Hình tượng người nghệ sĩ
Vũ Như Tô, Chiếc thuyền ngoài xa, Đàn ghi ta của Lorca là những
tác phẩm thuộc ba thể loại khác nhau (kịch, truyện ngắn, thơ) nhưng đều mang đến
cho người đọc những hình tượng rất đẹp về người nghệ sĩ: một kiến trúc sư với
tài năng siêu phàm; một nhiếp ảnh gia nhân hậu, bản lĩnh; một nghệ sĩ đa tài
luôn trăn trở, khát khao cách tân nghệ thuật. Họ đều là những người tài năng,
đam mê sáng tạo nghệ thuật. Vũ Như Tô, Phùng, Gaxia Lorca không chỉ mang trong
mình khát khao sáng tạo nghệ thuật chân chính, nhân cách cao đẹp mà còn có
chung những bi kịch trong nhận thức, trong hành trình sáng tạo nghệ thuật; thể
hiện rõ phương thức truyền tải thông điệp về nghệ thuật, về cuộc đời của nhà
văn.
Hình tượng nghệ thuật về người nghệ sĩ
Tài năng, khí phách của Vũ Như Tô
Vũ Như Tô là vở kịch đặc sắc, là tác phẩm lớn nhất, có
giá trị nhất của đời văn Nguyễn Huy Tưởng. Vở kịch là tâm sự, suy nghĩ, trăn trở
của ông về vai trò của người nghệ sĩ với thời cuộc, về mối quan hệ giữa nghệ
thuật với cuộc đời. Tuy nhiên, tại thời điểm này, Nguyễn Huy Tưởng còn nhiều hạn
chế do thái độ ngập ngừng giữa lý trí với tình cảm, do sự mâu thuẫn trong thế
giới quan tác giả. Tư tưởng, mâu thuẫn của nhà văn đều được gửi gắm qua hình tượng
người nghệ sĩ Vũ Như Tô, một kiến trúc sư tài năng.
Dưới ngòi bút lãng mạn, có phần lý tưởng hóa nhân vật của
Nguyễn Huy Tưởng, Vũ Như Tô hiện lên là một kiến trúc sư thiên tài, là hiện
thân của tài năng, niềm khát khao say mê sáng tạo cái đẹp, sáng tạo nghệ thuật.
Tài năng siêu phàm của Vũ Như Tô được khẳng định qua lời thoại của các nhân vật:
“Chỉ một vẩy bút là chim hoa đã hiện lên trên mảnh lụa, thần tình biến hóa như
cảnh hóa công” (1) hay “ông có tài, tài ấy phải đem cống hiến cho non sông,
không nên để mục nát với cỏ cây” (2).
Là người có tài năng, luôn ý thức được việc sử dụng những tài
năng ấy, ông đã tố cáo triều đình phong kiến không tạo điều kiện cho người nghệ
sĩ cống hiến tài năng công sức. Trước khi gặp Đan Thiềm, Vũ Như Tô kiên quyết
không xây dựng Cửu Trùng Đài, không phục vụ chế độ hôn quân bạo chúa dù bị dọa
nạt, cũng như dùng cực hình, không chịu khuất phục cường quyền ngay cả khi cận
kề cái chết.
Khi được Đan Thiềm thuyết phục, Vũ Như Tô vì lý tưởng của
mình mà đã thay đổi quyết định xây Cửu Trùng Đài, nhưng buộc vua Hồng Thuận phải
đáp ứng những yêu cầu của ông. Vũ Như Tô là người thợ cả nhân hậu, ông đã xin
thả thợ già về quê. Là người nghệ sĩ chân chính, ông không màng danh lợi, khi
được vua ban thưởng lụa là, vàng bạc, đều chia hết cho thợ thuyền.
Là một người tài năng, có nhân cách, khí phách, Vũ Như Tô là
hình tượng đẹp của người nghệ sĩ cả đời sống vì nghệ thuật. Nhưng lý tưởng của
ông đặt nhầm chỗ nên cuộc đời đã rơi vào bi kịch.
Là một phóng viên, một nhiếp ảnh gia, Phùng có một tâm hồn nhạy
cảm, say mê cái đẹp, một trái tim giàu lòng nhân ái, luôn trăn trở về số phận
con người. Phùng đã bộc lộ sự rung động mãnh liệt trước vẻ đẹp trời cho mà suốt
đời cầm máy anh chưa bao giờ nhìn thấy. Với tâm hồn nghệ sĩ, anh đắm say, ca tụng
cảnh đẹp như bức tranh mực tàu của danh họa thời cổ. Rồi anh cảm thấy tràn ngập
niềm hạnh phúc, bối rối trong trái tim như có cái gì đang thắt lại, cảm thấy
mình khám phá thấy chân lý của sự toàn thiện, khám phá khoảnh khắc trong ngần của
cuộc đời, phát hiện ra bản chất của cái đẹp chính là đạo đức. Bằng con mắt, tâm
hồn nghệ sĩ, anh đã đưa đến cho người đọc quan niệm sâu sắc về cái đẹp, đó là sự
thanh lọc tâm hồn, hướng con người đến cái thiện.
Không chỉ có tâm hồn nghệ sĩ, Phùng còn là một người giàu
lòng nhân ái, có bản lĩnh trung hậu của một người chiến sĩ. Là người từng vào
sinh ra tử nơi chiến trường, anh không thể đứng yên khi chứng kiến cảnh người
chồng đánh vợ. Hành động vũ phu của người chồng khiến Phùng bất ngờ, sửng sốt,
bức xúc, rồi xông vào can thiệp để bảo vệ người đàn bà. Đó là hành động của một
người chính nghĩa, đứng về lẽ phải, muốn bảo vệ lẽ phải. Phùng còn là người
thông minh, biết thay đổi suy nghĩ nhận thức cho phù hợp với hoàn cảnh, biết chấp
nhận những sai trái của mình. Ngay từ khi phát hiện được cảnh đắt giá trời cho,
anh tưởng rằng mình đã tìm thấy chân lý của cái đẹp, cái thiện. Nhưng khi chứng
kiến cảnh bạo lực gia đình, nghe những tâm sự của người đàn bà làng chài, anh
đã thay đổi. Phùng day dứt với câu chuyện cuộc đời của chị ở tòa án huyện, ám ảnh
bởi hình ảnh, thân phận người đàn bà làng chài khi trở lại thành phố, lo âu cho
tương lai của những người trong cuộc, những người vùng biển lam lũ, vất vả,
nghèo đói. Phùng đã nhận ra những điều mới mẻ, thay đổi hẳn nhận thức của bản
thân về cuộc đời, về nghệ thuật. Đó là việc phải nhìn nhận mọi việc một cách
toàn diện, thấu đáo, là mối quan hệ mật thiết giữa nghệ thuật với cuộc đời.
Lorca là một nhà thơ nổi tiếng, là người con anh hùng của đất
nước Tây Ban Nha. Ông hiện lên là một người dũng cảm, kiên cường đấu tranh cho
tự do, chấp nhận cái chết để mình lùi vào quá khứ, mở đường thênh thang cho thế
hệ sau thỏa sức sáng tạo. Lorca không chạy trốn thực tại mà dũng cảm đứng lên đấu
tranh cho nghệ thuật. Sự dũng cảm của Lorca thể hiện ngay ở câu đề từ của bài
thơ: Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn. Đây là di chúc, lời trăng
trối cuối cùng trước khi giã từ cuộc sống của ông, đồng thời cũng nói lên tâm
nguyện của người nghệ sĩ. Nếu cây đàn mang ý nghĩa biểu trưng cho xứ sở, cho nền
nghệ thuật Tây Ban Nha thì nhan đề thể hiện tình yêu, sự gắn bó của Lorca đối với
đất nước Tây Ban Nha, cũng có thể hiểu là biểu tượng cho sự nghiệp sáng tạo nghệ
thuật của ông. Người đọc còn ấn tượng về những tiếng đàn bọt nước sao
quá mỏng manh, mang theo khát vọng tự do dân chủ, chiến đấu với bè lũ phát xít.
Nhà thơ không chỉ khắc họa Lorca là người dũng cảm, kiên cường,
đứng lên đấu tranh cho tự do, cho nghệ thuật; mà còn vẽ nên hình ảnh một người
nghệ sĩ yêu đời, với một tâm hồn thanh thản, cốt cách tự do như một người du ca
hát lên bài ca bất tử. Lorca hiện lên không chỉ mang vẻ đẹp của người nghệ sĩ
mà còn mang vẻ đẹp của người chiến sĩ, một con người cả đời đấu tranh cho nghệ
thuật, tự do dù phải chấp nhận cái chết.
Khát vọng sáng tạo chân chính của người nghệ sĩ
Khát vọng cao đẹp của Vũ Như Tô
Cả đời Vũ Như Tô ôm ấp khát vọng xây dựng một công trình nghệ
thuật để tô điểm cho non sông đất nước. Đó là người nghệ sĩ mang trong mình
nhân cách cao đẹp, có hoài bão lớn lao, có lý tưởng nghệ thuật cao cả. Khát vọng,
mục đích của Vũ Như Tô hết sức cao đẹp, xuất phát từ thiên chức của người nghệ
sĩ, từ lòng yêu nước, tinh thần dân tộc nhưng ông không biết rằng chính việc
xây dựng công trình vĩ đại ấy, lợi ích nghệ thuật mà ông theo đuổi ấy đã đi ngược
với quyền lợi dân tộc, lợi ích của nhân dân. Có thể nói rằng càng sáng suốt
trong sáng tạo, thiết kế bao nhiêu thì ông lại càng xa rời thực tế bấy nhiêu.
Niềm đam mê sáng tạo ăn sâu vào tiềm thức của người nghệ sĩ đến mức bản thiết kế
lúc nào cũng để ngay chỗ nằm, khi thức, khi ngủ lúc nào cũng nhìn thấy để xem
xây dựng đến đâu, nên thêm bớt cái gì, như thế mới không thiếu sót. Vũ Như Tô
là người nghệ sĩ sinh ư nghệ, tử ư nghệ, thà hy sinh tính mạng chứ
không từ bỏ đam mê, khát vọng sáng tạo nghệ thuật của mình.
Nếu như Vũ Như Tô là nhân vật có thật thì Phùng lại là nhân vật
được xây dựng bằng tưởng tượng, một nghệ sĩ khao khát khám phá, sáng tạo ra cái
đẹp, luôn lo lắng, trăn trở, suy tư về nhân cách, đời sống con người. Phùng
trong truyện vừa là nhân vật chính, vừa là người kể chuyện, mọi diễn biến của
tác phẩm đều được soi chiếu qua lời kể, suy nghĩ của anh. Nét nổi bật ở Phùng
là một tâm hồn nhạy cảm, say mê cái đẹp, khả năng khám phá, phát hiện tinh tế,
sự rung động mãnh liệt trước những vẻ đẹp phong phú trong cuộc sống.
Là nghệ sĩ luôn khát khao khám phá, sáng tạo ra cái đẹp tuyệt
mỹ, không chấp nhận sự tẻ nhạt, bình thường, Phùng đã kiên nhẫn chờ đợi bằng được
khoảnh khắc để thu vào ống kính cái đẹp hoàn hảo theo quan niệm của riêng anh.
Cảnh đẹp thiên nhiên đã trở thành một tác phẩm nghệ thuật tuyệt đẹp, hài hòa từ
đường nét, màu sắc đến bố cục, tác động mạnh mẽ đến tâm hồn tinh tế, nhạy
cảm của người nghệ sĩ. Trong giây phút thăng hoa ấy, anh cảm nhận cái đẹp
chính là đạo đức. Cái đẹp đã thanh lọc tâm hồn, khiến tâm hồn con người trở nên
thanh khiết, thánh thiện.
Quá trình săn lùng, phục kích khoảnh khắc để có một bức ảnh đẹp
cũng là quá trình đi tìm cái đẹp, cái thiện của người nghệ sĩ. Nhưng cuộc đời đằng
sau cái đẹp ấy ẩn chứa nhiều điều sâu xa hơn, ý nghĩa hơn. Những cảm xúc thẩm mỹ
của Phùng như sự kinh ngạc, hạnh phúc, sung sướng trước vẻ đẹp của thiên nhiên
sau này đã được nâng lên thành tình yêu thương, sự đồng cảm với con người, sự
chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời, về nghệ thuật.
Khát vọng cách tân nghệ thuật của Lorca
Lorca được coi là thần đồng với năng khiếu thiên bẩm trên nhiều
lĩnh vực nghệ thuật: thơ ca, hội họa, âm nhạc, sân khấu... Dưới sự cai trị của
chế độ độc tài phát xít Tây Ban Nha, Lorca nồng nhiệt cổ vũ sự thúc đẩy mạnh mẽ
những cách tân trong các lĩnh vực nghệ thuật.
Sự ảnh hưởng của Lorca không chỉ nằm trong thời đại của
ông mà nó còn tồn tại mãi. Mộng vàng của nghệ sĩ Lorca là khát vọng cách
tân nghệ thuật và chính trị của Tây Ban Nha. Đàn ghita của Lorca là
tình yêu, tinh thần đấu tranh, khát vọng đổi mới nghệ thuật; là tình yêu cuộc sống,
khí phách kiên cường của người chiến sĩ yêu tự do, hòa nhập trái tim mình với
quần chúng nhân dân.
Hình ảnh tiếng đàn bọt nước, âm thanh li la li la
li la là biểu trưng cho số phận của Lorca, mỏng manh, dễ vỡ; hình ảnh Tây
Ban Nha áo choàng đỏ gắt là biểu trưng cho môi trường chính trị ở Tây Ban
Nha, bức bối, ngột ngạt, phản động. Tiếng đàn ghita là sự sống, niềm tin, hy vọng,
sức mạnh đấu tranh, sức sáng tạo vượt lên cái chết của Lorca. Trong một khung cảnh
mang đậm bản sắc văn hóa Tây Ban Nha, tác giả đã tái hiện hình ảnh chàng thi sĩ
Lorca, người chiến sĩ dũng cảm, kiên cường đấu tranh cho tự do, cho khát vọng
cách tân nghệ thuật.
Bi kịch của người nghệ sĩ
Vũ Như Tô là một vở bi kịch lịch sử xuất sắc. Đó là bi kịch
của người nghệ sĩ có tư chất, tài hoa, tâm huyết, nhưng không giải quyết được
những mối quan hệ phức tạp giữa nghệ thuật với cuộc đời.
Vũ Như Tô không muốn đem tài năng, tâm huyết phục vụ cho chế
độ hôn quân, bạo chúa, mặc cho sự đe dọa, tra tấn nhục hình. Bởi ông quan niệm
rằng cái tài, cái đẹp phải có ích, nghệ thuật phải phục vụ cuộc sống.
Ở góc độ nghệ sĩ, Vũ Như Tô muốn tận dụng cơ hội để thi thố
tài năng xây dựng những công trình nghệ thuật tuyệt tác, điểm tô cho đất nước.
Ông quyết định xây dựng Cửu Trùng Đài theo thiết kế, theo sự lựa chọn của mình.
Bản thân con người Vũ Như Tô là một khối mâu thuẫn lớn. Thế
giới tinh thần của ông chứa đựng những mâu thuẫn giằng xé: vừa không muốn đem
nghệ thuật phục vụ cường quyền bạo chúa, vừa muốn sử dụng cường quyền để thực
hiện khát vọng sáng tạo của mình, thấy họa mà vẫn luyện tài, biết khổ nhục mà vẫn
đa mang, không tự bảo vệ được sinh mạng gia đình, bản thân song vẫn hướng về sự
bất tử của nghệ thuật. Vũ Như Tô là điển hình của mẫu người nghệ sĩ tài năng,
có nhân cách, có hoài bão lớn lao nhưng vì cái đẹp mà xa rời thực tế, ảo tưởng
mà đã rơi vào bi kịch. Cái đẹp bị bức tử bởi nó xa rời cuộc sống, xa rời cái
thiện.
Nguyễn Huy Tưởng xuất phát từ cảm thức sâu sắc về lòng tự tôn
dân tộc, mong muốn xây dựng nên một nền văn hóa có thể sánh ngang với nền văn
hóa khác. Qua số phận của nhân vật, tác giả đặt ra nhiều vấn đề đáng suy ngẫm về
sức sống, sự trường tồn của nền văn hóa dân tộc. Tác giả đã bày tỏ những vấn đề
sâu sắc, có ý nghĩa muôn đời về mối quan hệ giữa nghệ thuật với cuộc sống, giữa
lý tưởng nghệ thuật cao siêu, thuần túy với lợi ích thiết thực của nhân dân. Có
thể nói, Vũ Như Tô là bi kịch hiện đại đầu tiên của kịch Việt Nam, một
thể loại ghi nhận tài năng, tư chất cùng những đóng góp tích cực của Nguyễn Huy
Tưởng trong văn học Việt Nam TK XX.
Nghệ sĩ Phùng, sự vỡ mộng về nghệ thuật
Bị kịch của Phùng là bi kịch của nhận thức, thể hiện qua hai
tình huống đầy nghịch lý: giữa bức tranh đắt giá trời cho với niềm hạnh phúc tột
cùng khi khám phá chân lý của sự hoàn thiện; giữa những điều giản đơn xảy ra
trước mắt với những uẩn khúc sâu kín bên trong.
Với tư cách là người kể chuyện, người trực tiếp tham gia vào
câu chuyện, ngôn ngữ kể chuyện của Phùng mang tính chủ quan, chân thực: những
rung động mãnh liệt trước cái đẹp, nỗi xót xa trước cuộc sống của những người
dân chài, sự bất bình trước hành động chưa đúng, chưa phải, lòng yêu thương con
người… đều thấm đẫm trong lời của người kể chuyện. Đặc biệt, trong ngôn ngữ đối
thoại của nhân vật, độc giả nhận ra những đánh giá, quan điểm khác nhau của nhiều
người về cùng một vấn đề. Sự vỡ mộng về nghệ thuật của Phùng có ý nghĩa quan trọng
đối với sự bừng tỉnh trong nhận thức của anh.
Đó là thành công của Nguyễn Minh Châu khi ông đặt ra vấn đề:
phải nhìn cuộc sống từ nhiều chiều mới có thể hiểu ngọn nguồn, bản chất của hiện
tượng.
Nghệ sĩ Lorca với cuộc hành trình đơn độc, bi thảm
Qua tiếng đàn ghi ta, hình tượng Lorca, tác giả diễn tả cái
chết đột ngột, bi tráng của người nghệ sĩ, đồng thời bày tỏ nỗi thương tiếc sâu
sắc, niềm tin mãnh liệt vào sự bất tử của Lorca cùng nghệ thuật thiên tài của
ông.
Giây phút bi thương, thảm khốc nhất trong cuộc đời Lorca được
diễn tả thật ngắn gọn, ấn tượng. Sự kiện ấy tạo thành cú sốc, dẫu rằng nó diễn
tả theo lối tượng trưng, liên tục chuyên đổi cảm giác qua hệ thống âm thanh vỡ
òa thành màu sắc, hình khối, dòng máu chảy...
Tiếng đàn nghệ thuật của Lorca vẫn sinh sôi bất diệt như cỏ mọc
hoang. Hình ảnh này vừa gợi sự cảm thông về cái chết bi thảm của nhà thơ, vừa gợi
sự tiếc nuối hành trình cách tân dang dở, nỗi trăn trở về nghệ thuật thiếu kẻ dẫn
đường. Cuối cùng, người nghệ sĩ đã dừng bước trước dòng sông của định mệnh khi
đường chỉ tay đã đứt, sinh mệnh chấm dứt. Chàng rũ bỏ mọi hệ lụy trần gian để
trở về cõi vĩnh hằng. Kết thúc bài thơ vang lên âm thanh của ghi ta như tiếng
ca về sự bất tử của Lorca, của tâm hồn thanh cao, yêu tự do, cái đẹp, đất nước
Tây Ban Nha của chàng.
Dõi theo hành trình của Lorca, người đọc liên tục được chuyển
đổi cảm giác âm thanh vỡ thành màu sắc, hình khối, những ảnh động. Những hình ảnh
giàu sắc thái tượng trưng, những màu sắc gắn với cảm xúc, suy tưởng thực sự ám ảnh
trong lòng người đọc về số phận người nghệ sĩ tài năng.
Vũ Như Tô, Phùng, Lorca đều mang trong mình khát vọng sáng tạo
chân chính, đều trải qua những hành trình nhọc nhằn, gian khổ để thực hiện khát
vọng ấy. Họ là những nghệ sĩ đam mê cái đẹp, không ngừng sáng tạo. Hình tượng
người nghệ sĩ có ý nghĩa quan trọng trong việc thể hiện triết lý về nghệ thuật,
về cuộc sống. Nếu nghệ thuật quan tâm đến số phận con người, nếu cái đẹp gắn liền
với chân, thiện thì nghệ thuật ấy, cái đẹp ấy sẽ trường tồn, vĩnh cửu. Đó là
thông điệp mà cả ba tác phẩm gửi gắm. Nghiên cứu tác phẩm từ phương diện nhân vật,
đặc biệt từ hình tượng người nghệ sĩ, chúng tôi nhận thức sâu sắc một điều là
hành trình sáng tạo nghệ thuật chính là nuôi dưỡng, giữ gìn, bảo vệ cái đẹp
trong cuộc sống, trong tâm hồn con người. Thực hiện nhiệm vụ ý nghĩa, thiêng
liêng ấy, nghệ thuật nói chung, văn học nói riêng đã hoàn thành sứ mệnh cao cả
của nó, sứ mệnh hướng con người tới cái đích của chân, thiện, mỹ.
Ghi chú:
1, 2. Bích Thu sưu tầm, Nguyễn Huy Tưởng, tác phẩm chọn
lọc, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2009.
LÊ THỊ HƯỜNG - NGÔ THU THỦY







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét