Phùng Văn Tửu - Nghĩ về chủ nghĩa
hậu hiện đại trong văn học
GS Phùng Văn Tửu, một chuyên gia suốt đời nghiên cứu chuyên
sâu về văn học phương Tây. Ông đã có hàng mấy chục giáo trình, công trình
nghiên cứu về những vấn đề của văn học phương Tây, như: Lui Aragông (1987); Tiểu
thuyết Pháp hiện đại, những tìm tòi đổi mới (1990); Danh nhân, dưới dạng tiểu
thuyết hóa: Jean-Jacques Rousseau (1978, tái bản 1996); Cảm thụ và giảng dạy
văn học nước ngoài (2002, tái bản 2008); Tiểu thuyết trên đường đổi mới nghệ
thuật (2010)…
Ông đã được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học - nghệ thuật.
Gần đây, ở ta, đôi lúc rộ lên vấn đề chủ nghĩa hậu hiện đại trong lý luận và cả
trong sáng tác. Hồn Việt đã phỏng vấn GS Phùng Văn Tửu về vấn đề này. Do khuôn
khổ tờ báo có hạn, chúng tôi không thể đăng hết những ý kiến sâu sắc của giáo
sư. Nhưng thiết tưởng chừng ấy cũng đủ cho độc giả tiếp cận bản chất vấn đề.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
* HỒN VIỆT: - Xin ông cho độc giả Hồn Việt biết
ý kiến của mình về chủ nghĩa hậu hiện đại là vấn đề có tính thời sự trong văn học
nghệ thuật hiện nay, một vấn đề khó, còn khá mơ hồ và có những cách hiểu khác
nhau…
- GS PHÙNG VĂN TỬU: - Vâng, đây là một vấn đề khó, tôi
chỉ xin nêu ý kiến của riêng mình, đúng hay sai tùy mỗi người phán xét. Nhưng
tôi không nghĩ đây là vấn đề còn có tính thời sự. Mở đầu bài Chủ nghĩa hậu
hiện đại và vai trò của tư duy đăng trên tạp chí Nghiên cứu Văn học cuối
năm ngoái, tôi đã viết: “Đến bây giờ mà còn đem ra bàn về chủ nghĩa hậu hiện đại
trong văn chương chắc không khỏi bị thiên hạ chê cười là lỗi thời, là tát nước
theo mưa”.
* Tại sao có thể nói hiện nay bàn về chủ nghĩa hậu hiện đại lại
có thể bị chê cười là “lỗi thời”, là “tát nước theo mưa”, thưa ông?
- Có người cho rằng trào lưu chủ nghĩa hậu hiện đại ở phương
Tây “đã cáo chung” từ năm 2012, thực ra sớm hơn rất nhiều. Tại các nước Âu Mỹ,
chẳng mấy ai còn xem trào lưu này là một hiện tượng thời sự hấp dẫn. Cụm từ “chủ
nghĩa hậu hiện đại đã chết” xuất hiện ngày càng nhiều: Alan Kirby, người Mỹ,
đăng bài Cái chết của chủ nghĩa hậu hiện đại và xa hơn” (The
Death of Postmodernism and Beyond) trên tạp chí Philosophy Now số 58
năm 2006; Edward Docx, người Anh, tác giả bài Chủ nghĩa hậu hiện đại chết
rồi (Postmodernism is dead) trên tạp chí Prospect Magazine ngày
20-7-2011. Đấy chỉ là mấy trường hợp tiêu biểu. Có ý kiến nhận định trào lưu ấy
lụi tàn vào khoảng năm 2000, có người đẩy lên sớm hơn vào năm 1990.
- Có chứ. Bàn đến nó như một hiện tượng lịch sử, như ngày nay
ta vẫn có thể nghiên cứu về các trào lưu văn học trong quá khứ từ điểm nhìn mới
của chúng ta, góp tiếng nói để làm sáng tỏ thêm bản chất, những ưu điểm, nhược
điểm, chứ không phải chỉ để tán dương như một cái gì hết sức mới mẻ. Công bằng
mà nói, trong mấy năm sôi động vừa qua, cũng có những bài viết vừa chỉ ra cái mới,
vừa nêu lên những mặt hạn chế của chủ nghĩa hậu hiện đại, chẳng hạn Chủ
nghĩa hậu hiện đại hay là hiện tượng chồng chéo khái niệm (tạp chí Văn
học Nước ngoài, số 3/2002), Hiệu ứng cảnh tỉnh của ngụy tạo văn hóa - khoa học
(báo Văn nghệ, 22-5-2010) của Nguyễn Văn Dân, Sự kiện Sokal với mặt
trái của lý thuyết hậu hiện đại (báo Văn nghệ, 17-4-2010) của Phương
Lựu v.v…
* Nhưng dù thế nào thì “chủ nghĩa hậu hiện đại” cũng đã nghiễm
nhiên tồn tại trong lịch sử văn học như một trào lưu…
- Đúng thế, và hoàn toàn chính đáng cho rằng phải hiểu khái
niệm “chủ nghĩa hậu hiện đại” theo phạm trù quy ước. Lịch sử chia thành ba thời
kỳ tiền hiện đại, hiện đại và hậu hiện đại. Ở châu Âu, thời kỳ hiện đại mở ra với
phong trào Phục hưng giã biệt đêm trường Trung cổ (có người lấy mốc giữa thế kỷ
XVIII khi “cái tôi” được khẳng định) và kéo dài đến giữa thế kỷ XX. Nhưng đấy
là châu Âu chứ chẳng phải Bắc Mỹ; Hợp chủng quốc Hoa Kỳ mãi đến năm 1772 mới
thành lập. Vận dụng công thức đó để xác định thời kỳ hiện đại ở Việt Nam cũng
khiên cưỡng chẳng kém.
Mặt khác, ở Việt Nam những năm vừa qua, người ta thường nói
“văn học hậu hiện đại” theo nghĩa trào lưu văn học hậu hiện đại chủ nghĩa;
trong trường hợp này thuật ngữ “hậu hiện đại” không hoàn toàn chỉ tính chất thời
gian. Cách dùng thuật ngữ ấy gần với Pháp: ta thường gặp cụm từ “littérature
postmoderne” chứ ít khi “littérature postmoderniste”, trong khi ở Mỹ cụm từ
“postmodernist literature” được dùng phổ biến.
* Vậy đứng ở góc độ ấy mà xét thì đâu là mối liên quan giữa
chủ nghĩa hậu hiện đại và chủ nghĩa hiện đại, ý kiến ông thế nào vì hình như
trong giới nghiên cứu có nhiều cách hiểu khác nhau?
- Giải quyết vấn đề khó khăn này là chạm tới đặc trưng cơ bản
của chủ nghĩa hậu hiện đại. Cho đến nay, cuộc tranh luận trên thế giới vẫn chưa
ngã ngũ khi xác định chủ nghĩa hậu hiện đại. Theo tổng kết của Nguyễn Văn Dân,
có ba cách hiểu chính: hoặc cho rằng chủ nghĩa hậu hiện đại là đỉnh cao của chủ
nghĩa hiện đại (quan điểm của Lyotard, Hassan), nói một cách khác nó là “cơn kịch
phát của chủ nghĩa hiện đại”; “hay là sự nối dài của chủ nghĩa hiện đại” (quan
điểm của Robert Hughes); hoặc quan niệm chủ nghĩa hậu hiện đại như là “sự quay
trở về với truyền thống để chống lại chủ nghĩa hiện đại” (Smith, Portoghesi,
Lipovetsky...); hoặc xem “chủ nghĩa hậu hiện đại như là một sự vượt khỏi chủ
nghĩa hiện đại”, “một phong trào lai tạp mới và tương phản với chủ nghĩa hiện đại”
(Jencks, Koehler...). Trong một bài trên báo Văn nghệ, Ngô Tự Lập cũng nêu
lên ba cách hiểu về khái niệm hậu hiện đại…
Chủ nghĩa hậu hiện đại mặc nhiên gợi ta nghĩ đến chủ nghĩa hiện
đại (modernism), nên tôi xin phép được nói dài một chút về chủ nghĩa hiện đại
theo cách nghĩ ít nhiều là riêng của tôi, chưa chắc đã được mọi người tán
thành.
G. Apollinaire (1880-1918) là nhà thơ lớn, tiêu biểu cho thế
hệ nhà thơ trẻ ở Pháp những năm đầu thế kỷ XX và thời kỳ đại chiến I: “Rút cục
mi(1) chán ngấy thế giới cũ kỹ này”, “Hãy mở ra cho ta cánh cửa ta vừa
khóc vừa đập”. Ông là bạn của P. Picasso (1881-1973), họa sĩ Tây Ban Nha, sống
chủ yếu ở Pháp. Picasso đổi mới hội họa bằng chủ nghĩa lập thể. Apollinaire
cũng muốn đưa chủ nghĩa lập thể vào trong thơ. Ông không diễn tả ý mình bằng
ngôn từ lô gích theo trật tự hàng lối trước sau, mà nhiều khi các câu thơ sắp xếp
ngẫu nhiên bên cạnh nhau. Đặc biệt ý thơ được trải ra thành những hình thù trên
không gian trang giấy, như trong tập thơ Thư pháp (Calligrammes,
1918): Nỗi thất vọng và sự phản ứng của chủ nghĩa Dada (Dadaisme) thể hiện dưới
một dạng khác. Trường phái này ra đời ở Thụy Sĩ tháng 2-1916, giữa thời kỳ đại
chiến I, do Tristan Tzara (1896-1963) khởi xướng cùng với sự cộng tác của một số
nghệ sĩ và trí thức khác. Rồi phong trào chuyển dịch sang Pháp, được sự giúp đỡ
của Apollinaire, và có thêm nhiều nhà thơ trẻ tham gia như A. Breton
(1896-1966), L. Aragon (1897-1982)… Phong trào lan sang Đức với R. Huelsenbeck
(1892-1974), sang Ý với J. Evola (1898-1974), sang Hà Lan với G. Cantarelli
(1899-1950), sang Mỹ với M. Ray (1890-1976)… Dada “nổi loạn” chống lại chiến
tranh, chống lại nghệ thuật xu thời bằng thái độ phủ nhận sạch trơn, coi tất cả
đều là vô nghĩa. Ngay cái tên của trường phái “Dada” cũng chỉ là một từ ngữ nhặt
ra một cách ngẫu nhiên trong cuốn từ điển. “Đẹp là gì? Xấu là gì? To, khỏe, yếu
là gì? Carpentier, Renan, Foch là gì? Tôi chẳng biết. Tôi là gì? Tôi chẳng biết,
chẳng biết, chẳng biết”. Những dòng đó của G. Ribemont-Dessaignes (1884-1974)(2) thể
hiện sâu sắc tinh thần của chủ nghĩa Dada.
Chủ nghĩa Dada chỉ tồn tại một thời gian ngắn. Đến năm 1922,
A. Breton cùng với một số thành viên khác như L. Aragon, P. Eluard (1895-1952)
tách ra thành lập trường phái chủ nghĩa siêu thực (Surréalisme). Đây là một trường
phái khi ra đời có tuyên ngôn hẳn hoi, chứ không như nhiều trường phái khác, kể
cả chủ nghĩa hiện đại, chủ nghĩa hậu hiện đại, tên của trường phái thường do
các nhà nghiên cứu xác định về sau. Tuyên ngôn của chủ nghĩa siêu thực được nêu
lên theo kiểu định nghĩa trong từ điển: chủ nghĩa siêu thực là danh từ chỉ “Tự
động tâm linh thuần túy qua đó người ta chủ trương thể hiện, hoặc bằng lời, hoặc
bằng viết, hoặc bằng mọi cách khác, sự vận hành thực sự của tư duy. Trực tiếp bật
ra từ tư duy, chẳng hề bị sự kiểm soát nào của lý trí, chẳng có mối quan tâm
nào về mỹ học hoặc đạo đức”.
Nổi loạn chống lại xã hội bất như ý chỉ bằng cách hướng tác
phẩm vào những tìm tòi đổi mới nghệ thuật gây sốc, phủ nhận sạch trơn trừ niềm
tin vào TƯ DUY và cuộc đời. Nếu xem đấy là những đặc trưng cơ bản của trào lưu
chủ nghĩa hiện đại đầu thế kỷ XX ở phương Tây, thì thuật ngữ ấy chưa chắc đã
hoàn toàn phù hợp với văn học Mỹ, văn học Mỹ Latinh… thời gian đó. Mặt khác, những
đặc trưng ấy có thể là cơ sở để ta xác định chủ nghĩa hậu hiện đại xuất hiện mấy
chục năm về sau.
* Chúng tôi đang chờ đợi sự phân biệt của ông…
- Từ sau đại chiến II, tình hình mọi mặt chính trị xã hội,
kinh tế, khoa học ở phương Tây thay đổi nhanh chóng. Nỗi khủng khiếp của mấy cuộc
đại chiến vừa qua đi, nhưng cuộc chiến tranh lạnh giữa hai khối đối địch tư sản
và cộng sản, bóng ma của những cuộc chiến tranh hủy diệt bằng vũ khí hạt nhân vẫn
còn treo lơ lửng trên đầu nhân loại khiến người ta lo lắng sẽ đến lúc cả loài
người và trái đất này không còn tồn tại. Khoảng cách giữa giàu và nghèo ngày
càng gia tăng theo với những bất công xã hội, tuy của cải vật chất nhờ khoa học,
công nghệ, sản xuất ra ngày càng nhiều. Cuộc nổi dậy của sinh viên Pháp tháng
5-1968 tuy không dẫn đến đâu, nhưng là dấu hiệu tiêu biểu sức phản kháng vẫn
luôn luôn âm ỉ của quần chúng.
Chưa bao giờ một bộ phận khá đông trí thức ở phương Tây lại bị
khủng hoảng niềm tin như lúc này. Hồi đầu thế kỷ, họ mất niềm tin vào nền chính
trị và văn hóa của xã hội công nghiệp tồn tại từ lâu. Không phải ngẫu nhiên sau
Cách mạng tháng Mười Nga 1917, hàng loạt đảng cộng sản được thành lập ở các nước
Âu - Mỹ, và nhiều trí thức từng tham gia chủ nghĩa Dada, chủ nghĩa siêu thực, kể
cả những nhân vật chủ chốt như Tzara, Éluard, Aragon… đã gia nhập đảng cộng sản,
hy vọng tìm thấy ở đấy niềm tin. Nhưng sang nửa sau thế kỷ XX, trước thực trạng
khó khăn, trì trệ và sự xuất hiện của chủ nghĩa xét lại ở các nước xã hội chủ
nghĩa, họ vỡ mộng, không tin vào chủ nghĩa tư bản, mà cũng chẳng tin vào chủ
nghĩa cộng sản. Họ cũng chẳng còn hy vọng vào sự cứu rỗi của đức tin tôn giáo
và nhớ lại từ lâu triết gia Đức F. Nietzsche (1844-1900) tuyên bố “Chúa đã chết”.
Thêm vào đó là sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật từ nửa sau thế
kỷ XX. Vô tuyến truyền hình bắt đầu xuất hiện năm 1926, và bùng nổ từ 1949. Hai
năm sau đã có ti vi màu. Chiếc máy tính gia đình đầu tiên là Apple II ra mắt
tháng 1-1977, tức là hai năm trước khi Lyotard cho in Hoàn cảnh hậu hiện đại. Từ
đây, thế giới như được thu hẹp lại, một trong những yếu tố dẫn tới xu hướng
toàn cầu hóa. Tất nhiên, những thành tựu khoa học ấy là sản phẩm đầu óc sáng tạo
của con người, là sản phẩm của TƯ DUY. Nhưng dưới góc nhìn nào đó, người ta lại
đâm hoài nghi chính ngay TƯ DUY. Bộ nhớ của nhà bác học lẫy lừng nhất cũng
không thể nào so sánh được với bộ nhớ của máy tính! Ti vi giúp cho con người
nhìn thấy, nghe thấy trực tiếp những gì diễn ra ở nơi này nơi khác; nhưng người
ta lại có thể hoài nghi đó chỉ là những “cái ảo”, những cái “thế vị” chẳng đáng
tin cậy. Mở rộng ra, họ nghi ngờ cả lịch sử, coi sách vở chỉ là những cái “thế
vị”! Niềm tin lâu nay “Tôi tư duy vậy tôi tồn tại” đến bây giờ dường như được
thay thế bằng “Tôi mua sắm vậy tôi tồn tại” (I shop therefore I am) (3)!
Sự khủng hoảng tinh thần sâu sắc kể trên là nguyên nhân sâu
xa dẫn đến sự ra đời của trào lưu chủ nghĩa hậu hiện đại. Những người mang “tâm
thế” hậu hiện đại chủ nghĩa cho rằng “chân lý” ấy là thực trạng của thời đại,
không thể nào thay đổi được. Chẳng phải là họ mất niềm tin vào cuộc đời, coi cuộc
đời là vô nghĩa, cũng chẳng phải là họ bức xúc hay bi quan; vì tin hay không
tin, hài lòng hay bất mãn, lạc quan hay bi quan… đều có gốc rễ TƯ DUY. Họ không
tin ngay chính TƯ DUY. D. Barthelme (1931-1989), nhà văn Mỹ chẳng ai phủ nhận
là tiêu biểu cho chủ nghĩa hậu hiện đại, năm 1987 có tiểu luận nhan đề độc đáo,
tạm dịch là Chẳng biết (Not-Knowing) và định nghĩa nhà văn là “kẻ chẳng
biết chuyên nghiệp” (a professional not-knower).
* Vậy theo ông, những tác phẩm nào sử dụng các biện pháp nghệ
thuật mảnh vỡ, ghép dán, hỗn độn thời gian, hỗn độn không gian, nổi đậm các yếu
tố kỳ ảo, ma quái, tình dục, trò chơi, tiểu tự sự… đều thuộc trào lưu hậu hiện
đại?
- Tôi không nghĩ thế. Dù các nhà văn hậu hiện đại đích thực
không muốn nói đến lý thuyết, đến ý thức hệ hay quan điểm xã hội chính trị thì
tôi vẫn nghĩ rằng sự khủng hoảng niềm tin đối với chính TƯ DUY là đặc trưng
phân biệt của trào lưu này. Chủ trương thay thế các đại tự sự bằng các tiểu tự
sự là biểu hiện nghệ thuật của sự khủng hoảng ấy. Kiểu không né tránh tính dục
hay đặc điểm “trò chơi” của văn chương suy cho cùng cũng là từ quan niệm đối lập
tiểu tự sự với đại tự sự mà ra.
Tách riêng từng đặc điểm nghệ thuật của chủ nghĩa hậu hiện đại
như tiểu tự sự, tính chất trò chơi, mảnh vụn, nhại, kỳ ảo, liên văn bản, ghép
dán không gian, hỗn độn thời gian… thì không phải đến trào lưu văn học này mới
sáng tạo ra. Nhưng dường như chúng được sử dụng khá đậm đặc ở văn chương hậu hiện
đại và là hệ quả tất yếu của tâm thế nghệ thuật phủ nhận TƯ DUY. Nói như thế
không có nghĩa bất cứ nhà văn nào sử dụng các biện pháp nghệ thuật ấy, dù ít dù
nhiều, đều là những người khủng hoảng niềm tin và phủ nhận TƯ DUY. Các biện
pháp nghệ thuật là sáng tạo của giới văn chương, ngày một phong phú thêm, và là
tài sản chung ai cũng có quyền sử dụng. Các tài liệu sách báo liệt kê tên nhiều
nhà văn “hậu hiện đại”: D. Barthelme, P. Auster, S. Basara, J.L. Borges, I.
Calvino, M. Cunningham, T. Pynchon, S. Rushdie, J.M.G. Le Clezio… Ở Việt Nam có
người cũng xếp tác phẩm này nọ vào trào lưu ấy. Rồi đây các nhà nghiên cứu sẽ
phân biệt ai là những nhà văn hậu hiện đại đích thực.
* Xin cảm ơn ông.
(1) Nhà thơ tự nói với mình.
(2) G. Ribemont-Dessaignes: Artichauds, 1920.
(3) Bức họa của nữ họa sĩ Mỹ Barbara Kruger.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét