Tựa
Sử là sách không những chỉ để ghi chép những công việc đã qua
mà thôi, nhưng lại phải suy xét việc gốc ngọn, tìm tòi cái căn nguyên những
công việc của người ta đã làm để hiểu cho rõ những vận hội trị loạn của một nước,
những trình độ tiến hóa của một dân tộc. Chủ đích là để làm cái gương chung cổ
cho người cả nước được đời đời soi vào đấy mà biết cái sự sinh hoạt của người
trước đã phải lao tâm lao lực những thế nào, mới chiếm giữ được cái địa vị ở dưới
bóng mặt trời này.
Người trong nước có thông hiểu những sự tích nước mình mới có
lòng yêu nước yêu nhà, mới biết cố gắng học hành, hết sức làm lụng, để vun đắp
thêm vào cái nền xã hội của tiên tổ đã xây dựng nên mà để lại cho mình. Bởi những
lẽ ấy cho nên phàm dân tộc nào đã có đủ cơ quan và thể lệ làm cho một nước độc
lập, thì cũng có sử cả. Nước Việt ta khởi đầu có sử từ đời nhà Trần, vào quãng
thế kỷ thứ XIII. Từ đó trở đi nhà nào lên làm vua cũng trọng sự làm sử. Nhưng
cái lối làm sử của ta theo lối biên niên của Tàu. nghĩa là năm nào tháng nào có
chuyện gì quan trọng thì nhà làm sử chép vào sách. Mà chép một cách rất vắn tắt
cốt để ghi lấy chuyện ấy mà thôi, chứ không giải thích cái gốc ngọn và sự liên
can việc ấy với việc khác là thế nào.
Nhà làm sử lại là người làm quan, vua sai coi việc chép sử,
cho nên dẫu thế nào sự chép sử cũng không được tự do, thường có ý thiên vị về
nhà vua, thành ra trong sử chỉ cần chép những chuyện quan hệ đến nhà vua, hơn
là những chuyện quan hệ đến sự tiến hóa của nhân dân trong nước. Vả, xưa nay ta
vẫn chịu quyền chuyên chế, vẫn cho việc nhà vua là việc nước. Cả nước chỉ cốt ở
một họ làm vua, cho nên nhà làm sử cứ theo cái chủ nghĩa ấy mà chép sử, thành
ra sử đời nào cũng chỉ nói chuyện những vua đời ấy mà thôi. Bởi vậy xem sử ta
thật là tẻ, mà thường không có ích lợi cho sự học vấn là mấy.
Sử của mình đã không hay, mà người mình lại không mấy người
biết sử. Là vì cái cách học tập của mình làm cho người mình không có thể biết
được sử nước mình. Bất kỳ lớn nhỏ, hễ ai cắp quyển sách đi học thì chỉ học sử
Tàu,chứ không học sử nước nhà. Rồi thơ phú văn chương gì cũng lấy điển tích ở sử
Tàu, chứ chuyện nước mình thì nhất thiết không nói đến. Người mình có ý lấy
chuyện nước nhà làm nhỏ mọn không cần phải biết làm gì. Ấy cũng là vì xưa nay
mình không có quốc văn, chung thân chỉ đi mượn tiếng người, chữ người mà học,
việc gì cũng bị người ta cảm hóa, chứ tự mình thì không có cái gì là cái đặc sắc,
thành ra thật rõ như câu phương ngôn: "Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì
siêng!" Cái sự học vấn của mình như thế, cái cảm tình của người trong nước
như thế, bảo rằng lòng vì dân vì nước mở mang ra làm sao được?
Nhưng dẫu thế nào mặc lòng, nước ta đã có sử ta thì cũng có
thể bởi đó mà biết được những sự đã qua ở nước ta, và có thể bởi đó mà khảo cứu
được nhiều việc quan hệ đến vận mệnh nước mình từ xưa đến nay xoay vần ra làm
sao. Hiềm vì sử nước ta thì làm bằng chữ Nho cả, mà chữ Nho thì từ rày trở đi
chắc rồi mỗi ngày một kém đi. Hiện nay số người đọc được chữ Nho còn nhiều, mà
trong nước còn không có mấy người biết được chuyện nước nhà, huống chi mai sau
này chữ Nho bỏ không học nữa, thì sự khảo cứu về những việc quan hệ đến lịch sử
nước mình sẽ khó biết bao nhiêu!.
Nay nhân sự học ở nước ta đã thay đổi, chữ quốc ngữ đã phổ
thông cả trong nước, chi bằng ta lấy tiếng nước nhà mà kể chuyện nước nhà, ta
soạn ra bộ Việt Nam Sử Lược, xếp đặt theo thứ tự, chia ra từng thời đại, đặt
thành chương, thành mục rõ ràng, để ai ai cũng có thể xem được sử, ai ai cũng
có thể hiểu được chuyện, khiến cho sự học sử của người mình được tiện lợi hơn
trước.
Bộ Việt Nam Sử Lược này, soạn giả chia ra làm 5 thời đại: Thời
đại thứ nhất là Thượng Cổ thời đại, kể từ họ Hồng Bàng cho đến hết đời nhà Triệu.
Trong thời đại ấy, từ chương thứ III, bàn về xã hội nước Tàu trước đời nhà Tần,
phần nhiều là những chuyện hoang đường, huyền hoặc cả. Những nhà chép sử đời
trước cũng theo tục truyền mà chép lại, chứ không có di tích gì mà khảo cứu cho
đích xác. Tuy vậy, soạn giả cũng cứ theo sử cũ mà chép lại, rồi cũng phê bình một
đôi câu để tỏ cho độc giả biết rằng những chuyện ấy không nên cho là xác thực.
Thời đại thứ nhì là Bắc Thuộc thời đại, kể từ khi vua Vũ Đế
nhà Hán lấy đất Nam Việt của nhà Triệu, cho đến đời Ngũ Quí, ở bên ta có họ
Khúc và họ Ngô xướng lên sự độc lập. Những công việc trong thời đại ấy, thì sử
cũ của nước ta chép rất là sơ lược lắm. Vì rằng trong thời đại Bắc Thuộc, người
mình chưa được tiến hóa, sự học hành còn kém, sách vở kông có, cho nên về sau
những nhà làm sử của ta chép đến thời đại này cũng không kê cứu vào đâu được,
chỉ theo sử Tàu mà chép lại thôi. Vả, người Tàu lúc ấy vẫn cho mình là một xứ
biên địa dã man, thường không ai lưu tâm đến, cho nên những chuyện chép ở trong
sử, cũng sơ lược lắm, mà đại để cũng chỉ chép những chuyện cai trị, chuyện giặc
giã, chứ các công việc khác thì không nói đến.
Thời đại Bắc Thuộc dai dẳng đến hơn một nghìn năm, mà trong
thời đại ấy dân tình thế tục ở nước mình thế nào, thì bấy giờ ta không rõ lắm,
nhưng có một điều ta nên biết là từ đó trở đi, người mình nhiễm cái văn minh của
Tàu một cách rất sâu xa, dẫu về sau có giải thoát được cái vòng phụ thuộc nước
Tàu nữa, người mình vẫn phải chịu cái ảnh hưởng của Tàu. Cái ảnh hưởng ấy lâu
ngày đã trở thành ra cái quốc túy của mình, dẫu ngày nay có muốn trừ bỏ đi,
cũng chưa dễ một mai mà tẩy gội cho sạch được. Những nhà chính trị toan sự đổi
cũ thay mới cũng nên lưu tâm về việc ấy, thì sự biến cải mới có công hiệu vậy.
Thời đại thứ ba là thời đại Tự Chủ, kể từ nhà Ngô, nhà Đinh
cho đến sơ-diệp nhà Hậu Lê. Nước mình từ thời đại ấy về sau là một nước độc lập,
tuy đối với nước Tàu vẫn phải xưng thần và chịu cống, nhưng kỳ thực là không ai
xâm phạm đến cái quyền tự chủ của mình. Buổi đầu, nhà Đinh, nhà Lê mới dấy lên;
còn phải xây đắp cái nền tự chủ cho vững bền, phải lo sửa sang việc võ bị để chống
với kẻ thù nghịch, cho nên sự văn học không được mở mang lắm. Về sau đến đời
nhà Lý, nhà Trần, công việc ở trong nước đã thành nền nếp, kẻ cừu địch ở ngoài
cũng không quấy nhiễu nữa, lại có nhiều vua hiền tôi giỏi nối nhau mà lo việc
nước, cho nên từ đó trở đi việc chính trị, việc tôn giáo và việc học vấn mỗi
ngày một khai hóa ra, làm cho nước ta thành một nước có thế lực, bắc có thể chống
được với Tàu, nam có thể mở rộng thêm bờ cõi. Nhà Lý và nhà Trần lại có công
gây nên cái quốc hồn mạnh mẽ, khiến cho về sau đến đời Trần mạt, nhân khi họ Hồ
quấy rối, người Tàu đã toan đường kiêm tính, người mình biết đồng tâm hiệp lực
mà khôi phục lại giang sơn nhà. Kế đến nhà Lê, trong khoảng một trăm năm về buổi
đầu, nước mình cũng có thể gọi là thịnh trị, nhất là về những năm Quang Thuận
(1460-1469) và Hồng Đức (1470-1497), thì sự văn trị và võ công đã là rực rỡ lắm.
Nhưng về sau gặp những hôn quân dung chúa, việc triều chính đổ nát, kẻ gian thần
dấy loạn. Mối binh đao gây nên từ đó, người trong nước đánh giết lẫn nhau, làm
thành ra nam bắc chia rẽ, vua chúa tranh quyền. Ấy thật là một cuộc biến lớn ở
trong nước vậy.
Thời đại thứ tư là Nam Bắc phân tranh, kể từ khi nhà Mạc làm
sự thoán đoạt cho đến nhà Tây Sơn. Trước thì nam Lê, bắc Mạc, sau thì Nguyễn
nam, Trịnh bắc, sự cạnh tranh càng ngày càng kịch liệt, lòng ghen ghét càng
ngày càng dữ dội. Nghĩa vua tôi mỏng mảnh, đạo cương thường chểnh mảng: nước đã
có vua lại có chúa. Trong Nam ngoài Bắc mỗi nơi một giang sơn, công việc ở đâu,
chủ trương ở đấy. Tuy vậy việc sửa đổi ở ngoài Bắc cũng có nhiều việc hay, mà
việc khai khẩn trong Nam thật là ích lợi. Nhưng cuộc thành bại ai đâu dám chắc,
cơn gió bụi khởi đầu từ núi Tây Sơn, làm đổ nát cả ngôi vua cùng nghiệp chúa.
Anh em nhà Tây Sơn vẫy vùng không được 20 năm, thì bản triều nhà Nguyễn lại
trung hưng lên, mà đem giang sơn về một mối, lập thành cái cảnh tượng nước Việt
Nam ta ngày nay vậy.
Thời đại thứ năm là Cận Kim thời đại, kể từ vua Thế Tổ bản
triều cho đến cuộc Bảo Hộ bây giờ. Vua Thế Tổ khởi đầu giao thiệp với nước Pháp
Lan Tây để mượn thế lực mà đánh Tây Sơn. Nhưng về sau vì những vua con cháu
Ngài đổi chính sách khác, nghiêm cấm đạo Thiên Chúa và đóng cửa không cho ngoại
quốc vào buôn bán. Những đình thần thì nhiều người trí lự hẹp hòi, cứ nghiễm
nhiên tự phụ, không chịu theo thời mà thay đổi. Đối với những nước ngoại dương,
thì thường hay gây nên sự bất hòa, làm cho nước Pháp phải dùng binh lực để bênh
vực quyền lợi của mình. Vì những chính sách ấy cho nên mới thành ra có cuộc Bảo
Hộ.
Đại khái đó là những mục lớn trong những phần mà soạn giả đã
theo từng thời đại để đặt ra. Soạn giả đã cố sức xem xét và góp nhặt những sự
ghi chép ở các sách chữ Nho và chữ Pháp, hoặc những chuyện rải rác ở các dã sử,
rồi đem trích bỏ những sự huyền hoặc đi mà soạn ra bộ sách này, cốt để người đồng
bang ta biết được chuyện nước nhà mà không tin nhảm những sự huyễn hoặc. Thời đại
nào nhân vật ấy và tư tưởng ấy, soạn giả cứ bình tĩnh cố theo cho đúng sự thực.
Thỉnh thoảng có một đôi nơi soạn giả có đem ý kiến riêng của mình mà bàn với độc
giả, thí dụ như chỗ bàn về danh hiệu nhà Tây Sơn thì thiết tưởng rằng sử là của
chung cả quốc dân, chớ không phải riêng cho một nhà một họ nào, cho nên mới phải
lấy công lý mà xét đoán mọi việc và không vị tình riêng để phạm đến lẽ công bằng
vậy.
Độc giả cũng nên biết cho rằng bộ sử này là bộ Sử Lược chỉ cốt
ghi chép những chuyện trọng yếu để hãy tạm giúp cho những người hiếu học có sẵn
quyển sách mà xem cho tiện. Còn như việc làm thành ra bộ sử thật là đích đáng,
kê cứu và phê bình rất tường tận, thì xin để dành cho những bậc tài danh sau
này sẽ ra công mà giúp cho nước ta về việc học sử. Bây giờ ta chưa có áo lụa,
ta hãy mặc tạm áo vải, tuy nó xấu xí nhưng nó có thể làm cho ta đỡ rét. Nghĩa
là ta hãy làm thế nào cho những thiếu niên nước ta ngày nay ai cũng có thể biết
một đôi chút sự tích nước nhà, cho khỏi tủi quốc hồn. Ấy là cái mục đích của soạn
giả, chỉ có thế thôi. Nếu cái mục đích ấy mà có thể tới được thì tưởng bộ sách
này là bộ sách có ích vậy.
Trần Trọng Kim
Nước Việt Nam
1. Quốc Hiệu
2. Vị Trí và Diện Tích
3. Địa Thế
4. Chủng Loại
5. Gốc Tích
6. Người Việt Nam
7. Sự Mở Mang Bờ Cõi
8. Lịch Sử Việt Nam
1. Quốc Hiệu.
Nước Việt Nam ta về đời Hồng Bàng (2897 - 258 trước Tây lịch)
gọi là Văn Lang, đời Thục An Dương Vương (257 - 207 trước Tây lịch) thì gọi là
Âu Lạc. Đến nhà Tần (246 - 206 trước Tây lịch) lược định phía nam thì đặt làm
Tượng Quận, sau nhà Hán (202 trước Tây lịch - 220 sau Tây lịch) dứt nhà Triệu,
chia đất Tượng Quận ra làm ba quận là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Đến cuối
đời nhà Đông Hán, vua Hiến Đế đổi Giao Chỉ làm Giao Châu. Nhà Đường lại đặt là
An Nam Đô Hộ Phủ.
Từ khi nhà Đinh (968 - 980) dẹp xong loạn Thập Nhị Sứ Quân, lập
nên một nước tự chủ, đổi quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Vua Lý Thánh Tông đổi là Đại
Việt, đến đời vua Anh Tông, nhà Tống bên Tàu mới công nhận là An Nam Quốc.
Đến đời vua Gia Long, thống nhất được cả Nam Bắc (1802), lấy
lẽ rằng Nam là An Nam, Việt là Việt Thường, mới đặt quốc hiệu là Việt Nam. Vua
Minh Mệnh lại cải làm Đại Nam.
Quốc hiệu nước ta thay đổi đã nhiều lần, tuy rằng ngày nay ta
vẫn theo thói quen dùng hai chữ An Nam, nhưng vì hai chữ ấy có ngụ ý phải thần
phục nước Tàu, vậy thì ta nên nhất định lấy tên Việt Nam mà gọi nước nhà.
2. Vị Trí và Diện Tích.
Nước Việt Nam ở về phía đông nam châu Á-tế-á, hẹp bề ngang,
dài bề dọc, hình cong như chữ S, trên phía bắc và dưới phía nam phình rộng ra,
khúc giữa miền trung thì eo hẹp lại.
Đông và nam giáp bể Trung Quốc (tức là bể Nam Hải); Tây giáp
Ai Lao và Cao Miên; Bắc giáp nước Tàu, liền với tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và
Vân Nam.
Diện tích cả nước rộng chừng độ 312.000 ki-lô-mét vuông chia
ra như sau này:
Bắc Việt: 105.000 km2
Trung Việt: 150.000 km2
Nam Việt: 57.000 km2
3. Địa Thế.
Nước ta hiện chia ra làm ba cõi: Bắc Việt, Trung Việt và Nam
Việt. Đất Bắc Việt có sông Hồng Hà (tức là sông Nhị Hà) và sông Thái Bình. Mạn
trên gọi là Thượng Du lắm rừng nhiều núi, ít người ở. Mạn dưới gọi là Trung
Châu, đất đồng bằng, người ở chen chúc đông lắm.
Đất Trung Việt thì chỉ có một giải ở men bờ bể, còn ở trong
có núi Trường Sơn chạy dọc từ Bắc Việt vào gần đến Nam Việt, cho nên người chỉ ở
được mạn gần bể mà thôi.
Đất Nam Việt thì ở vào khúc dưới sông Mê Kông (tức là sông Cửu
Long), lại có sông Đồng Nai chảy ở mé trên, cho nên đất tốt, ruộng nhiều, dân
gian trù phú và dễ làm ăn hơn cả
Người Việt Nam có nhiều dân tộc ở, như là ở về miền thương du
Bắc Việt thì có dân Thái, (tức là Thổ), Mường, Mán, Mèo; ở về miền rừng núi
Trung Việt thì có dân Mọi, và Chàm (tức là Hời), ở về miền Nam Việt thì có dân
Mọi, Chàm, Chà Và và Khách, v.v.... Những dân ấy ở trong ba nơi tất cả đến non
một triệu người. Còn thì dân tộc Việt Nam ở hết cả.
Số người Việt Nam ở trong ba nơi có thể chia ra như sau này:
Bắc Việt: 8.700.000 người
Trung Việt: 5.650.000 người
Nam Việt: 4.616.000 người
Cả thảy cộng lại được độ chừng non 19 triệu người. {Số này là
theo sách Địa Lý của ông H. Russier (1939) chép lại chứ không chắc đã đúng số
nhất định của người mình.}
5. Gốc tích.
Theo ý kiến của nhà kê cứu của nước Pháp, thì người Việt Nam
và người Thái đều ở miền núi Tây Tạng xuống. Người Việt Nam theo sông Hồng Hà lần
xuống phía đông nam, lập ra nước Việt Nam ta bây giờ; còn người Thái thì theo
sông Mê Kông xuống, lập ra nước Tiêm La (tức là Thái Lan) và các nước Lào.
Lại có rất nhiều người Tàu và người Việt Nam nói rằng nguyên
khi xưa đất nước Tàu có giống Tam Miêu ở, sau giống Hán Tộc (tức là người Tàu
bây giờ) ở phía Tây Bắc đến đánh đuổi người Tam Miêu đi, chiếm giữ lấy vùng
sông Hoàng Hà lập ra nước Tàu, rồi dần dần xuống phía nam, người Tam Miêu phải
lẩn núp trong rừng hay là xuống ở miền Việt Nam ta bây giờ.
Những ý kiến ấy là theo lý mà suy ra đó thôi, chứ cũng chưa
có cái gì làm chứng cho đích xác. Chỉ biết rằng người Việt Nam ta trước có hai
ngón chân cái giao lại với nhau, cho nên Tàu mới gọi ta là Giao Chỉ; mà xem các
loài khác, không có loài nào như vậy, thì tất ta là một loài riêng, chứ không
phải là loài Tam Miêu.
Dẫu người mình thuộc về chủng loại nào mặc lòng, về sau người
Tàu sang cai trị hàng hơn một nghìn năm, lại có khi đem sang nước ta hơn bốn
mươi vạn binh, chắc là nói giống cũ của mình cũng đã lai đi nhiều rồi, mới
thành ra người Việt Nam ngày nay.
6. Người Việt Nam.
Người Việt Nam thuộc về loài da vàng, nhưng mà người nào phải
đi làm lụng dầm mưa dãi nắng lắm, thì nước da ngăm ngăm đen, người nào nhàn hạ
phong lưu, ở trong nhà luôn, thì nước da trăng trắng như màu ngà cũ.
Trạc người thì thấp nhỏ hơn người Tàu, mà lăn lẳn con người,
chứ không to béo. Mặt thì xương xương, trông hơi bèn bẹt, trán thì cao và rộng,
mắt thì đen và hơi xếch về đàng đuôi, hai gò má thì cao, mũi hơi tẹt, môi hơi
dày, răng thì to mà lại nhuộm đen. Râu thì thưa mà ít, tóc thì nhiều và dài,
đen và hơi cứng. Dáng điệu đi đứng thì nhẹ nhàng và xem ra bộ vững vàng chắc chắn.
Áo quần thì dài rộng, đàn ông thì búi tóc và quấn khăn vành
rây, áo mặc dài quá đầu gối, tay áo thì chật, ống quần thì rộng. Đàn bà ở Bắc
Việt và phía bắc Trung Việt thì đội khăn, mà ở chỗ thành thị thì mặc quần, còn ở
nhà quê thì hay mặc váy. Ở phía nam Trung Việt và Nam Việt thì đàn bà hay mặc
quần cả, và búi tóc, chứ không đội khăn bao giờ.
Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người Việt Nam có cả các
tính tốt và các tính xấu. Đại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo
chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức,
quý sự lễ phép, mến điều đạo đức: lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm 5 đạo
thường cho sự ăn ở. Tuy vậy vẫn hay có tính tình vặt, cũng có khi quỷ quyệt, và
hay bài bác nhạo chế. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn sự hòa bình,
nhưng mà đã đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỹ luật.
Tâm địa thì nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe
khoang và ưa trương hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc.
Hay tin ma quỷ, sùng sự lễ bái, nhưng mà vẫn không nhiệt tin tông giáo nào cả.
Kiêu ngạo và hay nói khoác, nhưng có lòng nhân, biết thương người và hay nhớ
ơn.
Đàn bà thì hay làm lụng và đảm đang, khéo chân, khéo tay, làm
được đủ mọi việc mà lại biết lấy việc gia đạo làm trọng, hết lòng chiều chồng,
nuôi con, thường giữ được các đức tính rất quý là: tiết, nghĩa, cần, kiệm.
Người Việt Nam từ Bắc chí Nam, đều theo một phong tục, nói một
thứ tiếng, {Tuy rằng mỗi nơi có một ít tiếng thổ âm riêng và cái giọng nói nặng
nhẹ khác nhau, nhưng đại để thì vẫn là một thứ tiếng mà thôi.} cùng giữ một kỹ
niệm, thật là cái tính đồng nhất của một dân tộc từ đầu nước đến cuối nước.
7. Sự Mở Mang Bờ Cõi.
Người nòi giống Việt Nam ta mỗi ngày một nẩy nở ra nhiều, mà ở
phía bắc thì đã có nước Tàu cường thịnh, phía tây thì lắm núi nhiều rừng, đường
đi lại không tiện, cho nên mới theo bờ bể lần xuống phía nam, đánh Lâm Ấp, dứt
Chiêm Thành, chiếm đất Chân Lạp, mở ra bờ cõi bây giờ.
8. Lịch Sử Việt Nam.
Từ khi người Việt Nam lập thành nước đến giờ, kể hàng mấy
nghìn năm, phải người Tàu cai trị mấy lần, chịu khổ sở biết bao nhiêu phen, thế
mà sau lại lập được cái nền tự chủ, và vẫn giữ được cái tính đặc biệt của giống
mình, ấy là đủ tỏ ra rằng khí lực của người mình không đến nỗi kém hèn cho lắm.
Tuy rằng mình chưa làm được việc gì cho vẽ vang bằng người, nhưng mình còn có
thể hy vọng một ngày kia cũng nên được một nước cường thịnh.
Vậy ghi chép những cơ hội gian truân, những sự biến cố của nước
mình đã trải qua, và kể những công việc của người mình làm từ đời nọ qua đời
kia, để cho mọi người trong nước đều biết, ấy là sách Việt Nam sử.
Nay ta nên theo từng thời đại mà chia sách Việt Nam sử ra 5
phần để cho tiện sự kê cứu.
Phần I: Thượng Cổ thời đại.
Phần II: Bắc Thuộc thời đại.
Phần III: Tự Chủ thời đại.
Phần IV: Nam Bắc Phân Tranh thời đại.
Phần V: Cận Kim thời đại.
Thượng Cổ Thời Đại
Chương 1
Họ Hồng-Bàng
(2879-258 trước Tây Lịch)
1. Họ Hồng Bàng
2. Nước Văn Lang
3. Truyện cổ tích về đời Hồng Bàng: Phù Đổng Thiên Vương; Sơn Tinh Thủy Tinh
1. Họ Hồng Bàng.
Cứ theo tục truyền thì vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần
Nông, đi tuần thú phương nam đến núi Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một
nàng tiên, lấy nhau, đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại
cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua
phương nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ.
Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ
Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ
Xuyên), phía đông giáp bể Nam Hải.
Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào quãng năm nhâm tuất
(2879 trước Tây Lịch?) và lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ đẻ ra Sùng Lãm,
nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân.
Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, đẻ một lần
được một trăm người con trai 1. Lạc
Long Quân bảo Âu Cơ rằng: "Ta là dòng dõi Long Quân, nhà ngươi là dòng dõi
thần tiên, ăn ở lâu với nhau không được; nay được trăm con thì nhà người đem 50
đứa lên núi, còn 50 đứa ta đem xuống bể Nam Hải". Gốc tích truyện này có lẽ
là từ Lạc Long Quân về sau, nước Xích Quỷ chia ra những nước gọi là Bách Việt.
Bởi vậy ngày nay đất Hồ Quảng (tỉnh Hồ Nam, tỉnh Quảng Đông và tỉnh Quảng Tây)
còn xưng là đất Bách Việt. Đấy cũng là một điều nói phỏng, chứ không có lấy gì
làm đích xác được.
2. Nước Văn Lang.
Lạc Long Quân phong cho người con trưởng sang làm vua nước
Văn Lang, xưng là Hùng Vương.
Cứ theo sử cũ thì nước Văn Lang chia ra làm 15 bộ:
1. Văn Lang (Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên)
2. Châu Diên (Sơn Tây)
3. Phúc Lộc (Sơn Tây)
4. Tân Hưng (Hưng Hóa - Tuyên Quang)
5. Vũ Định (Thái Nguyên - Cao Bằng)
6. Vũ Ninh (Bắc Ninh)
7. Lục Hải (Lạng Sơn)
8. Ninh Hải (Quảng Yên)
9. Dương Tuyền (Hải Dương)
10. Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình)
11. Cửu Chân (Thanh Hóa)
12. Hoài Hoan (Nghệ An)
13. Cửu Đức (Hà Tĩnh)
14. Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị)
15. Bình Văn (? )
Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (bây giờ ở vào địa hạt huyện
Bạch Hạc, tĩnh Vĩnh Yên), đặt tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng,
con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương, các quan nhỏ gọi là
Bồ Chính 2.
Quyền chính trị thì cứ cha truyền con nối, gọi là Phụ Đạo.
Về đời bấy giờ, sử Tàu có chép rằng năm tân mão (1109 trước
Tây lịch), đời vua Thành Vương nhà Chu, có nước Việt Thường, ở phía nam xứ Giao
Chỉ sai sứ đem chim bạch trĩ sang cống, nhà Chu phải tìm người làm thông ngôn mới
hiểu được tiếng, và ông Chu Công Đán lại chế ra xe chỉ nam để đem sứ Việt Thường
về nước. Vậy đất Việt Thường và đất Giao Chỉ có phải là đất của Hùng Vương lúc
bấy giờ không?
Họ Hồng Bàng làm vua được 18 đời, đến năm quý mão (158 trước
Tây lịch) thì bị nhà Thục lấy mất nước.
Xét từ đời Kinh Dương Vương đến đời vua Hùng Vương thứ 18, cả
thảy 20 ông vua, mà tính từ năm nhâm tuất (2879) đến năm quý mão (258 trước Tây
lịch) thì vừa được 2622 năm. Cứ tính hơn bù kém, mỗi ông vua trị vì được non
150 năm! Dẫu là người đời thượng cổ nữa, thì cũng khó lòng mà có nhiều người sống
lâu được như vậy. - Xem thế thì đủ biết truyện đời Hồng Bàng không chắc là truyện
xác thực.
3. Truyện Cổ Tích Về Đời Hồng Bàng.
Sử chép rằng đời Hùng Vương thứ nhất, người nước Văn Lang làm
nghề chài lưới, cứ hay bị giống thuồng luồng làm hại, vua mới bắt dân lấy chàm
vẽ mình để những giống ấy tưởng là đồng loại không làm hại nữa 3. Sử
lại chép rằng thuyền của ta ở đằng mũi thường hay làm hai con mắt, cũng có ý để
cho các thứ thủy quái ở sông ở bể không quấy nhiễu đến.
Trong đời Hùng Vương lại có hai truyện mà ngày nay người ta
thường hay nói đến, là truyện Phù Đổng Thiên Vương và truyện Sơn Tinh Thủy
Tinh.
4. Truyện Phù Đổng Thiên Vương:
Đời vua Hùng Vương thứ 6 có đám giặc gọi là giặc Ân, hung mạnh
lắm, không ai đánh nổi. Vua mới sai sứ đi rao trong nước để tìm người tài giỏi
ra đánh giặc giúp nước. Bấy giờ ở làng Phù Đỗng, bộ Võ Ninh (nay là huyện Võ
Giàng, tỉnh Bắc Ninh), có đứa trẻ xin đi đánh giặc giúp vua. Sứ giả về tâu vua,
vua lấy làm lạ, cho đòi vào chầu. Đứa trẻ ấy xin đúc cho một con ngựa và cái
roi bằng sắt. Khi ngựa và roi đúc xong thì đứa trẻ ấy vươn vai một cái, tự
nhiên người cao lớn lên một trượng, rồi nhảy lên ngựa cầm roi đi đánh giặc.
Phá được giặc Ân rồi, người ấy đi đến núi Sóc Sơn thì biến đi
mất. Vua nhớ ơn, truyền lập đền thờ ở làng Phù Đổng, về sau phong là Phù Đổng
Thiên Vương 4.
Truyện này là truyện tục truyền như vậy, chứ không có lẽ tin
làm sự thực được. Họa chăng đời bấy giờ có người tướng giỏi, đánh được giặc, về
sau người ta nhớ ơn làm đền thờ thì hợp lẽ hơn. Hiện bây giờ có đền thờ ở làng
Gióng tức làng Phù Đổng. Năm nào đến mồng tám tháng tư cũng có hội vui lắm, tục
gọi là đức Thánh Gióng.
5. Truyện Sơn Tinh Thủy Tinh:
Tục truyền rằng vua Hùng Vương thứ 18 có người con gái tên là
Mỵ Nương, nhan sắc tuyệt trần. Sơn Tinh và Thủy Tinh đều muốn hỏi làm vợ. Hùng
Vương hẹn rằng ngày hôm sau ai đem đồ lễ đến trước thì gả cho người ấy. Ngày
hôm sau Sơn Tinh đến trước lấy được Mỵ Nương đem về núi Tản Viên (tức là núi Ba
Vì ở tỉnh Sơn Tây).
Thủy Tinh đến sau, thấy Sơn Tinh lấy mất Mỵ Nương, tức giận
vô cùng, mới làm ra mưa to gió lớn, rồi dâng nước lên đánh Sơn Tinh, Sơn Tinh ở
trên núi không việc gì: hễ nước lên cao bao nhiêu, thì Sơn Tinh làm núi cao lên
bấy nhiêu. Sơn Tinh lại dùng sấm sét đánh xuống, Thủy Tinh phải rút nước chạy về.
Từ đó Sơn Tinh và Thủy Tinh thù nhau, mỗi năm đánh nhau một lần, dân gian thật
là cực khổ.
Truyện này là nhân vì ở Bắc Việt năm nào đến tháng 6, tháng 7
cũng có nước lũ ở trên mạn ngược chảy xuống tràn vào trong đồng áng, ngập mất cả
ruộng đất. Người ta không hiểu là tại lẽ gì, mới tưởng tượng mà đặt ra câu chuyện
Sơn Tinh Thủy Tinh đánh nhau vậy.
Tóm lại mà xét, nước ta khởi đầu có quốc sử từ cuối thập tam
thế kỷ: đến đời vua Thánh Tông nhà Trần, mới có quan Hàn Lâm Học Sĩ là Lê Văn
Hưu, soạn xong bộ Đại Việt Sử Ký, chép từ Triệu Võ Vương đến Lý Chiêu Hoàng.
Hai trăm rưỡi năm về sau lại có ông Ngô Sĩ Liên, làm quan Lễ Bộ Tả Thị Lang đời
vua Thánh Tông nhà Lê, soạn lại bộ Đại Việt Sử Ký: chép từ họ Hồng Bàng đến vua
Lê Thái Tổ. Nghĩa là từ ông Ngô Sĩ Liên, ở về thập ngũ thế kỷ trở đi, thì sử ta
mới chép truyện về đời thượng cổ. Xem thế thì đủ biết những truyện về đời ấy
khó lòng mà đích xác được. Chẳng qua nhà làm sử cũng nhặt nhạnh những truyện
hoang đường tục truyền lại, cho nên những truyện ấy toàn là truyện có thần tiên
quỷ quái, trái với lẽ tự nhiên cả.
Nhưng ta phải hiểu rằng nước nào cũng vậy, lúc ban đầu mờ mịt,
ai cũng muốn tìm cái gốc tích của mình ở chỗ thần tiên để cho vẻ vang cái chủng
loại của mình. Chắc cũng bởi lẽ ấy mà sử ta chép rằng họ Hồng Bàng là con tiên
cháu rồng, v.v....
Nay ta theo sử cũ mà chép mọi truyện, người xem sử nên phân
biệt truyện nào là truyện thực, truyện nào là truyện đặt ra, thì sự học mới có
lợi vậy.
Chú thích:
2. Vị Trí và Diện Tích
3. Địa Thế
4. Chủng Loại
5. Gốc Tích
6. Người Việt Nam
7. Sự Mở Mang Bờ Cõi
8. Lịch Sử Việt Nam
Họ Hồng-Bàng
2. Nước Văn Lang
3. Truyện cổ tích về đời Hồng Bàng: Phù Đổng Thiên Vương; Sơn Tinh Thủy Tinh
Có sách chép là Âu Cơ đẻ ra một trăm cái trứng nở ra một
trăm con.
|
|
Bây giờ còn có nơi gọi Chánh Tổng là Bồ Đình, chắc là bởi Bồ
Chính mà ra.
|
|
Sử chép rằng người Việt Nam ta có thói vẽ mình mãi đến đời
vua Anh Tông nhà Trần mới bỏ.
|
|
Có người chép truyện này nói rằng: Giặc Ân là quân của nhà
Ân bên Tàu sang đánh nước ta. Nói như thế thật là một điều lầm. Về đời nhà Ân
nước Tàu chỉ ở vào mạn sông Hoàng Hà là đất tỉnh Hà Nam, Trực Lệ, Sơn Tây và
Thiểm Tây bây giờ mà thôi. Còn những đất ở bên này sông Trường Giang là man
di hết cả. Từ Trường Giang sang đến Bắc Việt ta xa cách bao nhiêu đường đất.
Dẫu lúc ấy ở bên ta có họ Hồng Bàng làm vua nữa, thì chắc cũng chưa có kỷ
cương gì, có lẽ cũng giống như một người làm Quan Lang trên Mường mà thôi,
như thế thì đã có giao thiệp gì với nhà Ân mà đánh nhau. Vả lại, sử Tàu cũng
không có chỗ nào chép đến truyện ấy. Vậy thì lẽ gì mà nói rằng giặc Ân là người
nhà Ân bên Tàu.
|
Chương 2
Nhà Thục
Nhà Thục
(257 - 207 trước Tây lịch)
1. Gốc Tích Nhà Thục
2. Nước Âu Lạc
3. Nhà Tần Đánh Bách Việt
4. Nhà Thục Mất Nước
2. Nước Âu Lạc
3. Nhà Tần Đánh Bách Việt
4. Nhà Thục Mất Nước
1. Gốc Tích Nhà Thục.
Nhà Thục chép trong sử nước ta không phải là nước Thục bên
Tàu, vì rằng cứ theo sử nước Tàu thì đời bấy giờ đất Ba Thục (Tứ Xuyên) đã thuộc
về nhà Tần cai trị rồi, thì còn có vua nào nữa. Vả, sử lại chép rằng khi Thục
Vương Phán lấy lấy được nước Văn Lang thì đổi quốc hiệu là Âu Lạc, tức là nước
Âu Lạc gồm cả nước Thục và nước Văn Lang. Song xét trong lịch sử không thấy đâu
nói đất Ba Thục thuộc về Âu Lạc. Huống chi lấy địa lý mà xét thì từ đất Ba Thục
(Tứ Xuyên) sang đến Văn Lang (Bắc Việt), cách bao nhiêu đường đất và có bao
nhiêu núi sông ngăn trở, làm thế nào mà quân nhà Thục sang lấy nước Văn Lang dễ
dàng như vậy? Sử cũ lại có chỗ chép rằng An Dương Vương, họ là Thục tên là
Phán. Như vậy chắc hẳn Thục tức là một họ nào độc lập ở gần nước Văn Lang, chứ
không phải là Thục bên Tàu. Sách "Khâm Định Việt Sử" cũng bàn như thế.
2. Nước Âu Lạc.
Sử chép rằng Thục Vương hỏi con gái của Hùng Vương thư 18, là
Mỵ Nương không được, trong bụng lấy làm tức giận, dặn con cháu ngày sau đánh
báo thù lấy nước Văn Lang. Hùng Vương bấy giờ cậy mình có binh cường tướng
dũng, bỏ trễ việc nước, chỉ lấy rượu chè làm vui thú. Người cháu Thục Vương tên
là Phán, biết tình thế ấy, mới đem quân sang đánh lấy nước Văn Lang. Hùng Vương
thua chạy, nhảy xuống giếng mà tự tử.
Năm giáp thìn (275 trước Tây lịch), Thục Vương dẹp yên mọi
nơi rồi, xưng là An Dương Vương, cải quốc hiệu là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê
(nay thuộc huyện Đông Anh, tỉnh Phúc An). Hai năm sau là năm bính ngọ (255 trước
Tây Lịch), An Dương Vương xây Loa Thành. Thành ấy cao và từ ngoài vào thì xoáy
trôn ốc, cho nên mới gọi là Loa Thành. Hiện nay còn dấu tích ở làng Cổ Loa, huyện
Đông Anh, tỉnh Phúc An.
3. Nhà Tần Đánh Bách Việt.
Khi An Dương Vương làm vua nước Âu Lạc ở bên này, thì ở bên
Tàu vua Thủy Hoàng nhà Tần, đã nhất thống thiên hạ. Đến năm đinh hợi (214 trước
Tây lịch). Thủy Hoàng sai tướng là Đồ Thư đem quân đi đánh lấy đất Bách Việt
(vào quãng tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông và Quảng Tây bây giờ). An Dương Vương cũng
xin thần phục nhà Tần. Nhà Tần mới chia đất Bách Việt và đất Âu Lạc ra làm ba
quận, gọi là: Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (Quảng Tây) và Tượng Quận (Bách Việt).
Người bản xứ ở đất Bách Việt không chịu để người Tàu cai trị,
trốn vào rừng ở. Được ít lâu quân của Đồ Thư, vốn là người ở phương bắc, không
chịu được thủy thổ, phải bệnh rất nhiều. Bấy giờ người Bách Việt thừa thế nổi
lên giết được Đồ Thư.
4. Nhà Thục Mất Nước.
Chẳng được bao lâu thì nhà Tần suy, nước Tàu có nhiều giặc
giã, ở quận Nam Hải có quan úy là Nhâm Ngao thấy có cơ hội, muốn mưu đánh lấy
Âu Lạc để lập một nước tự chủ ở phương nam. Nhưng công việc chưa thành, thì
Nhâm Ngao mất. Khi sắp mất, Nhâm Ngao giao binh quyền lại cho Triệu Đà để thay
mình làm quan úy quận Nam Hải.
Năm quý tị (208 trước Tây lịch) là năm thứ 50 đời vua An
Dương Vương. Triệu Đà đem quân sang đánh lấy nước Âu Lạc, lập ra nước Nam Việt 1.
Tục truyền rằng khi An Dương Vương xây Loa Thành, có những
yêu quái quấy nhiễu, xây mãi không được. An Dương Vương mới lập đàn lên cầu khấn,
có thần Kim Qui hiện lên bày phép cho vua trừ những yêu quái đi, bấy giờ mới
xây được thành. Thần Kim Qui lại cho An Dương Vương một cái móng chân, để làm
cái lẫy nỏ. Lúc nào có giặc thì đem cái nỏ ấy ra bắn một phát, giặc chết hàng vạn
người.
Cũng nhờ có cái nỏ ấy cho nên Triệu Đà đánh không được An
Dương Vương. Triệu Đà dùng kế, cho con là Trọng Thủy sang lấy Mỵ Châu là con
gái An Dương Vương, giả kết nghĩa hòa thân để do thám tình thực.
Trọng Thủy lấy được Mỵ Châu rồi, hỏi dò vợ rằng: "Bên Âu
Lạc có tài gì mà không ai đánh được?" Mỵ Châu nói chuyện cái nỏ, và lấy
cho chồng xem. Trọng Thủy bèn lấy cái móng của Kim Qui đi, làm cái lẫy giả thay
vào, rồi định về báo tin cho cha biết. Khi sắp ra về, Trọng Thủy hỏi Mỵ Châu rằng:
"Tôi về, mà nhỡ có giặc giã đánh đuổi, thì rồi tôi biết đâu mà tìm?"
- Mỵ Châu nói rằng: "Thiếp có áo lông ngỗng, hễ khi thiếp có chạy về đâu,
thiếp sẽ lấy lông ấy mà rắc ra ở dọc đường thì rồi sẽ biết."
Trọng Thủy về kể lại với Triệu Đà tình đầu mọi sự, Triệu Đà
bèn khởi binh sang đánh Âu Lạc. An Dương Vương cậy có cái nỏ, không phòng bị gì
cả, đến khi quân giặc đến gần chân thành mới đem nỏ ra bắn, thì không thấy hiệu
nghiệm nữa. An Dương Vương mới đem Mỵ Châu lên ngựa mà chạy về phía nam.
Chạy đến núi Mộ Dạ (thuộc huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An) gần
bờ bể, vua thấy giặc đuổi kíp quá, mới khấn Kim Qui lên cứu, Kim Qui lên nói rằng:
"Giặc ngồi sau lưng nhà vua đấy!" An Dương Vương tức giận quá, rút
gươm ra chém Mỵ Châu đi, rồi nhảy xuống bể mà tự tận 2.
Trọng Thủy theo dấu lông ngỗng của vợ rắc, đem binh đuổi đến
núi Mộ Dạ, thấy xác vợ chết nằm đó, thương xót vô cùng, vội vàng đem về cấp
táng, xong rồi, nhảy xuống cái giếng ở trong Loa Thành mà tự tử.
Nay ở làng Cổ Loa trước đền thờ An Dương Vương có cái giếng tục
truyền là Trọng Thủy chết ở giếng ấy. Tục lại truyền rằng Mỵ Châu bị giết đi,
vì nỗi tình thực mà phải thác oan, cho nên máu nàng ấy chảy xuống bể, những con
trai ăn phải hóa ra có ngọc trân châu. Hễ ai lấy được ngọc ấy đem về rửa vào nước
cái giếng ở trong Loa Thành là chỗ Trọng Thủy đã tự tử, thì ngọc ấy trong và đẹp
thêm ra.
Chú thích:
1.
|
Xin đừng lầm nước Nam Việt ngày xưa với Nam Việt của nước
Việt Nam hiện nay.
|
2.
|
Nay ở trên núi Mộ Dạ, gần xã Cao Ái, huyện Đông Thành, tỉnh
Nghệ An, có đền thờ An Dương Vương. Ở đấy có nhiều cây cối và có nhiều chim
công, cho nên tục gọi là đền Công hay Cuông.
|
Chương 3
Xã hội nước Tàu về đời Tam Đại và đời nhà Tần
Xã hội nước Tàu về đời Tam Đại và đời nhà Tần
1. Phong Kiến
2. Quan Chế
3. Pháp Chế
4. Binh Chế
5. Điền Chế
6. Học Hiệu
7. Học Thuật
8. Phong Tục
2. Quan Chế
3. Pháp Chế
4. Binh Chế
5. Điền Chế
6. Học Hiệu
7. Học Thuật
8. Phong Tục
Khi Triệu Đà sang đánh An-Dương-Vương thì ở bên Tàu nhà Tần
đã suy, nhà Hán sắp lên làm vua, nước Tàu đang vào lúc đại loạn, phong tục,
chính trị đều đổi khác cả. Vả lại Triệu-Đà là người Tần, cho nên đến khi lấy được
Âu-Lạc, gồm cả các quận ở phương nam, lập làm một nước tự chủ, bèn đem chính trị,
pháp-luật nước Tàu sang cai-trị đất Nam-Việt 1.
Vậy trước khi nói đến chuyện nhà Triệu, ta nên xét-xem xã-hội nước Tàu lúc bấy
giờ là thế nào.
1. Phong-Kiến.
Nguyên về đời thái-cổ, nước Tàu chia ra từng địa-phương một.
Mỗi một địa-phương thì có một người làm thủ-lĩnh, lập thành một nước, gọi là nước
chư-hầu, phải triều cống nhà vua.
Số những nước chư hầu ấy thì mỗi đời một khác. Xem như khi
vua Đại-Vũ nhà Hạ, hội các nước chư-hầu ở núi Đồ-sơn, kể có hàng vạn nước. Đến
khi vua Vũ-vương nhà Chu đi đánh Trụ-vương nhà Ân, thì các nước chư- hầu hội lại
cả thảy được 800 nước.
Đánh xong nhà Ân, vua Vũ-Vương phong cho hơn 70 người làm vua
chư-hầu, chia ra làm 5 bậc là: công, hầu, bá, tử, nam. Nước phong cho tước
công, tước hầu thì rộng 100 dặm gọi là đại quốc; nước phong cho người tước bá
thì rộng 70 dặm, gọi là trung quốc; nước phong cho người tước tử, tước nam thì
rộng 50 dặm, gọi là tiểu quốc. Những nước không đủ 50 dặm, thì gọi là nước phụ-dung.
2. Quan-Chế.
Nhà Hạ đặt tam-công, cửu-khanh, 27 đại-phu, 81 nguyên sĩ.
Nhà Ân đặt hai quan tướng, sáu quan thái là: thái-tể,
thái-tông, thái- tử, thái-chúc, thái-sĩ, thái-bốc; năm quan là: tư-đồ, tư- mã,
tư-không, tư-sĩ, tư-khấu; sáu phủ là: tư-thể, tư-mộc, tư-thủy, tư-thảo, tư-khí,
tư-hóa; sáu công là: thổ-công, kim-công, thạch-công, thủy-công, thú-công và thảo-công.
Đến nhà Chu, ông Chu-Công đặt ra sáu quan gọi là: thiên-quan,
địa- quan, xuân-quan, hạ-quan, thu-quan, đông-quan. Mỗi một quan lại có 60 thuộc-quan,
cộng cả lại là 360 người.
Người làm đầu thiên-quan, gọi là trủng-tể, thống cả việc
chính-trị trong nước, việc thu-nạp cả năm và mọi việc ở trong cung. Người làm đầu
địa quan gọi là đại-tư-đồ giữ việc nông, việc thương, việc giáo dục và việc cảnh
sát. Người làm đầu xuân-quan gọi là đại-tông-bá, giữ việc tế-tự, triều, sính, hội-đồng
v.v... Người làm đầu hạ-quan, gọi là đại-tư-mã, giữ việc binh- mã và việc đi
đánh dẹp. Người làm đầu thu-quan gọi là đại tư-khấu giữ việc dân, việc hình và
việc kiện-tụng. Người làm đầu đông-quan gọi là đại-tư- không, giữ việc khuyến
công, khuyến nông và việc thổ mộc v.v...
Trên lục quan lại đặt tam công, là: thái-sứ, thái-phó, thái-
bảo; tam cô là: thiếu-sứ, thiếu-phó, thiếu-bảo, để bàn xét việc trị nước yên
dân, chứ không dự vào việc hành chính.
3. Pháp-Chế.
Về đời thái-tổ thì có năm hình, ngoài năm hình lại có phép
đánh bằng roi da và tội lưu. Đến đời nhà Hạ, nhà Ân và nhà Chu thì lại đặt phép
chân, gọt đầu và tội đồ. Đến cuối đời nhà Chu thì đặt ra tội bêu đầu, xé thây
lăng trì, mổ, muối v.v...
4. Binh-Chế.
Binh-chế nhà Hạ và nhà Ân thì không rõ, đến đời nhà Chu thì đặt
5 người làm một ngũ; 5 ngũ tức là 25 người thành một lượng; 4 lượng tức là 100
người làm một tốt; 5 tốt tức là 500 người làm một lữ; 5 lữ tức là 2500 người
làm một sư ; 5 sư tức là 12500 người tức là một quân.
Quân thì đặt quan mạnh-đan làm tướng, sư thì đặt quan trung-đại-
phu làm súy, lữ thì đặt quan đại-hạ làm súy, tốt thì đặt quan thượng-sĩ làm trưởng,
lượng thì đặt quan trung-sĩ làm tư-mã.
Thiên tử có 6 quân; còn những nước chư hầu, nước nào lớn thì
có 3 quân, nước vừa có 2 quân, nước nhỏ 1 quân.
Trong nước chia ra làm tỉnh, mỗi tỉnh 8 nhà, 4 tỉnh làm một ấp
32 nhà; 4 ấp làm một khâu, 128 nhà; 4 khâu làm một điện, 512 nhà. Cứ mỗi điện
phải chiêu một cỗ binh xa, bốn con ngựa, 12 con bò, 3 người giáp sĩ, 72 người bộ
tốt, 25 người để khiêng-tải những đồ nặng. Cả thảy là 100 người.
5. Điền Chế.
Về đời thái-cổ thì không biết chia ruộng đất ra làm sao. Từ đời
Hạ trở đi thì chia 50 mẫu làm một gian, 10 gian làm một tổ. Cứ 10 nhà cày một
lô ruộng, hoa-lợi được bao nhiêu chia làm 10 phần, nhà nước lấy một gọi là phép
cống.
Nhà Ân và nhà Chu thì dùng phép tỉnh điền, nghĩa là chia đất
ra làm chín khi hình chữ tỉnh. Những khu ở chung quanh làm tư-điền, khu ở giữa
để làm công-điền. Mỗi một tỉnh cho 8 nhà ở, đều phải xuất lực cầy cấy công điền
rồi nộp hoa lợi cho nhà vua.
Về đời nhà Ân thì mỗi tỉnh có 630 mẫu, mỗi nhà được 70 mẫu;
phép đánh thuế gọi là phép trợ. Đến đời nhà Chu thì mỗi tỉnh có 900 mẫu, mỗi
nhà có 100 mẫu, phép đánh thuế gọi là phép triệt.
Nhà Chu lại đặt ra lệ cứ 20 tuổi thì được 100 mẫu ruộng, đến
60 tuổi thì trả lại cho nhà nước. Nhà nào có con thứ nhì gọi là dư phu đến 16
tuổi thì được lĩnh 25 mẫu ruộng.
Nhờ có phép chia ruộng như thế nên lúc bấy giờ không có nhiều
người nghèo lắm mà cũng không có người giàu lắm. Về sau đến đời Chiến Quốc, người
Lý Khôi làm tướng nước Ngụy, bắt dân hết sức làm ruộng, không định hạn như trước
nữa; người Thương Ưởng làm tướng nước Tần, bỏ phép tỉnh điền, mở thiên mạch,
cho mọi người được tự tiện làm ruộng. Phép chia đất từ đó mới mất dần dần đi.
6. Học-Hiệu.
Nhà Hạ đặt nhà Đông tự làm đại học, nhà Tây tự làm tiểu học.
Nhà Ân đặt là Hữu-học làm đại học, nhà Tả-học làm tiểu học. Những nhà đại-học,
tiểu học ấy, là chỗ để tập bắn, để nuôi những người già- cả và để tập văn nghệ.
Nhà Chu thì đặt Tích-ung hoặc nhà Thành-quân làm đại học, để
cho con vua, con các quan và những người tuấn tú tuyển ở các thôn xã đến học;
còn ở châu, ở đảng 2 thì
đặt nhà tiểu học gọi là Tự và nhà Tường để cho con dân-gian vào học. Lại đặt lệ
cứ từ 8 tuổi đến 14 tuổi làm niên hạn cho tiểu học, từ 15 đến 20 tuổi, làm
niên-hạn cho đại học. Đại học thì dạy lễ, nhạc, thi, thư; tiểu-học thì dạy cách
kính trên nhường dưới và cách ứng đối, v.v...
7. Học-Thuật.
Học-thuật ở nước Tàu về đời nhà Chu đã thịnh lắm, cho đến đời
nhà Xuân-thu có nhiều học-giả như là Lão-tử bàn đạo; Khổng-tử bàn hiếu, đễ,
nhân, nghĩa; Mạc Địch bàn lễ kiêm-ái, nên chuộng sự tiết kiệm bỏ âm-nhạc; Dương
Chu thì bàn lẽ vị-kỷ, nên tự-trọng thân mình và không chịu thiệt mình để lợi
người.
Lại có những pháp-gia như Thân Bất-Hại, Hàn-Phi bàn việc trị
thiên- hạ thì chỉ nên dùng pháp-luật, chứ không nên dùng nhân nghĩa. Còn những
người như Quỉ Cốc, Thi Giảo, Điền Biền, v.v..., mỗi người đều xướng một học
thuyết để dạy người đương thời.
8. Phong-Tục.
Nước Tàu lấy sự cày ruộng làm gốc, nhưng mà việc nuôi tằm, dệt
lụa, việc họp chợ, việc buôn-bán cũng phát-đạt cả.
Dân trong nước chia ra làm 4 thứ: sĩ, nông, công, thương,
nhưng mà con người làm quan lại làm quan, con người làm ruộng cứ làm ruộng, chứ
con người làm ruộng không được làm quan. Tuy vậy, đến đời Xuân-thu những người
thứ dân lên làm tướng văn tướng võ cũng nhiều.
Trong gia-đình thì già trẻ trên dưới phân biệt nghiêm lắm.
Con phải theo cha, vợ phải theo chồng, con-trai con-gái từ 7 tuổi trở đi, là
không được ăn một mâm, nằm một chiếu nữa. Con trai 30 tuổi mới được lấy vợ, gái
20 tuổi mới được lấy chồng mà hai người cùng họ không được lấy nhau.
Nước Tàu về đời Tam-đại cũng sùng sự tế-tự lắm. Thường cúng-tế
thiên, địa, nhật, nguyệt, sơn, xuyên, lâm, trạch. Nhà vua lập đàn Nam-giao để tế
Thượng-Đế. Lại có nhà Xã-tắc để tế Thổ-thần và Hậu-tắc. Còn sự thờ-phụng tổ-tiên
thì từ vua cho đến thứ-dân đều lấy làm một việc quan trọng trong đời người.
Xem như thế, thì xã-hội nước Tàu về đời Tam-đại đã văn minh lắm,
nhưng sau đến cuối đời nhà Chu, vì nhà vua suy-nhược, cho nên chư hầu, người
xưng hầu, kẽ xưng vương rồi tranh nhau, đánh nhau như Ngũ-Bá đời Xuân-Thu, Thất-Hùng
đời Chiến-Quốc, làm cho trăm họ lầm than khổ sở.
Sau nhà Tần thống-nhất được thiên-hạ, mới bỏ lệ phong-kiến, lập
ra quận huyện; bỏ phép tỉnh điền, lập thiên-mạch; cấm nho học đốt sách vở, việc
chính-trị thì cốt dùng pháp-luật, để lấy quyền lực mà áp chế.
Đang khi phong-tục nước Tàu biến cải như thế, thì Triệu Đà lập
ra nước Nam-Việt (3), đem văn-minh nước Tàu sang truyền-bá ở phương nam, cho
nên từ đó về sau người nước mình đều nhiễm cái văn-minh ấy.
Chú thích:
1.
|
Xin đừng lầm nước Nam-việt ngày xưa với Nam-việt của nước
Việt Nam thời nay.
|
2.
|
ứ 12500 nhà một châu, và 500 nhà làm một đảng thì có nhà Tự,
ở đảng thì có nhà Tường.
|
Chương 4
Nhà Triệu
Nhà Triệu
(207-111 tr. Tây-lịch)
1. Triệu Vũ-Vương
2. Vũ-Vương thụ-phong nhà Hán
3. Vũ-Vương xưng đế
4. Vũ-Vương thần phục nhà Hán
5. Triệu Văn-Vương
6. Triệu Minh-Vương
7. Triệu Ai-Vương
8. Triệu Dương-Vương
2. Vũ-Vương thụ-phong nhà Hán
3. Vũ-Vương xưng đế
4. Vũ-Vương thần phục nhà Hán
5. Triệu Văn-Vương
6. Triệu Minh-Vương
7. Triệu Ai-Vương
8. Triệu Dương-Vương
1. Triệu Vũ-Vương (207-137 tr. Tây-lịch).
Năm quí-tị (207) Triệu Đà đánh được An-dương-vương rồi,
sáp-nhập nước Âu-lạc vào quận Nam-hải, lập thành một nước gọi là Nam-Việt, tự
xưng làm vua, tức là Vũ-vương, đóng đô ở Phiên-ngung, gần thành Quảng-châu bây
giờ.
2. Vũ-Vương thụ-phong nhà Hán.
Trong khi Triệu Vũ-Vương gây-dựng cơ-nghiệp ở Nam-Việt, thì ở
bên Tàu, ông Lưu Bang triệt được nhà Tần, diệt được nhà Sở, nhất-thống thiên hạ,
rồi lên ngôi Hoàng-đế tức là vua Cao Tổ nhà Hán. Vua Cao-tổ thấy Triệu Vũ-Vương
độc-lập ở phương nam, bèn sai Lục Giả sang phong cho Vũ-Vương. Bấy giờ là năm ất-
tị (196 tr. Tây-lịch), năm thứ 12 đời vua Vũ-Vương nhà Triệu, và năm thứ 11 đời
vua Cao-tổ nhà Hán.
Vũ-Vương vốn là người kiêu-căng, có ý không muốn phục nhà
Hán, đến khi Lục Giả sang đến nơi, vào yết-kiến Vũ-Vương, Vũ-Vương ngồi xếp
vành tròn, không đứng dậy tiếp. Lục Giả thấy vậy mới nói rằng: "Nhà vua là
người nước Tàu, mồ mả và thân thích ở cả châu Chân-định. Nay nhà Hán đã làm vua
thiên hạ, sai sứ sang phong vương cho nhà vua, nếu nhà vua kháng-cự sứ-thần,
không làm lễ thụ-phong, Hán-đế tất là tức giận, hủy-hoại mồ mả và giết hại
thân-thích của nhà vua, rồi đem quân ra đánh thì nhà vua làm thế nào?"
Vũ-vương nghe lời ấy vội-vàng đứng dậy làm lễ tạ, rồi cười mà nói rằng:
"Tiếc thay ta không được khởi nghiệp ở nước Tàu, chứ không thì ta cũng chẳng
kém gì Hán-đế!"
3. Vũ-Vương xưng đế.
Năm mậu ngọ (183 tr. Tây-lịch) vua Cao-tổ nhà Hán mất rồi, bà
Lữ-hậu lâm triều tranh quyền Huệ-đế, rồi lại nghe lời gièm pha, cấm không cho
người Hán buôn bán những đồ vàng, đồ sắt và những đồ điền-khí với người Nam-Việt.
Vũ-vương lấy làm tức giận, lại ngờ cho Trường-sa-vương xui Lữ-hậu làm như vậy,
bèn tự-lập làm Nam-việt Hoàng-đế, rồi cử binh-mã sang đánh quận Tràng-sa (tỉnh
Hồ-nam bây giờ).
Năm Canh thân (181 tr. Tây-lịch) Hán-triều sai tướng đem quân
sang đánh Nam-việt. Quân nhà Hán chịu không được thủy-thổ phương nam, nhiều người
phải bệnh-tật, bởi vậy phải chạy thua về bắc. Từ đó thanh-thế Triệu Vũ-đế lừng
lẫy, đi đâu dùng xe ngựa theo nghi-vệ Hoàng-đế, như vua nhà Hán vậy.
4. Vũ-Vương thần phục nhà Hán.
Đến khi Lữ hậu mất, Hán Văn-đế lên ngôi, lại sai Lục Giả đưa
thư sang khuyên Vũ-đế thuần phục nhà Hán. Thư rằng:
"Trẫm là con trắc-thất vua Cao-đế, phụng mệnh ra trị nước
Đại, vì non sông cách trở, thẹn mình phác-lậu, cho nên lâu nay chưa từng đưa
thư sang hỏi thăm nhà vua.
Từ khi đức Cao-đế xa bỏ quần-thần, đức Huệ-đế qua đời, bà
Cao- hậu làm triều, không may bị bệnh, để cho họ Lữ chuyên quyền, toan đem con
họ khác để nối-đức Huệ-đế. May nhờ nhà Tông-miếu linh-thiêng, các công thần ra
sức dẹp kẻ tiếm-nghịch.
Trẫm vì các vương-hầu cùng bách quan cố ép, cho nên phải lên
ngôi Hoàng-đế. Mới rồi trẫm nghe nhà vua có đưa thư cho Long-lư-hầu, nhắn tin
và xin anh em họ-hàng ở quận Chân-định, và xin bãi binh ở quận Trường-sa.
Trẫm cũng nghe lời thư của nhà vua, thì đã bảo tướng-quân Bác-
dương-hầu bãi binh về, còn anh em họ hàng nhà vua ở Chân-định thì trẫm đã cho
người thăm nom, lại sai sửa sang phần-mộ nhà vua, thật tử-tế.
Thế vừa rồi trẫm nghe nhà vua còn đem binh quấy-nhiễu ngoài
biên, quận Trường-sa thật khổ, mà Nam-quận lại còn khổ hơn. Làm như thế, nước
nhà vua có chắc lợi được một mình không? Tất là tướng-tá quân-sĩ chết nhiều,
làm cho vợ người góa chồng, con người mồ-côi bố, cha mẹ mất con, được một mất
mười, trẫm không lòng nào nỡ làm như vậy.
Vả lại được đất nhà vua cũng không lấy làm to, được của nhà
vua cũng không đủ làm giàu. Vậy thì từ phía nam núi Lĩnh thì mặc ý nhà vua tự
trị lấy. Nhưng nhà vua cứ xưng đế hiệu, hai bên cùng là đế-quốc mà không sai sứ
giao-thông, thế chẳng hóa ra ganh nhau ư? Ganh nhau mà không nhường, thì người
nhân không thèm làm.
Trẫm nay xin cùng nhà vua gác bỏ điều cũ, từ rày trở đi,
thông sứ như xưa. Vậy trẫm sai Lục Giả sang đem ý trẫm khuyên nhà vua nên nghe,
chứ làm chi nhiều sự cướp bóc tai-hại"
Xem thư của Hán-Văn-đế lời-lẽ tử-tế, thật là có nhân-từ, vì
thế cho nên Triệu Vũ-đế phải chịu phục, và đáp thư lại rằng:
"Nam di đại-trưởng lão-phu thần, Đà, muội tử tái bái,
dâng thư lên Hoàng-đế bệ-hạ. Lão-phu là kẻ cố-lại nước Việt, khi Hiếu Huệ
Hoàng-đế lên ngôi, tình-nghĩa không dứt, vẫn hậu đãi lão phu. Đến khi Cao-hậu
lâm triều, lại phân-biệt ra Trung-hoa, ngoại-di, hạ lệnh cấm không được bán cho
Nam- việt những đồ vàng sắt và điền khí; còn ngựa, trâu dê thì chỉ bán cho giống
đực, chứ không bán cho giống cái.
Lão-phu lại phong văn rằng nhà Hán đem hủy-hoại cả phần mộ
lão- phu cùng giết cả anh em tông-tộc lão phu, cho nên có bàn riêng với chúng rằng:
nay trong đã không vẻ-vang với nhà Hán, ngoài lại không có gì hơn được nước
Ngô, cậy có xưng đế-hiệu; mà chẳng qua tự đế nước mình, không dám hại gì
thiên-hạ.
Cao-hậu nghe thấy thế, lấy làm tức giận, đem tước bộ sổ
Nam-Việt đi, không cho thông sứ, lão phu trộm nghĩ rằng hẳn vì Trường-sa-vương
gièm pha, cho nên Lão-phu có đem binh đánh.
Lão-phu ở đất Việt đã bốn mươi chín năm nay, bây giờ đã có
cháu rồi, nhưng mà sớm khuya trằn-trọc, ăn không ngon, ngủ không yên, mắt không
dám trông sắc đẹp, tai không dám nghe đàn vui, là chỉ vì cớ không được phụng thờ
nhà Hán. Nay nhờ bệ -hạ đoái thương, cho phục lại hiệu cũ, thông sứ như xưa,
lão-phu nhờ ơn, dẫu chết xương cũng không nát.
Vậy xin cải hiệu từ đây, và xin có cống-phẩm phụng-hiến
Hoàng-đế bệ-hạ."
Từ khi Triệu Vũ-Vương chịu bỏ đế-hiệu, Nam Bắc lại giao thông
hòa hiếu không có điều gì nữa.
Năm giáp-thìn (137 trước Tây-lịch), Triệu Vũ-Vương mất. Sử
chép rằng ngài thọ được 121 tuổi và làm vua được hơn 70 năm.
5. Triệu Văn-Vương (137-125 trước Tây-lịch)
Triệu Vũ-vương truyền ngôi lại cho cháu đích tôn, tên là Hồ tức
là Triệu Văn-vương, trị được 12 năm.
Triệu Văn-vương vốn là người tầm thường, tính khí nhu nhược,
không được như Triệu Vũ-vương. Khi mới lên làm vua được hai năm, thì vua Mân-Việt
(tỉnh Phúc-kiến bây giờ) đem quân sang đánh phá ở chỗ biên thùy nước Nam-việt.
Triệu Văn-vương không dám cử binh-mã ra chống cự, sai sứ sang cầu cứu bên
Hán-triều.
Vua nhà Hán sai Vương Khôi và Hàn-An-Quốc Hán đến nơi, bèn bắt
Quốc-vương giết đi, đưa đầu nộp cho quan nhà Hán, và xin hàng. Mân-việt đã bình
rồi vua nhà Hán sai Trang Trợ sang dụ Triệu Văn-Vương vào chầu, nhưng mà đình-thần
xin đừng đi, bèn cho thái tử là Anh Tề đi thay.
Anh Tề ở bên Hán-Triều mười năm, đến năm bính-thìn (125 tr.
Tây lịch) vua Văn-vương mất thì mới về nối ngôi.
6. Triệu Minh-Vương (125-113 tr. Tây lịch).
Anh Tề lên làm vua tức là Triệu Minh-Vương, trị vì được 12
năm.
Khi Anh Tề ở bên Hán có lấy vợ lẽ là Cù-thị, đẻ được một người
con tên là Hưng. Đến khi về làm vua Nam-việt, Minh Vương lập Cù-thị lên làm
hoàng-hậu và Hưng làm Thái-tử.
Mậu-thìn (113 tr. Tây lịch) Triệu Minh-Vương mất, thái tử
Hưng lên làm vua, tức là Triệu Ai-Vương, trị-vì được một năm.
Bấy giờ vua nhà Hán cho An-quốc Thiếu Quí sang dụ Nam-Việt về
chầu. Thiếu Quí nguyên là tình-nhân của Cù-thị lúc trước, đến khi sang Nam- Việt
gặp nhau, lại tư thông với nhau rồi dỗ-dành Ai-vương đem nước Nam- việt về dâng
nhà Hán.
Khi Cù-thị và Ai-vương đã định về Hán-triều, thì có quan Tể-tướng
là Lữ Gia, biết rõ tình-ý, đã can-ngăn mãi không được, mới truyền hịch đi mọi
nơi nói rằng vua và Cù-thái-hậu sắp đem nước dâng cho nhà Hán; rồi Lữ Gia cùng
với mấy người đại thần đem quân cấm-binh vào giết sứ nhà Hán, Cù- Thị và
Ai-Vương. Đoạn rồi tôn Kiến Đức lên làm vua. Kiến Đức là con trưởng của
Minh-Vương mẹ là người Nam-Việt làm vua.
8. Triệu Dương-Vương.
Kiến Đức lên làm vua, tức là Dương-Vương. Dương-Vương mới lên
làm vua được độ một năm thì vua Vũ- đế nhà Hán sai Phục-ba tướng-quân là Lộ-
Bác-Đức và Dương Bộc đem 5 đạo quân sang đánh lấy Nam-Việt. Quan Thái-phó Lữ
Gia ra chống cự không nổi, phải đem Dương-Vương chạy. Quân nhà Hán đuổi theo bắt
được, vua tôi đều bị hại cả. Năm ấy là năm canh-ngọ (111 tr. Tây-lịch), nước
Nam bị người Tàu chiếm lấy, cải là Giao-chỉ-bộ, chia ra làm 9 quận, và đặt quan
cai trị như các châu quận bên Tàu vậy.
Phần II
Bắc-Thuộc Thời Đại
(111 tr. Tây-lịch - 931 sau Tây-lịch)
Chương 1
Bắc Thuộc Lần Thứ Nhất
Bắc Thuộc Lần Thứ Nhất
(111 tr. Tây-lịch - 39 sau Tây-lịch)
1. Chính-Trị nhà Tây-Hán
2. Tích Quang và Nhâm Diên
2. Tích Quang và Nhâm Diên
1. Chính-Trị nhà Tây-Hán.
Năm canh ngọ (111 tr. Tây-lịch) vua Vũ-đế nhà Hán sai Lộ-Bác-Đức
và Dương Bộc sang đánh nhà Triệu, lấy nước Nam-việt rồi cải là Giao-chỉ-bộ, và
chia ra làm 9 quận, là những quận này:
1. Nam-hải: (Quảng-đông)
2. Thương-ngô: (Quảng-tây)
3. Uất-lâm: (Quảng-tây)
4. Hợp-phố: (Bắc Việt và mấy tỉnh ở phía Bắc Trung-Việt)
5. Giao-chỉ: (Bắc Việt và mấy tỉnh ở phía Bắc Trung-Việt)
6. Cửu-chân: (Bắc Việt và mấy tỉnh ở phía Bắc Trung-Việt)
7. Nhật-nam: (Bắc Việt và mấy tỉnh ở phía Bắc Trung-Việt)
8. Châu-nhai: (đảo Hải-nam)
9. Đạm-nhĩ: (đảo Hải-nam)
Mỗi quận có quan thái-thú coi việc cai-trị trong quận và lại
có quan thứ-sử để giám sát các quận. Ở trong quận Giao-chỉ thì có những lạc tướng
hay lạc hầu vẫn được thế tập giữ-quyền cai trị các bộ lạc tựa hồ như các quan
lang ở mạn thượng-du đất Bắc-Việt bây giờ.
Quan thứ-sử trước tiên là Thạch Đái, đóng phủ cai trị ở
Long-uyên. Có sách chép là phủ trị thủa ấy đóng ở Lũng-khê, thuộc phủ Thuận-thành
bây giờ.
Từ đời vua Vũ-đế cho đến hết đời nhà Tây-Hán không thấy sử
nói gì đến đất Giao-chỉ nữa. Mãi đến năm kỷ-sửu (năm 29 Tây lịch) là năm Kiến-Võ
thứ 5 đời vua Quang-vũ nhà Đông Hán thì mới thấy chép rằng thứ-sử Giao- chỉ là
Đặng Nhượng sai sứ về cống nhà Hán. Bởi vì khi Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, bọn
Đặng-Nhượng, Tích Quang và Đỗ Mục ở Giao chỉ giữ châu quận, không chịu phục
Vương Mãn. Đến khi vua Quang-Vũ trung hưng lên, bọn Đặng Nhượng mới sai sứ về
triều cống.
2. Tích Quang và Nhâm Diên.
Về đầu thế-kỷ đệ nhất có hai người sang làm thái-thú trị dân
có nhân-chính. Một người tên là TÍCH QUANG làm thái-thú Giao-chỉ, một người tên
là NHÂM DIÊN làm thái thú quận Cửu-chân.
Tích Quang sang làm thái-thú quận Giao-chỉ từ đời vua Bình-đế
nhà Tây Hán, vào quãng năm thứ hai, thứ ba về thế kỷ đệ nhất. Người hết lòng lo
việc khai-hóa, dạy dân lấy điều lễ-nghĩa, cho nên dân trong quận có nhiều người
kính phục.
Nhâm Diên ở Cửu-chân được 4 năm thì được thăng chức về Tàu đi
làm quan chỗ khác. Dân-sự quận ấy ái-mộ Nhâm Diên, làm đền thờ. Cớ người vì được
nhờ quan thái-thú cho nên sau sinh con ra, lấy tên Nhâm mà đặt tên cho con để tỏ
lòng biết ơn.
Chương 2
TRƯNG-VƯƠNG
TRƯNG-VƯƠNG
(40-43)
1. Trưng-Thị khởi binh
2. Mã Viện sang đánh Giao-chỉ
2. Mã Viện sang đánh Giao-chỉ
1. Trưng-Thị khởi binh.
Năm giáp-ngọ (34) là năm Kiến-võ thứ 10, vua Quang-vũ sai Tô
Định sang làm thái thú quận Giao-chỉ.
Tô Định là người bạo ngược, chính trị tàn ác, người Giao-chỉ
đã có lòng oán giận lắm. Năm canh-tí (40) người ấy lại giết Thi Sách người ở quận
Châu-Diên (phủ Vĩnh tường, trước thuộc về Sơn Tây, nay thuộc về tỉnh Vĩnh-
yên).
Vợ Thi Sách là Trưng-Trắc con gái quan lạc tướng ở huyện
Mê-linh (làng Hạ-lôi, huyện Yên-lãng, tỉnh Phúc-yên) cùng với em gái là
Trưng-Nhị, nổi lên đem quân về đánh Tô Định. Bọn Tô Định phải chạy trốn về quận
Nam Hải.
Lúc bấy giờ những quận Cửu-chân, Nhật-nam và Hợp-phố cũng nổi
lên theo về với hai bà Trưng-Thị. Chẳng bao lâu quân hai bà hạ được 65
thành-trì. Hai bà bèn tự xưng làm vua, đóng đô ở Mê-linh, là chỗ quê nhà.
2. Mã-Viện sang đánh Giao-Chỉ.
Năm tân-sửu (41) vua Quan-vũ sai Mã Viện làm Phục-ba tướng-quân,
Lưu Long làm phó tướng cùng với quan Lâu-thuyền tướng quân là Đoàn Chí sang
đánh Trưng-vương.
Mã Viện là một danh-tướng nhà Đông-Hán, lúc bấy giờ đã ngoài
70 tuổi, nhưng vẫn còn mạnh, đem quân đi men bờ để phá rừng đào núi làm đường
sang đến Lãng-bạc, gặp quân Trưng-Vương hai bên đánh nhau mấy trận 1.
Quân Trưng-vưng là quân ô-hợp không đương nổi quân Mã Viện, đã từng đánh giặc
nhiều phen. Hai bà rút quân về đóng ở Cẩm-khê ( phủ Vĩnh- tường, tỉnh
Vĩnh-yên). Mã Viện tiến quân lên đánh, quân hai bà vỡ tan cả. Hai bà chạy về đến
xã Hát-môn, thuộc huyện Phúc-lộc (nay là huyện Phúc Thọ tỉnh Sơn-tây), thế bức
quá, bèn gia mình xuống sông Hát-giang (chỗ sông Đáy tiếp vào sông Hồng-hà) mà
tự tận. Bấy giờ là ngày mồng 6 tháng 2 năm quí -mão (43).
Những tướng của hai bà là bọn Đô Dương chạy vào giữ huyện Cư-
phong thuộc quận Cửu-chân. Sau Mã Viện đem quân vào đánh, bọn Đô Dương đều phải
ra hàng.
Hai bà họ Trưng làm vua được 3 năm, nhưng lấy cái tài-trí người
đàn bà mà dấy được nghĩa lớn như thế, khiến cho vua tôi nhà Hán phải lo sợ, ấy
cũng đủ để cái tiếng thơm về muôn đời. Đến ngày nay có nhiều nơi lập đền thờ
hai bà để nghi-tạc cái danh-tiếng hai người nữ anh-hùng nước Việt-nam ta 2.
Sử-gia Lê văn Hưu nói rằng: "Trung Trắc, Trưng Nhị là
đàn bà nổi tiếng đánh lấy được 65 thành trì, lập quốc xưng vương dễ như giở bàn
tay. Thế mà từ cuối đời nhà Triệu cho đến đời nhà Ngô hơn một nghìn năm, người
mình cứ cúi đầu bó tay làm tôi-tớ người Tàu, mà không biết xấu-hổ với hai người
đàn-bà họ Trưng!"
Chú thích:
1.
|
Sử chép rằng Lãng-bạc là Hồ-tây ở gần Hà Nội, nhưng có người
bác đi bảo không.
|
2.
|
Nay ở làng Hát-môn, huyện Phúc-thọ, tỉnh Sơn Tây và ở bãi Đồng-nhân,
ở gần Hà Nội có đền thờ hai bà, đến ngày mồng 6 tháng 2 thì có hội.
|
Chương 3
Bắc Thuộc Lần Thứ II
Bắc Thuộc Lần Thứ II
(43-544)
I. Nhà Đông Hán:
|
1. Chính Trị nhà Đông Hán
2. Lý Tiến và Lý Cầm 3. Sỹ Nhiếp |
II. Đời Tam Quốc:
|
1. Nhà Đông Ngô
2. Bà Triệu (Triệu thị Chinh) 3. Nhà Ngô chia đất Giao-châu |
III. Nhà Tấn:
|
1. Chính-trị nhà Tấn
2. Nước Lâm-ấp quấy nhiễu Giao-châu |
IV. Nam Bắc-triều:
|
1. Tình thế nước Tàu
2. Việc đánh Lâm-ấp 3. Sự biến loạn ở đất Giao-châu |
I. Nhà Đông-Hán (25-220)
1. Chính-Trị nhà Đông-Hán.
Mã Viện đánh được Trưng-vương đem đất Giao-chỉ về thuộc nhà
Hán như củ, rồi chỉnh đốn binh lương, đem quân đi đánh dẹp các nơi, đi đến đâu
xây thành đắp lũy đến đấy và biến cải mọi cách chính trị trong các châu quận.
Đem phủ-trị về đóng Mê-linh 1 và
dựng cây đồng trụ ở chỗ phân địa giới, khắc sáu chữ: "Đồng trụ chiết,
Giao-chỉ diệt." Nghĩa là cây đồng trụ mà đổ thì người Giao-chỉ mất nòi.
Sử chép rằng người Giao-chỉ đi qua lại chỗ ấy, ai cũng bỏ vào
chân cột đồng-trụ một hòn đá, cho nên về sau chỗ ấy thành ra núi, phủ mất cả, đến
bây giờ không biết cột ấy ở chỗ nào.
Từ đó chính-trị nhà Đông Hán càng ngày càng ngặt thêm, mà những
quan-lại sang cai-trị Giao-chỉ thường có lắm người tàn-ác, tham nhũng, bắt dân
lên rừng xuống bể để tìm những châu-báu. Dân ở quận Hợp-phố cứ phải xuống bể mò
ngọc trai khổ quá, đến nổi phải bỏ xứ mà đi.
Triều đình thì xa, quan-lại ra cai-trị thì tha hồ mà
tung-hoành, tiếng oan-ức kêu không thấu vào đâu, cho nên thường hay có sự loạn-lạc,
làm cho dân-gian phải nhiều sự khổ-sở.
2. Lý Tiến và Lý Cầm.
Quan cai-trị đã tàn-ác, nhà vua lại bạc đãi người bản xứ. Đời
bấy giờ người mình dẫu có học hành thông thái cũng không được giữ việc chính-trị.
Mãi đến đời vua Linh-đế(168-189) cuối nhà Đông-Hán mới có một người bản xứ là
Lý Tiến được cất lên làm Thứ -sử ở Giao-chỉ. Lý Tiến dâng sớ xin cho người Giao
chỉ được bổ đi làm quan như ở Trung-châu bên Tàu. Nhưng Hán-đế chỉ cho những
người đỗ mậu tài hoặc hiếu-liêm được làm lại-thuộc ở trong xứ mà thôi, chứ
không được đi làm quan ở châu khác. Bấy giờ có người Giao-chỉ tên là Lý Cầm làm
lính túc-vệ hầu vua ở trong điện, rủ mấy người bản xứ ra phục xuống sân mà kêu
cầu thảm thiết. Hán-đế mới cho một người Giao-chỉ đỗ mậu-tài đi làm quan-lệnh ở
Hạ dương và một người đỗ hiếu-liêm làm quan-lệnh ở Lục-hợp. Về sau Lý Cầm làm đến
quan Tư-lệ Hiệu -úy và lại có Trương Trọng cũng là người Giao-chỉ làm thái thú ở
Kim-thành. Người Giao-chỉ ta được làm quan như người bên Tàu, khởi đầu từ Lý Tiến
và Lý Cầm vậy.
3. Sĩ Nhiếp (187-226).
Về cuối đời nhà Đông-Hán, giặc cướp nổi lên khắp cả bốn
phương, triều-đình không có uy-quyền ra đến ngoài, thiên-hạ chỗ nào cũng có loạn.
Đất Giao-chỉ bấy giờ nhờ có quan thái-thú là Sĩ Nhiếp cùng với anh em chia nhau
giữ các quận huyện, cho nên mới được yên.
Tiên-tổ nhà ông Sĩ Nhiếp là người nước Lỗ, vì lúc Vương Mãng
cướp ngôi nhà Hán, mới tránh loạn sang ở đất Quảng-Tín, quận Thương-ngô, đến đời
ông thân sinh ra Sĩ Nhiếp là sáu đời. Ông thân sinh tên là Sĩ Tứ làm thái thú
quận Nhật-nam, cho Sĩ Nhiếp về du học ở đất Kinh-sư, đỗ hiếu liêm được bổ Thượng-thư-lang,
vì việc quan phải cách, rồi về chịu tang cha. Sau lại đỗ mẫu-tài được bổ sang
làm Thái-thú ở quận Giao-chỉ.
Năm quí-mùi (203) là năm thứ 3 đời vua Hiến-đế quan Thứ-sử là
Trương Tân cùng với quan Thái-thú Sĩ Nhiếp dâng sớ xin cải Giao-chỉ làm
Giao-Châu. Vua nhà Hán Thuận cho. Sau vì trong châu có lắm giặc-giã, Sĩ Nhiếp mới
tâu xin vua nhà Hán cho mấy anh em làm Thái-thú quận Cửu- chân, quận Hợp phố và
quận Nam-Hải. Sĩ Nhiếp giữ được đất Giao-châu khỏi loạn và vẫn giữ lệ triều cống
như cũ, cho nên vua Hiến-đế lại phong cho chức An-viễn tướng quân Long-độ
đình-hầu Sĩ Nhiếp trị dân có phép tắc, và lại chăm sự dạy bảo dân cho nên lòng
người cảm-mộ công-đức, mới gọi tôn lên là Sĩ-vương.
Nhà làm sử thường cho nước ta có văn học là khởi đầu từ Sĩ
Nhiếp. Cái ý kiến đó có lẽ không phải. Vì rằng từ khi nhà Hán cai trị đất
Giao-chỉ đến đời Sĩ Nhiếp đã được hơn 300 năm, người Giao-chỉ đã có người học
hành thi đỗ hiếu liêm, mậu tài. Vậy nói rằng đến ông Sĩ Nhiếp mới có nho- học
thì chẳng sai lắm ru. Hoặc giả ông ấy là một người có văn học trong khi làm
quan, lo mở-mang sự học-hành, hay giúp đỡ những kẻ có chữ-nghĩa, cho nên về sau
mới được, cái tiếng làm học tổ ở nước Nam tưởng như thế thì có thể hợp lẽ hơn.
II. Đời Tam-Quốc (220-265)
1. Nhà Đông-Ngô (222-280).
Nhà Đông-Hán mất ngôi thì nước Tàu phân ra làm ba nước: Bắc-ngụy,
Tây-thục, Đông-ngô. Đất Giao- châu bấy giờ thuộc về Đông-ngô.
Sĩ Nhiếp ở Giao-châu được 40 năm, tuy thiệt có uy-quyền ở cõi
Giao- châu, nhưng vẫn theo lệ triều cống nhà Hán, và đến khi nhà Hán mất thì lại
triều cống nhà Ngô.
Năm bính-ngọ (226) là năm Hoàng-vũ thứ 5 nhà Ngô, Sĩ Nhiếp mất,
con Sĩ Huy tự xưng làm Thái-thú. Ngô-chủ là Tôn quyền bèn chia đất Giao- châu,
từ Hợp phố về bắc gọi là Quảng-châu. Sai Lữ Đại làm Quảng Châu thứ sử, Đái
Lương làm Giao-châu thứ sử, và sai Trần Thì sang thay Sĩ Nhiếp làm thái-thú quận
Giao-chỉ.
Bọn Đái Lương và Trần Thì sang đến Hợp-phố thì Sĩ Huy đem
quân ra chống giữ. Thứ Sử Quảng châu là Lữ Đại mới tiến quân sang đánh dẹp, và
cho người đến dụ Sĩ Huy ra hàng. Sĩ Huy đem 5 anh em ra hàng, Lữ Đại sai bắt Sĩ
Huy đem chém đi, còn mấy anh em thì đem về Ngô-triều làm tội.
Ngô-chủ lại hợp Quảng-Châu và Giao-Châu lại làm một, và phong
cho Lữ Đại làm Thứ-sử. Lữ Đại đem quân đi đánh quận Cửu-chân có công được phong
làm Giao-châu-mục.
Năm mậu-thìn (248) là năm xích-ô thứ 11 nhà Đông ngô, Ngô chủ
sai Lục Dậu sang làm thứ-sử Giao-châu.
Năm ấy ở quận Cửu-chân có người đàn bà tên là Triệu Thị Chinh
khởi binh đánh nhà Ngô.
Sử ta chép rằng bà Triệu là người huyện Nông-cống bấy giờ. Thủa
nhỏ cha mẹ mất cả, ở với anh là Triệu quốc Đạt, dến độ 20 tuổi gặp phải người
chị dâu ác nghiệt, bà ấy giết đi rồi vào ở trong núi. Bà ấy là một người có sức
mạnh, lại có chí-khí và lắm mưu-lược. Khi vào ở trong núi chiêu mộ hơn 1,000
tráng sĩ để làm thủ hạ. Anh thấy thế mới can bà, thì bà bảo rằng: "Tôi muốn
cưỡi cơn gió mạnh, đạp đường sóng dữ, chém cá tràng-kình ở bể đông chứ không
thèm bắt-chước người đời cúi đầu cong lưng để làm tì-thiếp người ta."
Năm mậu-thìn (248) vì quan-lại nhà Ngô tàn-ác, dân-gian khổ-sở,
Triệu quốc Đạt mới khởi binh đánh quận Cửu-chân. Bà đem quân ra đánh giúp anh,
quân sĩ của Triệu quốc Đạt thấy bà làm tướng có can đảm, bèn tôn lên làm chủ. Khi
bà ra trận thì cưỡi voi và mặc áo giáp vàng là Nhụy-kiều tướng-quân.
Thứ sử Giao-châu là Lục Dận đem quân đi đánh, bà chống nhau với
nhà Ngô được năm sáu tháng. Nhưng vì quân ít thế cô, đánh mãi phải thua, bà đem
quân chạy đến xã Bồ-điền (nay là xã Phú-điền thuộc huyện Mỹ-hóa) thì tự-tử. Bấy
giờ mới 23 tuổi.
Về sau vua Nam Đế nhà Tiền-Lý, khen là người trung-dũng sai lập
miếu thờ, phong là: "Bất chính anh liệt hùng tài trinh nhất
phu-nhân". Nay ở xã Phú-điền, tỉnh Thanh-hóa còn đền thờ.
3. Nhà Ngô chia đất Giao-Châu.
Năm giáp-thân (264) là năm Nguyên-hưng nguyên-niên, vua nhà
Ngô lại lấy đất Nam-hải, Thương-ngô và Uất-lâm làm Quảng-châu, đặt châu-trị ở
Phiên ngung; lấy đất Hợp-phố, Giao-chỉ, Cửu-chân, và Nhật-nam làm Giao Châu, đặt
châu-trị ở Long Biên. Đất Nam-Việt của nhà Triệu ngày trước thành ra Giao-châu
và Quảng-châu từ đấy.
Đất Giao-châu đời bấy giờ cứ loạn-lạc mãi, những quan-lại nhà
Ngô thì thường là người tham-tàn, vơ-vét của dân, bởi vậy người Giao-châu nổi
lên giết quan thái-thú đi rồi về hàng nhà Ngụy.
Năm ất dậu (256) nhà Tấn cướp ngôi nhà Ngụy, rồi sai quan
sang giữ Giao-châu. Nhà Ngô sai Đào Hoàng sang lấy lại. Đào Hoàng được phong là
Giao-châu mục. Năm canh tí (280) nhà Ngô mất nước. Đào Hoàng về nhà Tấn, được
giữ chức cũ. Đất Giao-châu từ đó thuộc về nhà Tấn.
III Nhà Tấn (256-420)
1. Chính-Trị Nhà Tấn.
Nhà Tấn được thiên-hạ rồi, thấy nhà Ngụy vì thế cô mà mất,
bèn đại phong cho họ-hàng và sai ra trấn các nơi để làm vây cánh cho nhà vua.
Nhưng cũng vì lẽ ấy mà các thân vương thường vì lòng tham danh-lợi cứ dấy binh
đánh giết lẫn nhau, làm cho anh em trong nhà, cốt nhục tương tàn, mà ngôi vua
cũng thành ra suy nhược.
Thời bấy giờ ở phía tây-bắc có những người nhung-địch thấy
nhà Tấn có nội loạn, bèn lũ-lượt nổi lên chiếm giữ dần dần lấy cả vùng phía bắc
sông Trường-giang rồi xưng đế, xưng vương, như nước Triệu, nước Tần, nước Yên,
nước Lương, nước Hạ, nước Hán v. v... cả thảy trước sau đến 16 nước, gọi là loạn
Ngũ-Hồ 3.
Đất Giao-châu ta vẫn thuộc về nhà Tấn. Những quan lại sang
cai-trị cũng như quan lại đời nhà Hán, nhà Ngô, thỉnh thoảng mới gặp được một
vài người nhân từ tử tế, thì dân gian mới được yên ổn, còn thì là những người
tham lam, độc-ác, làm cho nhân dân phải lầm than khổ sở. Cũng lắm khi bọn quan
lại có những người phản nghịch đánh giết lẫn nhau, làm cho trong nước cứ phải
loạn lạc luôn.
2. Nước Lâm-Ấp quấy nhiễu Giao-Châu.
ĐẤt Giao-châu lúc bấy giờ trong thì có quan lại nhũng-nhiễu,
ngoài thì có người nước Lâm-ấp vào đánh phá.
Nước Lâm-Ấp (sau gọi là Chiêm-Thành) ở từ quận Nhật-nam vào
cho đến Chân-Lạp, nghĩa là ở vào quãng từ tỉnh Quảng-Bình, Quảng-Trị cho đến đất
Nam-Việt bây giờ. Người Lâm-ấp có lẽ là nòi giống Mã-lai, theo tông giáo và
chính trị Ấn Độ. Nước ấy cũng là một nước văn minh và cường thịnh ở phía nam
lúc bấy giờ, nhưng không rõ nước ấy khởi đầu thành nước từ lúc nào. Sách
"Khâm-định Việt Sử" chép rằng: năm nhâm-dần (102) đời nam có huyện Tượng-lâm,
người huyện ấy cứ hay sang cướp phá ở quận Nhật-nam, bởi vậy vua nhà Hán mới đặt
quan cai-trị ở huyện ấy, để phòng giữ sự rối loạn.
Đến cuối đời nhà Hán có người huyện Tương-lâm tên là Khu Liên
giết huyện-lệnh đi, rồi tự xưng làm vua, gọi nước là Lâm-ấp. Dòng dõi Khu Liên
thất truyền, bởi vậy cháu ngoại của Phạm Hùng lên nối nghiệp.
Trong đời Tam-quốc, người Lâm-ấp hay sang cướp phá ở quận Nhật-nam
và quận Cửu-chân, bởi vậy khi nhà Tấn đã lấy được Đông-ngô rồi, ý muốn giảm bớt
quân ở các châu quận, nhưng quan thứ sử Giao-châu là Đào Hoàng dâng sớ về tâu rằng:
"Vua nước Lâm-ấp là Phạm Hùng thông với nước Phù Nam hay sang quấy nhiễu ở
đất Nhật-nam nếu lại giảm bớt quân ở Giao-châu đi, thì sợ quân Lâm-ấp lại sang
đánh phá."
Xem như vậy thì nước Lâm-Ấp đã có từ đầu đệ nhị thế kỷ.
Phạm Hùng truyền cho con là Phạm Dật. Phạm Dật mất, thì người
gia nô là Phạm Văn cướp mất ngôi. Phạm Văn truyền cho con là Phạm Phật.
Năm quí-sửu (353) đời vua Mục-đế nhà Đông-Tấn, thứ-sử
Giao-châu là Nguyễn Phu đánh vua Lâm-ấp là Phạm Phật, phá được hơn 50 đồn lũy.
Phạm Phật mất, truyền ngôi lại cho con cháu là Phạm Hồ-Đạt. Năm kỷ hợi (399) Phạm
Hồ-Đạt đem quân sang đánh lấy hai quận Nhật-nam và Cửu- chân rồi lại đi đánh
Giao-châu. Bấy giờ có thái thú quận Giao-chỉ là Đỗ Viện đánh đuổi người Lâm-Ấp,
lấy lại hai quận. Đỗ Viện được phong làm Giao- châu thứ-sử.
Năm quí-sửu (413) Phạm Hồ-Đạt lại đem quân sang phá ở quận Cửu-chân.
Khi bấy giờ con Đỗ Viện là Đỗ Tuệ-Độ làm Giao-châu thứ sử đem binh ra đuổi
đánh, chém được tướng Lâm-ấp là bọn Phạm Kiện và bắt được hơn 100 người.
Người Lâm-Ấp vẫn còn hay tính đi cướp phá, cứ năm ba năm lại
sang quấy nhiễu ở đất Nhật nam. Đỗ Tuệ-Độ định sang đánh Lâm-ấp để trừ cái hại
về sau, bèn đến năm canh-thân (420) cất binh mã sang đánh, chém giết tàn hại, rồi
bắt người Lâm-ấp cứ hàng năm cống tiến: voi, vàng, bạc, đồi-mồi v.v. Từ đó mới
được tạm yên.
Dòng dõi Phạm Hồ-Đạt làm vua được mấy đời lại bị quan Lâm-ấp
là Phạm Chư Nông cướp mất ngôi. Phạm Chư Nông truyền cho con là Phạm Dương Mại.
Khi Phạm Dương Mại làm vua nước Lâm-ấp, thì nhà Tấn đã mất rồi,
nước Tàu phân ra Nam-triều và Bắc-triều. Phạm Dương Mại lại nhân dịp đó sang quấy
nhiễu Giao châu.
IV. NAM BẮC-TRIỀU (420-588)
1. Tình-Thế Nước Tàu.
Năm canh thân (420) Lưu Dụ cướp ngôi nhà Đông Tấn, lập ra nhà
Tống ở phía Nam. Lúc bấy giờ ở phía Bắc thì nhà Ngụy gồm được cả nước Lương, nước
Yên, nước Hạ. Nước Tàu phân ra làm Nam-Triều và Bắc Triều. Bắc Triều thì có nhà
Ngụy, nhà Tề, nhà Chu nối nhau làm vua; Nam-Triều thì có nhà Tống, nhà Tề, nhà
Lương và nhà Trần kế nghiệp trị-vì.
Trong đời nhà Tấn về năm Quí dậu (433) đời vua Văn-đế, vua nước
Lâm-ấp là Phạm Dương Mại thấy nước Tàu loạn-lạc, bèn sai sứ sang cống nhà Tống
và xin lĩnh đất Giao-châu để cai trị. Nhưng vua nhà Tống không cho.
Từ đó nước Lâm-ấp lại sang cướp phá ở mạn Nhật-nam và Cửu-
chân. Vua nhà Tống bèn sai quan thứ-sử là Đàn Hòa Chi và Tông Xác làm phó tướng
đem binh sang đánh Lâm-ấp. Phạm Dương Mại đem quân ra chống cự.
Đàn Hòa Chi và Tông Xác tiến quân chém được tướng, phá được
thành, quân Lâm-ấp vỡ tan, Phạm Dương Mại cùng với con chạy thoát được. Đàn Hòa
Chi vào đất Lâm-ấp lấy được vàng bạc châu báu rất nhiều. Sử chép rằng Đàn Hòa
Chi lấy được một cái tượng bằng vàng mấy người ôm không xuể, đem nấu-đúc được
hơn 10 vạn cân. Từ đấy người Tàu biết Lâm-ấp có nhiều của, cứ chực sang lấy.
Đàn Hòa Chi cũng từ đấy bị gièm pha, phải cách chức đuổi về.
3. Sự biến loạn - Đất Giao Châu.
Năm Kỷ-Mùi (479) nhà Tống mất ngôi, nhà Tề kế nghiệp, trị vì
được 22 năm thì nhà Lương lại cướp ngôi nhà Tề.
Trong đời Nam Bắc Triều, đất Giao-châu không được mấy khi yên
ổn, vì quan Tàu sang cai-trị có nhiều người thấy bên Tàu loạn, cũng muốn tìm
cách để độc-lập, bởi vậy quan lại cứ giết lẫn nhau.
Đời nhà Lương lại sai Tiêu-Tư sang làm thứ sử Giao-châu. Tiêu
Tư là một người tàn bạo, làm cho lòng người ai cũng oán giận. Bởi vậy ông Lý
Bôn mới có cơ hội mà nổi lên, lập ra nhà Tiền Lý.
Chú thích:
Chú thích:
1.
|
Về cuối đời Đông Hán lại dời về Long Biên.
|
2.
|
Bà Triệu, các kỳ xuất bản trước để là Triệu Ẩu. Nay xét ra
nên để là Triệu Thị Chinh.
|
3.
|
Ngũ Hồ là 5 rợ: Hung Nô và rợ Yết (chủng loại Mông Cổ), rợ
Tiên Ti (chủng loại Mãn Châu), rợ Chi và rợ Khương (chủng loại Tây Tạng) }
|
Chương 4
Nhà Tiền Lý
Nhà Tiền Lý
(544 - 602)
1. Lý Nam Đế
2. Triệu Việt Vương
3. Hậu Lý Nam Đế
2. Triệu Việt Vương
3. Hậu Lý Nam Đế
1. Lý Nam Đế (544-548)
Năm Tân Dậu (541) là năm Đại Đồng thứ 7 đời vua Vũ Đế nhà
Lương, ở huyện Thái Bình 1 có
một người tên là Lý Bôn, tài kiêm văn võ, thấy nước mình, trong thì quan lại
Tàu làm khổ, ngoài thì người Lâm Ấp cướp phá, bèn cùng với những người nghĩa
dũng nổi lên, đánh đuổi Tiêu Tư về Tàu, rồi chiếm giữ lấy thành Long Biên.
Lý Bôn, có người gọi là Lý Bí, vốn dòng dõi người Tàu. Tổ
tiên ở đời Tây Hán phải tránh loạn chạy sang Giao Châu, đến lúc bấy giờ là bảy
đời, thành ra người bản xứ. Khi chiếm giữ được đất Giao Châu rồi, ông sửa sang
mọi việc, định lập nghiệp lâu dài. Qua năm Quí Hợi (543) quân Lâm Ấp lại sang
phá quận Nhật Nam, Lý Bôn sai tướng là Phạm Tu vào đánh ở Cửu Đức (Hà Tĩnh),
người Lâm Ấp thua chạy về nước.
Năm Giáp Tí (544) đời nhà Lương bên Tàu, ông Lý Bôn tự xưng
là Nam Việt Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, niên hiệu là Thiên Đức, rồi phong
cho Triệu Túc làm thái phó, Tinh Thiều làm tướng văn, và Phạm Tu là tướng võ.
Năm Ất Sửu (545) vua nhà Lương sai Dương Phiêu sang làm thứ sử
Giao Châu, và sai Trần Bá Tiên đem quân sang đánh Nam Việt. Lý Nam Đế thua phải
bỏ thành Long Biên chạy về giữ thành Gia Ninh (huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên).
Trần Bá Tiên đem quân lên vây thành Gia Ninh, Lý Nam Đế chạy về giữ thành Tân
Xương, tức là đất Phong Châu cũ thuộc tĩnh Vĩnh Yên bây giờ.
Nhà Lương lại tiến lên đuổi đánh, Lý Nam Đế thấy thế mình yếu,
chống không nổi, mới rút quân lên đóng ở động Khuất Liêu (thuộc đất Hưng Hóa),
để đợi thu xếp được quân sĩ lại ra đánh. Được non một năm, Lý Nam Đế đem hai vạn
quân ra đánh nhau với Trần Bá Tiên ở hồ Điển Triệt (?), lại thua. Lý Nam Đế bèn
giao binh quyền lại cho tả tướng quân Triệu Quang Phục chống nhau với quân nhà
Lương rồi trở về Khuất Liêu.
Triệu Quang Phục là con quan thái phó Triệu Túc người ở Châu
Diên (Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên) theo cha giúp Lý Nam Đế lập được nhiều công,
nay đem quân chống cự với nhà Lương được ít lâu, rồi sau thấy thế quân Tàu còn
mạnh, địch không nổi, bèn rút quân về Dạ Trạch 2.
Dạ Trạch là chỗ đồng lầy, chung quanh cỏ mọc như rừng, ở giữa có bãi cát làm
nhà ở được. Triệu Quang Phục vào ở đấy, ngày nấp ẩn, tối thì cho lính chở thuyền
độc mộc ra đánh quân của Trần Bá Tiên, cướp lấy lương thực về nuôi quân sĩ. Trần
Bá Tiên đánh mãi không được. Người thời bấy giờ gọi Triệu Quang Phục là Dạ Trạch
Vương.
2. Triệu Việt Vương (549-571)
Năm Mậu Thìn (548) Lý Nam Đế ở trong Khuất Liêu phải bệnh mất,
sang năm sau Triệu Quang Phục ở Dạ Trạch được tin ấy bèn xưng là Việt Vương. Bấy
giờ quân của Việt Vương đã sắp hết lương, mà mãi không phá được quân Tàu. May
nhờ gặp lúc bên Tàu có loạn Hầu Cảnh, vua nhà Lương phải triệu Trần Bá Tiên về
để người tì tướng là Dương Sân ở lại chống cự với Triệu Quang Phục. Quang Phục
mới thừa thế đem quân ra đánh phá quân Tàu, rồi về lấy lại thành Long Biên.
Khi Lý Nam Đế thất thế chạy về Khuất Liêu thì người anh họ là
Lý Thiên Bảo cùng với người họ là Lý Phật Tử đem quân chạy vào quận Cửu Chân, rồi
bị quân nhà Lương đuổi đánh chạy sang Lào, đến đóng ở động Dã Năng, xưng là Đào
Lang Vương, quốc hiệu là Dã Năng.
Năm Ất Hợi (555) là năm thứ 7 đời Triệu Việt Vương, Lý Thiên
Bảo mất, không có con, binh quyền về cả Lý Phật Tử. Đến năm Đinh Sửu (557) Lý
Phật Tử đem quân về chống với Triệu Việt Vương. Đánh nhau mấy trận không được,
Phật Tử mới xin chia đất giảng hòa. Triệu Việt Vương nghĩ tình họ Lý, cũng thuận
chia đất cho Lý Phật Tử.
Lý Phật Tử đóng ở Ô Diên (nay ở vào làng Đại Mỗ, thuộc huyện
Từ Liêm, tỉnh Hà Đông). Triệu Việt Vương đóng ở Long Biên, lấy bãi Quân Thần
làm giới hạn (bãi ấy thuộc làng Thượng Các, huyện Từ Liêm). Triệu Việt Vương lại gả con gái cho Phật Tử để tỏ tình hòa hiếu với
nhau. Nhưng Phật Tử vẫn có ý muốn thôn tính, bởi vậy bề ngoài tuy hòa hiếu,
nhưng bề trong vẫn sửa soạn để đánh lấy Long Biên.
Năm Tân Mão (571), Phật Tử bất thình lình đem quân đánh Triệu
Việt Vương. Triệu Việt Vương thua chạy đến sông Đại Nha (nay ở huyện Đại An, tỉnh
Nam Định), nhảy xuống sông tự tận. Người ở đấy cảm nhớ Triệu Việt Vương, mới lập
đền thờ ở chỗ sông Đại Nha. Nay còn có đền thờ ở làng Đại Bộ, gần huyện Đại An.
Lý Phật Tử lấy được thành Long Biên rồi, xưng đế hiệu, đóng
đô ở Phong Châu (thuộc huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên), sai Lý Đại Quyền giữ
Long Biên và Lý Phổ Đỉnh giữ Ô Diên.
Trong khi Lý Phật Tử làm vua ở Nam Việt thì vua Văn Đế nhà
Tùy đã gôm cả Nam Bắc, nhất thống nước Tàu. Đến năm Nhâm Tuất (602) vua nhà Tùy
sai tướng là Lưu Phương đem quân 27 doanh sang đánh Nam Việt.
Lưu Phương sai người lấy lẽ họa phúc để dụ Lý Phật Tử về
hàng. Hậu Lý Nam Đế sợ thế không địch nổi bèn xin về hàng.
Từ đấy đất Giao Châu lại bị nước Tàu cai trị 336 năm nữa.
Chú thích:
Chú thích:
1.
|
Cứ theo sách "Khâm Định Việt Sử" thì huyện Thái
Bình thuộc về Phong Châu ngày trước, nay ở vào địa hạt tỉnh Sơn Tây nhưng mà
không rõ là chỗ nào, chứ không phải là phủ Thái Bình ở Sơn Nam mà bây giờ là
tỉnh Thái Bình.
|
2.
|
Bây giờ thuộc phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
|
Chương 5
Bắc Thuộc Lần Thứ Ba
Bắc Thuộc Lần Thứ Ba
(603 - 939)
I. Nhà Tùy:
|
1. Việc đánh Lâm Ấp
|
II. Nhà Đường:
|
1. Chính trị nhà Đường
2. An Nam đô hộ phủ 3. Mai Hắc Đế 4. Giặc bể 5. Bố Cái Đại Vương 6. Việc đánh nước Hoàn Vương 7. Nam Chiếu cướp phá Giao Châu 8. Cao Biền bình giặc Nam Chiếu 9. Công việc của Cao Biền 10. Sự trị loạn của nước Tàu |
III. Đời Ngũ Quí:
|
1. Tình thế nước Tàu
2. Họ Khúc dấy nghiệp: Khúc Thừa Dụ 3. Khúc Hạo 4. Khúc Thừa Mỹ 5. Dương Diên Nghệ và Kiểu Công Tiện 6. Ngô Quyền phá quân Nam Hán |
I. Nhà Tùy (589 - 617)
1. Việc Đánh Lâm Ấp.
Nhà Tùy làm vua bên Tàu được 28 năm thì mất. Trong bấy nhiêu
năm thì sử không chép chuyện gì lạ, chỉ nói rằng năm Ất Sửu (605), vua nhà Tùy
nghe nói ở Lâm Ấp có nhiều của, bèn sai tướng là Lưu Phương đem quân đi đánh.
Vua Lâm Ấp lúc bấy giờ là Phạm Phạm Chí đem quân ra giữ những chỗ hiểm yếu, ở
bên này sông Đồ Lê (?) để chống cự với quân Tàu. Nhưng chẳng bao lâu quân Lâm Ấp
phải thua bỏ chạy. Lưu Phương thừa kế tiến quân sang sông đuổi đánh, gặp đại
binh Lâm Ấp kéo đến, có nhiều voi thế rất mạnh. Lưu Phương bèn dùng mưu: sai
quân đào hố lấy cỏ phủ lên, rồi sai quân ra đánh nhử, giả tảng bại trận. Quân
Lâm Ấp đuổi theo được một quãng, voi sa xuống hố, quân sĩ loạn cả. Khi bấy giờ
quân Tàu mới quay trở lại lấy cung nỏ bắn, voi khiếp sợ xéo cả lên quân Lâm Ấp
mà chạy. Lưu Phương cũng phải bệnh về đến nửa đường thì chết.
II. Nhà Đường (618 - 907)
1. Chính Trị Nhà Đường.
Năm Mậu Dần (618) nhà Tùy mất nước, nhà Đường kế nghiệp làm
vua nước Tàu. Đến năm Tân Tị (621) vua Cao Tổ nhà Đường sai Khâu Hòa làm Đại Tổng
Quản sang cai trị Giao Châu.
Từ khi nước ta thuộc về nước Tàu, chỉ có nhà Đường cai trị là
nghiệt hơn cả. Nhưng sử chép lược quá: thường cách hai ba năm mới chép một việc,
chắc là những nhà làm sử nước ta sau cứ theo sử Tàu chép lại, cho nên mới sơ lược
như vậy.
2. An Nam Đô Hộ Phủ.
Năm Kỹ Mão (678) vua Cao Tông nhà Đường chia đất Giao Châu ra
làm 12 châu, 59 huyện, và đặt An Nam đô hộ phủ 1.
Nước ta gọi là An Nam khởi đầu từ đấy.
Mười hai Châu đời nhà Đường là những châu này:
1. Giao Châu có 8 huyện (Hà Nội, Nam Định v. v.)
2. Lục Châu có 3 huyện (Quảng Yên, Lạng Sơn)
3. Phúc Lộc Châu có 3 huyện (Sơn Tây)
4. Phong Châu có 3 huyện (Sơn Tây)
5. Thang Châu có 3 huyện (?)
6. Trường Châu có 4 huyện (?)
7. Chí Châu có 7 huyện (?)
8. Võ Nga Châu có 7 huyện (?)
9. Võ An Châu có 2 huyện (?)
10. Ái Châu có 6 huyện (Thanh Hóa)
11. Hoan Châu có 4 huyện (Nghệ An)
12. Diên Châu có 7 huyện (Nghệ An)
Ở về phía Tây Bắc đất Giao Châu lại đặt một châu nữa, gọi là
Man Châu gồm cả những Mường ở mạn ấy, lệ cứ hằng năm phải triều cống vua nhà Đường.
Ấy là đại để cách chính trị nhà Đường như vậy. Còn thường thì
cũng loạn lạc luôn: khi thì người trong nước nổi lên đánh phá như Mai Hắc Đế và
Bố Cái Đại Vương: khi thì những nước ở ngoài vào xâm phạm, như nước Hoàn Vương
và nước Nam Chiếu.
3. Mai Hắc Đế (722).
Năm Nhâm Tuất (722) là năm Khai Nguyên thứ 10 về đời vua Huyền
Tông nhà Đường, ở Hoan Châu có một người tên là Mai Thúc Loan nổi lên chống cự
với quân nhà Đường.
Mai Thúc Loan là người huyện Thiên Lộc, tức là huyện Can Lộc,
tỉnh Hà Tĩnh bây giờ, mặt mũi đen sì, sức vóc khỏe mạnh, thấy quan nhà Đường
làm nhiều điều tàn bạo, dân gian khổ sở, lại nhân lúc bấy giờ lắm giặc giã, ông
ấy bèn chiêu mộ những người nghĩa dũng, rồi chiếm giữ lấy một chỗ ở đất Hoan
Châu (nay thuộc huyện Nam Đường tỉnh Nghệ An) rồi xây thành đắp lũy, xưng hoàng
đế, tục gọi là Hắc Đế.
Mai Hắc Đế lại kết hiếu với nước Lâm Ấp và nước Chân Lạp để
làm ngoại viện.
Vua nhà Đường sai quan nội thị là Dương Tư Húc đem quân sang
cùng với quan Đô Hộ là Quang Sở Khách đi đánh Mai Hắc Đế. Mai Hắc Đế thế yếu chống
không nổi phải thua chạy, được ít lâu thì mất. Nay ở núi Vệ Sơn huyện Nam Đường,
tỉnh Nghệ An, còn có di tích thành cũ của vua Hắc Đế, và ở xã Hương Lãm, huyện
Nam Đường còn có đền thờ.
4. Giặc Bể.
Năm Đinh Vị (767) là năm Đại Lịch thứ 2, đời vua Đại Tông nhà
Đường, sử chép rằng có quân Côn Lôn và quân Đồ Bà là quân ở những đảo ngoài bể
vào cướp phá đất Giao Châu, lên vây các châu thành.
Quan Kinh Lược Sứ là Trương Bá Nghị cùng với quan Đô Úy là
Cao Chính Bình đem quân đánh phá được lũ giặc ấy. Trương Bá Nghi bèn đắp La
Thành để phòng thủ phủ trị. La Thành khởi đầu từ đấy.
5. Bố Cái Đại Vương (791).
Năm Tân Vị (791) quan Đô Hộ là Cao Chính Bình bắt dân đóng
sưu thuế nặng quá, lòng dân oán hận. Khi bấy giờ ở quận Đường Lâm (bây giờ là
làng Cam Lâm, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây) có người tên là Phùng Hưng nổi lên
đem quân về phá phủ Đô Hộ. Cao Chính Bình lo sợ thành bệnh mà chết. Phùng Hưng
mới chiếm giữ phủ thành, được mấy tháng thì mất. Quân sĩ lập con Phùng Hưng là
Phùng An lên nối nghiệp. Dân ái mộ Phùng Hưng mới lập đền thờ và tôn lên làm Bố
Cái Đại Vương, bởi vì ta gọi cha là bố, mẹ là cái, nghĩa là tôn Phùng Hưng lên
làm cha mẹ.
Tháng 7 năm Tân Vị ấy, vua nhà Đường sai Triệu Xương sang làm
Đô Hộ. Phùng An liệu thế chống không nổi xin ra hàng.
6. Việc Đánh Nước Hoàn Vương.
Nước Lâm Ấp từ khi bị tướng nhà Tùy là Lưu Phương sang đánh,
rồi quốc vương là Phạm Phạm Chí dâng biểu tạ tội và xin triều cống như cũ. Đến
quãng năm Trinh Quan đời vua Thái Tông nhà Đường, vua Lâm Ấp là Phạm Đầu Lê mất,
con là Phạm Trấn Long cũng bị người giết, dân trong nước mới lập người con của
bà cô Phạm Đầu Lê, tên là Chư Cát Địa lên làm vua.
Chư Các Địa đổi quốc hiệu là Hoàn Vương Quốc. Từ đó về sau
thường người nước hoàn vương lại sang quấy nhiễu ở giao châu, và chiếm giữ lấy
Châu Hoan và Châu Ái.
Năm Mậu Tí (808) đời vua Hiến Tông, quan Đô Hộ là Trương Chu
đem binh thuyền đi đánh giết hại quân Hoàn Vương rất nhiều. Vua nước ấy bèn lui
về ở phía Nam (ở vào quãng tỉnh Quảng Nam, Quảng Nghĩa bây giờ) và đổi quốc hiệu
là Chiêm Thành.
7. Nam Chiếu Cướp Phá Giao Châu.
Về cuối đời nhà Đường, quan lại Tàu lắm người chỉ vì tư lợi, ức
hiếp nhân dân như Đô Hộ Lý Trác cứ vào những chợ ở chỗ Mường Mán mua trâu mua
ngựa, mỗi con chỉ trả có một đấu muối, rồi giết tù trưởng mán là Đỗ Tồn Thành.
Vì thế cho nên người Mường Mán tức giận bèn dụ người Nam Chiếu sang cướp phá,
làm cho dân Giao Chỉ khổ sở trong 10 năm trời.
Ở phía Tây Bắc đất Giao Châu, tức là ở phía Tây tỉnh Vân Nam
bây giờ có một xứ người nòi Thái ở. Người xứ ấy gọi vua là chiếu. Trước có 6
chiếu là Mông Huề, Việt Thác, Lãng Khung, Đằng Đạm, Thi Lãng, Mông Xá. Chiếu
Mông Xá ở về phía Nam nên gọi là Nam Chiếu.
Trong khoảng năm Khai Nguyên (713-742) đời vua Huyền Tông nhà
Đường, Nam Chiếu là Bì La Cáp cường thịnh lên, mà 5 chiếu kia suy hèn đi. Bì La
Cáp mới đút lót cho quan Tiết Độ Sứ đạo Kiếm Nam là Vương Dục để xin hợp cả 6
chiếu lại làm một. Triều đình nhà Đường thuận cho, và đặt tên là Qui Nghĩa. Từ
đó Nam Chiếu càng ngày càng thịnh lên, đem quân đi đánh Thổ Phồn (Tây Tạng) rồi
dời đô lên đóng ở thành Thái Hòa (thành Đại Lý bây giờ).
Năm Bính Dần (846) quân Nam Chiếu sang cướp ở Giao Châu, quan
Kinh Lược Sứ là Bùi Nguyên Dụ đem quân đánh đuổi đi.
Năm Mậu Dần (858), nhà Đường sai Vương Thức sang làm Kinh Lược
Sứ. Vương Chức là người có tài lược, trị dân có phép tắc, cho nên những giặc
giã đều dẹp yên được cả, mà quân Mường và quân Nam Chiếu cũng không dám sang quấy
nhiễu.
Năm Canh Thìn (860), nhà Đường gọi Vương Thức về làm Quan Sát
Sứ ở Tích Đông và sai Lý Hộ sang làm Đô Hộ.
Bấy giờ Nam Chiếu đã mạnh lắm, bèn xưng đế và đặt quốc hiệu
là Đại Mông rồi lại đổi là Đại Lễ 2.
Lý Hộ giết người tù trưởng là Đỗ Thủ Trừng, người Mường lại đi dụ quân Nam Chiếu
sang đánh lấy mất phủ thành. Lý Hộ phải bỏ chạy về Tàu. Vương Khoan đem binh
sang cứu, quân Nam Chiếu bỏ thành rút về.
Năm Nhâm Ngọ (862), quân Nam Chiếu sang đánh Giao Châu, nhà
Đường sai Thái Tập đem ba vạn quân sang chống giữ. Quân Nam Chiếu thấy quân nhà
Đường nhiều lại rút về. Bấy giờ có quan Tiết Độ Sứ Lĩnh Nam là Thái Kinh sợ
Thái Tập lập được công to bèn mật tâu với vua nhà Đường rằng Giao Châu đã yên,
thì nên rút quân về. Thái Tập xin để lại 5.000 quân cũng không được.
Tháng giêng năm Quí Mùi (863), Nam Chiếu đem 50.000 quân sang
đánh phủ thành. Thái Tập cứu không kịp, thế bức quá phải tự tử. Trận ấy có tướng
nhà Đường là Nguyên Duy Đức đem hơn 400 quân Kinh Nam chạy ra đến bờ sông, thuyền
bè không có, Nguyên Duy Đức bảo chúng rằng chạy xuống nước cũng chết, bất nhược
trở lại đánh nhau với giặc, một người đổi lấy hai người thì chẳng lợi hơn hay
sao. Nói đoạn quay trở lại giết được hơn 2.000 người, nhưng đêm đến tướng Nam
Chiếu laà Dương Tư Tấn đem binh đến đánh, bọn Nguyên Duy Đức chết cả.
Quân Nam Chiếu vào thành giết hại rất nhiều người. Sử chép rằng
Nam Chiếu hai lần sang đánh phủ thành, giết người Giao Châu hơn 15 vạn.
Vua Nam Chiếu là Mông Thế Long cho Dương Tư Tấn quản lĩnh
20.000 quân và cho Đoàn Tù Thiên làm Tiết Độ Sứ ở lại giữ Giao Châu.
Vua nhà Đường hạ chỉ đem An Nam Đô Hộ Phủ về đóng ở Hải Môn
(?) rồi lấy quân các đạo về ở Lĩnh Nam và đóng thuyền lớn để tải lương thực, đợi
ngày tiến binh.
Mùa Thu năm Giáp Thân (864) vua nhà Đường sai tướng là Cao Biền
sang đánh quân Nam Chiếu ở Giao Châu.
8. Cao Biền Bình Giặc Nam Chiếu.
Cao Biền là người tướng giỏi nhà Đường, vốn dòng võ tướng
môn, tính ham văn học, quân sĩ đều có lòng mến phục.
Năm Ất Dậu (865), Cao Biền cùng với quan Giám Quân là Lý Duy
Chu đưa quân sang đóng ở Hải Môn. Nhưng Lý Duy Chu không ưa Cao Biền, muốn tìm
mưu làm hại. Hai người bàn định tiến binh. Cao Biền dẫn 5.000 quân đi trước, Lý
Duy Chu không phát binh tiếp ứng.
Tháng chín năm ấy quân rợ đang gặt lúc ở Phong Châu (huyện Bạch
Hạc, tỉnh Vĩnh Yên), Cao Biền đến đánh cất lẻn một trận, giết được nhiều người,
rồi lấy thóc gạo nuôi quân lính.
Đến tháng 4 năm sau (866), Nam chiếu cho bọn Dương Tập, Phạm
Nê Ta, Triệu Nặc Mi sang giúp Đoàn Tù Thiên để giữ Giao Châu. Khi bấy giờ có tướng
nhà Đường là Vi Trọng Tể đem 7.000 quân mới sang, Cao Biền nhân dịp mới phát
binh đánh được mấy trận, cho người đưa tin thắng trận về Kinh, nhưng mà đi đến
Hải Môn, Lý Duy Chu giữ lại, không cho triều đình biết.
Trong triều mãi không thấy tin tức gì, cho ra hỏi, thì Lý Duy
Chu tâu dối rằng Cao Biền đóng quân ở Phong Châu không chịu đánh giặc. Vua nghe
tin ấy, nổi giận sai Vương Án Quyền ra thay, và đòi Cao Biền về hỏi tội. Ngay
tháng ấy Cao Biền phá quân Nam Chiếu và vây La Thành đã hơn 10 ngày rồi, chỉ
nay mai thì lấy được, bỗng chốc được tin Vương Án Quyền và Lý Duy Chu sang
thay. Cao Biền liền giao binh quyền cho Vi Trọng Tể, rồi cùng với mấy người thủ
hạ về Bắc. Nhưng trước Cao Biền đã sai người lẻn về Kinh dâng biểu tâu rõ tình
trạng. Vua nhà Đường biết rõ sự tình, mừng lắm, lại cho Cao Biền thăng trật và
sai trở sang cầm quân đánh Nam Chiếu.
Bọn Vương Án Quyền và Lý Duy Chu lười biếng không vây đánh gì
cả, đến khi Cao Biền trở sang mới đốc quân binh đánh thành, giết được Đoàn Tù
Thiên và người thổ làm hướng đạo là Chu Cổ Đạo. Còn những động Mán Thổ ở các
nơi xin về hàng rất nhiều.
Đất Giao Châu bị Nam Chiếu phá hại vừa 10 năm, đến bấy giờ
Cao Biền lấy lại, đem về nội thuộc nhà Đường như cũ.
9. Công Việc Của Cao Biền.
Vua nhà Đường đổi An Nam làm Tĩnh Hải, phong cho Cao Biền làm
Tiết Độ Sứ. Cao Biền chỉnh đốn mọi công việc, lập đồn ải ở mạn biên thùy để
phòng giữ giặc giã, làm sổ sưu thuế để chi dụng việc công 3.
Cao Biền trị dân có phép tắc cho nên ai cũng kính phục, bởi vậy mới gọi tôn lên
là Cao Vương.
Cao Biền đắp lại thành Đại La ở bờ sông Tô Lịch. Thành ấy bốn
mặt dài hơn 1982 trượng linh 5 thước, cao hai trượng linh 6 thước, đắp một đường
đê bao bọc ở ngoài dài hơn 2125 trượng linh 8 thước, cao 1 trượng rưỡi, dày 2
thượng. Trong thành cho dân sự làm nhà hơn 40 vạn nóc (?).
Sử chép rằng Cao Biền dùng phép phù thủy khiến Thiên Lôi phá
những thác ghềnh ở các sông để cho thuyền bè đi được. Thiên Lôi ấy có lẽ là Cao
Biền dùng thuốc súng chăng?
Tục lại truyền rằng Cao Biền thấy bên Giao Châu ta lắm đất
đai đế vương, thường cứ cỡi diều giấy đi yểm đất, phá những chỗ sơn thủy đẹp,
và hại mất nhiều long mạch. Những chuyện ấy là chuyện ngoa ngôn, không có lẽ gì
mà tin được.
Năm Ất Vị (875) vua nhà Đường sai Cao Biền sang làm Tiết Độ Sứ
ở Tây Xuyên (Tứ Xuyên). Biền dâng người cháu họ là Cao Tầm làm Tiết Độ Sứ ở
giao Châu.
Nhà Đường tuy lấy lại được đất Giao Châu nhưng bên Tàu lại sắp
loạn, giặc cướp dần dần nổi lên, ngôi nhà vua cũng dần dần sắp đổ, nước Tàu lại
chia rẽ làm mấy nước, cho nên ở xứ Giao Châu cũng có sự biến cải.
10. Sự Trị Loạn Của Nước Tàu.
Xét chuyện nước Tàu từ đời nhà Hán cho đến đời bấy giờ, cứ mỗi
nhà lên cầm quyền chính trị được vài ba trăm năm, rồi trong nước lại biến loạn,
Nam Bắc phân tranh độ chừng
Phàm sự trị loạn thay đổi trong một xã hội là thường lý,
nhưng chỉ lạ có một điều mấy lần bên Tàu loạn cũng tương tự như nhau cả. Xem
như khi nhà Hán suy, thì nước Tàu phải loạn Tam Quốc; hết Tam Quốc thì có nhà Tấn
nhất thống. Đến khi nhà Tấn suy, thì có Nam Bắc triều; hết Nam Bắc triều thì có
nhà Đường nhất thống. Nay thì nhà Đường suy lại phải cái loạn Ngũ Quí. Cái cơ hội
trị loạn bên Tàu giống nhau như thế là cũng có lẽ tại cái phong tục và cái xã hội
của Tàu. Sự giáo dục không thay đổi, nhân quần trong nước không tiến bộ, cách
tư tưởng không khai hóa, cho nên nước tuy lâu đời, mà trình độ xã hội vẫn đứng
nguyên một chỗ. Khi có biến loạn là chỉ có mấy người có quyền thế tranh cạnh với
nhau, chứ dân trong nước hễ thấy bên nào mạnh là làm tôi bên ấy. Nhà Hán làm
vua là dân nhà Hán, nhà Đường làm vua là dân nhà Đường, việc gì cũng đổ cho
thiên mệnh, làm dân chỉ biết thuận thụ một bề mà thôi.
Xứ Giao Châu mình tự đời nhà Hán cho đến đời Ngũ Quí vẫn là đất
nội thuộc của Tàu, cho nên sự trị loạn bên Tàu cũng ảnh hưởng đến nước mình. Nhờ
khi bên Tàu loạn lạc, người Tàu bận việc nước, thì bên Giao Châu cũng rục rịch
tự lập được ba năm. Nhưng chỉ vì nước thì nhỏ, người thì ít, mà người trong nước
lại không biết đồng tâm với nhau, không hiểu các lẽ hợp quần đoàn thể là thế
nào, cho nên không thành công được.
III. Đời Ngũ Quí (907 - 959)
1. Tình Thế Nước Tàu.
Năm Đinh Mão (907) nhà Đường mất ngôi, nhà Hậu Lương, Hậu Đường,
Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu, tranh nhau làm vua. Mỗi nhà được mấy năm, gồm tất cả
là 52 năm, gọi là đời Ngũ Quí hay là Ngũ Đại.
2. Họ Khúc Dấy Nghiệp. Khúc Thừa Dụ (906 - 907).
Trước khi nhà Đường sắp mất ngôi độ mấy năm, thì bên Tàu loạn,
giặc cướp nổi lên khắp cả mọi nơi. Uy quyền nhà vua không ra đến bên ngoài, thế
lực ai mạnh thì người ấy xưng đế, xưng vương. Ở Giao Châu, lúc bấy giờ có một
người họ Khúc tên là Thừa Dụ, quê ở Hồng Châu (thuộc địa hạt Bàng Giang và Ninh
Giang ở Hải Dương). Khúc Thừa Dụ vốn là một người hào phú trong xứ, mà tính lại
khoan hòa, hay thương người, cho nên có nhiều người kính phục. Năm Bính Dần
(906) đời vua Chiêu Tuyên nhà Đường, nhân khi trong châu có loạn, chúng cử ông ấy
lên làm Tiết Độ Sứ để cai trị Giao Châu. Nhà Đường lúc bấy giờ suy nhược, thế
không ngăn cấm được, cũng thuận cho ông ấy làm Tĩnh Hải Tiết Độ Sứ và gia phong
Đồng Bình Chương Sự.
Năm sau nhà Đường mất ngôi, nhà Hậu Lương phong cho Lưu Ẩn
làm Nam Bình Vương, kiêm chức Tiết Độ Sứ Quảng Châu và Tĩnh Hải, có ý để lấy lại
Giao Châu.
Khúc Thừa Dụ làm Tiết Độ Sứ được non một năm thì mất, giao
quyền lại cho con là Khúc Hạo.
3. Khúc Hạo (907 - 917).
Khúc Hạo lên thay cha làm Tiết Độ Sứ, lập ra lộ, phủ, châu,
xã ở các nơi, đặt quan lại, sửa sang việc thuế má, việc sưu dịch và lại cho con
là Khúc Thừa Mỹ sang sứ bên Quảng Châu, tiếng là kết hiếu với nhau, nhưng cốt để
dò thăm mọi việc hư thực.
Lưu Ẩn ở Quảng Châu đóng phủ trị ở Phiên Ngung được 4 năm thì
mất. Em là Lưu Cung (trước gọi là Lưu Nham) lên thay. Được ít lâu nhân có việc
bất bình với nhà Hậu Lương, Lưu Cung tự xưng đế, quốc hiệu là Đại Việt. Đến năm
Đinh Sửu (947) cải quốc hiệu là Nam Hán.
4. Khúc Thừa Mỹ (917 - 923).
Năm Đinh Sửu (917) Khúc Hạo mất, truyền nghiệp lại cho con là
Khúc Thừa Mỹ. Khúc Thừa Mỹ nhận chức Tiết Độ Sứ của nhà Lương, chứ không thần
phục nhà Nam Hán. Vua nước Nam hán lấy sự ấy làm hiềm, đến năm Quí Mùi (923)
sai tướng là Lý Khắc Chính đem quân sang đánh bắt được Khúc Thừa Mỹ, rồi sai Lý
Tiến sang làm thứ sử cùng với Lý Khắc Chính giữ Giao Châu.
5. Dương Diên Nghệ và Kiểu Công Tiện (931 - 938).
Năm Tân Mão (931) Dương Diên Nghệ là tướng của Khúc Hạo ngày
trước mới nổi lên, mộ quân đánh đuổi bọn Lý Khắc Chính và Lý Tiến đi, rồi tự
xưng làm Tiết Độ Sứ. Được 6 năm, Dương Diên Nghệ bị người nha tướng là Kiểu
Công Tiện giết đi mà cướp lấy quyền.
6. Ngô Quyền Phá Quân Nam Hán.
Khi ấy có người tướng của Dương Diên Nghệ là Ngô Quyền cử
binh đi đánh Kiểu Công Tiện để báo thù cho chúa. Ngô Quyền là người làng Đường
Lâm, cùng một làng với Phùng Hưng ngày trước (huyện Phú Thọ, tỉnh Sơn Tây) làm
quan với Dương Diên Nghệ. Dương Diên Nghệ thấy người có tài trí mới gả con gái
cho, và phong cho vào giữ Ái Châu (Thanh Hóa). Khi được tin Kiểu Công Tiện đã
giết mất Dương Diên Nghệ, Ngô Quyền liền đem quân ra đánh.
Kiểu Công Tiện cho sang cầu cứu ở bên Nam Hán, Hán Chủ nhân dịp
cho thái tử là Hoằng Tháo đưa quân đi trước, mình tự dẫn quân đi tiếp ứng.
Khi quân Hoằng Tháo vào gần đến sông Bạch Đằng, thì bên này
Ngô Quyền đã giết được Kiểu Công Tiện (938), rồi một mặt truyền lệnh cho quân
sĩ phải hết sức phòng bị, một mặt sai người lấy gỗ cặp sắt nhọn, cắm ngầm ở dưới
lòng sông Bạch Đằng, xong rồi chờ đến lúc nước thủy triều lên, cho quân ra
khiêu chiến; quân Nam Hán đuổi theo, đến lúc nước xuống, Ngô Quyền hồi quân
đánh ập lại, quân Nam Hán thua chạy, bao nhiêu thuyền mắc vào cộc gỗ thủng nát
mất cả, người chết quá nửa, Hoằng Tháo bị Ngô Quyền bắt được, đem về giết đi.
Hán Chủ nghe tin ấy, khóc òa lên, rồi đem quân về Phiên
Ngung, không dám sang quấy nhiểu nữa.
Ngô Quyền trong thì giết được nghịch thần, báo thù cho chủ,
ngoài thì phá được cường địch, bảo toàn cho nước, thật là một người trung nghĩa
lưu danh thiên cổ, mà cũng nhờ có tay Ngô Quyền, nước Nam ta mới cởi được ách Bắc
thuộc hơn một nghìn năm, và mở đường cho Đinh, Lê, Lý, Trần, về sau này được tự
chủ ở cõi Nam vậy.
1. Nhà Đường lúc đó chia nhiều tỉnh bên Tàu ra làm Đô Hộ Phủ như Tứ Xuyên Đô Hộ Phủ, An Nam Đô Hộ Phủ, v.v.... Vậy Đô Hộ là một chức quan chứ không phải là một chính thể cai trị các thuộc địa như ta hiểu bây giờ.
2. Đến đời Ngũ Quý vào quãng nhà Hậu Tấn có người tên là Đoàn Tư Bình lên làm vua đổi quốc hiệu là Đại Lý, truyền đến đời Hồng Võ (1368-1392) nhà Minh mới mất. Nhà Minh đặt là Đại Lý Phủ, thuộc về tỉnh Vân Nam.
3. Có người bảo rằng người Việt Nam ta phải đóng sưu thuế khởi đầu từ Cao Biền. năm bảy mươi năm, khi ấy có một nhà đứng lên dẹp loạn yên nước, lập lên cơ nghiệp một nhà khác.
1. Nhà Đường lúc đó chia nhiều tỉnh bên Tàu ra làm Đô Hộ Phủ như Tứ Xuyên Đô Hộ Phủ, An Nam Đô Hộ Phủ, v.v.... Vậy Đô Hộ là một chức quan chứ không phải là một chính thể cai trị các thuộc địa như ta hiểu bây giờ.
2. Đến đời Ngũ Quý vào quãng nhà Hậu Tấn có người tên là Đoàn Tư Bình lên làm vua đổi quốc hiệu là Đại Lý, truyền đến đời Hồng Võ (1368-1392) nhà Minh mới mất. Nhà Minh đặt là Đại Lý Phủ, thuộc về tỉnh Vân Nam.
3. Có người bảo rằng người Việt Nam ta phải đóng sưu thuế khởi đầu từ Cao Biền. năm bảy mươi năm, khi ấy có một nhà đứng lên dẹp loạn yên nước, lập lên cơ nghiệp một nhà khác.
Chương 6
Kết Quả Của Thời Bắc Thuộc
Trần Trọng Kim

















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét