Cảo thơm lần giở
Cảo thơm lần giở: Pirandello nghĩ gì?
Nửa đầu thế kỷ XX, Brecht (Đức) và Pirandello (Ý) đã thổi luồng
gió mới vào sân khấu hiện đại phương Tây. Brecht thì lạc quan cách mạng, tin
vào trí tuệ con người. Còn Pirandello thì bi quan yếm thế và không tin vào trí
tuệ con người.
Vở Sáu nhân vật đi tìm tác giả điển hình cho sáng
tác của Pirandello. Kịch của ông chủ yếu đi sâu vào tính cách con người. Trong
mỗi con người có nhiều cái tôi đối lập nhau, quan hệ con người với nhau dựa vào
một ảo tưởng và người ta thường hiểu người khác một cách giản đơn. Không ai hiểu
đúng mình và người khác, kể cả tác giả sáng tạo ra nhân vật của chính mình. Sự
thật là tương đối, cuộc sống là một sự vô lý bi hài kịch. Có thể những quan điểm
này phản ánh sự hoang mang của tác giả (nhân vật vợ điên luôn nghĩ chồng ngoại
tình, sự khủng hoảng đạo lý của xã hội tư bản). Sáu nhân vật đi tìm tác giả là
một trong ba vở thuộc chủ đề “Sân khấu trong sân khấu” nói lên sự cách biệt giữa
hư cấu và hiện thực, giữa nhân vật trong vở diễn và vở diễn: thế này hoặc thế
kia; tối nay ta diễn kịch cương (diễn viên cứ bịa ra lời mà nói, không có kịch
bản sẵn). Tác phẩm nêu lên sự bất lực của sáng tác. Câu chuyện xảy ra trên một
sân khấu chưa được chuẩn bị; các diễn viên đang họp nhau để diễn tập. Sáu người
xuất hiện và tự giới thiệu họ là sáu nhân vật do óc tưởng tượng của tác giả tạo
ra, nhưng chưa được hoàn tất. Họ đòi phải được diễn ngay vở kịch chưa được viết
ra, còn họ đã sống thật cuộc đời họ. Sau đó, họ tự trình bày cuộc đời họ ngay
trước đạo diễn: họ tranh nhau nói, thương thân xót phận, ý mâu thuẫn nhau rất
là rối ren. Sáu nhân vật là: bố (tiểu tư sản, khoảng 50 tuổi), mẹ (buồn tẻ),
con trai cả (con chung của bố và mẹ), ba đứa con riêng của mẹ (đẻ với nhân tình
nguyên là thư ký của bố, mẹ bỏ đi biệt tăm, mãi khi nhân tình chết mới trở về
thành phố cũ). Ba con riêng gồm có cô gái lớn bướng bỉnh, xinh đẹp và hai đứa
con nhỏ, một trai một gái. Cô gái lớn đi làm đĩ - bố không biết bắt nhân tình với
cô, mẹ phát hiện ra liền nói rõ sự thật. Xấu hổ, bố đưa mẹ và các con riêng về
nhà ở cùng. Con trai cả gây sự, không muốn ở cùng với những người lạ. Trong khi
mẹ cố thuyết phục hắn thì được tin con gái nhỏ chết đuối và con trai nhỏ tự sát
bằng súng. Cả nhà hoang mang. Cô gái lớn bình tâm lại, cất tiếng cười chua cay,
rồi bỏ đi.
Luigi Pirandello là nhà văn và nhà viết kịch Ý. Ông được giải
thưởng Nobel năm 1934. Ông xuất thân từ một gia đình tư sản, cha có mỏ lưu
hoàng. Ông học triết và văn ở Ý và Đức. Ông dạy học và làm báo, sáng tác văn học
(thơ, tiểu thuyết, truyện, kịch), đồng thời thành lập Đoàn kịch sân khấu nghệ
thuật. Cuối đời, ông theo chủ nghĩa phát xít.
Ban đầu, ông làm thơ, phần nhiều mang màu sắc bi quan. Truyện
và tiểu thuyết của ông theo khuynh hướng duy thực, đi sâu vào các vấn đề tâm
lý, miêu tả nỗi đau khổ và số phận của những nhân vật đáng mến ở trong nhân
dân; ông thích tìm những trường hợp bệnh hoạn: Chuyện cho một năm (Novelle
per un anno, 1932-1937), tập truyện: Mattia Pascal quá cố (Il fu
Mattia Pascal, 1904), tiểu thuyết: Một, không và mười vạn (Uno,
nessuno e centomila, 1926). Ông thành công trong thể truyện hơn là tiểu thuyết,
nổi tiếng thế giới về kịch; ông bắt đầu viết kịch từ năm 33 tuổi: Liolà (1917), Sáu
nhân vật đi tìm tác giả (Sei personaggi in cerca d’autore, 1921), Vua
Enrico đệ tứ (Enrico IV, 1922).
Sau đây là một số suy nghĩ của Pirandello:
+ Điều mà tôi muốn là thoát ly khỏi chính bản thân mình.
+ Chúng ta bao giờ cũng cần tìm ai đó để đổ lỗi cho họ đã gây
ra cho ta những nỗi chán chường và đau khổ của bản thân ta.
+ Người ta cứ tưởng hiểu nhau, thực ra người ta không bao giờ
hiểu nhau.
+ Cuộc đời đầy những cái vô lý dường như không thể có thực được.
Các vị có biết tại sao không? Là vì những cái vô lý ấy lại có thật.
+ Có tình trạng hiểu nhầm nhau (ông nói gà, bà nói vịt) là bởi
vì chính cuộc đời cũng như vậy.
+ Mỗi sự việc như một cái bao rỗng, không dựng đứng được. Muốn
cho nó đứng được, phải nhét vào trong đó lý do và các tình cảm gây ra sự việc ấy.
+ Làm người anh hùng dễ hơn làm người lương thiện. Làm anh
hùng chỉ cần một lần ngẫu nhiên, còn người lương thiện thì phải thường xuyên.
Về sự phát triển của nhân loại qua nghìn năm văn minh, trong
cuốn từ điển triết học Larousse - Paris, 2011, D. Julia nhận định như
sau: tiến bộ vật chất nhảy vọt do khoa học kỹ thuật phát triển. Về sự tiến bộ của
bản chất con người, phải xét về hai phương diện: 1) Về phương diện lịch sử nhân
loại thì có sự tiến bộ của những cố gắng của các dân tộc xích lại gần nhau, cố
tránh chiến tranh bằng giải quyết hòa bình mọi sự tranh chấp [thực ra từ Hội Quốc
liên đến Liên hiệp quốc hiện nay, bóng ma chiến tranh, bạo lực, khủng bố vẫn in
nét đậm]; 2) Về phương diện tiến bộ cá nhân của bản chất con người thì không có
và sẽ không bao giờ có tiến bộ, vì ai sau khi sinh ra cũng đều có xung năng thiện
và ác (theo Freud), phải tự học cách kiềm chế dục vọng theo lý trí, luôn luôn sẽ
còn có kẻ tham lam, kẻ hung hăng, kẻ thích uy quyền v.v...
Các tác phẩm văn học cổ điển lớn trên thế giới đều minh họa
cho sự không thay đổi của bản chất con người: từ xưa đến nay, ở khắp nơi nơi,
con người không dứt bỏ được mối thất tình (theo Phật giáo), cho nên rất giống
nhau. Đọc thơ ngụ ngôn của nhà văn Pháp La Fontaine thế kỷ XVII (Một tấn tuồng
có trăm hồi khác nhau) và các tiểu thuyết của nhà văn Balzac thế kỷ XIX (Tấn
trò đời) ta có cảm giác gặp những người bằng xương bằng thịt ở xã hội Việt Nam
ngày nay.
Honoré de Balzac (1799-1850) là nhà văn Pháp viết tiểu thuyết
hiện thực phê phán. Mẹ xuất thân từ một gia đình tiểu tư sản ở Paris. Cha từ tỉnh
nhỏ lên Paris làm viên chức. Năm 20 tuổi, ông bỏ học luật và bắt đầu viết văn.
Ông viết tiểu thuyết trữ tình, ký nhiều bút danh khác nhau. Năm 1825, ông có ý
đồ làm giàu bằng nghề xuất bản và nghề in, do đó tìm hiểu các mánh khóe làm ăn
của giới tư sản. Nhưng thất bại và nợ nần lại khiến ông trở về sáng tác văn học.
Từ đó, trong khoảng 20 năm lao động nghệ thuật gian khổ, ông đã xây dựng được một
văn nghiệp vĩ đại. Từ 1829, ông nổi tiếng với hai tác phẩm lớn đầu tiên Sinh
lý học hôn nhân (La physiologie du mariage) và Những người
Chouans (Les Chouans). Trong tác phẩm Lão Goriot (Le père
Goriot, 1834), ông bắt đầu đưa ra một hệ thống nhân vật lặp đi lặp lại trong
nhiều tiểu thuyết, khiến cho toàn bộ tác phẩm (kể cả các cuốn viết từ 1829)
thành một bộ tổng hợp gồm khoảng 95 cuốn, dưới nhan đề chung là Nghiên cứu
xã hội (Études sociales), sau đổi tên là Tấn trò đời (La comédie
humaine). Tấn trò đời gồm những loại truyện: Nghiên cứu phân
tích (Études analytiques), Nghiên cứu triết học (Études
philosophiques) và Nghiên cứu phong tục (Études de moeurs). Loại thứ
ba phong phú nhất, có những truyện về Cảnh đời sống riêng tư, Cảnh đời
sống tỉnh nhỏ, Cảnh đời sống Paris, Cảnh đời sống nông thôn, Cảnh
đời sống nhà binh... Đầu năm 1830, ông cho xuất bản Cảnh đời sống riêng
tư (Scènes de la vie privée) gồm 6 truyện vừa, được coi là bộ phận đầu tiên
của Tấn trò đời. Miếng da lừa (La peau de chagrin, 1831) khẳng định vị
trí của ông trên văn đàn. Ông viết một loạt tác phẩm, đề tài đa dạng, nhằm thể
hiện cuộc sống của giới quý tộc và tư sản ở Paris và tỉnh nhỏ, triển khai các
chủ đề chính trị và xã hội: Quan năm Chabert (Le colonel
Chabert), Ferragus, Cô gái mắt vàng (La fille aux yeux
d’or), Thầy thuốc thôn quê (Le médecin de campagne), Eugénie
Grandet v.v... Năm 1838, ông đến Sardegna ở Ý định tìm mỏ bạc thời cổ.
Trong thời gian này, ông viết César Birotteau, Cô gái già (La vieille fille), phần đầu tác phẩm nổi tiếng Vỡ mộng (Illusions perdues) hoàn thành vào năm 1843. Các tác phẩm lớn cuối cùng của ông là Người chị em họ Bette (La cousine Bette, 1846) và Người anh em họ Pons (Le cousin Pons, 1847). Sau đó, sức khỏe và sáng tác của ông xuống dần.
Trong thời gian này, ông viết César Birotteau, Cô gái già (La vieille fille), phần đầu tác phẩm nổi tiếng Vỡ mộng (Illusions perdues) hoàn thành vào năm 1843. Các tác phẩm lớn cuối cùng của ông là Người chị em họ Bette (La cousine Bette, 1846) và Người anh em họ Pons (Le cousin Pons, 1847). Sau đó, sức khỏe và sáng tác của ông xuống dần.
Từ sinh thời đến nay, Balzac được ngưỡng mộ như một thiên tài
có sức sáng tạo lớn. Ông là nhà văn sáng lập và là đại diện tiêu biểu cho chủ
nghĩa hiện thực phê phán với quan niệm: hoàn cảnh xã hội tạo ra con người, và
con người ảnh hưởng lại đến xã hội, xã hội tiến hóa theo quy luật. Thế giới
quan của ông chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Một mặt, ông tin tưởng là trật tự xã hội
tư bản chủ nghĩa nhất định thắng; nhưng mặt khác, ông không tán thành hẳn nó,
không tin vào thắng lợi lâu dài của nó. Toàn bộ tác phẩm của ông là một bản tố
cáo sâu sắc xã hội tư bản Pháp, ông miêu tả số phận con người thuộc các tầng lớp
xã hội khi giai cấp tư sản Pháp đang vươn lên, nhất là từ 1789 đến 1848; đồng
thời, ông lại lý tưởng hóa nhân vật quý tộc, và do cái nhìn bi quan, có những
tư tưởng bảo thủ không tưởng, đề cao tôn giáo. Dù sao, ông cũng vẫn là nhà văn
hiện thực lớn nhất của Pháp, một trong số nhà văn hiện thực lớn của thế giới,
có một sự hiểu biết sâu rộng về con người và xã hội, có ảnh hưởng lớn đến văn học
Pháp và thế giới.
Sau đây là một số tư duy của Balzac:
+ Ngẫu nhiên là nhà viết tiểu thuyết vĩ đại nhất thế giới: muốn
được phong phú, chỉ cần nghiên cứu ngẫu nhiên.
+ Sự đam mê đánh dấu nhân loại. Không có đam mê, tôn giáo, lịch
sử, tiểu thuyết, nghệ thuật sẽ trở thành vô dụng.
+ Biết được sự tàn ác của những con người duyên dáng ấy mà sự
đam mê tăng cường bốc lên, thì ta phải thấy các bà, các cô quan hệ với nhau như
thế nào.
+ Niềm vui chỉ có thể nảy nở giữa những người đồng cảm.
+ Tình yêu chân thật của người phụ nữ bắt đầu bằng họ cho là
cái gì của người yêu cũng tốt đẹp.
+ Không có gì vụng về hơn khi đức ông chồng ca ngợi đức hạnh
phu nhân của mình với tình nhân, hoặc với vợ về cái đẹp của tình nhân.
+ Lòng biết ơn là một món nợ mà con cái luôn luôn không chịu
nhận.
+ Người già dễ dàng có khuynh hướng để lại những nỗi buồn của
mình cho tương lai những người trẻ.
+ Đối với tình cảm thì lý tính luôn luôn tỏ ra ti tiện; lý
tính thì hiển nhiên là hẹp hòi, như trong lĩnh vực cái gì là tích cực, còn tình
cảm thì vô biên; lý luận khi mà cần đến cảm xúc, đó là bản chất của những tâm hồn
nhỏ nhen.
Cảo thơm lần giở: Epicurus nghĩ gì?
“Tự cung thanh đạm tinh thần sảng
Tố sự thung dung nhật nguyệt trường”
(Sống đạm bạc, tinh thần sảng khoái
Ung dung làm việc tháng ngày dài)
Hai câu thơ này của Hồ Chí Minh khiến ta liên tưởng đến triết
gia cổ Hy Lạp Epicurus (341-270 trước Công nguyên).
Epicurus được coi là tổ sư của triết học hưởng lạc. Người ta
hiểu nhầm chủ nghĩa Epicurus là chủ trương tìm cái khoái lạc vật chất, tầm thường,
trác táng. Thực chất, chủ nghĩa Epicurus là tìm cái vui thú thanh cao của tinh
thần.
Môn Luân lý học cho là có hai khuynh hướng làm động
cơ cho hành động của con người: hạnh phúc và đạo đức. Mỗi khuynh hướng đều có
nhiều trường phái. Theo khuynh hướng thứ nhất, con người sinh ra cốt tìm hạnh
phúc: đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng này là chủ nghĩa Epicurus, khác với
chủ nghĩa khoái lạc (Hedonism) tìm vui thú vật chất. Khuynh hướng thứ hai cho
là con người có mục tiêu là thực hiện đạo đức (đại diện tiêu biểu là triết gia
Đức Kant).
Tư tưởng Epicurus khơi nguồn cho nhiều dòng tư tưởng hiện đại.
Epicurus thường đàm đạo với bạn bè và đồ đệ trong một khu vườn. Phát triển tư
tưởng của Epicurus, nhà văn hóa Pháp A. France, giải thưởng Nobel, đã viết tác
phẩm Le jardin d’Épicure, có thể dịch là Lạc viên, được tái bản năm
2004 tại Paris.
Epicurus là nhà triết học duy vật và vô thần Hy Lạp. Ông có
tư tưởng tiên tiến. Theo ông, cảm giác là cơ sở của nhận thức; vật thể phóng ra
những làn sóng thâm nhập vào các khí quan, tạo thành hình ảnh của vật thể. Ông
phủ nhận sự can thiệp của thần linh vào cuộc đời. Ông lấy tính chất tồn tại
vĩnh viễn của vật chất có vận động nội tại làm điểm xuất phát. Ông đã phát triển
thuyết nguyên tử của Democritus. Ông nêu ra những giả thiết thiên tài sau này
được khoa học xác nhận. Ông quan niệm: mục đích của triết học là hạnh phúc. Học
thuyết được P. Gassendi, triết gia và nhà vật lý học Pháp, phục hồi vào thế kỷ
17 và có ảnh hưởng đến thuyết luân lý vị lợi Anh (Bentham, Stuart Mill).
Dưới đây là một số tư tưởng của Epicurus:
- Người có tâm hồn bình thản không làm phiền bản thân và người
khác.
- Thói quen sinh hoạt bình dị khiến con người có tính quả quyết.
- Lòng tôi vui thích khi có bánh mì và nước uống.
- Trong cuộc đời, đừng làm điều gì mà ngươi sợ người láng giềng
biết.
- Sự vui thích khởi đầu và kết thúc cuộc sống trần gian.
- Ai không cần đến của cải thì mới xứng đáng được hưởng của cải.
- Nếu ta mỉm cười, thì nửa phần cho bộ mặt của ta, nửa phần
cho bộ mặt người khác. Hòa bình là một cái cười mỉm.
- Chẳng cần phải biến trần gian thành một thiên đường. Trần
gian đã là một thiên đường rồi. Ta cần thích nghi với trái đất để mà sống.
- Ai không biết hài lòng với cái ít thì không bao giờ hài
lòng với bất kỳ thứ gì.
- Hãy tập nghĩ rằng cái chết đối với chúng ta chẳng có gì
quan trọng.
- Mỗi chúng ta rời cuộc sống với cảm giác là mình vừa được
sinh ra.
- Chúng ta không thể hòa hợp với chính bản thân mình nếu như
không hiểu rõ bản thân.
- Đôi khi chính nỗi lo sợ chết lại đẩy người ta vào cái chết.
- Khi ta ước muốn điều gì, ta phải tự đặt câu hỏi này: ta được
cái gì nếu ta không thỏa mãn ước muốn ấy?
- Cho bao giờ cũng thoải mái hơn là nhận.
- Cần phải cố gắng có hạnh phúc, dù chỉ để làm gương cho người
khác.
- Cần phải quan sát cái dễ chịu và cái khó chịu, không có sự
lựa chọn suông chỉ để mà quan sát.
Nếu tôi nhớ không nhầm, thì có hai nhà văn được giải Nobel đã tự tử: Kawabata -
nhà văn Nhật Bản tự tử năm 73 tuổi; Hemingway - nhà văn Mỹ tự tử năm 62 tuổi,
sau cuộc đời lãng mạn phiêu lưu, tìm nguy hiểm để tự thử thách mình.
Hemingway đã tự tử bằng súng trường.
Ông không học đại học, bản thân tự học là chính. Ông tình
nguyện đi làm cứu thương trên mặt trận Ý vào năm 1917 và bị thương nặng. Ông
qua nhiều nước, đặc biệt ở Pháp, làm thông tín viên báo chí. Cuốn Mặt trời
vẫn mọc (1926), tiểu thuyết đầu tay của ông khi vừa xuất bản lập tức trở
thành một hiện tượng trên văn đàn. Bằng bút pháp hiện thực, ông miêu tả cuộc sống
không nội dung, không mục đích trước và sau thế chiến I của nhóm nhà văn Mỹ sống
lưu vong ở Paris. Giã từ vũ khí (1929) là một tiểu thuyết chống chiến
tranh, nêu lên tính vô nhân đạo của chủ nghĩa quân phiệt. Chuyện kể về một sĩ
quan trẻ bị thương, đào ngũ, trốn đi cùng người yêu là nữ cứu thương, nhưng người
yêu chết. Chính chiến tranh là thủ phạm phá hoại hạnh phúc. Hemingway tiêu biểu
cho thế hệ bị mất (lost generation) của một số nhà văn Mỹ vào những năm 1920, mất
hết lý tưởng và tin tưởng, lạc lõng và lạc loài.
Trong 10 năm, 1929-1939, Hemingway say mê xem đấu bò tót ở
Tây Ban Nha để viết Chết vào buổi chiều (1932), săn thú rừng ở châu
Phi (Những ngọn đồi xanh châu Phi, 1935), câu cá ở biển Caribe. Ông cho săn bắn
và đấu bò là một cuộc thử thách và phương tiện để tìm hiểu cái chết. Ông làm
phóng viên mặt trận trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha (1936), ca ngợi nhân dân
anh hùng trong cuốn Chuông nguyện hồn ai (1940) và vở kịch phản
gián Đội quân thứ năm (1938). Cuốn tiểu thuyết ngắn Có và không
có (1937) nêu một cảnh chua chát của thời kinh tế khủng hoảng, phê phán xã
hội, nói lên nỗi băn khoăn của tác giả. Ngay từ Đại hội thứ hai của các nhà văn
Mỹ, ông đã lần đầu tiên công khai công kích chủ nghĩa phát xít. Trong thế chiến
II, ông làm thông tín viên mặt trận ở Anh và Pháp, theo du kích vào giải phóng
Paris. Bên kia sông và trong rừng cây (1950) kể lại tình yêu và cái
chết của một viên tướng bị giáng xuống cấp tá ngay sau chiến tranh. Truyện ngắn Ông
già và biển cả (1952) ca ngợi con người chiến thắng thiên nhiên, đó là một
tác phẩm nổi tiếng thế giới. Từ nỗi buồn của “thế hệ bị mất”, Hemingway đã chuyển
biến, ca ngợi sức mạnh tinh thần của con người đương đầu với thiên nhiên trong
cuộc vật lộn cô đơn mà ác liệt.
Là con người của hành động, Hemingway viết văn kiểu “điện
tín”, ngắn gọn, chính xác, giản dị, đóng góp nhiều vào văn phong hiện đại.
Chuông nguyện hồn ai, tiểu thuyết ra đời năm 1940, phản ánh
tâm hồn người trí thức những năm 1930, nhu cầu dấn thân của họ cho một lý tưởng,
ngược với thái độ chán chường, thất vọng trong những năm 1920 của chính
Hemingway. Cuốn tiểu thuyết này mang phong cách không khô khan như ông thường
viết mà đầy chất trữ tình lãng mạn, thể hiện thân phận của con người trong trò
chơi của tình yêu và cái chết. Bối cảnh câu chuyện là cuộc nội chiến Tây Ban
Nha (1936-1939). Robert Jordan, một giáo sư đại học Mỹ có lý tưởng sang Tây Ban
Nha để đứng về phía Cộng hòa chiến đấu. Nhiệm vụ của anh là phá sập một cây cầu
chiến lược. Anh gia nhập đội du kích do Pablo và vợ là Pilar chỉ huy. Pilar, một
nữ nông dân cương nghị, là hiện thân của nước Tây Ban Nha và ý chí tự do.
Jordan yêu cô Maria, cô du kích đã từng bị bọn phát xít cưỡng hiếp. Trong ba
ngày chung sống, mặc dù thần chết kề bên họ, hai người yêu nhau nồng nhiệt,
quên cả thời gian và chiến tranh. Bọn phát xít dẹp tan đội du kích bên cầu,
Jordan biết là dù làm nổ cây cầu lúc này cũng là vô ích, nhưng bộ tổng tham mưu
đã quyết định, anh vẫn thi hành mệnh lệnh. Cầu bị sập nhưng anh bị gãy một
chân. Anh lệnh cho mọi người rút lui, mình anh ở lại rìa rừng, đợi địch. Tuy muốn
sống, nhưng anh chấp nhận cái chết. Cuốn tiểu thuyết Chuông nguyện hồn
ai có thể coi là một tác phẩm “chuộc lỗi”, sám hối của tác giả, chuyển
sang con đường dấn thân, ngược với giai đoạn trước mà ông sống, sống như người
vô trách nhiệm với xã hội. Những nhân vật trong tác phẩm có tính cách giống như
bản thân ông từng giai đoạn, thường bị ám ảnh bởi cặp biện chứng “sợ hãi - can
đảm” hay “cứng rắn - yếu mềm”.
Sau đây xin trích dẫn một số câu thể hiện tư duy của
Hemingway:
- Cái hợp luân lý là cái mà về sau ta thấy là tốt, còn cái vô
luân là cái mà về sau ta thấy là xấu.
- Liều thuốc bách bệnh của một quốc gia cai trị tồi là lạm
phát, liều thứ hai là chiến tranh. Cả hai liều thuốc cũng đều mang lại một sự
thịnh vượng nhất thời. Cả hai đều mang lại một sự tàn phá vĩnh viễn. Cả hai đều
là nơi ẩn nấp của bọn cơ hội chính trị và kinh tế.
- Minh triết của người già là một sai lầm lớn. Không phải các
cụ đã trở nên minh triết hơn, mà các cụ chỉ trở nên thận trọng hơn.
- Khi thất bại, người ta trở thành con chiên đạo Thiên Chúa.
- Nếu bạn có may mắn tuổi trẻ sống ở Paris, rồi từ sau đó đi
bất cứ nơi nào cho đến khi chết, thì điều đó sẽ mãi mãi ở lại trong tâm trí bạn,
vì Paris là một địa điểm hội hè.
- Mèo có tính lương thiện tuyệt đối: con người vì lý do này
hay lý do khác che giấu cảm xúc của mình. Mèo thì không.
- Cái chết chỉ xấu xa khi nó kéo dài và nó gây đau đớn đến mức
mình tự cảm thấy bị sỉ nhục.
- Anh nhìn bao quát mặt bể và thấy sự cô đơn không bờ bến của
mình.
- Chúng ta phải làm quen với điều này: ở những ngã ba đường
quan trọng nhất trong cuộc đời chúng ta thì không có biển chỉ đường.
- Điều viết ra duy nhất có giá trị là cái mà ta tạo ra… Chính
cái đó lại làm ra hiện thực.
- Người ta đã nghe quá nhiều những truyện tàn ác cho nên
không cảm xúc bởi những truyện có thật.
- Không nên nhận xét một người dựa vào những mối quan hệ của
người ấy. Ta đừng quên là tên Judas (phản bội Jesus) đã có những người bạn rất
tốt.
- Dù một cuộc chiến tranh là cần thiết hay chính nghĩa, không
bao giờ nên coi chiến tranh không là một tội ác.
- Tôi thích lắng nghe. Điều đó khiến tôi học được rất nhiều.
Rất nhiều người không bao giờ chịu lắng tai nghe.
Cảo thơm lần giở “Picasso nghĩ gì?”
Khi chàng trai Việt Nam Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc) đặt
chân lên đất Pháp năm 21 tuổi thì họa sĩ Tây Ban Nha 30 tuổi Picasso đã nổi
danh ở Paris do lập ra phái lập thể (cubisme).
Sau đó, hai tâm hồn yêu tự do ấy đã gặp nhau trên đất Pháp để
rồi lại xa nhau.
Năm 1946, đi dự hội nghị Fontainebleau ở Pháp, Hồ Chí Minh
(Nguyễn Ái Quốc) đã có dịp gặp lại “nghệ sĩ hiện đại danh tiếng nhất” ấy sau 35
năm xa cách; hai bên đều đã trên dưới lục tuần. Ông Vũ Đình Huỳnh, bí thư của
Chủ tịch Hồ Chí Minh, có kể lại cho nhà văn Sơn Tùng cuộc gặp của đôi bạn như
sau:
“Một hôm, Bác gọi tôi đến, nói:
- Chú thay bộ quân phục “cô lô nhần” (colonel = quan năm)
này, mặc thường phục đi với tôi ngay bây giờ.
Lúc lên xe đi được một quãng sang biên giới quận 8, gần Khải
hoàn môn, Bác mới nói:
- Hôm nay chúng mình đến thăm nhà danh họa Picasso.
Tôi ngạc nhiên:
- Bác cũng quen họa sĩ Picasso à?
- Giả sử không quen biết từ trước thì đến thủ đô Paris này
chúng ta vẫn phải đến chào một con người sáng tạo hội họa khó hiểu, mà nghệ thuật
của tranh ông lại làm say lòng người.
Bác Hồ đến không báo trước. Lúc người giúp việc Picasso đưa
Bác đến gần cửa, Picasso đã nhận ra Bác. Ông vội chạy tới:
- Chào anh Nguyễn!
Hai người ôm chầm lấy nhau. Rồi Picasso lùi lại một bước ngắm
Bác:
- Anh già chóng quá, nhưng đôi mắt vẫn trẻ và như sáng hơn thời
chúng ta gặp nhau ở trụ sở nhóm Clarté (Ánh sáng).
Picasso đưa Bác đi xem phòng tranh của ông, Bác đi qua từng bức
tranh, im lặng tuyệt đối. Tôi thấy sự xúc động hiện rõ trên gương mặt trầm tư của
Người. Lúc trở vào phòng trà, Picasso hỏi Bác:
- Anh cho tôi một lời khuyên.
Bác nói:
- Chúng tôi đến chiêm ngưỡng nghệ thuật của anh. Mọi lời bình
tranh của Picasso chỉ là nét viền quanh cái khung của bức tranh. Anh miễn cho
tôi, một người không am hiểu nghệ thuật hội họa cho lắm!
Picasso cười thoải mái, giọng vui hẳn lên:
- Tôi còn nhớ bức tranh anh vẽ trên báo Le Paria (Người
Cùng Khổ), anh ký Nguyễn Ái Quốc bằng chữ Tàu và lời chú bức tranh: “Xe
xích sắt một ngày kia sẽ thay những con lạc đà, nhưng chúng vẫn còn khá nhiều”.
Bằng chứng ư? Ngày ấy tôi nói với Henri Barbusse: “Chỉ mấy nét vẽ này ta
đã thấy một tư tưởng, một tâm hồn đẹp tàng ẩn bên trong”. Nếu như anh tiếp
tục con đường hội họa, thì biết đâu đấy, cũng có thể sẽ có một Nguyễn Ái Quốc họa
sĩ. Nhưng hôm nay, anh Nguyễn đã là Hồ Chủ tịch, người đi hàng đầu cuộc đấu
tranh cho độc lập tự do của dân tộc mình và của các dân tộc bị áp bức khác.
Ông mời Bác uống nước, ông phác mấy nét chân dung Chủ tịch Hồ
Chí Minh. Nhưng ông cất vào cặp giấy vẽ, đến lúc tiễn Bác ra cửa, ông mới trao
tay cho Bác.
Sau đó, Bác giao lại cho tôi. Tôi giữ suốt thời kỳ ở thủ đô
cho tới lúc kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Đó là một di sản quý về Bác, tôi
có ý định khi có Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh thì trao lại… rồi tôi bị vướng vào
cái vụ xét lại (…). Không rõ ai đã thu mất bức họa ấy…” (Tạp chí Văn Nghệ
Quân Đội, tháng 5-1990).
Trở lại Picasso.
Đất lành chim đậu. Picasso thành danh cơ bản ắt không phải nhờ
Paris. Nhưng chắc chắn là không khí nghệ thuật Paris và nước Pháp đóng góp không
ít vào sự phát triển nghệ thuật của ông.
Picasso được coi là họa sĩ có ảnh hưởng nhất thế kỷ XX, người
đã làm cuộc cách mạng mỹ học quan trọng nhất từ thời kỳ Phục hưng. Tài năng đa
dạng của ông được thể hiện qua nhiều thể loại (họa, đồ họa, điêu khắc, đồ gốm,
trang trí sân khấu) và nhiều giai đoạn; giai đoạn xanh lơ (vẽ những người cơ cực),
giai đoạn hồng (vẽ diễn viên nhào lộn, trẻ con…), giai đoạn báo hiệu lập thể
sau khi nghiên cứu Cézanne và nghệ thuật da đen (bức tranh Gái thanh lâu
đường Avignon), giai đoạn lập thể… Bức Guernica nổi tiếng tố cáo chiến
tranh khi không quân Đức quốc xã ném bom thành phố Guernica trong cuộc nội chiến
Tây Ban Nha (1937).
Sau đây là một số suy nghĩ của Picasso:
+ Tôi không thể sống thiếu tình yêu được. Nếu không còn có một
con người nào nữa, tôi sẽ có thể yêu một cái cây, một quả đấm cửa.
+ Không ai có thể để tâm theo dõi một người, mắt chằm chằm
nhìn xuống đất, hòng tìm xem vận may có đặt một chiếc ví trên đường đi không.
+ Nghệ thuật là một sự dối trá khiến cho ta có thể tìm ra sự
thật.
+ Thanh niên là thời người ta ngụy trang, người ta che giấu
cá tính. Đó là thời kỳ dối trá một cách chân thật.
+ Tôi bao giờ cũng thử làm cái tôi không biết làm. Và như vậy,
tôi hy vọng học được làm cái đó.
+ Hoạt động nghệ thuật thực sự nằm trong lao động của cả một
cuộc đời.
+ Hành động sáng tác nào bao giờ bắt đầu cũng là một hành động
phá hủy.
+ Tôi đưa vào những bức họa của tôi tất cả những gì tôi
thích, không cần tính đến các sự việc, chúng cứ tự thu xếp với nhau.
+ Nếu chỉ có một hiện thực duy nhất thì người ta không thể vẽ
hàng trăm bức họa về cùng một đề tài.
+ Nghệ thuật hội họa sinh ra không phải để trang trí nhà cửa.
+ Trong nghệ thuật không có dĩ vãng và tương lai.
+ Cần phải cho thấy được nhiều bức họa đằng sau một bức.
+ Ai và cái gì nhìn mặt người đúng nhất? Nhà nhiếp ảnh, cái
gương hay họa sĩ?
+ Do tuổi cao nên phải ngừng lại, nhưng vẫn còn lại cái thèm
hút thuốc. Điều ấy cũng như làm tình: người ta đã ngừng nhưng vẫn thèm.
+ Tất cả những hình ảnh thiên nhiên mà chúng ta có được đều
nhờ vào các họa sĩ.
+ Cần vẽ cái gì trên mặt con người? Vẽ những gì ở trên mặt?
Hay vẽ cái gì ẩn giấu sau bộ mặt?









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét