Con người luôn luôn là vấn đề trung tâm của văn học ở bất cứ
thời đại nào. Thơ mới 1932-1945 đã cho chúng ta hình ảnh về con người trong
quan hệ tình yêu, trong trạng thái mộng mơ, buồn sầu, cô đơn, đặc biệt đã chú
trọng khắc hoạ hình ảnh con người trong tiềm thức. Hàn Mặc Tử là nhà thơ đã có
rất nhiều đóng góp về phương diện này. Con người trong thơ ông được cảm nhận
qua những mặt sau:
1. Con người vũ trụ:
Một trong những đặc điểm của văn hóa phương
Đông là coi con người như một bộ phận của thế giới “Thiên, Địa, Nhân”,
con người là một “tiểu vũ trụ”. Điều này thể hiện trong văn chương thành con
người tương thông, tương cảm với thiên nhiên. Từ đó sản sinh ra một đặc điểm
nghệ thuật của thơ ca, đặc biệt là thơ ca dân gian và thơ ca trung đại: dùng
thiên nhiên làm thứ “ngôn ngữ thứ hai” để miêu tả và diễn đạt các trạng thái
tình cảm của con người. Đặc điểm này được tiếp nối và cách tân bởi Thơ mới. Khi
Thế Lữ “du hồn” vào thiên nhiên, khi nỗi buồn của Bích Khê “vương cây ngô đồng”
hoặc khi Huy Cận cảm ứng với vạn vật “nghìn cây mở ngọn, muôn lòng hé phơi” thì
có nghĩa là giữa thiên nhiên và con người còn có sự phân cách. Ở Hàn Mặc Tử sự
phân cách này biến mất, ông hoà nhập hoàn toàn vào thiên nhiên, không phân biệt
chủ thể – khách thể. Điều này làm cho thơ ông đậm chất siêu thực. Trong bài
“Nói chuyện với Gái quê” ông tự khắc hoạ hình ảnh của mình:
Ta thường giơ tay níu
ngàn mây
Đi lại
lang thang trên ngọn cây.
Hàn Mặc
Tử không làm xiếc ngôn từ, ông thực sự tin và sống với những hình ảnh do mình
tưởng tượng ra, hay nói như Chế Lan Viên, ông “không làm thơ mà bị thơ làm”. Do
hoà nhập với thiên nhiên, do khí chất con người, Hàn Mặc Tử có những hành động
lạ lùng “ngoắt đám mây”, “đuổi theo trăng”, “kìm sao bay”… Nỗi đau, nỗi nhớ của
con người không phải được diễn tả một cách gián tiếp kiểu “vật mình vẫy gió
tuôn mưa” mà được diễn tả bằng tác động trực tiếp của con người tới thiên
nhiên, gây ra những ấn tượng rất mạnh, lạ:
Em xé
toang hơi gió
Em bóp
nát tơ trăng
Em túm
muôn trời lại
Em cắn
vỡ hương ngàn…
(Em
điên)
Đây không phải là việc nhân cách hóa, phú
cho sự vật những tình cảm của con người. Nhân cách hóa được thể hiện bằng thủ
pháp so sánh, còn Hàn Mặc Tử ít dùng thủ pháp so sánh. Ông coi sự vật hiển
nhiên là con người “Thôi rồi! Con trăng nó bị vướng trên cành trúc kia kìa, thấy
không? Nó gỡ mãi mà không sao thoát ra được, biết làm thế nào hở Trí? (Chơi giữa
mùa trăng). Bởi nếu có sự phân cách giữa chủ thể và khách thể thì khách thể sẽ
gợi lên ở chủ thể những ấn tượng, cảm nghĩ theo kiểu “tức cảnh sinh tình”. Hàn
Mặc Tử thực sự sống trong đối tượng, trải nghiệm cùng đối tượng. Nhà nghiên cứu
Đỗ Lai Thúy cho rằng trong thơ Hàn Mặc Tử có hiện tượng “người hoá trăng” và
“trăng hoá người” mà “người hoá” mọi vật mọi vật đều mang những tình cảm của
con người: trời “từ bi cảm động ứa sương mờ”, trăng “choáng váng với hoa tàn
cùng ngả”, gió “say ướt mướt trong màu sáng”, hơi nắng “liếm cặp môi tươi”… Lối
tư duy này gần với lối tư duy của người nguyên thuỷ cổ xưa, đồng nhất con người
với sự việc và ngược lại. Trong bài viết có tính chất tuyên ngôn “Nghệ thuật là
gì”, ông viết: “Nhưng muốn tìm cái tính cách thiêng liêng của nó (tức nghệ thuật)
thì nên đóng vai nghệ sĩ quăng mình đi giữa cái vũ trụ mênh mang rượt nà theo
những nguyện vọng cao xa, thì sẽ thấy hình ảnh rõ rệt của Nghệ thuật”. Quan điểm
này có phần tương đồng với quan điểm của Xuân Diệu “là thi sĩ nghĩa là ru với
gió…” Thực tại tẻ ngắt nên các nhà thơ lãng mạn phải đi tìm “cái phi thường” ở
ngoài thực tại. Do quan niệm không gian trên cao là nơi “chứa đầy hoa mộng” nên
con người trong thơ ông luôn luôn hướng lên cao, khi thì “thần trí dâng cao đến
chính trời”, khi “lên chơi cung Quế”… Trong tiền kiếp con người là “chim phượng
hoàng/Vỗ cánh bay chín tầng trời Đầu Suất”. Hầu như không có hình ảnh con người
trên đường, con người ra đi trong thơ của các nhà thơ lãng mạn khác, chỉ có
hình ảnh con người bay trong không gian. Dường như càng lên cao, niềm hứng khởi
của tác giả càng mãnh liệt:
Hồn vốn
ưa phiêu diêu trong gió nhẹ.
Bay
giang hồ không sót một phương nào.
Càng
lên cao dây đồng vọng càng cao.
(Say
thơ)
Con người phân thân, con người trong tiềm thức
Thời đại mới đã cấp cho con người cái nhìn
mới về thế giới xung quanh, về bản thân. Con người trong Thơ mới khao khát khám
phá bản thân, họ hay tự hỏi “Ta là ai?”, “Tôi là ai?”. “Họ nhìn sâu vào bản thể
mình, tâm hồn mình và có những khám phá lí giải tinh vi. Con người trong thơ
Xuân Diệu, Huy Cận là con người thống nhất về linh hồn, thể xác, con người
trong thơ Hàn Mặc Tử bị phân đôi:
Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm
Cho trăng ngập trăng dồn lên tới ngực
Hai chúng tôi lặng yên trong thổn thức
(Hồn
là ai?)
Sự phân cách hồn xác xuất phát từ cuộc đời
tác giả (thân xác bệnh tật bị cách ly với mọi người) và cao hơn thế, phản ánh ước
mong của tác giả: giải thoát thân xác hữu hình để tồn tại vĩnh viễn “cho tan ra
hòa hợp với tình anh”. Con người bị lạ hoá với bản thân, không hiểu bản thân
nên hay tự hỏi: “Hồn là ai? Là ai? Tôi không hay?”. Trong khi Thế Lữ tự gián
cách với bản thân nhìn mình một cách khách quan bằng con mắt của người ngoài cuộc
“Thế Lữ là anh chàng kỳ khôi” thì Hàn Mặc Tử nhìn mình từ bên trong:
Hồn đã lạnh, hình như hồn ớn lạnh
Không buồn về với thể xác đêm nay
(Hồn
qua đêm)
Nhà thơ Vũ Quần Phương có một nhận xét khá
xác đáng về thơ Hàn Mặc Tử: “Từ Thơ điên ông hoàn toàn quay vào nội tâm để viết,
một nội tâm hoàn toàn bị cắt đứt với các sự kiện xã hội, các giao tiếp xã hội,
hoàn toàn cô đơn và luôn luôn phải đối mặt với cái chết, luôn luôn bị hành hạ
vì nỗi đau thân xác” (1). Có thể nói thêm rằng Hàn Mặc Tử là một trong những
người đầu tiên trong lịch sử thơ ca Việt Nam khám phá trạng thái vô thức của
con người. Nói cách khác trạng thái vô thức là một trong những đối tượng thơ ca
của Hàn Mặc Tử. Đó là một trong những lý do làm cho thơ ông khó hiểu. Điểm qua
tựa đề các tập thơ, bài thơ của Hàn Mặc Tử ta thấy rõ điều này: Say nắng, Cao hứng,
Say trăng, Nhớ nhung, Máu cuồng, Hồn điên…Ông diễn tả trạng thái tinh thần của
mình khi nghe nhạc (Đàn ngọc). Miêu tả “Phút thôi miên”, miêu tả cuộc phiêu lưu
của hồn “Muôn bóng ý thun dần lên chót vót”, trạng thái cuồng của trí “Trí ta sẽ
cuồng lên khoái trá”. Rất nhiều lần ông nói đến giây phút thăng hoa của tinh thần
“Thần trí người đã mê man”, “trí rất ngớp bởi chưng xuân hồn hậu”… Trạng thái khi
say thơ “Cả lòng say tớt khí linh thiêng” và trạng thái tinh thần khi làm thơ
cũng trở thành đối tượng miêu tả:
Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút
Mỗi lời thơ đều dính não cân ta
Bao nét chữ quay cuồng trong máu vọt
Như mê man chết điếng cả làn da
(Rướm
máu)
Sáng tạo nghệ thuật với Hàn Mặc Tử thực sự
là phát tiết tất cả tinh lực theo đúng nghĩa đen của nó. Những bài thơ miêu tả
đời sống vô thức thường có cấu trúc và nhạc điệu đặc biệt, cấu trúc lời thơ hỗn
hợp không tuân theo một thể thơ nhất định, câu 6 câu 8 trộn lẫn với câu 5, câu
4 (bài Trăng tự tử), câu 6 câu 5 và câu 7 trộn lẫn với câu 8, câu 4 (bài Ngủ với
trăng)… Nhạc điệu của cảm xúc, tư tưởng với những tiếng kêu, tiếng cười bật ra
từ đời sống vô thức: A ha! Ha ha! A ha ha!, tiếng gọi: bay ơi, ớ Địch ơi. Tựa
đề của bài thơ cũng là một tiếng kêu: Phan Thiết! Phan Thiết!
Con người và sự vật torng thơ Hàn Mặc Tử
thường ở trong trạng thái say. Gió “say lướt mướt trong màu sáng”, trăng xuân
“tràn trề say chới với”, con người “say kinh cầu nguyện, say trời tương tư”, cả
vũ trụ đều ở trong trạng thái quay cuồng “Say, say, say lảo đảo cả trời thơ”. Với
trạng thái tinh thần như vậy ta hiểu vì sao thời gian nghệ thuật trong thơ ông
chủ yếu là thời gian ban đêm. Đêm là thời điểm thuận lợi nhất cho trí tưởng tượng
mãnh liệt của nhà thơ được phát huy cao độ.
Có lạ lùng chăng khi một con người bị cách
ly với thế giới bên ngoài, một tín đồ Thiên Chúa ngoan đạo lại hay nhắc tới
khoái lạc? Cũng có khi Hàn Mặc Tử nói tới khoái lạc của đời sống xác thịt,
nhưng chủ yếu là khoái lạc tinh thần. Ông tìm thấy khoái lạc trong những giây
phút thăng hoa của tinh thần: khi thì thơ, khi “ngoại cảnh hay thâm tâm đồng
xáo động”. Ông có một định nghĩa lạ lùng về thơ : “thơ là sự ham muốn vô biên
những nguồn khoái lạc trong trắng của một cõi trời cách biệt” (Quan niệm thơ).
Sáng tạo nghệ thuật là đem tới những cái lạ,
cái người khác chưa từng nói đến, nghĩ đến. Thơ Hàn Mặc Tử đầy rẫy cái lạ. Lạ
trong cách nhìn thế giới:
Hơi nắng dịu dàng đầy nũng nịu
Sau rào khẽ liếm cặp môi tươi
(Nắng
tươi)
lạ trong cách cảm nhận sự vật: “Ta đã ngậm hương trăng đầy lỗ
miệng”, lạ trong trạng thái tinh thần lê mê, rã rời, lướt mướt, điên cuồng…
trong cách biểu lộ tình cảm: “Say tê trăng sần sượng cả làn da”, trong cách
dùng từ, so sánh, liên tưởng: “Xuân trên má nường thơ/ Ngon như tình mới cắn”
(Cao hứng), lạ trong cách chuyển ý nhanh và xa, tức thơ ông có sự chuyển kên rất
mau lẹ, phản ánh nội lực tinh thần, khả năng liên tưởng mạnh mẽ, chính vì vậy
mà Hoài thanh cảm thấy “mệt lả” khi đọc thơ Hàn Mặc Tử. Ở bài “Trăng vàng trăng
ngọc” tác giả đi từ ý tưởng “bán trăng” đến “bán đoàn viên, ước hẹn hò” và đến
lời hẹn:
Bao giờ đậu trạng vinh
quy đã
Anh lại đây tôi thối chữ
thơ.
Có thể dẫn ra rất nhiều
ví dụ như vậy: Mơ hoa, Lang thang, Ngủ với trăng… Điều này làm cho kết cấu một
số bài không chặt chẽ, một khổ thơ được dùng hai bài khác nhau. Trong một bài
có sự chuyển đổi đại từ nhân xưng: từ ta sang tôi, từ mi đến ta đến tôi…
Đồng thời ông còn có những
chuyển đổi rất mau lẹ từ ấn tượng tinh thần đến cảm nhận thể xác. Điều này cho
ta thấy giác quan của ông rất nhạy bén. Ông sống thực sự cả tinh thần và thể
xác với những cái đang xảy ra. Nhìn trăng ông cảm thấy “ngọt ngào trong cổ họng
như vừa uống xong ngụm nước lạnh, mát đến tê hết cả lưỡi và hàm răng” (Chơi giữa
mùa trăng). Từ nỗi nhớ người yêu đến hành động vô thức “anh đi thơ thẩn như
ngây dại” / Hứng lấy hương nồng trong áo em”. Từ trạng thái ghen đến phản ứng
xúc giác “miệng lưỡi khô khan hết cả thèm” (Ghen)… Sự chuyển biến nhanh chóng của
quá trình “ngoại cảnh xâm lấn xác thịt và linh hồn” chi phối sự chuyển đổi đột
ngột của ngôn ngữ thơ từ miêu tả sang đối thoại hoặc độc thoại:
Trong khóm vi lau dào dạt
mãi
Tiếng lòng ai nói sao?
Sao im đi
Ô kìa, bóng nguyệt trần
truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dưới
đáy khe.
Nhiều nhà nghiên cứu phát
hiện Hàn Mặc Tử hay dùng những từ liên quan đến môi, miệng như: nuốt, thèm thuồng,
hớp, uống… Một mặt ông hớp, đớp, nuốt váng trời, miếng cười, mùi trăng mặt khác
lại ợ ra, mửa ra, ọc ra trăng, thơ, hồn, nguồn thơm… “Bên đồi ta ợ ra trăng cả/
Ướt áo nhưng mà chưa no nê” (Ý trinh). Sự kết hợp giữa những hình ảnh, từ ngữ vốn
rất xa nhau về nghĩa như vậy cho ta thấy tính chất trần tục và thoát tục của
thơ Hàn Mặc Tử. Nhà nghiên cứu Bùi Xuân Bào trong bài viết Thi ảnh khẩu cảm trong
thơ Hàn Mặc Tử lý giải vấn đề trên như sau: “Đối với Hàn Mặc Tử, thi hứng có
nghĩa là thi sĩ nhận một luồng cảm hứng từ ngoại giới vào thể xác và tâm hồn,
và sau đó thi sĩ biến luồng cảm hứng đó thành lời thơ” (2). Có thể giải thích
thêm: ông tiếp nhận tinh hoa từ ngoại giới “đón từ xa một ý thơ” và phát tiết
ra thơ bằng tất cả tinh lực chính vì thế mà ông có những vần thơ rướm máu. Và
những hành động “cười nói làm sao cho hả hơi”, “cắn lời thơ để máu trào”… giống
như là sự giải thoát những ẩn ức, tâm trạng hoặc nỗi đau đè nặng trong lòng.
3. Con người mơ ước:
Thơ Hàn Mặc Tử cũng như
thơ của các nhà thơ lãng mạn khác, tràn đầy mộng ước. Họ coi đó là một trong những
cách phủ nhận thực tại. Xuân Diệu tự coi mình là “con chim đến từ núi lạ”. Huy Cận
tự khắc hoạ hình ảnh của mình là “chàng trai gối mộng trên trang sách”, Hàn Mặc
Tử coi mình là “người trong mộng”. Thân xác càng đau đớn cái chết càng đến gần,
mộng ước càng cháy bỏng. Hàn Mặc Tử không chỉ mơ mộng, ông thực sự sống trong mộng
không phân biệt cái thực và cái ảo “Tôi ngồi dưới bến đợi nường Mơ”. Vì sao Hàn
Mặc Tử hay mơ ước như vậy? Thực tế đời ông không cho phép ông sống trong cuộc sống
bình thường như mọi người, ông chỉ có thể yêu trong mộng, sống trong mộng.
Nhưng dù cho số phận của ông không khắc nghiệt đến như vậy thì ông cũng không
thể thoả mãn với thực tế. Ông luôn mang cảm giác khát, thèm nhưng không phải là
đói cơm, khát nước như có người lầm tưởng. Ông “khát miếng chung tình”, khát
khao thèm thuồng “những vật lạ muôn đời” nghĩa là khát khao cái Tuyệt đối, Vô
biên, cái không có trong cuộc sống trần thế “Tôi tìm ánh nắng vạn đời vương”.
Vì thế con người ấy phải đi tìm nó ở Đức Chúa Trời, tức ở một “cõi trời cách biệt”,
ở thế giới ước mơ hay còn gọi là Thiên Đàng trong niềm tin của một tín đồ Thiên
chúa giáo để có thể “hưởng cái thơ khác nữa”. Thế giới thơ của ông là “bến xa
mơ”, “nẻo mơ”, “xứ mộng”. Trong khi các nhà thơ khác mơ về quá khứ thì thế giới
mộng của Hàn Mặc Tử nằm ở niềm tin, ở ảo giác của ông, nằm ngay trong hiện tại:
Từ đầu canh một tới canh
tư
Tôi thấy trăng mơ biến
hoá như
Hương khói ở đâu ngoài xứ
mộng
Cứ là mỗi phút mỗi nên
thơ.
(Huyền
ảo)
Điều này giải thích vì
sao thơ Hàn Mặc Tử ít có kết cấu tương phản kiểu xưa - nay, gặp gỡ - chia ly ….
như thơ của Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Thế Lữ. Các nhà thơ này dùng kết cấu tương
phản để bộc lộ sự thất vọng với thực tế trong khi thơ Hàn Mặc Tử tràn đầy niềm
mong đợi về một mùa “xuân như ý”. Chính vì vậy nên dù thơ của ông là thơ của một
con người ý thức rõ cái chết đang đến gần nhưng thơ không gợi lên cảm giác bi
quan tối tăm như thơ vũ Hoàng Chương. Những từ ngữ tiêu tán, biến hoá, tan….
Trong thơ không mang cái nghĩa thông thường của nó: cái chết, sự tàn lụi mà là
sự biến hóa của vật chất từ dạng này sang dạng khác:
Nước hóa thành trăng ra
nước
Lụa là ướt đẫm cả trăng
thâu
(Huyền
ảo)
hoặc là sự hoà hợp, nhất
thể của vật chất, của thân xác đau thương trong một thế giới khác.
Một hồn đau rã lần theo
hương khói
Một bài thơ cháy tan
trong nắng rọi
Một lời run hoi hóp giữa
không trung
Cả niềm yêu ý nhớ, cả một
vùng
Hóa thành vũng máu đào
trong ác lặn.
Đấy là tất cả người anh
tiêu tán
Cùng trăng sao bàng bạc xứ
say mơ
Cùng tình anh tha thiết
như văn thơ
Ràng rịt mãi cho đến ngày
tận thế.
Hòa tan thành một thể mới
để chiến thắng thế giới vật chất hữu hình, để trương tồn mãi cùng vạn vật:
Chúng ta biến em ơi,
thành thanh khí
Cho tan ra hoà hợp với
tình anh
Của trời đất, của muôn
vàn ý nhị
Và tình ta sáng láng như
trăng thanh.
(Sáng
láng)
4. Con người cô đơn, đau
đớn:
Con người cô đơn là một
motif quen thuộc của thơ lãng mạn. Xuân Diệu, Nguyễn Bính cô đơn vì không tìm
thấy sự chia sẻ, cảm thông của ngoại giới “Thôn đoài ngồi nhớ thôn Đông/ Cau
thôn đoài nhớ giầu không thôn nào”. Hàn Mặc Tử cô đơn vì bị cách ly khỏi thế giới:
“Anh nằm ngoài sự thực/ Em nằm trong chiêm bao”. Khoảng cách chia ly trong thơ
ông không phải là sự chia cắt trong một không gian giới hạn như bên ấy, bên
này, thôn Đoài, thôn Đông mà là sự chia cắt trong hai không gian hoàn toàn cách
biệt ngoài sự thực, trong chiêm bao, ngoài mây nước, bên kia trời… Chính vì khoảng
cách không gian vô cùng như vậy mà nỗi cô liêu của con người càng trở nên khủng
khiếp “một vũng cô liêu cũ vạn đời”. Những đau thương thể xác và tinh thần của
ông bộ lộ thành tiếng nấc, tiếng khóc, tiếng cười, tiếng rú. Đó là nỗi đau sâu
sắc, trần trụi, mang tầm vóc vũ trụ: “Nghệ hỡi Nghệ, muôn năm sầu thảm/ Nhớ
thương còn một nắm xương thôi” (Muôn năm sầu thảm). Nỗi đau được diễn tả bằng
nhịp điệu của sự cuồng trí vô vọng:
Anh nuốt phứt hàng chữ
Anh cắn vỡ lời thơ
Anh cắn cắn cắn cắn
Hơi thở đứt làm tư.
(Anh
điên)
hoặc bằng nhịp điệu buồn
thấm thía:
Rao rao gió thổi phương
xa lại
Buồn đâu say ngắm áo xuân
ai.
Lay bay lời hát, ơ buồn lạ
E buồn trong mộng có đêm
nay.
(Buồn
ở đây)
Từ điểm nhìn của con người
bi quan các nhà Thơ mới hay nói đến cái chết. Cái chết ngang trái của những người
trinh nữ “hồng nhan bạc mệnh”, “cái chết lạnh lẽo không giọt nước mắt của người
đời xót thương… Trong thơ Hàn Mặc Tử còn có những cái chết kì dị, lạ thường Mây
chết đuối, trăng tự tử. Phải chăng đó là nỗi ám ảnh về cái chết đang đến gần với
tác giả, và phải chăng cũng từ thực tế của thân xác đau thương mà trong thơ ông
có nhiều hình ảnh máu đến thế? Làn môi thiếu nữ tươi như máu, mặt nhật tan
thành máu, gánh máu, máu đang tươi…
Cuộc đời trong quan niệm
của các nhà thơ lãng mạn là sự dở dang, không trọn vẹn. Thơ Hàn Mặc Tử cũng nằm
trong cảm hứng ấy. Cũng như Xuân Diệu, ngay khi sự sống đương hồi mơn mởn trong
mùa xuân tươi thắm là thế Hàn Mặc Tử đã nhìn thấy cái kết cục ảo não của nó:
Sóng cỏ xanh tươi rợn tới
trời
Bao cô thiếu nữ hát bên đồi
Ngày mai trong đám xuân
xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc
chơi.
(Mùa
xuân chín)
Một trong những tiêu chuẩn
để đánh giá tài năng nghệ sĩ là cái lạ, cái độc đáo. Sáu mươi năm trước, đọc
thơ Hàn Mặc Tử, Hoài Thanh viết: “Ta chỉ thấy trong văn thơ cổ kim không có gì kinh
dị hơn”. Thơ ca Hàn Mặc Tử lạ trong cách suy nghĩ, lập ý, so sánh, trong cách
dùng từ ngữ, hình ảnh. Và cái lạ nhất là một con người phải trải qua những nỗi
đau thể xác và tinh thần ghê gớm như vậy nhưng giọng thơ nói chung không bi
quan mà luôn mơ ước, hướng tới thế giới vĩnh hằng “tứ thời xuân non nước” và
cũng là con người đã viết ra một trong những vần thơ trong sáng nhất của thơ ca
Việt Nam:
Trong làn nắng ửng khói
mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm
vàng
Sột soạt gió trêu tà áo
biếc
Trên giàn thiên lý bóng
xuân sang
(Mùa
xuân chín).
CHÚ THÍCH
Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca. Chủ biên Huy Cận,
Hà Minh Đức - NXB Giáo dục 1993, trang 130.
Trích dẫn theo Phan Cự Đệ - Thơ văn Hàn Mặc Tử - NXB Giáo dục
1993, trang 439.
Nguyễn Thị Hồng Nam





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét