Lối viết chỉ là Tự do trong một khoảnh khắc. Nhưng đó là một
trong những khoảnh khắc có ý nghĩa nhất của Lịch sử, bởi Lịch sử luôn luôn và
trước hết là một lựa chọn và những giới hạn của lựa chọn ấy.
(R.
Barthes, Độ không của lối viết)
Ngôn ngữ hoạt động như một khế ước xã hội. Văn chương
sử dụng ngôn ngữ làm chất liệu biểu đạt hiển nhiên khó thoát khỏi
những ràng buộc hay giới hạn của quy tắc, chuẩn mực đã được ấn
định từ trước. Quy tắc, chuẩn mực ấy được mệnh danh là ngữ pháp, ở
nghĩa rộng nhất là ngữ pháp ngữ nghĩa lẫn ngữ pháp âm
thanh. Nếu như văn xuôi chỉ lệ thuộc ngữ pháp ngữ nghĩa thì thơ ca
còn phải lệ thuộc cả ngữ pháp âm thanh: một hình thức ngôn từ với những
quy tắc cấu âm mang nhạc tính để dễ nghe, dễ nhớ, dễ thuộc. Nói
chung, thi ca bị cưỡng bức từ cả hai phía: một mặt, lựa chọn những
kết hợp ngữ nghĩa; mặt khác, lựa chọn những kết hợp ngữ âm trong cơ
chế lưu giữ - truyền đạt đặc thù của nó. Mọi lối viết tự do có
tính độc sáng trong một thời điểm lịch sử nào đó đều có khả năng
rơi vào đơn độc, kể cả bị loại trừ ra ngoài vòng tiếp nhận.
Thơ tự do là một vấn đề lịch sử trước khi định hình
về mặt cấu trúc. Đối với thơ Việt, dù nội sinh hay ngoại nhập, nó đều
phải chấp nhận một cuộc chơi mạo hiểm. Không giống với Thơ Mới 32 - 45, thơ tự do hiện đại xuất hiện như một sự thay đổi toàn diện hệ
hình thi pháp truyền thống. Cuộc cách mạng thi ca đầu thế kỉ trước bề
ngoài tỏ ra quyết liệt với thơ cổ, nhưng bên trong lại thỏa hiệp với
những gì đã có. Nó lấy uy lực của cái tôi được tự do giải phóng
để tống tiễn cái ta nghĩa vụ, đạo đức vào quá khứ, nhưng thực chất
chỉ nới giãn biên độ của các hình thức biểu đạt ngôn ngữ truyền
thống. Xét về mặt ngữ pháp ngữ nghĩa, Thơ Mới rút ngắn khoảng cách
giữa ngôn từ thi ca với ngôn ngữ đời sống, thứ “văn ngôn” với lối kết
hợp gián cách của Đường thi được chuyển sang thứ văn “bạch thoại” -
lối kết hợp tiếp liền qua hư từ, biểu đạt những nội dung cảm tính
mà vẫn chặt chẽ lý tính theo những khế ước ngôn ngữ tiếng Việt. Thi
thoảng có xuất hiện những kết hợp lạ, như trường hợp Xuân Diệu: “cung
nguyệt lạnh”, “rơi tàn”, “lệ ngân”, “bóng sáng”; Hàn Mặc Tử: “trăng
tái mặt”, “đêm sóng hận réo cung hằng”, “trắng như tinh”, “trắng rợn
mình”; Bích Khê: “giây trinh bạch” “hồn ngọc thạch”, “xanh xao như tờ”;
Đinh Hùng: “Trái cô sơn”, “hương phản trắc”, “cờ ma sầu địa chấn”…; và
xuất hiện đậm đặc trong trường hợp Nguyễn Xuân Sanh với nhóm Xuân
Thu nhã tập (1942): “Lẵng xuân/ bờ giũ trái xuân sa/ Đáy đĩa mùa
đi nhịp hải hà”, “Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi/ Hồn xanh ngát
chở dấu xiêm y”…nhưng rốt cuộc vẫn phải dừng lại trong những sáng
tạo đơn lẻ. Về ngữ pháp âm thanh, Thơ Mới, theo tuyên bố của Phan Khôi:
“đem ý thật có trong tâm khảm tả ra bằng những câu, có vần mà không
bị bó buộc bởi những niêm luật gì hết” (1), nhưng thực chất âm hưởng của cả
một nền thơ lớn ấy không nằm ngoài âm hưởng của thi ca truyền thống:
âm luật vẫn còn lưu luyến với Đường thi (thể thơ 5 chữ, 7 chữ) và dễ
dàng hòa nhập với giai điệu hát nói, ca dao, đồng dao… Thay đổi ngữ
pháp ngữ nghĩa xem ra có vẻ dễ hơn thay đổi ngữ pháp âm thanh. Âm
luật trở thành một thứ từ trường với hấp lực mạnh mẽ mà những
thay đổi của Thơ Mới chỉ diễn ra mang tính cục bộ. Cho nên, sau cuộc
trường chinh mười lăm năm của Thơ Mới, Nguyễn Đình Thi muốn làm một
cuộc đổi thay, đoạn tuyệt với vần, hạt nhân tưởng chừng bền vững
nhất của thể loại, nhưng cũng chỉ dùng dằng ở thế nước đôi:
"Không có vấn đề thơ tự do và thơ không tự do, thơ có vần và thơ
không có vần. Chỉ có thơ thực và thơ giả, thơ hay và thơ không hay, thơ và
không thơ (...). Thơ của một thời mới (...) chạy tung về những chân trời
mở rộng để tìm kiếm, thử sức của nó” [9]. Bài thơ Đất nước của
ông vốn không vần buộc phải sửa lại thành có vần bởi áp lực của
văn hóa quần chúng.
Đó cũng là lý do dẫn đến cái chết từ trong trứng nước những ấp ủ khát vọng tự do trong sáng tạo của nhóm Nhân văn - Giai phẩm 1956 (mà theo tôi lý do chính trị chỉ là một phần). Cuộc tìm kiếm, thử sức thơ không vần, hình thức mở màn của thơ tự do thất bại, nhưng đó là một báo hiệu: nó báo hiệu một cuộc nổi loạn phá tung mọi biên giới lãnh thổ của thi ca. Và cuộc nổi loạn triệt để nhất để có thơ gọi là tự do hôm nay thuộc nhóm Sáng tạo (1956) của Thanh Tâm Tuyền: "Nổi loạn là một hành động đòi được gia nhập đời sống: Kẻ nô lệ đòi quyền sống như những người tự do. Như thế nổi loạn là điều kiện sáng tạo” [6]. Đây là cuộc nổi loạn hiện sinh kiểu Albert Camus chống lại những phi lý của cuộc đời, đập vỡ trật tự giả tạo của lý trí. Cuộc nổi loạn này không chỉ là cuộc đập phá vần, mà còn phá bỏ cả nhịp điệu, đơn vị ngữ âm cuối cùng của luật hòa thanh trong chức năng thi ca theo nghĩa quen thuộc của thơ:
Đó cũng là lý do dẫn đến cái chết từ trong trứng nước những ấp ủ khát vọng tự do trong sáng tạo của nhóm Nhân văn - Giai phẩm 1956 (mà theo tôi lý do chính trị chỉ là một phần). Cuộc tìm kiếm, thử sức thơ không vần, hình thức mở màn của thơ tự do thất bại, nhưng đó là một báo hiệu: nó báo hiệu một cuộc nổi loạn phá tung mọi biên giới lãnh thổ của thi ca. Và cuộc nổi loạn triệt để nhất để có thơ gọi là tự do hôm nay thuộc nhóm Sáng tạo (1956) của Thanh Tâm Tuyền: "Nổi loạn là một hành động đòi được gia nhập đời sống: Kẻ nô lệ đòi quyền sống như những người tự do. Như thế nổi loạn là điều kiện sáng tạo” [6]. Đây là cuộc nổi loạn hiện sinh kiểu Albert Camus chống lại những phi lý của cuộc đời, đập vỡ trật tự giả tạo của lý trí. Cuộc nổi loạn này không chỉ là cuộc đập phá vần, mà còn phá bỏ cả nhịp điệu, đơn vị ngữ âm cuối cùng của luật hòa thanh trong chức năng thi ca theo nghĩa quen thuộc của thơ:
Tôi buồn khóc như buồn nôn
ngoài phố
nắng thủy tinh
tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ
Thanh Tâm Tuyền
Không còn cấu trúc khép kín với cú pháp chặt chẽ
của thi ca truyền thống, ở đây, từng ngữ đoạn trong diễn ngôn của thi
ca được tháo lỏng ra để mở rộng tầng tầng lớp liên tưởng, tưởng
tượng cho người đọc. Cái tôi nhất thể liền mạch của lý trí thông
thường được thay bằng một cái tôi phân mảnh: trong trạng thái hỗn mang
của cảm xúc- cảm giác: “tôi buồn khóc như buồn nôn”, “tôi buồn chết
như buồn ngủ”; trong thế phân thân đầy nghịch lý của nội tâm: “Tôi gọi
tên tôi cho đỡ nhớ”, “tôi hét tên tôi cho nguôi giận”, “tôi gào tên tôi
thảm thiết”; trong các cực đối trọng sáng - tối của không gian: “nắng
thủy tinh” - “Nước đen sâu thao thức”, “Đêm ngã xuống thì thầm tội lỗi”...;
và trong thế quyết liệt tự hủy diệt để phục sinh: “tôi thèm giết
tôi/ lời sát nhân muôn đời”, “bóp cổ tôi chết gục/ để tôi được phục
sinh”.
Thực chất cuộc nổi loạn này chỉ đóng khung trong
nhóm Sáng tạo ở miền Nam. Thơ Việt hiện đại (kể từ sau Thơ
Mới đến hết kháng chiến và cơ bản cho đến nay), đúng như nhận xét
của Phạm Xuân Nguyên, “vẫn nằm trong vòng Thơ Mới và chịu ảnh hưởng
Thơ Mới” (2), chính xác là ở phương diện cấu
trúc ngữ nghĩa và nhịp điệu. Vẫn là ngữ nghĩa logic và nhịp điệu
đều đặn, thơ kháng chiến chỉ thay vào đó cái hào khí của cuộc đấu
tranh chống ngoại xâm. Sau 1975, thơ tự do theo nghĩa phá vần, đổi nhịp
được tái sinh nhưng rất dè dặt. Một chấm xanh của Phùng
Khắc Bắc chỉ ghi dấu ấn một sự đổi mới về nội dung:
Mặt lá nhìn ngửa
Mặt người nhìn ngang
Mặt loài thú lang nhìn xuống
Khi ta nhìn lên kính ngưỡng
Khi ta cúi xuống nguyện cầu
Ta đã tạo ra mình bằng những dáng đau…
Lối thơ này vẫn chưa thoát khỏi âm hưởng thơ của Chế
Lan Viên, Trần Mạnh Hảo, Thanh Thảo… thời kháng chiến. Thay đổi nội
dung không đồng nghĩa với thay đổi cấu trúc ngữ nghĩa. Bởi vì đó
chỉ là sự thay đổi ngoại tại (trong mối quan hệ giữa thơ với hiện
thực được phản ánh) mà chưa có sự thay đổi nội tại cơ bản của hệ
thống (quan hệ các nhân tố bên trong cấu trúc tạo nên chức năng thi
ca). Có nghĩa là thi ca một thời gian dài có tạo ra một hình thái
tự do nhất định cho chính mình, nhưng chỉ là tự do biểu đạt hiện
thực hay tự do biểu đạt ý niệm mà chưa có sự tự do thật sự về
hình thái cấu trúc theo nghĩa thoát khỏi cơ chế ràng buộc của thi ca
truyền thống, kể cả cơ chế ngữ pháp của ngôn ngữ tự nhiên.
Vận luật, tôi nghĩ, không phải là rào cản của sáng
tạo mà chỉ là rào cản của cảm xúc. Bởi vì, bản thân vận luật
khởi thủy của nó cũng là sáng tạo. Cuộc đấu tranh với vận luật
của thơ ca truyền thống để có thơ tự do, xét đến cùng, là sự đòi
hỏi giải phóng triệt để sự sáng tạo đã bị thể chế hóa bởi lý trí để thay bằng quy luật nội tại của cảm xúc. Cho nên, cái gọi là
tự do của thơ tự do, xét đến cùng là cuộc tìm kiếm một luật chơi
mới cho một lối viết mới. Nhưng oái oăm cho cái nền thơ này là ở
chỗ, nó vừa là cái mốt thời thượng, nhưng lại vừa là một cái gì
chưa hoàn tất, một khế ước lâm thời chưa được thừa nhận một cách
đầy đủ, ít nhất là về phía tiếp nhận. Thơ tự do là một cuộc hủy
diệt hình thức và cũng đồng nghĩa với cuộc hủy diệt chính mình.
Người ta sẽ bảo thơ không còn là thơ nữa hay phản thơ, phi thơ gì
đó (3). Thực chất nó vẫn là thơ nhưng là
một cuộc đổi thay triệt để: nó không trật tự tề chỉnh như thơ cổ
điển, cũng không yểu điệu làm dáng như Thơ Mới, nó chấp nhận một
hình thức phi trật tự, hỗn loạn và hiển nhiên đó là thứ hình
thức phi xã hội để cá nhân hóa một cách tuyệt đối. Cần phải phân
biệt thơ tự do đích thực với hình thức giả tự do:
Người bác sĩ, sau lúc chẩn đoán
bảo tôi vừa mắc bệnh thiếu trung thực
để chữa căn bệnh này
cần phải có ánh mắt vô tư của thời trẻ tuổi…
Mấy câu gọi là thơ (4) trên kia chỉ là những câu văn
xuôi (theo nghĩa diễn xuôi một tư tưởng) được ngụy trang bằng hình
thức tách dòng của thơ. Cứ sắp xếp lại mà xem: "Người bác sĩ,
sau lúc chẩn đoán bảo tôi vừa mắc bệnh thiếu trung thực. Để chữa căn
bệnh này cần phải có ánh mắt vô tư của thời trẻ tuổi…”. Nếu chỉ là
hình thức của cái mốt trang phục thuần túy thì hình như loại thơ
này đã từng lừa ban giám khảo một cuộc thi thơ nào đó bằng cách
lấy những lời tán tỉnh trên mạng đem tách dòng tạo khổ để có một
bài thơ… được giải thơ tự do!
Thơ tự do không đồng nghĩa với tự do cho thơ. Không
phải tự do về âm luật bằng cách văn xuôi hóa thơ, cũng không phải tự
do biểu đạt hiện thực hay ý niệm bằng cách ném toàn bộ cái xô bồ
hỗn độn của sự sống, kể cả những điều cấm kỵ như sex vào thơ. Thơ
tự do được hiểu đúng nghĩa là sự giải thoát mọi ràng buộc của cái
cũ, trong đó có ràng buộc về ngữ âm hoặc ngữ nghĩa. Có nghĩa là
ngôn từ thi ca có khả năng tạo ra một hệ hình ngữ pháp âm thanh hoặc
ngữ pháp ngữ nghĩa hoàn toàn mới. Với quan niệm ấy, thành tựu đáng
kể của thơ tự do đương đại thuộc về các nhà thơ trẻ như Nguyễn Quang
Thiều, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh…Tập thơ Sự mất ngủ của lửa của
Nguyễn Quang Thiều báo hiệu những tín hiệu lạ, nó không nằm trong từ
trường âm hưởng thơ truyền thống, cũng không nằm trong logic ngữ nghĩa
thông thường nên dễ bị quy chụp là bắt chước thơ Tây, thơ dịch:
Những con rắn được thủy táng trong rượu
Linh hồn chúng bò qua miệng bình cuộn khoanh đáy chén
Bò tiếp đi… bò tiếp đi qua đôi môi bạc trắng
Có một kẻ say gào lên những khúc bụi bờ…
Cả đoạn thơ mang nặng trong nó những ám tượng nằm
ngoài những ảnh tượng của thị giác. Mạch thơ chuyển hóa nhịp điệu
của âm thanh thành nhịp điệu của hình ảnh, một thứ hình ảnh được
khơi dậy từ những ám ảnh, mê hoặc, biến hóa, đánh thức vùng mờ của
tâm linh, biến ảo cõi chết thành sự sống trong một thế giới khả
hữu, dị thường ngoài vùng kiểm soát của lý trí. Trong cái mạch thơ
biến ảo như thế, Nằm nghiêng của Phan Huyền Thư chập chờn
lớp lớp hình ảnh của tưởng tượng, trong phút chốc cái tôi ném mình
vào cõi đêm huyền ảo của thảo nguyên, tự do phiêu du trong miền hoang
tưởng:
Như ngựa non tập phi nước đại
em hí lên hân hoan trong vũ điệu
thảo nguyên
gió liếm vào gáy đêm một mùi cỏ thơm
của sương âm thầm làm giọt
Đó là miền hoang tưởng trong huyền thoại, huyền thoại
về một tình yêu nhức nhối, xa xăm trong bài ca Vết thù trên lưng
ngựa hoang, cô đơn và khắc khoải: “Em là con ngựa đau chẳng khiến tàu
thèm bỏ cỏ/ bờm rối tung vó ức chăng đầy trong màn đêm/ côn trùng rên
rỉ ngất ngây/ ngựa non em cứ liếm mãi/ vết thù trên lưng nhỏ giọt”.
Khuynh hướng tìm đến những thế giới ảo của mộng tưởng được Vi Thùy
Linh (với Linh, Khát và Đồng tử) khai thác triệt để,
ráo riết hơn để chạy trốn cái hiện thực nhạt nhẽo, vô vị và đầy
bất trắc. Hai mươi tuổi “Khỏa thân trong chăn/ Thèm chồng…” để được “mình
ôm lấy Anh ôm lấy mình” và “Biết sự bình yên của mặt đất”; mơ
một nụ hôn: “Cái lưỡi mềm của Anh nơi gan bàn chân em/ làm thế giới
hóa lỏng” để từ tình yêu tìm thấy “sự gột rửa và tái sinh”… Sắc
dục ái tình trong thơ Linh không nặng nề nhục cảm (như những cái nhìn
qua mặt nạ đạo đức) mà thăng hoa siêu thoát trong cái lẽ tự do nguyên
thủy của nó.
Thơ tự do, như thế vẫn có hạt nhân thi pháp của nó
chứ không hoàn toàn tự do tùy tiện. Không đơn giản là tự do hình
thức với lượng câu chữ dài ngắn khác nhau mà quan trọng hơn là tự do
ở chất lượng biểu đạt: một nỗ lực thoát ra khỏi cơ chế tự động
(hay thói quen) của ngôn ngữ tự nhiên và cả cơ chế tự động về âm
luật của các thể thơ truyền thống. Nó chấm dứt lối thơ tự sự và mô
tả (theo nghĩa ghi lại các hoạt động nối tiếp nhau: “Hôm qua em đi
chùa Hương…”, “Bây giờ bến mới gặp đò…” hoặc tái hiện cụ
thể một sự vật, hiện tượng được tri giác, cảm giác: “Hơn một loài
hoa đã rụng cành/ Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh…”) để tạo nên một
lối thơ trữ tình đúng nghĩa (cảm xúc bất chợt và mông lung, xa vời
và dang dở). Không lấy vần điệu làm đơn vị cấu trúc để tạo nên hình
tượng âm thanh, thơ tự do thực hiện chức năng thi ca của ngôn từ bằng
nhịp điệu của hình ảnh (các từ ngữ hoạt động trong cấu trúc liền
mạch hoặc đứt đoạn tự chúng dựng dậy chuỗi những hình ảnh song
hành hoặc tương phản, những ám tượng bình thường và đột biến, gần
gũi và bất ngờ làm nảy sinh trong đầu người xem những tư tưởng - giống như “thủ pháp Montage” của điện ảnh); ngôn từ không còn là
phương tiện biểu đạt mà trở thành chất liệu tạo hình trực tiếp (như
đường nét, màu sắc của hội họa, hình khối của điêu khắc) để thực
hiện sự tự do của mộng tưởng, sự phiêu lưu bất tận của tâm hồn.
Khi phân biệt những yếu tố bên trong và những yếu tố
bên ngoài của ngôn ngữ, F. Saussure có một gợi ý quan trọng: “Vốn là
sản phẩm của văn hóa, ngôn ngữ văn học nào cũng đều đi đến chỗ tách
rời lĩnh vực tồn tại của mình ra khỏi lĩnh vực tự nhiên, tức là
lĩnh vực của khẩu ngữ”[8, tr.63]. Gợi ý này nhắc nhở chúng ta rằng,
ngôn ngữ văn học là yếu tố bên ngoài hệ thống ngôn ngữ tự nhiên và
tự bản thân nó cố tìm cách thoát ra khỏi ngôn ngữ tự nhiên để tạo
ra một hệ thống khác mà so với văn xuôi, thơ ca sẽ đóng vai trò tiên
phong. Không tách khỏi ngôn ngữ thực dụng một cách tuyệt đối, nhưng
chức năng thi ca, chức năng thẩm mĩ chính là nét khu biệt của ngôn
ngữ thơ. Trên cơ sở ấy, R. Jakobson khẳng định: "Thơ là ngôn ngữ tự lấy
mình làm cứu cánh” [4, tr.62, 94]. Như thế, thơ chỉ được tự do thật sự
(gần như là một ảo tưởng) khi nó thoát khỏi những khế ước của ngôn
ngữ xã hội để xác lập một lãnh thổ riêng của sáng tạo cá nhân.
Từ Nguyễn Xuân Sanh và một phần ở nhóm Xuân Thu
nhã tập, ngôn ngữ thơ đã tự qui chiếu vào chính nó để tạo nên những
kết hợp tự do về ngữ nghĩa (tất nhiên chưa có dấu hiệu tự do về
ngữ âm): “Thơ không phải lúc nào cũng rõ nghĩa, vì nó không chủ động
trong địa hạt ý nghĩa; không phải lúc nào cũng sáng sủa vì nó không
vụ phát biểu cái phần sáng sủa của tâm linh, nó giữ phần sâu kín,
nó giữ phần sâu sắc; không phải lúc nào cũng theo lý luận, vì nó
chịu sức chi phối của những luật vô hình; không phải lúc nào cũng
để chỉ bảo một cái gì; vì nó không vụ ích lợi thực tế” (5). Điều này được Bùi Giáng phát huy
thành công hơn cả:
Một hôm gầu guốc gầm ghì
Hai hôm gần gũi cũng vì ba hôm
Bom ha? Đạn hả? Bao gồm
Bồm gao gạo đỏ bỏ gồm gạo đen
Trong cái cách làm thơ Ngẫu hứng này, mặc
dù khoác chiếc áo lục bát với vần luật có vẻ chặt chẽ, nhưng ngôn
từ tự thân nó lại hoạt động một cách tự do. Nhà thơ kỳ dị này
phục sinh nguồn mạch của đồng dao, dùng liên tưởng ngữ âm chống lại
áp lực của logic ngữ nghĩa, và như thế nghĩa quy chiếu hiện thực bị
nhòe đi hoặc tự biến mất, chỉ để còn lại hình thức “dấu hiệu của
một dấu hiệu” (sign of a sign) [3]. Không hẹn mà gặp, lý thuyết giải
cấu trúc của R. Barthes, J. Derrida và cả “cấu trúc ngôn ngữ vô thức”
của J. Lacan được minh chứng bằng sản phẩm của nhà thơ kỳ dị ở Việt
Nam. “Một hôm”, “hai hôm”, “ba hôm” chỉ là logic bề ngoài của những con
số đếm tự nhiên biểu đạt thời gian liên tục. Nhưng đó chỉ là thời
gian trống rỗng không sự kiện, vì nó không biểu đạt được diễn biến
tuyến tính của sự kiện. Hiện thực với tư cách là cái được
biểu đạt (signified) của ngôn ngữ không tồn tại mà chẳng qua chỉ
là cái biểu đạt (signifier) cho một cái biểu đạt khác
nữa: những từ biểu âm, dạng láy, nói lái: “gầu guốc”, “gầm ghì”,
“gần gũi”, “ba hôm - bom ha”, “bao gồm - bồm gao” vừa nối kết âm thanh - một kiểu nối kết không gian để vô nghĩa hóa thời gian - vừa tạo ra
sự nhập nhằng của ngôn ngữ vô thức. Hiện thực chiến tranh giết chóc
chỉ là cái biểu đạt (bom, đạn, gầu guốc, gầm ghì) cho cái được
biểu đạt nằm sâu bên trong tiềm thức, vô thức của con người với những
hỗn loạn nghịch lí, phi lí (gạo đỏ, gạo đen).
Trong thơ đương đại, người mở cánh cửa tự do thật sự
cho “con chữ” là nhóm Trần Dần, Hoàng Hưng, Dương Tường, Lê Đạt. Ý
thức giải phóng con chữ của nhóm nhà thơ này được hình thành từ
thời Nhân văn - Giai phẩm, nhưng sau này mới thực sự phát huy bằng
chính thực tiễn sáng tạo của họ. Trần Dần từng quan niệm “làm thơ
tức là làm chữ”. Dương Tường diễn giải cụ thể hơn: “Có lẽ điều phân
biệt giữa các bạn thơ khác và tôi là họ làm việc trên chiều biểu
nghĩa, còn tôi làm việc ngôn ngữ trên chiều năng nghĩa” (Vật
liệu thơ: không phải là con chữ mà là con âm). Lê Đạt giải minh cái
gọi là thơ “tắc tị”, “hũ nút” mà người ta thường quy cho loại thơ
này: “Nhà thơ làm chữ chủ yếu không phải bằng nghĩa tiêu dùng, nghĩa
tự vị của nó mà là ở diện mạo, âm lượng, độ vang vọng, sức gợi
cảm của chữ trong tương quan với câu thơ, bài thơ” (Bóng chữ). Nghĩa
tự vị hay nghĩa tiêu dùng xét đến cùng “chỉ là nghĩa địa của ngôn
từ” (Simon Dentith), một thứ nghĩa đã bị mài mòn trong quá trình
hành ngôn thông thường. “Con chữ” là một thứ ký hiệu, nó chỉ được
đánh thức khi biến thành “con âm” - sự sống nguyên thủy của từ (giai
đoạn tiền ngôn ngữ). Dương Tường đánh thức con âm theo nghệ thuật tự do
biến âm phi chính tả, tạo nghĩa trong cái vô nghĩa: “Nôel/ Nô-em/ Nô-elle/
leng beng/ lang beng/ ma lem/ Mariem/ x-em x-em/ hem em/ đồng trinh/ Amen” (Nôel
II). Cái trò chơi con âm này chỉ thực sự để lại ấn tượng khi Dương
Tường khéo kết hợp nó với trò chơi hình ảnh: “Những ngón tay mưa/
dương cầm trên mái/ Những ngón tay mưa/ kéo dài tai quái/ một nỗi nhớ
siêu hình/ nhạt nhòe đường xanh/ đêm lập thể” (Sérénade II). Lê Đạt
chơi trò chơi “con âm” theo cách khác: “Nắng tạnh heo mày hoa lạnh/ Mimôza
chiều khép cánh mi-môi-xa”. Phép liên tưởng gần âm xa nghĩa này (may =
mày, Mimôza = mi-môi-xa), về mặt ngữ âm, âm thanh này có khả năng tự
nó gọi ra những âm thanh khác; về mặt ngữ nghĩa, các con chữ bị
nhòe đi bởi cái bóng của chữ trước đổ sang chữ sau, bề ngoài bị
gián cách về cú pháp nhưng lại có khả năng kết hợp ngầm ẩn bên
trong: nắng tạnh, gió hơi may làm mày hoa lạnh, Mimôza chiều khép cánh
gợi nhớ mi–môi-xa. Nhà thơ làm thơ như gạch bỏ những con chữ thừa,
chữ chết để những con chữ sống cựa quậy, trở mình, đổ bóng; người
đọc thơ tự thả hồn mình trong những khoảng trống giữa các con chữ
để mơ màng thăng hoa cùng dư âm, dư ảnh của chúng: “Chiều Âu Lâu/ bóng
chữ động chân cầu”. Từ Bóng chữ đến Ngó lời, Lê Đạt
phát huy triệt để khả năng giải phóng con chữ, con âm ra khỏi những
ràng buộc cú pháp - ngữ nghĩa thông thường để chúng tự do hoạt
động.
Với Bóng chữ, Lê Đạt chủ yếu dùng thủ pháp tỉnh lược toàn bộ các phép liên kết hoặc đảo lộn cấu trúc để con chữ tự nó tạo sinh nên các ngữ đoạn khác nhau:
Với Bóng chữ, Lê Đạt chủ yếu dùng thủ pháp tỉnh lược toàn bộ các phép liên kết hoặc đảo lộn cấu trúc để con chữ tự nó tạo sinh nên các ngữ đoạn khác nhau:
Hè thon cong thân nắng cựa mình
Gió ngỏ tình
xanh nín lộc
giả làm thinh
Lẽ ra các ngữ đoạn đúng cú pháp sẽ là:
Nắng hè/ thân thon/ cựa cong mình
Gió ngỏ tình/ lộc xanh nín/ giả làm thinh
Bề ngoài, những câu thơ này không khác lối nói phi cú pháp (=
phi lý tính) của trẻ con tập nói: đi cơm ăn. Nhưng có lẽ không chỉ là vấn
đề tìm về cội nguồn ngôn ngữ vô thức mà quan trọng hơn, Lê Đạt muốn lợi
dụng tính đơn lập không biến hình của ngôn ngữ Việt để chứng minh sự
tự do co giãn, nới lỏng của con chữ trong khả năng vẫy vùng thoát ra
khỏi sự chặt chẽ của cấu trúc và tôn ti của hệ thống, từ đó hướng
vào những khả năng kết hợp và biểu nghĩa khác nhau. Ở đây không có
vị trí trung tâm để gọi là nhãn tự theo cách nhìn truyền
thống, mỗi con chữ có một trọng lượng nhất định để trở thành một
hình ảnh tương ứng với một nhịp hay một bước sóng âm thanh (nắng/
hè/ thân/ thon/ cựa/ cong/ mình…), chúng xếp hàng tưởng chừng theo
trật tự tuyến tính nhưng thực chất là đồng hiện: các từ có khả
năng kết hợp theo các chiều không gian: ngang - dọc, trên - dưới, trái - phải, thẳng - chéo… Với Ngó lời, ông triệt để sử dụng thủ pháp
tháo rời, xóa bỏ thế kiềm kẹp của các ngữ đoạn, độc lập hóa toàn
diện các con chữ để chúng hoàn toàn tự do hoạt động:
Vườn nắng mắt gió bay mùa hoa cải
Bóng lá răm ngày Phả Lại đắng cay
16 con chữ được Lê Đạt thả một cách tự do trên hai
dòng thơ để chúng hoạt động theo nhiều cách kết hợp. Theo Thụy Khuê đó
là kiểu “cấu trúc cách ly”, “có thể hoán vị giai thừa (factoriel) 16 thành
một tổng số khổng lồ những câu thơ khác nhau” [5]. Cái trò chơi này có thể
hình dung như một thứ nghệ thuật giải cấu trúc, nghệ thuật lập thể,
xổ tung các bộ phận vốn có trật tự trong một chỉnh thể (vườn hoa
cải giữa mùa nắng đốt, gió bay, và đôi mắt lá răm đắng cay nhớ những
ngày nơi Phả Lại) thành từng mảnh hình ảnh và các mảng màu hỗn
độn khác nhau chắp vá theo mạch “ngôn ngữ vô thức”. Trong thế tự do của
con chữ, chúng có quyền kết hợp và nhảy cóc sang những vị trí khác nhau tùy theo
độ chập của tưởng tượng và độ mở của liên tưởng: Vườn hoa cải - mùa hoa cải - mùa nắng gió - gió phả lại - bóng nắng râm (răm) - mắt lá răm - ngày đắng cay - hoa cải đắng - lá răm cay v.v… Ảo và thực đan xen và liên tục nảy sinh. Trục ẩn
dụ (liên tưởng) chiếm ưu thế làm cho trục hoán dụ (kết hợp) vừa bị trì hoãn
(deferment) vừa bị trượt (glissement) [7] để sinh ra chuỗi những biểu thị
bất ngờ. Ngữ nghĩa học đặt con chữ vào trong văn cảnh để xác định
nghĩa cho nó và chính cái logic cú pháp tạo nên văn cảnh ấy đã cầm
tù sự sống của từ ngữ. Thả con chữ tự do, Lê Đạt đã tạo sinh một
cú pháp mới (tức là khả năng kết hợp mới - kết hợp tự do bất quy
tắc - cái gọi là “cấu trúc cách ly” của Thụy Khuê dễ bị hiểu nhầm
là con chữ mất khả năng kết hợp), từ đó tạo nên ngữ nghĩa mới trong
tiềm năng của con chữ, hai dòng thơ hiểu thế nào cũng được, tùy theo
độ mở của liên tưởng tưởng tượng, mỗi cách kết hợp là thêm cho con
chữ những nghĩa bất ngờ. Để có được sự tự do của con chữ, Lê Đạt
phải tình nguyện làm “phu chữ”, vô tình người làm thơ trở thành kẻ
nô lệ nhọc nhằn cho con chữ và đến lượt người đọc phải làm nô lệ
nhọc nhằn cho thơ. Mọi cuộc kiếm tìm tự do cho một lối viết đều có
những giới hạn lịch sử của nó. Bởi vì lối viết nằm giữa ngôn ngữ
và văn phong, nói như R. Barthes, chỉ là sự tự do trước những hữu thể
tiền định [2]. Cuộc chơi con chữ hay con âm của loại thơ này thú vị
hay mệt mỏi, thăng hoa hay bức bối còn đang chờ thời gian trả lời.
Dù sao, thơ tự do cũng đã từng bước thống trị trên
thi đàn với nhu cầu hiện đại hóa như một tất yếu, về mặt lịch sử,
nó đã kéo dài hơn nửa thế kỷ nhưng vẫn dò dẫm từng bước phiêu lưu.
R. Barthes nói cho mọi lối viết nói chung, nhưng đúng nhất cho hành
trình của thơ đương đại: “Mọi lối viết là một cuộc thực hành thuần hóa hay
chối đẩy đối mặt với cái Hình thức - Sự vật ấy mà định mệnh buộc nhà văn phải gặp
trên đường đi của anh, anh ta phải nhìn vào đó, phải đương đầu, phải cáng đáng,
và không bao giờ có thể hủy diệt được nó mà không tự hủy diệt chính mình. Hình
thức cứ treo lơ lửng trước mặt như một sự vật; muốn kiểu gì nó cũng sinh sự: lộng
lẫy, thì nó có vẻ lỗi thời; hỗn loạn, thì nó lại phi xã hội; đặc thù trong
tương quan với thời đại hay với con người, cách gì nó cũng cứ là đơn độc” [2].
Tự do gắn liền với đơn độc. Đó là một thứ định
mệnh. Không phải ngẫu nhiên mà người ta đặt vị thần Tự do ở một
chiếc đảo, một thời gian sau mới tụ tập được quần thể cộng đồng
xung quanh mình. Người mệnh danh là nhà thơ mới nhất của phong trào
Thơ Mới, một mặt kiêu hãnh: “Lòng rộng quá chẳng chịu khung nào hết/
Chân tự do đạp phăng cả hàng rào”, nhưng mặt khác lại thấm thía sự
cô độc: “Ta là một, là riêng, là thứ nhất. Không ai bè bạn nổi cùng
ta”. Tuy nhiên, Thơ Mới ở cái đỉnh của Xuân Diệu chưa đến nỗi cô độc.
Hoài Thanh có bất lực trước hiện tượng Hàn Mặc Tử, Bích Khê và coi
như bỏ quên Xuân Thu nhã tập nhưng ít ra ông đã tạo được cái
nhịp cầu căn bản giữa Thơ Mới với bạn đọc. Còn thơ tự do đương đại
mới thực sự đơn độc và đang rất cần cái cầu nối ấy. Đáng buồn
nhất cho thơ hôm nay là, hình như… người làm thơ nhiều hơn bạn đọc thơ!
Có lẽ tất cả nằm trong một lý do, thơ hôm nay bị đẩy vào hai thái
cực: hoặc quá dễ dãi và cũ kỹ hoặc quá khó và mới lạ làm cho
người đọc cảm thấy hoặc nhàm chán hoặc bất lực trong ngưỡng tiếp
nhận của mình.
Dĩ nhiên dễ hay khó, cũ hay mới, tất cả đều chỉ là
vấn đề mang tính lịch sử và giới hạn của nhận thức. J. Derrida
khẳng định: “Trước khi là đối tượng của một lịch sử - của một khoa
học lịch sử - lối viết mở ra lĩnh vực của lịch sử - của tính
thích hợp lịch sử. Và cái trước kia bao hàm cái sau đó” [3]. Thơ tự
do hay không tự do, trong mối quan hệ gần hoặc xa, về mặt lịch sử,
xét đến cùng, đều nằm trong một quan hệ: liên văn bản (intertextuality).
Mỗi văn bản là một sự hấp thụ và chuyển thể của văn bản khác, tương đồng mà
đối lập trong thế đối thoại liên tục giữa mới và cũ.
Thơ tự do đương đại đang cần những nhà phê bình bắt
nhịp cầu với bạn đọc; tất nhiên không phải là lối phê bình khen chê
cảm tính nữa (thực chất là phê bình của ý chí quyền lực) mà
là một cách phê bình khoa học cởi mở, dân chủ thật sự để giải mã
những ẩn số trong trò ú tim tinh thần ngày một phức tạp và có vẻ
bí ẩn này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH:
1. R. Bathes (1968), Elements of Semiology. Hill and
Wang Press.
2. R. Barthes (1953), Độ không của lối viết, Nguyên
Ngọc dịch. http://www.talwas.org
3. J. Derrida (1974), Of Grammatology. John Hopkins
University Press.
4. R. Jakobson (1987), Language in Literature. The
Belknap Press of Harvard University Press, Cambridge.
5. Thụy Khuê (1997), Cấu trúc cách ly trong Ngó
lời của Lê Đạt. Sóng từ trường.
6. Thụy Khuê (1995), Cấu trúc thơ. Văn nghệ, Cali.
7. S. Ross (2002), A Very Brief Introduction to Lacan.
The University of Victoria Press.
8. F. Saussure (2005), Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, Cao Xuân Hạo dịch, Khoa học Xã hội.
8. F. Saussure (2005), Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, Cao Xuân Hạo dịch, Khoa học Xã hội.
9. Nguyễn Đình Thi (1958), “Mấy ý nghĩ về thơ”, Mấy
vấn đề văn học, Văn hóa, Hà Nội.
(2) Phạm Xuân Nguyên (1994), Suy
nghĩ đôi điều về thơ và không chỉ về thơ, Văn nghệ, số 38.
Châu Minh Hùng
Nguồn: Tạp chí Sông Hương, số 240,
tháng 02, 2009.








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét