiếng gà mãi ôm
(Hạt
cát điếc)
Gà gáy
2 lần, vào giữa khuya và lúc tờ mờ sáng. Tiếng gà là thanh âm của đêm tối, và
tiếng gà kết thúc đêm tối để bình minh ló dạng. Trong khoảnh khắc đêm chưa qua
ngày chưa tới, tiếng gà là thanh âm duy nhất báo hiệu sự tàn lụi của bóng tối
và tà ma quỷ quái, khí âm của đất trời sắp sửa bị xua tan, bóng tối lui vào
nhường chỗ cho ánh sáng, và dương khí sắp tràn về phủ lên cây cỏ. Cái thời khắc
tờ mờ sáng chuyển giao âm dương, thời khắc hồn ma vật vờ tìm nơi trú ẩn hay
thời khắc của cỏ cây thức giấc, đất trời bừng tỉnh.
Sống
với cái thời khắc đó là sống với địa ngục mộ bia khắc khoải trường kỳ:
Dưới bia mộ u sầu
Cỏ
cùng cây ngơ ngác
Cho
nên có thể nói, trong rất nhiều giai đoạn cái tâm thế của nhà thơ là tâm thế đã
chấp nhận cái chết. "Nhắm mắt thử tưởng ngày nhắm
mắt/ Tay xuôi rồi là vĩnh viễn ra khơi". Chấp nhận như một điều
mặc nhiên. Cái tâm thế ấy bàng bạc trong hầu hết tác phẩm của ông. Có lẽ chính
vì vậy mà khi tôi bắt đầu tiếp xúc với lớp áo thơ ông, và tôi cũng đoan chắc là
bất kỳ độc giả nào khác, cũng cảm thấy rợn người. Tôi chưa chuẩn bị cho cái
chết, hầu như tất cả mọi người đều hãi sợ cái chết, và tránh nói đến nó. Có thể
xem cái chết là yếu tố cao nhất thử thách lòng can đảm của con người. Những từ
"máu", "xương trắng", "hồn", "hồn ma",
"địa ngục", "mộ địa", "bia mộ", "nấm
mộ", " bóng tối", "nghĩa địa", "âm u",
"lạnh", "tử địa"…lặp đi lặp lại cho thấy mọi tâm tư của thi
sĩ đã xoay quanh cái chết, nên câu thơ cũng đượm mùi tử khí.
- Ai đó? - Về đi! - lay hoài chi cửa mộ
- Về
đi! - Chờ chi - đã quyết rồi, khó mở
Về đi
về đi thôi
Ừ!
Người ơi, có ngày tương ngộ
(Về
đi)
Ai lay
hồn thi sĩ đã tự vùi chôn trong mộ? Người hẹn ngày tương ngộ, cũng chính người
tự xưng "ta ngàn năm tịch tịch u u" đấy
thôi! Người luôn bấp bênh giữa hai bờ sinh tử "nhìn
sương khói mà tưởng mình sương khói", nghiêng bên nào cũng "bồng bềnh giữa trường giang mộ địa".
2.
Hiểu nhau đời có bao tri kỷ?
Ta gánh thời gian lên đỉnh búi
Gởi về
cho một cõi người xa
Hiểu
nhau đời có bao tri kỷ
Mà mỗi
khuya khuya nguyệt rụng tà
(Ta ở
Phương Đông buồn mặt trời)
Hiểu
nhau đời có bao tri kỷ? Hiếm hoi lắm mới có một tình tri âm Bá Nha - Chung tử,
tri kỷ như Nguyễn Khuyến - Dương Khuê. Chấp nhận nỗi cô độc vốn như một định
mệnh của thi nhân. Thi sĩ - con người đặc biệt có khả năng cảm thức sâu xa được
nỗi khổ khôn cùng của cuộc tồn sinh, đó là loại người lãnh chịu một khoảng
không rợn ngợp vây quanh giữa bao âm thanh và cuồng nộ của cuộc đời
Có ai mà hiểu được
Những
bàn chân trong đầu
Góc
chân là lưỡi rắn
Nọc
mọc lên từ lâu
(Ôm
phố)
Đó là
cái khổ của thi sĩ, nhưng chính điều đó mới làm nên một thi sỹ. Như một định
mệnh đã an bài, từ ngàn xưa một Trần Tử Ngang nhỏ lệ trước câu hỏi không lời
giải đáp "Tiền bất kiến cổ nhân/ Hậu bất
chi lai dã/ Niệm thiên địa chi du du/ Độc thương nhiên nhi lệ hạ" cho
đến một Hy Mã Lạp Sơn của thơ Mới "không có
ai bầu bạn nổi cùng ta". Bủa vây cái Riêng, cái Một, cái Duy nhất
đó chỉ có hư vô lạnh lẽo có sức mạnh quật ngã bất kì ai đã dầy năm dầy tháng
đối diện. Và, lãnh nhận lấy thử thách đó, cái kiến tạo nên sự sâu thẳm của tâm
hồn, cũng là lãnh nhận cái bi ai nhất của kiếp người.
Dẫu
rằng, rất nhiều lúc:
Ta cũng có những chiều té úp
Hồn gượng đau đứng suốt đêm dài
Mỏi mòn quỵ giữa sao mai
Nghe đau tinh đẩu thác thai tựu hồi
(Rừng
rú mùa mùa)
Tôi yêu những nóc nhà
Những
nóc hồn thơ ấu
Ngày
xưa chim về đậu
Bờ xưa
chim thiên di (…)
Tôi
yêu hoa hoàng lan
Nở
giữa ngày cẩm thạch
Hương
đầu mùa vân bạch
Tinh
khiết mấy lụa là
(Trăng
băng)
Tôi yêu đời tôi yêu người
Tôi
yêu tiếng sóng trùng khơi đêm dài
Tôi
yêu cả con đường dài
Tôi
yêu cả những ngày mai sau đồi
Vũ trụ
thơ của Phạm Phú Hải đầy ắp những cảm xúc mãnh liệt, yêu tha thiết mà buồn là
buồn đến tê dại. Ông yêu đời một cách tinh khôi, ông cô quạnh nỗi "mười năm không cầu câu thơ hội ngộ, mười năm nắng
đổ một nhúm trên chân", bao lần "sầu như
mộ địa", hay"có những lúc ta thấy
buồn đắng ruột, mộng huyên thuyên nói chuyện với hai tai". Cũng
vì cảm xúc quá mãnh liệt, nên thành ra những câu thơ cũng tràn sức lực như khối
thuốc nổ sẵn sàng bùng lên bất cứ lúc nào. Và cũng bởi vì một lẽ nữa: những câu
thơ ấy là của một người đã hiểu rõ cái nghiệp của kẻ đốt đuốc soi đường kiếm
tìm Chân Thiện Mỹ
(Thi sĩ) có bàn chân dài hơn con đường
Nên
chân trời là những đốt xương
Của ai
bỏ lại ngàn năm trước
Sửng
sốt kêu lên tiếng dị thường
(Thi
sĩ)
Con
đường là phương tiện, phép tắc do con người kiến tạo. Con đường mở tới chân
trời, vượt qua những giới hạn nhưng đồng thời chính nó là giới hạn. Con đường
đưa con người vượt qua giới hạn và cùng lúc bước vào một giới hạn khác: giới
hạn con đường. Sự mâu thuẫn không phải ở con đường, mà ở chính con người đã tạo
ra những con đường đó. Dường như đã thành quy luật. Ý muốn thì vô hạn, mà khả
năng thì hữu hạn, và thậm chí tạo ra những rào cản và lối mòn để khuôn mình vào
đó.
Thi sĩ phải là kẻ vượt qua rào cản và lối mòn đó.
Thi sĩ phải là kẻ "có bàn chân dài hơn con đường"
Ngày kia du tử mỏi chân
Bằng
lấy Thần ra
Thong
thả lột hết những con đàng có trên mặt đất có trong không trung có trong chỗ có
Đàng
dài đàng ngắn
Đàng
nhỏ đàng to
Đàng
rộng đàng hẹp đàng chính đàng hẻm
Đàng
bằng phẳng đàng thẳng đàng cong đàng lồi lõm đàng quanh
Đàng
thông đàng cụt
Phủi
giũ sạch sẽ kỹ càng…
(Du
tử)
Và chỉ
với cái hành động vượt thoát khỏi những con đàng, khỏi những quy phạm nguyên
tắc, những giới hạn vô lý đó, thi sĩ nhận ra mình từ trong hình ảnh của ngày
trước, của ngàn năm trước:
Của ai bỏ lại ngàn năm trước…
3. Từ độ ta yêu em rực rỡ, môi cười vội
nứt cánh chia ly
Ngay
cả trong tình yêu của thi sĩ, tình yêu cũng vắng bặt một đối tượng tri âm. Mối
tình không đền đáp, không cộng hưởng.
Ai là ai giữa lòng ta
Tóc
bay nhớ những chiều xa những chiều
Thắp
ngày lên đỉnh cô liêu
Nắng
đau thắp nhọn đìu hiu cuối trời
Đến
với tình yêu là cái cách cuối cùng để tìm được một tâm hồn đồng điệu xẻ chia mà
vẫn bơ vơ với một "đỉnh cô liêu" ngất trời, vậy tình yêu vẫn chưa
phải là cứu cánh của thi nhân. Dù là tình cảm đơn phương không được/ không muốn
đền đáp, nhưng đó là một mối tình đẹp. Yêu bóng dáng mái tóc đã khắc ghi tâm
khảm, cái mường tượng của trí óc, thành ra, cái thứ tình thánh thiện thuần tuý
về mặt cảm xúc không một mảy may ham muốn dục vọng nên câu nên chữ cũng trong
trẻo hết mực:
Nhìn là sóng mắt xôn xao
Thấy là máu dội ba đào lên tim
Vui là hát lộng rừng sim
Nghêu ngao là bước đi tìm bao la
Những định nghĩa của ông về cảm xúc
trong tình yêu là định nghĩa của một người hiểu rõ về tình yêu. Hiểu về tình
yêu và là người biết yêu. Thế gian nhiều người yêu mà chẳng biết yêu, lại nữa,
cũng không ít người lắm gian nan trong tình yêu mà rốt cuộc chẳng hiểu gì về
cái thứ tình cảm lạ lùng này. Hãy nhẩn nha từng câu từng chữ để xem chàng thi
sĩ họ Phạm định nghĩa ra sao:
Nhớ là quên đi cuộc đời
Người đã
gọi đúng cái tên cần gọi. Nhớ - là tất cả những gì còn lại sau đi đã quên đi
mọi thanh âm của cõi nhân gian, cả những niềm vui nỗi buồn, cả đắng cay hạnh
phúc. Quên quên và quên - để rồi đọng lại những gì? là Nhớ đấy thôi,
chính xác tất cả những gì còn lại trong tâm khảm trong trí óc là bóng dáng của
"một người chưa quen". Cái "người chưa quen" ấy, cái người
choáng đầy một "mộng bên đèn", để cho chàng thi sĩ ngẩn ngơ ngơ ngẩn,
khuya thì "vẽ mộng", ngày thì "bóng buồn chen bóng buồn".
Bóng và người hòa quyện, mộng và thực đan cài. Mà xem ra, chàng thuộc nòi đa
tình nên cứ yêu cứ si một "người chưa quen", hay chưa dám quen. Nếu
có gặp, có giáp mặt "người chưa quen" ấy, tôi đồ rằng thế nào chàng
cũng thẹn thùng, bẽn lẽn, hoặc là vờ vĩnh hiên ngang "lòng
trong rất mực xôn xao, mặt ngoài rất mực ừ ào như không", hoặc thậm
chí có khi… trốn biệt.
Yêu là chẳng dám nói năng
Thương
là giụi mắt ngỡ rằng chiêm bao
Lòng trong rất mực xôn xao
Mặt
ngoài rất mực ừ ào như không
Diễn dịch xuôi ra
thì có thể hiểu là, trước người yêu, chàng chẳng dám nói năng chi. Thế thì
chàng… nhát quá. Mà cũng có thể hiểu, trước tình yêu, mọi lời nói đều thành vô
nghĩa. Phạm Công Thiện đã nói "trên tất cả đỉnh cao là lặng im", cái
lặng im của trí huệ khi đã vượt qua tri thức, hay cái lặng im của tình yêu
nguyên sơ khi đã vượt qua tình cảm giản đơn và mang tính sở hữu. "Yêu là chẳng
dám nói năng". Trước đỉnh cao, ngôn từ phải chịu bất lực.
Tâm hồn chân thật đáng yêu, nên
tình yêu cũng tinh khôi trong trẻo. Mà thật ra chỉ cần như vậy là đủ, chỉ cần
lòng ta yêu, người đáp lại hay không, tùy người. Đòi hỏi một sự đáp lại thành
khiên cưỡng. Tình yêu nguyên sơ không mang tính sở hữu, nó đẩy mọi cảm xúc lên
đến đỉnh điểm, và có lẽ đó là thứ tình cảm lạ nhất trên đời. Vui tột cùng hay
buồn thê thảm, cũng từ đó mà ra:
Em gặp ta trăng mọc hổ ngươi
Gió không dám lướt hoa không cười
Một làn trăng mỏng như hơi thở
Ta yên mà thiên nhiên cũng vui
(Bài trăng cuồng đãng)
Áo bay nghiêng một bầu trời,
Tiếng cười nghiêng một chút thời gian xanh.
Tấm áo bay làm không gian phải
lung lay và tiếng cười của người thương khiến thời gian phải chệch khỏi quỹ đạo
của nó. Đặt hai hình ảnh và âm thanh hữu hạn bên cạnh không gian và thời gian
dường như vô hạn:
áo/ bầu trời
Tiếng cười/ thời gian
Thế mà hai hình ảnh và âm thanh
bé nhỏ ấy không hề bị chìm lấp trong mênh mông bầu trời và dòng chảy triền miên
của thời gian, ngược lại, chính hai hình ảnh và âm thanh ấy đã khuyếch đảo cả
không gian thời gian. Rõ ràng ở đây có một sự chênh lệch, sự chênh lệch không nghiêng
về phía cái rộng cái dài miên viễn mà lại nghiêng về cái nhỏ bé khoảnh khắc,
cán cân lệch một cách tài tình và tài hoa.
Một thoáng chao nghiêng mà làm
điên đảo đất trời, thì tà áo tiếng cười ấy chỉ có thể là của người thương mà
thôi!.
4. Du tử cuối đời về góc núi
Trên bước đường miên viễn trôi
xuôi, thi sĩ đã quyết tâm thực hiện một cuộc chơi bằng cả đời mình, một cuộc
chơi hết sức quyết liệt và đau đớn:
Trang thơ đỏ nhỏ con tim
Ta lê theo suốt cuộc tìm đớn đau
(Rừng ngón tay)
Cuộc chơi phải đánh đổi cả đời
máu xương ấy chỉ có thể là hành trình tìm về bản lai chân diện mục, tìm về cội
nguồn nguyên thuỷ của cái ngã. Và kết quả là gì:
Hư không lạnh vô chừng
Tiếng gà lạnh ngang lưng
Rốt cuộc, tìm về chính mình là
tìm về với HƯ VÔ.
Giọt sương treo mái lưng đình
Nửa đêm thức giấc hỏi mình tan chưa
Có một sự thay đổi rõ rệt trong
những bài thơ giai đoạn sau này của ông. Từ lúc:"Ôm
phố đi giữa phố" mà "lắng nghe
trên bàn tay những mạch đời vô nghĩa/ đi về theo vỡ nát âm u" cho
đến lúc:
Sáng mai thức dậy hỏi lòng
Bình minh tan giữa cánh đồng chiều nay
Hoàng hôn tan giữa nắng mai
Năm xưa tan giữa nắng dài là ta
Có một cách ngăn của ý thức nhận
chân bản lai diện mục.
Và khi tiếng thơ thôi thổn thức,
như đã khai minh một nẻo về, tôi cũng dừng ở đây mà tiễn ông đi. Ông đi về đâu,
theo đóa sen hồng hay lui gót chân mây? Nhưng bước về chắc sẽ thanh thản, như
năm xưa trong một câu thơ cũ:
Du tử cuối đời về góc núi
Bỏ lại trên sông một tiếng chèo
Du tử hay một Từ Thức rũ áo quay
lưng với "đất trời vô loại", giã
từ những "bình minh" bị "xô chết", bỏ "một tiếng chèo" trên sông, để vĩnh
viễn lui về với chân mây góc núi, "về" với nơi chốn của chính mình.
Một chữ "về" nhẹ nhõm,
lặng thinh.
Phạm Phú Hải đã sống trọn vẹn
đời sống của một thi nhân ẩn sĩ. Thơ ông ngưng tụ đầy đủ những đau đớn, khổ ải,
thương yêu, khoan dung, mãnh liệt, tàn phá, cô độc và trầm tư. Ông độc hành
trong thế giới của riêng mình, một thế giới mà bất kỳ ai khi muốn bước vào,
cũng sẽ bị choáng ngợp trước cái bao la trùng trùng, những phơi bày khác thường,
để rồi những phút quay nhìn lại chính mình phải chợt rợn người vì những cái tủn
mủn, ganh tị, kiêu ngạo, những tình cảm ích kỷ trá danh tình yêu trong chính
con người mình dành đối xử với đời sống hằng ngày.
Cần lắm những giây phút nhẹ nhàng"gởi lại mây trắng một nụ cười, biết ơn và điềm
nhiên nhắm mắt" để cõi lòng thanh thản trước cõi đời xô động này:
Mây ngày kia sẽ rơi mau
Rửa sạch những hận thù nhỏ bé
Dù mặt đất bấy giờ chỉ còn lại nấm hoang
Nụ cười sẽ khoan dung cho hoa nấm nở
(Bóng rừng)
Tôi đang làm cái công việc đếm
sao trời. Tôi mê mải với những vì sao sáng nhất, gần nhất. Thú vị, nhưng rồi
lẫn lộn hết thảy. Bầu trời mênh mông quá, những vì sao lúc mờ lúc tỏ. Trời mây
mù giăng chỉ lấp ló đôi ba ngôi, trời quang tạnh ráo thì ngàn ánh sáng nhấp
nháy. Tôi bị lạc giữa rừng sao. Tôi ngợp trong cõi thơ Phạm Phú Hải. Tôi yêu
lắm ánh dịu dàng của sao trời, tôi yêu quá những câu thơ lấp lánh chắt chiu từ
cuộc chơi sinh tử. Những câu thơ là tinh anh máu lệ sáng ngời… Và có một điều "hiển
nhiên" như thơ ông, cái tinh anh ấy sẽ mãi "trơ
gan cùng tuế nguyệt". Vì rằng:
Thác là thể phách, còn là tinh
anh.
(Nguyễn
Du)
Đoàn Minh Châu










Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét