Trên tiến trình văn học Việt Nam 1930-1945, phong trào thơ Mới
là một quá trình hiện đại hóa thơ ca dân tộc với những bước phát triển đặc thù,
thể hiện sự chuyển biến của tư duy nghệ thuật cận đại sang tư duy nghệ thuật hiện
đại trong sự hội nhập với thơ ca thế giới. Trong đó, những dấu hiệu của
khuynh hướng tượng trưng (bên cạnh khuynh hướng lãng mạn tồn tại như dòng chủ lưu
của thơ mới), được coi là những cách tân, thể nghiệm táo bạo nhằm đưa lịch sử
thơ mới tiến thêm một bước với những giá trị nghệ thuật mới.
Bên cạnh nhóm Xuân Thu với một tuyên ngôn nghệ thuật và những
bài thơ giàu chất tượng trưng như Buồn xưa (Nguyễn Xuân Sanh), Màu
thời gian (Đoàn Phú Tứ), Bích Khê là một trong những thi sĩ, dù vẫn nằm
dòng thơ lãng mạn, nhưng đã có xu hướng vươn tới lĩnh vực thơ ca tượng trưng với
một thế giới nghệ thuật độc đáo mà Chế Lan Viên đã gọi là “một đỉnh núi lạ”
trong lịch sử thơ mới.
Thơ tượng trưng xuất hiện ở phương Tây từ thế kỷ 19. Ở Pháp có
Bôđơle, Veclen, Ranhbô, Malacmê…, ở Nga có Ivanốp, Belưi, Blôc… Thơ tượng trưng
phủ nhận hiện thực, coi hiện thực hàng ngày là cái tầm thường, ít ý nghĩa, vì
thế nó hướng tới một thế giới huyền bí của cõi tâm linh con người, nơi người bình
thường không vươn tới và nhận biết được, chỉ thi sĩ là người có những khả năng
kỳ diệu mới có thể thâm nhập và biểu đạt được nó. Về cách thể hiện, thơ tượng
trưng muốn xoá bỏ cách bộc lộ của thơ lãng mạn thông qua việc không miêu tả trực
tiếp sự vật và bày tỏ nỗi lòng. Nhà thơ tượng trưng muốn giấu đi những tình cảm
có thật, những lời giải thích mà chủ yếu thể hiện cái ảo giác, lôi cuốn người đọc
bằng sự ám thị (gián tiếp) chứ không bằng những tình cảm trực tiếp. Thơ tượng
trưng chủ yếu hướng tới khơi gợi cái bí ẩn kỳ diệu nên giải mã các hình ảnh và
biểu tượng thường là mục đích nghiên cứu thơ tượng trưng. Để diễn tả được những
bí mật thầm kín, kỳ lạ của đời sống tâm linh con người, thơ tượng trưng phải tìm
đến một thứ ngôn ngữ “phi thường” mang ý nghĩa đặc biệt, kỳ ảo. Do đó, ngôn ngữ
thơ tượng trưng phần nào mất đi ý nghĩa thông thường, trở thành phương tiện thôi
miên, khơi dậy những cảm giác mơ hồ không xác định, làm thơ trở nên bí hiểm,
mang tính hình thức và duy mỹ.
Có thể nhận thấy thế giới nghệ thuật trong thơ Bích Khê là một
cấu trúc thế giới mang tính tượng trưng. Bởi ta gặp trong đó một cõi đời đầy mộng
ảo xa lạ với cuộc sống hàng ngày, nơi tồn tại phiêu diêu của phần tâm linh bí ẩn,
là một cõi trời huyền bí của thế giới cái đẹp, thế giới thơ ca, trong sự hòa điệu
nhịp nhàng tương ứng của mọi màu sắc, hương thơm với những âm thanh và biểu tượng
kỳ lạ.
Thơ Bích Khê là tiếng nói về cái bên trên cuộc đời. Thi nhân
cho rằng sống trong cõi mộng cuộc đời mới có ý nghĩa. Vì vậy, thế giới trong thơ
ông đã được sắp xếp lại theo một ma lực huyền diệu đầy quyến rũ.
Một cõi đời thăng hoa thành cõi mộng. Bước vào thơ Bích Khê
ta như lạc vào cõi mộng. Trong Thơ Bích Khê có đến 71 lần thi nhân nhắc
đến mộng và 3 lần khẳng định ngoài trời là mộng cả. Cõi mộng ảo
và chiêm bao ấy được hữu hình qua nhiều tên gọi: mộng tiên, mộng người, mộng
vừng trăng, mộng cầm ca, mộng ảnh, mộng quỳnh dao, mộng thiên tài, mộng cố hương… Mộng,
theo tâm lý học, vừa là sản phẩm của quá trình tưởng tượng, vừa là sự nhập thân
của chủ thể vào quá trình tưởng tượng đó. Cõi mộng là một thế giới tách biệt với
hiện thực, thể hiện những ý muốn chủ quan, những khát vọng riêng tư mà không chịu
sự kiểm soát của lý trí. Khi nhập thân vào mộng, con người hoàn toàn tin vào sự
tồn tại khách quan của những thứ ảo huyền do chính mình tưởng tượng ra. Điều này
phù hợp với quan niệm về thế giới của thơ ca tượng trưng với mục đích là chối bỏ
hiện thực để diễn tả một thế giới siêu nghiệm đầy bí ẩn của cõi tâm linh con người
thể hiện qua những cảm giác và những ký ức chập trùng, qua những biểu tượng mơ
hồ, bí ẩn, hình ảnh của tiềm thức, qua cái hư ảo…
Vì thế, mọi dấu vết của cuộc đời thực trong thơ Bích Khê đều
hoá thành mộng ảo, chiêm bao: tiếng đàn tì bà hay như từ cõi khác vọng về, mỹ
nhân đẹp như chỉ có trong giấc mộng, quả măng cụt biến thành khối ngọc, nước
mắt người là những dòng châu, đêm trở thành không gian tơ gợn sóng,
điệu nhạc gây hoa mộng ngát trời mây, người say rượu hoá thành người đi đuổi
bắt nàng thơ trong giấc say… Mộng là một thực thể trong cõi tinh thần, có vận động,
có cảm giác: yêu bằng mộng là mơ tim sáng láng, mộng rứng bồi hồi, mộng
bay ngàn dặm với thơ bay. Mộng là thứ men nồng say đắm lòng người:Tôi miên man
uống lại mộng quỳnh dao. Mộng còn bao phủ bằng màu sắc: mộng rớt như chất
ngọc, mộng như ngà, mộng rất xanh, mộng trắng phau phau, mộng trắng tợ hoa lê,
mộng nở hoa, mộng ngời lên.
Cõi mộng chính là hữu hình hóa của thế giới tâm linh sâu thẳm
và vô thức bí ẩn với những ảo giác kỳ lạ. Thế giới ấy thật bao la khôn cùng với
một không gian - thời gian không xác định, không vị trí, không giới hạn, mở ra
hai chiều vô biên và vĩnh viễn. Đó là không gian bát ngát, vô bến bờ: không
gian là bát ngát, cõi mê ly không bờ bến. Không gian ấy lại rất mơ hồ, xa xôi với muôn
trời, tứ hướng, mười phương, ngàn khơi, xa khơi… bên những địa danh siêu
thực: cung Thiềm, cung Quảng, đào động, suối ngọc tuyền, bến Tầm dương, sông
Ngân… những không gian chỉ các miền không xác định mang dấu ấn vĩnh cửu
trong tiềm thức nhân loại. Bên cạnh đó, trong 75 bài thơ, ta gặp 61 lần từ muôn với muôn
trời, muôn xuân, muôn nơi, muôn cành, muôn bậc, muôn lòng, muôn tình, những từ
chỉ số nhiều không đếm xuể mang ý nghĩa chỉ sự tồn tại bền vững mang tính bất
diệt của trạng thái thế giới. Thời gian của cõi mộng cũng đầy huyền hoặc. Có một
khoảng thời gian gợi cảm hứng của thi sĩ rất nhiều: đêm (51 lần), một khoảng thời
gian vừa cụ thể vừa siêu thực phù hợp với những giấc mộng, với sự tinh thức của
thế giới tâm linh vốn rất bí ẩn, mong manh, mơ hồ của con người. Cõi mộng đêm ấy
luôn sáng bừng, lộng lẫy, đẹp vô bờ như là ảo giác với những đêm kim sa,
đêm hồng, đêm vàng, đêm tơ, đêm ngủ mơ, đêm nhung, đêm ngời ngọc châu báu…
Cõi mộng ấy là nơi hội tụ đủ mọi hồn từ hồn thi sĩ, hồn
thơ, hồn xạ hương, hồn tình lang, hồn nàng đến hồn thu, hồn hoa, hồn xạ hương,
hồn vũ trụ. Từ mộng đến hồn, các chủ thể tâm linh đã được khách
thể hoá để cùng gặp gỡ, kết hòa, giao cảm nơi cõi mộng huyền bí: Hồn say
trong mơ màng, Hồn ta? hay là hồn tình lang, để cùng phiêu diêu trôi dạt, hiện
hữu: Đêm nay hồn lặng làm sao, Cánh thu ôm cả chiêm bao vào lòng; Hồn tôi đã
thoát để tiêu dao; Để hồn trôi dạt cõi xa mơ; Hồn theo với nhạc hồn ơi là hồn.
Con người ở cõi miền tâm linh và mộng ảo ấy dường như không còn
ở trạng thái ý thức mà đã hoàn toàn đắm mình trong vô thức. Các trạng thái ngất
ngây, đê mê, ngây ngây, phiêu diêu, tê mê… là phổ biến. Say là đỉnh
điểm của vô thức luôn được đẩy đến tận cùng với say im, say no, say nghiền,
say lươt mướt, say ngấm, say mất mây, say mơ vàchết say. Ở trạng thái này,
con người thoát khỏi mọi ràng buộc thể chất, mất dần ý thức mà hoà nhập tột cùng
trong những ấn tượng và cảm giác. Phút say là phút tâm hồn thi nhân thăng hoa,
nhập hẳn vào cõi mộng, bước sang miền Sáng tạo, lạc vào địa hạt huyền bí của Nghệ
thuật:
Ôi say khướt mới dào tuôn ý tứ
Ôi điên rồ mới hớp ánh trăng sao
Ôi điên rồ mới hớp ánh trăng sao
Cõi Mộng (cõi tâm linh, vô thức) là đường đưa người thơ đến xứ
sở Huyền diệu (cõi Thơ).
Một cõi trời huyền diệu và bí ẩn với những âm thanh kỳ diệu,
sắc màu “phương phi” và sự tương giao cảm giác. Theo Hàn Mạc Tử: “Thi sĩ Bích
Khê là người có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo, nhìn vào thực tế thì thực tế
trở thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao thì lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu”.
Nếu cõi chiêm bao ấy là thế giới tâm linh bí ẩn thì địa hạt huyền diệu này chính
là khu vườn nghệ thuật (cõi Thơ).
Nơi đây, thế giới hoà tan trong Nhạc. Thi nhân từng tuyên
bố: Ngoài trời là nhạc cả. Vậy nên, âm nhạc bao trùm thấm đượm và tan hoà
vào cảnh vật và con người:
Đàn thơ cơ hồ lên cung âm điệu
Đàn giây trinh bạch khóc mướt trong mơ…
Nàng ơi đừng động, có nhạc trong giây
Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trời mây
(Nhạc)
Đàn giây trinh bạch khóc mướt trong mơ…
Nàng ơi đừng động, có nhạc trong giây
Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trời mây
(Nhạc)
Một khúc mộng cầm ca cất lên, dù chỉ là trong ảo giác, nhưng đã
khiến cả một bầu trời huyền diệu hợp về. Nơi đó có hương dạ lan, hồn xạ hương,
hơi thở hoa hồng, không gian tơ, mắt mùa thu xanh tợ ngọc… Mọi hoạt động, cử chỉ
con người trong thế giới này đều là nguồn cội của âm thanh: Nàng hé môi ra
bay điệu nhạc, Mắt ngời châu rung ánh sáng nghê thường. Thiên nhiên, từ nắng gió
đến hương hoa, màu sắc đều trở thành những ký hiệu của nhạc: Ôi nắng vàng
thơm rung rinh điệu ngọc; Nắng có nhạc chớp đầy hương lạ; Gió đi chới với trong
khung trắng, Lộ nửa vần thơ nửa điệu ca. Nhạc chính là nhịp điệu của cõi trời
huyền diệu này. Nhịp điệu ấy được đo bằng xao động của cảnh vật: rung rinh
điệu ngọc, những cánh hồng đơm, nhẹ nhàng, gợn gợn… Nhạc chan chứa lan truyền mọi
nơi mọi chốn, từ miền vũ trụ bao la đến chốn tiềm thức tâm linh bí ẩn mà thiên
đường là biểu tượng: Muôn ngọc nữ uốn mình lượn sóng xiêm nghê, Diễm
lệ Hằng Nga bước xuống đền, Điệu ca thần diệu vẳng đưa lên. Nơi đây, giai nhân
dìu thi sĩ trong ý nhạc diệu huyền. Đó chính là phút giây sáng tạo được hữu hình
hoá: Cô dẫn hồn tôi trên sóng múa.
Nhạc không chỉ là nhịp điệu của thế giới huyền diệu mà còn là
nhịp điệu của vũ trụ, của thế giới tâm linh sâu thẳm, là nhịp điệu của hồn thơ,
của sáng tạo. Nhìn thế giới bằng con mắt âm nhạc chính là một bước đi của thơ
ca tượng trưng với tuyên bố của P.Veclen, thi sĩ nổi tiếng của trường phái thơ tượng
trưng Pháp: Âm nhạc đi trước mọi thứ.
Bên bầu trời đầy nhạc, thế giới huyền diệu đó còn rực rỡ ánh
sáng, chan chứa hào quang. Tự nó đã lung linh, huyền ảo, mỹ lệ: Trăng dệt
gấm mà sao thêu kim tuyến; Cả không gian ngời kết ngọc kim cương; Lầu ai ánh gì
như lưu ly; Động đào nguyên chấp choá ánh lưu ly… Đó là không gian của xà cừ,
san hô, kim cương, lấp lánh đẹp như trong giấc mơ vậy. Những sắc màu “phương
phi” (chữ của Hàn Mạc Tử), một kho châu báu ấy quả thật chỉ có ở thơ Bích Khê.
Không chỉ là một thế giới hòa điệu âm thanh và sắc màu, thế
giới này còn được xây nên dưới cái nhìn tương ứng cảm giác. Nơi đây mọi sự vật đều
được cảm nhận qua các cảm giác về âm thanh, sắc màu, mùi vị tương giao, một biểu
hiện của cách cảm nhận thế giới độc đáo mà Bôđơle, một trong những đại biểu của
trường phái thơ ca tượng trưng Pháp đã phát hiện và đề cao. Con người được biểu
tượng qua âm thanh (miệng như đàn, nói ra thành điệu nhạc), qua hương thơm (nàng
là hương hay nhan sắc lên hương), những cảm giác sắc ngọt (cười trắng thủy tinh, mắt rất mát). Ánh trăng được nhân linh hoá qua từng hành động: trăng
nhòm sấp ngã, trăng ngủ, trăng rờn, trăng ôm niềm tóc bạc, trăng say, trăng bỗng
ngây khờ. Cõi vô thức của tâm linh với những ý niệm vô hình thoắt thành cụ thể
qua hình ảnh, màu sắc: mộng trắng phau, mộng nở hoa, mộng trắng như ngà, hồn
hé nhạc thắm như hoa, hồn về trên môi… Âm thanh, hương thơm, màu sắc và cảm
giác của làn da, hơi thở… tất cả đều chuyển hoá, tan hòa, cộng hưởng, dẫn người
đọc đi vào vùng siêu cảm. Mùi hương có trọng lượng, có hơi ấm, có âm thanh và ánh
sáng: Hương ngọt ngào ánh sáng chớp mau mau; Vườn thơm khua sắc mát; Thân
nhịp nhàng lòng nghe hương nằng nặng; Cười thơm như ngọc dội hương vang; Nắng vàng
thơm rung rinh điệu ngọc. Mùi hương tràn ngập, bao phủ nơi đây: thơm như sữa
lúa, hồn xạ hương, hơi thở hoa hồng, đỉnh trầm hương. Nơi đây thực sự là cõi đẹp
tuyệt vời, nơi ngự trị của thơ ca.
Xứ sở diệu huyền còn được định hình qua sắc đẹp giai nhân: Đêm
ru huyền ngủ mê trên mái tóc, Vài chút trăng say đọng lại ở làn môi; Suối tóc mát
nhúng trong vùng mộng tuyết; Mỗi cái ngó là một vì sao mọc, Mỗi liếc yêu là phảng
phất mùi hương. Giai nhân chốn này không chỉ là đại diện của sắc đẹp thông thường
mà là tượng trưng của cái Đẹp, của Thơ ca, của Nghệ thuật, mà chỉ có Nhạc, có Hương
thơm, có Sắc màu của xứ sở huyền diệu mới là thước đo tương ứng của Nàng. Hay nói
ngược lại, cái Đẹp và Thơ ca trong giấc mộng thi ca hiện hữu ở vẻ đẹp giai nhân:
Gió đi chới với trong khung trắng
Lộ nửa vần thơ nửa điệu ca
Tôi ráp lại xem: Ồ sự lạ
Một người thiếu nữ hiện trong trăng
Lộ nửa vần thơ nửa điệu ca
Tôi ráp lại xem: Ồ sự lạ
Một người thiếu nữ hiện trong trăng
Lòng khát khao chiếm lĩnh người đẹp trong một loạt bài thơ (Cô
gái ngây thơ, Tranh lõa thể, Thơ bay, Ngọc, Sắc đẹp, Một cõi trời…) không nên
hiểu đơn giản là chuyện Truỵ lạc và Cuồng dâm (dù chính nhà thơ đặt tên như vậy
cho chủ đề loại thơ này) mà chính là niềm say mê cái Đẹp tột cùng đến mức mê sảng,
mất lý trí, là nỗi khát khao điên cuồng chính phục cái Đẹp và Nghệ thuật, bởi đối
với thi nhân, người đẹp chính là Thơ Ca!
Mọi trạng thái xúc cảm con người nơi đây bỗng hóa thành mờ nhạt
trong sự thăng hoa của cảm giác. Dù đó đây ta vẫn gặp những xúc cảm cụ thể, trực
tiếp như: Anh ghì lấy ảnh. Những đau thương, Thấm tận lòng anh khổ chán chường,
Sao xanh lợt phím tơ hồng, Gió ơi là gió! buồn đong thơ về, song tỉ lệ những câu
thơ đó không nhiều. Cái chủ yếu chúng ta cảm nhận được trong thơ Bích Khê là tiếng
nói bí hiểm của cảm giác, bởi đằng sau cái miêu tả, cái biểu đạt, nhà thơ đã dấu
đi cái biểu hiện, cái được biểu đạt. Vườn thơ Bích Khê rất đẹp, lộng lẫy và
tinh tế song cũng rất mơ hồ về nghĩa bởi thiếu đi những cảm xúc thật và những
chi tiết đời sống hiện thực. Thế giới ấy thuyết phục và quyến rũ người đọc chủ
yếu bằng cách khơi gợi, bằng ám thị. Nó là một thế giới chỉ có thể cảm thấy mà
không thể hiểu được. Đó là một “cõi đời ở ngoài trời”, trùng khít với Cõi
Đẹp, Cõi Thơ.
Thế giới thơ, theo thi nhân, là một cõi trời xa với một không
gian bất tận và vĩnh viễn. Thơ là tinh hoa, là bí ẩn của trời đất, là nhịp điệu
của vũ trụ, là chốn tương giao của mọi vẻ đẹp: nhạc điệu, sắc màu, hương thơm và
giai nhân. Thơ là những ảo giác kỳ diệu. Đó là một thế giới vĩnh hằng của Mộng,
của Tâm linh, của Thơ ca. Cấu trúc thế giới nghệ thuật thơ Bích Khê
mang tính tượng trưng vì lẽ đó.
Để tái hiện được cõi mộng như một thế giới siêu nghiệm huyền
bí, thơ tượng trưng đã nỗ lực tìm kiếm những phương tiện ngôn ngữ đặc biệt với
mục đích tự thân. Thứ ngôn ngữ đó đòi hỏi phải có được những ý nghĩa lạ thường
khác biệt để diễn tả được những bí ẩn của thế giới tâm linh. Bởi như P.Veclen từng
nhận xét: các tư duy cũ đều trở thành bất lực, không diễn tả nổi cái mơ hồ, cái
vi diệu, cái lo âu, phiền muộn, mơ ước.
Bích Khê đã chuyển thế giới mộng ảo và huyền diệu ấy sang nhạc
điệu, hình ảnh, ngôn ngữ. Sự sáng tạo tuy mang dấu vết kỹ thuật và duy mỹ, nhưng
lại thể hiện một năng lực tâm hồn lạ lùng khiến ông có những câu thơ hay vào bậc
nhất của thơ Việt Nam (theo Hoài Thanh) và không hề giống ai đến tận ngày hôm
nay.
Quan niệm thơ là nhạc đã khiến Bích Khê sáng tạo nên câu thơ
nhạc như một cách tân về hình thức. Điều này đã được nhiều nhà thơ, nhiều nhà
nghiên cứu đề cập đến [Xin xem Bích Khê - nhà thơ thần linh (Hàn Mạc
Tử); Thơ Bích Khê (Chế Lan Viên); Bích Khê - sự thức nhận ngôn từ (Đỗ
Lai Thúy)…]. Trước hết đó là những bài thơ những câu thơ dùng toàn vần bằng hoặc
vần bằng làm chủ âm, tạo cảm giác đặc biệt, kỳ lạ:
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung thương
Ôi tôi bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
(Tỳ bà)
Tôi mang lên lầu lên cung thương
Ôi tôi bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
(Tỳ bà)
Bài thơ nhẹ như hơi thở, như tiếng nhạc đang lan tỏa và bay bổng
trong không gian với các âm vang mở dày đặc (nàng, mang, nàng, tang, lang). Đã
từng có thi nhân làm thơ toàn vần bằng (Giang hồ mê chơi quên quê hương - Tản Đà; Sương nương theo trăng ngừng lưng trời, Tương tư nâng lòng lên chơi
vơi - Xuân Diệu), song không nhiều… Bích Khê dùng vần bằng toàn bộ ở hai bài,
như chủ âm ở năm bài và lẻ tẻ ở rất nhiều câu. Lối thơ bình thanh này tạo ra một
âm hưởng buồn sâu lắng, cảm giác trong nhẹ, dễ thăng hoa, như dẫn con người vào
chốn xa xăm mơ hồ nào đó…
Bích Khê thiên về lối gieo vần cùng dòng như là những nốt luyến
láy của bản nhạc, tạo nên hòa âm du dương:
Lam nhung ô! Màu lưng chừng trời
Xanh nhung ô! Màu phơi nơi nơi
(Hoàng hoa)
Xanh nhung ô! Màu phơi nơi nơi
(Hoàng hoa)
Về nhịp điệu, theo Hàn Mạc Tử, lối ngắt mạch ở chữ thứ tư của
Bích Khê trong câu tám chữ cùng lối gieo vần lưng khiến cho bài thơ như hai bài
tứ ngôn song hành:
Ôi nắng vàng thơ, rung rinh điệu ngọc
Những cánh hồng đơm, những cánh hồng đơm
(Nhạc)
Những cánh hồng đơm, những cánh hồng đơm
(Nhạc)
Có những bài thơ làm theo lối thơ vắt dòng của Pháp, tạo nhịp
điệu tân kỳ và ý nghĩa lạ lẫm:
Thoảng tiếng gáy của cu
Cườm, hiu hiu vàng đượm
Cườm, hiu hiu vàng đượm
Bích Khê sử dụng rất nhiều biện pháp hòa âm: điệp phụ âm đầu
(Nhẹ nhàng, nhịp nhàng thở đều trong sương; Núi vía vọng gì để vấn vương), điệp
vần trong câu gây cảm giác hô ứng lan truyền (Hồn dạ hương phơ phất ở trong sương;
Tình tang tôi nghe như tình lang). Sự đi về, lan toả của các âm tạo nên sự nhịp
nhàng của giai điệu thơ.
Các điệp khúc mang tính nhạc được tạo nên từ những điệp từ và
điệp cú pháp được sử dụng với tần số cao: Hoàng hôn ở bên cồn, Bên cồn ô cô
thôn, Cô thôn ô trúc vàng; Thơ bay, thơ bay vô bàn tay ngà; Thơ ngà ngà say, thơ
ngà ngà say. Bài Thi vị là sự hoà hợp tuyệt đối của thơ và nhạc trong
việc sử dụng điệp ngữ và cú pháp tạo nên sự nâng cao, xoáy sâu, cao trào và lịm
tắt của âm nhạc:
1. Lá vàng rơi,
(Tôi khóc, anh ơi!)
Đàn rung tiếng
Người yêu đương ngồi…
(Tôi khóc, anh ơi!)
Đàn rung tiếng
Người yêu đương ngồi…
2. Trăng vàng rơi,
(Tôi khóc, anh ơi!)
Đàn nghẹn tiếng
Người yêu đi rồi…
(Tôi khóc, anh ơi!)
Đàn nghẹn tiếng
Người yêu đi rồi…
3. Hoa vàng rơi,
(Tôi khóc, anh ơi!)
Đàn rụng tiếng
Người yêu đi rồi
(Tôi khóc, anh ơi!)
Đàn rụng tiếng
Người yêu đi rồi
4. Sao vàng rơi,
(Tôi khóc, anh ơi!)
Đàn câm tiếng
Người yêu xa rồi…
5. Đêm vàng rơi,
(Tôi khóc, anh ơi!)
Đàn bẻ phím
Người yêu chết rồi.
(Tôi khóc, anh ơi!)
Đàn câm tiếng
Người yêu xa rồi…
5. Đêm vàng rơi,
(Tôi khóc, anh ơi!)
Đàn bẻ phím
Người yêu chết rồi.
Ở đây, thơ trùng khít với nhạc.
Cũng như Bôđơle đi xuyên qua cả một rừng biểu tượng,
trong thơ Bích Khê cũng đầy các hình ảnh - biểu tượng. Mắt là nơi chứa
đựng những bí ẩn của một cõi miền xa lạ, là ánh sáng dẫn thi nhân đi vào thế giới
thiêng liêng, huyền diệu: Ôi cặp mắt của người trong tợ ngọc, Sáng như gươm
và chấp chóa kim cương; Hai mắt ấy chói hào quang ánh sáng, Dẫn hồn ta vào thế
giới thiêng liêng, là nguồn cảm hứng của thơ ca: Bỗng đôi mắt ngọc hiện
xanh mờ, Nức nở tan thành vạn giọt thơ. Ngọc châu, một hình ảnh được dùng đến
trăm lần như là chuẩn mực của những gì tinh tuý nhất, đẹp đẽ nhất của thế giới,
con người và nghệ thuật: nàng là ngọc, thi sĩ là ngọc, người yêu là ngọc,
mộng ngọc, hồn ngọc, tiếng như vàng ngọc reo… Đồ mi hoa là biểu tượng
của giai nhân. Tranh lõa thể: vẻ đẹp bị che kín của thiên nhiên (như trời đất,
âm nhạc, thơ và cảm nhận) cần phải được khám phá. Gã ăn mày: hình ảnh thi
sĩ đang ăn mày “lộc tinh hoa” của thế giới mộng ảo, kỳ diệu:
Hồn ta đau quá là ta ngửa tay
Lạy tứ hướng và xin khắp thiên hạ:
Nắng có nhạc chớp đầy hương hơi lạ
Nấc âm thanh chết lịm giữa triền miên
(Ăn mày)
Lạy tứ hướng và xin khắp thiên hạ:
Nắng có nhạc chớp đầy hương hơi lạ
Nấc âm thanh chết lịm giữa triền miên
(Ăn mày)
Biểu tượng đã làm nên tính bí ẩn và huyền diệu: đẹp mà khó hiểu.
Nhà thơ dùng rất nhiều hình ảnh ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: mộng trắng phau
phau, mộng rất xanh, không gian tan ra tiếng địch, mắt trào ra hưởng khoái lạc,
mắt rất mát, trăng ôm niềm tóc bạc, hương trăng, đêm hường màu trăng không gian
như gờn gợn sóng, hồn hé nhạc thắm như hoa, vườn thơm khua sắc mát, chân nhịp
nhàng lòng nghe hương nằng nặng… Điều này cho thấy trực giác của thi nhân rất mạnh.
Có thể có con số thống kê phép chuyển đổi ẩn dụ này: Từ hình ảnh vô hình thành
hình ảnh hữu hình: 50 lần; từ hình ảnh màu sắc thành âm thanh: 10 lần; từ âm
thanh thành màu sắc: 8 lần, từ sắc màu, âm thanh thành hương vị: 20 lần… Ẩn dụ
bổ sung góp phần xây dựng một thế giới tương giao hoà điệu thể hiện những mối
liên hệ bí ẩn, siêu việt trong “vũ trụ tinh thần”.
Cùng với các khuynh hướng thơ lãng mạn, siêu thực, thơ tượng
trưng đã góp phần làm nên gương mặt của thơ Mới 1930-1945 trong quá trình vận động
từ tư duy nghệ thuật cận đại sang tư duy nghệ thuật hiện đại.
Với một cách nhìn mang tính tượng trưng về nghệ thuật, thế giới
và con người, Bích Khê đã đóng góp một vị trí đáng ghi nhận trong lịch sử thơ
ca dân tộc. Đó là sự trình bày cái bên trong, cái tinh thần, giấc mơ, cõi vô thức
dưới một cách cảm nhận thế giới mới mẻ (sự tương hợp cảm giác) và bằng thứ ngôn
ngữ đặc biệt (câu thơ biểu tượng và câu thơ âm nhạc). Có thể nói, với Bích Khê,
câu thơ Việt Nam tuy còn cầu kỳ, nhân tạo nhưng đã có một dáng vẻ mới lạ, độc đáo
và thú vị.
Những quan niệm và sáng tạo độc đáo của Bích Khê trong nghệ
thuật cho đến nay mãi mãi là “một đỉnh núi lạ” trong lịch sử thơ ca Việt Nam.
Lê Lưu Oanh - Tô Tố Quyên
Nguồn: Tạp chí VHNT, số 3-2002








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét