Như màu hương nhớ - Nguyễn Xuân Hòa
Như màu hương nhớ là tập thơ đầu tay của Nguyễn Xuân Hòa
xuất bản sau mấy chục năm lặng thầm đắm đuối với văn chương. Hai mươi năm trước,
tôi đã gặp thơ và văn xuôi của anh trên các báo, như: Văn nghệ, Giáo dục
thời đại, Thế giới trong ta v.v... Đọc trong ấy đã thấy thấp thoáng những nét hàm
ngôn, mới mẻ ủ giữa lòng câu chữ văn chương của nhà giáo miền Vân Đình xứ Hương
Sơn Mỹ Đức này!
Nguyễn Xuân Hòa liên tục sáng tác suốt mấy mươi năm qua, những
tưởng giữa thời mở cửa của in ấn và xuất bản, thì thơ ấy, văn ấy của anh đã
thành chương thành tập từ lâu, vậy mà đến hôm nay, khi việc xuất bản sách giấy,
việc đọc sách văn chương đã xa lắm cái thời hoàng kim của mình, khi trên các
trang mạng xã hội hàng ngày có thể xuất bản hàng vạn bài thơ, hàng nghìn truyện
ngắn… thì anh mới lặng lẽ xuất bản hai tập sách riêng của mình là Như màu
hương nhớ (tập thơ) và Tình sim (tập truyện ngắn). Có thể cái muộn
màng trong xuất bản ấy là sự cẩn trọng của người viết, hoặc là sự ngán ngẩm của
một tâm hồn văn chương đích thực trước cái xô bồ của cuộc người, cuộc văn hôm
nay chăng? Với tôi thì mọi cái đến được với thế gian này cần phải có một chữ
DUYÊN, với thơ ca của kiếp người thì cái DUYÊN lại càng sâu nặng! Bởi vậy, khi
gặp Như màu hương nhớ và Tình sim của Nguyễn Xuân Hòa được
hòa mình vào với thăm thẳm nỗi người hôm nay, tôi cứ tin rằng ấy là một duyên mối
văn chương đến buổi minh định hình hài!
Tập thơ Như màu hương nhớ với bốn mươi ba bài thơ,
được hình thành từ một nguồn yêu thương trong leo lẻo. Tràn ngập trong ấy là
hoài niệm xa xưa với bảng lảng những buồn vui từ chân trời cũ, là trong trẻo
yêu tin với những câu chữ dìu dịu xuân thì… Vừa mở tập thơ, mắt ta đã chạm màu
hương nhớ nhuộm vào bóng dáng tuổi thanh xuân của thế hệ 7x: Gió chưa đến
mà em vén tóc/ Chiếc cặp ghim hờn giận một mình/ Trong trẻo thế nụ cười ánh mắt/
Em má hồng đi dưới bình minh… (Không đề).
Thứ ngôn ngữ thơ dịu dàng, bảng lảng của Nguyễn Xuân Hòa như
đằm níu ta về với cõi khác. Cõi ấy vừa thực vừa mơ, với cái non tươi chân chất,
mà mê đắm, bồng bềnh trong cung trời thánh thiện ngày xưa: Đây bãi bồi
tươi đang vươn ngầm rễ cải/ Bến đò thôn nữ lắng tai nghe tiếng gọi vô cùng/
Dòng sông trong sương/ Thuyền ngủ quên bàng hoàng gặp mình trong vòm trời khác/
Màu mưa lạ lùng/ Một mùi nước khác/ Có nàng tiên đang tắm phía cầu vồng. (Sông
mơ). Cõi ấy nào có đâu xa, cách đây chưa hết một phần ba đời người, mà với hôm
nay đã trầm sâu như cổ tích: Đường trơn xưa còn không vết bấm chân/ Những
viên sỏi, bi màu và cỏ biếc/ Bêu nắng một thời ống bương đổ nước/ Giờ dế mèn về
hang cũ - là tôi… (Đường quê). Thơ ơi, đứng giữa thời hội nhập ồn ã bon chen,
giữa thời công nghệ số muôn màu thực ảo rồi nhìn về hôm qua, thì mới thấy kinh
hoàng trước những giá trị đã bị mất đi trong vài mươi năm của cơ chế thị trường
này. Này đây, hiện giữa câu chữ ngậm ngùi mùa nắng mới là bóng mẹ đang cặm cụi
trở mình cho những dẻo thơm tần tảo: Mái chèo xa ngái tuổi thơ/ Cánh buồm
theo mãi giấc mơ trắng ngần/ Lo con chân đất đầu trần/ Mẹ thì đi thóc giữa sân
trưa hè. (Mẹ). Nguyễn Xuân Hòa viết chạm trúng vào những nỗi xưa niềm cũ,
nhưng thật may, trong hơi thơ ấy không vướng phải cái ôn nghèo kể khổ tự sự thường
tình, thơ ấy, trân trọng cái xưa để trân quý hơn những giá trị thật của hôm
nay: Rồi hạt gạo đã về hơn mơ ước/ Từng năm trôi, mẹ vẫn đếm chiêm mùa/ Ai
cay mắt/ Đống rấm lòng ấp ủ?/ Khói rơm còn trong tóc mẹ/ Chiều mưa… (Nhớ bếp).
Hình như Nguyễn Xuân Hòa chắt thơ tự miền cổ tích, nên đọc
thơ anh, thấy những nét văn hóa đồng bằng Bắc bộ hiện hữu trong thân cau cổ
tích, trong bụi chuối vườn khuya, trong vết bò ngang của con cua con cáy… thảy
đều được tái hiện bằng ngôn ngữ dung dị chân thật, thấm đẫm nết quê, thơ ấy gợi
tạo sự liên tưởng mạnh nơi người đọc: Hương vườn ơi/ Nồng cay da diết thế/
Biết đêm nay cha ngủ lành hơn…/ Thấm nước cho cha/ Và nước mắt…/ Con mong/ Ngày
tắm cuối cùng cho cha còn xa tắp. (Tắm cho cha).
Ngôn ngữ thơ và tư duy thơ của Nguyễn Xuân Hòa không cố mới,
cố lạ ở cái sự gầm ghì, xù xì nào đó, tất thảy trong ấy là nhời Việt, là tiếng
Việt dung dị của ngàn xưa, vậy mà qua cách mã hóa, cách lập tứ của anh, thì những
đơn vị chữ Việt ấy bỗng có một sức chứa, sức tải mới, một vóc dáng mới: Chớm
thu/ Nắng vẫn đậm cành xanh mê mải/ trước nhà/ những bông nếp ngực căng cốm sữa.
(Khoảng khắc mừng tuổi mới). Thơ ấy, mặc nhiên không thể chỉ vin vào chút
thiên tư thi ca, mà còn là sự trầy trật cùng nghệ thuật: Tháng Ba/ cây gạo
đầu làng nở trong ký ức đàn chim/ hẫng cánh bay qua. (Cây gạo cháy).
Đọc Nguyễn Xuân Hòa nhận ra cái đa đoan với thơ ca hiện hữu
trong hồn câu vía chữ nơi anh. Thơ Nguyễn Xuân Hòa, không vướng vào những riết
róng, cay nghiệt, những ám chỉ, phiếm chỉ trong sự mê loạn của thế thời và cuộc
sống hôm nay. Thơ ấy đã và đang góp mình vào sự giải thoát những lo toan, trăn
trở của kiếp người trong nổi chìm bể khổ!.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét