Thứ Bảy, 13 tháng 7, 2019

Mối quan hệ giữa văn học và hội họa - “Thi trung hữu họa”

Mối quan hệ giữa văn học 
và hội họa - “Thi trung hữu họa”
Tác phẩm “Vườn khuya” - họa sĩ Trần Thanh Thục 
tại triển lãm mỹ thuật “Đồng dao mùa hạ”, VOV
Đầu tiên, để bạn đọc hiểu rõ gốc rễ của vấn đề, xin giới thiệu kiến thức lý luận văn học cơ bản liên quan đến vấn đề này: mối quan hệ giữa hội họa và thi ca.
Trước hết, văn học được xem là một loại hình nghệ thuật. Nói đến các loại nghệ thuật khác thuộc loại hình nghệ thuật thì cũng rất nhiều, như: kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh,… và văn học. Giữa các loại hình nghệ thuật này, tuy có những đặc trưng riêng để phân loại nhưng chúng lại có mối liên hệ mật thiết với nhau. Trong bài viết này, tác giả chỉ trình bày đôi nét cốt lõi mối quan hệ giữa văn học với hội họa.
1) Các nhà phê bình gọi mối quan hệ giữa văn học với hội họa là: “thi trung hữu họa” (trong thơ có chất họa) hay “họa trung hữu thi” (trong họa cũng có chất thơ).
Loại hình nghệ thuật văn học và hội họa có những điểm khác nhau nhất định, như chất liệu, cách thức lưu truyền, thưởng thức, phạm vi tái hiện. Nhưng cái cốt yếu làm cho hai loại hình nghệ thuật này trở nên khác nhau rõ ràng nhất, chính là chất liệu. Văn học sử dụng chất liệu là ngôn từ (ngôn từ nghệ thuật), hội họa sử dụng chất liệu là màu sắc, đường nét. Chất liệu mà chúng sử dụng quyết định các yếu tố còn lại. Do chất liệu mà văn học thưởng thức chủ yếu bằng thị giác, thính giác còn hội họa lại chủ yếu thưởng thức bằng thị giác - một cách trực tiếp. Do chất liệu mà văn học được lưu truyền bằng miệng, bằng chữ viết còn hội họa chỉ có thể lưu truyền bằng chính nó - những bức tranh đã được vẽ ra. Do chất liệu mà phạm vi tái hiện của văn học phong phú hơn, bao quát hơn hội họa. Nếu hội họa chỉ tái hiện được những đối tượng đang ở trạng thái tĩnh, thì văn học có thể tái hiện được những đối tượng đang diễn biến, đang vận động và cả quá trình của nó. Có thể nói, rất khó để có thể mang cả thế giới vào một bức tranh, nhưng một tác phẩm văn học có thể làm được điều đó. Điều làm cho phạm vi mà mỗi loại hình nghệ thuật (hội họa và văn học) tái hiện có sự khác biệt như vậy là do chất liệu mà chúng sử dụng. Dù cho màu sắc, đường nét có trực quan, sinh động hơn ngôn từ nhưng chẳng thể nào biểu đạt, tái hiện được phong phú thế giới như ngôn từ. Có thể đó chính là lý do ngôn từ trở thành một trong những phương tiện giao tiếp chính của con người chứ không phải đường nét, màu sắc.
Tuy có những điểm khác nhau như đã trình bày, nhưng giữa văn học và hội họa lại có mối quan hệ mật thiết, tương hỗ lẫn nhau. Chúng cùng tái hiện những đối tượng nhất định như thế giới ngoại quan hay nội tâm con người. Trong tác phẩm văn học lại có hội họa, trong hội họa có văn học. Đồng thời, chức năng chất liệu mà chúng sử dụng cũng thay đổi chức năng - những bức tranh được thêu dệt bằng ngôn từ, những đường nét và màu sắc tái hiện trong bức tranh lại ánh lên chất văn.
The Starry Night by Vincent van Gogh (1889), song-bar. com
2) Một số ví dụ minh họa cho mối quan hệ giữa thi ca và hội họa - “thi trung hữu họa”
Trong mấy câu thơ tả cảnh ngày hè trong bài thơ Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới, bài số 43) của Nguyễn Trãi, nhà thơ đã dùng ngôn từ thêu dệt một bức tranh ngày hè với những đặc trưng của làng quê bắc bộ Việt Nam:
Rồi hóng mát thuở ngày trường,
Hòe lục đùn đùn tán rợp giương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương.[1]
Trên đây là một bức tranh tái hiện lại không gian ngày hè với những loài cây quen thuộc ở làng quê bắc bộ Việt Nam như cây hòe, cây lựu và hoa sen. Mỗi loài cây đều đang sinh sôi, tràn đầy nhựa sống: cây hòe đang đùn đùn tán lá rộng che mát ngày hè oi bức, cây thạch lựu đang nở hoa đỏ rộ cả một vùng trời, hoa sen lại đang tỏa hương thơm ngát. Những từ ngữ miêu tả màu sắc (lục, đỏ, hồng) và đường nét (tán rợp giương) hay cả những động từ miêu tả sự sinh sôi nảy nở (đùn đùn, tán rợp giương, phun) đã góp phần thêu dệt một bức tranh ngày hè đầy sinh động, tràn đầy sức sống. Ngoài từ ngữ, kết hợp các câu thơ lại thì không gian đồng quê hiện ra với hình ảnh ao sen, những cây hòe, cây lựu bên cạnh và cả bóng dáng người thưởng thức ẩn giấu đâu đó trong bức tranh ấy.
Tranh của họa sĩ Lê Tuấn Anh, 
Triển lãm mỹ thuật “Đồng dao mùa hạ”, VOV
Trong một đoạn trích thơ rất tiêu biểu của bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu được xem như một bức tranh tứ bình xinh đẹp, sinh động với bốn mùa đông - xuân - hạ - thu:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình.
Rừng thu trăng gọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân hình thủy chung.[2]
Đó là một bức tranh tứ bình cân xứng, hài hòa, có nhiều nét chấm phá ấn tượng được thêu dệt bằng ngôn từ: thiên nhiên và con người đan xen sinh động và chan hòa, có đủ bốn mùa, đủ những gam màu nóng, lạnh.
Bức tranh tứ bình, Việt Bắc – Tố Hữu, 
Chí Bằng sưu tầm và ghép tranh
Trong đoạn thơ sau đây trong bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng cũng rất tiêu biểu cho quan niệm “thi trung hữu họa”:
Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi [3]
Những câu thơ trên đây, Quang Dũng dùng ngôn từ cốt để họa bức tranh thiên nhiên núi đồi hùng vĩ của Tây Bắc, để người đọc vừa thấy được vẻ đẹp của thiên nhiên vừa cảm nhận được những gian khó của binh đoàn Tây Tiến trên chặng đường hành quân làm nhiệm vụ. Và kết quả, bằng tài năng của một họa sĩ, một thi sĩ, ông đã họa được bức tranh với những đường nét sắc nhọn, gân guốc.
Trong bức tranh ấy, dốc núi trùng điệp, nét núi góc cạnh, khúc khuỷu, núi cao thăm thẳm tận trời xanh mà vực cũng sâu tận cùng. Ngoài chất liệu ngôn từ như từ láy (khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút) còn các yếu tố thuộc phạm trù của loại âm nhạc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc khắc họa bức tranh thiên nhiên núi rừng Tây Bắc hùng vĩ như phép điệp, cách ngắt nhịp thơ, thanh điệu, thanh âm của ngôn từ.
Hình minh họa thiên nhiên, núi rừng Tây Bắc
Trên là những đoạn thơ ví dụ, còn dưới đây là một bức tranh chiều tối ở làng quê Việt Nam trong một truyện ngắn: Hai đứa trẻ của nhà văn Thạch Lam. Đây cũng là một khung cảnh chiều quê buồn, mang đặc trưng của làng quê Việt Nam được thêu dệt bằng ngôn từ:
Tiếng trống thu không trên cái chòi huyện nhỏ; từng tiếng một vang ra để gọi biểu chiều. Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời.
Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào. Trong cửa hàng hơi tối, muỗi đã bắt đầu vo ve. Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen ; đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị; Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn.[4]
Bức tranh chiều tàn, họa sĩ Nguyễn Hoàng, 
video Dự án dạy học trực tuyến phi lợi nhuận
3) Kết luận
Văn học và hội họa tuy là hai loại hình nghệ thuật khác nhau vì chúng có những điểm khác nhau nhất định. Nhưng giữa hai loại hình nghệ thuật này, lại có mối quan hệ mật thiết, tương hỗ lẫn nhau, tạo nên những tuyệt tác nghệ thuật để đời.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Hà Minh Đức (Chủ biên), Lý luận văn học, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2014.
2. Huỳnh Như Phương, Lý luận văn học, NXB ĐHQG TP.HCM, 2014.
3. Ngữ văn 10 - 11 - 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017.
Chú thích:
[1] Theo Ngữ văn 10, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017, tr.116.
[2] Theo Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017, tr.111.
[3] Theo Ngữ văn 12, Sđd, tr.88.
[4] Theo Ngữ văn 11 - Nâng cao, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017, tr.122.
 Cao Chí Bằng
Theo https://giaoducvanhoc.vn/



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung

Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sĩ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình...