Thế
Lữ tên đầy đủ là Nguyễn Thứ Lễ, sinh năm 1907, mất năm 1989, quê ở Bắc Ninh, được
đánh giá là một trong những ngọn cờ tiên phong của trào lưu Thơ mới (1932 –
1945). Với tâm hồn dạt dào cảm xúc cùng khả năng sử dụng ngôn ngữ tài tình, ông
đã góp phần quan trọng vào việc đổi mới thơ ca Việt Nam. Ngoài tuyển tập Mấy vần
thơ xuất bản
năm 1935, Thế Lữ còn sáng
tác nhiều thể loại khác như truyện trinh thám, truyện kinh dị, truyện đường
rừng, kịch… Thời kì tham gia kháng chiến chống Pháp, ông chuyển hẳn sang hoạt
động sân khấu và có nhiều công lao trong việc xây dựng ngành kịch nói ở nước
ta.
Tên tuổi Thế Lữ gắn liền
với bài thơ Nhớ rừng được nhiều người yêu thích. Mượn lời con hổ bị nhốt trong
vườn bách thú, tác giả đã diễn tả sâu sắc và sinh động tâm trạng uất hận, chán
ghét cảnh đời tù túng, tầm thường và nhớ tiếc cuộc sống tự do trong quá khứ.
Qua đó kín đáo thể hiện thái độ phủ nhận thực tại nô lệ, khát vọng tự do mãnh
liệt và lòng yêu nước thầm kín, thiết tha của nhân dân ta.
Muốn hiểu hết cái hay,
cái đẹp của tác phẩm, trước hết chúng ta tìm hiểu sơ qua khái niệm Thơ mới và
phong trào Thơ mới.
Hai chữ Thơ mới lúc đầu
dùng để gọi tên thể thơ tự do vừa xuất hiện trên thi đàn thuở ấy. Sau năm 1930,
hàng loạt thi sĩ trẻ theo Tây học cùng lên tiếng phê phán thơ cũ (thơ Đường
luật) là khuôn sáo, trói buộc. Họ đòi hỏi phải đổi mới hình thức thơ ca. Phong
trào Thơ mới ra đời và phát triển mạnh mẽ trong khoảng mười lăm năm rồi dần dần
đi vào bế tắc.
Trong Thơ mới, số bài
viết theo kiểu tự do không nhiều, chủ yếu vẫn là hình thức thơ bảy chữ và lục
bát. Tuy vậy, so với thơ cũ, Thơ mới phóng khoáng, tự nhiên hơn hẳn, vì nó
không còn bị ràng buộc bởi những quy tắc chặt chẽ về niêm luật. Hai chữ Thơ mới
sau này trở thành tên gọi của trào lưu thơ ca lãng mạn, gắn liền với những thi
sĩ nổi tiếng như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Hàn Mặc
Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê, Phạm Huy Thông…
Cuộc tranh luận về Thơ
mới và thơ cũ diễn ra sôi nổi, gay gắt trên báo chí đương thời. Cuối cùng, Thơ
mới đã thắng, không phải bằng lí lẽ mà bằng nhiều bài thơ hay. Nhận xét về vai
trò của Thế Lữ, nhà phê bình nghiên cứu văn học Hoài Thanh đã viết: “Thế Lữ
không bàn về Thơ mới, không bênh vực Thơ mới, không bút chiến, không diễn
thuyết. Thế Lữ chỉ lặng lẽ, chỉ điềm nhiên bước những bước vững vàng mà trong
khoảnh khắc, cả hàng ngũ nhà thơ xưa phải tan vỡ. Bởi vì không có gì khiến
người ta tin ở Thơ mới hơn là đọc những bài thơ mới hay”. (Thi nhân Việt Nam).
Xét về vai trò, Thế Lữ
không chỉ là người giương cao ngọn cờ tiên phong của Thơ mới mà còn là thi sĩ
tiêu biểu nhất cho đặc điểm nghệ thuật Thơ mới chặng đầu tiên (1932 – 1935).
Nhà thơ chọn bút danh Thế Lữ, ngoài việc chơi chữ (nói lái cái tên Thứ Lễ) còn
có ngụ ý tự nhận mình là lữ khách lang thang trên trần thế, chỉ biết đi tìm cái
đẹp muôn hình muôn vẻ của cuộc đời:
Tuy tuyên ngôn như vậy
nhưng trong lòng Thế Lữ vãn mang nặng nỗi buồn mất nước. Trong bài thơ Nhớ
rừng, thi sĩ mượn nỗi u uất của con hổ sa cơ để diễn tả tâm trạng bi phẫn của
người anh hùng chiến bại. Chiến bại nhưng vẫn đẹp, vẫn hào hùng.
Nhớ rừng viết theo thể
thơ tám chữ, vần liền (hai câu liền nhau có chung vần). Vần bằng, vần trắc thay
đổi nhịp nhàng, đều đặn. Đây là thể thơ được sử dụng khá rộng rãi trong Thơ
mới.
Bài thơ có hai hình ảnh
tương phản là vườn Bách Thảo, nơi con hổ đang bị giam cầm và chốn rừng núi đại
ngàn, nơi nó tung hoành hống hách những ngày xưa. Cảnh trên là thực tại, cảnh
dưới là dĩ vãng và cũng là mộng tưởng, khát khao cháy bỏng.
Cảnh ngộ bị cầm tù chính
là nguyên nhân tâm trạng chất chứa đầy bi kịch của con hổ. Tính bi kịch thể
hiện ở chỗ hoàn cảnh sống hoàn toàn thay đổi nhưng tính cách con hổ chẳng thể
đổi thay. Nó không cam chịu cúi đầu chấp nhận hoàn cảnh bởi luôn ý thức mình là
bậc chúa tể của muôn loài. Nếu chấp nhận thì nó sẽ không còn là nó. Tâm trạng
uất hận, bất bình, giằng xé dữ dội của con hổ bị cầm tù là cảm xúc chủ đạo bao
trùm toàn bài và thấm sâu vào từng câu, từng chữ.
Tâm trạng ấy được nhà thơ
miêu tả bằng ngòi bút sắc sảo, tài hoa:
Gậm một khối căm hờn
trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua,
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm.
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm,
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi,
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.
Đoạn thơ thể hiện nỗi khổ
tâm ghê gớm của chúa sơn lâm bị giam cầm lâu ngày trong một không gian bé nhỏ,
ngột ngạt.
Ở câu thơ đầu, những
thanh trắc đi liền nhau kết hợp với nhịp thơ chậm, ngắt quãng gợi ta liên tưởng
đến một mối hờn căm kết tụ thành khối đè nặng trong lòng. Con hổ muốn hất tung
tảng đá vô hình ấy nhưng bất lực, đành nằm dài trông ngày tháng dần qua. Những
thanh bằng kéo dài ở câu hai phản ánh tình cảnh bó buộc và tâm trạng chán ngán
tột cùng của chúa sơn lâm.
Từ chỗ là chúa tể của
muôn loài được tôn thờ, sùng bái, tha hồ tung hoành chốn núi non hùng vĩ, nay
sa cơ, thất thế, bị nhốt chặt trong cũi sắt, hổ cảm thấy nhục nhằn tù hãm. Chúa
sơn lâm bất bình khi bị biến thành trò lạ mắt, thứ đồ chơi của lũ người nhỏ bé
mà ngạo mạn, bị hạ xuống ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi, với cặp báo chuồng bên
vô tư lự… là những hạng vô danh, thấp kém không đáng kể. Vùng vẫy cách nào cũng
không thoát, hổ đành nằm dài với tâm trạng bất lực, buông xuôi.
Thực tại đáng buồn khiến
cho hổ càng da diết nhớ thuở còn tự do vùng vẫy giữa núi cao, rừng thẳm:
Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa.
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
Với khi thốt khúc trường ca dữ dội,
Phủ nhận hiện tại phũ
phàng, chúa sơn lâm chỉ còn hai hướng: hoặc trở về quá khứ, hoặc ngưỡng vọng
tương lai. Hổ không thể có tương lai mà chỉ còn quá khứ. Hào quang chói lọi của
quá khứ tạo nên ảo giác và ảo giác đó được trí tưởng tượng chắp cánh bay bổng
tới mức tột cùng.
Chúa sơn lâm thừa hiểu dĩ
vãng oanh liệt một đi không bao giờ trở lại. Bởi vậy tâm trạng của nó là vừa tự
hào, vừa xen lẫn đau thương, tuyệt vọng.
Những từ ngữ đẹp đẽ nhất,
gợi cảm nhất như: bóng cả, cây già, tiếng gió gào ngàn, giọng nguồn hét núi,
hoang vu, bí mật… được tác giả sử dụng để miêu tả khung cảnh hùng vĩ, hoang dã
và sức sống mãnh liệt của chốn rừng sâu núi thẳm – giang sơn bao đời của dòng
họ chúa sơn lâm. Đó là chốn ngàn năm cao cả âm u, là cảnh rừng ghê gớm không
bút nào tả xiết.
Trên cái nền hoành tráng
ấy, chúa sơn lâm hiện ra với dáng vẻ oai phong, đường bệ:
Ta bước chân lên, dõng
dạc, đường hoàng,
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc.
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc,
Là khiến cho mọi vật đều im hơi.
Ta biết ta chúa tể cả muôn loài,
Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi.
Những hình ảnh giàu chất
tạo,hình đã diễn tả sống động vẻ đẹp dũng mãnh, mềm mại, uyển chuyển và sức
mạnh bên trong ghê gớm của vị chúa tể rừng xanh giữa núi rừng uy nghiêm, hùng
vĩ.
Đoạn ba của bài thơ giống
như một bộ tranh tứ bình lộng lẫy miêu tả phong cảnh thiên nhiên trong những
thời điểm khác nhau:
Nào đâu những đêm vàng
bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan ?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới ?
Đâu những bình minh cây xanh nấng gội,
Tiếng chim ca giấc ngũ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,
Để chiếm lấy riêng ta phần bí mật?
Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?
Bốn cảnh: những đêm vàng,
những ngày mưa, những bình minh, những chiều lênh láng máu sau rừng, cảnh nào
cũng tráng lệ, lần lượt hiện lên trong nỗi nhớ tiếc khôn nguôi của con hổ sa
cơ.
Đó là cảnh huyền ảo, thơ
mộng của những đêm vàng bên bờ suối, chúa sơn lâm say mồi đứng uống ánh trăng
tan. Là những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn, chúa sơn lâm lặng ngắm giang
sơn… đổi mới. Là cảnh bình minh cây xanh nắng gội chan hòa, rộn rã tiếng chim
ca. Cuối cùng là cảnh những chiều lênh láng máu sau rừng thật dữ dội, bi tráng.
Vị chúa tể đại ngàn đang ung dung đợi chết mảnh mặt trời gay gắt, để chiếm lấy
riêng ta phần bí mật trong vũ trụ bao la. Đại từ ta lặp lại nhiều lần trong bài
thơ tạo nên nhạc điệu rắn rỏi, hùng tráng của câu thơ, thể hiện khẩu khí đẩy tự
tôn, tự hào của vị chúa tể muôn loài.
Nhưng dẫu huy hoàng đến
đâu chăng nữa thì cũng chỉ là hào quang của dĩ vãng hiện ra trong hoài niệm.
Những điệp ngữ: nào đâu, đâu những… lặp đi lặp lại nhấn mạnh sự tiếc nuối của
con hổ đối với quá khứ vinh quang. Chúa sơn lâm dường như ngơ ngác, chới với
trước thực tế phũ phàng mà mình đang phải chịu đựng. Giấc mơ đẹp đẽ đã khép lại
trong tiếng thở dài u uất:
Than ôi, thời oanh liệt
nay còn đâu?
Tuy nhân vật tự sự trong
bài thơ là con hổ, xưng là Ta, (Ta sống mà…, Ta bước chân lên,Ta biết ta…)
nhưng thực chất đó là “cái tôi” của nhà thơ lãng mạn bừng thức giữa xã hội tù
hãm đương thời.
Đoạn bốn tả cảnh vườn
Bách Thảo qua cái nhìn khinh bỉ của chúa sơn lâm. Tất cả chỉ là sự sắp đặt đơn
điệu, buồn tẻ, khác xa với thế giới tự nhiên. Càng cố học đòi, bắt chước cảnh
đại ngàn hoang dã thì nó lại càng lộ rõ sự tầm thường, giả dối đáng ghét:
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm,
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.
Cảnh vườn bách thú nơi
con hổ bị nhốt trái ngược với khung cảnh rừng sâu núi thẳm hoang vu nơi nó đã
từng ngự trị. Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng là hình ảnh ẩn dụ ám chỉ
thực tại của xã hội đương thời. Âm hưởng thơ tỏ rõ tâm trạng chán chường, khinh
miệt của số đông thanh niên có học thức trước thực tại quẩn quanh, bế tắc của
xã hội lúc bấy giờ.
Ở đoạn cuối cùng, giọng
thơ da diết đã đúc kết nỗi niềm tâm sự của chúa sơn lâm:
Hỡi oai linh, cảnh nước
non hùng vĩ!
Là nơi giống hầm thiêng ta ngự trị,
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa,
Nơi ta không còn được thấy bao giờ!
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,
Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,
Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!
Nhà thơ phản ánh rất
thành công nỗi bất bình sâu sắc và niềm khao khát tự do mãnh liệt của chúa sơn
lâm trước thực tại tù túng, ngột ngạt. Bút pháp khoa trương của Thế Lữ đã đạt
tới độ thần diệu. Trong cảnh giam cầm, hổ chỉ còn biết gửi hồn về chốn nước non
hùng vĩ, giang sơn của giống hầm thiêng ngự trị tự ngàn xưa. Bất bình với hiện
tại nhưng không thể thoát khỏi xích xiềng nô lệ vị chúa tể sơn lâm đầy uy vũ
ngày nào giờ đành buông xuôi, tự an ủi mình bằng những giấc mộng ngàn to lớn
trong quãng đời tù túng còn lại. Một nỗi buồn tê tái thấm đẫm tâm hồn. Than ôi!
Quá khứ hào hùng oanh liệt giờ chỉ còn hiện lên trong giấc mộng! Tự đáy lòng vị
chúa tể rừng xanh bật thốt lên tiếng than ai oán: Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta
ơi!
Tâm trạng của con hổ bị giam cầm cũng là tâm trạng chung của người dân Việt Nam
đang sống trong cảnh nô lệ bị nhục nhằn tù hãm, cũng ngậm một khối căm hờn và
tiếc nhớ khôn nguôi thời oanh liệt với những chiến công chống giặc ngoại xâm vẻ
vang trong lịch sử. Chính vì động đến chỗ sâu thẳm của lòng người nên bài thơ
vừa ra đời đã được công chúng nồng nhiệt đón nhận.
Tác giả mượn lời con hổ
bị nhốt chặt trong cũi sắt để nói lên một cách đầy đủ, sâu sắc tâm trạng u uất
của thế hệ thanh niên trí thức Tây học vừa thức tỉnh ý thức cá nhân, vô cùng
bất mãn và khinh ghét thực tại bất công, ngột ngạt của xã hội đương thời. Họ
muốn phá tung xiềng xích nô lệ để “cái tôi” tự do được khẳng định và phát
triển. Nhiều người đọc bài thơ Nhớ rừng, cảm thấy tác giả đã nói giùm họ nỗi
đau khổ của thân phận nô lệ. Về mặt nào đó, có thể coi đây là một bài thơ yêu
nước, tiếp nối mạch thơ trữ tình yêu nước trong văn chương hợp pháp đầu thế kỉ
XX.
Thế Lữ đã chọn được một
hình ảnh độc đáo, thích hợp với việc thể hiện chủ đề bài thơ. Con vật oai hùng
được coi là chúa tể sơn lâm, một thời oanh liệt, huy hoàng ở chốn nước non hùng
vĩ nay bị giam cầm tù hãm tượng trưng cho người anh hùng chiến bại. Cảnh đại
ngàn hoang vu tượng trưng cho thế giới tự do rộng lớn. Với hình ảnh chứa đựng ý
nghĩa thâm thúy đó, Thế Lữ rất thuận lợi trong việc gửi gắm tâm sự của mình
trước thời cuộc qua bài thơ. Ngôn ngữ thơ đạt tới độ điêu luyện, tinh tế, nhạc
điệu du dương, lúc sôi nổi hào hùng, lúc trầm lắng bi thiết, thể hiện thành công
nội dung tư tưởng của bài thơ.
Bài thơ tràn đầy cảm hứng
lãng mạn, thi hứng cuồn cuộn tuôn trào dưới ngòi bút thi nhân. Đây là đặc điểm
tiêu biểu của bút pháp lãng mạn và cũng là yếu tố cốt lõi làm nên sức lôi cuốn
mạnh mẽ, chi phối các yếu tố nghệ thuật khác của bài thơ. Bài thơ Nhớ rừng sống
mãi trong lòng người đọc. Nhắc đến Thế Lữ, người ta nhớ tới Nhở rừng. Là thi
sĩ, chỉ cần điều đó cũng đủ sung sướng, hạnh phúc và mãn nguyện.






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét