Cận Kim Thời-Đại
NHÀ NGUYỄN
(1802 - 1945)
Niên hiệu: Gia Long
1. Thế Tổ xưng đế hiệu
2. Việc triều chính
3. Binh chế
4. Việc tài chánh
5. Công vụ
6. Pháp luật
7. Việc học hành
8. Việc giao thiệp với nước Tàu
9. Việc giao thiệp với nước Chân Lạp và nước Tiêm La
10. Việc giao thiệp với nước Hồng Mao
11. Việc giao thiệp với nước Pháp Lang Tây
12. Sự giết hại công thần
13. Xét công việc của vua Thái Tổ
1. Thế Tổ xưng đế hiệu.
Thế tổ khởi binh chống nhau với Tây Sơn ở đất Gia Định từ năm
mậu tuất (1778), kể vừa 24 năm, mới dứt được nhà Tây Sơn, thu phục được giang
sơn cũ của chúa Nguyễn khi xưa và họp cả nam bắc lại làm một mối. Khi việc đánh
dẹp xong rồi, ngài xưng đế hiệu, đặt quốc hiệu là Việt Nam, đóng Kinh đô ở Phú
Xuân, tức là thành Huế bây giờ.
Khi vua Thế Tổ lấy được đất Bắc Hà rồi, ngài xuống chỉ tha
cho dân một vụ thuế, và thăng thưởng cho các tướng sĩ. Ngài lại phong tước cho
con cháu nhà Lê, nhà Trịnh, cấp cho ruộng đất và trừ phong dịch cho dòng dõi
hai họ ấy để giữ việc thờ phụng tổ tiên.
Đoạn rồi, ngài đổi Bắc Hà là Bắc Thành, đặt quan tổng trấn,
triệu Nguyễn Văn Thành ở Quy Nhơn ra sung chức ấy, để coi mọi việc. Lại đặt ra
tam tào là tào Hộ, tào Binh, tào Hình, sai Nguyễn Văn Khiêm, Đặng Trần Thường,
và Phạm Văn Đăng ra coi các tào ấy, để giúp Nguyễn Văn Thành.
Đến tháng bảy năm nhâm tuất (1802), Thế Tổ về Kinh, đem vua
tôi nhà Tây Sơn về làm lễ hiến phù ở đền Thái Miếu, rồi đem ra tận pháp trường
xử trị. Lại sai quật mả vua Thái Đức Nguyễn Nhạc và vua Thái Tổ Nguyễn Huệ lên,
đem vứt thây đi, còn đầu thì đem bỏ giam ở trong ngục tối.
Những bọn văn thần nhà Tây Sơn như Ngô Thì Nhiệm, Phan Huy
Ích ra hàng, đem nọc ra đánh ở trước văn miếu, rồi tha cho về. Lúc bấy giờ có
Ngô Thì Nhiệm vì trước có hiềm với Đặng Trần Thường, cho nên đến khi đánh ở văn
miếu, Đặng Trần Thường sai người đánh chết.
Vua Thế Tổ định tội, thưởng công xong rồi, lo sửa sang mọi việc;
làm đền Cần Chính để lập thường triều, đền Thái Hòa để lập đại triều; lại sai
quân dân xây thành Kinh Đô và Hoàng Thành cùng các thành trì ở ngoài các doanh
trấn.
Tuy rằng ngài đã đặt niên hiệu, lên ngôi từ năm nhâm tuất
(1802), nhưng mà đến năm giáp tí (1804), tức là Gia Long tam niên, vua nhà
Thanh mới sai sứ sang phong vương, và đến năm bính dần (1806), ngài mới làm lễ
xưng đế hiệu ở đền Thái Hòa. Định triều nghi, cứ ngày rằm và ngày mồng một thiết
đại triều; ngày mồng 5, mồng 10, 20 và 25 thì thiết tiểu triều.
Lúc ngài đánh xong Tây Sơn, thì chính trị trong nước đổ nát,
phong tục hủy hoại, việc gì cũng cần sửa sang lại. Bởi vậy ở trong thì ngài chỉnh
đốn pháp luật, và mọi việc cai trị cùng là sửa sang phong tục, cấm dân gian
không cho lấy việc thần phật mà bày ra rượu chè ăn uống, nghiêm dụ quan lại
không được sinh sự nhiễu dân. Ở ngoài thì ngài lo sự giao hiếu với nước Tàu, nước
Tiêm, nước Chân Lạp, khiến cho nước Việt Nam lúc bấy giờ trong ngoài đều được
yên trị.
2. Việc Triều Chính.
Ở trong cung, nhà vua không đặt ngôi hoàng hậu, chỉ có ngôi
hoàng phi và các cung tần. Sau khi vua mất, thì tự quân lên ngôi, mới tôn mẹ
lên làm Hoàng Thái Hậu.
Quan lại trong Triều đại khái theo chế độ nhà Lê, nhưng bỏ chức
Tham Tụng và Bồi Tụng tức là chức tể tướng đời xưa. Mọi việc đều do Lục Bộ chủ
trương hết cả. Mỗi bộ có quan Thượng Thư làm đầu, quan tả hữu tham tri, tả hữu
thị lang, cùng các thuộc viên như là lang trung, viên ngoại lang, chủ sự và bát
cửu phẩm thơ lại, v.v.....
Bộ Lại: coi việc thuyên bổ quan văn, ban thưởng phẩm cấp, khảo
xét công trạng, phong tặng tước ấm, thảo những tờ chiếu sắc cáo mệnh và làm những
sổ các hàng quan lại v.v....
Bộ Hộ: coi việc đinh điền thuế má, tiền bạc chuyển thông, kho
tàng chứa chất, hóa vật đắt rẻ v.v...
Bộ Lễ: coi việc triều hộ, khánh hạ, tế tự, tôn phong, cùng là
cách thức học hành thi cử, tinh biểu cho người sống lâu, người có tiết nghĩa,
phong thụy cho các thần nhân v.v.....
Bộ Binh: coi việc thuyên bổ võ chức, giảng duyệt quân lính, sai
khiến quân đi thú hoặc đi đánh dẹp, kén chọn binh đinh, xét người có công người
có lỗi về việc binh.
Bộ Hình: coi việc hình danh pháp luật, tra nghĩ dâng tấu, duyệt
lại những tội nặng án ngờ, xét kỹ những tù giam ngục cấm.
Bộ Công: coi việc làm cung điện, dinh thự, xây thành, đào
hào, tu tạo tàu bè, đặt làm kiểu mẫu, thuê thợ thuyền, mua vật liệu v.v....
Ngoài lục bộ lại có Đô Sát Viện để giữ việc can gián vua, và
đàn hạch các quan. Cấp sự trung các khoa và giám sát ngự sử các đạo, đều thống
thuộc về viện ấy. Trong viện có tả hữu đô ngự sử và tả hữu phó đô ngự sử đứng đầu.
Bấy giờ vua Thế Tổ lại đặt ra Tào Chính để coi việc vận tải
cùng là thuế má tàu bè. Có quan Tào Chính Sứ và Tào Phó Sứ làm đầu.
Các địa phương thì lúc bấy giờ từ nam chí bắc chia ra làm 23
trấn và 4 doanh. Từ Thanh Hóa ngoại (tức là Ninh bình bây giờ) trở ra, gọi là Bắc
Thành, thống cả 11 trấn, chia ra làm 5 nội trấn: Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ,
Sơn Tây, Kinh Bắc, và Hải Dương; 6 ngoại trấn: Tuyên Quang, Hưng Hóa, Cao Bằng,
Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Yên. Từ Bình Thuận trở vào gọi là Gia Định Thành,
thống cả 5 trấn: Phiên An (địa hạt Gia Định), Biên Hòa, Vĩnh Thanh (tức là Vĩnh
Long và An Giang), Vĩnh Tường và Hà Tiên.
Còn ở quãng giữa nước, thì đặt Thanh Hóa Trấn (gồm cả Thanh
Hóa nội, Thanh Hóa ngoại), Nghệ An trấn, Quảng Nghĩa trấn, Bình Định trấn, Phú
Yên trấn, Bình Hòa trấn (tức là Khánh hòa) và Bình Thuận trấn. Đất kinh kỳ thống
bốn doanh là: Trực Lệ Quảng Đức doanh (tức là Thừa Thiên bây giờ), Quảng Trị
doanh, Quảng bình doanh, Quảng Nam doanh.
Ở Bắc Thành và Gia Định Thành đều đặt chức tổng trấn, và phó
tổng trấn, để coi mọi việc. Ở các trấn thì đặt quan lưu trấn hay là quan trấn
thủ, quan cai bạ và quan ký lục để coi việc cai trị trong trấn.
Trấn lại chia ra phủ, huyện, châu, đặt chức tri phủ, tri huyện,
tri châu để coi việc cai trị.
Những trấn ở Nghệ An, Thanh Hóa và 5 nội trấn ở Bắc Thành,
thì dùng những quan cựu thần nhà Lê làm quan cai trị. Còn 6 ngoại trấn ở Bắc
Thành, thì giao quyền cai trị cho những thổ hào sở tại.
3. Binh Chế.
Khi vua Thế Tổ đánh được Tây Sơn rồi, ngài ban thưởng cho các
tướng sĩ, tặng phong và làm đền thờ những người tử trận. Còn những quân lính
già nua thì cho về quê quán. Đặt ra phép giản binh: lệ định các trấn, tự Quảng
Bình vào đến Bình Thuận thì cứ ba tên đinh kén lấy một tên lính; tự Biên Hòa trở
vào thì cứ 5 tên đinh kén lấy một tên lính; tự Hà Tịnh trở ra đến 5 nội trấn ở
Bắc Thành thì cứ 7 tên đinh kén lấy một tên lính. Còn 6 ngoại trấn là Tuyên
Quang, Hưng Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Yên thì cứ 10 tên đinh
kén lấy một tên lính.
Ở chỗ Kinh thành thì đặt ra thân binh, cấm binh, tinh binh.
Lính thân binh mỗi vệ có 500 người và có 50 người tập quân nhạc. Ở các trấn thì
đặt ra lính cơ, lính mộ. Lại đặt biền binh ban lệ, nghĩa là các binh lính chia
ra làm 3 phiên, 2 phiên về quán, còn một phiên ở tại ban luân lưu thay đổi cho
nhau.
Những binh khí thì dùng gươm giáo, mã tấu, và lại có súng lớn
bằng đồng gọi là súng đại bác, súng nhỏ gọi là súng thạch cơ điểu thương, nghĩa
là bắn thì mổ bằng máy đá lửa. Ở chỗ kinh thành lập ra ba sở xạ trường để quân
lính tập bắn.
Ở các cửa bể đều làm đồn đặt súng để phòng giữ và để xem xét
những tàu bè ngoại quốc đi lại.
Nước Việt Nam ta có nhiều bể cần phải giữ gìn, bởi vậy vua Thế
Tổ lưu tâm về việc chỉnh đốn binh thuyền: lấy người ở gần bể về doanh Quảng Đức
và doanh Quảng Nam làm 6 vệ thủy quân đóng tại Kinh Thành. Còn ở các hải khẩu,
mỗi nơi có một cơ lính thủy coi giữ. Nhà vua lại làm một thứ thuyền lớn ngoài bọc
đồng, để đi lại tuần phòng ở miền bể.
4. Việc Tài Chính.
Thuế đinh, thuế điền đều định lại cả. Thuế điền thì chia ra
làm 3 hạng: nhất đẳng điền mỗi mẫu đồng niên nộp thóc 20 thăng; nhị đẳng điền
15 thăng; tam đẳng điền 10 thăng. Còn thứ ruộng mùa đồng niên phải nộp 10
thăng.
Thuế đinh thì lệ định: từ Nghệ An ra đến nội ngoại Thanh Hóa,
mỗi suất đồng niên phải chịu:
Thuế thân 1 quan 2 tiền
Mân tiền 1 tiền
Cước mễ 2 bát
Thuế thân 1 quan 2 tiền
Mân tiền 1 tiền
Điệu tiền (tạp dịch) 6 tiền
Cước mễ 2 bát
6 ngoại trấn Bắc Thành, mỗi suất đinh đồng niên phải chịu:
Thuế thân 6 tiền
Mân tiền 1 tiền
Điệu tiền 3 tiền
Cước mễ 1 bát
Lệ giảm thuế: Thuế lệ tuy định như vậy, nhưng năm nào ở đâu mất
mùa, như là bị hoàng trùng, đại hạn hay là nước lụt, v.v... thì nhà nước chiếu
theo sự thiệt hại nhiều ít mà giảm thuế cho dân. Lúa 10 phần thiệt hại tới 4 phần
thì khoan giảm cho hai phần thuết; thiệt hại 5 phần thì giảm cho 3; thiệt hại 6
phần thì giảm cho 4; thiệt hại 7 phần thì giảm cho 5; thiệt hại 8 phần thì giảm
cho 6; thiệt hại 9 phần thì giảm cho 7; thiệt hại hết cả thì giảm cả. Hoặc nhà
nước có lấy dân đinh đi làm đường, đào sông, xây thành v.v... thì cũng được giảm
thuế.
Vụ thuế: Nhà vua lại tùy từng địa phương mà định vụ thuế. Từ
Quảng Bình đến Bình Thuận cứ mỗi năm một vụ thu thuế, khởi đầu từ tháng 4 đến
tháng 7 thì hết. Từ Nghệ An ra đến Thanh Hóa ngoại, cùng các trấn ở Bắc thành mỗI
năm thu thuế 2 vụ: mùa hạ thì khởi tự tháng 4 đến tháng 6 thì hết; mùa đông thì
khởi sự tự tháng 10 đến tháng 11 thì hết.
Đinh bạ: Lệ định 5 năm một lần làm sổ đinh, trong làng từ chức
sắc cho đến quân dân, đều phải vào sổ. Kể từ 18 tuổi trở lên, 59 tuổi trở xuống,
đều phải khai vào sổ.
Điền bạ: Các làng, hoặc ruộng mùa, hoặc ruộng chiêm, hoặc ruộng
hai mùa, hoặc có đất hạng nào, bao nhiêu mẫu, sào, thước, tấc, tọa lạc tại đâu,
đông tây tứ chí phải chua cho rõ ràng. Mỗi làng phải làm 3 quyển sổ, cứ 5 năm
làm một lần đệ vào bộ đóng dấu kiềm, rồi một bản lưu lại bộ, để phòng khi xét đến;
còn hai bản giao về tỉnh, tỉnh để một bản lưu chiểu, còn một bản gia trả dân xã
lưu thủ.
Cấm bán ruộng công điền: Từ khi nhà Lê mất ngôi, dân xã có
nơi thì đem công điền đổi ra tư điền, có nơi thì đem cố bán đi, bởi vậy năm Gia
Long thứ hai (1803) nhà vua lập lệ cấm dân xã không được mua bán công điền công
thổ, chỉ trừ lúc nào xã thôn có công dụng điều gì, thì mới được phép cho điển cố,
hạn hết 3 năm lại phải trả lại. Ai giữ quán hạn ấy thì phải tội.
Thuế các sản vật: Năm Gia Long thứ hai (1803), định lệ các quế
hộ ở Nghệ An, đồng niên phải nộp các hạng quế 120 cân. Ở Thanh Hóa phải nộp 70
cân, và đều được miễn trừ thuế thân cả. Những người tìm được cây quế, phải
trình quan để cấp cho văn bằng mới được đẵn. Đẵn xong rồi một nửa nộp quan, một
nửa cho người tìm được.
Năm Gia long thứ tư (1805), định lệ những người đi lấy yến
sào ở các đảo về hạt Quảng Nam, mỗi người đồng niên phải nộp thuế yến 8 lạng,
và được tha việc binh lính.
Còn những thuế hương, thuế sâm, thuế chiếu, thuế gỗ, đều có lệ
riêng, định cho nộp bằng tiền hay là bằng sản vật.
Vua Thế Tổ lại định lệ đánh thuế những thuyền các nước vào
buôn bán, cứ do thuyền lớn nhỏ mà định số thuế phải nộp.
Những mỏ đồng, mỏ thiếc, mỏ kẽm, cũng cho người Tàu khai để
đánh thuế.
Đúc tiền: Năm Gia Long thứ hai (1803), mở sở đúc tiền ở Bắc
Thành, để đúc tiền đồng và tiền kẽm; lại đúc ra nén vàng, nén bạc, lượng vàng,
lượng bạc, để cho tiện sự giao thông buôn bán trong nước.
Mỗi đồng tiền kẽm nặng 7 phân, một mặt in chữ "Gia Long
Thông Bảo", một mặt in chữ "thất phân", mỗi quan tiền nặng 2 cân
10 lạng.
Giá vàng ở Bắc Thành thì định cứ một lượng vàng đổi lấy 10 lượng
bạc.
Về sau mở thêm lò đúc tiền ở Gia Định Thành và ở các trấn.
Thước đo: Vua Thế Tổ chế tạo ra kiểu thước đồng đo ruộng, một
mặt khắc 7 chữ "Gia Long cửu niên thu bát nguyệt", một mặt khác 10 chữ
"ban hành đạc điền xích, công bộ đường kính tạo". Chuẩn định lại các
thước vuông đo ruộng khi trước, chế tạo ra thước đồng, một mặt khắc 7 chữ
"Gia Long Cửu Niên Thu Bát Nguyệt", một mặt khắc 12 chữ "ban
hành đạc điền cựu kinh xích, công bộ đường khâm tạo".
Phép cân: Năm Gia Long thứ 12 (1813), chế tạo ra cân thiên
bình, cấp cho các doanh các trấn, để cân đồng, sắt, chì, thiếc và các sản vật.
Còn vàng và bạc thì dùng cân trung bình.
5. Công Vụ.
Vua Thế Tổ lại sửa sang những đường sá, xoi đào các sông
ngòi, đắp các đê điều, để cho việc làm ăn của dân gian được tiện lợi.
Đường Quan Lộ: Đường sá trong nước là sự khẩn yếu cho việc
chính trị, vậy nên vua Thế Tổ mới định lệ sai quan ở các doanh, các trấn phải sửa
sang đường quan lộ: bắt dân sở tại phải đắp đường làm cầu, lệ cứ 15.000 trượng
đường thì phát cho dân 10.000 phương gạo.
Lại từ cửa Nam quan (thuộc Lạng Sơn) vào đến Bình Thuận, cứ độ
4.000 trượng phải làm một cái nhà trạm ở cạnh đường quan lộ, để cho quan khách
đi lại nghỉ ngơi. Cả thảy 98 trạm.
Còn từ Bình Thuận trở vào phía nam đến Hà Tiên thì đi đường
thủy.
Sông ngòi và đê điều: Những sông ngòi và đê điều, đều là sự
khẩn yếu cho việc canh nông, bởi vậy vua Thế Tổ truyền cho quan ở các trấn phải
xoi đào sông ngòi và các cửa bể, và nhất là ở Bắc thành phải giữ gìn đê điều
cho cẩn thận: chỗ nào không có thì đắp thêm, chỗ nào hư hỏng thì phải sửa lại. Ở
các trấn lại đặt ra kho chứa thóc gạo, để phòng khi mất mùa đói kém thì lấy mà
phát cho dân.
6. Pháp Luật.
Nguyên khi trước vẫn theo luật nhà Lê, nhưng nay nhà Nguyễn
đã nhất thống cả nam bắc, vua Thế Tổ bèn truyền cho đình thần lập ra pháp luật
rõ ràng, để cho tiện sự cai trị. Năm tân mùi (1811) sai Nguyễn Văn Thành làm tổng
tài, coi việc soạn ra sách luật; lấy luật cũ của đời Hồng Đức nhà Lê, mà tham
chước với luật nhà Thanh làm thành một bộ, cả thảy 22 quyển, có 398 điều.
Đến năm ất hợi (1815), thì in sách luật ấy phát ra mọi nơi. Bộ
luật ấy tuy nói theo luật Hồng Đức nhưng kỳ thực là chép luật của nhà Thanh và
chỉ thay đổi ít nhiều mà thôi.
7. Việc Học Hành.
Thời bấy giờ nhờ có võ công mới dựng nên cơ nghiệp, cho nên
lúc ấy các quan đầu triều là quan ngũ quân đô thống, và quan tổng trấn Nam Bắc
hai thành đều là quan võ cả. Nhưng vua Thế Tổ cũng biết rằng sự trị nước cần phải
có võ có văn, bởi vậy đêm ngày ngày lưu ý về việc học hành thi cử trong nước.
Ngài lập nhà Văn Miếu ở các doanh các trấn, thờ đức Khổng tử,
để tỏ lòng trọng Nho học. Đặt Quốc Tử Giám ở Kinh đô, để dạy con các quan và
các sĩ tử. Mở khoa thi Hương để kén lấy những người có học hành ra là quan.
Đặt thêm chức đốc học ở các trấn, và dùng những người có khoa
mục ở đời nhà Lê, để coi việc dạy dỗ.
Vua Thế Tổ lo cả đến địa dư và quốc sử, bởi vậy ngày sai quan
Binh Bộ Thượng Thư là Lê Quang Định kê cứu ở trong các trấn các doanh, tự Lạng
Sơn đến Hà Tiên, xem sơn xuyên hiểm trở, đưòng sá xa gần, sông bể, cầu quán, chợ
búa, phong tục, thổ sản, có những gì làm thành sách "Nhất Thống Địa Dư
Chí" để dâng lên. Đến năm bính dần (1806), bộ sách ấy làm xong cả thảy được
10 quyển.
Năm tân mùi (1811), ngài sai quan tìm những sách dã sử nói
chuyện nhà Lê và nhà Nguyễn Tây Sơn để sửa lại quốc sử.
Thời bấy giờ văn quốc âm cũng thịnh lắm. Một đôi khi nhà vua
cũng dùng chữ nôm mà làm văn tế. Bài văn tế tướng sĩ khi quan Tiền quân Nguyễn
Văn Thành, tổng trấn Bắc Thành ra chủ tế không rõ ai làm, nhưng thật là một bài
văn chương đại bút. Lại có những chuyện như "Hoa Tiên" của ông Nguyễn
Huy Tự, "Truyện Thúy Kiều" của quan Hữu Tham tri bộ Lễ là ông Nguyễn
Du 2,
cũng phát hiện ra thời bấy giờ.
"Truyện Thúy Kiều" là một tập văn chương rất hay,
diễn được đủ cả nhân tình thế cố, tả được cả mọi cảnh trong đời, mà chỗ nào văn
chương cũng tao nhã, lời lẽ cũng lý thú. Nói theo tiếng đời nay thì "Truyện
Thúy Kiều" thật là một tập văn chương đại trước tác của nước ta vậy.
8. Việc Giao Thiệp Với Nước Tàu.
Khi vua Thế Tổ dứt được nhà Nguyễn Tây Sơn và lấy được đất Bắc
Hà rồi, sai quan thượng thư Binh Bộ là Lê Quang Định làm chánh sứ sang Tàu cầu
phong và xin đổi quốc hiệu là Nam Việt, lấy lẽ rằng Nam là An Nam và Việt là Việt
Thường. Nhưng vì đất Nam Việt đời nhà Triệu ngày trước gồm cả đất Lưỡng Quảng,
cho nên Thanh Triều mới đổi chữ Việt lên trên, gọi là Việt Nam để cho khỏi lầm
với tên cũ.
Đến năm giáp tí (1804) Thanh Triều sai quan án sát sứ tỉnh Quảng
Tây là Tề Bố Sâm sang tuyên phong. Đoạn rồi, vua sai Lê Bá Phẩm làm chánh sứ
đem đồ cống sang tạ và từ đó cứ chiếu lệ ba năm một lần sang cống.
Vàng
200 lượng
Bạc
1000 lượng
Lụa và cấp mỗi thứ 100 cây
Sừng tê giác
2 bộ
Ngà voi và quế mỗi thứ 100 cân
9. Việc giao thiệp với nước Chân Lạp và nước Tiêm La.
Nguyên lúc còn Lê Triều thì chúa Nguyễn vẫn giữ quyền bảo hộ
nước Chân Lạp. Sau vua nước ấy là Nặc Ông Tôn 3 bị
anh em hiếp chế, phải chia quyền ra làm ba, để cho Nặc Ông Vinh làm vua đầu,
mình làm vua thứ hai, em là Nặc Ông Thâm làm vua thứ ba. Được ít lâu Nặc Ông
Vinh giết cả Nặc Ông Tôn và Nặc Ông Thâm giữ lấy quyền làm vua một mình.
Lúc bấy giờ Nguyễn Vương còn ở Gia Định mới sai Đỗ Thanh Nhân
sang đánh Nặc Ông Vinh và lập con Nặc Ông Tôn là Nặc Ông Ấn lên làm vua. Nặc
Ông Ấn bấy giờ mới có 8 tuổi. Nguyễn Vương sai Hồ Văn Lân ở lại bảo hộ. Nhưng đến
khi đất Gia Định thất thủ quyền bảo hộ nước Chân Lạp thuộc về nước Tiêm La.
Năm bính thìn (1796), Nặc Ông Ấn mất, truyền nôi lại cho con
là Nặc Ông Chân. Vua Tiêm La sai sứ sang phong, như thế là vua Chân Lạp phải thần
phục vua Tiêm La.
Đến năm đinh mão (1807) Nặc Ông Chân lại bỏ Tiêm La mà xin về
thần phục vua Việt Nam ta, theo lệ cống tiến, cứ ba năm một lần.
Đồ cống vật là:
Voi đực cao 5 thước 2 con
Sừng tê giác
2 chiếc
Ngà voi
2 cái
Hột sa nhân
50 cân
Đậu khấu 50 cân
Hoàng lạp 50 cân
Cánh kiến 50 cân
Sơn đen 20 lọ
Nặc Ông Chân có ba người em tên là Nặc Ông Nguyên, Nặc Ông
Lem, Nặc Ông Đôn, muốn tranh quyền của anh, mới sang cầu cứu nước Tiêm La. Tiêm
La bắt Nặc Ông Chân phải chia đất cho các em. Nặc Ông Chân không chịu, quân
Tiêm La bèn sang đánh thành La Bích. Nặc Ông Chân chạy sang Tân Châu, rồi dâng
biểu cầu cứu. Quan tổng trấn Gia Định thành bấy giờ là Nguyễn Văn Nhân mới đem
việc ấy tâu về Triều đình.
Năm tân mùi (1811), vua Thế Tổ cho sứ đưa thư sang trách nước
Tiêm La sinh sự. Năm sau, vua Tiêm La sai sứ sang phúc thư lại rằng: việc ấy là
muốn giảng hòa cho anh em Nặc Ông Chân, chứ không có ý gì cả. Vậy xin để Việt
Nam xử trí thế nào, Tiêm La 4 cũng
xin thuận.
Qua năm quý dậu (1813) vua Thế Tổ sai quan tổng trấn Gia Định
Thành là Lê Văn Duyệt đem hơn 10.000 quân, hội đồng với sứ nước Tiêm La, đưa Nặc
Ông Chân về nước.
Nước Tiêm La tuy không dám kháng cự, nhưng vẫn lưu quân ở lại
giữ tỉnh Bắc tầm bon (Battambang), nói rằng để đất ấy phong cho các em Nặc Ông
Chân. Lê Văn Duyệt mới viết thư sang trách nước Tiêm La về điều ấy, quân Tiêm mới
rút về.
Lê Văn Duyệt dâng sớ xin xây thành Nam Vang (Phnompenh) và
thành La-lêm. Khi những thành ấy xây xong, thì vua Thế Tổ sai Nguyễn Văn Thụy
đem 1.000 quân ở lại bảo hộ nước Chân Lạp. Từ đó quyền bảo hộ Chân Lạp lại về
nước ta.
10. Việc giao thiệp với nước Hồng Mao.
Năm quý hợi (1803), nước Hồng Mao (tức là Anh Cát Lợi) sai sứ
là ông Robert đem đồ phương vật sang dân và xin cho vào mở cửa hàng buôn bán ở
Trà Sơn, thuộc Quảng Nam. Vua Thế Tổ không nhận đồ, và cũng không cho mở cửa
hàng. Sau người Hồng Mao còn đưa thư sang hai ba lần nữa, nhưng ngày vẫn một niềm
từ chối không chịu.
11. Việc giao thiệp với nước Pháp Lan Tây.
Đối với nước Pháp thì vua Thế Tổ có biệt nhỡn hơn, là vì khi
ngài còn gian truân, ngài có nhờ ông Bá Đa Lộc có đem mấy người sang giúp ngày.
Đến khi xong việc đánh dẹp rồi, còn có Chaigneau, Vannier và Despiau làm quan tại
triều, mà vua Thế Tổ cũng có lòng trọng đãi, cho mỗi người 50 lính hầu, và đến
buổi chầu thì không bắt lạy.
Vả trong khi vua Thế Tổ làm vua ở nước Việt Nam, thì Nã Phá
Luân đệ nhất (Napoleon I) làm vua bên nước Pháp, đang còn phải đánh nhau với
các nước, cho nên tàu Pháp cũng không hay đi lại ở phía Viễn Đông này. Đến khi
Nã Phá Luân thất thế, dòng dõi nhà vua cũ lại trung hưng lên, bấy giờ sự chiến
tranh đã yên, thì mới có tàu sang buôn bán ở phương Á đông. Năm đinh sửu
(1817), có chiếc tàu "La Paix" của hiệu Balguerie, Sarget et Cie chở
đồ hàng sang bán, nhưng mà những đồ hàng ấy, người Việt Nam ta không dùng được,
lại phải chở về. Vua Thế Tổ tha không đánh thuế. Qua tháng sáu năm ấy, chiếc
tàu binh tên là Cybèle của nước Pháp vào cử Đà Nẵng. Quan thuyền trưởng là De
Kergarion bá tước nói rằng Pháp Hoàng Louis XVIII sai sang xin thi hành những
điều ước do Bá Đa Lộc ký năm 1787 về việc nhường cửa Đà Nẵng và đảo Côn Lôn.
Vua Thế Tổ sai quan ra trả lời rằng những điều ước ấy nước Pháp trước đã không
thi hành thì nay bỏ, không nói đến nữa.
Năm kỷ mão (1819), có chiếc tàu buôn ba cột tên là
"Rose" và "Le Henri" vào cửa Đà Nẵng. Lần này hàng hóa đem
sang bán được, lại chở chè và lụa về. Năm ấy Chaigneau xin nghỉ ba năm, đem vợ
con xuống tàu "Le Henri" về Pháp.
12. Sự giết hại công thần.
Những người công thần như Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường
đều bị giết hại trong khi vua Thế Tổ còn đang trị vì.
Nguyễn Văn Thành, nguyên là người ở Thừa Thiên, nhưng vào ở
Gia Định đã hai ba đời. Theo vua Thế Tổ từ khi ngài mới khởi binh đánh Tây Sơn,
chịu hết mọi đường khổ sở. Sau ra đánh Tây Sơn ở Quy Nhơn, lập được công lớn, đứng
đầu hàng công thần.
Khi vua Thế Tổ ra lấy bắc hà, triệu ông ra làm tổng trấn,
giao cho xếp đặt mọi việc, chỉ có mấy năm mà đất Bắc Hà được yên trị. Sau về
Kinh làm chức trung quân.
Ông có học thức, cho nên triều đình cử làm tổng tài việc làm
sách luật và quốc sử.
Nguyễn Văn Thành có người con tên là Nguyễn Văn Thuyên thi đậu
cử nhân, thường hay làm thơ để giao du với những kẻ văn sĩ. Bấy giờ nghe người ở
Thanh Hóa là Nguyễn Văn Khuê và Nguyễn Đức Nhuận có tiếng hay chữ, Văn Thuyên
làm bài thơ sai tên Nguyễn Trương Hiệu cầm đi mời vào chơi.
Bài thơ rằng:
Văn đạo Ái châu đa tuấn kiệt
Hư hoài trắc tịch dục cầu ty
Vô tâm cửu bảo Kinh sơn phác
Thiện tường phương tri Ký bắc kỳ
U cốc hữu hương thiên lý viễn
Cao cương minh phượng cửu thiên tri
Thư hồi nhược đắc sơn trung tể
Tá ngã kinh luân chuyển hóa ky
Dịch nôm là:
Ái châu nghe nói lắm người hay
Ao ước cầu hiền đã bấy nay
Ngọc phác Kinh sơn tài sẵn đó
Ngựa kỳ Ký bắc biết lâu thay
Mùi hương hang tối xa nghìn dặm,
Tiếng phượng gò cao suốt chín mây
Sơn tể phen này dù gặp gỡ
Giúp nhau xoay đổi hội cơ này
Tưởng bài thơ này chẳng qua là lời lẽ của người thiếu niên
nói ngông mà thôi, không ngờ tên Hiệu đưa cho Nguyễn Hữu Nghi xem, Hữu Nghi xui
tên Hiệu đi cáo với Lê Văn Duyệt. Lê Văn Duyệt vốn ghét Nguyễn Văn Thành, nay
thấy bài thơ này, nắm lấy đem vào tâu vua, vua sai bắt Nguyễn Văn Thuyên đem bỏ
ngục. Bấy giờ triều thần có nhiều người bẻ tội ông Thành. Một hôm bãi triều rồi,
ông Thành chạy theo nắm lấy áo vua mà kêu khóc rằng: "Thần theo Bệ Hạ từ
thủa nhỏ đến bây giờ, nay không có tội gì mà bị người ta cấu xé, Bệ Hạ nỡ lòng
nào ngồi nhìn để người ta giết thần mà không cứu?". Vua Thế Tổ giật áo ra
đi vào cung, rồi từ đó cấm không co ông Thành vào chầu nữa, và sai Lê Văn Duyệt
đem con Nguyễn Văn Thành ra tra hỏi, bắt phải nhận tội. Nguyễn Văn Thành
sợ tội,
uống thuốc độc mà chết, còn Nguyễn Thuyên thì phải chém.
Đặng Trần Thường người ở Chương Đức (tức là huyện Chương Mỹ,
tỉnh Hà Đông bây giờ) có tài văn học, trốn Tây Sơn vào Gia Định theo giúp vua
Thế Tổ làm đến Binh Bộ Thượng Thư. Sau vì làm gian sắc phong thần cho Hoàng Ngũ
Phúc là tướng nhà Trịnh vào bậc phúc thần, triều đình làm án phải tội chém.
Nhưng rồi lại được tha. Đặng Trần Thường vốn có hiềm với Lê Chất, cho nên Lê Chất
mới bới những việc như là khi ra coi tào binh ở Bắc Thành, có chiếm giữ đầm ao
và ẩn lậu đinh điền, v.v.... Lại bị bắt bỏ ngục và xử phải tội giảo.
Tương truyền rằng Đặng Trần Thường ở trong ngục có làm bài
"Hàn Vương Tôn Phú" bằng quốc âm để ví mình như Hàn Tín đời Hán.
13. Xét công việc của vua Thế Tổ.
Vua Thể tổ là ông vua có tài trí, rất khôn ngoan, trong 25
năm trời, chống nhau với Tây Sơn, trải bao nhiêu lần hoạn nạn, thế mà không bao
giờ ngã lòng, cứ một niềm lo sợ khôi phục. Ngài lại có cái đức tính rất tốt của
những kẻ lập nghiệp lớn, là cái đức tính biết chọn người mà dùng, khiến cho những
kẻ hào kiệt ai cũng nức lòng mà theo giúp. Bởi vậy cho nên không những là ngài
khôi phục được nghiệp cũ, mà lại thống nhất được sơn hà, và sửa sang được mọi
việc, làm cho nước ta lúc bấy giờ thành một nước cường đại, từ xưa đến nay,
chưa bao giờ từng thấy.
Công nghiệp của ngài thì to thật, tài trí của ngài thì cao thật,
nhưng chỉ hiềm có một điều là khi công việc xong rồi, ngài không bảo toàn cho
những công thần, mà lại lấy những chuyện nhỏ nhặt đem giết hại những người có
công với ngài, khiến cho hậu thế ai xem đến những chuyện ấy, cũng nhớ đến vua
Hán Cao, và lại thở dài mà thương tiếc cho những người ham mê hai chữ công danh
về đời áp chế ngày xưa.
Vua Thế Tổ mất năm kỷ mão (1819), trị vì được 18 năm, thọ 59
tuổi, miếu hiệu là Thế Tổ Cao Hoàng Đế.
Ghi chú:
2. Việc triều chính
3. Binh chế
4. Việc tài chánh
5. Công vụ
6. Pháp luật
7. Việc học hành
8. Việc giao thiệp với nước Tàu
9. Việc giao thiệp với nước Chân Lạp và nước Tiêm La
10. Việc giao thiệp với nước Hồng Mao
11. Việc giao thiệp với nước Pháp Lang Tây
12. Sự giết hại công thần
13. Xét công việc của vua Thái Tổ
sợ tội, uống thuốc độc mà chết, còn Nguyễn Thuyên thì phải chém.
Tức là phủ Hoài Đức bây giờ.
|
|
Ông Nguyễn Du người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh
Hà Tĩnh.
|
|
Xem ở chương VI.
|
|
Tức là Thái Lan ngày nay.
|
Chương 2
Thánh Tổ (1820-1840)
Thánh Tổ (1820-1840)
Niên hiệu: Minh Mệnh
1. Đức độ vua Thánh Tổ
2. Việc chính trị trong nước
3. Nội các
4. Cơ mật viện
5. Tôn nhân phủ
6. Quan chế
7. Đặt tổng đốc, tuần phủ ở các tỉnh
8. Lương bổng của các quan
9. Tiền dưỡng liêm
10. Sự học hành thi cử
11. Sách vở
12. Việc sửa sang phong tục
13. Nhà dưỡng tế
14. Việc dinh điền và thuế má
15. Việc võ bị
2. Việc chính trị trong nước
3. Nội các
4. Cơ mật viện
5. Tôn nhân phủ
6. Quan chế
7. Đặt tổng đốc, tuần phủ ở các tỉnh
8. Lương bổng của các quan
9. Tiền dưỡng liêm
10. Sự học hành thi cử
11. Sách vở
12. Việc sửa sang phong tục
13. Nhà dưỡng tế
14. Việc dinh điền và thuế má
15. Việc võ bị
1. Đức Độ Vua Thánh Tổ.
Tháng giêng năm canh thìn (1820), Hoàng Thái Tử húy là Đảm
lên ngôi, đặt niên hiệu là Minh Mệnh.
Vua Thánh Tổ là một ông vua có tư chất minh mẫn, có tính hiếu
học và lại hay làm; phàm có việc gì, ngài cũng xem xét đến, và có châu phê rồi
mới được thi hành.
Ngài tinh thâm Nho học, sùng đạo Khổng Mạnh, cho nên không ưa
đạo mới, cho là một tả đạo lấy trời thánh ra mà làm mê hoặc lòng dân. Bởi vậy,
ngài mới nghiêm cấm và trừng trị những người theo đạo Gia Tô.
Về sau có nhiều nhà làm sử, vì ý riêng mà cho ngài là bạo
quân, thì thiết tưởng điều ấy không hợp với lẽ công bằng.
Phải biết rằng nước ta từ xưa đến nay, điều gì cũng theo Nho
Giáo, lấy tam cương ngũ thường làm căn bản cho sự ăn ở. Vua tôi, cha con, vợ chồng,
ấy là cái khóa luân lý củ xã hội mình. Ai tháo cái khóa ấy ra thì cho là không
phải loài người nữa. Vậy con phải theo cha, tôi phải theo vua, ai trái với cái
đạo ấy ra phải tội nặng, đáng chém giết.
Lúc trong nước mình từ vua quan cho chí dân sự, ai ai cũng lấy
cái lý tưởng ấy làm phải, làm hay hơn cả, mà lại thấy có người bỏ đi theo đạo
khác, nói những chuyện mà lúc bấy giờ lại không mấy người hiểu rõ ra thế nào
thì tất cho là theo tả đạo làm hư hỏng cái phong tục hay của mình. Bởi vậy cho
nên nhà vua mới cấm, không cho người trong nước đi theo đạo mới.
Một ông vua nghiêm khắc như Thánh Tổ mà cấm không được, thì tất
là phải giết. Trong khi cấm và giết như vậy, là vẫn tưởng mình làm bổn phận làm
vua của mình, chớ có biết đâu là mình làm sự thiệt hại cho dân cho nước.
Vả, bao giờ cũng vậy, hễ người ta đã sùng tín một tông giáo
nào, thì tất cho cái tông giáo của mình là hay hơn, và cho người theo tông giáo
khác là thù nghịch với mình, rồi hễ có quyền thế là làm thế nào cũng dùng cách ấy
mà hà hiếp người khác đạo với mình. Cũng vì lẽ ấy, cho nên ngày trước Vua
Phillippe II nước I Pha Nho, vua Louis XIV nước Pháp Lan Tây giết hại bao nhiêu
người trong nước. Mà chắc rằng lúc bấy giờ các ông ấy cũng tưởng là mình làm điều
phải, chớ có biết đâu là mình làm điều trái lẽ.
Vẫn biết rằng sự giết đạo là sự không lành, nhưng phải hiểu
cái trí não người Việt Nam ta lúc bấy giờ, không rõ cái tông chỉ đạo Thiên Chúa
ra thế nào, cho nên dẫu không phải là vua Thánh Tổ nữa, thì ông vua khác cũng
không chắc đã tránh khỏi cái lỗi giết đạo ấy.
Nhà làm sử lại đổ cho vua Thánh Tổ giết Nguyễn Văn Thành,
song xét trong các truyện như sách Thực Lục Chính Biên và sách Đại Nam Chính
Biên Liệt Truyện thì chỉ thấy chép rằng Nguyễn Văn Thành bị tội phải uống thuốc
độc mà tự tử năm Gia Long thứ 15 mà thôi. Còn như vụ án Lê Văn Duyệt và Lê Chất
thì có hẹp hòi thật, nhưng khi các ông ấy đã mất rồi, và lại vì có tên Khôi khởi
loạn cho nên mới truy tội hai ông ấy mà làm án, chứ lúc hai ông ấy còn sống,
thì vua Thánh Tổ, tuy có bụng nghi ngờ, nhưng vẫn không bạc đãi.
Việc ngài giết chị dâu là bà vợ Hoàng Tử Cảnh và các cháu,
thì không thấy sách nào chép cả, chỉ thấy một đôi người truyền ngôn như thế mà
thôi. Vậy việc ấy thực hư thế nào không rõ.
Còn việc không biết giao thiệp với các nước ngoại dương, thì
không phải là cái lỗi riêng một mình ngài. Lúc bấy giờ người mình ai cũng chỉ
biết có nước Tàu là văn minh hơn, còn thì cho là man di cả. Phỏng sử có ai là
người biết mà nói ở thiên hạ còn có nhiều nước văn minh hơn nữa cũng không ai
tin. Bởi thế, hễ thấy người ngoại quốc vào nước mình, thì không những là sợ có
sự phản trắc và sợ đem đạo mới vào nước mà thôi, lại còn sợ lây phải cái phong
tục dã man nữa, cho nên không muốn giao thông với ngoại quốc làm gì. Như thế
thì có nên riêng trách một mình ai không?
Cái nghĩa vụ làm sử, tưởng nên kê cứu cho tường tận, rồi cứ sự
thực mà nói, chứ không nên lấy lòng yêu ghét của mình mà xét đoán. Dẫu người
mình ghét mà có làm điều phải, mình cũng phải khen; người mình yêu mà có làm điều
trái, mình cũng phải chê. Vua Thánh Tổ là một ông vua chuyên chế, tất thế nào
cũng có nhiều điều sai lầm và có nhiều điều tàn ác, nhưng xét cho kỹ, thì thật
ngài cũng có lòng vì nước lắm. Trong, lo sửa sang mọi việc, làm thành ra nền nếp
chỉnh tề, ngoài, đánh Tiêm dẹp Lào, làm cho nước không đến nỗi kém hèn.
Vậy cứ bình tình mà xét, thì dẫu ngài không được là ông anh
quân nữa, thì cũng không phải là ông vua tầm thường; cứ xem công việc của ngài
làm thì hiểu rõ.
2. Việc Chính Trị Trong Nước.
Vua Thánh Tổ đã 30 tuổi mới lên ngôi vua, cho nên việc triều
chính ngài đã am hiểu lắm. Việc gì ngài cũng muốn biết. Có khi xong buổi chầu rồi,
ngài đòi một vài quan đại thần lên bàn mọi việc kinh lý và hỏi những sự tích đời
xưa, những nhân vật và phong tục ở các nước xa lạ. Ngài chăm xem xét mọi việc,
có khi đêm thắp đèn xem chương, sớ, đến trống hai, trống ba mới thôi. Thường
thường ngài nói với các quan rằng: Lòng người ai cũng muốn ở yên, mà không muốn
sinh sự ra để thay đổi luôn, nhưng lúc trẻ mạnh mà không sửa sang mọi việc, thì
rồi đến lúc già yếu, mỏi mệt còn làm gì được. Bởi vậy cho nên trẫm không dám lười
biếng lúc nào 1.
Ở trong triều, thì ngài đặt thêm ra các tự và các viện. Bấy
giờ có Nội Các và Cơ Mật Viện là quan trọng hơn cả.
3. Nội Các.
Đời vua Thế Tổ đã đặt Thị Thư Viện làm chốn cơ yếu trong điện,
để có điều gì thì vua hỏi han và làm các việc như biểu, sách, chế, cáo, chương,
tấu, sắc, mệnh, v.v.... Đại khái cũng tự hồ phòng bí thư của vua vậy.
Năm canh thìn (1820) là năm Minh Mệnh nguyên niên, vua Thánh
Tổ cải làm Văn Thư Phòng; đến năm Minh Mệnh thứ mười (1829), đổi làm Nội Các, lấy
quan tam tứ phẩm ở các bộ, viện, vào quản lĩnh mọi việc.
Năm giáp ngọ (1834) là năm Minh Mệnh thứ 15, nhân vì việc
quân quốc cơ yếu là việc rất quan trọng, vua Thánh Tổ mới theo như Khu Mật Viện
nhà Tống và Quân Cơ xứ nhà Thanh mà châm chước đặt ra Cơ Mật Viện, cho có trách
nhiệm riêng. Các quan đại thần sung chức trong viện ấy thì dùng 4 viên, văn võ
từ tam phẩm trở lên, phụng chỉ kén dùng. Thuộc viên thì có viên ngoại lang, chủ
sự, tư vụ, biên tu, đều kén ở trong các bộ viện ra sung bổ. Các quan đại thần ở
Cơ Mật Viện có đặc chỉ cho đem kim bài để phân biệt với các quan khác. Kim bài
khởi đầu có từ đấy.
5. Tôn Nhân Phủ.
Năm bính thân (1836) là năm Minh Mệnh thứ 17, vua Thánh Tổ đặt
ra Tôn Nhân Phủ và đặt quan chức để coi mọi việc ở trong họ nhà vua.
Nhà vua thờ tiên tổ có 7 miếu: những miếu phía tả gọi là chiêu,
những miếu phía hữu gọi là mục. Con cháu các dòng chiêu hay là mục phải phân biệt
chi nào ra chi ấy.
Đặt tôn nhân lệnh một người, tả hữu tôn chính hai người, tả hữu
tôn nhân hai người, để coi việc hoàng tộc và việc phân biệt tự hàng chiêu hàng
mục, ghi chép hàng lượt người thân người sơ, việc nuôi nấng và cấp tước lộc cho
mọi người trong hoàng tộc; lại đặt ra hữu tôn khanh hai người, tả hữu tá lý hai
người, để coi thứ trật mọi người tôn thất và việc cấp dưỡng cho kẻ cô ấu, giúp
đỡ những việc tang hôn v.v....
6. Quan Chế.
Vua Thánh Tổ lại đặt các phẩm cấp quan chế, từ nhất phẩm đến
cửu phẩm, mỗi phẩm chia ra làm chánh và tòng hai bậc.
Văn Võ Chánh Nhất Phẩm Cần chính điện đại học sĩ, Văn Minh điện
đại học sĩ, Võ hiển điện đại học sĩ, Đông các đại học sĩ. Ngũ quân Đô Thống phủ
đô thống chưởng phủ sự. Tòng Nhất Phẩm Hiệp biện đại học sĩ. Ngũ quân Đô Thống
phủ đô thống. Chánh Nhị Phẩm Thượng thư, tổng đốc, tả hữu đô ngự sử. Thống chế,
đề đốc. Tòng Nhị Phẩm Tham tri, tuần phủ, tả hữu phó đô ngự sử. Chưởng vệ,
khinh xa đô úy, đô chỉ huy sứ, phó đề đốc. Chánh Tam Phẩm Chưởng viện học sĩ, thị
lang, đại lý tự khanh, thái thường tự khanh, bố chính sứ, trực học sứ, thông
chính sứ, thiêm sự, phủ doãn. Nhất đẳng thị vệ, chỉ huy sứ, thân cấm binh vệ
úy, lãnh binh. Tòng Tam Phẩm Quang Lộc tự khanh, thái bộc tự khanh, thông chính
phó sứ. Binh mã sứ, tinh binh vệ úy, thâm cấm binh phó vệ úy, phó lãnh binh,
kiêu kỵ đô úy, phò mã đô úy. Chánh Tứ Phẩm Hồng lô tự khanh, đại lý tự thiếu
khanh, thái thường tự thiếu khanh, tế tửu, lang trung, thị độc học sĩ, thiếu
thiêm sự, thái y viện sứ, tào chính sử, phủ thừa, án sát sứ. Quản cơ, nhị đẳng
thị vệ, binh mã phó sứ, tinh binh phó vệ úy, thành thủ úy. Tòng Tứ Phẩm Quang Lộc
tự thiếu khanh, thái bộc tự thiếu khanh chưởng ấn, cấp sự trung, thị giảng học
sĩ, kinh kỳ đạo ngự sử, tư nghiệp, từ tế sứ, quản đạo. Phó quản cơ, tuyên úy sứ,
kị đô úy. Chánh Ngũ Phẩm Hồng lô tự thiếu khanh, giám sát ngự sử, hàn lâm viện
thị độc, viên ngoại lang, trưởng sử, từ tế phó sứ,ngự y, giám chánh, tào chánh
phó sứ,đốc học,phó quản đạo. Tam đẳng thị vệ, thân cấm binh chánh đội trưởng,
phòng thủ úy. Tòng Ngũ Phẩm Hàn lâm viện thị giảng, hàn lâm viện thừa chỉ, miếu
lang, giám phó, phó trưởng sử, phó ngự y, tri phủ. Tinh binh chánh đội, tứ đẳng
thị vệ, thân cấm binh chánh đội trưởng suất đội, tuyên phó sứ, phi kị úy. Chánh
Lục Phẩm Hàn lâm việc trước tác, chủ sự, đồng tri phủ, kinh huyện, tri huyện, y
tả viện phán, ngũ quan chánh. Ngũ đẳng, thị vệ, cẩm y hiệu úy, tinh binh chánh
đội trưởng suất đội, thổ binh chánh đội, trợ quốc lang. Tòng Lục Phẩm Hàn Lâm
Viện tu soạn, tri huyện, tri châu, miếu thừa, Thân cấm binh chánh đội trưởng,
ân kị úy, thổ binh học chánh, thông phán, thổ tri phủ, y hữu viện phán. chánh đội
trưởng suất đội. Chánh Thất Phẩm Hàn lâm viện biên tu, tư vụ, lục sự, giám thừa,
giám linh đài lang, giáo thụ, kinh lịch. Thân cấm binh chánh đội trưởng, ân kị
úy, thổ binh chánh đội trưởng suất đội. Tòng Thất Phẩm Hàn lâm viện kiểm thảo,
y chánh, tinh linh đài lang, thổ tri huyện, tri châu. Tinh binh đội trưởng, phụng
ân úy, dịch thừa, tòng thất phẩm thiên hộ, nội tạo phó tư tượng. Chánh Bát Phẩm
Hàn lâm viện điển tịch, huấn đạo, chánh bát phẩm thơ lại. Chánh bát phẩm đội
trưởng, chánh bát phẩm bá hộ, dịch mục, chánh bát phẩm chánh tư tượng. Tòng Bát
Phẩm Hàn lâm viện điển bạ, y phó, tòng bát phẩm thơ lại. Tòng bát phẩm đội trưởng,
tòng bát phẩm bá hộ, thừa ân úy, tòng bát phẩm phó tư tượng. Chánh Cửu Phẩm Hàn
lâm viện cung phụng, chánh cửu phẩm thơ lại, thái y y chánh, tự thừa, phủ lại mục.
Chánh cửu phẩm đội trưởng, phủ lệ mục, chánh cửu phẩm bá hộ, chánh cửu phẩm tượng
mục. Tòng Cửu Phẩm Hàn lâm viện đãi chiếu, tòng cửu phẩm thơ lại, tỉnh y sinh,
huyện lại mục, chánh tổng. Tòng cửu phẩm đội trưởng, tòng cửu phẩm bá hộ, huyện
lệ mục, tòng cửu phẩm tượng mục.
7. Đặt Tổng Đốc, Tuần Phủ ở các tỉnh.
Nguyên trước nước Nam ta chia ra làm từng trấn, có quan Trấn
Thủ, hay là quan Lưu Trấn để coi việc trong trấn. Từ đời Gia Long trở đi, ở Bắc
Thành và Gia Định Thành đặt quan Tổng Trấn và quan Hiệp Trấn, để coi việc quân
và việc dân trong cả toàn xứ.
Đến năm tân mão (1831) là năm Minh Mệnh thứ 12, vua Thánh Tổ
mới theo lối nhà Thanh, đổi trấn làm tỉnh và đặt chức tổng đốc, tuần phủ, bố
chính sứ, án sát sứ và lĩnh binh.
Tổng đốc thì coi việc quân, việc dân, khảo hạch quan lại, sửa
sang bờ cõi ở trong hạt; tuần phủ thì coi việc chính trị, giáo dục và giữ gìn
phong tục; bố chính sứ thì coi việc thuế má, đinh điền, lính tráng và triều
đình có ân trạch hay là cấm lệnh điều gì, thì phải tuyên cho mọi nơi biết; án
sát sứ thì coi việc hình luật và kiêm cả việc trạm dịch bưu chính; lĩnh binh
thì chuyên coi binh lính.
Từ tuần phủ trở xuống đều phải theo lệnh quan tổng đốc. Thường
thì tỉnh nào lớn, có lắm việc quan trọng mới đặt tổng đốc để quản trị cả hai ba
tỉnh. Còn những tỉnh nhỏ thì chỉ đặt tuần phủ là quan đầu tỉnh 2.
8. Lương bổng của các quan viên.
Năm kỷ hợi (1839) là năm Minh Mệnh thứ 20, vua Thánh Tổ định
lương bổng đồng niên và tiền xuân phục của các quan viên.
Chánh nhất phẩm:tiền 400 quan, gạo 300 phương, tiền xuân phục
70 quan. Tòng nhất phẩm: tiền 300 quan, gạo 250 phương, tiền xuân phục 60 quan.
Chánh nhị phẩm:tiền 250 quan, gạo 200 phương, tiền xuân phục 50 quan. Tòng nhị phẩm:
tiền quan, gạo 150 phương, tiền xuân phục 30 quan. Chánh tam phẩm:tiền 150
quan, gạo 120 phương, tiền xuân phục 20 quan. Tòng tam phẩm: tiền 120 quan, gạo
90 phương, tiền xuân phục 16 quan. Chánh tứ phẩm:tiền 80 quan, gạo 60 phương,
tiền xuân phục 14 quan. Tòng tứ phẩm: tiền 60 quan, gạo 50 phương, tiền xuân phục
10 quan. Chánh ngũ phẩm:tiền 40 quan, gạo 43 phương, tiền xuân phục 9 quan.
Tòng ngũ phẩm: tiền 35 quan, gạo 30 phương, tiền xuân phục 8 quan. Chánh lục phẩm:tiền
30 quan, gạo 25 phương, tiền xuân phục 7 quan. Tòng lục phẩm: tiền 300 quan, gạo
22 phương, tiền xuân phục 6 quan. Chánh thất phẩm:tiền 25 quan, gạo 20 phương,
tiền xuân phục 5 quan. Tòng thất phẩm: tiền 22 quan, gạo 20 phương, tiền xuân
phục 5 quan. Chánh bát phẩm: tiền 20 quan, gạo 18 phương, tiền xuân phục 5 quan.
Tòng bát phẩm: tiền 20 quan, gạo 18 phương, tiền xuân phục 4 quan. Chánh cửu phẩm: tiền
18 quan, gạo 16 phương, tiền xuân phục 4 quan. Tòng cửu phẩm: tiền 18 quan, gạo
16 phương, tiền xuân phục 4 quan.
Lại dịch binh tượng: mỗi tháng tiền một quan, gạo một phương.
Hậu bổ: mỗi tháng tiền 2 quan, gạo 2 phương.
Từ nhất phẩm đến tam phẩm, mỗi năm hai kỳ trình giấy lĩnh bỗng;
tự tứ phẩm đến thất phẩm, mỗi năm 4 lần, đến tháng cuối mùa xuân, hạ, thu,
đông, trình giấy lĩnh bỗng; tự bát cửu phẩm trở xuống, thì cứ mỗi tháng đến
lĩnh một kỳ.
Tiền lương bổng của các quan viên lúc bấy giờ mà so sánh với
bây giờ, thì thật là ít ỏi quá. Nhưng mà chắc là sự ăn tiêu thủa trước rẻ rúng
không hết bao nhiêu. Nhà vua lại sợ những phủ huyện thiếu thốn mà nhũng lạm của
dân, cho nên mỗi năm lại phát thêm tiền dưỡng liêm.
9. Tiền Dưỡng Liêm.
Tri phủ: tối yếu khuyết cho 50 quan, yếu khuyết 40 quan, khuyết
30 quan, giản khuyết 25 quan.
Đồng tri phủ: tối yếu khuyết cho 50 quan, yếu khuyết 40 quan,
khuyết 30 quan, giản khuyết 25 quan.
Tri huyện, tri châu: tối yếu khuyết cho 40 quan, yếu khuyết
30 quan, trung khuyết 25 quan, giản khuyết 20 quan.
10. Sự Học Hành Thi Cử.
Việc trị nước cần phải có văn học, cho nên từ đời vua Thế Tổ
cũng đã lưu ý về việc mở mang sự học hành. Đến đời vua Thánh Tổ thì ngài lại trọng
sự văn học lắm, ngài thường nói với các quan rằng: Đạo trị nước thì trước hết cần
phải gây lấy nhân tài. Bởi vậy ngài có lòng yêu dùng những người có văn học,
cho các hương cống vào làm hành tẩu ở trong lục bộ, để học tập việc chính trị.
Mở Quốc Tử Giám cho các giám sinh được lương bổng ở ăn học.
Đời vua Thế Tổ thì chỉ có thi Hương mà thôi, đến năm nhâm ngọ
(1822) là năm Minh Mệnh thứ 3, mới mở khoa thi Hội, thi Đình để lấy tiến sĩ, đến
năm Minh Mệnh thứ 10 (1829) nhà vua lại cho những người trúng cách, nhưng không
cập phân, được đỗ phó bảng. Phó bảng khởi đầu có từ đấy.
Nguyên trước cứ 6 năm một khoa thi, nay đổi lại làm 3 năm một
khoa, cứ năm tí, ngọ, mão, dậu, thi Hương; năm thìn, tuất, sửu, mùi, thi Hội,
thi Đình.
Phép thi thì vẫn theo như đời Gia Long, nghĩa là kỳ đệ nhất:
kinh nghĩa; kỳ đệ nhị: tứ lục; kỳ đệ tam: thi phú; kỳ đệ tứ: văn sách. Trước ai
đỗ tam trường, gọi là sinh đồi, ai đỗ tứ trường gọi là hương cống, nay đổi sinh
đồ là tú tài, hương cống là cử nhân.
Vua Thánh Tổ là ông vua thông minh, ngài vẫn biết sự học của
nước ta sai lầm, những sĩ phu trong nước chỉ học theo lối cử nghiệp, nghĩa là cốt
học lấy thi đỗ, chứ không mấy người có thực học. Thường ngài nói chuyện với các
quan rằng: "Lâu nay khoa cử làm cho người ta sai lầm. Trẫm nghĩ văn chương
vốn không có qui củ nhất định, mà nay những văn cử nghiệp chỉ câu nệ cái hủ
sáo, khoe khoang lẫn với nhau, biệt lập mỗi nhà một lối, nhân phẩm cao hay thấp
do tự đó, khoa tráng lấy hay bỏ cũng do tự đó. Học như thế thì trách nào mà
nhân tài chẳng mỗi ngày một kém đi. Song tập tục đã quen rồi, khó đổi ngay được,
về sau nên dần dần đổi lại". Vua Thánh Tổ thật là biết rõ cái tật của những
người đi học ở trong nước ta, nhưng chỉ vì thói quen lâu ngày khó bỏ. Vả lại dẫu
có muốn đổi, thì dễ thường cũng không biết đổi ra thế nào cho hay hơn được, cho
nên sự học của mình vẫn nguyên như cũ.
11. Sách Vở.
Vua Thánh Tổ mới lên ngôi, đã lo việc làm sách vỡ; ngài đặt
Quốc Sử Quán để góp nhặt những chuyện làm quốc sử. Ngài lại lưu ý về việc tưởng
lệ cho những người làm ra sách vở. Bởi vậy, ngài xuống chiếu: hễ ai tìm được
sách cũ, hay làm ra sách mới, thì được ban thưởng. Tự đó ông Trịnh Hoài Đức
dâng sách: Gia Định Thành Thông Chí và sách Minh Bột Di Hoán Văn Thảo; ông
Hoàng Công Tài dâng một bản Bản Triều Ngọc Phả, 2 bản Kỷ Sự; ông Cung Văn Hi,
người ở Quảng Đức dâng 7 quyển Khai Quốc Công Nghiệp Diễn Chí; ông Nguyễn Đình
Chính người Thanh Hóa dâng 34 quyển Minh Lương Khải Cáo Lục; ông Vũ Văn Tiêu,
người Quảng Nghĩa, dâng một quyển Cố Sự Biên Lục.
Vua Thánh Tổ lại sai quan soạn xong bộ Liệt Thánh Thực Lục Tiền
Biên, bộ Khâm Định Tiễu Binh Lưỡng Kỳ Phỉ Khấu Phương Lược, còn sách của ngài
soạn ra có hai bộ là Ngự Chế Tiễu Bình Nam Kỳ Tặc Khấu Thi Tập và Ngự Chế Thi Tập.
12. Việc Sửa Sang Phong Tục.
Mấy năm về cuối đời vua Thánh Tổ trong nước lắm giặc giã,
phong tục thành ra kiêu bạc, dân sự lắm người cờ bạc rượu chè và hay mê hoặc những
tà giáo. Nhà vua lấy sự ấy làm lo, bèn soạn ra 10 điều huấn dụ, ban ra mọi nơi,
để dạy bảo ngu dân. 1. Đô Nhân Luân: trọng tam cương ngũ thường. 2. Chính Tâm
Thuật: làm việc gì cũng cốt phải giữ bụng dạ cho chính đính trong sạch. 3. Vụ Bản
Nghiệp: giữ bổn phận chăm nghề nghiệp của mình. 4. Thượng Tiết Kiệm: chuộng đường
tiết kiệm. 5. Hậu Phong Tục: giữ phong tục cho thuần hậu. 6. Huấn Tử Đệ: phải dạy
bảo con em. 7. Sùng Chính Học: chuộng học đạo chính. 8. Giới Dâm Thắc: răn giữ
những điều gian tà dâm dục. 9. Thận Pháp Thủ: cẩn thận mà giữ pháp luật. 10. Quảng
Thiện Hạnh: rộng sự làm lành.
Năm bính thân (1836) là năm Minh Mệnh thứ 17, có quan giám
sát ngự sử là Bùi Mậu Tiên dâng sớ tâu rằng: "Các làng ở ngoài Bắc Thành
nhiều kẻ hào cường trái phép, mà dân thì biếng nhác chỉ cờ bạc rượu chè; việc tế
lễ quỷ thần thì hay dùng cách xa xỉ, việc táng tế thì chuộng đường xa hoa, thậm
chí có kẻ bán sạch cửa nhà cơ nghiệp để đền nợ miệng, thực là trái với nghĩa
tương bảo tương lân".
Vua Thánh Tổ bèn xuống chiếu trách cứ các quan địa phương phải
đem những điều huấn dụ đã ban ra trước mà khuyên bảo dân sự, và phải chuyển sức
cho tổng lý: hễ thấy ai biếng nhác rong chơi cờ bạc rượu chè, thì phải cấm chỉ
đi. Những kẻ hào cường trong làng mà ỷ thế hống hách điêu toa kiện tụng, chống
cưỡng với quan trên, dậm dọa kẻ bình dân, thì phải theo phép mà trừng trị. Còn
những lệ thờ thần và lễ tang tế thì Lễ Bộ đã định ra phép tắc, hễ ai không tuân
theo thì phải tội.
13. Nhà Dưỡng Tế.
Không những là vua Thánh Tổ chỉ lo việc dạy dân mà thôi, ngài
lại thương đến những kẻ nghèo khổ, vậy nên ngài truyền cho các quan ở các trấn
ngoài Bắc Thành được quyền lấy tiền kho mà lập một sở dưỡng tế: hễ những kẻ
quan quả, cô độc, và kẻ tàn tật không có nơi nương nhờ, phải đến ở đó, thì mỗi
ngày cấp cho mỗi tên 20 đồng tiền và nửa bát quan đồng gạo.
14. Việc Đinh Điền và Thuế Má.
Thuế đinh và thuế điền thì đại khái cũng theo như đời vua Thế
Tổ đã định. Chỉ có năm bính thân (1836) là năm Minh Mệnh thứ 17, đất Nam kỳ đạc
điền xong, tính ra được hơn 630.075 mẫu và định lại các thứ thuế điền thổ ở miền
ấy. Còn như số dân đinh và điền thổ trong nước, thì cứ theo sổ bộ tổng cộng lại
được 970.516 suất đinh và 4.063.892 mẫu ruộng và đất.
Những dân Tàu sang thành lập hương ấp ở nước Nam ta gọi là
Minh Hương, thì có lệnh mỗi người đồng niên phải nộp hai lạng bạc và được trừ
giao dịch. Những người lão hạng và tàn tật thì phải chịu một nửa.
Còn những người nhà Thanh sang buôn bán ở nước Nam, phàm người
nào mà có vật lực thì đồng niên phải đóng 6 quan năm tiền; ai không có vật lực
thì phải nộp một nửa, hạn cho 3 năm, thì chiếu lệ thu cả thuế.
Nhà vua lại đặt lệ đánh thuế muối. Cứ mỗi ruộng muối đồng
niên phải nộp bằng muối từ 6 phương cho đến 10 phương.
Mỗi phương nộp bằng tiền thì phải từ 3 tiền cho đến 4 tiền 30
đồng.
Còn các thứ thuế mỏ, thuế sản vật, v.v... thì đại khái cũng
theo lệ đời vua Thế Tổ đã định, chứ không thay đổi mấy đi.
15. Việc Võ Bị.
Khi vua Thánh Tổ lên nối nghiệp làm vua, thì trong nước đã được
yên trị, nhưng ngài vẫn biết việc trị nước cần phải có võ bị, cho nên thường
thường ngài vẫn có dụ truyền bảo các quan phải luyện tập binh mã để phòng khi hữu
sự.
Ở những nơi hiểm yếu thì lập đồn ải, ở các cửa bể và các đảo
thì lập pháo đài. Và lại làm tàu đồng, tập thủy quân để phòng giữ mặt bể.
Binh chế thì có bộ binh, thủy binh, tượng binh, kị binh và
pháo thủ binh.
Bộ binh thì có kinh binh và cơ binh. Kinh binh chia ra làm
doanh, vệ, đội, hoặc để đóng giữ ở Kinh thành, hoặc sai đi đóng giữ các tỉnh. Mỗi
doanh có 5 vệ, mỗi vệ có 10 đội, mỗi đội có 50 người, có suất đội và đội trưởng
cai quản.
Những binh khí của mỗi vệ, thì có hai khẩu súng thần công,
200 khẩu điểu thương và 21 ngọn cờ.
Cơ binh là lính riêng của từng tỉnh, cũng chia ra làm cơ, làm
đội. Cơ thì có quản cơ, mà đội thì có suất đội cai quản.
Tượng quân chia ra thành đội, mỗi đội là 40 con voi. Số voi ở
Kinh thành 150 con, ở Bắc thành 110 con, ở Gia Định thành 75 con, ở Quảng Nam
35 con, ở Bình Định 30 con, ở Nghệ An 21 con, ở Quảng Bình, Quảng Nghĩa, Thanh
Hóa mỗi nơi 15 con, Quảng Trị, Phú Yên, Bình Thuận, Ninh Bình mỗi nơi 7 con.
Thủy quân có 15 vệ, chia ra làm 3 doanh, mỗi doanh có quan
chưởng vệ quản lĩnh, và có quan đô thống coi cả 3 doanh.
Vua Thánh Tổ vẫn biết rằng nước ở dọc bờ bể, thủy binh là việc
rất yếu trọng cho sự phòng bị. Thường ngài bắt quan đem binh thuyền ra để luyện
tập.
Đại khái việc binh cơ, ngài không bỏ trễ chút nào. Ngài lập
toán giáo dưỡng binh, để cho con các quan võ, từ suất đội trở lên ai muốn tình
nguyện vào học, thì cho lương bổng, và cử quan đại thần ra dạy võ nghệ.
Còn như khi nào có quân lính đi đâu, thì nhà vua đặt lệ sai mấy
người y sinh đi theo để điều hộ.
Tuy nhà vua muốn lưu ý về việc binh lính, nhưng người mình
lúc bấy giờ ai cũng trọng văn khinh võ, bình nhật không có ai lo gì đến việc
quân lính khí giới. Hễ có lâm sự thì mới rối lên. Dẫu rằng nhà vua nay có chỉ dụ
ra tập binh, mai có chỉ dụ ra tập trận mặc lòng, các quan chỉ làm cho xong việc,
rồi lại bỏ mặc bọn quản đội làm thế nào thì làm. Thành ra quân số ở trong sổ
sách thì nhiều, mà thế lực thì vẫn không đủ: ấy là đời vua Thánh Tổ mà còn thế,
huống chi đến những đời sau, lại còn suy nhược hơn nữa.
Ghi chú:
1.
|
Minh Mệnh Chính Yếu, quyển Cần Chính.
|
2.
|
Đời vua Thế Tổ nước Nam ta có 27 trấn, đến đời vua Thánh Tổ
đặt thêm 4 tỉnh nữa là Hưng Yên, Ninh Bình, Hà tĩnh và An Giang, cả thảy
thành ra 31 tỉnh.
|
Chương 3
Thánh Tổ (1820-1840)
Thánh Tổ (1820-1840)
(tiếp theo)
1. Sự giặc giã
2. Giặc ở Bắc kỳ
3. Phan Bá Vành
4. Lê Duy Lương
5. Nông Văn Vân
6. Giặc ở Nam Kỳ
7. Án Lê Văn Duyệt và Lê Chất
8. Giặc Tiêm La
9. Việc Ai Lao
10. Việc Chân Lạp
11. Việc giao thiệp với những nước ngoại dương
12. Sự cấm đạo
13. Vua Thánh Tổ mất
2. Giặc ở Bắc kỳ
3. Phan Bá Vành
4. Lê Duy Lương
5. Nông Văn Vân
6. Giặc ở Nam Kỳ
7. Án Lê Văn Duyệt và Lê Chất
8. Giặc Tiêm La
9. Việc Ai Lao
10. Việc Chân Lạp
11. Việc giao thiệp với những nước ngoại dương
12. Sự cấm đạo
13. Vua Thánh Tổ mất
Vua Thánh Tổ thật là hết lòng lo việc chính trị, điều gì ngài
cũng xem xét đến, việc gì ngài cũng sửa sang lại, có ý muốn cho nước thịnh dân
giàu, nhưng phải mấy năm về sau, trong nước có lắm giặc giã, quan quân phải
chinh nam phạt bắc, phải đánh Tiêm, dẹp Lào, thành ra dân sự không được yên
nghiệp mà làm
Xét sự giặc giã về đời vua Thánh Tổ là do ở ba lẽ cốt yếu:
Một là khi nhà Nguyễn thất thế ở Nam, quân họ Trịnh thua ở Bắc,
nhà Nguyễn Tây Sơn còn phải lo việc trong nước, lúc bấy giờ nước Tiêm La nhân lấy
dịp ấy mà giữ quyền bảo hộ nước Chân Lạp và hiếp thế các nước ở đất Lào. Đến
khi vua Thế Tổ nhất thống nam bắc, thanh thế lừng lẫy, nước Chân Lạp lại xin về
thần phục nước Nam, và các nước Ai Lao, Vạn Tượng, đều sang triều cống nhà Nguyễn.
Từ đó nước Tiêm La đối với nước Nam, bề ngoài tuy không ra mặt cừu địch, nhưng
bề trong chỉ tìm cách mà sinh sự để cướp lại cái quyền bảo hộ ở Chân Lạp và ở
các nước Lào. Bởi vậy cho nên về phía tây và phía nam bao giờ cũng có giặc Tiêm
và giặc Lào quấy nhiễu mãi.
Hai là ở Bắc Kỳ tuy đã là thống thuộc về nhà Nguyễn rồi,
nhưng còn có người mong nhớ nhà Lê, thỉnh thoảng lại có nơi nổi lên, hoặc muốn
khôi phục cho nhà Lê, hoặc để chống cự với quan nhà Nguyễn, bởi thế cho nên ở đất
Bắc cứ phải loạn lạc luôn.
Ba là quan lại cứ hay nhũng nhiễu, làm cho lòng người không
được thỏa thuận, và trong đám quan trường thường hay có thói bới móc nhau để
tâng công tâng cán. Nhà vua lại có tính hẹp hòi, không bao dong cho những kẻ
công thần, hay tìm chuyện làm uất ức mọi người, mà ở với thần dân thì nghiêm khắc
quá, cho nên mới thành ra nhiều sự rối loạn.
Bởi những lẽ ấy, cho nên ở ngoài thì có giặc Tiêm đánh phá, ở
trong thì có ngụy Khôi dấy loạn ở phía nam. Lê Duy Lương và Nông văn Vân dấy
binh ở phía bắc. Lúc bấy giờ cũng nhờ có tôi hiền tướng giỏi như Trương Minh Giảng,
Tạ Quang Cự, Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ v.v.... đều ra công đánh dẹp, cho nên
không những là giặc trong nước dẹp yên, mà lại thêm được bờ cõi rộng rãi hơn cả
những đời trước.
2. Giặc ở Bắc Kỳ.
Sự giặc giã ở đất Bắc thì từ năm Minh Mệnh thứ hai (1822) trở
đi, thỉnh thoảng ở các trấn vẫn có những giặc cỏ quấy nhiễu ở các châu huyện.
Còn những giặc có thanh thế to mà quan quân phải đánh dẹp khó nhọc, thì có Phan
Bá Vành khởi ở Nam Định, Lê Duy Lương khởi ở Ninh Bình và Nông Văn Vân khởi ở
Tuyên Quang.
3. Phan Bá Vành.
Năm Minh Mệnh thứ 7 (1826), ở Nam Định có Võ Đức Cát cùng với
Phan Bá Vành và Nguyễn Hạnh khởi binh đánh phủ Trà Lý và Lân Hải, giết quan thủ
ngự là Đặng Đình Miễn và Nguyễn Trung Diễn. Quan trấn thủ ở Nam Định là Lê Mậu
Cúc đem quân xuống đánh, cũng bị giặc giết mất. Quan quân ở các trấn phải về tiễu
trừ, bắt được tên Võ Đức Cát. Còn tên Vành và dư đảng thì chạy tan cả. Nhưng đến
tháng chạp năm ấy, Phan Bá Vành và Nguyễn Hạnh lại thông với đảng giặc Khánh đi
cướp ở ngoài bể, rồi lại đem quân về đánh phá ở huyện Tiên Minh và huyện Nghi
Dương ở Hải Dương.
Nhà vua thấy thế giặc to lắm, bèn sai quan Tham biện Thanh
Hóa là Nguyễn Công Trứ, quan Tham biện Nghệ An là Nguyễn Đức Nhuận đem binh
thuyền ở Thanh, Nghệ ra cùng với quan Hiệp trấn Bắc thành là Nguyễn Hữu Thận đi
đánh giặc.
Tháng giêng năm đinh hợi (1827) là năm Minh Mệnh thứ 8, Vành
lại về đánh lấy phủ Thiên Trường và phủ Kiến Xương, sau lại về vây quan quân ở
chợ Quán. Phạm Văn Lý và Nguyễn Công Trứ đem quân đến đánh giải vây, Vành thua
chạy về giữ Trà Lũ. Quan quân vây đánh, bắt được Vành và cả đảng hơn 765 người.
4. Lê Duy Lương.
Khi dẹp xong giặc Vành thì trong xứ yên được một độ, nhưng
còn có dòng dõi nhà Lê muốn khôi phục nghiệp cũ, bởi vậy đến tháng ba năm quý tị
(1833) là năm Minh Mệnh thứ 14, ở Ninh Bình có Lê Duy Lương, là con cháu nhà Lê
nổi lên, xưng là Đại Lê Hoàng Tôn, cùng với bọn thổ ti là Quách Tất Công, Quách
tất Tế, Đinh Thế Đức, Đinh Công Trịnh, đem binh đi đánh phá các phủ huyện và
chiếm giữ được 3 châu huyện là Lạc Thổ, Phụng Hóa và Yên Hóa. Lê Duy Lương lại
sai quân đến vây đánh thành Hưng Hóa nguy cấp lắm.
Vua Thánh Tổ sai quan tổng đốc Nghệ Tĩnh là Tạ Quang Cự đem
quân ra Ninh Bình cùng với Tổng đốc Thanh hóa là Nguyễn Văn Trọng đi đánh Lê
Duy Lương.
Lê Duy Lương ở Ninh Bình thế cô lắm, chống không nổi mấy đạo
quan quân, chỉ đương được vài ba tháng thì bị bắt, đóng cũi giải về Kinh trị tội.
Còn bọn Quách Tất Công, Quách Tất Tế thì chẳng được bao lâu mà tan.
Vì có chuyện Lê Duy Lương dấy binh, cho nên nhà vua truyền bắt
dòng dõi nhà Lê đem đày vào ở Quảng Nam, Quảng Nghĩa, Bình Định, cứ chia cho 15
người ở một huyện và phát cho 10 quan tiền và 2 mẫu ruộng để làm ăn.
5. Nông Văn Vân.
Ở Bắc còn đang dẹp loạn Lê Duy Lương chưa xong, thì ở Nam Lê
Văn Khôi làm phản, chiếm giữ thành Gia Định. Nguyên tên Khôi là người Bắc, có họ
hàng bà con mạn Tuyên Quang, Cao Bằng, bởi vậy nhà vua sai quan tìm bắt anh em
của tên Khôi đem về Kinh làm tội. Bấy giờ ở Tuyên Quang có người anh vợ tên
Khôi là Nông Văn Vân bị quan bắt bớ, bèn nổi lên đánh phá trong hạt Tuyên
Quang, Thái Nguyên, Cao Bằng và Lạng Sơn. Giặc Nông khởi từ tháng 7 năm quý tị
(1833) cho đến tháng 3 năm ất mùi (1835) dai dẳng trong non hai năm trời, làm
cho quan quân thật là vất vả.
Nông Văn Vân làm Tri châu châu Bảo Lạc. Nhân thấy quan quân
tìm bắt họ hàng Lê Văn Khôi, bèn nổi lên tự xưng là Tiết Chế Thượng Tướng Quân,
và bắt viên tỉnh phái thích chữ vào mặt rằng: "Quan tỉnh hay ăn tiền của
dân", rồi đuổi về.
Nông Văn Vân chia quân ra đánh phá các tỉnh, quan sở tại chống
không nổi, phải xin quân cứu viện. Vua Thánh Tổ được tin ấy, bèn sai Sơn Hưng
Tuyên Tổng Đốc là Lê Văn Đức làm Tam Tuyên Tổng Đốc Quân Vụ, và sai Hải An thự
tổng đốc là Nguyễn Công Trứ làm tham tán, đem quân hội với Ninh Thái Tổng Đốc
là Nguyễn Đình Phổ đi tiễu trừ giặc Nông.
Quân giặc vây đánh Cao Bằng và Lạng Sơn ngặt quá, nhà vua lại
sai An Tĩnh tổng đốc là Tạ Quang Cự làm tổng thống đại thần, lên đánh ở mạn Cao
Bằng và Lạng Sơn.
Nông Văn Vân nhận được chỗ mường mán lắm núi nhiều rừng, bèn
chia quân đi tản ra mọi nơi, tìm chỗ hiểm yếu mà ẩn nấp, hễ có quan quân đến,
đánh được thì tiến, không đánh được thì lui, cứ ra vào bất trắc, lui tới không
nhất định. Quan quân đi đánh thật là khó nhọc và lại hao binh tổn tướng rất nhiều.
Tháng chạp năm quý tị (1833) đạo quân của Tạ Quang Cự giải được
vây tỉnh Lạng Sơn và lấy lại được thành Cao bằng. Đạo quân của Lê Văn Đức và
Nguyễn Công Trứ vào đến Vân Trung (tức là Bảo Lạc) là chỗ sào huyệt của giặc.
Nông Văn Vân phải chạy trốn sang Tàu.
Nhưng mà khi quan quân rút về, thì Nông Văn Vân lại về rủ đảng
đánh phá như cũ. Nhà vua lại sai các đạo quân tiến lên phòng giữ các tỉnh mạn
ngược.
Đến tháng 9 năm giáp ngọ (1834) Lê Văn Đức và Phạm Văn Điển
đi từ Sơn Tây lên Tuyên Quang; Tạ Quang Cự, Nguyễn Tiến Lâm, và Hồ Hữu đi từ
Cao bằng; Nguyễn Đình Phổ và Nguyễn Công Trứ đi từ Thái Nguyên, ba mặt quân
cùng tiến lên hội tiễu. Quan quân đi đường sá khó khăn, lương thực vận tải
không tiện, nhưng mà quân sĩ đều cố hết sức, đi đến đâu quân giặc tan đến đấy.
Tháng chạp năm ấy, cả ba đạo cùng đến hội ở Vân Trung, rồi sai người đưa thư
sang nói với quan nhà Thanh phòng giữ, đừng cho quân giặc chạy sang bên ấy. Quả
nhiên Nông Văn Vân lại chạy sang Tàu, bị quân Tàu đuổi bắt, lại phải trở về
Tuyên Quang.
Tháng 3 năm ất mùi (1835), Phạm Văn Điển được tin biết chỗ
tên Văn Vân ở, liền đem quân đi đuổi. Văn Vân chạy ẩn vào trong rừng, Phạm Văn
Điển bèn vây 4 mặt, rồi phóng hỏa đốt rừng. Văn Vân bị chết cháy. Quan quân
chém lấy đầu đem về Kinh báo tiệp.
6. Giặc ở Nam Kỳ.
Đất Nam Kỳ là đất của nhà Nguyễn khai sáng ra, và cũng bởi đấy
mà vua Thế Tổ lập nên cơ nghiệp bản triều bây giờ, thế mà lại có sự phản nghịch
là tại làm sao? Có phần là tại vua Thánh Tổ không dong thứ cho những kẻ cựu thần,
có phần là tại những người gian nịnh muốn chiều ý vua để lấy công, làm ức hiếp
người ta, cho nên mới thành ra sự loạn lớn ấy.
Nguyên mấy năm trước, Lê Văn Duyệt làm tổng trấn ở Gia định
thành, có uy quyền lắm, mà lòng người ai cũng kính phục. Chỉ vì ông ấy là quan
võ, tính khí nóng nảy, lắm khi ở chỗ triều đường tấu đối không được hợp thể,
vua Thánh Tổ lấy làm không bằng lòng, nhưng ông ấy là bậc khai quốc công thần,
cho nên ngài cũng làm ngơ đi. Đến khi ông ấy mất, thì vua Thánh Tổ bãi chức Tổng
Trấn thành Gia Định và đặt chức tổng đốc, tuần phủ, bố chính, án sát, lĩnh
binh, như các tỉnh ở ngoài Bắc.
Tỉnh Phiên An (tức là tỉnh Gia Định) có Nguyễn Văn Quế làm tổng
đốc, Bạch Xuân Nguyên làm bố chính, Nguyễn Chương Đạt làm án sát. Nhưng Bạch
Xuân Nguyên vốn là người tham lam tàn ác; khi đến làm bố chính ở Phiên an, nói
rằng phục mật chỉ truy xét việc riêng của Lê Văn Duyệt, rồi đòi hỏi chứng cớ,
trị tội bọn tôi tớ của ông Duyệt ngày trước.
Trong bọn ấy có Lê Văn Khôi. Nguyên trước tên ấy gọi là Nguyễn
Hữu Khôi, người ở Cao Bằng, nhân cớ khởi binh làm loạn, bị quan quân đuổi đánh,
mới chạy vào Thanh Hóa, gặp Lê Văn Duyệt làm kinh lược ở đấy, nó xin ra thú.
Ông Duyệt tin dùng cho làm con nuôi, đổi tên họ là Lê Văn Khôi, rồi đem về Gia
Định cất nhắc cho làm đến chức Phó Vệ Úy.
Bấy giờ Lê Văn Khôi bị bắt giam, phần thì tức giận, phần thì
sợ tội, bèn mưu với mấy người đảng của nó để dấy loạn; ở Gia Định lại có những
người có tội ở Bắc Kỳ đem đày vào, hoặc cho làm ăn với dân sự, hoặc bắt làm
lính gọi là hồi lương; những lính ấy đều theo tên Khôi cả.
Đến đêm ngày 18 tháng năm, năm quý tị (1833) là năm Minh Mệnh
thứ 14, Khôi cùng với 27 người lính hồi lương vào dinh quan Bố, giết cả nhà Bạch
Xuân Nguyên, rồi ra gặp quan tổng đốc là Nguyễn Văn Quế đem người đến cứu,
chúng cũng giết nốt. Còn quan Án và quan Lãnh thì chạy thoát được.
Bấy giờ những quân kinh đóng ở Phiên An phần nhiều theo về Lê
Văn Khôi. Lê Văn Khôi bèn tự xưng làm Đại Nguyên Súy, phong cho đảng mình là bọn
Thái Công Triều và Lê Đắc Lực quản trung quân, Nguyễn Văn Đà và Nguyễn Văn Tông
quản tiền quân, Võ Vĩnh Tiền và Võ Vĩnh Tài quản hữu quân, Võ Vĩnh Lộc và Nguyễn
Văn Bột quản hậu quân, Lưu Tín và Trần Văn Tha quản thủy quân, Nguyễn Văn Tâm
và Nguyễn Văn Chân quản tượng quân, v.v.... Lại đặt các quan chức như một triều
đình riêng vậy. Đoạn rồi Lê Văn Khôi sai bọn Thái Công Triều đem quân đi lấy
các tỉnh thành, chỉ trong một tháng mà 6 tỉnh Gia Định thuộc về giặc cả.
Triều đình được tin ấy, liền sai Tống Phúc Lương làm Thảo Nghịch
tả tướng quân và Nguyễn Xuân làm tham tán, sai Phan Văn Thúy làm Thảo nghịch hữu
tướng quân, Trương Minh Giảng làm tham tán, cùng với Bình Khấu tướng quân là Trần
Văn Năng đem thủy bộ binh tượng vào đánh Lê Văn Khôi.
Khi quan quân vào đến Gia Định không biết tại cớ gì, mà trung
quân của ngụy là Thái Công Triều xin về đái tội lập công. Nguyên Thái Công Triều
là người ở Thừa Thiên, trước làm quan vệ úy, coi vệ biền binh đóng ở Gia Định,
sau theo tên Khôi làm phản. Nay lại trở về với triều đình, đem quân đi đánh Lê
Văn Khôi lấy lại các tỉnh.
Lê Văn Khôi biết thế không chống nổi, vào thành Phiên An đóng
cửa lại, rồi chia quân ra chống giữ, và lại sai người đi sang Tiêm La cầu cứu.
Quân Tiêm nhân dịp ấy, chia làm mấy đạo sang đánh nước Nam. Việc ấy sẽ nói ở mục
sau.
Quan quân một mặt thì đánh đuổi quân Tiêm, một mặt thì vây
đánh thành Phiên An, Lê Văn Khôi hết sức chống giữ, nhưng đến tháng chạp năm ấy
thì phải bệnh chết. Tuy vậy, quân ngụy ở trong thành cứ chống giữ mãi, non ba
năm trời quan quân mới hạ được thành.
Thành Phiên An là thành của ông Lê Văn Duyệt xây xong năm
Minh Mệnh thứ 11 (1830). Xây toàn bằng đá ong, thành cao và rộng, hào sâu, ở
trong thành lại có đủ cả lương thực khí giới, cho nên quan quân đánh thành lần
nào cũng bị chết hại nhiều người, mà không lấy được. Mãi đến tháng 7 năm ất tị
(1835), quân ngụy ở trong thành đã mỏi mệt lắm rồi, tướng quân là Nguyễn Xuân,
và Nguyễn Văn Trọng mới hạ được thành và vào bắt giết quân giặc cả thảy đến
1.831 người, đem chôn vào một chỗ, nay gọi là "mả ngụy". Còn những
người thủ phạm thì đóng cũi đem về Kinh trị tội.
Ông J. Silvestre chép truyện Lê Văn Khôi khởi loạn ở Gia Định 1 nói
rằng trong 6 người thủ phạm phải đóng cũi giải về Huế, có một ông linh mục người
nước Pháp tên là Marchand (bấy giờ gọi là cố Du), một người khách tên là Mạch Tấn
Gia, và một đứa con của Khôi, mới lên 7 tuổi.
Việc ông cố Marchand thì đã nhiều người bàn đi bàn lại: người
thì bảo ông ấy có ý muốn làm như ông Bá Đa Lộc, để giúp Lê Văn Khôi lập nên một
nước theo đạo Thiên Chúa ở Gia Định, người thì bảo ông ấy bị Lê Văn Khôi bắt
vào trong thành. Việc ấy vẫn phân vân không rõ hẳn ra thế nào.
Đến khi về đến Huế thì ông Marchand và 5 người kia đều phải tội
lăng trì. Thiết tưởng dẫu thế nào mặc lòng, đem một đứa con vô tội và 2 người
ngoại quốc ra làm cái tội thảm hình ấy, thì thật gớm ghê quá. Tục Á Đông ta trước
hay dùng những nhục hình như là tội lăng trì, tội ngựa xé, tội voi dày v.v...
thì thật là dã man vô cùng, ngày nay ai nghĩ đến cũng phải ghê mình.
7. Án Lê Văn Duyệt và Lê Chất: - Lê Văn Duyệt.
Quan quân bình xong giặc Lê Văn Khôi rồi vua Thánh Tổ sai phá
thành Phiên An đi, xây lại chỗ khác và ngài xuống chiếu định truy tội Lê Văn
Duyệt và tội Lê Chất.
Cứ bình tỉnh mà xét, thì chẳng qua là vua Thánh Tổ vốn có ý
không ưa hai ông ấy, rồi đình thần lại nhân đó mà bới việc ra để chiều ý ngài,
cho nên thành ra hai cái án thật là không đáng.
Nay cứ theo trong sách "Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện"
mà chép ra, để mọi người đều được lấy lẽ công bằng mà phán đoán.
Từ khi tên Khôi khởi loạn, vua Thánh Tổ thường ban trách Lê
Văn Duyệt che chở quân phỉ đảng, để gây nên hoạn loạn.
Năm ất mùi (1835), ở Đô Sát Viện có Phan Bá Đạt dâng sớ nói rằng:
Lê Văn Duyệt trước ở Gia Định, lấy bọn nghịch Khôi, nghịch Nhã, làm trảo nha, lấy
binh Bắc Thuận, Hồi Lương 2 làm
tâm phúc. Bọn ấy vốn là quân hung ác, không phải là người lương thiện, cho nên
Duyệt mất chưa bao lâu mà bọn nghịch Khôi, nghịch Nhã, đã đem quân Hồi Lương, Bắc
thuận cùng với bọn thủ hạ giữ thành làm phản; lại làm phiến hoặc nhân tâm, để vạ
lây đến các tỉnh Nam Kỳ, mà khó nhọc đến đại đội quan quân phải tiến tiễu. Năm
tỉnh nay dẫu thu phục rồi, song thành Phiên An tặc đảng vẫn còn thiết cứ, quan
quân tiến tiễu, lắm người thương vong, cái vạ ấy nói sao cho xiết. Nay Duyệt mất
rồi, sự trạng dẫu không có thể tường cứu được, nhưng cứ xem con nuôi là Lê Văn
Hán trước đây vào ra trong thành, nhập đảng với nghịch Khôi, và đem Bạch Xuân
Nguyên làm đuốc để tế từ đường, thì tâm tích của Duyệt tưởng không phải xét
cũng đã rõ. Nếu không bắt tội e không làm gương được cho đời sau. Vậy xin truy
đoạt quan chức của Duyệt, còn vợ con thì giao về Hình Bộ tra minh nghiêm nghị,
để tỏ phép nước".
Vua dụ Nội Các rằng: "Lê Văn Duyệt xuất tha6n từ kẻ yêm
hoạn, vốn là một đứa đầy tớ trong nhà. Xảy gặp hồi trung hưng, rồng mây gặp gỡ,
đánh dẹp Tây Sơn, cũng dự có phần công lao. Đức hoàng khảo ta nghĩ tới nó thủa
nhỏ sai khiến ở trong cung, mới đem lòng tin cậy, nhiều lần cho nó cầm quyền đại
tướng. Không ngờ bọn ấy phần nhiều là quân bất lương, mỗi ngày sinh ra kiêu
căng, manh tâm phản nghịch, sinh chí làm càn, ăn nói hỗn xược. Vì nó còn e
Hoàng Khảo ta thánh minh, cho nên dẫu có lòng gian mà chưa dám lộ. Mà hoàng khảo
ta đến vãn niên cũng đã biết rõ. Nhưng lại nghĩ hắn dẫu có lòng gian, song
thiên hạ đã yên rồi, thần dân ai còn theo kẻ thị hoạn đó, thì chắc hắn cũng chẳng
làm gì được. Đến khi trẫm lên ngôi, cựu thần không còn mấy, vả lại nghĩ nó tuổi
đã già, cho nên cũng tạm khoan dung, hoặc là hắn biết nghĩ mà chừa đi, để cho
toàn vẹn công danh, thì cũng là việc hay. Không ngờ kẻ kia lòng như rắn rết,
tính tựa sài lang, càng ngày càng sinh kiêu ngạo, dám nói xấu triều đình trước
mặt chúng nhân, mà khoe cái tài riêng của mình. Năm trước các quân tù phạm xứ
Thanh, Nghệ cùng là những kẻ hung ác, hắn đều chiêu dụ ra thú, tâu xin ghép vào
trướng hạ để làm nanh vuốt. Lê Văn Khôi là quân vô lại, thì tiến cử đến chức vệ
úy, theo dưới cờ hắn, để làm phúc tâm. Thổ hào như bọn Dương Văn Nhã, Đặng Vĩnh
Ưng thì hắn ngấm ngầm vời dùng; nhân thích như bọn Võ Vĩnh Tiền, Võ Vĩnh Lộc
thì hắn âm thầm lập đảng. Những kẻ tù phạm Bắc Kỳ phát phối vào đó, hắn cho ở
trong thành, rồi tha cho làm lính; lại kén lấy những voi khỏe đem ra nơi đồn
trú; vét lấy những thuyền bè khí giới trong 6 tỉnh Nam Kỳ chứa vào thành Phiên
An; rồi lại nghe tên Trần Nhật Vĩnh mà hút hết cao huyết của dân Nam Kỳ. Đắp
thành Phiên An, tiếm bằng Kinh thành, hào thì đào sâu hơn. Nếu bảo thành cao
hào sâu để phòng giặc Tiêm, thì đường bể phải phòng ở Hà Tiên, đường bộ phải
phòng ở Chân Lạp, có lẽ nào bỏ bốn tỉnh An, Hà, Long, Tường không giữ, mà lại
giữ ở Phiên An hay sao? Thế là rõ rằng phòng Triều đình, chứ không phải phòng
ngoại hoạn. Cứ suy điều đó, thì ruột gan hắn, dẫu người đi đường cũng biết, ai
không căm tức, chỉ giận vì ai không chịu nói rõ cho Triều đình biết sớm mà
thôi. Đến nỗi ngày nay như nuôi cái nhọt bọc để nên đau, mỗi ngày mầm vạ một lớn,
cho nên kẻ quyền yêm dẫu chịu tội minh tru, mà bọn nhỏ nhặt còn dám giữ thành
làm phản. Ví dù quan cai trị không hèn đốn như Nguyễn Văn Quế, tham tàn như Bạch
Xuân Nguyên, thì chúng nó có ngày làm phản chứ không sao khỏI được. Vì bọn tiêu
hạ hắn toàn là quân hung đồ, quen làm những việc bất thiện. Chúng nó đã quen thấy
hắn dối chúa, lấn trên, đều bắt chước hắn. Thậm chí hắn nói với người tra rằng
hắn vào trấn Gia Định, vốn là phong vương để giữ lấy đất, chứ không phải như
các tổng trấn tầm thường khác. Mả của cha hắn, em hắn, cũng tiếm gọi là lăng;
hoặc dám đối với người ta, tự xưng là Cô, để cho bộ hạ tập quen thành thói, chỉ
biết có Lê Văn Duyệt mà không biết đến triều đình. Thầy Hữu tử nói rằng:
"Không ưa phạm người trên mà ưa làm loạn, chứ có lẽ ấy bao giờ". Vậy
thì ưa phạm người trên và không ưa làm loạn, cũng chưa có lẽ thế bao giờ. Mối vạ
gây nên đã lâu, lẽ nào mà muốn cho bọn tiêu hạ không làm phản được? Vậy nên hắn
chết chưa bao lâu, mà bọn Lê Văn Khôi đã khởi loạn, cháu hắn cũng đồng tình tạo
phản, để cho cả bọn bộ khúc của hắn đều theo giặc cả, không một tên nào trốn
đi, rồi nó kết tử đảng, cậy có thành cao, hào sâu, lương thực như núi, khí giới
tinh nhuệ, đồ đảng lại nhiều, kháng cự lại vương sư, chầy đến 3 năm trời, nhiều
lần mở đường sống cho nó, mà chúng nó không biết hối tội đầu thành, đến nỗi
binh dân gan óc lầy đường, nói ra đau xót đến gốc nguồn thì tội hắn kể từng cái
tóc cũng không xuể. Nay hãY đem những công việc của hắn làm, rõ ràng ở tai mắt
người ta, để gây nên hoạn loạn, hiểu thị cho ai nấy đều biết. Còn như Lê Văn
Duyệt và con cháu hắn nên xử tội thế nào, thì giao cho đình thần nghị xử".
Vài hôm sau, nội các là Hà Quyền, Nguyễn Tri Phương, Hoàng
Quýnh tâu rằng: Duyệt che chở cho quân phỉ loạn, gây nên sự biến, cái tai vạ
tích lại đã lâu. Nay xét những giấy má của y ngày trước, rõ ra hình tích bội
nghịch, có 6 điều: 1) Năm Minh Mệnh thứ 4, y tự tiện sai người riêng là bọn
Phan Đạt giả danh đi thám, đi thuyền sang nước Diến Điện. Trong thư ấy chắc có
giao thông. Cứ lấy nghĩa "làm tôi không có phép được giao thông với nước
ngoài", thì tâm sự của y đã rõ, ấy là một tội. 2) Đến khi sứ thần nước Diến
điện đến thành, mới tâu vào Triều Đình. Đã có chỉ dụ nói việc đó quan hệ đến đại
nghĩa, không nên khinh thường, nghe lời ngoài mà bỏ tình hòa hiếu, gây việc cừu
thù. Vậy mà y cố xin dung nạp. May mà triều đình trả đồ cống vật cho sứ Diến Điện
về nước, thì danh nghĩa nước lớn ta mới tỏ giải ra thiên hạ. Thế là y chẳng những
mưu việc nước không ra gì, mà lại cố giữ lấy ý riêng để che điều lỗi, ấy là hai
tội. 3) Năm Minh Mệnh thứ 7, tàu bạt phong nước Anh Cát Lợi đậu vào cửa Bình
Thuận, đã có chỉ sai sở tại hộ tống, mà y cố xin đưa vào Gia Định, và nói rằng:
"Quan trấn kiềm thúc, không bằng thần có quyền, khiến cho kẻ kia sợ tướng
lệnh và biết binh oai". Hai chữ "có quyền" từ xưa vẫn lấy làm
răn, mà y dám ngất ngưởng tự nhận, kiêu tứ dường nào, ấy là ba tội. 4) Năm Minh
Mệnh thứ 4, thị vệ là Trần Văn Tình nhân việc công sai ở Gia Định về, có tâu việc
Trần Nhật Vĩnh làm riêng phố ngói, mua trộm các món. Y nghe chuyện làm vậy, năm
sau vào chầu, cố xin bắt Trần Văn Tình giao cho y để y chém, nếu không giao thì
y xin trả chức Tổng Trấn; rồi y xin từ chức thực. Có ý trêu quân như vậy, tội
gì còn to bằng tội ấy. Vả y xin giết một Trần Văn Tình, thế là bắt người ta phải
khóa lưỡi, không ai dám nói nữa, rất là dụng tâm nham hiểm, ấy là bốn tội. 5)
Trần Nhật Vĩnh đã có chỉ bổ thụ ký lục Vĩnh Thanh, mà y cố xin lưu ở lại trong
thành. Lê Đại Cương có chỉ tuyên triệu, mà y cố xin lưu lại làm việc phủ Lạc
Hóa, đều là có ý vi chiếu. Trong tập tâu của y lại nói rằng: "Chuẩn cho thần
cầu xin việc ấy, thì hầu có ích cho việc ngoài biên cương"; lại ở trong tập
tâu xin chi bổng cho bọn thơ lại, cơ, đội, các vệ, có câu rằng: "Lão thần
xa ở ngoài biên khổn, chỉ e triều đình tin dùng không được vững bền".
Trong lời lẽ ấy đều là không kính, ấy là 5 tội. 6) Năm Minh Mệnh thứ 6, y tâu
xin tăng thọ cho Lê Chất, có nói rằng: "Ấy là vị thánh dược khởi tử hồi
sinh, tiếc gì mà không làm". Y là chức biên khổn dám kết đảng tư tình như
thế, rất trái với đạo làm tôi, ấy là 6 tội. Vả lại nghe y bình nhật thường khoe
chuyện với người ta rằng: y xin được quẻ thẻ có 4 câu thơ:
Tá Hán tranh tiên chư Hán tướng Phù Chu ninh hậu thập Chu thần
Tha niên tái ngộ Trần kiều sự Nhất đán hoàng báo bức thử thân
Dịch Nôm Giúp Hán há thua cùng tướng Hán Phò Chu nào kém bọn
tôi Chu Trần kiều nếu gặp cơn binh biến Mảnh áo hoàng bào để ép nhau!
Giá y không phải là người sẵn có bụng bất trung, thì không
khi nào dám khoe bài ấy với người ta. Bởi vậy bọn tiêu hạ tập quen thành thói,
cho nên thây y chưa lạnh mà đã có việc này. Vậy xin giao cả lời tâu này cho
đình thần kết án để chính tội. Vua ưng cho.
Đến khi nghị án xong, trích ra các lời nói, việc làm, bội nghịch,
có 7 tội nên trảm:
1. Sai người đi riêng sang Diến Điện, âm kết ngoại giao.
2. Xin giao tàu Anh Cát Lợi đến thành, để tỏ có quyền.
3. Xin giết thị vệ là Trần Văn Tình, để khóa miệng người ta.
4. Kháng sớ xin lưu quan viên bổ đi chỗ khác.
5. Lập đảng mà xin tăng thọ cho Lê Chất.
6. Giấu chứa giấy ngự bảo.
7. Mộ cha, tiếm gọi là lăng, đối với người ta, tự xưng là Cô.
1. Sai người đi riêng sang Diến Điện, âm kết ngoại giao.
2. Xin giao tàu Anh Cát Lợi đến thành, để tỏ có quyền.
3. Xin giết thị vệ là Trần Văn Tình, để khóa miệng người ta.
4. Kháng sớ xin lưu quan viên bổ đi chỗ khác.
5. Lập đảng mà xin tăng thọ cho Lê Chất.
6. Giấu chứa giấy ngự bảo.
7. Mộ cha, tiếm gọi là lăng, đối với người ta, tự xưng là Cô.
Có 2 tội nên giảo:
1. Cố xin dung nạp Diến Điện để che chở cái lỗi của mình.
2. Nói chuyện với người ta xin được quẻ thẻ có câu thơ hoàng báo.
1. Cố xin dung nạp Diến Điện để che chở cái lỗi của mình.
2. Nói chuyện với người ta xin được quẻ thẻ có câu thơ hoàng báo.
Một tội nên phát quân:
1. Tự tiện sai biền binh tu tạo tàu thuyền.
1. Tự tiện sai biền binh tu tạo tàu thuyền.
Sự biến Phiên An, y thực là đầu vạ nên chiếu theo luật mưu phản,
khép vào tội lăng tri; song y đã chịu minh tru, vậy xin truy đoạt cáo sắc, bỏ
quan quách giết thây, để tỏ gương răn cho người khác. Còn như tằng tổ, tổ phụ của
y được phong tặng cáo sắc, thì xin truy đoạt cả; tiên phần có tiếm dụng trái phép
nào thì tước hủy đi; con, cháu, vợ cả, vợ lẽ, đều phân biệt nghị tội; tài sản
thì tịch biên hết.
Án ấy đệ lên. Những tội nguyên nghị trảm quyết đổi làm giam hậu,
con cháu từ 15 tuổi trở xuống, tạm hãy nghiêm cấm; trẻ thơ ấu chưa biết gì thì
tha không bắt; ba họ phải phát nô cũng đều tha; nguyên nghĩ lục thì cũng thôi.
Lại sai Hình bộ sao bản văn án phát cho tổng đốc, tuần phủ
các tỉnh, cho cứ ý kiến riêng mà tâu về. Hộ phủ Lạng Bình là Trần Huy Phác xin
điều phép tội trảm quyết. Hộ phủ Quảng Yên là Lê Dục Đức xin người nào từ 16 tuổi
trở lên đều chém, còn thì đều y như đình nghị. Tổng đốc Bình Phú là Võ Xuân Cẩn,
Tổng đốc Ninh Thái là Hoàng Văn Trạm cũng đều xin y đình nghị. Lại nói kèm một
cầu rằng: hoặc nên lấy công bù tội châm chước ít nhiều thì tự Thiên Ân.
Dụ rằng: "Xem vậy thì đủ biết lẽ Trời không sai, mà công
đạo ở lòng người không ai giấu được. Kẻ quyền gian kia gây vạ, thiên hạ ai cũng
căm tức luôn, muôn miệng cùng lời, đủ tỏ cái án sắt nghìn xưa. Tội Lê Văn Duyệt
nhổ từng cái tóc mà kể cũng không hết, nói ra đau lòng, dù có bổ quan quách mà
giết thây, cũng là đáng tội. Song nghĩ hắn chết đã lâu, và đã truy đoạt quan tước,
xương khô trong mã, không bõ gia hình. Vậy cho tổng đốc Gia Định đến chỗ mả hắn,
san làm đất phẳng và khắc đá dựng bia ở trên viết to những chữ "Chỗ này là
nơi quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp", để chính tội danh cho kẻ đã chết,
mà tỏ phép nước về đời sau, làm gương cho kẻ quyền gian muôn đời.
Không những Lê Văn Duyệt là họa thủ tội khôi, mà tên cháu y
là Lê Văn Hán cũng giao thông với giặc, thì thân thuộc phải tội, trong luật đã
có điều nói rõ rồi. Song nghĩ nó chẳng qua cuồng dại một lúc, qua lại với giặc
mà thôi, sánh với kẻ trước sau theo giặc kháng cự quan quân, hơi có khác nhau.
Và đã xử cực hình, cũng đủ tỏ phép nước rồi. Những kẻ thân thuộc khác, khép tội
trảm giam hậu, cũng đủ cho nó phục tội. Lời dụ này chuẩn lục tống phát cho mỗi
tỉnh một đạo, để cho ai nấy đều biết Triều Đình xử rất công, rõ ràng cái cân ba
thước mà nghiêm như rìu búa nghìn thu".
Án Lê Chất: Án Lê Văn Duyệt phát ra năm trước thì năm sau có
quan Lại bộ tả thị lang là Lê Bá Tú truy tham những tội bất thần của Lê Chất,
có 6 tội nên chết:
1. Chất cùng Duyệt toan mưu làm việc Y, Hoắc (phế lập), bị hai đứa ở nói hở ra ngoài, bèn giết chúng nó để buộc miệng, là một tội.
2. Mấy lần cố xin thưởng cho hoàng tử để làm con nuôi, muốn bắt chước lối cũ của Dương Kiên, là hai tội.
3. Muốn cho con gái chính vị trong cung, không được thỏa chi, nói ra những lời oán vọng, là ba tội.
4. Thường nói chuyện với Lê Văn Duyệt rằng: "Người ta thường nói trời, vua và cha mẹ, người làm con, làm tôi dù có điều bất bình, cũng không dám giận, mà một mình tôi dám giận" là bốn tội.
5. Lại nói rằng: "Vua cậy có Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Hữu Thuận phúc tâm, chỉ đem độ vài trăm người vào chầu, quát to một tiếng, bọn ấy cũng phải phục xuống đất, rồi ta muốn làm gì ta làm" là năm tội.
6. Lại nói rằng quốc tính đổi làm tôn thất, đều là bọn Hoài Đức a dua xui giục, nên đem chém ở trước cửa miếu để chính tội, là sáu tội.
1. Chất cùng Duyệt toan mưu làm việc Y, Hoắc (phế lập), bị hai đứa ở nói hở ra ngoài, bèn giết chúng nó để buộc miệng, là một tội.
2. Mấy lần cố xin thưởng cho hoàng tử để làm con nuôi, muốn bắt chước lối cũ của Dương Kiên, là hai tội.
3. Muốn cho con gái chính vị trong cung, không được thỏa chi, nói ra những lời oán vọng, là ba tội.
4. Thường nói chuyện với Lê Văn Duyệt rằng: "Người ta thường nói trời, vua và cha mẹ, người làm con, làm tôi dù có điều bất bình, cũng không dám giận, mà một mình tôi dám giận" là bốn tội.
5. Lại nói rằng: "Vua cậy có Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Hữu Thuận phúc tâm, chỉ đem độ vài trăm người vào chầu, quát to một tiếng, bọn ấy cũng phải phục xuống đất, rồi ta muốn làm gì ta làm" là năm tội.
6. Lại nói rằng quốc tính đổi làm tôn thất, đều là bọn Hoài Đức a dua xui giục, nên đem chém ở trước cửa miếu để chính tội, là sáu tội.
Lại có 10 tội tiếm loạn:
1. Khi y ở Bắc thành, đầu năm điểm binh, dám lên lầu Ngũ môn ngồi chính giữa.
2. Đệ niên thuyền tải ngoài bể, y lấy của riêng mà tải vào thuyền công.
3. Cùng với Lê Văn Duyệt dâng biểu từ chức để bắt bí nhà vua.
4. Việc sinh sát dữ đoạt, hay tự tiện.
5. Trái phép, ăn lễ, giàu đến nghìn vạn.
6. Tấu sớ không hợp phép, có chỉ không cho, mà cứ nhất định nộp lại, có Lê Văn Duyệt ngăn đi mới thôi.
7. Nuôi những cung nữ tiên triều, không biết kiêng nể gì.
8. Nơi công sảnh tiếm làm gác chuông, gác trống.
9. Tội án Lê Duy Thanh đã thành, lại còn cùng với Lê Văn Duyệt cố xin nghị lại.
10. Điều bổ cơ binh, phủ binh, xin lấy chức quan văn mà thi hành.
1. Khi y ở Bắc thành, đầu năm điểm binh, dám lên lầu Ngũ môn ngồi chính giữa.
2. Đệ niên thuyền tải ngoài bể, y lấy của riêng mà tải vào thuyền công.
3. Cùng với Lê Văn Duyệt dâng biểu từ chức để bắt bí nhà vua.
4. Việc sinh sát dữ đoạt, hay tự tiện.
5. Trái phép, ăn lễ, giàu đến nghìn vạn.
6. Tấu sớ không hợp phép, có chỉ không cho, mà cứ nhất định nộp lại, có Lê Văn Duyệt ngăn đi mới thôi.
7. Nuôi những cung nữ tiên triều, không biết kiêng nể gì.
8. Nơi công sảnh tiếm làm gác chuông, gác trống.
9. Tội án Lê Duy Thanh đã thành, lại còn cùng với Lê Văn Duyệt cố xin nghị lại.
10. Điều bổ cơ binh, phủ binh, xin lấy chức quan văn mà thi hành.
Vậy xin giao cho đình nghị, để chính tội danh làm gương cho kẻ
gian trăm đời.
Vua dụ rằng: "Chất, tính vốn sài lang, nết như ma quỷ,
làm tôi thì bất trung, bất chính, xử việc thì đại ác đại gian, việc nào cũng
càn rỡ, ai là chẳng tức giận, chẳng những là 16 tội mà thôi đâu. Trước kia trẫm
nghĩ hắn cùng với Lê Văn Duyệt, dẫu mang lòng bất thần, nhưng người ta không chịu
theo, thì chắc không dám gây sự. Vả hắn là nhất phẩm đại thần; dù có mưu gian
mà thần dân chưa cáo tố, thì không nỡ bắt tội. Kể đến hắn lại chịu tội minh tru
rồi thì lưới trời tưởng cũng không thoát, cho nên cũng chẳng kể làm gì nữa. Nay
đã có người tham hạch, vậy thì phải trái công, đã có triều đình pháp luật. Chuẩn
cho đình thần đem 16 điều tội của hắn mà định rõ tội danh, vợ con cũng án luật
mà nghị xử, duy con gái nào đã xuất giá, cùng là cháu trai còn nhỏ thì
tha".
Đình thần nghị rằng: Chất, bất pháp bất trung, đại gian đại
ác, có 6 tội nên lăng trì, 8 tội nên trảm, 2 tội nên giảo. Những tội phạm phận,
âm mưu điều bất quỷ, thì khép vào tội bạn nghịch mà xử lăng trì. Song y đã chịu
tội minh tru, vậy xin truy đoạt cáo sắc, bổ áo quan, lục thây, khiêu thủ để thị
giới. Còn cáo sắc phong cho cha mẹ y, cũng xin truy đoạt; vợ là Lê Thị Sai từng
đồng mưu bạn với chồng, nghĩ trảm lập quyết. Lại phát cho các tổng đốc, tuần phủ,
mỗi nơi một đạo văn án, để cho đem ý riêng bày tỏ tâu về, cho công lòng chúng.
Các địa phương tâu về, đều xin y đình nghị.
Ngài dụ rằng: "Như vậy đủ rõ lẽ trời ở tại lòng người,
công luận không bao giờ mất. Kẻ gian thần chứa vạ, muôn miệng cùng một lời, đủ
làm án sắt thiên cổ. Vả Lê Chất cùng với Lê Văn Duyệt, dựa nhau làm gian, tội
ác đầy chứa, nhổ từng cái tóc mà tính cũng không hết, giá thử bổ áo quan giết
thây, cũng không là quá. Song lại nghĩ Chất tội cũng như Duyệt, trước kia Duyệt
đã không bổ áo quan giết thây, thì nắm xương khô của Chất nay cũng chẳng màng bắt
tội. Vậy cho tổng đốc Bình Phú Võ Xuân Cẩn san phẳng mộ của hắn, khắc bia dựng
lên trên đề to mấy chữ: "Chỗ nầy là nơi Lê Chất phục pháp" để làm
gương cho kẻ gian tặc muôn đời. Còn vợ hắn là Lê Thị Sai cùng ở một nhà, dự biết
mưu bạn nghịch, xử vào cực hình, cũng là phải, song kẻ đàn bà chẳng cần vội
vàng chính pháp. Vậy Lê Thị Sai cùng con là Lê Cẩn, Lê Trương, Lê Thường, Lê Kỵ,
đều cải làm trảm giam hậu. Lại tịch biên gia sản, được hơn 12.000 quan tiền,
giao tỉnh chứa cả vào kho 3.
8. Giặc Tiêm La.
Nước Tiêm La tự khi mất quyền bảo hộ ở Chân Lạp, vẫn có ý muốn
sinh sự với nước Nam, nhưng còn sợ thế lực Nguyễn Triều chưa dám làm gì, chỉ thỉnh
thoảng sang sinh sự với những nước ở Lào. Hễ khi nào Tiêm và Lào đánh nhau, thì
nhà vua sai quan quân phòng giữ những chỗ biên thùy, và sang cứu viện những nước
bị người Tiêm bắt nạt. Như năm đinh hợi (1827) là năm Minh Mệnh thứ 8, nước
Tiêm đánh lấy nước Vạn Tượng (Vientiane), quốc trưởng nước ấy là A Nỗ chạy sang
cầu cứu, vua Thánh Tổ sai quan thống chế là Phan Văn Thúy làm kinh lược biên vụ
đại thần đem binh tượng sang cứu A Nỗ.
Tháng chín năm ấy, bọn Lê Đức Lộc, Nguyễn Công Tiến đem binh ở
Nghệ An chia làm hai đạo đi đường Quy Hợp và đường Lạc Phàm qua Trấn Ninh sang
cứu A Nỗ. Đi đến đâu vẽ những sông núi hình thế hiểm trở rồi gửi về Kinh.
A Nỗ mất nước không lấy lại được, phải theo quân An Nam về
Nghệ An, đợi thu xếp quân sĩ để về đánh báo thù. Đến năm mậu tí (1828), A Nỗ
nói rằng quân Lào tụ hợp được đủ rồi, xin cho quan quân đưa về nước. Vua Thánh
Tổ sai Phan Văn Thúy làm kinh lược đại thần, Nguyễn Văn Xuân làm phó, Nguyễn
Khoa Hào làm tham tán, đem 3.000 quân và 24 con voi, đưa A Nỗ về Trấn Ninh.
Đến Trấn Ninh, A Nỗ xin đem quân Lào về Vạn Tượng
(Vientiane). Phan Văn Thúy cho hai đội quân Thần Sách đi hộ tống. Về đến Vạn Tượng,
A Nỗ đem quân đi đánh quân Tiêm, quân sĩ chết hại rất nhiều, rồi lại sai người
sang Nghệ An xin viện binh.
Vua Thánh Tổ thấy A Nỗ hay sinh sự đánh nhau mà không được việc
gì, bèn không cho quân sang cứu, chỉ xuống lệnh truyền cho các hạt ở Lào phải
phòng giữ những chỗ biên thùy. A Nỗ không có quân cứu viện, bị quân Tiêm đến
đánh, lại phải bỏ thành mà chạy sang Trấn Ninh. Được ít lâu, Chiêu Nội là thủ
lĩnh Trấn Ninh bắt A Nỗ đem nộp cho Tiêm La.
Quân Tiêm La phá được Vạn Tượng rồi, lại xâm vào đến các châu
phụ thuộc về nước Nam, ở mạn gần Quảng Trị. Vua Thánh Tổ sai thống chế Phạm Văn
Điển, kinh lý mọi việc ở Cam Lộ, sai Lê Đăng Doanh làm tham tán quân vụ, cùng với
quân các đạo ở Lào đi tiễu trừ.
chẳng hóa ra đem cái công lao bách chiến mà để đến nỗi cái
tàn hồn phải bơ vơ như ma trơi ngoài đồng, khác nào quỷ Mạc Ngao không ai thờ
cúng không?" Vua Dực Tông xem bài sớ ấy lấy làm cảm động bèn truy phong
cho bọn Nguyễn Văn Thành, và cấp phẩm hàm cho các con cháu.
Phạm Văn Điển, một mặt thì cho người đem thư sang trách nước
Tiêm La sinh sự, một mặt thì chia quân, làm ba đạo tiến lên đánh.
Tướng Tiêm la viết thư trả lời một cách khiêm nhường lắm, rồi
rút quân về. Từ đó nước Tiêm bề ngoài vẫn thông sứ đi lại để giữ sự hòa hiếu,
nhưng ngấm ngầm cứ tìm cách quấy nhiễu nước Nam. Ở phía tây nam, người Tiêm vẫn
dung túng những người phản nghịch nước Chân Lạp, mà ở phía tây bắc thì vẫn cứ
hà hiếp Vạn Tượng và các nước nhỏ khác. Dù thế mặc lòng, vua Thánh Tổ không muốn
gây việc binh đao, cứ dùng lời nói ngọt mà trang trải mọi việc.
Đến cuối năm quý tị (1833) nhân có ngụy Khôi khởi loạn ở đất
Gia Định và tên Khôi lại cho người sang cầu cứu vua Tiêm La bèn sai quân thủy bộ
chia ra làm 5 đạo sang đánh Việt Nam.
Đạo thứ nhất thủy quân đem hơn 100 chiếc thuyền vào đánh lấy
Hà Tiên; đạo thứ nhì bộ quân sang đánh Nam Vang (Phnon-penh), rồi tiến lên đánh
lấy Châu Đốc và An Giang; đạo thứ ba đánh lấy mặt Cam Lộ; đạo thứ tư đánh Cam
Cát, Cam Môn, đạo thứ năm đánh Trấn Ninh.
Tuy rằng quân nghịch năm đạo cùng tiến, nhưng chủ đích của
Tiêm La là cốt đánh Chân Lạp và Nam Kỳ, còn các đạo khác là để phân quân lực của
nước Nam mà thôi.
Vua Thánh Tổ được tin báo cấp, liền xuống chiếu sai quan quân
phòng ngự các nơi. Phía tây nam thì sai quân thứ ở Gia Định, chia quân cho
Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân đi tiến tiễu ở mặt An Giang. Phía tây bắc thì
sai Lê Văn Thụy giữ mặt Cam Lộ, thuộc Quảng Trị, Phạm Văn Điển giữ mặt Nghệ An.
Lại sai Nguyễn Văn Xuân 4 làm
kinh lược đại sứ đi tiễu trừ quân Tiêm và quân Lào ở Trấn Ninh.
Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân đại phá quân Tiêm La ở sông
Cổ cắng. Quân Tiêm La ở Chân Lạp cũng bị người bản xứ đánh phá. Chỗ nào quân
nghịch cũng thua to chết hại rất nhiều; chỉ trong một tháng mà quan quân lấy lại
Hà Tiên và Châu Đốc, đuổi quân Tiêm ra khỏi bờ cõi, rồi tiến lên đánh lấy thành
Nam Vang và đưa vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân về nước.
Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân từ Nam Vang tiến lên đánh
quân Tiêm, liền phá mấy trận, chém tướng bắt binh lấy được súng ống khí giới
không biết ngần nào mà kể. Tướng Tiêm La là Phi Nhã Chất Tri đem bại binh chạy
về nước, quan quân đuổi đánh lấy thành Phú Túc (Pursat) rồi cho người Chân Lạp ở
lại giữ các nơi: chỗ nào hiểm yếu thì làm đồn đắp lũy, để phòng ngự quân giặc.
Những đạo quân Tiêm và quân Lào sang đánh ở mặt Quảng Trị,
Nghệ An và Trấn Ninh, đều bị tướng quân là Nguyễn Văn Xuân, Phạm Văn Điển và Lê
Văn Thụy đánh đuổi, chỗ nào quan quân cũng được toàn thắng, giữ được bờ cõi
nguyên như chỗ cũ cả.
Quân Tiêm sang đánh từ tháng giêng năm giáp ngọ (1834), đến
tháng năm năm ấy, thì quan quân đã bình xong cả mọi nơi. Vua Thánh Tổ mừng rỡ,
ban thưởng cho các tướng sĩ và bố cáo ra cho mọi nơi đều biết.
9. Việc Ai Lao.
Nước Nam ta về đời vua Thánh Tổ thì to rộng hơn cả, là vì
quân Tiêm La cứ hay sang quấy nhiễu cho nên các xứ ở Lào đều xin về nội thuộc
nước ta.
Năm đinh hợi (1827), người Nam chưởng (Luan Prabang) thông với
Tiêm La, rồi cứ đem quân xuống quấy nhiễu đất Trấn Ninh. Tù trưởng là Chiêu Nội
xin đem đất Trấn Ninh về nội thuộc Việt Nam. Vua Thánh Tổ phong cho Chiêu Nội
làm Trấn Ninh phòng ngự sứ cai quản cả 7 huyện, lại phong cho những thổ mục làm
thổ tri huyện và thổ huyện thừa. Chiêu Nội dâng sổ dân đinh và điền thổ, cả thảy
được 3.000 suất đinh và 28 sở ruộng.
Lại có đất Tam động và Lạc Phàn (trước thuộcvề Vạn Tượng)
cũng xin nội thuộc. Triều đình chia những đất ấy ra làm hai phủ là Trấn Tĩnh phủ
và Lạc biên phủ. Năm ấy lại có xứ Xa hổ (?), Sầm Tộ (Sam teu), Mường soạn (?),
Mang Lan (Mường Lam), Trình Cố (Xiêng-khô), Sầm nứa (Sam- neua), Mương Duy (?)
và ở Ngọc Ma có Cám cát (Kham-keut), Cam Môn và Cam Linh (?) đều xin về nội thuộc.
Vua Thánh Tổ chia những đất ấy ra làm ba phủ là Trấn Biên, Trấn Định và Trấn
Man.
Phủ Trấn biên có bốn huyện là Xa hổ, Sầm tộ, Mang soạn, Mang
lan; phủ Trấn định 5 có
3 huyện là Cam cát, Cam môn, và Cam linh. Hai phủ ấy đều thuộc về Nghệ An. Còn
phủ Trấn Nam có 3 huyện là Trình Cố, Sầm nứa, Man Duy thì thuộc về Thanh Hóa.
Ở miền Cam Lộ thuộc Quảng Trị lại có những mường Mang vang
(?), Ná bi (?), Thượng kế (?), Tả bang (?), Xương thịnh (?), Tầm bồn (?), Ba
lan (?), Mang bổng (?), Lang thời (?), xin về nội thuộc, chia ra làm 9 châu,
cho chiếu lệ triều cống.
Đại khái là đất Sầm nứa, đất Trấn Ninh, đất Cam môn và đất
Savannakhet bây giờ, thủa ấy thuộc về Việt Nam ta cả.
10. Việc Chân Lạp.
Ở nước Chân Lạp thì từ khi quan quân phá được giặc Tiêm rồi,
Tướng quân là Trương minh Giảng và tham tán là Lê Đại Cương lập đồn An Nam ở gần
Nam vang để bảo hộ Chân Lạp.
Cuối năm giáp ngọ (1834), vua nước Chân Lạp là Nặc Ông Chân mất,
không có con trai, quyền cai trị trong nước về cả mấy người phiên liêu là bọn
Trà Long và La Kiên. Những người này đều là người Chân Lạp mà lại nhận quan chức
Việt Nam. Đến năm ất mùi (1835), Trương Minh Giảng xin lập người con gái của Nặc
Ông Chân tên là Angmey lên làm quận chúa, gọi là Ngọc Vân công chúa, rồi đổi nước
Chân Lạp ra làm Trấn tây thành, chia ra làm 32 phủ và 2 huyện. Đặt một tướng
quân, một tham tán đại thần, một đề đốc, một hiệp tán, và 4 chánh phó lĩnh
binh, để coi mọi việc quân dân. Ở các chỗ yếu hại, lại đặt chức tuyên phủ, an
phủ để phòng ngự.
Năm canh tí (1840), nhà vua sai Lê Văn Đức làm khâm sai đại
thần, Doãn Uẩn làm phó và cùng với Trương Minh Giảng để kinh lý mọi việc ở Trấn
Tây Thành, khám xét việc buôn bán, đo ruộng đất, định thuế đinh, thuế thuyền bè
buôn bán dưới sông.
Nhưng vì quan lại Việt Nam ta sang làm nhiều điều trái lẽ,
nhũng nhiễu dân sự, lại bắt Ngọc Vân công chúa đem về để ở Gia Định, bắt bọn
Trà Long và Lê Kiên đày ra Bắc Kỳ, dân Chân Lạp ai cũng oán giận, chỗ nào cũng
có giặc giã nổi lên đánh phá. Lại có em Nặc Ông Chân là Nặc Ông Đôn khởi nghĩa,
có người Tiêm La giúp đỡ, thành ra quan quân đánh mãi không được. Về sau khi
vua Thánh Tổ mất rồi, quan quân phải bỏ thành Trấn Tây mà rút về An Giang.
Ấy cũng là vì người mình không biết bênh vực kẻ hèn yếu, chỉ
đem lòng tham tàn mà ức hiếp người ta, cho nên thành ra hao tổn binh lương, nhọc
mệt tướng sĩ, mà lại phải sự bại hoại, thật là thiệt hại cho nước mình.
11. Việc giao thiệp với những nước ngoại dương.
Việc giao thiệp của nước Nam ta với các nước ngoại dương mà
ngăn trở là bởi có hai lẽ: một là vì sự cấm giảng đạo thiên chúa; hai là vì người
nước mình lúc bấy giờ không hiểu thời thế, cứ tự đắc mình là văn minh hơn người,
không chịu học tập như người ta mà theo đường tiến bộ.
Nước ta từ đời thập thất thế kỷ, về nhà Hậu Lê đã có người
Âu-la-ba ra vào buôn bán, hoặc ở Phố Hiến (Hưng Yên), hoặc ở cửa Hội An
(Faifo), đều không có việc gì ngăn trở cả. Chỉ có sự giảng đạo Thiên chúa ở
trong nước là hay bị sự ngăn cấm. Ngày trước chúa Trịnh và chúa Nguyễn đã có dụ
nghiêm cấm. Đến đời Nguyễn Tây Sơn thì trong nước rối loạn, còn phải lo việc
chiến tranh, cho nên không nói đến việc cấm đạo. Về sau, khi vua Thế Tổ nhất thống
cả nam bắc, thì ngài nhớ ơn bên đạo có công giúp rập trong lúc gian truân, vẫn
để các giáo sĩ được phép đi giảng đạo mọi nơi. Mãi đến đời vua Thánh Tổ thì việc
nước đã yên, nhà vua lưu ý về sự giáo hóa, lấy Nho đạo làm chính đạo và cho các
tôn giáo khác làm tả đạo, bắt dân gian phải bỏ tà theo chính. Sự cấm đạo lại khởi
đầu phát ra nữa.
Mà cũng vì sự cấm đạo, cho nên sự buôn bán của những người
ngoại dương ở nước ta, thành ra ngăn trở. Bởi vì Triều đình thấy thỉnh thoảng
có chiếc tàu buôn lại, thì có một vài người giáo sĩ vào giảng đạo, ngăn cấm thế
nào cũng không được, tưởng là có ý do thám gì chăng, cho nên lại càng nghi ngờ
lắm.
Vả lại về đời nhà Nguyễn lúc bấy giờ, ở trong nước cũng không
có người ngoại quốc ra vào buôn bán, chỉ có người Pháp Lan Tây trước đã theo
giúp vua Thế Tổ, rồi ở lại làm quan tại triều là Chaigneau và Vannier. Khi vua
Thế Tổ hãy còn, thì Chaigneau có xin về nước Pháp nghỉ ba năm, đến năm đinh mùi
(1821), ông ấy trở sang thì lại nhận chức lãnh sự và chức khâm sai của vua
Louis XVIII, đem đồ phẩm vật và tờ quốc thư sang điều đình việc thông thương với
nước Nam. Chaigneau sang đến nơi, thì vua Thế Tổ mất rồi, vua Thánh Tổ tiếp đãi
Chaigneau cũng tử tế, và ngày sai quan trả lời cho Pháp Hoàng rằng nước Nam và
nước Pháp không việc gì mà phải làm điều ước về việc thương mại. Việc vào buôn
bán ở nước Nam, thì cứ theo luật nước Nam, không điều gì ngăn trở cả.
Năm nhâm ngọ (1822) có chiếc tàu chiến của Pháp tên là
Cléopâtre vào cửa Đà nẵng, người quản tàu tên là Courson de La Ville Héllio nhờ
Chaigneau xin phép cho vào yết kiến vua Thánh Tổ; ngài không cho. Tháng 7 năm ấy,
có tàu Anh Cát Lợi vào Đà nẵng xin thông thương, nhà vua cũng không cho.
Chaigneau thấy nhà vua càng ngày càng nhạt nhẽo với mình, và
cũng không làm được công việc gì có ích, bèn cùng với Vannier xin từ chức, rồi
đến cuối năm giáp thân (1824), hai người xuống tàu đi qua Gia Định về Pháp.
Tháng giêng năm ất dậu (1825), lại có thủy quân đại tá nước
Pháp là ông Bougainville đem hai chiếc tàu chiến là Thétis và Espérance vào cửa
Đà Nẵng, đem đồ phẩm vật và quốc thư, xin vào yết kiến vua Thánh Tổ. Ngài nói rằng
nước Pháp và nước Anh là hai nước cừu địch, mà nước ta trước đã không tiếp sứ
Anh Cát Lợi, lẽ nào nay lại tiếp sứ nước Pháp. Vả lúc bấy giờ Chaigneau và
Vannier đã về cả rồi, ngài bèn sai quan đem đồ vật ra ban thưởng cho sứ nước
Pháp và nói rằng ở trong triều không có ai biết tiếng Pháp, cho nên không thể
tiếp được.
Qua năm sau (1826) chính phủ Pháp lại sai cháu ông Chaigneau
sang làm lĩnh sự thay cho chú, nhưng sang đến nơi, Triều đình nước ta không nhận,
đến năm kỷ sửu (1829) lại phải trở về.
Từ đó cho đến 10 năm về sau nước Pháp tuyệt giao với nước Nam
ta. Mà lúc bấy giờ chỉ trừ mấy người giáo sĩ đi giảng đạo ở chỗ thôn dã ra, thì
trong nước cũng không có người ngoại dương nào ở nữa.
12. Sự Cấm Đạo.
Từ khi vua Thánh Tổ lên ngôi, ngài đã có ý không cho người
ngoại quốc vào giảng đạo ở trong nước. Đến năm ất dậu (1825), khi chiếc tàu
Thétis vào cửa Đà Nẵng, có một người giáo sĩ tên là Rogerot ở lại đi giảng đạo
các nơi, vua Thánh Tổ nhân dịp ấy mới có dụ cấm đạo, và truyền cho các quan phải
khám xét các tàu bè của ngoại quốc ra vào cửa bể. Trong dụ nói rằng: "Đạo
phương Tây là tả đạo, làm mê hoặc lòng người và hủy hoại phong tục, cho nên phải
nghiêm cấm để khiến người ta phải theo chính đạo".
Ngài lại sai tìm bao nhiêu những giáo sĩ ở trong nước đem cả
về Huế để dịch những sách Tây ra chữ Việt Nam, chủ ý là không phải vì việc dịch
sách, nhưng là để cho khỏi đi giảng đạo ở chốn hương thôn.
Lúc bấy giờ không phải là một mình vua Thánh Tổ ghét đạo mà
thôi, phần nhiều những quan lại cũng đều một ý cả, cho nên sự cấm đạo lại càng
nghiệt thêm. Nhưng mà dẫu cấm thế nào mặc lòng, trong nước vẫn có người đi giảng
đạo, nhà vua lấy điều đó làm trái phép, lại có dụ ra lần nữa truyền cho dân bên
giáo phải bỏ đạo, và ai bắt được giáo sĩ đem nộp thì được thưởng. Năm ấy ở Huế
có một người giáo sĩ phải xử giảo, và ở các nơi cũng rối loạn vì sự bắt đạo và
giết đạo.
Từ đó trở đi, trong Nam ngoài Bắc, chỗ nào cũng có giặc giã nổi
lên, nhà vua ngờ cho dân bên đạo theo giúp quân giặc, lại càng cấm nghiệt: từ
năm giáp ngọ (1834) cho đến năm mậu tuất (1838), có nhiều giáo sĩ và đạo đồ bị
giết, nhất là từ khi bắt được cố Du (P. Marchand) ở Gia Định rồi, sự giết đạo lại
dữ hơn trước nữa.
Nhà vua một mặt thì cấm đạo, một mặt thì ban những huấn điều
ra đê/ khuyên dân giữ lấy đạo chính. Nhưng nhà vua mà dùng uy quyền để giết hại
bao nhiêu, thì dân sự lại khổ sở bấy nhiêu, chứ lòng tin tưởng của người ta
không sao ngăn cấm được. Vả lại đạo Thiên chúa cũng là một đạo tôn nghiêm, dạy
người ta lấy lòng nhân ái, việc gì mà làm khổ dân sự như thế? Các giáo sĩ bấy
giờ cứ một niềm liều sống chết đi truyền giáo cho được, có người phải đào hầm
mà ở dưới đất hàng mấy tháng để dạy đạo. Những người có chí bền chặt như vậy,
thì hình phạt cũng vô ích mà thôi. Năm mậu tuất (1838), vua Thánh Tổ thấy cấm
thế nào cũng không được những người đi giảng đạo trong nước, ngài bèn sai sứ
sang nước Pháp để điều đình với chính phủ Pháp về việc ấy. Song khi sứ thần Việt
Nam sang đến nơi, thì hội Ngoại Quốc Truyền Đạo xin Pháp Hoàng là vua Louis
Philippe đừng tiếp 150. Sứ thần ta phải trở về không; khi về đến Huế thì vua
Thánh Tổ đã mất rồi.
Về sau việc cấm đạo cứ dai dẳng mãi đến khi nước Pháp sang bảo
hộ mới thôi.
13. Vua Thánh Tổ Mất.
Vua Thánh Tổ mất năm canh tí (1840), thọ được 50 tuổi, và trị
vì được 21 năm, miếu hiệu là Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế.
Trong đời vua Thánh Tổ làm vua, pháp luật, chế độ, điều gì
cũng sửa sang lại cả, làm thành một nước có cương kỷ. Nhưng chỉ vì ngài nghiêm
khắc quá, cứ một mực theo cổ, chứ không tùy thời mà biến hóa phong tục; lại
không biết khoan dung cho sự sùng tín, đem giết hại những người theo đạo, và lại
tuyệt giao với ngoại quốc làm thành ra nước Nam ta ở lẻ loi một mình.
Đã hay rằng những điều lầm lỗi ấy là trách nhiệm chung cả triều
đình và cả bọn sĩ phu nước ta lúc bấy giờ, chứ không riêng chi một mình ngài,
nhưng ngài là ông vua chuyên chế một nước, việc trong nước hay dỡ thế nào, ngài
cũng có một phần trách nhiệm rất to, không sao chối từ được. Vậy cứ bình tình
mà xét, thì chính trị của ngài tuy có nhiều điều hay, nhưng cũng có nhiều điều
dở; ngài biết cương mà không biết nhu, ngài có uy quyền.
Sách Histore de la Cochinchine Francaise của ông Cultru. mà
ít độ lượng, ngài biết có dân có nước mà không biết thời thế tiến hóa. Bởi vậy
cho nên nói rằng ngài là một ông anh quân thì khí quá, mà nói rằng ngài là ông
bạo quân thì không công bằng. Dẫu thế nào mặc lòng, ngài là một ông vua thông
minh, có quả cảm, hết lòng lo việc nước, tưởng về bản triều nhà Nguyễn chưa có
ông vua nào làm được nhiều công việc hơn ngài vậy.
Ghi chú:
1.
|
Xem tập tạp chí "Revue Indochinoise" số 7-8 năm
1915 và quyển An Nam Sử Lược "Abrégé de l'histoire d'Annam" của ông
A. Schreiner.
|
2.
|
Bắc Thuận, Hồi Lương là những người ở Bắc Kỳ bị tội phải
đày vào làm lính ở Nam Kỳ.
|
3.
|
Đến năm Tự đức nguyên niên (1847) quan đông các đại học sĩ
là Võ Xuân Cẩn làm sớ tâu xin gia ân cho con cháu Nguyễn Văn Thành. Trong bài
sớ có lắm câu thảm thiết. Có chỗ nói rằng: "Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt
và Lê Chất đều có lòng theo mây đợi gió, xông pha chỗ mũi tên hòn đạn, thân
làm đại tướng, tước đến quận công, sau hoặc vì con dại, hoặc vì cậy công mà
làm thành tội... Dù bọn Nguyễn Văn Thành có tội, thì tội đã trị rồi, mà
công thì không hỏi đến.
|
4.
|
Nguyễn Xuân thì làm tham tán đại thần theo Trương Minh Giảng,
Nguyễn Văn Xuân thì làm hữu quân lĩnh An tĩnh tổng đốc đi đánh mặt Trấn Ninh.
|
Ở gần địa hạt Hà tĩnh bây giờ.
|
Chương 4
Hiến Tổ (1841-1847)
Hiến Tổ (1841-1847)
Niên hiệu: Thiệu Trị
1. Đức độ vua Hiến Tổ
2. Việc Chân Lạp
3. Việc Tiêm La
4. Việc giao thiệp với nước Pháp
2. Việc Chân Lạp
3. Việc Tiêm La
4. Việc giao thiệp với nước Pháp
1. Đức Độ Vua Hiến Tổ.
Tháng giêng năm tân sửu (1841) Hoàng Thái Tử húy là Miên Tông
lên ngôi ở điện Thái Hòa đặt niên hiệu là Thiệu Trị.
Tính vua Hiến Tổ thuần hòa, không hay bày ra nhiều việc và
cũng không được quả cảm như Thánh Tổ. Trong đời Ngài làm vua, học hiệu, chế độ,
thuế mà, điều gì cũng theo như triều vua Thánh Tổ cả. Bầy tôi lúc bấy giờ có
Trương Đăng Quế, Lê Văn Đức, Doãn Uẩn, Võ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương, Lâm Duy
Tiếp trong ngoài ra sức giúp rập. Nhưng mà đất Nam Kỳ có giặc giã, dân Chân Lạp
nổi loạn, quân Tiêm La sang đánh phá, nhà vua phải dùng binh đánh dẹp mãi mới
xong.
2. Việc Chân Lạp.
Nguyên từ cuối đời đức Thánh Tổ, đất Nam Kỳ và đất Chân Lạp
đã có giặc giã, các ông Trương Minh Giảng, Nguyễn Tiến Lâm, Lê Văn Đức, Nguyễn
Công Trứ cứ phải đem quân đi tiễu trừ mãi, đánh được chỗ này thì chỗ kia nổi
lên. Sau ở Nam Kỳ lại có Lâm Sâm cùng với bọn thầy chùa làm loạn ở Trà Vinh; ở
Chân Lạp thì những người bản xứ cùng với người Tiêm La đánh phá. Quan quân chống
không nổi. Triều đình lấy việc ấy làm lo phiền. Năm Thiệu Trị nguyên niên
(1841), ở trong Triều, ông Tạ Quang Cự tâu xin bỏ đất Chân Lạp, rút quân về giữ
An Giang. Vua nghe lời ấy, xuống chiếu truyền cho tướng quân là Trương Minh Giảng
rút quân về. Trương Minh Giảng về đến An Giang thì mất. Bởi vì việc kinh lý đất
Chân Lạp là ở tay ông cả, nay vì có biến loạn, quan quân phải bỏ thành Trấn Tây
mà, ông nghĩ xấu hổ và buồn bực đến nỗi thành bệnh mà chết.
3. Việc Tiêm La.
Khi quân của Nguyễn Tiến Lâm và Nguyễn Công Trứ dẹp xong giặc
Lâm Sâm ở Nam Kỳ, thì quân Tiêm La lại đem binh thuyền sang cùng với quân giặc
để đánh phá. Vua bèn sai Lê Văn Đức làm tổng thống đem binh tướng đi tiễu trừ.
Sai Nguyễn Tri Phương và Nguyễn Công Nhân giữ mặt Vĩnh Tế, Phạm Văn Điển và
Nguyễn Văn Nhân giữ mặt Hậu Giang. Ba mặt cùng tiến binh lên đánh, quân Tiêm và
quân giặc thua to, phải rút về giữ Trấn Tây. Quan quân đuổi được quân Tiêm La
ra ngoài bờ cõi rồi, đặt quân giữ các nơi hiểm yếu để đợi ngày tiến tiễu.
Nguyên là Nặc Ông Đôn 1 đem
quân Tiêm La về cứu viện để đánh lấy lại nước. Nhưng khi đến Việt Nam rút về rồi,
quân Tiêm La tàn bạo, người Chân Lạp lại không phục, có người sang cầu cứu ở
Nam Kỳ, vua bèn sai Võ Văn Giải sang kinh lý việc Chân Lạp.
Tháng sáu năm ất tị (1845), là năm Thiệu Trị thứ năm, Võ Văn
Giải vào đến Gia Định, cùng với Nguyễn Tri Phương, Doãn Uẩn, Tôn Thất Nghị, tiến
binh sang đánh Chân Lạp, phá được đồn Dây Sắt, lấy lại thành Nam Vang, người
Chân Lạp về hàng kể hơn 23.000 người.
Đoạn rồi, Nguyễn Tri Phương và Doãn Uẩn đem binh đuổi đánh
quân Tiêm La và quân Chân Lạp, vây Nặc Ông Đôn và tướng Tiêm La là Chất Tri ở
Ô-Đông (Oudon).
Tháng chín năm ấy, Chất Tri sai người sang xin hòa. Qua tháng
mười thì Nguyễn Tri Phương, Doãn Uẩn và Chất Tri ký tờ hòa ước ở nhà hội quán,
hai nước đều giải binh. Nguyễn Tri Phương rút quân về đóng ở Trấn Tây, đợi quân
Tiêm thi hành những điều ước đã định.
Tháng chạp năm bính ngọ (1846), Nặc Ông Đôn dâng biểu tạ tội
và sai sứ đem đồ phẩm vật sang triều cống.
Tháng hai năm đinh mùi (1847) là năm Thiệu Trị thứ bảy, Triều
đình phong cho Nặc Ông Đôn làm Cao Miên Quốc Vương và phong cho Mỹ Lâm Quận
Chúa làm Cao Miên Quận Chúa. Lại xuống chiếu truyền cho quân thứ ở Trấn Tây rút
về An Giang.
Từ đó nước Chân Lạp lại có vua, và việc ở phía nam mới được
yên vậy.
4. Việc Giao Thiệp với nước Pháp.
Từ khi vua Hiến Tổ lên trị vì, thì sự cấm đạo hơi nguôi đi được
một ít. Nhưng mà triều đình vẫn ghét đạo, mà những giáo sĩ ngoại quốc vẫn còn
giam cả ở Huế. Có người đưa tin ấy cho trung tá nước Pháp tên là Favin Lévêque
coi tàu Héroine. Ông Favin Lévêque đem tàu vào Đà Nẵng xin cho năm người giáo
sĩ được tha.
Qua năm ất tị (1845) là năm Thiệu Trị thứ năm có một giám mục
tên Lefèbvre phải án xử tử. Bấy giờ có người quản tàu Mỹ Lợi Kiên ở Đà Nẵng xin
mãi không được, mới báo tin cho hải quân thiếu tướng nước Pháp là Cécile biết.
Thiếu tướng sai quân đem chiếc tàu Alemène vào Đà Nẵng lĩnh giám mục ra.
Năm đinh mùi (1847) quan nước Pháp được tin rằng ở Huế không
còn giáo sĩ phải giam nữa, mới sai đại tá De Lapierre và trung tá Rigault de
Genouilly đem hai chiếc chiến thuyền vào Đà Nẵng, xin bỏ những chỉ dụ cấm đạo
và để cho người trong nước được tự do theo đạo mới.
Lúc hai bên còn đang thương nghị về việc ấy, thì quan nước
Pháp thấy thuyền của ta ra đóng ở gần tàu của Pháp và ở trên bờ lại thấy có
quân ta sắp sửa đồn lũy, mới nghi có sự phản trắc gì chăng, bèn phát súng bắn đắm
cả những thuyền ấy, rồi nhổ neo kéo buồm ra bể.
Vua Hiến Tổ thấy sự trạng như thế, tức giận vô cùng, lại có dụ
ra cấm người ngoại quốc vào giảng đạo, và trị tội những người trong nước đi
theo đạo.
Việc tàu nước Pháp vào bắn ở Đà nẵng xong được mấy ngày
tháng, thì vua Hiến Tổ phải bệnh mất. Bấy giờ là tháng chín năm đinh mùi
(1847), năm Thiệu Trị thứ bảy. Ngài làm vua được bảy năm, thọ 37 tuổi, miếu hiệu
là Hiến tổ Chương Hoàng Đế.
Ghi chú:
1.
|
Nặc Ông Đôn là em Nặc Ông Chân, chú nàng Ang-mey là Ngọc
Vân quận chúa.
|
Chương 5
Dực Tông (1847-1883)
Dực Tông (1847-1883)
Niên hiệu: Tự Đức
1. Đức độ vua Dực Tông
2. Đình thần
3. Việc ngoại giao
4. Việc cấm đạo
5. Việc thuế má
6. Việc văn học
7. Việc binh chế
2. Đình thần
3. Việc ngoại giao
4. Việc cấm đạo
5. Việc thuế má
6. Việc văn học
7. Việc binh chế
1. Đức độ vua Dực Tông.
Vua Hiến Tổ mất, truyền ngôi lại cho hoàng tử thứ hai húy là
Hồng Nhậm. Bấy giờ hoàng tử mới có 19 tuổi, nhưng học hành đã thông thái. Đến
tháng 10 năm đinh mùi (1847), thì ngài lên ngôi hoàng đế ở điện Thái Hòa, đặt
niên hiệu là Tự Đức, lấy năm sau là năm Mậu Thân làm Tự Đức nguyên niên.
Vua Dực Tông đối với vận hội nước Nam ta thật là quan hệ, vì
là đến đời ngài thì nước Pháp sang bảo hộ, đổi xã hội mình ra một cảnh tượng
khác. Bởi vậy cho nên ta cần phải biết rõ ngài là người thế nào, để xét đoán những
công việc thời bấy giờ cho khỏi sai lầm. Quan tổng đốc Thân Trọng Huề đã được
trông thấy dung nhan của ngài và đã tả rõ chân tượng của ngài ra như sau này:
"Ngài hình dung như một người nho sĩ, không cao, không thấp, trạc người bậc
trung, không gầy không béo, có một phần hơi gầy một tí. Da không trắng không
đen. Mặt hơi dài; cằm hơi nhỏ, trán rộng mà thẳng, mũi cao mà tròn, hai con mắt
tinh mà lành.
Ngài hay chít cái khăn vàng mà nhỏ, và mặc áo vàng, khi ngài
có tuổi thì hay mặc quần vàng đi giày hàng vàng của nội vụ đóng. Ngài không ưa
trang sức mà cũng không cho các bà nội cung đeo đồ nữ trang, chỉ cốt lấy sự ăn
mặc sạch sẽ làm đẹp.
Tính ngài thật là hiền lành. Những người được hầu gần ngài
nói chuyện rằng: một hôm ngài ngự triều tại điện Văn Minh, ngài cầm cái hoa
mai 1 sắp
hút thuốc, tên thái giám đứng quạt hầu, vô ý quạt mạnh quá, lửa hoa mai bay vào
tay ngài. Tên thái giám sợ xanh mặt lại, mà ngài chỉ xoa tay, chứ không nói gì
cả.
Ngài thờ đức Từ Dụ rất có hiếu. Lệ thường cứ ngày chẵn thì chầu
cung, ngày lẽ thì ngự triều: trong một tháng chầu cung 15 lần, ngự triều 15 lần,
trừ khi đi vắng và khi se yếu 2.
Trong 36 năm, thường vẫn như thế, không sai chút nào.
Khi ngài chầu cung thì ngài tâu chuyện này chuyện kia, việc
nhà việc nước, việc xưa việc nay. Đức Từ Dụ thuộc sử sách đã nhiều mà biết việc
đời cũng rộng. Khi Đức Từ Dụ ban câu chi hay, thì ngài biên ngay vào một quyển
giấy gọi là Từ Huấn Lục.
Một hôm rảnh việc nước, ngài ngự bắn tại rừng Thuận Trực 3 gặp
phải khi nướt lụt. Còn hai ngày nữa thì có kị đức Hiến Tổ, mà ngài chưa ngự về.
Đức Từ Dụ nóng ruột, sai quan đại thần là Nguyễn Tri Phương đi rước. Nguyễn Tri
Phương đi được nữa đường, vừa gặp thuyền ngự đương chèo lên, mà nước thì chảy mạnh,
thuyền không đi mau được. Gần tối thuyền ngự mới tới bến. Khi ấy trời đang mưa,
mà ngài vội vàng lên kiệu trần đi thẳng sang cung, lạy xin chịu tội. Đức Từ Dụ
ngồi xoay mặt vào màn, chẳng nói chẳng rằng chi cả. Ngày lấy một cây roi mây,
dâng lên để trên ghế trát kỷ rồi ngài nằm xuống xin chịu đòn. Cách một hồi lâu,
đức Từ Dụ xoay mặt ra lấy tay hất cái roi mà ban rằng:
- Thôi, tha cho! Đi chơi để cho quan quân cực khổ thì phải
ban thưởng cho người ta, rồi sớm mai đi hầu kị.
Ngài lạy tạ lui về, nội đêm đó ngài phê thưởng cho các quan
quân đi hầu ngự. Quan thì mỗi người được một đồng tiền bạc, lớn nhỏ tùy theo phẩm,
còn lính thì mỗi tên được một quan tiền kẽm. Đến sáng ngài ngự ra điện Long An
lạy kị. Xem cách ngài thờ mẹ như thế, thì tự xưa đến nay ít có.
Tính ngài siêng năng, sáng chừng năm giờ, ngài đã ngự tánh,
nghĩa là thức dậy, chừng sáu giờ, ngài đã ra triều. Cho nên các quan ở Kinh buổi
ấy cũng phải dậy sớm để mà đi chầu. Thường thấy các quan thắp đèn ăn cháo để
vào triều cho sớm.
Thường ngài ngự triều tại điện Văn Minh, ở bên tả điện cần
chính. Các quan đến sớm, quan văn thì ngồi chực tại tả vu, quan võ tại hữu vu.
Khi ngài đã ngự ra, thì thái giám tuyên triệu các quan vào chầu. Các quan đều mặc
áo rộng xanh, đeo thẻ bài đi vào, quan văn bên hữu, quan võ bên tả 4
Khi các quan theo thứ tự đứng yên rồi, quan bộ Lại hay là
quan hộ Binh tâu xin cho mấy ông quan mới được thăng thuyên bái mạng. Các quan
bái mạng thì phải chực ở ngoài, đợi bộ Lại hay là bộ Binh tâu xong mới được
vào. Quan văn thuộc bộ Lại, quan võ thì thuộc bộ binh. Bái mạng thì phải mặc áo
đại trào.
Các ông bái mạng xong rồi, bộ nào có việc gì tâu thì đến chỗ
tấu sự quỳ tâu. Như bộ nào có tâu việc gì thì các quan ấn quan trong bộ ấy đều
quỳ chỗ tấu sự, rồi ông nào tâu, thì đọc bài diện tấu. Một bên các quan tấu sự
lại có một ông quan nội các và một ông ngự sử đều quỳ. Quan nội các để biên lời
ngài ban; quan ngự sử để đàn hạch các quan phạm phép.
Đức Dực Tông đã thuộc việc mà lại chăm cho nên nhiều bữa ngài
ban việc đến chín mười giờ mới ngự vào nội.
Ngài thường làm việc ở chái đông điện Cần Chánh. Trong chái ấy
lót ván đánh bóng. Gần cửa kính có mấy chiếc chiếu, trên trải một chiếu cạp bằng
hàng vàng, để một cái yên với nghiên bút, một trái dựa (cái gối dựa), chứ không
bày bàn ghế gì cả. Cách một khoảng có để một cái đầu hồ với thẻ. Ngày làm việc
mỏi thì đứng dậy đánh đầu hồ, hay là đi bách bộ. Ngài ngồi làm việc một mình,
vài tên thị nữ đứng hầu để mài son, thắp thuốc hay là đi truyền việc.
Lệ nước ta xưa nay các quan không được vào chỗ ngài ngự tọa
làm giúp việc cho vua, cho nên việc lớn việc nhỏ, ngài phải xem cả.
Phiến sớ ác nơi đều gởi về nội các. Nội các đề trong tráp tấu
sự, đưa cho giám, giám đưa cho nữ quan dâng lên ngài. Ngài xem rồi giao nội
các. Nội các giữ bản chính có châu điểm, châu phê, lục bản phó ra cho các bộ nha.
Nay xem các nguyên bản trong Các, thì thấy có nhiều tờ phiến
ngài phê dài hơn của các quan tâu. Chữ đã tốt mà văn lại hay, ai cũng kinh cái
tài của ngài.
Ngài vốn là người hiếu học. Đêm nào ngài cũng xem sách đến
khuya. Có ba tập Ngự Chế Thi Văn của ngài đã in thành bản. Ngài lại làm sách chữ
nôm để dạy dân cho dễ hiểu, như là sách Thập Điều, Tự Học Diễn Ca, Luận Ngữ Diễn
Ca, v.v..."
Xem cái chân tượng của vua Dực Tông như thế, thì ngài không
phải là người to béo vạm vỡ 5,
mà cũng không phải là ông vua tàn ác bạo ngược như người ta thường nói. Chỉ vì
ngài làm vua về một thời đại khó khăn, trong nước lắm việc, mà những người phò
tá thì tuy có người thanh liêm như ông Trương Đăng Quế, ông Vũ Trọng Bình,
trung liệt như ông Phan Thanh Giản, ông Nguyễn Tri Phương, ông Hoàng Diệu,
v.v.... nhưng mà các ông ấy đều là người cũ, không am hiểu thời thế mới. Vả lại
các thế lực lúc bấy giờ kém hèn quá, dẫu có muốn cải cách duy tân, cũng không kịp
nữa, cho nên mọi việc đều hỏng cả.
2. Đình Thần.
Đình thần là các quan ở trong Triều giúp vua để lo việc nước.
Nhưng lúc bấy giờ tình thế đã nguy ngập lắm, vì từ đầu thập cửu thế kỷ trở đi,
sự sinh hoạt và học thuật của thiên hạ đã tiến bộ nhiều mà sự cạnh tranh của
các nước cũng kịch liệt hơn trước. Thế mà những người giữ cái trách nhiệm chính
trị nước mình, chỉ chăm việc văn chương, khéo nghề nghiên bút, bàn đến quốc sự
thì phi Nghiêu, Thuấn lại Hạ, Thương, Chu, việc mấy nghìn năm trước cứ đem làm
gương cho thời hiện tại, rồi cứ nghễu nghện tự xưng mình hơn người, cho thiên hạ
là dã man. Ấy, các đình thần lúc bấy giờ phần nhiều là những người như thế cả.
Tuy có một vài người đã đi ra ngoài, trông thấy cảnh tượng thiên hạ, về nói lại,
thì các cụ ở nhà cho là nói bậy, làm hủy hoại mất kỷ cương! Thành ra người
không biết thì cứ một niềm tự đắc, người biết thì phải làm câm làm điếc, không
thở ra với ai được, phải ngồi khoanh tay mà chịu.
Xem như mấy năm về sau, nhà vua thường có hỏi đến việc phú quốc
cường binh, các quan bàn hết lẽ nọ lẽ kia, nào chiến, nào thủ, mà chẳng thấy
làm được việc gì ra trò. Vả thời bấy giờ, cũng đã có người hiểu rõ thời thế, chịu
đi du học và muốn thay đổi chính trị. Như năm bính dần (1866) là năm Tự Đức thứ
19, có mấy người ở Nghệ An là Nguyễn Đức Hậu, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Điều đi
du học phương tây. Sau Nguyễn Trường Tộ về làm mấy bài điều trần, kể hết cái
tình thế nước mình, và cái cảnh tượng các nước, rồi xin nhà vua phải mau mau cải
cách mọi việc, không thì mất nước. Vua giao những tờ điều trần ấy cho các quan
duyệt nghị. Đình thần đều lấy làm sự nói càn, không ai chịu nghe.
Năm mậu thìn (1868) là năm Tự Đức thứ 21, có người ở Ninh
Bình tên là Đinh Văn Điền dâng tờ điều trần nói nên đặt doanh điền, khai mỏ vàng,
làm tàu hỏa, cho người các nước phương tây vào buôn bán, luyện tập sĩ tốt để
phòng khi chiến thủ, thêm lương thực cho quan quân, bớt sưu dịch cho dân sự,
thưởng cho những người có công, nuôi nấng những người bị thương, tàn tật,
v.v.... Đại để là những điều ích quốc lợi dân cả, thế mà đình thần cho là không
hợp với thời thế, rồi bỏ không dùng.
Các quan đi sứ các nơi về tâu bày mọi sư, vua hỏi đến đình thần
thì mọi người đều bác đi, cái gì cũng cho là không hợp thời. Năm kỷ mão (1879)
là năm Tự Đức thứ 32, Nguyễn Hiệp đi sứ Tiêm La về nói rằng khi người nước Anh
Cát Lợi mới sang xin thông thương, thì nước Tiê m La lập điều ước cho ngay,
thành ra người Anh không có cớ gì mà sinh sự để lấy đất, rồi Tiêm La lại cho nước
Pháp, nước Phổ, nước Ý, nước Mỹ v.v... đặt lĩnh sự để coi việc buôn bán. Như thế
mọi người đều có quyền lợi không ai hiếp chế được mình. Năm tân tị (1881) là
năm Tự Đức thứ 34, có Lê Đĩnh đi sứ ở Hương Cảng về, tâu rằng: các nước Thái
Tây mà phú cường là chỉ cốt ở việc binh và việc buôn bán. Lấy binh lính mà bênh
vực việc buôn bán, lấy việc buôn bán mà nuôi binh lính.
Gần đây Nhật Bản theo các nước Thái Tây cho người đi buôn bán
khắp cả mọi nơi. Nước Tàu cũng bắt chước cho người ngoại quốc ra vào buôn bán.
Nước ta, người khôn ngoan, lại có lắm sản vật, nên theo người ta mà làm thì
cũng có thể giữ được quyền độc lập của nước nhà.
Năm ấy lại có quan hàn lâm viện tu soạn là Phan Liêm làm sớ mật
tâu việc mở sự buôn bán, sự chung vốn lập hội, và xin cho người đi học nghề
khai mỏ. Giao cho đình thần xét, các quan đều bàn rằng việc buôn bán không tiện,
còn việc khác thì xin đòi hỏi các tỉnh xem thể nào, rồi sẽ xét lại. Ấy cũng là
một cách làm cho trôi chuyện, chứ không ai muốn thay đổi thói cũ chút gì cả.
Nhân việc đó vua Dực Tông khuyên rằng các quan xét việc thì nên cẩn thận và suy
nghĩ cho chín, nhưng cũng nên làm thế nào cho tiến bộ, chứ không tiến, thì tức
là thoái vậy.
Xem lời ấy thì không phải là vua không muốn thay đổi. Chỉ vì
vua ở trong cung điện, việc đời không biết rõ, phải lấy các quan làm tai làm mắt,
mà các quan thì lại số người biết thì ít, số người không biết thì nhiều. Những
người có quyền tước thì lắm người trông không rõ, nghe không thấy, chỉ một niềm
giữ thói cũ cho tiện việc mình. Lại có lắm người tự nghĩ rằng mình đã quyền cả
ngôi cao, thì tất là tài giỏi hơn người, chứ không hiểu rằng cái tài giỏi không
cần phải nhiều tuổi, sự khôn ngoan không phải làm quan to hay là quan nhỏ. Cái
phẩm giá con người ta cốt ở tư tưởng, học thức, chứ không phải ở tiền của hay
là ở quyền tước.
Đến khi nước Pháp đã sang lấy đất Nam Kỳ, đã ra đánh Bắc Kỳ,
tình thế nguy cấp đến nơi rồi, thế mà cứ khư khư giữ lấy thói cổ, hễ ai nói đến
sự gì hơi mới một tí, thì bác đi. Như thế thì làm thế nào mà không hỏng việc được.
Đã hay rằng vua có trách nhiệm vua, quan có trách nhiệm quan,
dẫu thế nào vua Dực Tông cũng không tránh khỏi cái lỗi với nước nhà, nhưng mà
xét cho xác ly, thì cái lỗi của đình thần lúc bấy giờ cũng không nhỏ vậy.
3. Việc Ngoại Giao.
Việc chính trị đời Dực Tông là nhất thiết không cho người ngoại
quốc vào buôn bán. Như năm canh tuất (1850) là năm Tự Đức thứ 3, có tàu Mỹ Lợi
Liên vào cửa Đà Nẵng, đem thư sang xin thông thương, nhà vua không tiếp thư.
Từ năm ất mão (1855) cho đến năm đinh sửu (1877) tàu Anh Cát
Lợi ra vào mấy lần ở cửa Đà Nẵng, cửa Thị Nại (Bình Định) và ở Quảng Yên, để
xin buôn bán, cũng không được. Người I Pha Nho và nước Pháp Lan Tây xin thông
thương cũng không được.
Về sau đất Gia Định đã mất rồi, việc ngoại giao một ngày một
khó, nhà vua mới đặt Bình Chuẩn Ti để coi việc buôn bán, và Thương Bạc Viện để
coi việc giao thiệp với người ngoại dương. Tuy vậy nhưng cũng không thấy ai là
người hiểu việc buôn bán và biết cách giao thiệp cả.
4. Việc Cấm Đạo.
Việc cấm đạo thì từ năm mậu thân (1848) là năm Tự Đức nguyên
niên, vua Dực Tông mới lên ngôi, đã có dụ cấm đạo. Lần ấy trong dụ nói rằng những
người ngoại quốc vào giảng đạo, thì phải tội chết, những người đạo trưởng ở
trong nước mà không chịu bỏ đạo, thì phải khắc chữ vào mặt, rồi phải đày đi ở
chỗ nước độc. Còn những ngu dân thì các quan phải ngăn cấm, đừng để cho đi theo
đạo mà bỏ sự thờ cúng cha ông, chứ đừng có giết hại v.v....
Đến năm tân hợi (1851) là năm Tự Đức thứ 4, lại có dụ ra cấm
đạo. Lần này, cấm nghiệt hơn lần trước, và có mấy người giáo sĩ ngoại quốc phải
giết.
Sức đã không đủ giữ nước mà lại cứ làm điều tàn ác. Đã không
cho người ngoại quốc vào buôn bán, lại đem làm tội những người đi giảng đạo, bởi
thế cho nên nước Pháp và nước I Pha Nho mới nhân cớ ấy mà đánh nước ta vậy.
5. Việc Thuế Má.
Thuế má trong nước đời bấy giờ, thì đại khái cũng như đời vua
Thánh Tổ và Hiến Tổ, duy chỉ từ khi nước Pháp và nước I Pha Nho vào đánh lấy mấy
tỉnh Nam Kỳ rồi, lại phải bồi tiền binh phí mất 4 triệu nguyên, nhà nước mới
tìm cách lấy tiền, bèn cho người khách tên là Hầu Lợi Trịnh trưng thuế bán thuốc
nha phiến từ Quảng Bình ra đến Bắc Kỳ. Sử chép rằng đồng niên nhà vua thu được
có 302.200 quan tiền thuế nha phiến.
Nhà vua lại định lệ cho quyên từ 1.000 quan trở lên thì được
hàm cửu phẩm, lên đến 10.000 quan thì được hàm lục phẩm, nghĩ là phải dùng lối
đời trước bán quan để lấy tiền.
6. Việc Văn Học.
Vua Dực Tông là một ông vua hay chữ nhất đời nhà Nguyễn, cho
nên ngài trọng sự nho học lắm. Ngài chăm về việc khoa giáp, sửa sang việc thi cử
đặt ra Nhã Sĩ Khoa và Cát Sĩ Khoa, để chọn lấy người văn học ra làm quan.
Ngài lại đặt Tập Hiền Viện và Khai Kinh Diên để ngài ngự ra
cùng với các quan bàn sách vở, làm thơ phú hoặc nói chuyện chính trị. Lại sai
quan soạn bộ Khâm Định Việt Sử, từ đời thượng cổ cho đến hết đời nhà Hậu Lê.
7. Việc Binh Chế.
Đời vua Dực Tông lắm giặc giã, nhà vua cần đến việc võ, nên
chỉ năm tân dậu (1861) là năm Tự Đức thứ 14 mới truyền cho các tỉnh chọn lấy những
người khỏe mạnh để làm lính võ sinh. Đến năm ất sửu (1865) là Tự Đức thứ 18 lại
mở ra khoa thi võ tiến sĩ.
Tuy rằng lúc bấy giờ nước mình có lính võ sinh, có quan võ tiến
sĩ, nhưng mà thời đại đã khác đi rồi, người ta đánh nhau bằng súng đạn nạp hậu,
bằng đạn trái phá chứ không bằng gươm bằng giáo như trước nữa. Mà quân lính của
mình mỗi đội có 50 người thì chỉ có 5 người cầm súng điểu thương cũ, phải châm
ngòi mới bắn được, mà lại không luyện tập, cả năm chỉ có một lần tập bắn. Mỗi
người chỉ được bắn có 6 phát đạn mà thôi, hễ ai bắn quá số ấy thì phải bồi thường.
Quân lính như thế, binh khí như thế, mà quan thì lại cho lính
về phòng, mỗi đội chỉ để độ chừng 20 tên tại ngũ mà thôi. Vậy nên đến khi có sự,
không lấy gì mà chống giữ được.
Ghi chú:
1.
|
Hoa mai là một sợi dây làm bằng chỉ để thắp lửa mà hút thuốc.
|
2.
|
Se yếu là đau yếu. Tiếng se ở Huế nói cách tôn kính, như
vua đau thì nói vua se mình.
|
3.
|
Cách Kinh thành chừng độ 15 cây số, ở bên bờ sông Lợi
Giang, có một cái rừng cấm gọi là Thuận Trực. Chỗ ấy nhiều chim, đức Dực Tông
thường ngự đến bắn ở đấy.
|
4.
|
hi ngài ngự điện Thái Hòa hay là điện Cần Chính, hay là đi
hành lễ điện Phụng Tiên, thì quan văn lại đứng bên tả, quan võ bên hữu, duy ở
điện Văn Minh thì quan võ bên tả, quan văn bên hữu, không biết tại làm sao?
|
5.
|
Ta thường trông thấy có cái tranh vẽ một người to lớn vạm vỡ,
mặt mũi dữ tợn mà mặc áo đội mũ không ra lối lăng gì cả, ở dưới cái tranh có
chữ đề là vua Tự Đức. Cái tranh ấy chắc là của một người nào tưởng tượng mà vẽ
ra chứ không phải là chân dung của ngài. Vì là thủa trước chỉ trừ những quan
đại thần và những người được vào hầu cận, vua ta không cho ai trông thấy mặt,
mà cũng không bao giờ có hình ảnh gì cả.
|
Chương 6
Chế độ và tình thế nước Việt Nam đến cuối đời Tự Đức
Chế độ và tình thế nước Việt Nam đến cuối đời Tự Đức
1. Cách tổ chức chính trị và xã hội.
2. Bốn hạng dân
3. Sự sinh hoạt của người trong nước.
2. Bốn hạng dân
3. Sự sinh hoạt của người trong nước.
1. Cách Tổ Chức Chính Trị và Xã Hội.
Nước Việt Nam tuy nói là một nước quân chủ chuyên chế 1,
nhưng theo cái tinh thần và cách tổ chức của xã hội thì có nhiều chỗ rất hợp với
cái tinh thần dân chủ. Nguyên Nho Giáo là cái học căn bản của nước ta khi xưa, mà
về đường thực tế, thì cái học ấy rất chú trọng ở sự trị nước. Trị nước thì phải
lấy dân làm gốc, nghĩa là phải lo cho dân được sung túc, phải dạy dỗ dân cho biết
đạo lý và mở mang trí tuệ của dân. Những việc quan trọng như thế không phải bất
cứ ai cũng làm được, tất là phải có những người có đủ đức hạnh, tài năng và uy
quyền mới có thể đảm đang được. Bởi vậy cho nên mới cần có vua có quan.
Vua: Theo cái lý thuyết của Nho Giáo, thì khi đã có quần
chúng, là phải có quân. Quân là một đơn vị giữ cái chủ quyền để chịu hết thảy
các trách nhiệm về sự sinh hoạt và tính mệnh của toàn dân trong nước. Cái đơn vị
ấy gọi là đế hay là vương, được giữ cái chủ quyền cả nước. Cái chủ quyền ấy người
ta còn gọi là cái thần khí, nghĩa là một vật thiêng liêng do trời cho, tức là
dân thuận mới được giữ. Nói rằng những người làm những điều gian ác bạo ngược
mà cướp lấy chủ quyền thì sao? Đó là sự tiếm đoạt chứ không phải là chính
nghĩa. Ngay những người đã làm đế làm vương mà lạm dụng chủ quyền để làm những
điều tàn bạo, thì cũng chỉ là người tàn tặc mà thôi, chứ không phải là thật bậc
đế bậc vương nữa.
Triều đình: Sở dĩ đời xưa quần chúng công nhận một ông vua giữ
cái chủ quyền cả nước, là muốn cho có mối thống nhất để khỏi sự tranh dành và
cuộc biến loạn. Song việc trị nước là việc chung cả nước, cho nên có vua là phải
có triều đình. Triều đình không phải là một nhóm cận thần để hầu hạ và làm việc
riêng cho nhà vua, chính là một hội nghị chung cả nước, do sự kén chọn những
người xứng đáng bằng cách thi cử mà đặt ra. Cách thi cử không phân biệt sang
hèn giàu nghèo gì cả, miễn là ai có học, có hạnh và có đũ tài năng thì được ra ứng
thí. Người nào đã đỗ rồi và đã ra làm quan là người ấy có chân ở trong triều
đình.
Lệ nhà vua, mỗi tháng phải mấy lần thiết đại triều, các quan
tại kinh đều phải đến đủ mặt và theo phẩm trật mà đứng để tâu bày mọi việc. Bởi
vì khi có việc gì quan trọng, thì vua hạ đình nghị, nghĩa là giao cho đình thần
bàn xét. Các quan bất kỳ lớn bé đều được đem ý kiến của mình mà trình bày. Việc
gì đã quyết định, đem dâng lên để vua chuẩn y, rồi mới thi hành.
Vua tuy có quyền lớn thật, nhưng không được làm điều gì trái
phép thường. Khi vua có làm điều gì lầm lỗi, thì các quan Giám Sát Ngự Sử phải
tâu bày mà can ngăn vua. Trừ những ông vua bạo ngược không kể, thường là vua phải
nghe lời can ngăn của các quan.
Hễ triều đình có những người ngay chính và sáng suốt, thì việc
nước được yên trị; nếu có những người gian nịnh mờ tối, thì việc nước hư hỏng.
Đó là lệ chung từ xưa đến nay như vậy.
Quan tư: mệnh lệnh của triều đình đã phát ra, thì quan tư ở
các quận huyện phải theo mà thi hành. Các quan coi các quận huyện có nhiệm vụ dạy
dỗ dân, đừng để dân làm những điều trái luân thường đạo lý hay những việc phản
loạn. Ngoài ra quan phải để cho dân được yên nghiệp làm ăn, không nên bày việc
ra để nhiễu dân. Bởi vậy đời xưa ông quan nào cai trị một hạt mà dân hạt ấy được
yên trị là ông quan giỏi.
Quyền Tự Trị của dân làng: Quan của triều đình bổ ra chỉ có đến
phủ huyện, còn từ tổng trở xuống thuộc về quyền tự trị của dân. Dân tự chọn lấy
người của mình mà cử ra coi mọi việc trong hạt. Tổng là một khu gồm có mấy làng
hay xã, có một cai tổng và một phó tổng do hội đồng kỳ dịch các làng cử ra coi
việc thuế khóa, đê điều và mọi việc trị an trong tổng.
Làng hay xã là phần tử cốt yết của dân. Phong tục, lệ luật của
làng nào hay làng ấy, triều đình không can thiệp đến, cho nên tục ngữ có câu:
"Phép vua thua lệ làng". Làng có hội đồng kỳ dịch do dân cử ra để
trông coi hết cả mọi việc. Hội đồng ấy có người tiên chỉ và thứ chỉ đứng đầu, rồi
có lý trưởng và phó lý do hội đồng kỳ dịch cử ra để thay mặt làng mà giao thiệp
với quan tư, có tuần đinh chuyên coi việc cảnh sát trong làng. Khi một người
nào can phạm việc gì thì quan trách cứ ở làng, cho nên ai đi đâu hay làm việc
gì cũng phải lấy làng làm gốc.
Ngày xưa các làng không có sổ khai sinh tử và giá thú, nhưng
tục lệ của làng, cứ con trai đến 12 tuổi thì phải vào làng, tức là vào sổ đinh
của làng, con gái thì không có lệ ấy. Lại vì sự thờ cúng tổ tiên và sự tin số,
tướng, v.v... cho nên nhà nào đẻ con ra, bất kỳ trai hay gái, cha mẹ phải nhớ
cho đúng giờ, ngày tháng và năm sinh của đứa con ấy. Bởi vậy người nào cũng biết
rõ ngày tháng sinh của con mình.
Việc giá thú là việc quan hệ về gia tộc, phải làm đúng lệ thường,
nhưng đối với làng, thì tục lệ bắt người chồng khi cưới vợ, phải trình làng và
nộp cho làng một số mấy quan tiền, gọi là nộp tiền cheo. Như thế, thành ra theo
tục lệ, tuy không có sổ khai sinh tử giá thú, mà mọi điều cũng đủ như là có vậy.
2. Bốn Hạng Dân.
Người trong nước chia ra làm bốn hạng là: sĩ, nông, công,
thương.
Công: Công là hạng người làm thợ hoặc làm một công nghệ gì để
lấy lợi. Nhưng vì nước ta khi xưa chỉ có những tiểu công nghê, như quây tơ, dệt
vải, dệt lụa, làm chài lưới, làm mắm muối v.v.... chứ không có đại công nghệ làm
giàu như các nước khác. Đại công nghệ đã không có thì những người làm thợ, ai
chuyên tập nghề gì thì lập thành phường, như thợ mộc, thợ nề, thợ rèn, thợ đúc,
thợ gốm v.v.... mỗi phường có thợ cả, thợ phó và thợ, và phường nào có tục lệ của
phường ấy. Những người làm thợ thường là người ít học, quanh năm ngày tháng đi
làm thuê làm mướn chỉ được đủ ăn mà thôi.
Thương: Thương là hạng người làm nghề buôn bán. Song việc
buôn bán của ta ngày xưa kém cỏi lắm. Người thiên hạ đi buôn nước này, bán nước
nọ, xuất cảng, nhập cảng, kinh doanh những công cuộc to lớn kể hàng ức hàng triệu.
Người mình cả đời không đi đến đâu, chỉ quanh quẩn ở trong nước, buôn bán những
hàng hóa lặt vặt, thành ra bao nhiêu mối lợi lớn về tay người ngoài mất. Thỉnh
thoảng có một ít người có mươi lăm chiếc thuyền mành chở hàng từ xứ nọ đến xứ
kia, nhưng vốn độ năm bảy vạn quan tiền, thì đã cho là hạng cự phú.
Công nghệ như thế, buôn bán như thế, bảo nước mình phú cường
làm sao được? Rút cục lại, chỉ có nghề nông và nghề sĩ là trọng yếu hơn cả.
Nông: Nông là hạng người chuyên nghề làm ruộng. Dân Việt Nam
ta thường thì ai cũng có ít ra là vài ba sào ruộng để cày cấy, nghĩa là nghề
làm ruộng là nghề gốc của người mình. Nhưng trừ những nơi ruộng nhiều người ít
và đất lại phì nhiêu như đất ở Nam Việt, còn thì đất xấu và lại vì khí hậu
không điều hòa, nắng mưa thất thường, việc cày cấy gặp nhiều nỗi khó khăn. Dân ở
nhà quê, phần nhiều ăn nhờ về ruộng nương, hễ năm nào mưa hòa gió thuận, mùa
màng tốt thì năm ấy dân được no ấm, nhưng năm nào mưa lụt hay hạn hán, mùa màng
mất hết, thì dân đói khổ.
Sĩ: Sĩ là hạng người chuyên nghề đi học, hoặc để thi đỗ ra
làm quan, hoặc để đi dạy học, làm thầy thuốc, thầy địa lý, thầy bói, thầy tướng,
thầy số v.v.... là những nghề phong lưu nhàn hạ.
Sự học của nước ta ngày trước có bộ Lễ coi việc giáo hóa của
toàn nước. Ở tỉnh có quan Đốc Học, ở phủ có quan Giáo Thụ, ở huyện và ở châu
thì có quan Huấn Đạo, là những người có khoa mục, triều đình bổ ra coi việc
giáo dục ở các hạt, và mỗi người coi một trường công ở trong hạt. Những sĩ tử học
ở các trường tư thục đã khá khá đều được đến học tập ở các trường công của quan
Đốc, quan Giáo hay quan Huấn, đợi đến khi có khoa thi Hương, thì ra ứng thí.
Năm nào có khoa thi, thì các quan huấn đạo, giáo thụ và đốc học mở cuộc khảo học
trò để lựa chọ những người có đủ sức mới cho ra ứng thí.
Lệ nhà vua cứ ba năm mở khoa thi Hương ở các địa phương. Những
người đỗ cao ở khoa thi Hương gọi là cử nhân, những người đỗ thấp gọi là Tú
Tài. Năm sau ở Kinh đô mở khoa thi Hội tại bộ Lễ, những người đỗ Cử Nhân năm
trước vào ứng thí, ai trúng cách thì được vào thi Đình ở trong điện nhà vua để
lấy các bậc Tiến Sĩ, là những bậc đại khoa, người trong nước rất lấy làm quý trọng.
Mỗi khi có khoa thi Hương, các quan ở kinh ra chấm thi có cái
biển đề bốn chữ: Phụng Chỉ Cầu Hiền, nghĩa là: vâng chỉ vua ra tìm người giỏi.
Vậy sự thi cử ngày trước có cái ý nghĩa khác sự thi cử ngày nay.
Đó là nói cách tổ chức việc giáo hóa của triều đình. Còn ở chỗ
dân gian, thì sự học tập rất tự do. Bất kỳ người nào có học lực kha khá cũng có
thể mở trường tư thục để dạy học. Mỗi làng có vài ba trường tư thục, hoặc ở nhà
thầy, hoặc ở nhà người hào phú nuôi thầy cho con học và cho con các nhà lân cận
đến học. Người Việt Nam ta vốn chuộng sự học, cho nên người đi học cũng nhiều.
Nguyên sự học ngày xưa có cái mục đích chân chính là học cho
hiểu đạo lý, biết phải trái, và luyện tâm tính cho thành người có tiết tháo và
có phẩm cách cao quý, để gặp thời thì ra giúp nước giúp dân, nếu không, thì làm
người ngay chính trong xã hội. Sau dần dần vì sự sanh hoạt ở đời, sự học thành
ra cái học chuyên về mặt cử nghiệp, nghĩa là học chỉ cốt lấy đỗ để ra làm quan.
Người đi học đã đỗ đạt rồi, tự tin mình là tài giỏi, chỉ vụ lấy cái hoa mỹ bề
ngoài để lòe người, chứ không thiết gì đến sự thực học. Tựu trung cũng có người
muốn thi đỗ để lấy chút danh phận rồi về ở nhà học thêm hay dạy học. Nhưng đại
đa số chỉ mong đỗ để làm quan vì làm quan là có địa vị tôn quý, ngoài ra không
có gì hơn nữa.
Chương trình sự học cử nghiệp có những gì? Bao nhiêu công phu
của người đi học chú trọng vào sự học cho nhớ những sách Tứ Thư, Ngũ Kinh cùng
những lời thể chú của tiền nho trong những sách ấy và học thêm mấy bộ sử nước
Tàu. Còn sự luyện tập hàng ngày, thì cốt tập cho thạo thuộc các lề lối ở chỗ
khoa trường là: kinh nghĩa, tứ lục, thi phú, văn sách. Ấy là dùng hư văn mà xét
tài thực dụng, đem sự hoa mỹ làm mực thước đo tài kinh luân. Bởi vậy ai hay
kinh nghĩa đã nghĩ mình hơn người, ai tài thi phú đã tưởng mình giỏi nghề trị
nước. Việc đời thì tối tăm mờ mịt mà lại tự phụ và kiêu căng, cho thiên hạ như
rơm rác, coi mình như thần thánh.
Sự học của mình đã hư hỏng như thế, những hủ tục lại ăn sâu
vào trí não, thành ra một thứ cố tật không sao chữa được. May nhờ cái tinh thần
học cũ, người đi học, kiến thức tuy không có cái gì mấy, nhưng thường có khí tiết,
biết liêm sĩ và nhờ có cái thanh nghị của bọn sĩ phu ràng buộc, ngăn ngừa sự
hành động bấ chính. Song chỉ có thế mà thôi, vẫn không đủ để sinh tồn trong cái
thời đại quyền lợi cạnh tranh, quyền mưu quỷ quyệt, trí thuật gian trá. Cho nên
trong khi người tiến thì ta thoái, người thịnh thì ta suy.
Đại khái, cái trình độ của bọn sĩ phu ở nước ta lúc bấy giờ
là thế, cho nên vận nước suy đến nơi mà hồn người vẫn mê muội ở chỗ mơ màng mộng
mị. Bọn sĩ phu là người có học, làm tai làm mắt cho mọi người mà còn kém cõI
như thế, thì bảo dân gian khôn ngoan làm sao được.
3. Sự Sinh Hoạt của người trong nước.
Tình thế trong nước như đã nói trên, công nghệ không có, buôn
bán không ra gì, trừ việc cày cấy làm ruộng ra thì người nghèo đói không có nghề
nghiệp gì mà làm ăn cả, cho nên thủa ấy tuy một tiền được bốn bát gạo, mà vẫn
có người chết đói, vì rằng giá gạo thì rẻ, nhưng kiếm được đồng tiền thật là
khó. Người đi làm thuê khôn khéo, thì mới được một ngày một tiền, không thì chỉ
được 18 hay 30 đồng tiền mà thôi. Sự làm ăn ở chỗ thôn quê đã vất vã mà lại thường
bị nhiều sự hà lạm, ai có đồng tiền ở trong nhà thì lo sợ đủ mọi đường: nào sợ
kẻ gian phi trộm cắp, nào sợ giặc đêm giặc ngày cướp phá, cho nên phải chôn phải
giấu cho kín.
Nhà cửa phần nhiều là nhà tranh nhà lá, ít khi có nhà ngói
nhà gạch. Kiểu nhà làm cũng phải theo kiểu thường mà làm, chứ không được làm
nhà lầu và nhà kiểu chữ công hay kiểu chữ môn. Ai làm nhà cữa mà không theo
đúng phép, thì cho là lộng hành, phải tội.
Cách ăn mặc thì chỉ có đồ vải đồ nâu, người nghèo khổ chỉ có
manh áo cánh và thường thì đóng cái khố, có đi đâu mới mặc cái quần vải dài đến
đầu gối. Người sung túc mới có vài cái áo nâu đen và vài cái quần hoặc nhuộm
nâu hoặc để trắng, chứ không được mặc đồ gấm đồ vóc và đi giày. Nhà vua cấm như
thế, là cũng có ý muốn cho dân không quen thói xa hoa hoang phí, chỉ trừ những
người làm quan làm tư mới có cái đặc ân được ăn mặc hơn người. Cũng vì thế cho
nên người trong nước ai cũng mong được đi làm quan cho hiển đạt cái thân hình
và cho rỡ ràng mẹ cha, chứ không lo nghĩ làm việc gì khác nữa. Hễ ai đi học mà
vì lẽ gì thi không đỗ, làm quan không được, thì bức chí quay ra làm giặc để tìm
cách hiển vinh, thành ra trong nước hay có giặc giã.
Nước nghèo, dân khổ, lại phải lúc có nhiều tai biến, người
ngoài vào xâm lược, triều đình ngơ ngác không biết xoay xở ra thế nào, lòng người
ly tán, phân ra bè nọ đảng kia, giết hại lẫn nhau. Ấy là cái tình thế nước Việt
Nam ta và cuối đời Tự Đức là thế, cho nên sự nguy vong mới xảy ra vậy.
Ghi chú:
1.
|
Ta thường hiểu mấy chữ quân chủ chuyên chế theo cái nghĩa của
các nước Âu Tây ngày nay, chứ không biết mấy chữ ấy theo cái học nho giáo có
nhiều chỗ khác nhau.
|
Chương 7
Nước Pháp lấy đất Nam Kỳ
Nước Pháp lấy đất Nam Kỳ
1. Nước Pháp đánh Đà Nẵng.
2. Quân Pháp hạ thành Gia Định.
3. Mất tỉnh Định Tường.
4. Mất tỉnh Biên Hòa và tỉnh Vĩnh Long
5. Hòa ước năm nhâm tuất (1862)
6. Sứ Việt Nam ta sang Tây
7. Việc bảo hộ Cao Miên
8. Nước Pháp lấy ba tỉnh phía tây đất Nam Kỳ
2. Quân Pháp hạ thành Gia Định.
3. Mất tỉnh Định Tường.
4. Mất tỉnh Biên Hòa và tỉnh Vĩnh Long
5. Hòa ước năm nhâm tuất (1862)
6. Sứ Việt Nam ta sang Tây
7. Việc bảo hộ Cao Miên
8. Nước Pháp lấy ba tỉnh phía tây đất Nam Kỳ
1. Quân Pháp Đánh Đà Nẵng.
Trong thời đại khó khăn như đời vua Dực Tông, mà vua quan cứ
khư khư giữ lấy thói cũ, không biết theo thời mà mở nước cho người ta vào buôn
bán, không biết nhân dịp mà khai hóa dân trí, lại vì sự sùng tín mà đem giết hại
người trong nước, và đem làm tội những người đi giảng đạo. Bởi những sự lầm lỗi
ấy, cho nên nước Pháp mới dùng binh lực để báo thù cho những người giáo sĩ bị hại.
Nguyên từ năm tân hợi (1851) là năm Tự Đức thứ 4 về sau,
nghĩa là từ khi có tờ dụ cấm đạo lần thứ hai, ở Bắc Kỳ có mấy người giáo sĩ là
ông Bonard, ông Charbonnier, ông Matheron và ông giám mục I Pha Nho tên là Diaz
bị giết. Còn những giáo sĩ khác thì phải đào hầm đào hố mà ở, hoặc phải trốn
tránh ở trong rừng trong núi để giảng đạo. Những tin ấy về đến bên Tây, các báo
chí ngày ngày kể những thảm trạng của các người giáo sĩ đi truyền đạo ở nước
ta, lòng người náo động cả lên.
Chính phủ nước Pháp bèn sai ông Leheur de Ville-sur-Arc, đem
chiếc chiến thuyền "Catinat" vào cửa Đà Nẵng rồi cho người đem thư
lên trách Triều Đình Việt Nam về việc giết đạo. Sau thấy quan ta lôi thôi không
trả lời, quân nước Pháp bèn bắn phá các đồn lũy ở Đà Nẵng, rồi bỏ đi. Bấy giờ
là tháng 8 năm bính thìn (1856) là năm Tự Đức thứ 9.
Được 4 tháng sau thì sứ thần nước Pháp là ông Montigny ở nước
Tiêm La sang, để điều đình mọi việc. Chiếc tàu của ông Montigny đi vào đóng ở cửa
Đà nẵng, rồi cho người đưa thư lên nói xin cho người nước Pháp được tự do vào
thông thương, đặt lĩnh sự ở Huế, mở cửa hàng buôn bán ở Đà Nẵng, và cho giáo sĩ
được tự do đi giảng đạo. Trong bấy nhiêu điều, triều đình nước ta không chịu điều
nào cả.
Bấy giờ bên nước Pháp đã lập lại đế hiệu, cháu ông Nã Phá
Luân đệ nhất là Nã Phá Luân đệ tam lên làm vua. Triều chính lúc bấy giờ thì thuận
đạo, lại có bà hoàng hậu Eugénie cũng sùng tín. Vả chăng khi chiếc tàu
"Catinat" vào cửa Đà nẵng, có ông giám mục Pellerin trốn được xuống
tàu rồi về bệ kiến Pháp Hoàng, kể rõ tình cảnh các người giảng đạo ở Việt Nam.
Ông P. Cultru chép ở trong sách Nam Kỳ Sử Ký (Histore de la
Cochinchine) rằng: lúc bấy giờ có nhiều người quyền thế như ông chủ giáo thành
Rouen là Mgr de Bonnechose và có lẽ cả bà hoàng hậu cũng có nói giúp cho ông
giám mục Pellerin. Bởi vậy Pháp hoàng mới quyết ý sai quan đem binh thuyền sang
đánh nước ta. Lại nhân vì những giáo sĩ nước I Pha Nho cũng bị giết, cho nên
chính phủ hai nước mới cùng nhau trù tính việc sang đánh nước Việt Nam. Ấy cũng
tại vì vua quan mình làm điều trái đạo, giết hại những người theo đạo Gia Tô
cho nên mới có tai biến như vậy.
Tháng 7 năm mậu ngọ (1858) là năm Tự Đức thứ 11, hải quân
Trung Tướng nước Pháp là Rigault de Genouilly đem tàu Pháp và tàu I Pha Nho cả
thảy 14 chiếc, chở hơn 3.000 quân của hai nước vào cửa Đà nẵng, bắn phá các đồn
lũy, rồi lên hạ thành An Hải và thành Tôn Hải.
Triều đình được tin ấy liền sai ông Đào Trí ra cùng với quan
tổng đốc Nam Nghĩa là Trần Hoằng tiễu ngự. Ông Đào Trí ra đến nơi thì hai cái hải
thành đã mất rồi. Triều đình lại sai quan hữu quân Lê Đình Lý làm tổng thống
đem 2.000 cấm binh vào án ngự.
Ông Lê Đình Lý vào đánh với quân Pháp một trận ở xã Cẩm Lệ bị
đạn, về được mấy hôm thì mất.
Vua Dực Tông lại sai quan Kinh Lược Sứ là ông Nguyễn Tri
Phương vào làm tổng thống, ông Chu Phúc Minh làm đề đốc cùng với ông Đào Trí chống
giữ với quân Pháp và quân I Pha Nho.
Ông Nguyễn Tri Phương lập đồn Liên Trì và đắp lũy dài từ Hải
Châu cho đến Phúc Ninh, rồi chia quân ra phòng giữ. Cứ như sách Nam Kỳ Sử của
ông Cultru thì ý quan trung tướng Rigault de Genouilly định lấy Đà Nẵng xong rồi,
lên đánh Huê, nhưng mà đến lúc bấy giờ thấy quan quân phòng giữ cũng rát, và lại
có người đem tin cho trung tướng biết rằng có hơn 10.000 quân ở Huế sắp kéo xuống.
Trung tướng không biết rõ tình thế ra làm sao, mà đường xá lại không thuộc, cho
nên cũng không dám tiến quân lên.
Nhân vì khi trước các giáo sĩ đều nói rằng hễ quân Pháp sang
đánh, thì dân bên đạo tức khắc nổi lên đánh giúp, đến nay không thấy tin tức
gì, mà quân lính của trung tướng thì tiến lên không được. Ở Đà Nẵng thì chỗ ăn
chỗ ở không có, lại phải bệnh dịch tả chết hại mất nhiều người, bởi vậy trung
tướng lấy làm phiền lắm. Bấy giờ có ông giám mục Pellerin cũng đi theo sang ở
dưới tàu Ménésis, trung tướng cứ trách ông giám mục đánh lừa mình, giám mục
cũng tức giận bỏ về ở nhà tu dạy đạo tại thành Pénang ở bên Mã Lai.
Được mấy tháng, trung tướng liệu thế đánh Huế chưa được, bèn
định kế vào đánh Gia Định là một nơi dễ lấy, và lại là một nơi trù phú của nước
Nam ta.
2. Quân Pháp vào đánh Gia Định.
Trước đó đã có người bàn với trung tướng Rigault de Genouilly
ra đánh Bắc Kỳ, nói rằng ở Bắc Kỳ có hơn 40 vạn người đi đạo, và lại có đảng
theo nhà Lê, có thể giúp cho quân Pháp được thành công. Trung tướng cho đi do
thám biết rằng đất Nam Kỳ dễ lấy hơn, và lại là đất giàu có, nhiều thóc gạo. Đến
tháng giêng năm kỷ mùi (1859) là năm Tự Đức tháng 12, Trung tướng giao quyền lại
cho đại tá Toyon ở lại giữ các đồn tại Đà Nẵng, rồi còn bao nhiêu binh thuyền
đem vào Nam Kỳ. Quân Pháp vào cửa Cần Giờ, bắn phá các pháo đài ở hai bên bờ
sông Đồng Nai, rồi tiến lên đánh thành Gia Định.
Ở Gia Định, bấy giờ tuy có nhiều binh khí, nhưng quân lính
không luyện tập, việc võ bị bỏ trễ nải, cho nên khi quân Pháp ở cửa Cần Giờ tiến
lên, quan hộ đốc là Vũ Duy Ninh vội vàng tư đi các tỉnh lấy binh về cứu viện;
nhưng chỉ trong hai ngày thì thành vỡ. Vũ Duy Ninh tự tận. Quân nước Pháp và nước
I Pha Nho vào thành, lấy được 200 khẩu súng đại bác, 8 vạn rưỡi kilos thuốc
súng và độ chừng 18 vạn phật lăng (francs) cả tiền lẫn bạc, còn các binh khí và
thóc gạo thì không biết bao nhiêu mà kể.
Trung tướng Rigault de Genouilly lấy được thành Gia Định rồi,
đốt cả thóc gạo và san phẳng thành trì làm bình địa, chỉ để một cái đồn ở phía
nam, sai thủy quân trung tá Jauréguiberry đem một đạo quân ở lại chống giữ với
quân của ông Tôn Thất Hợp đóng ở đất Biên Hòa.
Trung tướng lại đem quân trở ra Đà Nẵng, rồi tiến lên đánh một
trận ở đồn Phúc Ninh. Quân ông Nguyễn Tri Phương thua phải lui về giữ đồn Nại
Hiên và đồn Liên Trì.
Trung tướng muốn nhân dịp đó mà định việc giảng hòa, nhưng mà
Triều đình cứ để lôi thôi mãi, người thì bàn hòa, kẻ thì bàn đánh, thành ra
không xong việc gì cả 1.
Mà quân Pháp lúc bấy giờ ở Đà Nẵng khổ sở lắm, nhiều người có bệnh tật; trung
tướng Rigault de Genouilly cũng đau, phải xin về nghỉ.
Chính phủ Pháp sai hải quân thiếu tướng Page (Ba-du) sang
thay cho trung tướng Rigault de Genouilly và nhân thể để chủ việc giảng hòa cho
xong. Đến tháng 10 năm kỷ mùi (1859) thì thiếu tướng sang đến nơi, và cho người
đưa thư bàn việc hòa, chỉ cốt xin đừng cấm đạo, để cho các giáo sĩ được tự do
đi giảng đạo, đặt lĩnh sự coi việc buôn bán ở các cửa bể và đặt sứ thần ở Huế.
Đại để thì cũng như những điều của ông Montigny đã bàn năm trước. Nhưng chẳng
may lúc bấy giờ ở trong Triều không ai hiểu chính sách ngoại giao mà chủ trương
việc ấy, hóa ra làm mất cái dịp hay cả cho hai nước.
Thiếu tướng thấy cuộc hòa không xong bèn tiến binh lên đánh,
trận ấy bên quân Pháp chết mất một viên lục quân trung tá là Dupré Déroulède.
Khi quân Pháp và quân I Pha Nho sang đánh nước ta ở Đà Nẵng
và Gia Định, thì quân nước Anh và quân nước Pháp đang đánh nước Tàu ở mạn Hoàng
Hải. Đến bấy giờ quân Pháp cần phải tiếp sang bên Tàu, chính phủ nước Pháp mới
truyền cho thiếu tướng Page phải rút quân ở Đà Nẵng về, và chỉ để quân giữ lấy
Gia Định, còn bao nhiêu binh thuyền phải đem sang theo hải quân trung tướng
Charner đi đánh Tàu. Bởi vậy đến tháng ba năm canh thân (1860) quân Pháp đốt cả
dinh trại ở Trà Sơn rồi xuống tàu. Về đến Gia Định, thiếu tướng Page để hải
quân đại tá d'Ariès ở lại giữ Gia Định, còn bao nhiêu binh thuyền đem lên phía
bắc hội với binh thuyền của nước Anh để đánh nước Tàu.
Triều đình ở Huế thấy quân Pháp bỏ Đà nẵng đi, bèn sai Nguyễn
Tri Phương, Phạm Thế Hiển vào Nam Kỳ, để cùng với ông Tôn Thất Hợp sung Gia Định
quân thứ.
Đến tháng 7 năm canh thân (1860) ông Nguyễn Tri Phương khởi
hành. Lúc gần đi, ông ấy có tâu bày mấy lẽ về việc giữ nước và nói rằng việc
đánh nhau với nước Pháp bây giờ khó gắp năm gấp bảy lúc trước, nhưng ông ấy xin
cố hết sức để đền ơn nước, còn ở mặt Quảng Nam mà có việc gì, thì ông Phan
Thanh Giản và ông Nguyễn Bá Nghi có thể cáng đáng được.
Quân Pháp và quân I Pha Nho ở Sài gòn lúc bấy giờ chỉ có độ
1.000 người mà quân của Việt Nam ta thì có đến hơn một vạn người. Nhưng mà quân
ta đã không luyện tập, lại không có súng ống như quân Tây. Mình chỉ có mấy khẩu
súng cổ, bắn bằng đá lửa, đi xa độ 250 hay là 300 thước tây là cùng; còn súng đại
bác thì toàn là súng nạp tiền mà bắn mười phát không đậu một. Lấy những quân
lính ấy, những khí giới ấy mà đối địch với quân đã lập theo lối mới, thì đánh
làm sao được. Bởi vậy cho nên xem trận đồ của Việt Nam ta từ đầu cho đến cuối,
chỉ có cách đào hầm đào hố để làm thế thủ, chứ không bao giờ có thế công, mà
người Tây thì lợi cả công lẫn thủ. Tuy vậy ông Nguyễn Tri Phương cùng với quan
tham tán đại thần Phạm Thế Hiển vào xếp đặt ở Gia Định một cách rất có quy cũ,
đắp dãy đồn Kỳ Hòa (người Pháp gọi là dãy đồn Chí Hóa) cũng hợp quy thức, để chống
nhau với quân của đại tá d'Ariès. Hai bên đã từng đánh nhau hai ba trận, đều bị
thiệt hại cả.
Đến tháng 9 năm canh thân (1860), thì nhà Thanh bên Tàu ký tờ
hòa ước với nước Anh và nước Pháp, hai bên bãi sự chiến tranh. Chính phủ nước
Pháp sai hải quân trung tướng Charner đem binh thuyền về chủ trương việc lấy
Nam Kỳ.
Tháng giêng năm tân dậu (1861) trung tướng Charner đem cả thảy
70 chiếc tàu và 3.500 quân bộ về đến Gia Định 2.
Được 20 ngày thì trung tướng truyền lệnh tiến quân lên đánh lấy đồn Kỳ Hòa. Hai
bên đánh nhau rất dữ trong hai ngày. Quân Pháp chết hơn 300 người, nhưng mà
súng Tây bắn hăng quá, quân ta địch không nổi, phải thu bỏ đồn chạy về Biên
Hòa.
Trận ấy bên Tây thì có lục quân thiếu tướng Vassoigne, đại tá
I Pha Nho Palanca và mấy người nữa bị thương, mà bên ta thì ông Nguyễn Tri
Phương bị thương, em ngài là Nguyễn Duy tử trận, quan tham tán là Phạm Thế Hiển
về đến Biên Hòa được mấy hôm thì mất, còn quân sĩ thì chết hại rất nhiều.
3. Mất Tỉnh Định Tường.
Phá được đồn Kỳ Hòa rồi, trung tướng Charner truyền cho quân
thủy bộ tiến lên đuổi đánh, quan quân vỡ tan cả.
Tàu thủy của Pháp lên lấy Thủ Dầu Một và Tây Ninh. Trung tướng
lại sai người đưa thư sang cho vua Cao Miên là Norodom (Nặc Ông Lân), đại lược
nói rằng: chủ ý của Pháp định lấy đất Gia Định làm thuộc địa, và nay mai sẽ
đánh lấy Mỹ Tho (Định Tường) để cho tiện đường lưu thông với nước Cao Miên.
Bấy giờ bại quân của Nguyễn Tri Phương rút về đóng ở Biên
Hòa, còn đang rối loạn, chưa dám làm gì, quân Pháp bèn quay về phía tây đánh tỉnh
Định Tường. Trước trung tướng đã cho tàu đi dò các ngọn sông xem đi đường nào
tiện, đến cuối tháng 2 năm tân dậu (1861), một mặt trung tướng sai trung tá
Bourdais đem tàu đi đường sông, tiến lên đánh các đồn, một mặt thì sai thiếu tướng
Page đi đường bể, theo cửa sông Mê-kong vào, hai mặt cùng tiến lên đánh lấy
thành Mỹ tho. Quan hộ đốc là Nguyễn Công Nhàn phải bỏ thành chạy.
Từ khi hạ xong thành Mỹ Tho rồi, trung tướng đặt đồn lũy ở
các nơi hiểm yếu, và có ý hoãn việc binh để sửa sang việc cai trị trong địa hạt
đã lấy được, cho nên cũng không đánh các tỉnh khác.
Triều đình ở Huế được tin quan quân thất thủ đại đồn Kỳ Hòa,
và thành Mỹ Tho cũng thất thủ rồi, sai quan thượng thư Hộ bộ là Nguyễn Bá Nghi
làm Khâm sai đại thần vào kinh lý việc Nam kỳ. Nguyễn Bá Nghi biết thế chống
không nổi với quân Pháp, dâng sớ về xin giảng hòa. Nhưng ở trong triều lúc bấy
giờ có bọn Trương Đăng Quế không chịu, bắt phải tìm kế chống giữ.
Có nhà chép sử trách Nguyễn Bá Nghi rằng tuy ông ấy muốn giảng
hòa, nhưng không chịu nhường đất, cứ lấy lý mà cãi, chứ không biết rằng thời buổi
cạnh tranh này, hễ cái sức đã không đủ, thì không có cái lý gì là phải cả. Vả
chăng quân nước Pháp đã sang đánh lấy mấy tỉnh ở Nam Kỳ, là cốt để làm thuộc địa,
lẽ nào tự nhiên lại đem trả lại. Bởi vậy sự giảng hòa cứ lôi thôi mãi không
xong. Mà ở trong địa hạt tỉnh Gia Định và tỉnh Định Tường lúc ấy lại có mấy người
như tri huyện Toại, phó quản cơ Trương Định, Thiên hộ Dương rủ những người
nghĩa dũng nổi lên đánh phá quân Pháp. Quân Pháp cứ đánh dẹp mãi dân tình cũng
bị lắm điều cực khổ.
Đến tháng 10 năm tân dậu (1861), chính phủ Pháp sai hải quân
thiếu tướng Bonard sang thay cho trung tướng Charner về nghỉ.
4. Mất Tỉnh Biên Hòa và Tỉnh Vĩnh Long.
Thiếu tướng Bonard thấy quan quân ta cứ chống giữ mãi, bèn
quyết ý đánh lấy tỉnh Biên Hòa và tỉnh Vĩnh Long. Đến tháng 11 năm ấy, thì quân
Pháp chia ra làm 3 đạo, cùng tiến lên đánh lấy thành Biên Hòa, rồi lại tiến lên
mặt đông nam đánh lấy đồn Bà Rịa. Qua tháng 3 năm sau là năm nhâm tuất (1862),
thiếu tướng Bonard lại đem 11 chiếc tàu và hơn 1.000 quân đi đánh Vĩnh Long. Tỉnh
thần ở đấy chống giữ được 2 ngày thì thành phá. Tổng đốc Trương Văn Uyển phải
đem quân lui về phía tây sông Mê-kong.
5. Hòa Ước Năm Nhâm Tuất (1862).
Lúc bấy giờ ở ngoài Bắc Kỳ có tên Phụng, tên Trường, đánh phá
ở mặt Quảng Yên và Hải Dương ngặt lắm, lại có Nguyễn Văn Thịnh, tục gọi là Cai
Tổng Vàng, quấy nhiễu ở Bắc Ninh, mà trong Nam Kỳ thì lại mất thêm hai tỉnh nữa.
Triều đình lấy làm lo sợ lắm, bèn sai Phan Thanh Giản và Lâm Duy Tiếp vào Gia Định
giảng hòa.
Đến tháng 4 thì sứ thần nước ta theo chiếc tàu Forbin 3 vào
Sài gòn. Đến hôm 9 tháng 5 thì thiếu tướng Bonard và sứ thần nước Nam ta là ông
Phan Thanh Giản và ông Lâm Duy Tiếp ký tờ hòa ước.
Tờ hòa ước ấy có 12 khoản, nhưng cốt có những khoản sau này
là quan trọng hơn cả: 1. Nước Nam phải để cho giáo sĩ nước Pháp và nước I Pha
Nho được tự do vào giảng đạo, và để dân gian được tự do theo Đạo. 2. Nước Nam
phải nhường đứt cho nước Pháp tỉnh Biên Hòa, tỉnh Gia Định và tỉnh Định Tường,
và phải để cho chiến thuyền của Pháp được ra vào tự do ở sông Mékong. 3. Nước
Nam không được đem binh khí, thuốc đạn đi qua những tỉnh đã nhường cho nước
Pháp. 4. Hễ nước Nam có giao thiệp với nước nào khác thì phải cho chính phủ
Pháp biết, và khi nào muốn nhường đất cho nước nào, thì phải tùy ý nước Pháp có
thuận cho mới được. 5. Người nước Pháp và nước I Pha Nho được ra vào buôn bán tự
do ở cửa Đà Nẵng, cửa Ba Lạt và cửa bể ở Quảng Yên. 6. Nước Nam phải trả tiền
binh phí 4.000.000 nguyên, chia làm mười năm, mỗi năm 40 vạn nguyên. 7. Nước
Pháp trả tỉnh Vĩnh Long lại cho nước Nam, nhưng quân Pháp cứ đóng ở tỉnh lỵ cho
đến khi dẹp yên giặc giã ở tỉnh Gia Định và tỉnh Định Tường thì mới rút về.
Sự giảng hòa xong rồi thì triều đình sai ông Phan Thanh Giản
làm tổng đốc Vĩnh Long, ông Lâm Duy Tiếp làm tuần phủ Khánh Thuận, để giao thiệp
với quan nước Pháp ở Gia Định.
Bấy giờ nước I Pha Nho cũng nhường quyền lấy đất làm thuộc địa
cho nước Pháp, chỉ nhận tiền binh phí và quyền được cho giáo sĩ đi giảng đạo
thôi.
Tháng 2 năm quý hợi (1863) là năm Tự Đức thứ 4,
thiếu tướng Bonard và đại tá nước I Pha Nho là Palanca vào Huế triều yết vua Dực
Tông để công nhận sự giảng hòa của ba nước. Đoạn rồi thiếu tướng Bonard về Pháp
nghĩ. Hải quân thiếu tướng De la Grandière sang thay.
6. Sứ Việt Nam Sang Tây.
Vua Dực Tông tuy thế bất đắc dĩ phải nhường đất ba tỉnh Nam Kỳ
cho nước Pháp, nhưng trong bụng vẫn muốn cố hết sức để chuộc lại, vì là đất Gia
Định là đất khai nghiệp của nhà Nguyễn và lại là đất quê ngoại của ngài, nên
chi hòa ước đã ký rồi, mà ngài vẫ sai quan thương nghị với quan nước Pháp về việc
ấy. Mà chủ ý người nước Pháp lúc bấy giờ thì không những là chỉ giữ lấy ba tỉnh
mà thôi, lại còn định mở rộng thêm ra nữa. Vậy lẽ nào lại đem trả lại cho mình?
Vua Dực Tông thấy việc bên này bàn không xong, bèn sai quan
hiệp biện đại học sĩ Phan Thanh Giản, quan tả tham tri lại bộ Phạm Phú Thứ và
quan án sát sứ tỉnh Quảng Nam là Ngụy Khắc Đản đem phẩm vật sang sứ nước Pháp
và I Pha Nho. Còn việc giao thiệp ở trong Nam Kỳ thì giao lại cho quan tổng đốc
tỉnh Vĩnh Long là Trương Văn Uyển.
Tháng 6, các sứ thần xuống tàu "Echo" vào Gia Định,
rồi sang tàu "Européen" cùng với quan nước Pháp và quan nước I Pha
Nho sang Tây. Đến tháng 8 thì tàu "Européen" về tới nước Pháp, sứ thần
nước ta lên Paris, xin vào triều yết Pháp Hoàng Nã Phá Luân đệ tam. Nhưng bấy
giờ Pháp Hoàng sắp đi ngự mát, sứ thần ta phải ở lại chờ đến hơn một tháng mới
được yết kiến. Ông Phan Thanh Giản tây bày mọi lẽ về việc xin chuộc ba tỉnh Nam
Kỳ. Pháp Hoàng ban rằng việc đó để đình nghị xem thế nào rồi sau sẽ trả lời cho
Triều Đình Huế.
Mấy hôm sau, bọn ông Phan Thanh Giản đi sang I Pha Nho, rồi đến
cuối năm thì các sứ thần xuống tàu "Japon" trở về.
7. Việc Bảo Hộ Cao Miên.
Trong khi sứ nước ta sang Tây lo việc chuộc lại mấy tỉnh ở
Nam Kỳ, thì ở bên này thiếu tướng De La Grandière một mặt cứ đánh dẹp mọi nơi,
xếp đặt cách cai trị, định thuế lệ và mở trường dạy chữ Pháp và chữ quốc ngữ 5,
một mặt sai quan đi kinh doanh việc bảo hộ nước Cao Miên (Chân Lạp).
Nguyền từ năm kỷ mùi (1859), vua nước Cao Miên là An Dương (tức
là Nặc Ông Tôn) mất rồi, người con trưởng tên là Norodom (Ông Lân) lên nối
ngôi. Đến năm tân dậu (1861), thì người em Norodom là Si-Vattha nổi lên tranh
ngôi của anh. Norodom phải chạy sang Tiêm La. Sang năm nhâm tuất (1862) vua
Tiêm La sai quân đem Norodom về nước, rồi đặt quan ở Ô- đông để bảo hộ Cao
Miên.
Lúc bấy giờ ở Cao Miên có ông giám mục tên là Miche khuyên
vua Norodom về với nước Pháp thì Tiêm La không dám bắt nạt. Bên này thiếu tướng
De La Grandière cũng sai đại úy Doudart de Lagrée sang kinh doanh việc bảo hộ
Cao Miên. Ông Doudart de Lagrée sang Cao Miên trong một năm trời thu xếp mọi việc,
đến năm giáp tí (1864) thì nước Tiêm La phải rút quân về, nhường quyền bảo hộ
cho nước Pháp.
8. Nước Pháp Lấy Ba Tỉnh Phía Tây Đất Nam Kỳ.
Ở bên Pháp lúc bấy giờ chính phủ cũng còn phân vân, chưa quyết
hẳn lấy hay là trả đất Nam Kỳ, mà Pháp Hoàng thì thấy đường xá xa xôi cũng ngại,
bèn sai hải quân trung tá Aubaret (Ha-ba-lý) sang điều đình với Triều đình ở Huế
về việc cho chuộc ba tỉnh Nam Kỳ.
Vua Dực Tông lại sai quan Lại Bộ thượng thư là ông Phan Thanh
Giản ra sung chức toàn quyền cùng với Trần Tiễn Thành và Phan Huy Vịnh để thương
nghị với sứ thần nước Pháp.
Ông Aubaret đưa bản thảo tờ hòa ước, đại lược nói rằng: Nước
Pháp trả lại ba tỉnh Gia Định, Biên Hòa và Định Tường cho nước Nam, chỉ giữ
Sàigòn, Mỹ Tho và Thủ Dầu Một để đóng quân. Nhưng nước Nam phải để nước Pháp được
quyền bảo hộ cả 6 tỉnh Nam Kỳ. Nước Nam lại phải chịu mỗi năm là 2.000.000
nguyên tiền thuế.
Sứ hai nước cứ bàn đi bàn lại mãi không xon, mà ở bên Pháp
thì có nhiều người không muốn trả lại đất Nam Kỳ. Cuối năm giáp tí (1864) quan
thượng thư Hải quân bộ là hầu tước De Chasseloup Laubat dâng sớ tâu với Pháp
Hoàng nhất định xin không cho nước Nam chuộc ba tỉnh. Pháp Hoàng nghe lời ấy
bèn xuống chỉ truyền cứ chiếu tờ hòa ước năm nhâm tuất (1862) mà thi hành.
Năm ất sửu (1865), quan thượng thư De Chasseloup Laubat muốn
biết rõ tình thế bên Việt Nam này, bèn gọi thiếu tướng De La Grandière về hội
nghị và sai hải quân thiếu tướng Roze sang thay. Thiếu tướng De la Grandière về
Pháp cả đi lẫn về mất 7 tháng, lại trở sang kinh lý việc Nam Kỳ.
Lúc bấy giờ ở ba tỉnh của Pháp đã thành nếp rồi, thiếu tướng
De la Grandière ở Pháp sang đã quyết ý lấy nốt ba tỉnh phía tây. Lại nhân từ
khi trước nước Pháp sang lấy Nam Kỳ, người bản xứ thỉnh thoảng vẫn nổi lên đánh
phá, quân Pháp dẹp mãi không yên. Ở Cao Miên lại có tên sư Pu kầm Bô xưng là
cháu Nặc Ông Chân cũng nổi lên đánh vua Norodom. Súy phủ ở Sài gòn đổ cho quan
Việt Nam xui giục và giúp đỡ những người làm loạn, bèn sửa soạn việc lấy tỉnh
Vĩnh Long, tỉnh An Giang và tỉnh Hà Tiên.
Ở Huế tuy triều đình còn cứ mong chuộc lại đất ba tỉnh, nhưng
vẫn biết ý súy phủ ở Sài gòn rồi tất lấy cả ba tỉnh phía tây, cho nên năm bính
dần (1866), lại sai ông Phan Thanh Giản vào làm kinh lược sứ để tìm kế chống giữ.
Ở bên Pháp, thì từ năm đinh mão (1867), hải quân trung tướng
Rigault de Genouilly lên làm thượng thư hải quân bộ 6 ra
sức giúp thiếu tướng De la Grandière cho xong việc. Bởi vậy súy phủ ở Sài gòn chỉ
đợi dịp để khởi sự.
Tháng 6 năm đinh mão (1867) là năm Tự Đức thứ 20, thiếu tướng
De la Grandière hội hơn 1.000 quân ở Mỹ Tho, rồi định ngày kéo sang lấy Vĩnh
Long, An Giang và Hà Tiên. Ông Phan Thanh Giản biết thế không chống nổi, bảo
các quan đành chịu nộp thành trì cho khỏi sự tai hại, rồi ông uống thuốc độc mà
tự tận, dặn lại con cái phải cày ruộng mà ăn, chứ không được nhận quan chức gì ở
Nam Kỳ.
Bấy giờ ông đã già, đã ngoài 74 tuổi, làm quan thật là thanh
liêm, nhưng chẳng may gặp phải khi nước có biến, biết thế mình không làm gì được,
đem tấm lòng son sắt mà báo đền ơn nước cho hết bổn phận người làm tôi.
Từ đó đất Nam kỳ toàn cảnh thành ra đất thuộc địa của Pháp,
thuế má, luật lệ, điều gì cũng do súy phủ ở Sài gòn quyết định cả.
Ghi chú:
1.
|
Chỗ này sách tây có quyển chép rằng khi hai bên đang bàn việc
hòa, thì vua Tự Đức sai ông Nguyễn Tri Phương đánh quân Pháp ở Gia Định. Vả
xem sử ta lúc bấy giờ thì ông Nguyễn Tri Phương đang còn ở Quảng Nam mãi đến
tháng 5 năm canh thân (1860), ông ấy mới vào Nam Kỳ. Vậy việc đánh ở Gia Định
là ông Tôn Thất Hợp, chứ không phải là ông Nguyễn Tri Phương.
|
2.
|
Sử ta chép rằng quân Pháp lúc bấy giờ có hơn 1 vạn người,
mà các sách chép việc lấy Nam Kỳ thì chỉ nói có 3.500 người thôi và trong số ấy
lại có mấy đội lính mộ An Nam nữa. Thiết tưởng số 3.500 có lẽ thật hơn.
|
3.
|
Nguyên trước thiếu tướng Bonard có sai trung tá Simon đem
chiếc tàu Forbin vào cửa Thuận An để đợi xem triều đình ở Huế có xin hòa
không. Nay chiếc tàu ấy đem thuyền của sứ thần Việt Nam ta về Gia Định.
|
4.
|
Nguyên người nuớc ta tự xưa tuy có tiếng nói riêng mà không
có chữ viết. Học hành, văn chương, án từ, việc gì cũng làm bằng Hán tự cả. Từ
đời nhà Trần về sau đã có người dùng Hán Tự mà đặt ra chữ Nôm để viết tiếng
Quốc Ngữ. Nhưng mà những nhà văn học không hay dùng đến chữ nôm. Đến cuối đời
nhà Lê có các giáo sĩ Bồ Đào Nha sang giảng đạo ở nước ta, thấy hán tự khó học
và không mấy người hiểu, mới mượn chữ La Tinh mà đặt ra chữ quốc ngữ, để cho
tiện sự giảng dạy. Ngày nay ta cũng nhờ có chữ quốc ngữ ấy mà làm thành ra nước
ta có một lối chữ riêng rất tiện.
|
5.
|
Lúc bấy giờ Hải quân bộ kiêm cả Thuộc địa bộ.
|
Chương 8
Giặc giã ở trong nước
Giặc giã ở trong nước
1. Việc rối loạn trong nước
2. Giặc Tam-đường
3. Giặc châu-chấu
4. Giặc tên Phụng
5. Sự phản-nghịch ở Kinh-thành
6. Giặc Khách ở Bắc-kỳ
2. Giặc Tam-đường
3. Giặc châu-chấu
4. Giặc tên Phụng
5. Sự phản-nghịch ở Kinh-thành
6. Giặc Khách ở Bắc-kỳ
1. Việc rối loạn trong nước.
Vua Dực-tông vốn là ông vua có lòng chăm-chỉ về việc trị dân,
ngay từ năm canh-tuất (1850), là năm Tự-đức thứ 3, ngài đã sai ông Nguyễn Tri
Phương làm Kinh-lược đại-sứ 6 tỉnh Nam- kỳ; ông Phan Thanh Giản làm Kinh-lược đại-sứ
Bình-định, Phú-yên, Khánh- hòa và Bình-thuận; Ông Nguyễn Đăng Giai làm Kinh-lược
đại-sứ Hà tĩnh, Nghệ An và Thanh-hóa. Các ông ấy đi khám-xét công việc các
quan-lại và sự làm ăn của dân gian, có điều gì hay dở phải sớ tâu về cho vua biết.
Tuy vậy mặc lòng, không có đời nào lắm giặc giã bằng đời ngài
làm vua. Chỉ được vài ba năm đầu thì còn có hơi yên trị, còn từ năm tân hợi
(1851) là năm Tự Đức thứ 4 trở đi, thì càng ngày càng nhiều giặc. Mà nhất là đất
Bắc-kỳ là có nhiều giặc hơn cả, bởi vì đất Bắc-kỳ là đất của nhà Lê cũ, dân
tình cũng có nhiều người tưởng nhớ đến tiền triều, nên chỉ những người muốn làm
loạn, hoặc tự nhận là giòng dõi nhà Lê, hoặc tìm một người nào giả nhận dòng
dõi nhà Lê, rồi tôn lên làm minh chủ để lấy cớ mà khởi sự.
Lại nhân lúc bấy giờ bên Tàu có giặc Thái-bình nổi lên đánh
nhà Thanh, đến khi giặc ấy tan thì dư đảng chạy tràn sang nước ta cướp phá ở mạn
thượng du. Nào giặc khách, nào giặc ta, quan quân cứ phải đi đánh dẹp luôn. ở
trong nước thì thỉnh thoảng lại có tai biến, như nước lụt, đê vỡ, v. v. Ở
Hưng-yên, đê Văn-giang vỡ 18 năm liền, cả huyện Văn-giang thành bãi cát bỏ
hoang, dân gian đói khổ, nghề nghiệp không có, cho nên người đi làm giặc càng
ngày càng nhiều vậy.
Năm Tân hợi (1851) là năm Tự Đức thứ 4, có giặc khách là bọn
Quảng nghĩa Đường, Lục thắng Đường, Đức thắng đường, v. v... tục gọi là giặc
Tam-đường, quấy nhiễu ở mặt Thái-nguyên, vua sai ông Nguyễn đăng Giai ra kinh
lược Bắc-kỳ. Ông ấy dùng cách khôn khéo dụ được chúng nó về hàng. Bởi vậy trong
hạt lại được yên một độ. Nhưng đến cuối năm giáp dần (1854) là năm Tự Đức thứ
7, Nguyễn đăng Giai mất, đất Bắc-kỳ lại có loạn.
3. Giặc châu-chấu.
Năm Tự Đức thứ 7 (1854), ở tỉnh Sơn-tây có một bọn người đem
Lê duy Cự là dòng dõi nhà Lê ra lập lên làm minh chủ để khởi sự đánh nhà Nguyễn.
Lúc bấy giờ có Cao bá Quát, người làng Phú- thụy, huyện Gia-lâm, tỉnh Bắc-ninh,
thi đỗ cử nhân, ra làm quan, được bổ chức giáo-thụ phủ Quốc-oai (Sơn tây). Cao
bá Quát có tiếng là người văn- học giỏi ở Bắc-kỳ, mà cứ bị quan trên đè nén,
cho nên bức chí, bỏ quan về đi dạy học, rồi theo bọn ấy xưng là quốc sư để dấy
loạn ở vùng Sơn-tây và Hà-nội. Tháng chạp năm ấy quan phó Lĩnh-binh tỉnh
Sơn-tây là Lê Thuận đi đánh bắt được Cao bá Quát đem về chém tại làng.
Nhân vì mùa tháng năm ấy ở vùng tỉnh Bắc-ninh và Sơn-tây có
nhiều châu-chấu ra phá hại mất cả mùa màng, rồi đến cuối năm lại có giặc ấy,
cho nên người thời bấy giờ gọi là giặc châu-chấu.
Cao bá Quát chết đi rồi, Lê duy Cự còn quấy rối đến mấy năm
sau mới dẹp yên được. Từ đó trở đi, không năm nào là năm không có giặc, nhưng
kiệt-hiệt hơn cả là có giặc tên Phụng và giặc Khách ở mạn Thượng- du.
4. Giặc tên Phụng.
Năm tân dậu (1861), quân nước Pháp và nước I- pha-nho sang
đánh Quảng-nam, có mấy người ở Bắc-kỳ theo vào làm lính mộ. Trong ấy có tên Tạ
văn Phụng, trước đã theo giáo-sĩ ra ngoại-quốc đi học đạo, sau lại theo trung
tướng Charner về đánh Quảng-nam.
Đến tháng chạp thì tên Phụng ra Bắc-kỳ, mạo xưng là Lê duy
Minh dòng dõi nhà Lê, rồi tự xưng là minh-chủ, cùng với một người đạo-trưởng
tên là Trường làm mưu-chủ, và tên Ước, tên Độ dấy binh ở Quảng-yên. Đảng tên Phụng
đem quân giặc Khách ở ngoài bể vào đánh lấy phủ Hải- ninh, rồi lại thông với giặc
Khách và giặc ta ở các tỉnh, để làm loạn ở Bắc-Kỳ.
Tháng ba năm nhâm-tuất (1862), ở Bắc-ninh có tên cai-tổng
Nguyễn văn Thịnh (tục gọi là cai tổng Vàng) xưng làm nguyên-súy, lập tên Uẩn mạo
xưng là con cháu nhà Lê, lên làm minh-chủ, rồi nhập đảng với tên Phụng, đem
binh đi đánh phủ Lạng-giang, huyện Yên-dũng, và vây thành Bắc-ninh.
Bấy giờ quan bố chính ở Hà-nội là Nguyễn khắc Thuật, quan bố-
chính tỉnh Sơn-tây là Lê Dụ và quan phó lĩnh-binh tỉnh Hưng-yên là Vũ Tảo đem
quân ba tỉnh về đánh giải vây cho tỉnh Bắc. Vũ Tảo đánh nhau với quân giặc hơn
10 trận mới phá được quân giặc.
Phía đông thì tên Phụng vây thành Hải-dương, tỉnh-thần dâng sớ
cáo-cấp. Triều đình bèn sai quan Thượng-thư bộ Hình là Trương quốc Dụng ra làm
tổng-thống Hải-an 1 quân-vụ,
cùng với Phan tam Tỉnh, Đặng Hạnh, Lê Xuân, đem quân Kinh và quân Than, Nghệ ra
tiến-tiễu. Lại sai Đào Trí làm tham-tán đại-thần, Nguyễn bá Nghi làm
Sơn-Hưng-Tuyên 2 tổng-đốc,
để cùng với Trương quốc Dụng đánh giặc ở Bắc-kỳ.
Lúc ấy, tỉnh Thái Nguyên thì có giặc Nông và giặc Khách đánh
phá, tỉnh Tuyên Quang thì có bọn tên Uẩn, tên Nông hùng Thạc quấy nhiễu, tỉnh
Cao-bằng thì bị tên Giặc Khách Lý hợp Thắng vây đánh, tỉnh Bắc-ninh thì có cai
tổng Vàng cướp phá, các quan to la rối cả lên. Vua Dực-tông sai Nguyễn tri
Phương ra làm tây-bắc-tổng-thống quân-vụ đại-thần, cùng với Phan đình Tuyển và
Tôn thất Tuệ ra đánh mặt Bắc-ninh, Thái-nguyên và Tuyên-quang.
Tháng 3 năm quí-hợi (1863) Vũ Tảo đánh lấy lại thành
Tuyên-quang và bắt được tên Uẩn đóng củi giải về trị tội. Qua tháng 4, Nguyễn
tri Phương dẹp xong giặc ở Bắc-ninh, rồi đem binh lấy lại thành Thái-nguyên, bắt
được tên Thanh, tên Đắc, tên Vân và lại phá được sào huyệt của giặc ở núi
Ma-hiên, thuộc châu Bạch-thông.
Còn ở mặt Hải-dương và Quảng-yên, thì tuy Trương quốc Dụng và
Đào Trí đã giải được vây cho thành hải-dương, nhưng thế quân giặc ở mặt bể còn
mạnh lắm. Vua Dực-tông lại sai Nguyễn tri Phương làm tổng-thống hải-an quân-vụ,
Trương quốc Dụng làm hiệp-thống đem quân ra đánh mặt ấy.
Lúc bấy giờ bọn tên Phụng có sai người vào cầu viện quan thiếu-
tướng Bonard ở trong Nam-kỳ, ước hễ lấy được Bắc-kỳ thì xin để nước Pháp bảo-hộ.
Nhưng vì trong Nam-kỳ còn lắm việc, mà sự giảng hòa với Triều- đình ở Huế đã sắp
xong, cho nên thiếu-tướng không nhận. Đảng tên Phụng vẫn chiếm giữ đất Quảng-yên
và những đảo ở ngoài bể, để làm sào huyệt,
Cuối năm quí-hợi (1863) là năm Tự-đức thứ 16, quân giặc họp
hơn 500 chiếc thuyền ở đảo Các-bà và ở núi Đồ-sơn, có ý muốn đem quân vào đánh
đất Kinh-kỳ, nhưng chẳng may phải bão, thuyền đắm mất nhiều. Quan đề-đốc là Lê
quang Tiến và quan bộ-phủ Bùi huy Phan được tin ấy liền đem quân ra đánh, bị
quân giặc tập hậu, quan quân bỏ chạy. Lê quang Tiến và Bùi huy Phan phải nhảy
xuống biển tự tận.
Đến tháng 6 năm giáp-tí (1864) là năm Tự-đức thứ 17, quan hiệp-
thống Trương quốc Dụng, quan tán-lý Văn đức Khuê, quan tán-tương Trần huy Sách
và quan chưởng-vệ Hồ Thiện đánh nhau với giặc ở đất Quảng-yên, bị giặc giết cả.
Trận ấy quan quân thua to, quân-sĩ thiệt hại rất nhiều.
Tháng 4 năm ất-sửu (1865), quân giặc đem 300 chiếc thuyền
phân ra làm 3 đạo vào cướp ở mạn Hải-dương. Nguyễn tri Phương sai Nguyễn văn VĨ
đem quân ra đón đánh, bắt và chém được rất nhiều. Từ đó quan đề-đốc Mai Thiện
quan tán-lý Đặng trần Chuyên, quan đốc-binh Ông ích Khiêm phá được quân giặc
hơn 10 trận, quân giặc lui về giữ mặt Hải-ninh.
Tháng 7 năm ấy, Nguyễn tri Phương sai Đặng trần Chuyên, Ông
ích Khiêm đem binh ra Quảng-yên, ước với quan nhà Thanh ở Khâm-châu để đánh lấy
lại thành Hải-ninh. Quân giặc thua to, đem hơn 70 chiếc thuyền chạy ra bể. Quan
quân đem binh thuyền ra đuổi đánh, tên Phụng, tên Ước thì chạy vào mạn Quảng-bình,
Quảng-trị, còn những đồ đảng, đứa thì phải bắt, đưa thì chạy trốn được. Sau tên
Phụng, tên Ước cũng bị bắt đem về trị tội ở Huế.
Giặc Phụng khởi từ cuối năm tân-dậu (1861) đến cuối năm ất-sửu
(1865) mới dẹp xong, kể vừa 4 năm trời, nhà nước tổn hại rất nhiều. Khi giặc Phụng
ở Quảng-yên dẹp gần xong, thì ở mạn Cao-bằng đã có giặc Khách đánh lấy tỉnh-thành.
Quan kinh-lược Võ trọng Bình và quan tuần-phủ Phạm chi Hương đem binh lên Lạng-sơn
rồi chia quân đi đánh các nơi, từ tháng 9 năm ất-sửu (1865) cho đến tháng 3 năm
bính-dần (1866), thì tướng giặc là Trương cận Bang mới xin về hàng, và mới thu
phục lại được thành Cao-bằng.
Nguyễn tri Phương và Võ trọng Bình về Kinh coi việc triều-chính.
5. Sự phản-nghịch ở Kinh-thành.
Việc ngoài Bắc mới hơi nguôi-nguôi, thì Kinh-đô lại có việc
làm cho náo động lòng người.
Nguyên vua Dực-tông là con thứ mà được nối ngôi, là vì người
anh ngài là Hồng Bảo phóng đãng, không chịu học hành cho nên không được lập.
Ông ấy lấy điều đó làm tức giận, bèn đồ-mưu với một nước ngoại quốc để tranh
ngôi vua. Chẳng may sự lộ ra, ông ấy phải bỏ ngục, rồi uống thuốc độc mà chết.
Còn con ông thì được tha mà phải đổi tên là Đinh Đạo
Đến năm bính dần (1866) là năm Tự-đức thứ 19, nhà vua đang
xây Vạn-niên-cơ tức là Khiêm-lăng bây giờ, quân-sĩ phải làm lụng khổ sở, có nhiều
người oán giận. Bấy giờ ở Kinh có Đoàn Trưng cùng vơi em là Đoàn hữu Ái, Đoàn
tư Trực, và bọn Trương trọng Hòa, Phạm Lương kết làm " Sơn- đông-thi-tửu-hộ"
để mưu việc lập Đinh Đạo lên làm vua. Bọn tên Trưng mới chiêu dụ những lính làm
làm ở Vạn-niên-cơ và cùng với qua hữu-quân Tôn thất Cúc làm nội ứng, định ngày
khởi sự.
Đến đêm hôm mồng 8 tháng 8, bọn tên Trưng đem quân vào cửa tả-dịch,
chực xông vào điện giết vua Dực-tông. May nhờ có quan chưởng-vệ là Hồ Oai đóng
được cửa điện lại, hô quân bắt được tên Trưng, tên Trực và cả bọn đồng đảng.
Đinh Đạo phải tội giảo, Tôn thất Cúc thì tự vẫn chết, còn các
quan có trách nhiệm đều phải chiếu tội nặng nhẹ, hoặc phải cách.
Lúc ấy ngoài thì có giặc cướp phá, trong thì có nghịch-thần
làm loạn. Ở mặt Quảng-nghĩa lại có giặc mọi Đá-vách cứ hay xuống quấy nhiễu
dân- gian, may nhờ có quan tiểu-phủ Nguyễn Tấn ra sức đánh dẹp mới yên được. Việc
giao thiệp với nước Pháp càng ngày càng khó. Ở Bắc-kỳ thì có giặc Khách một
ngày một mạnh, đến nỗi quan quân đánh không được, phải nhờ quân Tàu sang dẹp hộ.
Triều-đình cũng bối rối không biết tính ra thế nào cho khỏi được sự biến loạn.
6. Giặc Khách ở Bắc-kỳ.
Bên Tàu lúc bấy giờ cũng loạn: ngoài thì đánh nhau với nước
Anh-cát-lợi và nước Pháp-lan-tây. Triều đình phải bỏ Kinh-đô mà chạy; trong thì
có giặc Thái-bình nổi lên đánh phá, tí nữa ngôi vua nhà Thanh cũng đổ nát.
Nguyên từ năm Đạo-quang thứ 29, là năm kỷ-dậu (1849), tức là
bên ta năm Tự-đức thứ 2, ở Quảng-tây có tên Hồng tú Toàn cùng với bọn Dương tú
Thanh, Tiêu triều Quí, Lý tú Thành, nổi lên xưng là Thái-bình thiên-quốc, rồi
chiếm cứ đất Kim-lăng và các tỉnh phía nam sông Trường-giang. May nhờ có bọn
Tăng quốc Phiên, Tả tôn Đường, Lý hồng Chương, hết sức đánh dẹp, và lại có thế
lực ngoại quốc tư giúp, cho đến năm Đồng-trị thứ hai là năm quí-hợi (1863) tức
là bên ta năm Tự-đức thứ 16, quan nhà Thanh mới bắt được các tướng Thái-bình, Hồng
tú Toàn phải uống thuốc độc tự tử, triều đình nhà Thanh lại thu phục được các tỉnh
phía nam nước Tàu.
Lúc ấy có dư đảng của Hồng tú Toàn là bọn Ngô Côn chạy tràn
sang nước ta, trước còn nói xin hàng, rồi sau đem quân đi cướp phá các tỉnh,
quan quân đánh mãi không được. Năm mậu-thìn (1868) là năm Tự-đức thứ 21, Ngô
Côn chiếm giữ tỉnh thành Cao-bằng. Triều-đình sai quan tổng-đốc Phạm chi Hương
viết thư sang cho quan nhà Thanh để xin quân Tàu sang tiểu-trừ. Nhà Thanh sai
phó-tướng Tạ kế Quí đem quân sang cùng với quan tiểu-phủ Ông ích Khiêm và quan
đề-đốc Nguyễn viết Thành, đánh phá quân của Ngô Côn ở Thất-khê. Nhưng đến tháng
7 năm ấy, quân ta đánh thua ở Lạng-sơn, quan tham-tán Nguyễn Lệ, quan phó đề-đốc
Nguyễn viết Thành tử trận, quan thống-đốc Phạm chi Hương bị bắt.
Triều-đình sai Võ trọng Bình ra làm Hà-ninh tổng-đốc kiêm chức
Tuyên-Thái-Lạng quân-thứ khâm-sai đại-thần, để hội với quan đề-đốc tỉnh Quảng-tây
là Phùng tử Tài mà đánh giặc Ngô Côn.
Quân hai nước cùng đồng sức đánh dẹp, đến tháng 5 năm kỷ-tị
(1869) thì mới khôi phục lại được tỉnh-thành Cao-bằng. Đến cuối năm canh- ngọ
(1870), Ngô Côn đem quân vây đánh tỉnh-thành Bắc-ninh, quan tiểu- phủ Ông ích
Khiêm đánh một trận bắn chết Ngô Côn và phá tan quân giặc.
Ngô Côn tuy chết, song còn có những đồ-đảng là Hoàng sùng
Anh, hiệu cờ vàng, Lưu vĩnh Phúc, hiệu cờ đen, Bàn văn Nhị, Lương văn Lợi, hiệu
cờ trắng, vẫn cứ quấy-nhiễu ở mạn Tuyên-quang, Thái-nguyên, quan quân phải hết
sức chống giữ thật là vất vả. Triều-đình sai quan trung-quân Đoàn Thọ ra làm tổng-thống
quân-vụ ở Bắc-kỳ.
Đoàn Thọ vừa mới ra, kéo quân lên đóng ở tỉnh-thành Lạng-sơn,
bọn giặc Khách là Tô Tứ nổi lên, nửa đêm vào lấy thành, bắt ông ấy giết đi, còn
Võ trọng Bình thì vượt thành chạy thoát được.
Tin ấy vào đến Huế, Triều-đình vội vàng sai Hoàng kế
Viêm 3 ra
làm Lạng-Bình-Ninh-Thái thống-đốc quân-vụ đại thần, cùng với quan tán-tương Tôn
thất Thuyết đi dẹp giặc ở Bắc-kỳ. Qua tháng tư năm sau (1871), nhà vua lại sai
quan Hình-bộ thượng-thư là Lê Tuấn làm chức Khâm-sai thị-sự để cùng với ông
Hoàng kế Viêm lo việc đánh dẹp.
Tháng 11 năm tân-mùi (1871), ở Quảng-yên lại có tên Hoàng Tề
nổi lên, thông với giặc Tô Tứ và giặc Tàu-ô ở ngoài bể, rồi đem binh thuyền đi
cướp phá các nơi. Hoàng kế Viêm giữ mạn Sơn-tây, Lê Tuấn ra cùng với tỉnh thần
Hải-dương đem quân đi đánh giặc Tề. Được ít lâu, quân thứ-tỉnh Hải-dương bắn chết
tên Tề ở huyện Thanh-lâm, dư-đảng giặc ấy đều tan cả. Ở mạn thượng-du thì đảng
cờ đen là bọn Lưu vĩnh Phúc và đảng cờ vàng là bọn Hoàng sùng Anh quấy-nhiễu ở
đất Tuyên-quang. Bao nhiêu thuế má ở mạn ấy, chúng thu cả, sau hai đảng ấy lại
thù-khích nhau, đánh phá nhau thật là tàn-hại, đảng cờ đen về hàng với quan ta,
nhà vua bèn dùng Lưu vĩnh Phúc cho đất ở Lao-kay, được thu cả quyền lợi ở chỗ ấy,
để chống giữ với đảng cờ vàng, đóng ở mạn Hà-giang.
Đất Bắc-kỳ cứ giặc-giã mãi, quan quân đánh-dẹp thật là tổn-hại
mà không yên được. Đến tháng 7 năm nhâm-thân (1872), Triều-đình lại sai Nguyễn
tri Phương làm Tuyên-sát đổng-sức đại-thần ra thay mặt vua xem- xét việc đánh
giặc ở Bắc-kỳ. Nhưng lúc bấy giờ việc giặc ở trong nước chưa xong, thì sự
giao-thiệp với nước Pháp đã sinh ra lắm nỗi khó khăn, khiến việc nước lại rối
thêm ra nữa.
Ghi chú:
1.
|
Hải Dương và Quảng An
|
2.
|
Sơn Tây, Hưng Hóa và Tuyên Quang rồi cho binh thuyền đi cướp
phá khắp nơi. Quan quân đi đánh, nhiều người bị hại.
|
3.
|
Có sách chép là Hoàng Tá Viêm.
|
Chương 9
Quân Pháp Lấy Bắc Kỳ Lần Thứ I
Quân Pháp Lấy Bắc Kỳ Lần Thứ I
1. Người Pháp tìm đường sang Tàu
2. Đồ-phổ-Nghĩa
3. Đại-úy Francis Garnier ra Hà-nội
4. Hạ thành Hà-nội năm quí-dậu (1873)
5. Lấy mấy tỉnh ở Trung-châu
6. Đại-úy Francis Garnier chết
7. Ông Philastre ra Hà-nội
8. Hòa-ước năm giáp-tuất (1874)
2. Đồ-phổ-Nghĩa
3. Đại-úy Francis Garnier ra Hà-nội
4. Hạ thành Hà-nội năm quí-dậu (1873)
5. Lấy mấy tỉnh ở Trung-châu
6. Đại-úy Francis Garnier chết
7. Ông Philastre ra Hà-nội
8. Hòa-ước năm giáp-tuất (1874)
1. Người Pháp tìm đường sang Tàu.
Từ khi nước Pháp lấy xong đất Nam-kỳ rồi, Súy-phủ ở Sài-gòn sửa-sang
mọi việc, và cho người đi xem xét tình thế và sông núi ở Trung-kỳ và Bắc-kỳ để
mở mang sự giao- thông. Lại có ý muốn tìm đường thông sang nước Tàu, bởi vậy
tháng 5 năm bính-dần (1866), thiếu-tướng De la Grandière sai trung-tá Doudart
de Lagrée cùng với đại-úy Francis Garnier (Ngạc-nhi) và mấy người Pháp nữa theo
sông Mékong đi tìm đường sang Tàu. Đến tháng 3 năm mậu-thìn (1868), non hai năm
trời, ông Doudart de Lagrée mới sang đến đất Vân-nam. Nhưng chẳng may ông ấy phải
bệnh đau gan mà chết. Ông Francis Garnier đem xác ông ấy đi qua nước Tàu, rồi
xuống Tàu thủy về Sài-gòn.
Đến năm canh-ngọ (1870) là năm Tự-đức thứ 23, ở bên Tây, nước
Pháp đánh nhau với nước Phổ; quân Pháp thua, Pháp-hoàng là Nã-phá-luân đệ-tam bị
bắt. Dân nước Pháp bỏ đế-quốc mà lập Dân-chủ cộng-hòa. Tuy ở bên Pháp có sự chiến
tranh, nhưng ở bên Viễn-đông này, quân Pháp vẫn giữ vững đất Nam-kỳ. Vả Triều-đình
ở Huế còn bận dẹp giặc Khách ở Bắc-kỳ, cho nên cũng không sinh sự lôi-thôi gì cả.
2. Đồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis).
Thuở ấy, có một người Pháp tên là Jean Dupuis, ta gọi là Đồ-phổ-Nghĩa
mấy năm trước đã đi du lịch ở các tỉnh bên Tàu, để tìm cách buôn-bán, biết có
sông Hồng-hà từ đất Vân- nam chảy qua Bắc-kỳ ra bể, là một đường tiện lợi hơn,
bèn nhận với quan nhà Thanh ở Vân-nam để chở đồ binh-khí sang bán.
Đồ-phổ-Nghĩa về cùng với một người Pháp nữa tên là Millot,
buôn- bán ở Thượng-hải, trù-tính việc chở binh khí sang Vân-nam, đoạn rồi về
Pháp để mua hàng. Khi trở sang bên này, Đồ-phổ-Nghĩa vào Sài-gòn xin Súy-phủ
giúp thanh-thế cho để đi qua Bắc-kỳ. Viên thống-đốc Nam-kỳ lúc bấy giờ là lục-quân
thiếu-tướng d'Arhaud, có hứa với Đồ-phổ-Nghĩa cho chiếc tàu Bourayne đi theo.
Đồ-phổ-Nghĩa sang Hương-cảng để cùng với Millot đem ba chiếc
tàu con là Hồng-giang, Lao-kay và Sơn-tây chở đồ binh-khí và hàng-hóa vào Quảng-yên.
Trong lúc ấy hải-quân trung-tá Sénès đã đem tàu Bourayne ra Bắc-kỳ, rồi lên Hải-dương,
Hà-nội, Bắc-ninh đi xem các nơi.
Trung-tá ở Bắc-ninh nghe tin bọn Đồ-phổ-Nghĩa đã đến Quảng-yên,
liền trở ra để cùng bàn với quan Khâm-sai Lê Tuấn về việc thông-thương ở sông Hồng-hà.
Ông Lê Tuấn không có lệnh Triều-đình, không dám tự-tiện, nói
xin đợi vài mươi hôm để có mệnh nhà vua ra sẽ hay.
Đồ-phổ-Nghĩa và Millot thấy đợi lâu, bèn cứ đem tàu lên đóng ở
Hà- nội, rồi thuê thuyền chở đồ lên Vân-nam. Bấy giờ là cuối năm nhâm-thân
(1872), là năm Tự-đức thứ 25. Thuyền của Đồ-phổ-Nghĩa đi qua những đồn của quan
ta, của giặc cờ vàng và giặc cờ đen đều vô sự cả. Khi lên dến Vân- nam, quan
nhà Thanh cho chở đồ khoáng-vật xuống, đến thánh tư năm quí- dậu (1873), thì Đồ-phổ-Nghĩa
và Millot lại trở về đến Hà-nội, đem một bọn lính cờ vàng về theo. Millot thì
vào Sài-gòn cho Súy-phủ biết tình-thế ở Bắc- kỳ, và nhân thể đem đồ khoáng-vật
sang bán ở Hương-cảng. Còn Đồ-phổ- Nghĩa thì ở lại Hà-nội, đóng ở phố Mới bây
giờ, rồi cùng với mấy người Khách là Bàng lợi Ký, Quan tá Đình mua gạo, mua muối
chở lên Vân-nam.
Bấy giờ luật nước ta cấm không cho chở muối sang Tàu, mà việc
thông-thương ở sông Hồng-hà cũng chưa định rõ thế nào, nhưng Đồ-phổ- Nghĩa tự
xưng là có lệnh quan Tàu cho, thì không cần phải theo luật nước Nam, vì nước
Nam là một nước phải thần-phục nước Tàu.
Đồ-phổ-Nghĩa không hiểu rõ sự giao-thiệp nước Tàu và nước ta
ngày trước. Đối với Tàu thì bề ngoài nước ta tuy xưng cống-thần, nhưng kỳ thực
vẫn là độc-lập. Khi có việc gì, phải có sứ hai nước sang thương-nghị rồi mới
thi hành. Mà có khi sứ nước Tàu bàn sang điều gì, nước ta không thuận cũng
thôi, chứ không có phép tự-tiện mà làm được. Chỉ trừ lúc nào nước Tàu ỷ thế mạnh
mà bắt-nạt, như đời nhà Nguyên, nhà Minh, và nhà Thanh, thì lại có ông Trần
hưng Đạo, ông Lê thái Tổ và ông Nguyễn quang Trung tỏ cho người Tàu biết rằng
nước Nam vốn không phải đất thuộc-địa của Tàu.
Tuy vậy, quan ta phải nể Đồ-phổ-Nghĩa là người nước Pháp, sợ
có việc gì, thì thành ra bất-hòa với Súy-phủ ở Sài-gòn, cho nên cứ dùng lời nói
ngọt để can ông ấy đừng làm điều trái với luật nước. Nhưng ông ấy cứ một niềm tự
ý mình mà làm. Quan ta nhờ cả Giám-mục Puginier là Kẻ-sở lên can cũng không được.
Sau quân ta có bắt mấy tên Khách Bành lợi Ký và Quan tá Đình
về sự đem thuyền chở muối và gạo lên Vân-nam, thì Đồ-phổ-Nghĩa đem người đi bắt
quan phòng-thành Hà-nội và quan huyện Thọ-xương, đem xuống thuyền giam lại.
Quan ta cũng ngơ ngác không biết ra thế nào. Một bên thì cố tình sinh sự, một
bên thì mệnh nhà vua ra không được lôi thôi điều gì.
Bấy giờ Triều-đình sai quan hữu-tham-tri bộ Binh là Phan đình
Bình làm khâm-phái ra giao cho ông Nguyễn tri Phương phải thu-xếp cho yên chuyện
ấy. Ông Nguyễn tri Phương mới sai quan bố-chính là Vũ Đường định ngày mời Đồ-phổ-Nghĩa
đến hội-quán Quảng-đông, để hội nghị. Khi hai bên đến hội-đồng, quan ta nói rằng
sự giao-thiệp nước Pháp với nước Nam đã có tờ hòa-ước năm nhâm-tuất (1862), và
sự đem muối và gạo lên bán ở Vân- nam là trái với tờ hòa-ước ấy, và lại trái với
luật bản-quốc. Đồ-phổ-Nghĩa cãi rằng ông ấy có lệnh quan Tàu cho là đủ, không cần
phải xin phép gì nữa, rồi đứng dậy ra về.
Triều-đình ở Huế thấy việc lôi thôi mãi, sợ để lâu thành ra
nhiễu sự, mới sai ông Lê Tuấn, ông Nguyễn văn Tường và ông Nguyễn tăng Doãn vào
sứ Sài-gòn, để thương-nghị về việc ba tỉnh phía tây đất Nam-kỳ và nhân thể nhờ
Súy-phủ phân xử việc Đồ-phổ-Nghĩa cho xong.
3. Đại-úy Francis Garnier (Ngạc Nhi) ra Hà-nội.
Viên Thống-đốc Nam-kỳ bấy giờ là Hải-quân thiếu-tướng Dupré vốn
đã lưu ý về việc Bắc-kỳ. Trước đã viết thư về cho Thượng-thư thuộc-địa-bộ ở
Paris nói rằng: "Đất Bắc-kỳ là đất tiếp-giáp với những tỉnh tây-nam nước
Tàu, ta nên chiếm giữ lấy thì sự cai-trị của ta ở Viễn-đông này mới được chắc
chắn ".
Nhưng bên Pháp bấy giờ mới đang đánh nhau với nước Phổ vừa
xong, không muốn gây chuyện khác, bèn điện sang cho thiếu-tướng rằng:
"Không được sinh sự ở Bắc-kỳ." Đến khi Millot về Sài-gòn kể công việc
ở Bắc-kỳ, thiếu-tướng lại điện về Paris nói rằng: " Việc Đồ-phổ-Nghĩa ở Bắc-kỳ
đã thành công rồi. Cần phải lấy xứ Bắc-kỳ và giữ lấy con đường thông sang Tàu.
Không cần phải viện binh. Thành công chắc lắm ". Ngay hôm ấy, thiếu-tướng
lại viết thêm một cái thư về nói rõ mọi lẽ, và quyết rằng xin chính-phủ để cho
thiếu-tướng được tự tiện, hễ có việc gì thì thiếu-tướng xin chịu lỗi 1.
Đang lúc ấy thì Triều-đình ở Huế sai bọn ông Lê Tuấn vào xin
thiếu- tướng ra điều-đình việc Đồ-phổ-Nghĩa ở Bắc-kỳ.
Cứ như ý của thiếu-tướng Dupré điện về cho chính-phủ Pháp thì
thiếu-tướng chỉ mong có cái cơ-hội gì để đem quân ra Bắc-kỳ. Nay thấy Triều-đình
ta vào nhờ Súy-phủ ở Sài-gòn phân-xử việc Đồ-phổ-Nghĩa, thật là gặp được cái dịp
mình đang mong, thiếu-tướng liền gọi quan hải-quân đại-úy Francis Garnier ở Thượng-hải
về, rồi sai ra Hà-nội, nói rằng ra phân-xử việc Đồ-phổ-Nghĩa 2.
Đại-úy Francis Garnier đem mấy chiếc tàu con và 170 người
lính ra đến cửa Thuận, nghỉ lại mấy hôm để đợi quan khâm-sai cùng ra Bắc-kỳ. Đến
tháng 10 năm quí-dậu (1873), thì các quan ra đến Hà-nội.
Bấy giờ ai cũng tưởng là đại-úy Francis Garnier ra chuyến này
thì mọi việc xong cả, cho nên đi đến đâu quan ta cũng tiếp-đãi rất trọng-hậu.
Nhưng xem những thư-từ của đại-úy lúc bấy giờ, thì cốt ra có chủ ý khác. Khi ở
Sài-gòn sắp đi, đại-úy viết thư về cho người anh ở bên Pháp nói rằng: " Lệnh
của Súy-phủ cho, là được tự tiện. Việc gì hải-quân thiếu-tướng cũng ủy-thác cho
tôi cả. Vậy vì nước Pháp mà tôi phải cố sức." Đến khi ra đến Hải-dương, đại-úy
vào ở Kẻ-sặt, rồi viết thư sai người đem cho Đồ-phổ- Nghĩa, báo tin cho ông ấy
biết cái chủ đích của mình, và lại nói rằng trăm sự đại-úy trông-cậy vào ông ấy
chỉ bảo cho, bởi vì ông ấy đã quen biết mọi việc ở Bắc-kỳ.
Đồ-phổ-Nghĩa tiếp được thư, liền đem chiếc tàu Man-hao đi đón
đại- úy. Lên đến Hà-nội, đại-úy đem mấy người đi thẳng vào thành ra mắt ông
Nguyễn tri Phương, và đòi đem quân ra đóng ở trong thành. Quân ta nói mãi, Đại-úy
mới thuận ra đóng ở Trường-thi. Đoạn rồi đại-úy viết thư mời giám-mục Puginier ở
Kẻ-sở lên Hà-nội, để nhờ làm thông-ngôn. Đại-úy lại làm tờ hiểu-dụ, cho dân biết,
nói rằng: "Bản-chức ra Bắc-kỳ cốt để dẹp cho yên giặc-giã, và để mở-mang
sự buôn-bán".
4. Hạ thành Hà-nội năm quí-dậu (1873).
Quan ta thấy đại- úy không nói gì đến việc Đồ-phổ-Nghĩa, mà lại
nói những việc dẹp-giặc và mở sự buôn-bán, thì đều lấy làm phân-vân. Sau lại thấy
tàu và quân ở Sài- gòn tiến ra, quan ta lại càng lo lắm. Được mấy hôm, đại-úy
không bàn hỏi gì đến quan ta, tự-tiện làm tờ tuyên-bố sự mở sông Hồng-hà cho
người nước Pháp, nước I-pha-nho và nước Tàu được ra vào buôn-bán.
Quan ta lúc bấy giờ cũng bối-rối quá. Việc giao-thiệp và việc
buôn- bán với nước Pháp thì đã định rõ trong tờ hòa-ước năm nhâm-tuất (1862),
nay thấy đại-úy Francis Garnier đường đột làm như thế, thì cũng thấy làm lo,
cho nên cũng có kiếm cách phòng-bị. Mà đại-úy cũng đã biết trước rằng thế nào
quan ta cũng không chịu, cho nên đã định kế đánh thành Hà-nội.
Đến đầu tháng 10, một mặt đại-úy viết thư cho ông Nguyễn tri
Phương, trách quan ta làm ngăn-trở việc buôn-bán của Đồ-phổ-Nghĩa; vậy vì sự
văn-minh và cái quyền-lợi của nước Pháp, cho nên Súy-phủ ở Sài-gòn sai đại-úy
ra mở sự buôn-bán ở Bắc-kỳ. Dẫu quan Việt-nam có thuận hay không cũng mặc, đại-úy
cứ theo lệnh của Súy-phủ mà thi-hành. Một mặt đại-úy bàn-định với Đồ-phổ-Nghĩa
định ngày đánh thành và bắt ông Nguyễn tri Phương giải vào Sài-gòn.
Cứ như sách của Đồ-phổ-Nghĩa, thì lúc bấy giờ có cả những người
mạo xưng là đảng nhà Lê, cũng xin theo đại-úy để vào thành làm nội-ứng.
Đến sáng hôm rằm tháng 10 năm quí-dậu (1873), thì quân Pháp
phát súng bắn vào thành Hà-nội. Ông Nguyễn tri Phương cùng với con là phò-mã
Nguyễn Lâm hoảng-hốt lên thành giữ cửa Đông và cửa Nam. Được non một giờ đồng hồ
thì thành vỡ, phò-mã Lâm trúng đạn chết, ông Nguyễn tri Phương thì bị thương nặng.
Quân Pháp vào thành bắt được ông Nguyễn tri Phương và quan khâm-phái Phan đình
Bình đem xuống tàu.
Ông Nguyễn tri Phương nghĩ mình là một bậc lão-thần thờ vua
đã trải ba triều, đánh nam dẹp bắc đã qua mấy phen, nay chẳng may vì việc nước
mà bị thương, đến nỗi phải bị bắt, ông quyết chí không chịu buộc thuốc và nhịn
ăn mà chết.
Ông Nguyễn tri Phương là người người ở Thừa-thiên, do lại-điển
xuất thân, làm quan từ đời vua Thánh-tổ, trải qua ba triều, mà nhà vẫn thanh-bạch,
chỉ đem chí-lự mà lo việc nước, chứ không thiết của-cải. Nhưng chẳng may phải
khi quốc-bộ gian-nan, ông phải đem thân hiến cho nước, thành ra cả nhà cha con,
anh em đều mất vì việc nước. thật là một nhà trung-liệt xưa nay ít có vậy.
5. Lấy mấy tỉnh ở Trung-châu.
Thành Hà-nội thất thủ rồi, quan ta thì trốn-tránh đi cả, giặc
cướp lại nhân dịp nổi lên. Đại-úy Francis Garnier lại cho những người theo với
mình đi làm quan các nơi để chống với quan triều, rồi lại sai người đi đánh lấy
tỉnh Ninh-bình, Nam-định và Hải-dương.
Quan ta ở các tỉnh đều ngơ ngác không biết ra thế nào, hễ thấy
người Tây đến là bỏ chạy. Bởi vậy, chỉ có người Pháp tên là Hautefeuille và 7
người lính tây mà hạ được thành Ninh-bình, và chỉ trong 20 ngày mà 4 tỉnh ở
Trung-châu mất cả.
6. Đại-úy Francis Garnier chết.
Triều-đình được tin biến ở Bắc- kỳ, vội-vàng sai ông Trần
đình Túc, ông Nguyễn trọng Hợp, ông Trương gia Hội cùng với giám-mục Bình (Mgr
Bohier) và linh-mục Đăng ( Dangelger) ra Hà-nội, để điều đình mọi việc và sai
ông Hoàng kế Viêm ở Sơn-tây làm tiết- chế quân-vụ, để phòng giữ các nơi. Lại
sai ông Lê Tuấn làm toàn-quyền, ông Nguyễn văn Tường làm phó, vào thương-thuyết
với Súy-phủ ở Sài-gòn về việc đại-úy Francis Garnier đánh Bắc-kỳ.
Lúc bấy giờ ông Hoàng kế Viêm đóng ở Sơn-tây, có đảng cờ đen
là bọn Lưu vĩnh Phúc về giúp. Vua phong cho Lưu vĩnh Phúc làm đề-đốc, để cùng với
quan quân chống giữ quân Pháp. Lưu vĩnh Phúc đem quân về đóng ở mạn phủ Hoài-đức.
Khi ông Trần đình Túc và ông Nguyễn trọng Hợp đang thương-thuyết với đại-úy
Francis Garnier, thì quân cờ đen về đánh Hà- nội. Đại-úy đem quân đi đuổi đánh,
lên đến Cầu-giấy thì bị phục quân giết chết.
7. Ông Philastre ra Hà-nội.
Nguyên khi thiếu-tướng Dupré sai đại-úy Francis Garnier ra Bắc-kỳ
là tự ý mình chứ chính-phủ nước Pháp vẫn không thuận, bởi vậy khi được tin đại-úy
đã khởi sự đánh Hà-nội, thiếu- tướng liền sai hải-quân đại-úy, khiêm chức thống-soái
việc hình-luật ở Nam- kỳ, là ông Philastre (ta gọi là Hoắc-đạo-sinh) cùng với
qua phó-sứ nước ta là ông Nguyễn văn Tường ra điều-đình mọi việc ở Bắc-kỳ.
Đến Cửa-cấm thì ông Philastre và ông Nguyễn văn Tường mới biết
rằng đại-úy Francis Garnier đã bị quân cờ đen giết mất rồi. Sử chép rằng khi được
tin ấy, ông Philastre tức giận vỗ bàn mà bảo ông Nguyễn văn Tường rằng: "Việc không xong rồi, phải trở về đợi lệnh súy-phủ mới được". Ông Nguyễn
văn Tường sợ ông Philastre giận quá mà nhỡ việc, mới ung-dung mà nói rằng:
"Việc đánh lấy thành Hà-nội súy-phủ bảo không phải là bản-ý, mà quân bản-quốc
ở 4 tỉnh Bắc-kỳ cũng không tranh dành gì cả. Vậy hai bên không có làm điều gì
trái nhau. Nay đại-úy Francis Garnier chết, hoặc là bị giết chết, hoặc là vì
dân nổi lên làm loạn, việc ấy ta chưa rõ. Huống chi trả thành lại để định hòa-ước
cho xong, ấy là lệnh của súy-phủ; mà thu lấy thành rồi mới nghị-hòa, ấy là mệnh
của bản-quốc. Còn như việc Hà-nội giết đại-úy Francis Garnier thì cũng như đại-úy
Francis Garnier giết ông Nguyễn tri Phương, việc đó xuất ư ý ngoại, chứ có phải
lỗi chúng ta đâu. Bây giờ chúng ta ra đây, mắt chưa trông thấy việc gì cả, mới
nghe thấy tin báo mà đã bỏ về, thế chẳng hóa ra mình đi uổng mất công hay sao?
chi bằng ta cho người đưa thư lên Hà-nội bảo đem tàu xuống đón, chúng ta sẽ lên
tới nơi, hoặc là cứ theo mệnh lệnh mà làm, hoặc là xét rõ duyên-do tại sao mà đại-úy
Francis Garnier chết, rồi sẽ báo tin, thế chẳng ổn việc lắm hay sao? " Ông
Philastre nghe lời ấy, bèn sai người đưa thư lên cho Hà-nội biết.
Ngay lúc ấy có tàu "Decrès" còn đóng ở gần Đồ-sơn,
ông Philastre muốn sang tàu ấy để cho chiếc tàu mình đi là "D'Estrées
" trở về báo tin cho Sài-gòn biết. Nguyễn văn Tường ngăn đi rằng:
"Tàu của mình đã vào cửa rồi lại trở ra, nhỡ sĩ-dân biết, lại bắt chước
Hà-nội mà làm bậy, thì làm thế nào mà ngăn cấm được; sợ có việc tổn-hại, thì lấy
lẽ gì mà bẩm với quí súy. Vậy nay xin sai chiếc tàu "Decrès" ra bể,
đuổi đánh những giặc Tàu-ô, còn cứ đem tàu "D'Estrées" vào đến Hải-phòng,
rồi ta lên Hải-dương, đem trả tỉnh-thành lại cho bản-triều, để tỏ cái lòng tin
cho sĩ-dân biết, sau ta lên Hà- nội, trả nốt cả mấy thành kia, và tra-hỏi việc
đại úy Francis Garnier chết ra thế nào sẽ bẩm cho quí-súy biết ".
Ông Philastre vốn là một người rất công bằng, lại thấy ông
Nguyễn văn Tường nói hợp-lẽ, bèn thuận nghe, và lên Hải-dương truyền trả thành
lại cho quan ta, rồi lên Hà-nội làm tờ giao-ước trả lại cả 4 thành cho quan ta
coi giữ. Còn những tàu bè và quân lính của Pháp ở các tỉnh thì thu cả về Hà- nội,
rồi đinh ngày rút quân ra đóng ở Hải-phòng đợi đến ngày ký tờ hòa-ước xong thì
rút về. Bấy giờ là tháng giêng năm giáp-tuất (1874), là năm Tự- đức thứ 27.
Đồ-phổ-Nghĩa thấy ông Philastre phá mất cả những việc của
mình đã làm với đại-úy Francis Garnier, bèn vào Sài-gòn kêu với súy-phủ và đòi
tiền phí-tổn non một triệu nguyên
8. Hòa-ước năm giáp-tuất (1874).
Mọi việc ở Hà-nội xếp-đặt xong rồi, súy-phủ ở Sài-gòn sai ông
Rheinart (Lê Na) ra thay cho ông Philastre cùng với ông Nguyễn văn Tường về
Nam-kỳ, định sự hòa-ước cho kịp ngày thiếu-tướng Dupré về Pháp.
Ngày 27 tháng giêng năm giáp-tuất (1874), là năm Tự-đức thứ
27, hải-quân thiếu-tướng Dupré và ông Lê Tuấn, ông Nguyễn văn Tường ký tờ hòa-ước
cả thảy 22 khoản, đại-lược có những khoản này là quan trọng hơn cả.
Khoản II. Quan thống-lĩnh nước Pháp nhận quyền độc-lập của
vua nước Nam không phải thần phục nước nào nữa, và khi nào vua nước Nam có cần
đến việc gì để đánh dẹp giặc giã, thì nước Pháp sẵn lòng giúp mà không yêu-cầu
điều gì.
Khoản III. Vua nước Nam phải đoan nhận y theo chính-lược ngoại-giao
của nước Pháp, và chính-lược ngoại-giao hiện lúc bấy giờ thế nào thì phải để
nguyên như thế, không được đổi khác đi
Quan thống-lĩnh nước Pháp tặng vua nước Nam:
1. 5 chiếc tàu có đủ máy-móc súng-ống
2. 100 khẩu súng đại-bác, và mỗi khẩu có 200 viên đạn
3. 1000 khẩu súng tay và 5000 viên đạn
Khoản IV. Quan thống-lĩnh nước Pháp hứa cho quan sang giúp
vua nước Nam để dạy tập lính thủy, lính bộ; cho những kỹ-sư sang dạy làm mọi việc,
và cho những người giỏi việc tài chính sang tổ-chức việc thuế-má và việc
thương-chính v. v.
Khoản V. Vua nước Nam phải thuận nhường đứt đất 6 tỉnh Nam-kỳ
cho nước Pháp.
Khoản IX. Vua nước Nam phải để cho giáo-sĩ được tự-do đi giảng-đạo,
và cho dân trong nước được tự-do theo đạo.
Khoản XI. Vua nước Nam phải mở cửa Thị-nại (Qui-nhơn), của
Ninh-hải (Hải-phòng), thành Hà-nội và sông Hồng-hà, cho ngoại quốc vào
buôn-bán.
Khoản XIII. Nước Pháp được quyền đặt lĩnh-sự ở các cửa bể và
các thành- thị đã mở ra cho ngoại quốc vào buôn-bán.
Khoản XV. Người nước Pháp hay là người ngoại quốc, hễ có giấy
thông hành của quan lĩnh-sự Pháp và có chữ quan Việt-nam phê nhận thì được phép
đi xem các nơi ở trong nước.
Khoản XVI. Người nước Pháp và người ngoại quốc có điều gì kiện
tụng tại đất Việt-nam, thì do lĩnh-sự Pháp phân-xử.
Khoản XX. Khi nào tờ hòa-ước này ký xong, thì quan thống-lĩnh
nước Pháp đặt sứ-thần ở Huế để chiếu những điều đã giao-ước mà thi hành. Vua nước
Nam cũng được quyền đặt sứ-thần ở Paris và ở Sài-gòn.
Tờ hòa-ước ấy ký xong, thì quan chánh-sứ Lê Tuấn mất, ông
Nguyễn văn Tường về Huế. Thiếu-tướng Dupré giao mọi việc ở Nam-kỳ cho hải-quân
thiếu-tướng Krantz quyền lĩnh, rồi về Pháp.
Tháng 6, Triều-đình ở Huế lại sai quan hình-bộ Thượng-thư là
Nguyễn văn Tường và quan lại-bộ thị-lang là Nguyễn tăng Doãn, vào Sài-gòn cùng
với thiếu-tướng Krantz định các lệ về sự buôn-bán ở nước Nam. Đến 20 tháng 7,
thì tờ thương-ước lập xong.
Ghi chú:
1.
|
Sách "L'Empire d'Annam" của capitaine Ch.
Gosselin.
|
2
|
Đồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis) có làm quyển sách "Le
Tonkin de 1872 à 1886) kể những công việc của ông ấy ở Bắc Việt, và nói rõ
tình ý của các quan coi việc Súy Phủ ở Sài Gòn lúc bấy giờ là thế nào. Ta
cũng nhờ có sách ấy mà kê cứu ra được nhiều việc rất là tường tận.
|
Chương 10
Tình thế nước Nam từ năm Giáp Tuất về sau
Tình thế nước Nam từ năm Giáp Tuất về sau
1. Văn-thân nổi loạn ở Nghệ-tỉnh
2. Giặc ở Bắc-kỳ
3. Sự giao-thiệp với Tàu
4. Tình-thế nước Tàu
5. Sự giao-thiệp với nước Pháp
2. Giặc ở Bắc-kỳ
3. Sự giao-thiệp với Tàu
4. Tình-thế nước Tàu
5. Sự giao-thiệp với nước Pháp
1. Văn-thân nổi loạn ở Nghệ-tỉnh.
Nhờ có ông Philastre và ông Nguyễn văn Tường thu xếp việc Bắc-kỳ
vừa xong, thì ở mạn Nghệ-tĩnh có loạn.
Nguyên lúc bấy giờ dân trong nước ta chia ra làm hai phái:
bên lương, bên giáo; hai bên vẫn không ưa nhau. Đến khi sảy ra việc đại-úy
Francis Garnier lấy Hà-nội, bọn sĩ phu ở mạn Nghệ-tĩnh thấy giáo-dân có nhiều
người theo giúp ông ấy, thì lấy làm tức giận lắm, bèn rủ nhau nổi lên đánh phá.
Tháng giêng năm giáp-tuất (1874), là năm Tự-đức thứ 27, đất
Nghệ-an có hai người tú-tài là Trần Tấn và Đặng như Mai hội-tập cả các văn-
thân trong hạt, rồi làm một bài hịch gọi là " Bình Tây sát tả ", đại
lược nói rằng " Triều-đình dẫu hòa với với Tây mặc lòng sĩ-phu nước Nam vẫn
không chịu, vậy trước nhất xin giết hết giáo-dân, rồi sau đánh đuổi người Tây
cho hết, để giữ lại cái văn-hóa của ta đã hơn 1000 năm nay, v. v..." Bọn
Văn- thân cả thảy độ non hơn ba nghìn người, kéo đi đốt phá những làng có đạo.
Nước ta mà không chịu khai-hóa ra như các nước khác là cũng bởi
bọn sĩ-phu cứ giữ thói cũ, không chịu theo thời thế mà thay đổi. Nay sự suy-nhược
của mình đã sờ sờ ra đấy, thế mà vẫn cứ không chịu mở mắt ra mà nhìn, lại vì sự
tức giận một lúc mà việc nông-nỗi càn-rỡ, để cho thiệt hại thêm, như thế thì
cái tội trạng của bọn sĩ-phu đối với nước nhà chẳng to lắm ru!
Lúc bấy giờ quan tổng-đốc Nghệ-an là ông Tôn thất Triệt lại
có ý dung-túng bọn Văn-thân, cho nên họ càng đắc thế càng phá dữ. Triều-đình thấy
vậy, mới truyền bắt quan quân phải dẹp cho yên. Bọn Văn-thân thấy quan quân đuổi
đánh, bèn cùng với bọn giặc Trần quang Hoán, Trương quan Phủ, Nguyễn huy Điển
đánh lấy thành Hà-tĩnh, rồi ra vây phủ Diễn-châu.
Triều-đình thấy thế giặc càng ngày càng to, bèn sai ông Nguyễn
văn Tường ra làm khâm-sai và ông Lê bá Thận làm tổng-thống, đem quân ra đánh dẹp,
từ tháng 2 đến tháng 6 mới xong.
2. Giặc ở Bắc-kỳ.
Thuở ấy ở mạn Thượng-du đất Bắc-kỳ lúc nào cũng có giặc, quan
quân đánh mãi không được, phải nhờ quân Tàu sang đánh giúp cũng không xong.
Mạn Hải-dương và Quảng-yên thì vẫn có những người mạo xưng là
con-cháu nhà Lê, cứ quấy-rỗi mãi. Khi Francis Garnier ra lấy Hà-nội, những người
ấy về xin theo đi đánh quân ta, nhưng vì sau nước Pháp trả lại các tỉnh ở Bắc-kỳ,
họ lại tản đi. và từ khi nước ta và nước Pháp đã ký hòa-ước rồi, quan Pháp có
đem binh-thuyền đi đánh giúp, cho nên mới diệt được đảng ấy.
Còn ở mạn Tuyên-quang, thì có giặc cờ vàng nhũng-nhiễu đã
lâu. Quan quân phải đánh dẹp mãi không được. Đến tháng 8 năm ất-hợi (1875), là
năm Tự-đức thứ 28, tướng cờ vàng là Hoàng sùng Anh đem quân về đóng ở làng
Châu-thượng, thuộc phủ Vĩnh-tường. Bấy giờ quan quân tán-dương quân-vụ tỉnh
Sơn-tây là Tôn thất Thuyết về đánh một trận. Giặc ấy từ đó tan dần.
Năm sau Tôn thất Thuyết lại giết được tên giặc Trận ở làng Cổ-loa,
và dẹp yên được ở mạn Sơn-tây. Nhưng đến năm mậu-dần (1878), ở Lạng- sơn lại có
tên giặc Khách là Lý dương Tài nổi lên.
Lý dương Tài trước làm quan hiệp-trấn ở Tầm-châu, thuộc tỉnh
Quảng-tây, sau bị cách mới nổi lên làm giặc và đem quân tràn sang đánh lấy tỉnh
Lạng-sơn. Quan ta đem thư sang cho quan Tàu biết. Quan đề-đốc Quảng-tây là
Phùng tử Tài đem quân 26 doanh sang cùng với quân ta hội- tiễu. Đến tháng 9 năm
kỷ-mão (1879), quan quân mới bắt được Lý dương Tài ở núi Nghiêm-hậu thuộc tỉnh
Thái-nguyên đem giải sang Tàu.
Vì đất Bắc-kỳ cứ có giặc giã luôn cho nên Triều-đình đặt ra
chức Tĩnh-biên-sứ để giừ các nơi về đường ngược. Năm canh-thìn (1880), đặt ra Lạng-giang-đạo
và Đoan-hùng-đạo sai hai viên Tĩnh-biên phó-sứ là Trương quang Đản đóng ở Lạng-giang
và Nguyễn hữu Độ đóng ở Đoan-hùng, lại phong cho Hoàng kế Viêm là Tĩnh-biên-sứ,
kiêm cả hai đạo.
Nước ta từ xưa đến nay tuy là độc-lập, nhưng vẫ giữ lệ triều-cống
nước Tàu, lấy cái nghĩa rằng nước nhỏ phải tôn- kính nước lớn. cho nên khi chiến-tranh,
dẫu ta có đánh được Tàu đi nữa, thì rồi nhà nào lên làm vua cũng phải theo cái
lệ ấy, mà đời nào cũng lấy điều đó làm tự-nhiên vì rằng triều-cống cũng không tổn
hại gì mấy, mà nước vẫn độc-lập và lại không hay có việc lôi-thôi với một nước
láng-diềng mạnh hơn mình. Bởi vậy hễ vua nào lên ngôi, cũng chiếu lệ sai sứ
sang Tàu cầu phong, và cứ ba năm sai sứ sang cống một lần.
Các vua đời nhà Nguyễn cũng theo lệ ấy, nhưng các đời vua trước
thì vua phải ra Hà-nội mà tiếp sứ Tàu và thụ phong cho. Đến đời vua Dực- tông
thì sứ Tàu vào tại Huế phong vương cho ngài.
Còn những cống phẩm thì cứ theo lệ, mà thường chỉ đưa sang
giao cho quan Tổng-đốc Lưỡng-Quảng để đệ về Kinh, chứ không mấy khi sứ ta sang
đến Yên-kinh. Trong đời vua Dực-tông thì sử chép rằng năm mậu-thìn (1868), có
ông Lê Tuấn, ông Nguyễn tư Giản và ông Hoàng Tịnh sang sứ Tàu. Năm quí-dậu
(1873), lại có các ông Phan sĩ Thục, ông Hà văn Khai, và ông Nguyễn Tu sang sứ
Tàu, để bày tỏ việc đánh giặc Khách ở Bắc-kỳ.
Từ năm giáp-tuất (1874) trở đi, Triều-đình ở Huế đã ký tờ
hòa-ước với Pháp, công nhận nước Nam độc-lập, không thần-phục nước nào nữa,
nhưng lúc bấy giờ vì thế bất-đắc-dĩ mà ký tờ hòa-ước, cứ trong bụng vua Dực-tông
vẫn không phục, cho nên ngài vẫn cứ theo lệ cũ mà triều-cống nước Tàu, có ý
mong khi hữu sự, nước Tàu sang giúp mình. Bởi vậy năm bính-tí (1876), vua Dực-tông
sai ông Bùi ân Niên tức là ông Bùi Dỵ, ông Lâm Hoành và ông Lê Cát sang sứ nhà
Thanh. Năm canh-thìn (1880), lại sai ông Nguyễn Thuật, Trần Khánh Tiên, Nguyễn
Hoang sang Yên-kinh dâng biểu xưng thần và các đồ cống-phẩm. Năm sau, Triều-đình
nhà Thanh sai Đường đình Canh sang Huế bàn việc buôn-bán và lập cuộc chiêu
thương, chủ ý là để thông tin cho chính phủ Tàu biết mọi việc bên nước ta.
Một bên đã hòa với nước Pháp, nhận theo chính-lược ngoại-giao
của nước Pháp mà độc-lập 1,
một bên cứ triều-cống nước Tàu, có ý để cầu viện, bởi thế cho nên chính phủ
Pháp lấy điều đó mà trách Triều-đình ta vậy.
4. Tình-thế nước Tàu.
Xưa nay ta vẫn công nhận nước Tàu là thượng-quốc và vẫn phải
lệ triều-cống. Hễ khi nào trong nước có việc biến- loạn và vẫn trông mong nước
Tàu sang cứu-viện. Không ngờ từ thế-kỷ thứ XIX trở đi, thế lực các nước bên
Tây-âu mạnh lên, người phương Tây đi lược địa rất nhiều, mà tình thế nước Tàu
thì rất là suy-nhược. Năm Đạo-quang thứ 19 (1839) tức là năm Minh-mệnh thứ 20
bên ta, vì việc cấm thuốc nha- phiến ở Quảng-đông thành ra có chiến-tranh với
nước Anh-cát-lợi. Quân nước Anh đánh phá thành Ninh-ba, Thương-hải, v. v. Vua Đạo
Quang phải nhận những điều hòa-ước năm nhâm-dần (1842) làm tại Nam-kinh, nhường
đảo Hương-cảng cho nước Anh và mở những thành Quảng-châu, Hạ-môn, Phúc-châu,
Ninh-ba và Thương-hải ra cho ngoại quốc vào buôn-bán.
Cuộc hòa-ước ở Nam-kinh định xong, các nước ngoại-dương vào
buôn-bán ở nước Tàu và đặt lĩnh-sự ở Quảng-châu, Ninh-ba, Thương-hải, v. v. Đến
năm Hàm-phong thứ 8 (1858), tức là năm Tự-đức thứ 11, nước Anh và nước Pháp ký
tờ hòa-ước với nước Tàu, đặt sứ-thần ở Bắc-kinh. Đoạn nước Tàu có điều trái ước,
gây thành việc chiến-tranh với hai nước ấy. Quân nước Anh và nước Pháp đánh lấy
hải-khẩu, rồi kéo lên đánh lấy Bắc-kinh. Vua Hàm-phong phải nhận những điều
hòa-ước năm canh-thân (1860) làm tại Thiên-tân.
Từ đó nước Tàu bị các nước khác sách-nhiễu mọi điều và bị đè
nén nhiều cách. Lúc ấy nước Tàu chẳng khác gì cái nhà lớn đã bị hẩm-nát sắp đổ,
mà ta vẫn không tỉnh ngộ, cứ mê-mộng là nước ấy còn cường thịnh, có thể giúp ta
được trong khi nguy-hiểm. Bởi vậy khi quân nước Pháp đã lấy Bắc-kỳ rồi, người
mình còn trông cậy ở quân cứu-viện của nước Tàu. Phương-ngôn ta có câu rằng
" Chết đuối vớ phải bọt " thật là đúng lắm. Nếu người Tàu có đủ thế lực
cứu được ta, thì trước hết họ hãy cứu lấy họ đã. Nhưng lúc bấy giờ từ vua quan
cho chí bọn sĩ-phu trong nước ta, ai là người hiểu rõ cái tình-thế ấy? Cho nên
không những là ta không chịu cải cách chính thể của ta cho hợp thời mà lại còn
làm những điều ngang-ngạnh để cho chóng hỏng việc. Ấy cũng là cái vận nước chẳng
may, song những người đương lộ lúc ấy cũng không so tránh được cái lỗi của mình
vậy.
5. Sự giao-thiệp với nước Pháp.
Từ khi ông Philastre ra điều- đình mọi việc ở Bắc-kỳ xong rồi,
ông Rheinart ra thay ở Hà-nội, đợi cho đến ngày ký hòa-ước thì chiếu mọi khoản
mà thi hành. Ông Rheinart ở được mấy tháng, rồi về lại Sài-gòn, giao quyền cho
lục-quân thiếu-tá Dujardin (La- Đăng). Thiếu-tá có đem binh-thuyền giúp quan ta
đi đánh giặc ở mạn Hải- dương và Quảng-yên.
Đến khi tờ hòa-ước và tờ thương-ước đã ký xong thì Triều-đình
sai ông Nguyễn tăng Doãn ra Bắc-kỳ để cùng thiếu-tá Dujardin chọn đất ở Hà- nội
và ở Ninh-hải (Hải-phòng) để làm dinh làm trại cho quan quân nước Pháp đóng, và
lại sai quan thượng-thư bộ Hộ là ông Phạm phú Thứ ra làm Hải-an tổng-đốc sung
chức tổng-lý thương-chánh đại-thần, cùng với ông Nguyễn tăng Doãn và ông Trần
hi Tăng bàn định việc thương-chánh ở Bắc- Kỳ.
Tháng 6 năm ất-hợi (1875) chính phủ nước Pháp sai ông
Rheinart sang làm khâm-sứ ở Huế, ông Truc làm lĩnh-sự ở Hải-phòng, và ông
Kergaradec (Kê-la-đích) làm lĩnh-sự ở Hà-nội. Triều-đình sai ông Nguyễn thành Ý
vào làm lĩnh sự ở Sài-gòn.
Ông Rheinart ở Huế đến tháng 10 năm bính-tí (1876), thì cáo bịnh
xin về, ông Philastre ra thay.
Triều-đình lúc bấy giờ cũng đã hiểu rằng hễ không theo tân-học
thì không tiến-hóa được, cho nên mới định cho người đi du học. Năm mậu-dần
(1878), bên Pháp có mở hội vạn quốc đấu-xảo ở Paris, vua sai ông Nguyễn thành Ý
và ông Nguyễn tăng Doãn đem đồ đi đấu-xảo và cho người sang học ở Toulon.
Nhưng vì năm tân-tị (1881), Triều-đình lại sai quan Lễ-bộ thị-lang
là Phạm Bính sang Hương-cảng, đem 12 đứa trẻ con đi học ở trường Anh-cát- lợi,
rồi lại sai sứ đi sang Tiêm-la và sang Tàu mà không cho sứ-thần nước Pháp biết,
bởi vậy chính-phủ Pháp lấy những điều đó mà trách Triều-đình ở Huế không theo
hòa-ước năm giáp-tuất (1874).
Khi ông Philastre còn ở Huế, vì ông ấy là một người công
chính và lại có học chữ Nho, cho nên Triều-đình ta trọng-đãi và có điều gì
trang-trải cũng còn dễ. Từ năm kỷ-mão (1879) về sau, ông ấy về Pháp rồi, sự
giao- thiệp càng ngày càng khó thêm: phần thì vì người mình không biết cách
giao thiệp với ngoại-quốc, phần thì cái quyền-lợi nước ta và nước Pháp lúc bấy
giờ tương-phản với nhau, cho nên hai bên không có lòng tin-cậy nhau, thành ra sự
giao-thiệp không được thân-thiết lắm.
Vả về sau, sự cai-trị ở Nam-kỳ đã thành nếp, giặc giã đã yên
cả; ở bên Pháp thì thế lực đã mạnh, và đã có nhiều người bàn đến việc bên Viễn-
đông này và việc bảo-hộ ở Bắc-kỳ. Lại nhân có những nước I-ta-ly. I-pha- nho,
Anh-cát-lợi và Hoa-kỳ muốn sang thông-thương với nước Nam, mà có ý không muốn
chịu để quan nước Pháp phân-xử những việc can-thiệp đến người những nước ấy. Bởi
vậy nước Pháp muốn lập hẳn cuộc bảo-hộ để cho khỏi mọi sự lôi thôi, bèn bỏ lệ đặt
quan hải-quân khiêm lĩnh chức thống-đốc ở Nam-kỳ, mà sai quan văn sang sung chức
ấy để trù-tính mọi việc.
Tháng 6 năm kỷ-mão (1879), viên thống đốc mới là ông Le Myre
de Vilers sang nhận chức ở Sài-gòn và ông Rheinart lại sang làm khâm-sứ ở Huế để
thay cho ông Philastre.
Bắc-kỳ thì người Pháp đã ra vào buôn-bán, nhưng vì quan ta
không biết lo sự khai hóa, việc thông thương không được tiện-lợi, và ở mạn thượng-du
thì có quân cờ đen tuy là mượn tiếng theo lệnh quan ta, nhưng kỳ thực chúng nó
làm gì cũng không ai ngăn cấm được. Bởi vậy, chính-phủ Pháp mới lấy những điều
đó mà trách quan ta và sai quan đem quân ra Bắc- kỳ, lấy cớ nói ra mở mang sự
buôn-bán, kỳ thực là ra kinh-doanh việc ở vùng ấy.
Ghi chú:
1.
|
Tờ hòa ước năm giáp tuất 1874.
|
Chương 11
Quân Pháp Lấy Bắc Kỳ Lần Thứ II
Quân Pháp Lấy Bắc Kỳ Lần Thứ II
1. Đại tá Henri Rivière ra Hà Nội
2. Hạ thành Hà Nội lần thứ hai
3. Việc cầu cứu nước Tàu
4. Quân Pháp lấy Nam Định
2. Hạ thành Hà Nội lần thứ hai
3. Việc cầu cứu nước Tàu
4. Quân Pháp lấy Nam Định
1. Đại tá Henri Rivière ra Hà Nội.
- Cuối năm Tân Tỵ (1881) 1,
nhân có hai người Pháp tên là Courtin và Villeroi được giấy thông hành đi lên
Vân Nam, nhưng lên đến gần Lào Kay, bị quân Khách làm ngăn trở, không đi được.
Viên thống đốc Le Myre de Vilers bèn gửi thư về Pháp, nói rằng nước Pháp nên
dùng binh lực mà cho dẹp cho yên đất Bắc Kỳ. Sang tháng 2 năm Nhâm Ngọ (1882),
một mặt thống đốc sai hải quân đại tá Henri Rivière sắp sửa binh thuyền ra Hà Nội;
một mặt viết thư vào Huế, đại lược nói rằng: đất Bắc Kỳ loạn lạc, luật nhà vua
không ai theo. Người nước Pháp có giấy thông hành của quân An Nam cấp cho mà đi
đến đâu cũng bị quân Khách ngăn trở. Ở Huế thì quan Việt Nam thất lễ với quan
khâm sứ Rheinart. Vậy nên nước Pháp phải dùng cách để bênh vực quyền lợi của
người nước Pháp.
Được ít lâu, đại tá Henri Rivière đem hai chiếc tàu và mấy
trăm quân ra đến Hải Phòng, rồi đi tàu nhỏ lên Hà Nội, đóng ở Đồn Thủy.
Quan tổng đốc Hà Nội bấy giờ là ông Hoàng Diệu thấy binh thuyền
nước Pháp tự nhiên ra Bắc Kỳ, lấy làm nghi kỵ lắm, tuy có sai quan tuần phủ
Hoàng Hữu Xứng ra tiếp đãi tử tế, nhưng trong bụng vẫn lo, cho nên mới sai sửa
dọn thành trì để phòng bị. Đại tá Henri Rivière vào thành thấy vậy có ý không bằng
lòng, bèn quyết ý đánh thành.
Sáng 5 giờ ngày mồng 8 tháng 3 năm Nhâm Ngọ (1882), quan tổng
đốc tiếp được tờ tối hậu thư của đại tá hạn cho đến 8 giờ phải giải binh, và
các quan võ Việt Nam phải ra đợi lệnh ở Đồn Thủy. Đúng 8 giờ thì quân Pháp khởi
sự đánh thành, 11 giờ thì thành đổ. Ông Hoàng Diệu trèo lên cây thắt cổ mà tự tận,
còn các quan thì bỏ chạy cả.
Lúc tiếp được thư của đại tá, thì ông Hoàng Diệu có sai Án
sát sứ là Tôn Thất Bá ra thương thuyết. Ông Tôn Thất Bá ở trên thành bỏ thang
trèo xuống vừa xong, thì quân Pháp bắn súng vào thành, ông ấy bỏ trốn mất. Đến
khi hạ được thành rồi, đại tá sai tìm ông Tôn Thất Bá về quyền lĩnh mọi việc 2.
Vua Dực Tông được tin thành Hà Nội thất thủ, bèn xuống chiếu
truyền cho quan kinh lược chánh phó sứ là là ông Nguyễn Chính và Bùi Ân Niên
đem binh lui về mặt Mỹ Đức để cùng với Hoàng Kế Viêm tìm cách chống giữ. Nhưng
quan khâm sứ Rheinart sang thương thuyết rằng việc đánh thành Hà Nội không phải
là chủ ý của nước Pháp, và xin sai quan ra giữ lấy thành trì. Triều đình bèn
sai quan nguyên Hà Ninh tổng đốc là Trần Đình Túc làm Khâm sai đại thần, quan
Tĩnh biên phó sứ là Nguyễn Hữu Độ làm phó khâm sai, ra Hà Nội để cùng với đại
tá Henri Rivière thu xếp mọi việc. Đại tá trả thành Hà Nội cho quan ta, nhưng vẫn
đóng quân ở trong Hành cung. Hai bên thương nghị mãi. Đại tá đòi 4 khoản:
1 - nước Nam phải nhận nước Pháp bảo hộ
2 - phải nhường thành thị Hà Nội cho nước Pháp
3 - đặt thương chánh ở Bắc Kỳ
4 - sửa lại việc thương chánh ở các nơi, và giao quyền
cho người Pháp cai quản.
Bọn ông Trần Đình Túc đệ những khoản ấy về Kinh. Triều đình hội
nghị, các quan có nhiều người nói rằng: nước ta trong còn có Lưu Vĩnh Phúc,
ngoài còn có nước Tàu, lẽ nào lại bó tay mà chịu. Bèn trả lời không chịu.
Đến tháng 10 thì ông Trần Đình Túc về Huế, ông Nguyễn Hữu Độ ở
lại làm Hà Ninh tổng đốc.
3. Việc cầu-cứu nước Tàu.
Triều đình ta bấy giờ nghĩ nước Pháp cố ý chiếm đoạt, và lại
tưởng rằng nước Tàu có thể bênh vực được mình, cho nên mới sai ông Phạm Thận Duật
sang Thiên Tân cầu cứu. Chẳng qua
là người mình có hay có tính ỷ lại, cho nên mới đi kêu cầu
người ta, chứ không biết rằng người Tàu giữ nước Tàu không xong còn đi cứu ai
được. Tuy vậy, không những người Tàu không cứu được mình mà lại còn muốn nhân dịp
để mượn tiếng sang lấy nước mình. Xem như khi thành Hà nội thất thủ, quan tổng
đốc Lưỡng Quảng là Trương Thụ Thanh làm mật sớ về tâu với vua nhà Thanh, đại lược
nói rằng: "nước Nam và nước Tàu tiếp giáp với nhau mà thế lực nước Nam thật
là suy hèn, không có thể tự chủ được nữa, vậy ta nên mượn tiếng sang đánh giặc
mà đóng giữ ở các tỉnh thượng du. Đợi khi có biến thì ta chiếm lấy những tỉnh ở
về phía bắc sông Hồng Hà". Bởi vậy triều đình nhà Thanh mới sai Tạ Kính
Bưu, Đường Cảnh Tùng đem quân sang đóng ở Bắc Ninh và ở Sơn Tây, sau lại sai
quan bố chính Quảng Tây là Từ Diên Húc đem quân sang tiếp ứng.
4. Quân Pháp lấy Nam-định.
Chính phủ Pháp trước cũng muốn thu xếp dần dần cho xong việc
bảo hộ ở nước Nam, và cho khỏi sự chiến tranh, nhưng sau thấy Triều đình ở Huế
không chịu, lại thấy có quân Tàu sang đóng ở các tỉnh, bèn một mặt sai ông
Charles Thomson sang làm thống đốc Nam Kỳ, để thay cho ông Le Myre de Vilers về
Pháp; một mặt tiếp quân cho đại tá Henri Rivière và triệu quan khâm sứ Rheinart
ở Huế về.
Nguyên trước đại tá Henri Rivière ở Hà Nội chỉ có 400 lính,
sau lại tiếp được 750 người nữa, đại tá bèn để đại úy Berthe de Villers với 400
quân ở lại giữ Hà Nội, còn bao nhiêu đem đi đánh Nam Định. Ngày 28 tháng 2 năm
Quý Mùi (1883), thì quân Pháp khởi sự đánh thành. Đánh từ sáng dến trưa thì
quân Pháp vào thành; quan tổng đốc Vũ Trọng Bình bỏ chạy, quan đề đốc Lê Văn Điếm
tử trận, quan án sát sứ Hồ Bá Ôn bị thương.
5. Đại tá Henri Rivière bị chết.
Quan ta thấy quân Pháp tiến binh, và lại cậy có quân Tàu sang
cứu, bèn quyết ý đổi thế hòa ra thế công. Một mặt quan tổng đốc Bắc Ninh là
Trương Quang Đản cùng với quan phó kinh lược Bùi Ân Niên đem binh về đóng ở Giốc
Gạch, thuộc huyện Gia Lâm chực sang đánh Hà Nội. Đại úy Berthe de Villers đem
quân ở Hà Nội sang đánh đuổi, quan quân phải lui về phía Bắc Ninh. Một mặt quan
tiết chế Hoàng Kế Viêm sai Lưu Vĩnh Phúc làm tiên phong đem quân về đóng phủ
Hoài Đức, để đánh quân Pháp.
Đại tá Henri Rivière lấy xong Nam Định rồi về Hà Nội thấy
quân ta và quân cờ đen sắp đến đánh, bèn truyền lệnh tiến binh lên đánh mặt phủ
Hoài Đức. Sáng hôm 13 tháng 4 thì đại tá đem 500 quân ra đánh ở mạn Cầu Giấy, bị
quân cờ đen phục ở chung quanh đổ ra đánh, quân Pháp chết và bị thương đến non
100 người. Đại tá Henri Rivière tử trận, đại úy Berthe de Villers bị thương nặng.
Sài Gòn được tin đại tá Henri Rivière chết, viên thống đốc
Thomson liền điện về cho chính phủ Pháp biết. Lúc bấy giờ ở Paris hạ nghị viện
còn đang do dự về việc đánh lấy Bắc Kỳ. Khi tiếp được điện báo ở Sài Gòn về,
nghị viện liền thuận cho chính phủ trích ra 5 triệu rưỡi phật lăng để chi tiêu
về việc binh phí, và lại thuận cho một viên quan văn làm toàn quyền, sang kinh
lý mọi việc ở Bắc Kỳ.
Chính phủ Pháp liền điện sang truyền cho lục quân thiếu tướng
Bouet ở Nam Kỳ ra thống đốc quân vụ ở Bắc Kỳ, sai Hải quân thiếu tướng Courbet
đem một đội chiến thuyền sang tiếp ứng và lại cử ông Harmand là sứ thần Pháp ở
Tiêm La ra làm toàn quyền.
Ngày mồng 3 tháng 5, thì thiếu tướng Bouet đem 200 lính tây,
300 lính tập ra đến Hải Phòng. Lập tức thiếu tướng sửa sang sự chống giữ ở Hà Nội
và Nam Định, và lại cho Georges Vlavianos (ông Kiều) là người theo Đồ Phổ Nghĩa
ngày trước, được phép mộ lính cờ vàng đi làm tiền quân.
Quan ta đem quân về đánh quân Pháp ở Hà Nội, Hải Phòng và ở
Nam Định, nhưng chỗ nào cũng thất bại.
Quân ta bấy giờ không có thống nhất, ai đứng lên mộ được năm
ba trăm người cho mang gươm mang giáo đi đánh, hễ phải độ vài ba phát đạn trái
phá thì xô đẩy nhau mà chạy; còn quân của nhà vua thì không có luyện tập, súng
đại bác toàn là súng cổ, súng tay thì ít và xấu. Như thế thì chống làm sao được
với quân Pháp là quân đã quen đánh trận và lại có đủ súng ống tinh nhuệ?
Bấy giờ cuộc hòa đổi ra chiến, súy phủ ở Sài Gòn đuổi quan
lĩnh sự Việt Nam là ông Nguyễn Thành Ý về Huế. Trong khi việc nước đang rối cả
lên như thế, thì vua Dực Tông mất.
Ngài mất ngày 16 tháng 6 năm Quý Mùi (1883), trị vì được 36
năm, thọ 55 tuổi, miếu hiệu là Dực Tông Anh Hoàng Đế.
Ghi chú:
1.
|
Độc giả hiểu cho rằng những ngày tháng chép trong sách này
là theo ngày tháng Việt Nam chứ không phải là theo ngày tháng Tây.
|
2.
|
Về sau có bài Chính Khí Ca nói về việc quan ta giữ thành Hà
Nội lúc bấy giờ, và ai hay ai dở cũng chép rõ ràng. Bài ca ấy không biết ai
làm.
|
Chương 12
Cuộc Bảo Hộ Của Nước Pháp
Cuộc Bảo Hộ Của Nước Pháp
1. Sự phế lập ở Huế: vua Hiệp Hòa.
2. Quân Pháp lấy cửa Thuận An.
3. Hòa ước năm Quý Mùi (1883).
4. Việc ở Bắc Kỳ.
5. Vua Hiệp Hòa bị giết.
6. Vua Kiến Phúc.
7. Sự đánh lấy các tỉnh ở Bắc Kỳ.
8. Lấy tỉnh Sơn Tây.
9. Lấy thành Bắc Ninh.
10. Lấy Hưng Hóa.
11. Lấy Tuyên Quang.
12. Hòa ước Fournier.
13. Hòa ước Patenôtre tháng 6 năm Giáp Thân.
14. Việc Triều chính ở Huế.
15. Vua Hàm Nghi.
2. Quân Pháp lấy cửa Thuận An.
3. Hòa ước năm Quý Mùi (1883).
4. Việc ở Bắc Kỳ.
5. Vua Hiệp Hòa bị giết.
6. Vua Kiến Phúc.
7. Sự đánh lấy các tỉnh ở Bắc Kỳ.
8. Lấy tỉnh Sơn Tây.
9. Lấy thành Bắc Ninh.
10. Lấy Hưng Hóa.
11. Lấy Tuyên Quang.
12. Hòa ước Fournier.
13. Hòa ước Patenôtre tháng 6 năm Giáp Thân.
14. Việc Triều chính ở Huế.
15. Vua Hàm Nghi.
1. Sự phế lập tại Huế: Vua Hiệp Hòa.
Bản triều nhà Nguyễn truyền ngôi đến hết đời vua Dực Tông thì
mất quyền tự chủ. Nước Nam từ đó thuộc về nước Pháp bảo hộ. Nghĩa là ngôi nhà
vua tuy vẫn còn, nhưng quyền chính trị phải theo chính phủ Bảo Hộ xếp đặt.
Ấy cũng vì thời đại biến đổi mà người mình không biết biến đổi,
cho nên nước mình mới thành ra suy đồi. Vả lúc ấy ở ngoài Bắc Kỳ thì rối loạn, ở
trong Triều thì quyền thần chuyên chế, bởi vậy cho nên lại sinh ra lắm việc khó
khăn1.
Vua Dực Tông không có con, nuôi 3 người cháu làm con nuôi:
trưởng là ông Dục Đức 172, phong Thụy quốc công, thứ là ông Chánh Mông, phong
Kiên giang quận công, ba là ông Dưỡng Thiện. Khi ngài sắp mất, có để di chiếu
nói rằng: đức tính ông Dục Đức không đáng làm vua, mà ý ngài muốn lập ông Dưỡng
Thiện, nhưng vì ông ấy còn bé, mà việc nước cần phải có vua lớn tuổi, cho nên
phải lập con trưởng. Ngài lại cho Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất
Thuyết làm phụ chính.
Được ba ngày thì Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đổi tờ
di chiếu, bỏ ông Dục Đức mà lập em vua Dực Tông là Lạng quốc công lên làm vua.
Triều thần ngơ ngác, không ai dám nói gì, chỉ có quan ngự sử Phan Đình Phùng đứng
dậy can rằng: "Tự quân chưa có tội gì mà làm sự phế lập như thế thì sao phải
lẽ". Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết truyền đem bắt giam Phan Đình
Phùng, rồi cách chức đuổi về.
Lạng quốc công, húy Hồng Dật lên làm vua, đặt niên hiệu là Hiệp
Hòa. Còn ông Dục Đức thì đem giam ở Dục Đức giảng đường.
2. Quân Pháp lấy cửa Thuận An.
Vua Hiệp Hòa vừa lập xong, thì viên Toàn quyền mới là ông
Harmand đến Hải Phòng, rồi hội hải quân thiếu tướng Courbet và lục quân thiếu
tướng Bouet, để bàn định mọi việc.
Định một mặt thì thiếu tướng Bouet đem quân lên đánh lấy đồn
phủ Hoài; một mặt thì thiếu tướng Courbet đem tàu vào đánh lấy cửa Thuận An, để
bắt triều đình phải nhận nước Pháp bảo hộ.
Ngày 12 tháng 7, thiếu tướng Bouet lên đánh quân Cờ Đen ở mạn
làng Vòng. Hai bên đánh nhau non ba ngày trời. Sau quân Cờ Đen phải lùi lên
đóng ở Đồn Phùng. Nhưng vì lúc bấy giờ nước lũ lên to, đê vỡ nên quân Pháp
không tiến lên được.
Ngày 16, lục quân trung tá Brionval ở Hải Phòng đem quân lên
lấy thành Hải Dương.
Quân Pháp tuy thắng, nhưng quân Cờ Đen còn mạnh, nên chi thiếu
tướng Bouet phải điện về Paris xin thêm quân tiếp ứng.
Trong khi lục quân thiếu tướng Bouet tiến quân đánh tại Bắc Kỳ,
thì hải quân thiếu tướng Courbet cùng với viên toàn quyền Harmand đem tàu vào
đánh cửa Thuận An, từ ngày 15 đến ngày 18 tháng bảy thì thành Trấn Hải vỡ. Quan
trấn thành là Lê Sĩ, Lê Chuẩn tử trận, Lâm Hoành, Trần Thúc Nhân thì nhảy xuống
sông tự tử.
3. Hòa ước năm quý-mùi (1883).
Triều đình thấy sự nguy cấp, liền sai quan ra xin hòa. Viên
toàn quyền Harmand bắt quan ta phải giải binh cả mọi nơi, rồi cùng với ông De
Champeaux lên Huế để nghị hòa. Triều đình sai quan Hiệp biện hưu trí là Trần
Đình Túc làm khâm sai toàn quyền, và Nguyễn Trọng Hợp làm phó, để cùng với quan
Pháp hội nghị.
Ngày 23 tháng 7 thì tờ hòa ước lập xong, có chữ ông Harmand,
ông De Champeaux, ông Trần Đình Túc và ông Nguyễn Trọng Hợp cùng ký.
Tờ Hòa ước có 27 khoản: - Khoản thứ nhất nói rằng: Nước Nam
chịu nhận nước Pháp bảo hộ, có việc gì giao thiệp với ngoại quốc thì phải do nước
Pháp chủ trương. - Khoản thứ hai: Tỉnh Bình Thuận thuộc về Nam Kỳ. - Khoản thứ
ba: Quân Pháp đóng giữ ở núi đèo Ngang và ở Thuận An. - Khoản thứ sáu: Từ tỉnh
Khánh Hòa ra đến đèo Ngang thì quyền cai trị thuộc về Triều đình.
Những khoản sau nói rằng viên khâm sứ ở Huế được quyền tự do
ra vào yết kiến nhà vua. Còn đất Bắc Kỳ kể từ đèo Ngang trở ra thì nước Pháp đặt
công sứ 3 ở
các tỉnh để kiểm soát những công việc của quan Việt Nam. Nhưng người Pháp không
dự vào việc cai trị ở trong hạt.
Từ hòa ước ký xong, gửi về Paris để chính phủ duyệt y, rồi mới
hỗ giao, nghĩa là mới tuyên cáo cho thiên hạ biết. Ông De Champeaux ở lại Huế
làm khâm sứ, viên toàn quyền Harmand ra Bắc Kỳ để kinh lý việc đánh dẹp.
4. Việc ở Bắc Kỳ.
Triều đình ở Huế nhận hòa ước xong rồi, sai quan Lại bộ thượng
thư Nguyễn Trọng Hợp làm Khâm sai đại thần, quan Công bộ Thượng thư Trần Văn
Chuẩn và quan Lại bộ tham tri Hồng Phi làm phó khâm sai, ra Bắc Kỳ để cùng với
viên Toàn quyền Harmand hiểu dụ nhân dân và bãi quân thứ ở các nơi.
Bấy giờ ở Bắc Kỳ có quan nhà Thanh là Dương Cảnh Tùng đóng ở
Sơn Tây, Từ Diên Húc đóng ở Bắc Ninh, lại có quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc đóng
ở đồn Phùng.
Triều đình tuy có chỉ ra truyền cho quan ta phải rút quân về
Huế, nhưng quan ta còn nhiều người muốn ỷ nước Tàu mà chống giữ với quân Pháp,
cho nên không ai phụng chỉ. Bởi vậy cuộc chiến tranh ở Bắc Kỳ mãi không xong được.
5. Vua Hiệp Hòa bị giết.
Trong Huế thì vua Hiệp Hòa cũng muốn nhận chính sách bảo hộ để
cho yên ngôi vua, nhưng các quan có nhiều người không chịu, và lại thấy Nguyễn
Văn Tường và Tôn Thất Thuyết chuyên chế thái quá, muốn dùng kế mà trừ bỏ đi,
bèn đổi Nguyễn Văn Tường sang làm Binh bộ Thượng thư, Tôn Thất Thuyết làm Lại bộ
Thượng thư, để bớt binh quyền của Tôn Thất Thuyết.
Hai người thấy vua có lòng nghi, sợ để lâu thành vạ, bèn vào
tâu với bà Từ Dụ Thái hậu để lập ông Dưỡng Thiện là con nuôi thứ ba vua Dực
Tông, rồi bắt vua Hiệp Hòa đem ra phủ ông Dục Đức cho uống thuốc độc chết. Vua
Hiệp Hòa làm vua được hơn 4 tháng, sử gọi là Phế Đế.
Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đã giết vua Hiệp Hòa rồi,
lại thấy quan Phụ chính Trần Tiễn Thành không theo ý mình, cũng sai người giết
nốt.
6. Vua Kiến Phúc.
Ngày mồng 7 tháng 10 năm Quý Mùi (1883), ông Dưỡng Thiện, húy
là Ưng Đăng lên ngôi làm vua, đặt niên hiệu là Kiến Phúc. Bấy giờ ngài mới có
15 tuổi, việc gì cũng ở Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết quyết định cả.
Bắc Kỳ thì Hoàng Kế Viêm còn đóng tại Sơn Tây, Trương Quang Đản
còn đóng tại Bắc Ninh, cùng với quân Tàu chống giữ quân Pháp. Viên khâm sứ ở Huế
lấy điều đó trách Triều đình. Triều đình lại có dụ ra truyền cho Hoàng Kế Viêm
và Trương Quang Đản phải về kinh.
Các quan bấy giờ cũng có ông về, cũng có ông nạp ấn trả Triều
đình, rồi hoặc đi chiêu mộ những người nghĩa dũng, hoặc đi theo quan nhà Thanh,
để chống nhau với quân Pháp. Bấy giờ có quan đề đốc Nam Định là Tạ Hiện lĩnh chức
đề đốc của Tàu, và quan án sát sứ Phạm Vụ Mẫn và quan tri phủ Kiến Xương Hoàng
Văn Hòe bỏ chức mà đi; quan tán tương quân vụ ở Sơn Tây là Nguyễn Thiện Thuật bỏ
về Hải Dương, đi mộ quân để chống giữ với quân Pháp.
7. Sự đánh lấy các tỉnh ở Bắc Kỳ.
Viên Toàn quyền Harmand ra Bắc Kỳ sửa sang sự cai trị, lập ra
những đội lính tuần cảnh, tục gọi là lính khố xanh, để phòng giữ các nơi, và
bãi lính cờ vàng của thiếu tướng Bouet đã cho mộ được mấy trăm, vì những lính ấy
hay cướp phá dân gian. Nhưng vì viên Toàn quyền xâm vào quyền quan binh, cho
nên thiếu tướng Bouet lấy làm bất bình.
Ngày mồng một tháng 8, thiếu tướng đem quân lên đánh Cờ Đen ở
đồn Phùng. Hai bên đánh nhau rất dữ. Quân Cờ Đen tuy phải lui, nhưng chưa thực
thua. Thiếu tướng thấy đánh giặc chưa được và lại có ý bất hòa với viên Toàn
quyền, bèn xin về Pháp, giao binh quyền lại cho đại tá Bichot.
Được ít lâu, có quân tiếp ở Sài Gòn ra, đại tá Bichot bèn vào
lấy tỉnh Ninh Bình.
8. Lấy Sơn Tây.
Ngày 25 tháng 9, chính phủ Pháp điện sang cho hải quân thiếu
tướng Courbet làm thống đốc quân vụ, kiêm chức Toàn quyền ở Bắc Kỳ. Viên nguyên
Toàn Quyền Harmand xin về Pháp.
Từ đó việc binh nhung, việc cai trị và việc giao thiệp, ở cả
tay thiếu tướng Courbet. Trong khi thiếu tướng còn phải sửa sang mọi việc và đợi
quân tiếp ở Pháp sang thì quan ta đem quân về đánh Hải Dương, đốt cả phố xá.
Quan Pháp nghi tỉnh thần thông với văn thân, bèn bắt đầy vào Côn Lôn.
Đến khi thiếu tướng tiếp được quân ở bên Pháp sang, số quân
Pháp ở Bắc Kỳ bấy giờ được hơn 9000 người, thiếu tướng chia ra làm hai đạo, đem
cả thủy bộ tiến lên đánh thành Sơn Tây. Đánh từ sáng ngày 13 đến hết ngày 16 mới
hạ được thành. Quân Cờ Đen chống giữ hăng lắm, nhưng quân ta và quân Tàu thấy
súng của Pháp bắn lên mạnh quá, đều bỏ thành rút lên mạn ngược, quân Cờ Đen
cũng phải chạy theo. Trận ấy quân Pháp bị 83 người tử trận và 319 người bị
thương.
9. Lấy thành Bắc Ninh.
Quân Pháp tuy đã lấy dược Sơn Tây, nhưng quân Tàu càng ngày
càng sang đông, thiếu tướng phải chờ có quân tiếp thêm mới đi đánh chỗ khác.
Bên Pháp lại sai một lữ đoàn 4 sang
Bắc Kỳ và sai lục quân trung tướng Millot sang làm thống đốc quân vụ thay cho hải
quân thiếu tướng Courbet.
Ngày 16 tháng giêng năm Giáp Thân (1884), thống tướng Millot
sang nhậm chức, thiếu tướng Courbet được thăng lên hải quân trung tướng và lại
ra coi hải quân để giữ mặt bể. Bấy giờ quân Pháp cả thảy được hơn 1 vạn 6 nghìn
người và 10 đội pháo thủ, chia làm 2 lữ đoàn. Một lữ đoàn ở bên hữu ngạn sông Hồng
Hà thì đóng ở Hà Nội, có thiếu tướng Brière de l'Isle coi; một lữ đoàn ở bên tả
ngạn sông Hồng Hà, thì đóng ở Hải Dương, có thiếu tướng De Négrier coi.
Bấy giờ con đường từ Hà Nội sang Bắc Ninh, chỗ nào cũng có
quân Tàu và quân ta đóng. Thống tướng Millot bèn truyền lệnh cho thiếu tướng
Brière de l'Isle đem quân qua sông Hồng Hà, rồi theo sông Đuống (tức là sông
Thiên Đức) đi về phía đông. Còn toán quân của thiếu tướng De Négrier ở Hải
Dương, đi tàu đến Phả Lại lên bộ, để tiếp vào với toán quân của thiếu tướng
Brière de l'Isle, rồi cả thủy bộ theo sông Cầu (sông Nguyệt Đức) tiến lên đánh
Bắc Ninh.
Hai bên khởi sự đánh nhau từ ngày 11 tháng 2 đến ngày 16, thì
lấy được Đáp Cầu. Quân Tàu thấy quân Pháp chặn mất đường lên Lạng Sơn, bèn bỏ Bắc
Ninh rút lên mạn Thái Nguyên. Tối ngày 16, thì quân Pháp vào thành Bắc Ninh. Trận
ấy quân Pháp chỉ mất có 8 người và 40 bị thương mà thôi.
Thiếu tướng Brière de l'Isle đem quân lên đánh Yên Thế, rồi đến
ngày 23 thì lên lấy thành Thái Nguyên.
10. Lấy Hưng Hóa. Hạ dược thành Bắc Ninh và thành Thái Nguyên
rồi, quân Pháp quay về mạn sông Hồng Hà để đánh lấy Hưng Hóa và Tuyên Quang.
Thiếu tướng Brière de l'Isle đem lữ đoàn thứ nhất theo con đường Sơn Tây lên
Hưng Hóa, rồi dàn trận ở bên này sông Đà Giang. Hai bên khởi sự đánh nhau từ
sáng ngày rằm tháng 3, đến 2 giờ chiều ngày hôm ấy thì quân Pháp sang sông ở chỗ
gần địa hạt huyện Bất Bạt. Chín giờ sáng ngày 16, thì thiếu tướng De Négrier
đem lữ đoàn thứ nhì tiếp đến, cả hai lữ đoàn cùng hợp lực tiến lên đánh. Quân
Tàu và quân Cờ Đen thấy thế không chống được, bèn đốt cả phố xá, rồi bỏ thành
Hưng Hóa rút lên mạn ngược. Còn bọn ông Hoàng Kế Viêm thì kéo lên mạn núi, rồi
đi đường thượng đạo rút về Kinh. Trưa ngày 17 thì quân Pháp vào thành Hưng Hóa.
Lập tức thiếu tá Coronnat đem một toán quân lên đánh phá đồn Vàng.
11. Lấy Tuyên Quang.
Lấy xong Hưng Hóa rồi, chỉ còn có thành Tuyên Quang là chỗ
quân Cờ Đen còn đóng giữ. Thống tướng Millot bèn sai quân đem tàu đi dò xem
sông Lô Giang tàu thủy lên được đến đâu. Đoạn rồi sai trung tá Duchesne đem đạo
quân ở Hưng Hóa và một đội năm chiếc tàu binh lên đánh Tuyên Quang. Quân của trung
tá Duchesne đóng ở Việt Trì khởi hành từ hôm mồng 3 tháng 5 đến ngày mồng 8 thì
đến Tuyên Quang. Chỉ đánh độ một giờ đồng hồ thì quân Cờ Đen bỏ thành chạy.
12. Hòa ước Fournier.
Bấy giờ tuy các tỉnh ở mạn trung châu đất Bắc Kỳ đều thuộc về
quan Pháp cai quản cả, nhưng quân Tàu còn đóng ở Lạng Sơn, Cao Bằng và mạn Lào
Kay. Bởi vậy chính phủ Pháp muốn dùng cách giao thiệp mà trang trải với nước
Tàu, để chính phủ Tàu nhận cuộc bảo hộ của nước Pháp ở nước Nam cho xong. Lại
nhân bấy giờ có hải quân trung tá Pháp tên là Fournier quen một người nước Đức
tên là Détring làm quan bên Tàu coi việc thương chánh ở Quảng Đông. Détring vốn
thân với quan tổng đốc Trực lệ là Lý Hồng Chương. Một hôm Détring gặp trung tá
Fournier nói chuyện việc hòa với nước Tàu. Détring điện về cho Lý Hồng Chương
biết. Hai bên đều có ý muốn hòa cho êm chuyện.
Chính phủ Pháp bèn sai trung tá Fournier lên Thiên Tân để
cùng với Lý Hồng Chương nghị hòa. Đến ngày 18 tháng 4 năm Giáp Thân (1884), thì
lập xong tờ hòa ước. Đại lược nói rằng nước Tàu thuận rút quân đóng ở Bắc Kỳ về,
và từ đấy về sau chính phủ Tàu thuận nhận tờ giao ước của nước Pháp lập với nước
Nam. Nghĩa là nước Tàu để cho nước Pháp được tự do xếp đặt mọi việc ở đất Việt
Nam.
13. Hòa ước Patenôtre tháng 5 Giáp Thân (1884).
Tờ giao ước ký xong thì trung tá Fournier điện cho thống tướng
Millot ở Bắc Kỳ biết sự hòa ước đã xong, mà quân Tàu ở Bắc Kỳ phải rút về.
Lúc bấy giờ công sứ nước Pháp ở Bắc Kinh là ông Patenôtre ở
bên Pháp sang, đi qua đến Sài Gòn, chính phủ ở Paris điện sang sai ông ấy ra Huế
sửa lại tờ hòa ước của ông Harmand đã ký ngày 23 tháng 7 năm Quý Mùi (1883).
Ông Patenôtre và ông Rheinart ra Huế cùng với Triều đình
thương nghị mấy ngày, rồi đến ngày 13 tháng 5 năm Giáp Thân là ngày mồng 6
tháng sáu năm 1884, ông Patenôtre cùng với ông Nguyễn Văn Tường, ông Phạm Thuận
Duật và ông Tôn Thất Phan ký tờ hòa ước mới. Cả thảy có 19 khoản, đại để thì
cũng như tờ hòa ước của ông Harmand, chỉ đổi có mấy khoản nói về tỉnh Bình Thuận
và 3 tỉnh ở ngoài đèo Ngang là Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa vẫn thuộc về Trung kỳ.
Tờ hòa ước ký xong, ông Rheinart ở lại làm Khâm sứ ở Huế, và
ông Patenôtre hội cả các quan, bắt đem cái ấn của Tàu phong cho vua Việt Nam thụt,
bễ nấu lên mà hủy đi, nghĩa là từ đó nước Nam thuộc về nước Pháp bảo hộ, chứ
không thần phục nước Tàu nữa.
Hòa ước ký năm Giáp Thân là năm 1884, là hòa ước của Triều
đình ở Huế ký với nước Pháp công nhận cuộc bảo hộ của Pháp và chia nước ra làm
hai khu vực là Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Tuy hai kỳ cũng thuộc về quyền bảo hộ của nước
Pháp, nhưng mỗi kỳ có một cách cai trị khác. Về sau dần dần hòa ước năm 1884
cũng mất cả ý nghĩa, và thực quyền về chính phủ bảo hộ hết cả. Triều đình ở Huế
chỉ giữ cái hư vị mà thôi.
Nước Việt Nam trước kia, từ Nam chí Bắc là một, có cái tính
cách duy nhất hơn cả các nước khác. Văn hóa, lịch sử, phong tục, ngôn ngữ đều
là một cả, mà nay thành ra ba xứ: Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ; mỗi kỳ có một
chính sách riêng, luật lệ riêng như ba nước vậy. Thậm chí lúc đầu người kỳ này
đi sang kỳ kia phải xin giấy thông hành mới đi được. Kỳ nghĩa là xứ, là khu
trong một nước, chứ không có nghĩa là nước.
Một nước mà tam phân ngũ liệt ra như thế, thật là một mối đau
lòng cho người Việt Nam là dân một nước đã có một lịch sử vẻ vang hàng mấy
nghìn năm.
14. Việc Triều Chính ở Huế.
Triều đình lúc bấy giờ việc gì cũng do hai quan phụ chính là
Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết định đoạt.
Tôn Thất Thuyết là người tính nóng nảy, dữ dội, ai cũng khiếp
sợ. Nhưng tài năng thì kém, mà lại nhát gan, cho nên đa nghi và hay chém giết.
Nguyễn Văn Tường là người ở Quảng Trị, thi đỗ cử nhân năm Tự Đức thứ 5, thật là
một người có tài trí, giỏi nghề giao thiệp, nhưng chỉ có tính tham lam và lại
tàn nhẫn.
Hai ông ấy chuyên giữ triều chính. Quan lại thì ở tay ông Tường,
binh quyền thì ở tay ông Thuyết. Nhưng mà thường việc gì cũng do ở ông Thuyết
xui khiến cả. Trong Triều từ hoàng thân quốc thích cho đến các quan, ai có điều
gì trái ý hai ông ấy là bị giam ở chấp hay là chém giết cả.
Ông Thuyết thì mộ quan phản nghĩa để giữ mình, và thường hay
tiếm dụng nghi vệ của vua; ông Tường thì chịu tiền hối lộ của những người
Khách, cho chúng nó đem tiền sềnh, là một thứ tiền niên hiệu Tự Đức, mỏng và xấu,
đúc ở bên Tàu đem sang, bắt dân phải tiêu. Ai không tiêu thì phải tội. Vả lúc ấy
vua hãy còn trẻ tuổi chưa biết gì, cho nên hai ông ấy lại càng chuyên chế lắm nữa.
Vua Kiến Phúc lên ngôi vừa được hơn 6 tháng, đến ngày mồng 6
tháng 4 năm Giáp Thân (1884) thì phải bệnh mất 5,
miếu hiệu là Giản Tông Nghị Hoàng Đế.
15. Vua Hàm Nghi.
Vua Kiến Phúc mất, đáng lẽ ra con nuôi thứ hai của vua Dực
Tông là ông Chánh Mông lên nối ngôi thì phải. Nhưng Tường và Thuyết không muốn
lập người lớn tuổi, sợ mình mất quyền, bèn chọn người con ông Chánh Mông là ông
Ưng Lịch, mới 12 tuổi, lập lên làm vua, đặt niên hiệu là Hàm Nghi.
Viên Khâm sứ Rheinart trước đã tư giấy sang cho Triều đình Huế
rằng: Nam triều có lập ai làm vua, thì phải xin phép nước Pháp mới được. Nhưng
Tường và Thuyết cứ tự tiện lập vua, không cho viên Khâm sứ biết.
Viên Khâm sứ thấy vậy, viết thư ra Hà Nội. Thống tướng Millot
bèn sai chức tham mưu là đại tá Guerrier đem 600 quân và một đội pháo binh vào
Huế, bắt Triều đình phải xin phép lập ông Ưng Lịch lên làm vua. Tường và Thuyết
làm tờ xin phép bằng chữ nôm gửi sang bên Khâm sứ. Viên Khâm sứ không nghe, bắt
phải làm bằng chữ nho. Đến ngày 27 tháng 6, đại tá và viên Khâm sứ đi cửa chính
vào điện làm lễ phong vương cho vua Hàm Nghi. Xong rồi quan Pháp lại trở ra Hà
Nội.
Ghi chú:
1.
|
Những chuyện ở trong Triều lúc bấy giờ, phần nhiều là lấy ở
quyển "Hạnh Thục Ca", của Lễ Tân Nguyễn Nhược thị. Bà ấy là một người
cung phi của vua Dực Tông sau lại làm thư ký cho bà Từ Dụ, cho nên những việc
trong triều bà ấy biết rõ được rõ.
|
2.
|
Dục Đức, Chánh Mông, Dưỡng Thiện là tên nhà học của những
ông Hoàng con nuôi vua Dực Tông gọi là Dục Đức đường, Chánh Mông đường,
v.v.... Lúc các ông Hoàng ấy chưa được phong thì người ta cứ lấy tên nhà học
mà gọi.
|
3.
|
Résident tức là lưu trú quan, nhưng lúc bấy giờ ta chưa
quen dùng chữ ấy, và nhân có chữ consul cho nên mới dùng chữ công sứ.
|
4.
|
Mỗi một lữ đoàn (brigade) có hai vệ quân, độ chừng bảy tám
nghìn người, có chức thiếu tướng coi. Hai lữ đoàn là một sư đoàn (division),
có chức trung tướng coi.
|
5.
|
Có chuyện nói rằng: Khi vua Kiến Phúc se mình, nằm trong điện,
đêm thấy Nguyễn Văn Tường vào trong cung, ngài có quở mắng. Đến ngày hôm sau,
thì ngài ngộ thuốc mà mất.
|
Chương 13
Chiến Tranh Với Nước Tàu
Chiến Tranh Với Nước Tàu
1. Trận Bắc Lệ.
2. Đánh Phúc Châu và vây Đài Loan.
3. Trận đồn Chữ và đồn Kép.
4. Trận Yên Bạc.
5. Lấy thành Lạng Sơn.
6. Thành Tuyên Quang bị vây.
7. Mất thành Lạng Sơn.
8. Hòa ước Thiên Tân.
2. Đánh Phúc Châu và vây Đài Loan.
3. Trận đồn Chữ và đồn Kép.
4. Trận Yên Bạc.
5. Lấy thành Lạng Sơn.
6. Thành Tuyên Quang bị vây.
7. Mất thành Lạng Sơn.
8. Hòa ước Thiên Tân.
Tại Bắc Kỳ thì quân Pháp tưởng là việc hòa ước với nước Tàu
đã xong, chỉ còn đợi ngày quân Tàu rút về, thì lên thu nhận lấy thành Lạng Sơn,
Cao Bằng và Lào Kay. Cứ theo tờ hòa ước của trung tá Fournier ký ở Thiên Tân,
thì vào chừng rằm tháng 5 quân Tàu ở Lạng Sơn, Thất Khê và Cao Bằng phải rút về.
Vậy đến cuối tháng 5, thì thống tướng Millot sai trung tá Dugenne đem 1000 quân
lên thu lại các thành ấy. Ngày mồng một tháng 5 nhuận thì quân Pháp lên đến đồn
Bắc Lệ. Khi quân Pháp sang sông Thương, thì quân Tàu bắn vào quân Pháp, phải 3
người bị thương. Được một chốc bên quân Tàu sai người đưa thư nói rằng đã biết
có hòa ước, nhưng chưa được lệnh rút quân về, vậy xin hoãn lại 6 ngày để đợi lệnh
Bắc Kinh. Trung tá Dugenne không chịu; đến quá trưa, trung tá cho người đưa thư
sang bảo quân Tàu rằng: trong một giờ nữa mà quân Tàu không rút về thì quân
Pháp cứ việc tiến lên. Đoạn rồi trung tá truyền lệnh tiến binh; đi được một
lúc, thì quân Tàu phục hai bên đường bắn ra. Quân Pháp dàn trận đánh nhau đến tối.
Sáng ngày hôm sau, quân Pháp thấy quân Tàu sắp vây cả bốn mặt, bèn rút quân về
bên này sông Thương, để đợi quân cứu viện ở Hà Nội lên. Trận ấy quân Pháp bị 28
người tử trận, 46 người bị thương, còn những phu phen chết không biết bao nhiêu
mà kể.
Thống tướng Millot tiếp được tin quân Pháp thua ở Bắc Lệ, liền
sai thiếu tướng De Négrier đem 2 đại đội quân bộ, 2 đội pháo binh và một toán
công binh đi đường Phủ Lạng Thương qua làng Kép, lên tiếp ứng cho trung tá
Dugenne. Khi tiếp được quân của trung tá rồi, thiếu tướng Millot triệu thiếu tướng
De Négrier về Hà Nội, để chờ lệnh và quân ở bên Pháp sang.
2. Đánh Phúc Châu và vây Đài Loan.
Chính phủ bên Pháp tiếp được sự khai chiến ở Bắc Kỳ, liền điện
truyền cho hải quân trung tướng Courbet đem tàu sang đóng gần thành Phúc châu
là tỉnh lị Phúc Kiến, và lại cho ông Patenôtre là công sứ Pháp ở Bắc Kinh đòi
nước Tàu phải trả 250 triệu tiền binh phí về việc chiến tranh ở Bắc Kỳ. Chính
phủ 2 nước thương thuyết mãi, đến ngày 29 tháng 6, thì chính phủ Pháp gửi tờ tối
hậu thư đòi nước Tàu 80 triệu phật lăng tiền binh phí, hạn cho trả làm 10 năm.
Đến ngày mồng ba tháng 7 năm Giáp Thân (1884), thì hải quân trung tướng được lệnh
khởi sự đánh Phúc châu.
Trung tướng truyền lệnh cho các chiến thuyền bắn lên các pháo
đài và phá các xưởng làm binh khí ở Phúc Châu, và lại đánh cả chiến thuyền của
Tàu đóng ở trong sông Mân Giang. Trung tướng bắn phá ở Phúc Châu rồi đem binh
thuyền ra vây đánh đảo Đài Loan.
Hải quân của Pháp vây Đài Loan và các cửa bể mãi đến tháng 6
năm Ất Dậu (1885), nước Tàu ký hòa ước rồi, mới thôi.
3. Trận Đồn Chũ và Đồn Kép.
Trong khi hải quân của Pháp đánh phá ở mặt bể, quân Tàu ở quảng
Đông, Quảng Tây kéo sang Bắc Kỳ càng ngày càng nhiều, mà quân tiếp ứng của Pháp
mãi không thấy sang, đến trung tuần tháng 7, thống tướng Millot bèn cáo bệnh
xin về, giao quyền lại cho thiếu tướng Brière de l'Isle.
Được ít lâu, thiếu tướng Brière de l'Isle tiếp được 6 nghìn
quân ở Pháp sang, số quân bấy giờ cả thảy được non 2 vạn người, thiếu tướng bèn
chia ra làm 4 đạo để đi đánh quân Tàu và quân ta; thiếu tá Servière đem một đạo
quân lên mạn Đông Triều; trung tá Donnier đem một đạo quân theo sông Lục Nam đến
đánh đồn Chũ và đồn Đầm; trung tá Defoy đem một đạo quân lên mạn sông Thương;
thiếu tá Mibielle và thiếu tướng De Négrier thì đóng đại đồn ở Lạng Thương.
Ngày 20 tháng 8, quân Pháp tiến lên đóng đồn Chũ, đồn Bảo Lạc và đồn Kép. Quân
Tàu chống lại được một ngày, mà quân hai bên đánh nhau ở đồn Kép hăng hơn cả.
Quân Tàu chết có đến 2 000 người; còn bên quân Pháp thì thiếu tướng De Négrier
bị thương ở chân, 27 người tử trận và 100 người bị thương. Quân Tàu chết hại mất
nhiều người, phải bỏ đồn Kép, đồn Bảo Lạc và đồn Chũ chạy lui trở về.
Mạn đông bắc, quân Tàu đã lui, thiếu tướng Brière de l'Isle
bèn sai đại tá Duchesne đem 700 quân lên đánh quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc ở mạn
Tuyên Quang và lại sai trung tá Berger đem quân lên giữ Thái Nguyên.
4. Trận Yên Bạc.
Quân Tàu tuy đã thua ở đồn Chũ và đồn
Kép, nhưng vẫn còn đóng ở địa hạt Lạng Sơn và Quảng Yên. Đến
trung tuần tháng 11, quân Tàu lại về đóng ở An Châu, thiếu tướng De Négrier đem
quân bộ và quân pháo binh đi theo tả ngạn sông Lục Nam lên đánh quân Tàu ở núi
Bóp. Quân Tàu chết đến hơn 600 người, quân Pháp thiệt hại mất 19 người tử trận
và 65 người bị thương.
5. Lấy thành Lạng Sơn.
Đầu năm 1885 là quãng tháng 11 năm Giáp Thân, thiếu tướng Brière
de l'Isle được thăng chức trung tướng và lại tiếp tục được hơn 1 000 quân ở bên
Pháp sang. Qua tháng chạp ta, trung tướng mộ non 7 000 phu để tải đồ và đem 7
500 quân, chia ra làm 2 đạo để đánh Lạng Sơn. Đạo thứ nhất thì thuộc quyền thiếu
tướng De Négrier, đạo thứ nhì thì thuộc quyền đại tá Giovanninelle.
Con đường đi từ Kép đến Lạng Sơn là đường hẻm trong núi, mà
chỗ nào cũng có quân Tàu đóng, cho nên quân Pháp mới dùng kế đánh ngang từ đồn
Chũ đánh lại, để lấy đồn Tuần Muội 1.
Thiếu tướng De Négrier trước đã lên đồn Kép, dương thanh thế tiến binh, rồi lẻn
về đồn Chũ đem quân qua đèo Vân, lấy đồn Đồng Sơn tức là đồn Sung, rồi sang lấy
đồn Tuần Muội. Quân Tàu đang giữ ở mạn Bắc Lệ, thấy quân Pháp đã chặn mất đường
về, liền rút quân chạy. Thiếu tướng De Négrier đem quân đánh tràn lên đến Lạng
Sơn, trưa hôm 29 tháng chạp thì lấy được thành. Đánh từ ngày 25 đến 29 tháng chạp,
quân Pháp thiệt mất 40 người tử trận và 22 người bị thương.
Lấy xong thành Lạng Sơn, quân Pháp nghỉ ngơi mấy ngày, rồi lại
tiến lên đánh Đồng Đăng. Quân Tàu chạy phân làm hai ngả: một ngả chạy lên Thất
khê, một ngả chạy lên ải Nam Quan về Tàu. Đến ngày mồng 8 tháng giêng năm Ất Dậu
(1885), thì thiếu tướng De Négrier lên đến cửa Nam Quan, truyền phá ải quan, rồi
trở về giữ Lạng Sơn.
6. Thành Tuyên Quang bị vây.
Khi quân Pháp đi đánh mặt Lạng Sơn, thì quân Tàu và quân Cờ
Đen ở mạn sông Hồng Hà và sông Lô Giang lại kéo về đánh Tuyên Quang. Bấy giờ
quân Pháp ở trong thành cả thảy độ hơn 600 người, thuộc quyền thiếu tá Dominé.
Từ đầu tháng mười năm Giáp Thân (1884), quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc đã kéo về
đóng ở gần phủ Yên Bình và phủ Đoan Hùng. Đến tháng 11 thì quân Tàu giữ các chỗ
hiểm yếu, để chặn đường không cho quân Pháp ở trung châu lên tiếp ứng, rồi Lưu
Vĩnh Phúc đem quân lên đánh thành Tuyên Quang; đánh mãi đến 15 tháng chạp mới
vây được thành. Quân Cờ Đen dùng đủ kế dể phá thành, mà quân Pháp ở trong thành
cũng cố hết sức để chống giữ.
Lúc ấy quân Pháp đã lấy được thành Lạng Sơn rồi, trung tướng
Brière de l'Isle liền để thiếu tướng De Négrier ở lại giữ thành, đến ngày mồng
2 tết đem quân đi đường đồn Chũ về Hà Nội, rồi lập tức lên cứu Tuyên Quang.
Ngày 13 tháng giêng năm Ất Dậu thì lên đến Đoan Hùng rồi sang sông Chảy. Quân
Tàu và quân Pháp giao chiến từ đó cho đến ngày 16, mới giải được vây. Trận ấy
quân hai bên thiệt hại cũng nhiều, nhưng quân Tàu không địch được quân Pháp, phải
vội vàng giải vây mà rút lên mạn ngược.
7. Mất thành Lạng Sơn.
Thành Tuyên Quang vừa giải vây xong, thì ở Lạng Sơn lại khởi
sự giao chiến. Quân Tàu tuy đã thua phải bỏ thành Lạng Sơn, nhưng quan đề đốc
Quảng Tây là Phùng Tử Tài vẫn đóng đại đồn ở Long Châu, chực sang đánh lấy lại
Lạng Sơn.
Ngày mồng 6 tháng 2 năm Ất Dậu (1885), quân Tàu sang đánh Đồng
Đăng, thiếu tướng De Négrier đem quân lên cứu, rồi chực đánh sang Long Châu.
Quân Pháp đánh trong 2 ngày, chết hại mất non 200 người. Đến mồng 8, thiếu tướng
rút quân về Lạng Sơn, còn những người bị thương thì đem về đồn Chũ. Quân Pháp
đóng ở Lạng Sơn bấy giờ có 35 000 người.
Ngày 13 thì quân Tàu tràn sang đánh Kỳ Lừa, thiếu tướng De
Négrier bị thương nặng, phải giao quyền lại cho trung tá Herbinger để chống với
quân địch. Nhưng bấy giờ quân Tàu sang đông quá, trung tá phải bỏ thành Lạng
Sơn rút về Tuần Muội, rồi về đồn Chũ và đồn Kép.
Trung tướng Brière de l'Isle tiếp được tin bại trận ở Lạng
Sơn, liền điện cho chính phủ Pháp để xin tiếp quân sang cứu viện, và lập tức đi
tàu lên đồn Chũ để phòng sự chống giữ.
Quân Tàu lấy được Lạng Sơn rồi chia quân giữ các chỗ hiểm yếu,
chứ không dám đuổi xa. Còn ở mạn sông Hồng Hà, thì quân Cờ Đen và quân của các
quan cựu thần thì về đánh phá ở mạn gần Hưng Hóa và Lâm Thao.
8. Hòa Ước Thiên Tân.
Bên Pháp tiếp được điện tín của trung tướng Brière de l'Isle
đánh về nói quân Pháp phải bỏ thành Lạng Sơn, thì lòng người náo động cả lên.
Thủ tướng Jules Ferry phải từ chức. Chính phủ Pháp thấy sự chiến tranh không lợi
bèn ký tờ giao ước đình chiến với nước Tàu. Rồi một mặt thì truyền lệnh cho sứ
thần nước Pháp ở Bắc Kinh là ông Patenôtre lập tờ hòa ước với chính phủ Tàu; một
mặt thì cho quân sang tiếp ứng Bắc Kỳ và sai trung tướng Roussel de Courcy làm
Thống đốc quân dân sự vụ, trung tướng Warnel làm tham mưu tổng trưởng, cùng với
thiếu tướng Jamont và thiếu tướng Prudhomme đem hai sư đoàn sang Bắc Kỳ.
Chính phủ Tàu thấy chiến tranh không có lợi, bèn thuận ký tờ
hòa ước, và lập tức sai quan sang Hà Nội truyền lệnh cho quân Tàu phải rút về.
Ngày 27 tháng 4 năm Ất Dậu (1883) là năm Quang Tự thứ 11, ông Patenôtre và ông
Lý Hồng Chương ký tờ hòa ước, đại lược nói rằng nước Tàu nhận cuộc bảo hộ của
nước Pháp ở nước Việt Nam, và lại hòa thuận buôn bán như cũ. Nước Pháp thì trả
lại các chỗ mà hải quân đã chiếm giữ ở mặt bể, và thuận bỏ cái khoản tiền binh
phí không đòi nữa. Ngày hôm quan hai nước ký tờ hòa ước ở Thiên Tân, thì hải
quân trung tướng Courbet phải bệnh mất ở gần đảo Đài Loan. Hải quân của Pháp
cũng chiếu theo điều ước mà rút quân về.
Ghi chú:
1.
|
Tức là ải Chi Lăng ngày trước.
|
Chương 14
Loạn ở Trung Kỳ
Loạn ở Trung Kỳ
1. Thống tướng De Courcy vào Huế.
2. Triều đình chạy ra Quảng Trị.
3. Nguyễn Văn Tường ra thú.
4. Xa giá các bà Thái hậu về Khiêm Lăng.
5. Quân Cần vương.
6. Vua Đồng Khánh.
7. Thống tướng De Courcy phải triệt về.
8. Vua Hàm Nghi ở Quảng Bình.
9. Ông Paul Bert.
10. Lập Tổng đốc Toàn Quyền.
2. Triều đình chạy ra Quảng Trị.
3. Nguyễn Văn Tường ra thú.
4. Xa giá các bà Thái hậu về Khiêm Lăng.
5. Quân Cần vương.
6. Vua Đồng Khánh.
7. Thống tướng De Courcy phải triệt về.
8. Vua Hàm Nghi ở Quảng Bình.
9. Ông Paul Bert.
10. Lập Tổng đốc Toàn Quyền.
1. Thống Tướng De Courcy vào Huế.
Việc đánh nhau với Tàu xong, thì tức là cuộc bảo hộ ở nước
Nam thành. Nhưng ở các nơi, những quan cũ ta còn chống nhau với quân Pháp, mà ở
Huế thì Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết chuyên chế đủ mọi đường.
Tháng 9 năm Giáp Thân (1885), hai ông ấy đem ông Dục Đức giam
vào nhà tối, không cho ăn uống để chết đói, đổ tội cho là thông mưu với giặc.
Hai ông ấy lại mộ quân tập lính và lập đồn Tân Sở ở gần Cam Lộ thuộc tỉnh Quảng
Trị, đem đồ báu ngọc vàng bạc ra đấy, phòng khi có việc gì thì đem quân ra đó để
chống nhau với quân Pháp. Cũng vì các ông ấy có ý muốn kháng cự, cho nên quân
Pháp đã chiếm giữ Mang Cá ở thành Huế và lại bắt bỏ súng đại bác ở trên thành
đi.
Ngày 18 tháng 4 năm Ất Dậu (1885), thống tướng De Courcy sang
tới Bắc kỳ. Bấy giờ sự hòa ước với Tàu đã xong, bởi vậy thống tướng mới định
vào Huế bắt Triều đình ta phải chịu quyền bảo hộ. Thống tướng đến Hà Nội đã nói
chuyện với các người Pháp và những người Nam ra làm quan với Pháp, đã biết tình
hình ở trong Huế là thế nào. Đến ngày 19 tháng 5 thì thống tướng đem non 500
quân đi tàu vào Huế. Triều đình cử hai quan đại thần theo viên Khâm sứ Pháp là
ông De Champeaux ra đón thống tướng ở cửa Thuận An. Sáng hôm sau, thống tướng
cho đòi hai quan phụ chính sang bên Khâm sứ để định việc vào yết kiến vua Hàm
Nghi.
Hai ông ấy lúc bấy giờ còn đang lừng lẫy, việc Triều chính ở
trong tay mình cả, mà thấy thống tướng làm sự đường đột như thế, cũng đã tức giận
lắm, lại cứ như lời mấy ông quan cựu thần nói chuyện, thì ông Thuyết là quan
văn làm tướng võ, nhưng hình dáng thì không được thanh tú: đầu thì trọc, người
thì béo mà đen, cách đi đứng thì không được chững chạc, sự giao thiệp và đối
đáp thì không sành. Xưa nay thì chỉ lấy quyền thế mà đè nén người ta, hơi một
tí thì lấy sự chém giết làm oai. Đến khi phải ra theo lễ bang giao mà đối với một
người tướng ngoại quốc như ông De Courcy thì trong bụng khiếp sợ không biết ra
thế nào.
Ông Tường thì là một tay giao thiệp giỏi, lại có nhiều mưu cơ
và tài nghề ứng biến, cho nên lúc ấy chỉ có một mình ông Tường sang ra mắt quan
thống tướng De Courcy mà thôi, còn ông Thuyết thì cáo bệnh không sang. Thống tướng
thấy vậy, bảo đau cũng phải khiêng sang.
Tôn Thất Thuyết thấy quan Pháp ra oai như thế, phần thì tức
giận, phần thì sợ, lại nhân lúc bấy giờ mới có điềm động đất, mới nghĩ bụng rằng
đấy là điềm trời xuôi khiến bèn quyết ý sửa soạn để đánh nhau.
Thống tướng De Courcy định đến hôm vào điện yết kiến vua Hàm
Nghi, thì phải mở cửa chính, không những chỉ để quan nước Pháp đi mà thôi,
nhưng lại phải để cả quân lính cùng đi vào cửa ấy. Triều đình thấy điều ấy trái
với quốc lễ, xin để thống tướng đi cửa giữa, theo như sứ Tàu ngày trước, còn
quân lính thì xin đi cửa hai bên, thống tướng nhất định không chịu.
2. Triều đình chạy ra Quảng Trị.
Trưa hôm 22 các quan ở Cơ Mật Viện sang Khâm sứ xin vào bàn định
cho xong việc đi cửa chính, cửa bên, nhưng thống tướng De Courcy không tiếp. Bà
Từ Dụ Thái Hậu sai quan đem đồ lễ vật sang tặng thống tướng, thống tướng cũng
khước đi không nhận.
Các quan thấy thống tướng làm dữ dội như vậy, đều ngơ ngác
không hiểu ra ý tứ gì mà khinh mạn Triều đình đến như thế. Tôn Thất Thuyết càng
thấy thế càng lấy làm tức giận, thôi thì sống chết cũng liều một trận, họa may
trời có giúp kẻ yếu hèn gì chăng? Ấy là lúc tướng sĩ lúc bấy giờ ai cũng tưởng
như thế, cho đến mới định đến nửa đêm khởi sự phát súng bắn sang Khâm sứ và
đánh trại lính của Pháp ở Mang Cá.
Chiều hôm ấy thống tướng làm tiệc đãi các quan Pháp. Tiệc vừa
tan xong, thì súng ở trong thành nổ ra đùng đùng, rồi những nhà ở chung quanh
dinh Khâm sứ cháy, lửa đỏ rực trời. Quân Pháp thấy bất thình lình nửa đêm quân
ta đánh phá như vậy, chưa biết ra thế nào, chỉ yên lặng mà chống giữ. Đến sáng
ngày 23 mới tiến lên đánh, thì quân ta thua chạy 1.
Nguyễn Văn Tường cho người vào điện tâu xin rước vua và các bà Thái Hậu tạm
lánh lên Khiêm Lăng2.
Khi xa giá ra gần đến cửa hữu thì gặp Nguyễn Văn Tường đã chực sẵn để đi hộ
giá, nhưng lệnh truyền cho Nguyễn Văn Tường ở lại để thu xếp mọi việc. Nguyễn Văn
Tường vâng lệnh trở lại. Xa giá đi qua làng Kim Long, lên đến chùa Thiên Mụ,
thì Tôn Thất Thuyết đem quân chạy đến truyền rước xa giá quay trở về Trường
Thi 3.
Lúc bấy giờ vương tôn công tử, người đi ngựa, kẻ đi chân, dân
gian thì trẻ cõng già, đàn bà dắt trẻ con, ai nấy chạy hốt hoảng tìm đường
tránh cho khỏi chỗ binh đao.
Xa giá đến Trường Thi vào nghỉ được một lát, thì Tôn Thất
Thuyết lại giục lên đường, nói rằng quân Pháp đã sắp đuổi tới. Tối ngày 23, xa
giá vào nghỉ nhà một người bá hộ, sáng ngày 24 ra đi, đến tối mới tới thành Quảng
Trị. Quan tuần phủ Trương Quang Đản 4 ra
rước xa giá vào Hành cung và đặt quân lính để phòng giữ.
Trận đánh nhau ở Huế, quân Pháp mất 16 người và 80 người bị
thương. Sách tây chép rằng quân ta chết đến vài nghìn người, còn bao nhiêu khí
giới lương thực và hơn một triệu tiền của đều mất cả.
3. Nguyễn Văn Tường ra thú.
Tại Huế, cả buổi sáng hôm 23, quân Pháp chiếm lấy thành trì
và giữ gìn các nơi. Còn quan ta, người thì đi theo xa giá, người thì ẩn nấp một
nơi, chưa biết thế nào, chưa ai dám ra. Đến trưa hôm ấy, Nguyễn Văn Tường vào
ăn cơm nhà ông giám mục Caspard, rồi nhờ ông ấy đưa ra thú với thống tướng De
Courcy. Thống tướng cho Nguyễn Văn Tường ra ở Thương bạc viện, giao cho đại úy
Schmitz và một toán lính Pháp phải coi giữ, và hẹn cho trong hai tháng phải làm
thế nào cho yên mọi việc.
4. Xa giá các bà thái hậu về Khiêm Lăng.
Nguyễn Văn Tường viết sớ ra Quảng Trị xin rước xa giá trở về
Kinh để cho yên lòng người. Nhưng lúc ấy vua Hàm Nghi và tam cung là bà Từ Dụ
Thái hoàng thái hậu, mẹ đức Dực Tông, bà Hoàng thái hậu là vợ đức Dực Tông và mẹ
nuôi vua Dục Đức, bà Hoàng thái phi là vợ thứ đức Dực Tông và mẹ nuôi vua Kiến
Phúc, bị Tôn Thất Thuyết gìn giữ, sớ của Nguyễn Văn Tường gửi ra vấn an, ông ấy
đem giấu đi không cho vua biết. Ai cũng muốn xin rước xa giá lên Tân Sở, để lo
liệu sự khôi phục. Đức Từ Dụ và hai bà Thái hậu nhất định không chịu đi.
Ngày 27, Tôn Thất Thuyết nghe tin có tàu Pháp sắp đến, bèn
xin tam cung ở lại Quảng Trị và xin rước vua lên Tân Sở. Khi sắp đi, vua Hàm
Nghi vào lạy ba bà Thái hậu: tình ly biệt, nỗi sầu thảm, kể sao cho xiết! Vua
đi khỏi độ một giờ đồng hồ, thì bọn nội giám đều trở lại nói rằng Tôn Thất Thuyết
không cho đi. Đến ngày 28, thì tam cung mới tiếp được tin của Nguyễn Văn Tường
ra nói xin rước xa giá trở về Huế, mọi việc đã thu xếp xong rồi. Bà Từ Dụ cho người
đi rước vua trở lại để cùng về Huế, nhưng tìm mãi không biết vua ở đâu, chỉ tiếp
được thư của Tôn Thất Thuyết gửi về nói Nguyễn Văn Tường phản trắc nọ kia, xin
đừng có nghe. Nguời bàn đi, kẻ bàn lại, ai nấy phân vân chưa biết ra thế nào.
Ngày 30 lại tiếp được sớ của Nguyễn Văn Tường ra giục xa giá trở về. Đức Từ Dụ
mới quyết ý về Kinh, định ngày mồng 4 thì lên đường, sai quan tuần phủ Trương
Quang Đản đem quân đi hộ giá. Đến chiều tối ngày mồng 5, xa giá các bà Thái hậu
về đến Khiêm cung. Nguyễn Văn Tường dâng sớ lên thỉnh an và kể tình mọi việc.
Trong khi vua còn đi vắng, thống tướng De Courcy đặt ông Thọ
Xuân lên làm giám quốc, giao quyền binh bộ thượng thư cho viên Khâm sứ De
Champeaux, để bãi việc binh lính của ta đi, và gọi quan kinh lược ở Bắc kỳ là
Nguyễn Hữu Độ và quan Tổng đốc Nam Định là Phan Đình Bình về cùng với Nguyễn
Văn Tường coi việc cơ mật. Vì hai ông ấy ở Bắc Kỳ đã hiểu mọi việc và đã biết
theo chính sách của bảo hộ, cho nên thống tướng đem về để thu xếp mọi việc cho
chóng xong. Nguyễn Văn Tường và Nguyễn Hữu Độ không hợp ý nhau, Nguyễn Hữu Độ lại
trở ra Bắc Kỳ.
Tôn Thất Thuyết ở Quảng Bình làm hịch cần vương truyền đi các
nơi, bởi vậy chỉ trừ những chỗ chung quanh Kinh thành ra, còn tự Bình Thuận trở
ra cho đến Nghệ An, Thanh Hóa, chỗ nào sĩ dân cũng nổi lên, đổ cho dân bên đạo
gây thành mối loạn, rồi đến đốt phá những làng có đạo. Sách tây chép rằng từ đầu
tháng 6 cho đến cuối tháng 8, dân bên đạo phải 8 ông cố và hơn 2 vạn người bị
giết.
Thống tướng De Courcy thấy chỗ nào cũng có loạn cả, bèn trở
ra Bắc Kỳ, hội các tướng lại để bàn sự đánh dẹp. Thống tướng đỉnh sai đại tá
Pernot đem 1 500 quân ở Huế ra đuổi Tôn Thất Thuyết, lại sai thiếu tướng De
Négrier đem một đạo quân đi từ Thanh Hóa dánh vào. Nhưng chính phủ ở Paris điện
sang không cho thống tướng khởi sự dùng đại binh, và lại nhân lúc bấy giờ ở Bắc
Kỳ và Trung Kỳ có bệnh dịch tả, quân Pháp chết hại đến ba bốn nghìn người, bởi
vậy cho nên việc dùng binh phải đình lại.
Tại Huế thì mãi không ai biết vua Hàm Nghi ở đâu. Triều đình
thì mỗi ngày một rối, việc lập vua mới thì tuy rằng đã định rồi, nhưng còn lôi
thôi chưa xong.
Đến ngày 27 tháng 7, vừa hết hạn 2 tháng của thống tướng De
Courcy hẹn cho Nguyễn Văn Tường, vả bấy giờ ở Bắc Kỳ lại có nhiều người ghét
Nguyễn Văn Tường xin thống tướng đem trị tội. Bởi vậy sang ngày 28 thống tướng
bắt quan nguyên Phụ chính Nguyễn Văn Tường, quan Hộ bộ thượng thư Phạm Thận Duật
và Tôn Thất Đính là thân sinh ra Tôn Thất Thuyết, đem đày ra Côn Lôn. Phạm Thận
Duật đang đi tàu thì mất, phải ném xuống bể. Nguyễn Văn Tường thì sau lại phải
đày ra hải đảo Tahiti ở Thái Bình Dương, được ít lâu cũng mất, cho đem xác về
chôn ở quê nhà.
6. Vua Đồng Khánh.
Thống tướng De Courcy đày bọn Nguyễn Văn Tường đi rồi, đem
Nguyễn Hữu Độ về cùng với Phan Đình Bình coi việc triều chính, sai Nguyễn Trọng
Hợp ra quyền kinh lược ở Bắc Kỳ. Thống tướng lại sai ông De Champeaux lên Khiêm
cung yết kiến đức Từ Dụ xin lập ông Chánh Mông là Kiên giang quận công lên làm
vua.
Ngày mồng 6 tháng 8, ông Chánh Mông phải thân hành sang bên
Khâm sứ làm lễ thụ phong, rồi làm lễ tấn tôn, đặt niên hiệu là Đồng Khánh.
Vua Đồng Khánh tính hiền lành, hay trang sức và cũng muốn duy
tân, ở rất được lòng người Pháp; đình thần thì nhiều người đã biết theo chính
sách của bảo hộ cho nên mọi việc trong Triều đều được yên ổn. Nhưng vua Hàm
Nghi còn ở mạn Quảng Bình, kéo cờ nghĩa để chống nhau với quân Pháp, truyền hịch
cần vương để mong đường khôi phục. Lúc bấy giờ, lòng người còn tưởng nhớ chúa
cũ, cho nên từ tỉnh Bình Thuận trở ra, chỗ nào cũng có người nổi lên đánh phá để
toan bề khôi phục.
Tại Quảng Nam thì bọn thân hào lập ra Nghĩa hội có quan sơn
phòng sứ là Trần Văn Dự làm chủ, rồi những tỉnh Phú Yên, Bình Định, Bình Thuận
đều noi theo mà nổi lên. Tại Quảng Trị có các ông Trương Đình Hội, Nguyễn Tự
Như, ở Quảng Bình có quan nguyên tri phủ là Nguyễn Phạm Tuân, ở Hà Tĩnh có cậu ấm
Lê Ninh 5;
ở Nghệ An có ông nghè Nguyễn Xuân Ôn và
quan sơn phòng sứ Lê Doãn Nhạ; ở Thanh Hóa có Hà Văn Mao,
v.v.. Những người ấy đều xướng lên việc cần vương. đem quân đi hoặc chiếm giữ tỉnh
thành, hoặc đánh lấy các phủ huyện, và đốt phá những làng có đạo. Tại ngoài Bắc
thì các quan cựu thần là quan đề đốc Tạ hiện, quan tán tương Nguyễn Thiện Thuật
tụ họp ở Bãi Sậy, rồi đi đánh phá ở mạn trung châu, còn ở mạn thượng du, thì ở
chỗ nào cũng có quân giặc Tàu quấy nhiễu. Bởi vậy quân Pháp phải chia binh ra
chống giữ các nơi.
7. Thống tướng De Cource phải triệt về.
Thống tướng De Courcy thấy ở ngoài Bắc có lắm việc, bên để
thiếu tướng Prudhomme ở lại Huế, rồi ra Hà Nội kinh lý mọi việc. Nhưng vì thống
tướng tính khắc khổ và đa nghi, cho nên công việc càng ngày càng khó thêm. Tại
Pháp thì có nhiều người không muốn giữ đất Bắc Kỳ, có ý muốn bãi binh. Bởi vậy
đến cuối năm 1885 là năm Ất Dậu, thủ tướng nước Pháp là ông Brisson xin nghị viện
thuận cho lấy ra 75 triệu phật lăng để chi tiêu về việc Bắc Kỳ. Nghị viện đặt hội
đồng để xét việc ấy. Hội đồng định rút quân về và chỉ cho 18 triệu phật lăng mà
thôi. Đến khi đầu phiếu thì đảng theo chính phủ được 274 phiếu, và đảng phản đối
với chính phủ được 270, nghĩa là đảng muốn giữ đất Bắc Kỳ chỉ hơn có 4 phiếu.
Thủ tướng Brisson thấy trong nghị viện có nhiều người không hợp ý mình bèn xin
từ chức.
Ông Freycinet lên làm thủ tướng, thấy thống tướng De Courcy ở
bên nước Nam làm lắm việc lôi thôi, bèn điện sang triệt về Pháp, giao binh quyền
lại cho trung tướng Warnel, và sai ông Paul Bert là quan văn sang sung chức thống
đốc, để kinh lý mọi việc ở nước Nam.
8. Vua Hàm Nghi ở Quảng Bình.
Bấy giờ tuy ở Huế đã lập vua Đồng Khánh rồi, nhưng đảng cựu
thần còn có nhiều người theo phò vua Hàm Nghi, quyết chí chống lại với quân
Pháp. Quan Pháp bèn sai đại tá Chaumont đem quân ra đóng ở thành Quảng Bình, để
chặn đường không cho đảng Tôn Thất Thuyết thông với Bắc Kỳ. Nhưng ở mạn Thanh
Hóa, Nghệ An, bọn văn thân đánh phá rất dữ. Đại tá Chaumont bèn để đại tá
Grégoire ở lại giữ thành Quảng Bình, rồi trở về Đà Nẵng lấy thêm binh và tàu
chiến đem ra đóng ở thành Nghệ An, chia quân đi tuần tiễu các nơi.
Tôn Thất Thuyết thấy thế không chống nổi quân Pháp bèn bỏ vua
Hàm Nghi ở lại đồn Vé, thuộc huyện Tuyên Hóa (tên cũ là Qui Hợp Châu) tỉnh Quảng
Bình, rồi cùng với đề đốc Trần Xuân Soạn đi đường thượng đạo, nói rằng sang cầu
cứu bên Tàu 6.
Vua Hàm Nghi bấy giờ phải ẩn nấp ở vùng huyện Tuyên Hóa có
các con Tôn Thất Thuyết là Tôn Thất Đạm và Tôn Thất Thiệp cùng với đề đốc Lê Trực
và Nguyễn Phạm Tuân 7,
hết sức giữ gìn và đem quân đi đánh phá ở mạn Quảng Bình và Hà Tĩnh.
Tháng giêng năm Bính Tuất (1886), trung tá Mignot đem quân ở
Bắc kỳ vào Nghệ An, rồi chia làm hai đạo: một đạo thì thiếu tá Pelletier đem
lính tập theo sông Ngàn sâu vào mạn Tuyên Hóa; một đạo thì trung tá Mignot tự
đem quân đi đường quan lộ vào giữ thành Hà Tĩnh, rồi vào đóng ở sông Gianh.
Tại Huế lại sai trung tá Metzniger đem một toán quân ra tiếp ứng
các đạo. Quân Pháp đóng ở chợ Đồn và ở Minh Cầm, rồi trung tá Metzniger đem ông
cố Tortuyaux đi làm hướng đạo để lên lấy đồn Vé. Thế quân Pháp tiến lên mạnh lắm,
quân văn thân chống lại không nổi, phải tan cả.
Nhưng qua sang tháng hai, ở ngoài Bắc Kỳ có việc, vả lại viên
thống dốc Paul Bert đã sang đến nơi, chính sách đổi lại cả, cho nên mới triệt
các đạo quân về, chỉ đóng giữ ở Quảng Khê, ở Roon và ở chợ Đồn mà thôi. Quân
văn thân thấy quân Pháp rút về, lại trở về đóng ở các đồn cũ.
9. Ông Paul Bert.
Ngày mồng 5 tháng 3 năm Bính Tuất (1886), viên thống đốc Paul
Bert sang đến Hà Nội. Lập tức đặt phủ Thống sứ ở Bắc kỳ và sở kiểm soát về việc
tài chính. Đến cuối tháng 3 thì thống đốc vào yết kiến vua Đồng Khánh ở Huế, và
xin lập nha Kinh lược ở Bắc Kỳ, cho quan Kinh lược đại sứ được quyền cùng với
phủ Thống sứ tự tiện làm mọi việc. Vì rằng ở ngoài Bắc vào đến Huế đường xá xa
xôi, có việc gì phải tâu bẩm vào Bộ mất nhiều ngày giờ lắm, bởi vậy xin cho được
tự tiện làm việc, rồi trong một năm độ vài kỳ đem các việc tâu về vua biết.
Thống đốc Paul Bert ở Huế đến cuối trung tuần tháng 4 lại ra
Hà Nội, rồi một mặt thì lo đánh dẹp, một mặt thì mở Pháp Việt học đường, lập
Thương nghiệp cục, đặt lệ đồn điền. Chủ ý của thống dốc là muốn khai hóa đất Bắc
Kỳ cho chóng được thịnh lợi. Nhưng cũng vì thống đốc phải lo nghĩ
Chính phủ Pháp sai ông Bihourd sang lĩnh chức thống dốc Pháp
thay ông Paul Bert.
10. Lập Tổng Đốc Toàn Quyền Phủ.
Nước Pháp đã lấy đất Nam Kỳ, lập bảo hộ ở nước Cao Miên, rồi
lập bảo hộ ở đất Bắc Kỳ và ở Trung Kỳ, mở ra một cuộc thuộc địa lớn ở Viễn đông
này; nhưng buổi đầu thì mỗi xứ có một chức thủ hiến để coi riêng việc chính trị.
Đến năm Đinh Hợi (1887), chính phủ nước Pháp mới đặt phủ Tổng đốc toàn quyền để
điều khiển việc chính trị cả mấy xứ ở nước ta và nước Cao Miên. Tháng 10 năm
Đinh Hợi (15 tháng 11 - 1887), thì viên Tổng đốc toàn quyền mới, tức là viên Tổng
đốc toàn quyền trước nhất, là ông Constant sang nhận chức ở Sài Gòn.
Từ đó ở các nơi như Nam Kỳ thì có viên Thống đốc, Trung Kỳ và
Cao Miên thì mỗi nơi có viên Khâm sứ, Bắc kỳ và Lào thì mỗi nơi có viên Thống sứ
đứng đầu coi việc cai trị trong hạt; những việc gì quan hệ đến chính sách cả
toàn cảnh thì phải theo lệnh viên Tổng đốc toàn quyền mà thi hành.
Ghi chú:
1.
|
Việc Tôn Thất Thuyết đánh quân Pháp ở Huế, sử ta không nói
rõ số quân ta là bao nhiêu. Mà sách Tây có nơi chép là 2 vạn, có nơi chép là
3 vạn. Nhưng cứ những người biết việc ở Huế lúc bấy giờ, thì quân ta cả thảy
độ chừng non 2 vạn trở lại, chứ không hơn.
|
2.
|
Khiêm Lăng là lăng của vua Dực Tông, có khi gọi là Khiêm
Cung cũng là đấy.
|
3.
|
Trường Thi thủa ấy bấy giờ ở làng Đa Chữ cách Kinh thành 10
cây số.
|
4.
|
Trương Quang Đản trước làm tổng đốc Bắc Ninh, chống nhau với
quân Pháp, sau về Kinh phải giáng xuống tuần phủ ra giữ thành Quảng Trị.
|
5.
|
Người ở La Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, con quan nguyên bố chính Lê
Kiên.
|
Tôn Thất Thuyết đi đường thượng đạo ra vùng Hưng Hóa rồi
theo thượng lưu sông Đà lên Lai Châu nương tựa vào họ Điêu. Đến lúc nghe tiếng
quân Pháp lên đánh, liền bỏ họ Điêu mà trốn sang Tàu. Con cháu họ Điêu nói
chuyện lại rằng: Khi Tôn Thất Thuyết lên đến Lai Châu còn có mấy chục người
đi theo. Lên đấy ở một đô, chém giết gần hết. Xem như thế ông Thuyết là một
người cuồng dại mà lại nhát gan. Một người như thế mà làm đại tướng để giữ nước,
thì tài gì mà nước không nguy được Về sau chết già ở Thiều Châu, thuộc tỉnh
Quảng Đông.
|
|
Sách ông Gosselin chép là Phạm Thuận. Nhưng xét trong sử nước
thì không có ai làm Phạm Thuận, chỉ có Nguyễn Phạm Tuân trước làm tri phủ,
sau theo vua Hàm Nghi chống cự với quân Phá, rồi bị đạng phải bắt. Vậy Phạm
Thuận tức là Nguyễn Phạm Tuân. nhiều việc, vả lại nay đi kinh lược chỗ này,
mai đi kinh lược chỗ nọ, thành ra khí lược suy nhược đi, cho nên mới cảm bệnh
nặng, đến ngày rằm tháng 10 năm Bính Tuất (11 tháng 11 năm 1886) thì mất. Nhà
nước đem linh cữu về Pháp mai táng.
|
1. Việc đánh dẹp ở các nơi
2. Vua Đồng-khánh ra Quảng-Bình
3. Hoàng kế Viêm ra quân thử mạn Quảng-Bình
4. Lập đồn Minh-cầm
5. Vua Hàm-nghi bị bắt
6. Vua Thành-thái
7. Sự đánh dẹp ở Bắc-kỳ
8. Việc Phan đình Phùng
9. Lòng yêu nước của người Việt Nam
2. Vua Đồng-khánh ra Quảng-Bình
3. Hoàng kế Viêm ra quân thử mạn Quảng-Bình
4. Lập đồn Minh-cầm
5. Vua Hàm-nghi bị bắt
6. Vua Thành-thái
7. Sự đánh dẹp ở Bắc-kỳ
8. Việc Phan đình Phùng
9. Lòng yêu nước của người Việt Nam
1. Việc đánh dẹp ở các nơi.
Trong khi thống-đốc Paul Bert xếp- đặt mọi việc ở Bắc-kỳ, thì
ở Trung-kỳ quân Cần-vương ở các tỉnh vẫn đánh phá. Quân Pháp phải tìm cách mà
đánh-dẹp cho yên. ở mạn Bình-thuận, Phú-yên thì thiếu-tá De Lorme và viên
Công-sứ Aymonier cùng với Trần bá Lộc đem lính tây và lính ở Nam-kỳ ra đánh-dẹp.
Trần bá Lộc dùng cách dữ- dội, chém giết rất nhiều, bởi vậy đất Bình-thuận
không bao lâu mà yên; rồi đem quân ra dẹp đảng văn-thân ở Phú-yên và Bình-định,
bắt được cử-nhân Mai xuân Thưởng, Bùi Điền, Nguyễn đức Nhuận đem chém. Từ tháng
6 năm bính-tuất (1886) đến tháng 6 năm đinh-hợi (1887), thì những tỉnh ở phía
nam đất Kinh-kỳ đã dẹp yên.
2. Vua Đồng Khánh ra Quảng Bình: Đất Trung-kỳ từ Quảng-trị trở
ra chưa được yên. Vua Đồng-khánh bèn định ra tuần thú mặt bắc, để dụ vua
Hàm-nghi và những quan đại thần về cho yên việc đánh-dẹp. Quân Pháp sai đại-úy
Henry Billet đi hộ-giá.
Ngày 16 tháng 5 năm bính-tuất (1886), xa-gía ở Kinh đi ra,
mãi đến cuối tháng 7 mới tới Quảng-bình. Xa-gía đi đến đâu thì đảng cựu thần vẫn
không phục, cứ đem quân đến chống-cự, cho đến việc vua đi tuần-thú lần ấy,
không có kết-qủa gì cả. Ra đến Quảng-bình thì vua Đồng-khánh yếu, ở được vài
mươi ngày rồi phải xuống tầu đi đường hải đạo trở về Huế.
3. Hoàng Kế Viêm Ra Quân Thử Mạn Quảng Bình: Vua Đồng-khánh về
Huế được vô sự. Đến tháng 9 vua khai phục nguyên hàm cho Hoàng kế Viêm và phong
cho làm Hữu-trực-kỳ An-phủ kinh-lược đại-sứ, được quyền tiện-nghi hành-sự, để
ra Quảng-bình dụ vua Hàm-nghi và các quan cựu thần về. Trong tờ dụ của vua Đồng-khánh
ban cho Hoàng kế Viêm đại-lược nói rằng: Nếu vua Hàm nghi mà thuận về, thì sẽ
phong cho làm làm Tổng-trấn ba tỉnh Thanh-hóa, Nghệ-an và Hà-tĩnh, và lại cấp
cho bổng lộc theo tước vương. Các quan cựu-thần như các ông Trương văn Ban,
Nguyễn Trực, Nguyễn Chư, Lê mô Khải, Nguyễn nguyên Thành, Phạm trọng Mưu, Nguyễn
xuân Ôn, Lê doãn Nha, Ngô xuân Quỳnh, ai về thú thì được phục nguyên chức, cho
vào làm quan ở các tỉnh từ Quảng-trị trở vào. Còn như các ông Trần xuân Soạn,
Nguyễn phạm Tuân, Phan đình Phùng mà có chịu về thì sẽ tha những điều lỗi trước,
và sẽ phong cho làm chức hàm khác. Những điều ấy đã bàn với viên Thống-đốc Paul
Bert, hai bên đã thuận cho như thế, quyết không sai lời.
Bấy giờ quân của quan Đề-đốc Lê Trực đóng ở mạn Thanh-thủy,
thuộc huyện Tuyên-chánh; quân của Tôn-thất Đạm là con Tôn-thất Thuyết thì đóng ở
ngàn Hà-tĩnh, về hạt Kỳ-anh và Cẩm-xuyên. Còn Tôn-thất Thiệp và Nguyễn phạm
Tuân thì phò vua Hàm-nghi ở mạn huyện Thanh-hóa.
Ông Hoàng kế Viêm ra Quảng-bình, sai người đi dụ ông Lê Trực
về. Nhưng các ông ấy cứ nhất thiết không chịu, chỉ có bọn thủ-hạ lác đác vài
người ra thú mà thôi. Bởi vậy, việc Hoàng kế Viêm ra kinh-lược cũng không thành
công, cho nên đến tháng 5 năm đinh-hợi (1887), lại phải triệt về.
4. Lập Đồn Minh Cầm.
Triều-đình ở Huế thấy dùng cách phủ-dụ không được, bèn lấy
quyền cho người Pháp tìm kế đánh-dẹp.
Người Pháp cũng biết là thế-lực của đảng vua Hàm-nghi chẳng
được bao nhiêu, cốt tìm đường mà chiếm dần địa-thế và mua chuộc những đứa làm
tay trong, thì tất thế nào rồi cũng trừ hết được, bởi vậy cho nên không dùng đến
đại binh.
Trước đại-úy Mouteaux ở Quảng-bình đã cùng với ông cố
Tortuyaux đem quân đi đánh lấy đồn của Lê Trực ở Thanh-thủy, nhưng quân của ông
ấy vẫn không tan, cứ đành phá mãi. Đến tháng giêng năm đinh-hợi (1887), đại-úy
Mouteaux đem quân lên lập đồn Minh-cầm đóng ở mé trên Thanh- thủy. Đại-úy vẫn
biết ông Lê Trực là người có nghĩa-khí, và trong khi hai bên chống cự với nhau
không bao giờ ông ấy làm điều tàn-ác, cho nên đại- úy vẫn có ý trọng lắm. Trước
đã cho người đưa thư lên dụ ông ấy về thú. Ông ấy phúc thư lại rằng: "Tôi
vì vua, vì nước, chết sống cũng một lòng làm cho hết việc bổn-phận, chứ không
dám tham sự sống mà quên việc nghĩa".
Từ khi quân Pháp đóng đồn ở Minh-cầm, các ông Lê Trực và Nguyễn
phạm Tuân phải lui lên mé trên. Ông Lê Trực thì ra mạn Hà-tĩnh, Ông Nguyễn phạm
Tuân thì lên đóng ở làng Yên-lộc về phía sông Gianh.
Qua tháng 3, nhờ có do thám, biết chỗ ông Nguyễn phạm Tuân
đóng, đại-úy Mouteaux bèn đem quân lên vây làng Yên-lộc, bọn ông Nguyễn phạm
Tuân, trong khi bất ý, đều bị bắt cả. Ông Nguyễn phạm Tuân phải đạn bên cạnh sườn,
sống được mấy ngày thì mất.
Quân Pháp tuy đã trừ được ông Nguyễn phạm Tuân nhưng ông Lê
Trực hãy còn, và vẫn chưa biết rõ vua Hàm-nghi ở chỗ nào, sau có những người ra
thú, mách rằng muốn bắt vua Hàm-nghi thì mưu với tên Trương quang Ngọc. Tên ấy
là người bản-xứ ở đấy và từ khi vua ra ở vùng ấy nó được vào hầu cận, và lại là
một đứa khí-độ tiểu-nhân, thì chắc có lẽ mua chuộc nó được. Đại-úy định tìm
cách để thông với tên Ngọc, cho người đi do-thám, biết được tên Ngọc hiện đóng ở
làng Chà-mạc, bèn đem quân lên vây làng ấy. Nhưng khi lên đến nơi, tên Ngọc thấy
động, chạy thoát được. Đại-úy sai tìm trong làng chỉ thấy có một bà lão, đại-úy
bèn đưa cái thư viết cho tên Ngọc, nhờ bà lão ấy đưa cho nó, rồi rút quân về đồn
Minh-cầm.
Được mấy hôm kỳ-dịch những làng mé trên về thú ở đồn Minh-cầm,
đại-úy đưa cho chánh-tổng những dân ấy mấy lạng thuốc phiện và mấy bì gạo trắng
để gửi cho tên Ngọc và nhờ bảo nó dỗ vua Hàm-nghi về. Tên Ngọc nhận những đồ ấy
và trả lời xin hết lòng giúp người Pháp, nhưng cần phải để thong thả, sợ việc
tiết-lộ ra thì không thành.
Từ đó việc bắt vua Hàm-nghi chỉ trông-cậy vào tên Ngọc. Nhưng
bấy giờ có người con thứ Tôn-thất Thuyết là Tôn-thất Thiệp giữ-gìn vua Hàm-
nghi một cách nghiêm-mật qúa. Tôn-thất Thiệp thề sống chết không để cho quân
Pháp bắt vua được. Bởi vậy, hễ ai nói đến sự về thú thì bắt chém ngay, cho nên
bọn tên Ngọc tuy đã nhị tâm, nhưng chưa dám hạ thủ.
ở mé ngoài, thì các ông Lê Trực và Tôn-thất Đạm, nay đánh chỗ
này mai phá chỗ kia mà không sao bắt được. Đại-úy Mouteaux đánh đuổi lâu ngày
nhọc-mệt, bèn xin về Pháp nghỉ.
5. Vua Hàm Nghi Bị Bắt: Qua tháng giêng năm mậu-tí (1888),
viên đại-tá coi đạo quân ở Huế ra Quảng-bình, rồi chia quân đi tuần-tiễu, để
tìm vua Hàm-nghi và đuổi bắt ông Lê Trực và ông Tôn-thất Đạm. Đến tháng 9 năm ấy,
quân lính mỏi-mệt mà không thành công được. Quân Pháp đã toan rút về giữ những
đồn ở gần mạn bể, bỗng dưng có tên suất-đội Nguyễn đình Tinh hầu cận vua
Hàm-nghi ra thú ở đồn Mang-cả, phía trên đồn Minh- cầm, và khai rõ tình-cảnh
cùng chỗ vua đóng. Người Pháp bèn sai tên Tinh đem thư lên dụ tên Ngọc về. Được
mấy hôm tên Ngọc và tên Tinh về tình- nguyện xin đi bắt vua Hàm-nghi.
Người Pháp truyền cho bọn tên Ngọc phải làm thế nào bắt sống
được vua Hàm-nghi, còn những người khác hễ ai chống cự, thì cứ giết đi.
Ngày 26 tháng 9, tên Ngọc và tên Tinh đem hơn 20 đứa thủ hạ,
người ở làng Thanh-lang và Thanh-cuộc lên vây làng Tả-bảo 1 là
chỗ vua Hàm-nghi đóng. Đến độ nửa đêm, khi chúng nó sông vào, thì Tôn-thất Thiệp
còn đang ngủ, hoảng hốt cầm gươm nhảy ra, thì chúng đâm chết. Vua Hàm-nghi
trông thấy tên Ngọc làm phản như vậy, cầm thanh gươm đưa cho nó và bảo rằng:
"Mày giết tao đi, còn hơn đưa tao về nộp cho Tây". Ngài vừa nói dứt lời,
thì bọn chúng nó có một đứa lẻn ra sau lưng ôm quàng lấy ngài rồi dựt thanh
gươm ra. Từ khi ngài bị bắt rồi, ngài không nói năng gì nữa.
Sáng ngày hôm sau, bọn tên Ngọc võng ngài ra đến bến Ngã-hai,
rồi đem xuống cái bè, đi mất hai ngày mới về đến đồn Thanh-lang, nộp cho viên đại-úy
coi đồn ấy là ông Boulangier. Đại-úy lập tức đem ngài về đồn Thuận- bài đóng ở
tả-ngạn sông Gianh, gần chợ đồn.
Vua Hàm-nghi bấy giờ đã 18 tuổi, quan Pháp lấy vương- lễ mà
tiếp- đãi. Tuy vậy ai hỏi gì, ngài cũng không nói, chỉ nhất-thiết chối rằng
mình không phải là vua.
Nhưng đến lúc vào trong buồng ngồi một mình, thì hai hàng nước
mắt chứa-chan, buồn vì nỗi nước đổ nhà tan, thân mình phải nhiều nỗi gian-
truân.
Người Pháp đem vua Hàm-nghi xuống tầu về Thuận-an, rồi đem
sang để ở bên xứ Algérie, là xứ thuộc-địa của nước Pháp, ở phía bắc châu A-
phi-ly-gia, mỗi năm cấp cho 2 vạn rưỡi phật-lăng 2.
Tên Trương quang Ngọc được hưởng hàm lĩnh-binh, tên Nguyễn
đình Tinh cũng được thưởng hàm quan võ. Còn bọn thủ-hạ, đứa thì được thưởng hàm
suất-đội, đứa thì được thưởng mấy đồng bạc.
Tôn-thất Đạm ở ngàn Hà-tĩnh, nghe tin vua Hàm-nghi bị bắt,
bèn hội cả bọn tướng sĩ lại, truyền cho ra thú để về làm ăn, rồi viết hai bức
thư: một bức để dâng vua Hàm-nghi, xin tha lỗi cho mình làm tôi không cứu được
vua, và một bức gửi cho thiếu-tá Dabat, đóng ở đồn Thuận-bài xin cho bọn thủ-hạ
ra thú. Viết xong thư rồi, Tôn-thất Đạm nói rằng: "Bây giờ người Pháp có
muốn bắt ta thì vào tìm thấy mả ta ở trong rừng!". Đoạn rồi thắt cổ mà tử-tận 3.
Ông Tôn-thất Thuyết làm đại-tướng mà cư-xử ra một cách rất
hèn- nhát không đáng làm người trượng-phu chút nào. Nhưng hai người con thì thật
là bậc thiếu-niên anh-hùng, có thể che được cái xấu cho cha vậy.
Quan đề-đốc Lê Trực cũng đem hơn 100 quân ra thú ở đồn Thuận-
bài. Triều-đình ở Huế xem cái tờ xin ra thú, thấy lời-lẽ của quan đề-đốc cũ nói
khảng-khái, không được khiêm-tốn, có ý bắt tội, nhưng người Pháp thấy là một
người trung-nghĩa, có lòng qúi-trọng, tha cho về yên nghiệp ở nhà.
Ông Tôn-thất Đạm và ông Lê Trực là người phản-đối với nước
Pháp lúc bấy giờ, nhưng các ông ấy vì việc nước mà hết lòng làm việc bổn-phận
cho nên người Pháp cũng biết lượng tình mà thương-tiếc. Sau ông Lê Trực về ở
làng Thanh-thủy, thuộc huyện tuyên-hóa, tỉnh Quảng-bình, người Pháp thường vẫn
đi lại thăm-nom và có ý kính-trọng lắm. Người bản-quốc thấy vậy, ai cũng lấy
làm cảm phục.
6. Vua Thành Thái: Ngày 27 tháng chạp năm mậu-tí là ngày 28
tháng giêng năm 1888, vua Đồng-khánh phải bệnh mất, thọ 25 tuổi, làm vua được 3
năm, miếu hiệu là Cảnh-tông Thuần-hoàng-đế.
Bấy giờ ông Rheinard lại sang làm Khâm-xứ ở Huế, thấy con vua
Đồng-khánh còn nhỏ, và lại nhớ ông Dục-đức ngày trước, khi vua Dực-tông hày
còn, thường hay đi lại với người Pháp, bởi vậy viêm Khâm-xứ nghĩ đến tình cũ mà
truyền lập ông Bửu Lân là con ông Dục-dức lên làm vua.
Ông Bửu Lân bấy giờ mới lên mười tuổi, đang cùng với mẹ phải
giam ở trong ngục. Triều-đình vào rước ra, tôn lên làm vua, đặt niên hiệu là
Thành-thái, cử ông Nguyễn trọng Hợp và ông Trương quang Đản làm Phụ- chính.
7. Sự đánh dẹp ở Bắc Kỳ: Khi nhà Thanh bên Tầu đã ký hòa-ước
với nước Pháp ở Thiên-tân rồi, quân Tầu ở nước ta rút về. Nhưng các cựu- thần
như quan Tán-tương quân-vụ là Nguyễn thiện Thuật và quan Đề-đốc Tạ Hiện còn giữ
ở vùng Bãi-sậy thuộc Hải-dương cùng với các thổ-hào như Đốc Tít ở vùng Đông-triều;
Đề Kiều ở vùng Hưng-hóa; Cai Kinh, Đốc Ngữ ở vùng Phủ-lạng-thương và Yên-thế;
Lương tam Kỳ, dư đảng cờ đen, ở vùng chợ Chui đều nổi lên tương ứng với nhau mà
đánh phá. Lúc ấy quan quyền kinh-lược-sứ là ông Nguyễn trọng Hợp cử quan quyền
Tổng-đốc Hải-dương là Hoàng cao Khải làm chức Tiểu-phủ-sứ đi đánh-dẹp ở vùng
Bãi-sậy.
Hoàng cao Khải đem quân đi đánh riết mấy mặt. Bọn văn-thân
người thì tử trận, người thì bị bắt. Nguyễn thiện Thuật chạy sang Tầu, sau mất ở
Nam-ninh, thuộc quảng-tây. Đốc Tít ra hàng, phải đầy sang ở thành Alger, bên
Algérie. Đề Kiều và Lương tam Kỳ ra thú được ở yên. Cai Kinh bị bắt, Đốc Ngữ ra
thú, Hoàng hoa Thám ở Yên-thế cũng ra thú, được giữ ở vùng ấy, mãi đến năm 1909
mới bị đánh đuổi, đến năm 1912 mới bị giết.
Hoàng cao Khải đi đánh-dẹp có công, về được chính-phủ bảo-hộ
cho lãnh chức Bắc-kỳ Kinh-lược-sứ.
8. Việc Phan Đình Phùng: Từ năm kỷ-sửu (1889) là năm Thành-
thái nguyên-niên cho đến năm qúy-tị (1893) là năm Thành-thái ngũ-niên, đất
Trung-kỳ không có việc gì quan-hệ lắm. Các quan cựu-thần, người thì về thú, người
thì ẩn-nấp ở chỗ sơn-lâm. Riêng ông Phan đình Phùng thì về ở đồn điền ở
Vũ-quang về phía bắc huyện Hương-khê, thuộc tỉnh Nghệ-tĩnh, rồi cho người đi
sang Tầu, sang Tiêm, học đúc súng đúc đạn, để đợi ngày khởi sự.
Ông Phan đình Phùng người tỉnh Hà-tĩnh, thi đỗ đình-nguyên về
đời vua Dục-tông, quan làm đến chức ngự-sử bị bọn quyền-thần là Nguyễn văn Tường
và Tôn-thất Thuyết cách chức đuổi về. Sau ông ấy đứng đầu đảng văn-thân để chống
cự với quân Pháp. Ông không những là một người có tài văn-chương mà thôi, mà lại
là một nhà có thao-lược, sửa-sang quân-lính có cơ-ngũ, luyện-tập tướng-sĩ có kỷ-luật,
cho nên đại-úy Gosselin làm quyển sách "Empire d Annam" có khen rằng:
"Quan Đình-nguyên Phan đình Phùng có tài kinh-doanh việc quân-binh, biết
luyện-tập sĩ-tốt theo phép Thái-tây, áo-quần mặc một lối, và đeo súng kiểu
1874, những súng ấy là súng của người quan Đình-nguyên đúc ra thật nhiều mà
máy-móc cũng hệt như súng Pháp chỉ vì lòng súng không xẻ rãnh, cho nên đạn
không đi xa được".
Đến cuối trung-tuần tháng 11 năm qúi-tị (1893), ông sai người
đến vây nhà tên Trương quang Ngọc ở làng Thanh-lang, huyện Tuyên-hóa, bắt tên
Ngọc chém lấy đầu để báo-thù về việc tên ấy làm sự phản-ác. Từ đó quân của quan
Đình-nguyên vẫy-vùng ở mạn Hương-khê, đảng văn-thân cũ lại về tụ họp ở đấy.
Bấy giờ người Pháp không muốn dùng đại binh sợ náo-động lòng
người ở bên Pháp, cho nên chỉ sai quan đem lính tập đi đánh. Đánh từ cuối năm
qúi-tị (1893) cho đến cuối năm ất-mùi (1895) ngót 2 năm trời mà không dẹp yên
được, quân-lính chết hại cũng nhiều. Bên Bảo-hộ cũng đã tìm đủ mọi cách, như bảo
Hoàng cao Khải viết thư dụ Phan đình Phùng về hàng cho xong cũng không được.
Sau cùng Triều-đình ở Huế thấy việc dai- dẳng mãi không yên, mới xin chính-phủ
Bảo-hộ để sai quan Tổng-đốc Bình- định là Nguyễn Thân làm Khâm-mạng tiết-chế
quân-vụ đem quân ra tiễu- trừ. Ông Phan đình Phùng lúc bấy giờ tuổi đã già, mà
thế-lực mỗi ngày một kém, lại phải nay ẩn chỗ này, mai chạy chỗ kia, thật là
lao-khổ vô cùng, bởi vậy khi Nguyễn Thân đem quân ra đến Hà-tĩnh, thì ông đã phải
bệnh mất rồi. Nguyễn Thân sai người đuổi đánh tìm thấy mả, đào lấy xác đem về
xin người Pháp cho đem đốt lấy tro trộn với thuốc súng mà bắn đi. Có người nói
rằng việc ấy tuy Nguyễn Thân trước định thế, nhưng sau lại cho đem chôn, vì muốn
để làm cái tang-chứng cho đảng phản-đối với chính-phủ Bảo-hộ là quan Đình
Nguyên đã mất rồi. Từ đó đảng văn-thân tan-vỡ; ai trốn đi mất thì thôi, ai ra
thú thì phải về Kinh chịu tội.
Nguyễn Thân về Kinh được thăng làm Phụ-chính thay ông Nguyễn
trọng Hợp về hưu.
9. Lòng yêu nước của người Việt Nam.
Người Việt-nam vì hoàn-cảnh, vì tình thế bắt-buộc phải im hơi
lặng tiếng, nhưng lòng ái quốc mỗi ngày một nồng-nàn, sự uất-ức đau-khổ mỗi
ngày một tăng thêm. Cho nên cứ cách độ năm bẩy năm lại có một cuộc phiến-động,
như sau việc Phan đình Phùng rồi, có việc Kỳ-đồng và việc Thiên-binh vào khoảng
1897-1898 ở vùng Thái-bình, Hải-dương, Bắc-ninh v.v... Vào quãng năm 1907 ở
Hà-nội có việc Đông-kinh nghĩa-thục. Lúc ấy có những người chí sĩ như Phan bội
Châu, Phan chu Trinh, người thì không sợ tù tội, đứng lên tố-cáo sự tham- nhũng
của bọn quan-lại, người thì ra ngoại-quốc bôn-ba khắp nơi để tìm cách giải-phóng
cho nước. Năm 1908, ở Trung-Việt vùng Nghệ-Tĩnh và Nam- Nghĩa có việc dân nổi
lên kêu sưu. ở Hà-nội thì có việc đầu-độc lính Pháp, rồi ở Thái-nguyên, Hoàng
hoa Thám lại nổi lên đánh phá.
Khi bên Âu-châu có cuộc đại-chiến thì bên ta lại có việc
đánh-phá ở Sơn-la và Sầm-nứa và việc vua Duy-tân mưu sự độc-lập, bị bắt đầy
sang ở đảo Réunion. Thế là nước Việt-nam bấy giờ có ba ông vua bị đầy: vua Hàm-
nghi đầy sang xứ Algérie, vua Thành-thái và vua Duy-tân đầy sang ở đảo Réunion.
Sau cuộc chiến lần thứ nhất, có toàn lính khố xanh nổi lên
đánh Thái-nguyên do Đội Cấn và ông Lương ngọc Quyến làm đầu. Năm 1927, ở vùng
Nghệ-tĩnh có cuộc phiến-động gây ra bởi đảng Cộng-sản do Nguyễn ái Quốc cầm đầu.
Đến năm 1930, ở Bắc Việt có cuộc cách-mệnh của Quốc- dân-dảng, có Nguyễn thái Học
điều-khiển ở Yên-bái và các nơi. Năm 1940, ở Nam-Việt có cuộc phiến-động ở vùng
Gia-định, Hốc-môn v.v... Từ khi có cuộc đại-chiến lần thứ hai, nước Pháp bại trận,
bị nước Đức chiếm cứ, quân Nhật-bản ở bên Tầu sang đánh Lạng-sơn rồi ký hiệp-ước
với người Pháp cho người Nhật được đóng quân ở Đông-pháp. Đến ngày mồng 9 tháng
3 năm 1945, quân Nhật đánh quân Pháp và giao quyền nội-trị lại cho vua Bảo-đại.
Được mấy tháng thì quân Đồng-minh thắng trận, Nhật-bản đầu hàng. Đảng Việt-minh 4 dưới
quyền lãnh đạo của Nguyễn ái Quốc-đổi tên là Hồ chí Minh thừa cơ nổi lên cướp
quyền, vua Bảo-đại phải thoái-vị và nhường quyền cho đảng Việt-minh.
Đây chỉ mới nói qua cái đại-lược một đoạn lịch-sử của nước Việt-
nam, để dành về sau nhà làm sử sẽ tìm đủ tài-liệu mà chép cho rõ-ràng và
phê-bình cho chính-đáng.
Ghi chú:
1.
|
Những chuyện nói về việc bắt vua Hàm Nghi là phần nhiều lấy
ở trong sách "Empire d'Annam" của đại úy Gosselin, cho nên những
tên làng tên đất nói ở đoạn này viết không được đúng dấu. Nhưng đại để là những
làng mường ở vùng sông Giai, thuộc huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
|
2.
|
Hiện nay vua Hàm Nghi còn ở Algérie, và đã lấy một người nước
Pháp, được mấy đứa con.
|
3.
|
Hai bức thư ấy dịch ra chữ Pháp in ở trong sách
"Empire d'Annam" của đại úy Gosselin. Lời lẽ thì thật là cương nghị
đáng bậc thiếu niên anh hùng. Nhưng vì thư đã dịch ra chữ Pháp nếu nay lại
theo chữ Pháp mà dịch ra chữ ta thì sợ không đúng với bản chính, cho nên
không đem vào đây.
|
4.
|
Việt Minh là tên gọi tắt một đảng cách mệnh gọi là Việt Nam
Độc Lập Đồng Minh do đảng Cộng sản lập ra khi còn ở bên Quảng Tây, bên Tàu, để
tránh hai chữ Cộng sản cho người ta khỏi ngờ.
|
1. Đà-nẵng, Hà-nội, Hải-phòng thành đất nhượng-địa
2. Việc kinh-doanh ở các xứ bảo-hộ
2. Việc kinh-doanh ở các xứ bảo-hộ
1. Đà-nẵng, Hà-nội, Hải-phòng thành đất nhượng-địa.
Từ khi sự đánh-dẹp các nơi đã yên rồi, các viên Tổng-đốc
toàn-quyền lần lượt sang kinh-doanh việc Đông-pháp và lo mở mang về đường
chính-trị, kinh-tế và xã-hội theo chính-sách của nước Pháp.
Tháng 3 năm mậu-tí (1888) tức là năm Thành-thái nguyên-niên,
ông Richaud sang làm Tổng-đốc toàn-quyền. Tháng tám năm ấy, Triều-đình ở Huế ký
giấy nhượng hải-cảng Đà-nẵng, thành-thị Hà-nội và Hải-phòng cho nước Pháp để
làm đất nhượng địa nghĩa từ đó là việc cai-trị và pháp-luật ở ba thành-thị ấy
thuộc về nước Pháp, chứ không thuộc về nước Nam nữa. Trừ ba thành-thị ấy ra,
thì việc cai-trị ở các tỉnh trong toàn hạt Bảo-hộ vẫn để quan-lại làm việc như
cũ, nhưng phải do người Pháp điều-khiển và kiểm- duyệt.
2. Việc kinh doanh ở các xứ bảo hộ.
Cuộc Bảo-hộ đã lập xong, người Việt-nam vì thế bất-đắc-dĩ phải
chịu, nhưng phần nhiều người trong lòng còn mong khôi-phục nước nhà, cho nên
chính-phủ Bảo-hộ một mặt thì lo việc phòng giữ, một mặt lo mở-mang các công-cuộc
kiến-thiết để gây thêm mối lợi. Về đường phòng-giữ, thì chính-phủ lập ra những
đội binh bảo-an, lấy người bản-sứ làm lính. Những lính ấy đội một thứ nón dẹt
có giải xanh và múi thắt lưng xanh, cho nên tục gọi là lính khố-xanh. Lính ấy
do người Pháp cai-quản ở dưới quyền quan cai-trị người Pháp, cho đi canh giữ
các dinh-thự, các công-sở, và cho đi đóng đồn ở các nơi trong vùng thôn-quê, để
phòng-giữ trộm cướp. ở những nơi hiểm-yếu thì có lính Pháp và lính khố đỏ đóng.
Lính khố đỏ là một thứ bộ binh người bản-xứ, cách ăn- mặc cũng như lính khố
xanh, chỉ khác là quai nón đỏ mà múi thắt lưng đỏ. Những lính ấy có cơ, có đội
do sĩ-quan Pháp cai-quản ở dưới quyền nhà binh Pháp. Khi có việc gì quan-hệ thì
đem lính Pháp và lính ấy ra đánh-dẹp.
Về việc hành binh và việc thương-mại, thì chính-phủ Bảo-hộ
trước hết phải lo sửa-sang và mở-mang thêm đường-sá cho tiện sự giao-thông. Vì
rằng có đường thì khi hữu sự, việc đánh-dẹp mới tiện-lợi và việc buôn-bán cũng
nhân đó mà được dễ-dàng. Bởi vậy thoạt đầu tiên chính-phủ mở thương-cục, lập xưởng
làm tầu thủy chở hàng-hóa và hành-khách đi trong các sông ở trong xứ.
Năm tân-mão (1891), ông De Lanessan sang làm Tổng-đốc toàn-
quyền, mở đường xe lửa từ Phủ-lạng-thương lên đến Lõng-sơn, đến năm giáp-ngo
(1894), con đường ấy mới xong. Chủ-đích là để cho tiện sự phòng- giữ ở chỗ
biên-thùy.
Chính-phủ Bảo-hộ lại lo mở-mang thêm bờ-cõi về phía Lào.
Nguyên đất Lào ngày trước vẫn thần-phục nước Nam. Những nơi như Trấn-ninh,
Cam-môn, Cam-cát, v.v. về đời vua Minh-mệnh đã lập thành phủ huyện và đặt quan
cai-trị cả. Nhưng về sau nước ta suy-nhược lại có việc chiến-tranh với nước
Pháp, cho nên nước Tiêm-la mới nhân dịp mà sang chiến-giữ lấy. Sau có người
Pháp tên là Pavie sang dự nước Lào nhận sự bảo-hộ của nước Pháp, rồi đến đầu
năm quí-tị (1893), quân Pháp sang lấy lại những đất cũ thuộc về nước Nam ta trước.
Bấy giờ quân Tiêm-la ở mạn Cam-môn giết mất một người quan binh Pháp, người
Pháp bèn sai hải-quân đem hai chiếc tầu chiến vào sông Mê-nam, lên đậu ở gần
thành Băng-cốc (Bangkok). Ngày 24 tháng 8 năm ấy, nước Tiêm-la phải ký, hòa-ước,
nhường những đất Lào cho nước Pháp bảo-hộ, hạn trong một tháng phải rút quân
đóng ở bên tả-ngạn sông Mékong về, lại phải bồi thường 2 triệu phật-lăng, và phải
trị tội những người dám chống-cự với người Pháp.
Người Pháp lập phủ Thống-sứ ở Vientiane để cai-trị các địa hạt
bên Lào.
Năm Ất-mùi (1895), viên Tổng-đốc toàn-quyền Rousseau sang
thay ông De Lanessan, thấy còn nhiều nơi chưa yên bèn vay nước Pháp cho Bắc- kỳ
80 triệu phập-lăng, để chi-tiêu về việc đánh-dẹp và mở-mang.
Năm đinh-dậu (1897), ông Daumer sang làm Tổng-đốc toàn-quyền,
chỉnh-đốn lại việc tài-chánh và việc chính-trị. Lập ra sổ chi-thu chung cả toàn
cảnh Đông-pháp, định các thứ thuế: thuế đinh, thuế điền, thuế thổ, thuế xuất-cảng,
nhập-cảng, v.v., và cho người được độc-quyền lĩnh trưng thuế rượu, thuế muối,
thuế nha-phiến. Bỏ nha Kinh-lược ở Bắc-kỳ, giao quyền lại cho viên Thống-sứ
(tháng 6 năm đinh-dậu 1897) 1,
vay nước Pháp 200 triệu phập-lăng, để mở đường hỏa-xa trong xứ Đông-pháp và mở-mang
thêm việc canh-nông và việc công-nghệ.
Năm nhâm-dần (1902) ông Doumer về Pháp, ông Beau sang làm Tổng-đốc
toàn-quyền. Ông Beau chủ việc khai-hóa dân-trí, lo mở-mang sự học hành và đặt
ra Y tế cục, làm nhà bệnh viện, để cứu-giúp những kẻ yếu đau nghèo khổ. Ấy là
những công việc làm của chính phủ bảo hộ vậy.
Ghi chú:
Ghi chú:
1.
|
Có một điều rất kỳ, là viên thống sứ Bắc Kỳ là người đại biểu
chính phủ Bảo hộ mà lại kiêm chức Kinh Lược Sứ là một chức quan của Triều
Đình ở Huế.
|
Sách Việt Nam Sử Lược này chép đến đây hãy tạm ngừng, để sau
có tài liệu đầy đủ và các việc biến đổi ở nước Việt Nam này được rõ rệt hơn, sẽ
làm tiếp thêm (1).
Việc chép lịch sử cũng như việc dệt vải dệt lụa, dệt xong tấm
nào mới biết tấm ấy tốt hay xấu, còn tấm đang dệt, chưa biết thế nào mà nói được.
Ta chỉ biết rằng các dây sợi dệt tấm Nam sử này còn dài, người
dệt tuy phải lúc đau yếu, bỏ ngừng công việc, nhưng còn mong có ngày khỏe mạnh
lại dệt thêm, có lẽ lại dệt được tốt đẹp hơn, cũng chưa biết chừng.
Mặc dù nước Việt Nam hiện nay được hoàn toàn độc lập nhưng sự
hay dở tương lai chưa biết ra thế nào? Song người bản quốc phải biết rằng phàm
sự sinh tồn tiến hóa của một nước, là ở cái chí nguyện, sự nhẫn nại và sự cố gắng
của người trong nước. Vậy ta phải hết sức mà học tập, mà giữ cái tâm trí cho bền vững
thì chắc tương lai còn nhiều hy vọng. Nước Việt Nam ta đã có cái văn hóa chẳng
thua kém gì ai, và lại có một lịch sử vẻ vang, nếu ta biết lợi dụng cái tiềm lực
cố hữu và cái tính thông minh hiếu học của ta để theo thời mà tiến hóa, thì sao
ta lại không có ngày nối được cái chí của ông cha mà dệt thêm một đoạn lịch sử
mỹ lệ hơn trước?.
Có một điều thiết tưởng nên nhắc lại là ta nên giữ lấy những
điều hay của ta đã có, bỏ những điều hủ bại đi, và bắt chước lấy những điều hay
của người, để gây lấy cái nhân cách đặc biệt của dân tộc ta và cùng tiến với
người mà không lẫn với người. Muốn được như thế, ta phải biết phân biệt cái hay
cái dở, không ham muốn những cái huyền hão bề ngoài, rồi đồng tâm hiệp lực với
nhau mà làm mọi việc cho thành cái hiệu quả mỹ mãn.
Nước nào cũng có lúc bĩ lúc thái, đó là cái công lệ tuần hoàn
của tạo hóa trong thế gian. Tự xưa chưa thấy có nước nào cứ thịnh mãi hay cứ
suy mãi. Khi lâm vào cảnh bĩ mà người trong nước cứ vững lòng giữ được cái
nghị lực để sinh tồn và tiến hóa, thì rồi thế nào cũng có ngày chấn khởi lên được.
Vậy chúng ta đây đều là một dòng dõi nhà Hồng Lạc, nếu ta biết kiên tâm bền
chí, thì há lại không có một ngày ta có cái địa vị vẻ vang với thiên hạ hay
sao? Sự ước ao mong mỏi như thế là cái nghĩ vụ chung cả chủng loại Việt nam ta
vậy.
Những sách soạn giả dùng để kê cứu:
A. Sách Chữ Nho Và Chữ Quốc Ngữ:
1. Đại Việt sử ký, của Ngô Sĩ Liên
2. Khâm định Việt sử Thông giám cương-mục
3. Trần triều thế phổ hành trạng
4. Bình Nguyên công thần thực lục
5. Hoàng Lê nhất thống chí
6. Lịch triều hiến chương, của Phan huy Chú
7. Đại Nam thực lục tiền biên
8. Đại Nam thực lục chính biên
9. Đại Nam thống chí
10. Đại Nam chính biên liệt truyện
11. Đại Nam điển lễ toát yếu, của Đỗ văn Tâm
12. Minh mệnh chính yếu
13. Quốc triều sử toát yếu, của Cao xuân Dục
14. Thanh triều sử ký
15. Trung quốc lịch sử
16. Hạnh Thục ca, của bà Nguyễn nhược Thị
B. Sách Chữ Pháp:
1. Cours d'Histoire Annamite, par Trương vĩnh Ký
2. Notion d'Histoire d'Annam, par Maybon et Ruissier
3. Pays d'Annam, par E. Luro
4. L'Empire d'Annam, par Gosselin
5. Abrégé de l'Histoire d'Annam, par Shreiner
6. Histoire de la Cochinchine, par P.Cultru
7. Les Origines du Tonkin, par J. Dupuis
8. Le Tonkin de 1872 à 1886, par J. Dupuis
9. La Vie de Monseigneur Puginier, par E. Louvet
10. L'insurrection de Gia định, par J. Silvestre (Revue
Indochinoise - Juillet - Aout 1915).
(1) Trước tôi đã dự bị viết một quyển sách nối
theo sách này. Tôi đã thu nhặt được rất nhiều tài liệu. Chẳng may đến cuối năm
Bính Tuất (1946) có cuộc chiến tranh ở Hà Nội, nhà tôi bị đốt cháy, sách vở mất
sạch, thành ra đành phải bỏ quyển sử ấy mà không làm được nữa, thiên hạ hay
sao? Sự ước ao mong mỏi như thế là cái nghĩa vụ chung cả chủng loại Việt Nam ta
vậy.
Trần Trọng Kim
































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét