Giấu vàng trong gió thu
Lịch sử thi ca hiện đại ít có thi sĩ nào
được như Bích Khê. Chỉ trong vòng 10 năm, dường như để bù lại những gì thưa thớt
của ngày tháng cũ, quê hương Quảng Ngãi đã tổ chức hai cuộc hội thảo lớn, tập
trung đông đảo các nhà thơ và học giả đương thời tụ hội nhân kỷ niệm 90 năm và
100 năm ngày sinh.
Bích Khê và Thơ Bích Khê như được chiếu sáng từ mọi
phía của quá khứ và hiện tại bằng sự mẫn cảm tinh tế của các nhà thơ cũng như sự
sâu sắc bất ngờ của các nhà lý luận. Vậy mà, khi gấp lại đời thơ đoản mệnh ấy,
nhìn vào khuôn mặt trẻ trung, đôi mắt thuần túy và tượng trưng, đôi mắt mà
chàng thi sĩ đã dành tới 248 câu thơ trong bài thơ Châu như để tự nói về mình.
Đôi mắt đẹp câm trong sắc tượng biến ra châu nguyên vẹn cốt
thiên đường, vẫn thấy hình như chàng đang muốn nói điều gì. Một điều đang được
chàng giấu kín trong những dòng thơ siêu thực mang hình dáng phương Tây mà lại
phả ra cái phong nhã cổ điển của thi ca phương Đông. Đôi mắt mở to. Đẹp và thật
buồn như thấp thoáng giữa những dòng Thu mê mải mà đa cảm mang tên gọi Bích
Khê. Đành xem lại Tinh Huyết, Tinh Hoa một vài lần nữa để ngẫm ngợi mà vẫn
mơ hồ chưa nhận được ra. Nghĩ vậy. Học theo cách làm Thi Thoại của người xưa,
tôi theo đợt gió mùa đầu tiên trong năm từ Bắc vào Nam mới khởi sự trước đó hai
ngày và dừng lại ở Thu Xà, quê hương Bích Khê để lan tỏa cái se lạnh muôn năm
không hiểu nổi của mùa Thu xứ Bắc. Dường như mùa Thu Hà Nội với bộ xiêm y mờ ảo
sương mù đi qua biển rộng vừa mới lên bờ vào được đến đây. Cái mảnh đất mà hơn
nửa thế kỷ trước Bích Khê đã gọi là làng cũ buồn thu quạnh, thành phố ngưng
mạch ấy mà giờ tưởng chừng nó vẫn cũ kỹ như xưa sau bao nắng mưa và ly tán
của cuộc đời này. Có khi còn cũ hơn ngày trước bởi hôm nay lê thê gió lạnh từ
biển thổi vào. Con đường ngắn Thu Xà hai bên những ngôi nhà gạch cũ thấp nhỏ với
dăm bảy hiệu tạp hóa theo kiểu bây giờ, xô lệch những khung cửa sổ nhỏ vẫn mở
nhìn ra đường từ dạo ấy chưa bao giờ khép lại. Không còn đâu dấu tích của một
thương cảng nhộn nhịp trên bến dưới thuyền. Thi sĩ Trần Dần có lần viết: Ôi!
những thành phố cố tình vắng vẻ… để khói hè. Với lịch sử của Thu Xà, khi người
Việt đầu tiên đến được đây theo đội quân của Hồ Hán Thương vào năm 1402 có thể
viết được rằng: Ôi! phố thị cố tình cũ kỹ… để tha hương. Nhà thờ họ Lê
Quang ở bên trái gần cuối con đường. Trong một ngõ nhỏ giữa vườn cây vằng lặng.
Đó là một kiểu kiến trúc theo lối cổ có hàng hiên ở trước. Chính giữa bàn thờ tổ
tiên phía trên có bức hoành phi đỏ viết 4 chữ nho vàng ẩm thủy ân nguyên.
Phía sát tường đầu đốc bên phải đặt bàn thờ có ảnh cha mẹ Bích Khê và chị Ngọc
Sương thời còn trẻ. Phía đốc nhà bên trái là bàn thờ Bích Khê. Trên tường treo ảnh
Bích Khê với đôi mắt nghĩ nhiều nhiều hơn là nhìn quen thuộc. Trên bàn, đằng
sau bát hương đặt pho tượng bán thân bằng đá đen tạc hình Bích Khê trẻ trung
thanh lịch. Tôi bảo anh em dâng lên bàn thờ một lẵng hoa hồng và thắp ba nén
hương trầm lầm dầm khấn không rõ bằng việc chắp nối đôi dòng thơ Tinh Huyết.
Khói hương trong nhà đã lên cao. Ngoài vườn, hoa Huỳnh Anh loài thân gỗ mới trồng
còn thấp nhỏ đã kịp bung ra những quả chuông vàng rực rỡ như một sự tình cờ giữa
chiều chợt mưa chợt nắng. Trong một vài góc nhỏ bụi hoa Oải hương lắc rắc tím với
mưa làm như Bích Khê chưa chịu chú ý đến chúng. Phía bên phải khu vườn, người
ta lấy đá xếp thành chiếc đàn tỳ bà nằm nghiêng từ phía bầu đàn cao khoảng 5
mét thoai thoải đến phía dưới theo cần đàn mà các phím được xếp bằng những bậc
đá đều đặn. Tất cả làm thành hình quả lê bổ đôi. Ngay dưới bầu đàn tỳ bà là thư
viện Bích Khê, tạo nên cảm giác như nằm ẩn dưới đất. Trước lối vào thư viện, một
cây ngô đồng chắc cũng mới được trồng lá to đến ngọn. Đôi chiếc đã rớm vàng.
Chúng tôi nhờ người cháu họ gọi Bích Khê bằng ông đưa đi viếng mộ.
Đường lên mộ nhà thơ vốn là đường lên hội quán ngày xưa. Thuở
ấy con đường đã được Bích Khê miêu tả siêu thực lắm. Mấy nàng lai khách vẫn
buồn mơ và những chàng trai rõi hững hờ. Ở đấy nàng lai khách đa
tình vẫn mong. Anh có khi nào trở lại để nghe khóm lan thơm và đêm về trên
mái ngói tiếng nhành nhãn muộn cánh rơi bay.Đường lên hội quán vẫn còn đây với
những bụi tre dày chắc để ai đó khỏi tiếc nuối giống như đã không thấy trúc khi
về thôn Vĩ Dạ. Hội quán hoang tàn tự bao giờ đã trở thành bãi tha ma mặc cho
cây dại mọc bơ phờ bao quanh những nấm mồ xây. Xúm xít đứng dưới mưa. Mưa lã
chã rơi không ngớt. Trời tự dưng tối thẫm lại. Mộ Bích Khê nằm giữa đó. Trước mộ
dựng một phiến đá rửa màu hồng hình chữ nhật cao độ gần một mét. Trên có mái bằng
rộng hơn. Kiểu như mũ bình thiên. Ở giữa phiến đá rửa gắn vào một phiến hoa
cương nhỏ hơn viền vàng xung quanh, trên đó có dòng chữ in màu đỏ: Nơi yên
nghỉ thi sĩ Bích Khê - Lê Quang Lương 24.3.1916 - 17.1.1946. Phía dưới là 4 câu
thơ bằng chữ thường màu xanh. Nguyên văn như sau.
Thân bệnh: Ngô vàng mưa là rụng
Bút thần sống lạnh ánh sao rơi.
Sau nghìn năm nữa trên trần thế
Hồn vẫn về trong bóng nguyệt soi.
Tôi đốt một nắm hương cháy đỏ trong mưa cắm lên trước mộ. Vừa
đi khỏi độ chừng 300 bước, thì trời bỗng nhiên lại rạng. Lộ ra một khoảng xanh
mờ trên những tán lá cây còn chưa hết ngờ ngàng để mặc cho những giọt nước của
dĩ vãng còn lại rơi xuống đất. Nghe như thi sĩ Bích Khê vừa mới gảy khúc tỳ bà
mùa Thu từ thế kỷ trước làm nên tiếng thơ mới lạ trong phong trào Thơ Mới
1930-1945. Tiếng đàn khổ đau trong mê sảng và trần trụi kiếp người, phổ trong bản
nhạc của tượng trưng và siêu thực bằng tinh huyết của thi sĩ tài danh vang lên
nghẹn ngào mà thanh thoát tiếng vàng của thượng đế và trần thế không lẫn với bất
kỳ ai trên thi đàn Việt Nam hiện đại.
Người đời đã dành nhiều danh hiệu cao quý tưởng như không thể
gì nói hơn được nữa. Nhất là những lời nhận xét ấy lại của những nhà thơ tài
danh cùng thời với Bích Khê. Hàn Mặc Tử gọi Bích Khê là thi sĩ thần linh.
Chế Lan Viên bảo Bích Khê là một đỉnh núi lạ. Mặc dù thi sĩ họ Chế đánh
giá Bích Khê cao hơn Nguyễn Nhược Pháp vì Pháp kể một câu chuyện có thể có, còn
Khê tạo ra một điều khó có thể có. Khi so sánh với Hàn Mặc Tử thì bảo. Khê làm
thơ mà không bị thơ làm như Hàn Mặc Tử. Câu này Chế Lan Viên có ý chê nhiều hơn
khen. Tôi chờ đợi ở nhà thơ lớn nhất thế kỷ 20 không phải sự tỉnh táo rạch ròi
của một nhà lý luận mà nhẽ ra phải mê đi nhiều hơn nữa của một thi sĩ khi viết
về người bạn cùng thời đại với mình. Mặc dù… mặc dù… Chế Lan Viên viết giới thiệu
Hàn Mặc Tử hồi cuối năm 1987 và viết về Bích Khê vào tháng 2 năm 1988 đã quá ư
thận trọng khi đề cập đến hơi hướng thời cuộc của hai người bạn thơ, khiến ta
không khỏi chạnh lòng. Họ Chế viết: Một bài thơ của Khê lấy tên Duy Tân.
Có dính dáng gì không đến ông vua yêu nước trùng tên. Đọc lại Duy Tân thấy
hai câu kết Bích Khê viết: Thơ lõa thể! Giai nhân tuần trăng mật, Nữ thần
ơi! ta nô lệ bên người thì thấy vua Duy Tân không gợi lại điều gì ở đây.
Có lẽ Chế Lan Viên viết điều này cũng là việc cực chẳng đã và muốn làm tốt hơn
cho bạn của mình. Bởi vì, những năm 1980, có người nhân việc dịch ra tiếng Việt
một số nội dung tác phẩm của André Gide mà Bích Khê còn chưa xuất bản, đã mang
cái tên ít người Việt Nam biết đến ở tận bên Ngalatư phiên âm gọi là Tờrốtkít
gán vào cho thi sĩ Bích Khê. Nếu quả như vậy mà người ta đọc Tóm tắt những
bài giảng về lịch sử triết học của F.Heghenra tiếng Nga cho dễ hiểu
trong Bút ký triết học thì Lê Nin cũng có thể bị quy là Hêghengit
cũng nên. Cả thế kỷ 20, người Việt Nam thao thức đi tìm triết lý sống cho mình
và phải trả giá không biết bao nhiêu để đến được ngày nay?
Từ thế kỷ trước đến thế kỷ này, người đời vẫn mải miết đi tìm
những bí mật chàng thi sĩ bé nhỏ ở đất Thu Xà đã cất giấu vẻn vẹn trong 2 tập
thơ mà trên con đường ấy người ta vẫn còn có điểm chưa phải đã gặp được nhau.
Có ý kiến có thể vì quá yêu Bích Khê và mong muốn chỉ ra rõ
ràng những cung bậc phát triển đã đặt vị trí của Thơ Bích Khê ở giai đoạn
thứ hai của phong trào Thơ Mới 1930-1945 hoặc Bích Khê cũng như Chế Lan Viên,
Hàn Mặc Tử đã đi xa hơn Thơ Mới. Hoặc trong Thơ Mới chưa có Bích Khê.
Dù theo ý nghĩa gì, nói ra điều này có cần thiết hay chăng?
Từ gần một thế kỷ nay, hầu như tất cả các nguồn dư luận đều
khẳng định phong trào Thơ Mới là sản phẩm của cuộc gặp gỡ giữa văn hóa Phương
Đông và Phương Tây, trên một nền tảng xã hội với sự hình thành đông đảo tầng lớp
thị dân khắp trong Nam ngoài Bắc là bạn đọc chia sẻ hào hứng và cổ vũ nhiệt
thành cho Thơ Mới. Các nhà thơ Bàn thành tứ hữu - Trường thơ Loạn nằm trong sự
gặp gỡ Đông Tây đó. Họ sinh thành trong khuôn viên Thơ Mới. Trường thơ Loạn thực
chất là trường phái siêu thực bắt nguồn từ chủ nghĩa tượng trưng mà cốt lõi của
nó đặt phi lý tính lên trên lý tính, trạng thái tâm hồn trong tiềm thức, không phân biệt ranh giới giữa thực và mộng; Đồng thời tiếp thu tinh hoa của
thi ca Phương Đông. Đặc biệt là thơ Đường. Hoài Thanh khi làm quyển Thi Nhân Việt
Nam 1941 thật có lý khi ông xếp liền một dải Hàn Mặc Tử - Chế Lan Viên - Bích
Khê, mặc dù Bích Khê không phải là một trong Bàn thành tứ hữu. Với Quách Tấn và
Yến Lan hai người còn lại, Hoài Thanh xếp họ ở khu vực khác. Vì vậy, khi Bích
Khê xuất hiện bằng một Tinh Huyết đã không phải là người đến sau. Mặc
dù có ảnh hưởng và được Hàn Mặc Tử khích lệ. Quách Tấn hồi những năm 1960-1967
khi viết cuốn Đời Bích Khê (Xuất bản ở Sài Gòn năm 1971) đã để tâm so
sánh ba thi sĩ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê là những người cùng hàng.
Bích Khê đã góp vào một khuôn mặt tiêu biểu cho Trường thơ Loạn khi Quách Tấn
đã phân tích quá viên mãn ý thơ Sọ người của ba tác giả. Hơn nữa,
nhìn vào thời điểm xuất hiện các tập thơ. 1935 Mấy vần thơ - Thế Lữ.
1936 Gái quê - Hàn Mặc Tử. 1937 Điêu tàn - Chế Lan Viên.
1938 Thơ Thơ - Xuân Diệu. 1939 Tinh Huyết - Bích
Khê. Tiếng Thu - Lưu Trọng Lư. 1940 Lỡ bước sang ngang - Nguyễn
Bính. Lửa thiêng - Huy Cận. 1941 Mùa cổ điển - Quách Tấn…
thì Bích Khê nằm ở giai đoạn 2 chăng? Phong trào Thơ Mới chỉ trong khoảng 10
năm đã sinh thành và lớn lên vượt bậc, không hề đứt đoạn, đã như một cuộc cách
mạng lớn nhất của thi ca thế kỷ 20 với một chủ thể trữ tình khao khát tự do cá
nhân, nỗi cô đơn và khắc khoải của tình yêu đôi lứa cùng sự hoài niệm đau
thương về những bến bờ xưa của kiếp người với thiên nhiên kỳ ảo mà nét chủ đạo
là mùa thu tuyệt bích buồn. Bích Khê xứng đáng như là một gương mặt tiêu biểu của
phong trào ấy, một trong những người tiên phong của cuộc cách mạng thi ca lớn
nhất thời hiện đại. Vì vậy Bích Khê không thể đứng ngoài cuộc cách mạng ấy.
Nhóm Dạ đài vào hồi 1945-1946 ảnh hưởng Trường thơ Loạn có lẽ ở bình
diện khuynh hướng sáng tác hơn là giai đoạn phát triển thi ca của Bích Khê.
Về nhận định cho rằng Tinh Hoa từ bỏ thể nghiệm Âu hóa để trở
về khai thác các đặc tính thi ca Đông phương; điểm này có hơi khác với Hàn Mặc
Tử khi viết lời giới thiệu Tinh Huyết 1939. Bích Khê hoàn toàn là
Baudelaire - tưởng đã đi đến tận cùng của vườn hoa nghệ thuật, nhưng chàng còn
mở rộng biên giới để thấy chàng là một thi sĩ Đông phương, lời thơ của chàng
nhuốm đầy màu sắc của các thi gia đời Đường… Như thế sự kết hợp Đông Tây
đã rộn ràng trong Tinh Huyết. Tập di cảo mang tên Tinh Hoa được
gia đình Bích Khê trao cho Quách Tấn từ hồi 1960-1967 và chỉ được giới thiệu một
số bài. Chưa bao giờ nó được in ra. Theo Chế Lan Viên, bản thảo Tinh Hoamà
chị Ngọc Sương giao cho Sở văn hóa Nghĩa Bình hồi những năm 1980 thấy còn thiếu
đôi đoạn, đôi câu. Mãi đến năm 1997, tức là sau 51 năm Bích Khê mất mới được in
lần đầu. Nhìn vào Tinh Hoa in đầy đủ năm 2016 thấy rõ ràng số lượng
bài thơ làm theo thể Đường luật thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt và cả 5
bài lục bát truyền thống: Ngón giai nhân. Hai tiên nữ nhớ Lưu Nguyễn. Mỹ tửu
ca. Huế đa tình. Băng tuyết. Nhưng tiếc thay, các bài thơ làm theo thể thơ
cũ nhìn chung không để lại ấn tượng gì đặc biệt trong cách tân và đổi mới thi
ca cũng như không có bài thơ nào nằm trong thơ hay của tập. Cái hồn cốt Bích
Khê trong Tinh Huyết đã phai nhạt khá nhiều. Năm 1967, Quách Tấn cho
là Tinh Hoa rất có giá trị, giá trị cao hơn Tinh Huyết một
bậc. Điều khẳng định ấy của Quách Tấn là một sự tâm giao. Bởi Mùa cổ điển của
ông gồm 59 bài thơ theo thể thơ Đường luật. Như một tuyên ngôn. Quách Tấn lẳng
lặng dành tình yêu trong sáng của mình cho những giá trị Á Đông. Mặc cho sự kịch
liệt của tranh luận Thơ Mới - Thơ Cũ thời đó. Có lẽ Quách Tấn đã tìm thấy sự đồng
điệu của mình với Bích Khê khi Tinh Hoa có nhiều bài theo thể Thơ Đường.
Bích Khê là bích khê nhất phải ở trong Tinh Huyết. Tập
thơ được ông cho xuất bản năm ông còn sống. Tinh Huyết có nhiều bài thơ
hay. Nhạc. Mộng Cầm Ca. Tỳ bà. Tân hôn. Thi vị. Hiện hình. Nghê thường.
Tranh lõa thể. Bàn chân. Nàng bước tới và có thể Châu - ở nhiều
đoạn trong phần 3. Tinh Hoa có khoảng 5 bài. Duy Tân. Xuân tượng
trưng. Tiếng đàn mưa. Làng em. Nấm mộ. Trong đó 2 bài được Hoài Thanh chọn
vào Thi Nhân Việt Nam thể theo yêu cầu của Bích Khê trong 2 bức thư
ngày 7/1/1941 và 25/10/1941 gửi Hoài Thanh. Nếu 2 bài thơ Tiếng đàn Mưa và Làng
em là minh chứng cho thành tựu trở về thi ca phương Đông thì thật khiêm tốn
biết chừng nào. Đáng lưu ý là khi bắt đầu khời nghiệp thi ca Bích Khê đã làm
thơ Đường luật hàng trăm bài. Tinh Huyết rõ ràng là tập thơ xác định vị trí
Bích Khê trên thi đàn Việt Nam trong những năm 30-40 của thế kỷ trước. Không đợi
đến khi Tinh Hoa ra đời. Theo như Quách Tấn, đã có người chê thơ cũ của
Khê không hồn, và khen thơ mới của Khê chung chiếu cùng Hàn Mặc Tử và Chế
Lan Viên thật cân xứng. Ngoại trừ, chàng Bích Khê Đăng lâm trong Tinh
Hoa để thêm một lần xuất hiện cái nắng nhấp nhô siêu thực mà cổ điển trên bầu
trời ven biển miền Trung Việt Nam. Mục tử năm ba tiều thổi điệu. Nắng vàng
cao thấp, núi rung rinh.
Chế Lan Viên đã quá tỉnh táo hay chăng khi không nương nhẹ chỉ ra thẳng thừng
những gì là của Tây phương. Quả măng cụt của Khê, ta biết rằng đấy là quả
lựu của Valéry. Valéry hóa thân. Con quạ trên mộ Khê là con quạ của Edgar Poe,
của thơ Mallarme bay đến. Da thịt rồi xác thịt, rồi xác chết trong anh, nguyên
là Baudelaire. Điều này không có gì là mới khi chính Bích Khê đã nói từ
1939. Baudelaire! Người là vua thi sĩ. Sự giao thoa của các nền văn
hóa khó tránh khỏi việc để lại những vết khấc. Cũng như việc chuyển sang dùng lại
nhiều thể thơ cũ Đường luật và lục bát chưa đủ chứng minh cho tiềm năng sáng tạo
của việc tìm về văn hóa Á Đông. Điều kỳ lạ trong 3 nhà thơ nổi tiếng nhất của
Trường thơ Loạn có những bài thơ hay nhất, lại không phải, hoàn toàn không phải
do siêu thực và tượng trưng thuần túy đã được điển hình. Hàn Mặc Tử với Mùa
xuân chín và Đây thôn Vĩ Dạ. Chế Lan Viên với Trên đường về,
Xuân, Chiến tượng… để lại những câu tuyệt bút cho đời. Ở đó, người ta rung
lên không phải vì đâu là Tây phương, đâu là Đông phương. Đó là những câu thơ
tươi sáng như lọc ra từ ánh sáng trời, từ cây cỏ tự nhiên mang màu sắc thời
gian. Bích Khê cũng thế. Chàng tự nhận là Phượng Sồ không bằng Phượng Long Hàn
Mặc Tử. Những câu thơ tuyệt bích mà dung dị lạ thường. Nó là của Bích Khê. Bài
hát đầu tiên của chàng về Mộng cầm ca là hát về hương lúa. Siêu thực
mà bình dị như thấy được bên bờ của khúc tâm tình.Đây bát ngát và thơm như sữa
lúa. Nhựa đương lên. Sức mạnh của lòng thương.
Cảnh đẹp đêm thu ta thường gặp trăng trên mọi nẻo đường gió bụi mà lại là trăng
của tối tân hôn. Ô lạ! làm sao thương nhớ quá. Đêm nay trăng ngủ ở bên đường. Để
từ đó cái sự khóc trong tối tân hôn của người thục nữ thật trong trắng, đẹp lạ
lùng chẳng biết thực hay mơ. Và đêm nay khóc cho nên mới, lộ một sông
trăng chảy lệ vàng. Trăng trên nẻo đường đời đến đây đã trở thành trăng
siêu thực mất rồi mà ta chẳng có hay? Vẻ đẹp của giai nhân hiện dưới bóng hằng
nga; vẻ đẹp sang trọng mang màu sắc cung đình mà tinh tế, mà đầy huyễn hoặc. Áo
xiêm ăn đứt màu trăng sáng. Gió nép mình nghe tiếng chạm vàng. Vẻ đẹp của Tinh
Huyết được Bích Khê mê hoặc thường trong sự giao hòa giữa ảo và thực, giữa
hiện sinh và thần linh. Bích Khê miêu tả vẻ đẹp khi người tình bước tới tất cả
như vô hình dồn lại ngây ngất vị phong trần. Nàng bước tới như sông trăng
chảy ngọc. Cả thời gian dồn lại ở bàn tay. Ai giam lỏng một vì sao giữa mắt. Quả
nhân duyên mũi mẫm vị phong trần. Vẻ đẹp của người thiếu nữ với Bích Khê
là sự tinh khiết vô cùng được ghép lại bằng thơ và nhạc, bằng trăng và gió của
thể giới tự nhiên. Gió đi chới với trong khung trắng. Lộ nửa vần thơ nửa
điệu ca. Tôi ráp lại xem ồ sự lạ. Một người thiếu nữ hiện trong trăng. Đôi
khi vẻ đẹp của con người được Bích Khê miêu tả chỉ bằng giai điệu của nhạc,
dùng cái siêu hình để hiện ra cái hữu hình. Bỗng khúc dương cầm nấc tiếng
thu. Bỗng đôi mắt ngọc hiện xanh mờ. Và châu và báu và sinh khí. Nức nở tan
thành vạn giọt thơ.
Trong phong trào Thơ Mới 30-45, chưa ai dám công khai thành lời như Bích Khê
tôn vinh vẻ đẹp của cái dâm, cái cuồng và đằng sau những từ chát chúa ấy, chàng
thi sĩ ngợi ca vẻ đẹp của cuộc sống con người. Vấn đề ở đây không phải là ở một,
hai câu thơ có sạn mà là ở quan điểm thẩm mỹ hướng tới. Văn chương bình dân
cũng như bác học từ xưa đến nay chưa bao giờ ngoảnh mặt với tình dục. Bởi vì đó
là mặt cơ bản của đời sống và sinh tồn loài người. Một nền văn học mà chối bỏ
tình dục thì đâu còn chủ nghĩa nhân văn. Nó không phải hạ thấp hoặc xỉ nhục con
người mà là ngợi ca con người tự do với đầy đủ ý nghĩa của từ đó. Trong vấn đề
này, dường như Hàn Mặc Tử nhân tình thế thái và ít khắt khe hơn Chế Lan Viên.
Hàn Mặc Tử viết. Ở Sọ người, cũng như ở Tranh lõa thể sự trần truồng dâm
đãng đã nhường lại cho ý vị nên thơ của hương, của nhạc, của trăng, của tuyết.
Quả nhiên là một sự thanh tao đến ngọt lịm cả người, cả thơ. Tôi không hiểu
có mối liên hệ gì về nối ám ảnh của những ngọn tháp gầy mòn vì mong đợi suốt dải
đất miền Trung mà ở bên trong thờ phụng vẻ đẹp trần tục của đàn ông, đàn bà đã
đổ bóng siêu hình xuống thơ của Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên và đặc biệt của Bích
Khê để ba chàng thi sĩ đã hình thành một trường phái thơ về vẻ đẹp tình dục của
con người. Đó là cái hằng sống của con người. Và hình như nó chưa một lần lặp lại
trong thi ca thế kỷ 20.
Thi sĩ Trần Dần trong Vở bụi viết hai năm liền hồi 1983-1984 chỉ được
bốn trang theo kiểu nhật kí thơ ở câu thứ năm có viết. Ai đem giấu vàng
trong gió thu. Duy nhất chỉ có một câu hỏi như thốt lên rồi bỗng dừng ngay
lại. Không trả lời. Không giải thích. Mấy năm nay tôi lặn lội trong thi sử và
thế giới thi ca để mong tìm câu trả lời mà chưa bao giờ thấy trọn vẹn. Nhất là
mỗi khi mùa thu từ xa lắm chẳng biết ở đâu mà sáng ra đã thấy về ngay trước
hiên nhà. Có lẽ trên thế gian này chỉ có một loài duy nhất làm được điều đó?
Vâng - Thi sĩ là người giấu vàng trong gió thu. Từ ngàn đời nay họ đã thay mặt
loài người, mang tinh huyết của trần thế, của thượng đế, một thứ vàng quý nhất,
tinh túy nhất của cuộc sống tinh thần phổ vào cây đàn muôn điệu thi ca giấu
trong gió thu để thời gian không bao giờ quên lãng sự trong sáng đến vô cùng của
tình yêu giữa con người với con người, vẻ đẹp vĩnh cửu của tâm hồn con người
luôn hướng tới chân thiện mỹ dù có phải trải qua bao nhiêu thử thách, đau đớn,
cô đơn, mất mát, buồn vui không hẹn trước để như lời hẹn ước muôn năm bỗng chốc
hiện về sắc vàng không phải ảm đạm mà sáng bừng hi vọng và thăm thẳm tình đời mỗi
khi gió thu thổi vàng sông núi.
Nhìn vào đôi mắt Bích Khê, phải chăng điều chàng muốn nói với hậu thế không phải
là Lời tuyệt mệnh mà một điều gì thiêng liêng gửi lại cho đời? Dường
như chàng đã hỏi câu hỏi mà Trần Dần sau gần thế kỷ mới hỏi lại và Bích Khê đã
tự mình trả lời cho khách đa tình mùa thu vô hạn thường mỗi khi trở về dưới biếc
chập chờn hương rằng chàng đã gửi vàng trong gió thu qua tiếng tiêu vàng?. Mùa
thu ám ảnh nhà thi sĩ. Muốn thỏi tiêu vàng giữa khói sương.
Sắc vàng là bản vị của thơ Bích Khê. Tinh Huyết có 33 bài có tới 17
bài ngân lên những cung bậc của sắc vàng. Tinh Hoa ít nhất cũng có 8
bài nói về điều đó. Đó là sắc của hồn thu đi lạc. Trăng gây vàng, vàng gây
lên sắc trắng. Của hồn thu đi lạc ở trong mơ.
Đó là một trong năm lần cùng Hồ Xuân Hương ngực để trần một đêm lên cung trăng
vấn nguyệt. Trăng mùa thu sáng như ngọc xây vàng trên cành lá. Ô trời hôm
nay sao mà xanh. Ngọc trăng xây vàng trên muôn cành.
Đó là vàng lay một trời thanh khí mười phương đa tình, ngây ngất trong hương
thơm của nhạc, của màu. Hồn bay! hồn bay! hồn bay!. Ngửa nghiêng tắm mát
vàng lay, nhạc hường.
Đó là muôn vẻ màu vàng trải khắp các dòng thơ Bích Khê. Sắc vàng giấu trong gió
thu bây giờ hiện ra như tiếng vàng của thượng đế. Đẹp mải muốt trong sự già nua
trần trụi của thế thái nhân tình. Tiếng vàng tiếng ngọc xào xạc chen ra. Đêm rót
lệ, trăng ôm niềm tóc bạc.
Bài thơ Thi Vị là tuyên ngôn của Bích Khê về bản vị
vàng giấu trong gió thu hiện lên bởi lá vàng, trăng vàng, hoa vàng, sao vàng,
đêm vàng… Tất cả đều rời xa vì tất cả đều rơi theo giọng đàn rung, nghẹn, rụng
rồi câm tiếng và bẻ phím cho sự mất mát, chia ly không bao giờ gặp lại của một
cuộc tình. Nhưng đặc sắc hơn cả và là sự trả lời đầy đủ hơn cả về việc thi sĩ giấu vàng trong gió thu để tình yêu con người bất tử trong màu vàng muôn thuở
cô đơn của mùa thu không giới hạn phải kể đến Tỳ bà. Bài thơ này có lẽ xứng
đáng hơn cả để Hoài Thanh lựa chọn vào Thi Nhân Việt Nam. Nhưng chắc là
Hoài Thanh đặt lên trên hết mong muốn của Bích Khê muốn giới thiệu 2 bài không
nằm trong tập Tinh Huyết đã in. Tỳ bà được người ta nói đến
nhiều ở nhạc điệu kỳ lạ của nó trong 4 khổ thơ 16 dòng đều là thanh bằng.
Nó đã được phổ nhạc và đến thế kỷ 21 người ta vẫn thường hay hát. Tỳ bà bày tỏ tình yêu của Bích Khê với người tình xưa đã quên lời thề để chàng phải đi tìm lại trong du dương tiếng nhạc ở lầu cung thương, ở chốn Đào nguyên trong mộng tưởng và trong lòng người qua khúc Tỳ bà mùa thu được dạo lên bởi nhịp tương tư, để nói với nàng rằng thi sĩ chẳng bao giờ thôi yêu nàng. Màu vàng của mùa thu ẩn trong hao gầy của những bông hoa trên đoạn đường cả trong mơ và trong thực nơi người xưa không trở lại. Chàng thi sĩ cứ đi tìm, đi mãi qua cả 4 mùa, từ mùa xuân khi buồn còn lưu trên cây đào hơi xuân rồi buồn lang thang qua cây tùng đến chốn ở của đông quân. Chàng đi tiếp nhưng chẳng bao giờ gặp lại người tình xưa nữa. Chỉ gặp mùa thu buồn mênh mông giữa vàng rơi, vàng rơi không bao giờ dừng lại chỉ vương một chút buồn trên cây ngô đồng thuần túy và tượng trưng của thi ca phương Đông.
Nó đã được phổ nhạc và đến thế kỷ 21 người ta vẫn thường hay hát. Tỳ bà bày tỏ tình yêu của Bích Khê với người tình xưa đã quên lời thề để chàng phải đi tìm lại trong du dương tiếng nhạc ở lầu cung thương, ở chốn Đào nguyên trong mộng tưởng và trong lòng người qua khúc Tỳ bà mùa thu được dạo lên bởi nhịp tương tư, để nói với nàng rằng thi sĩ chẳng bao giờ thôi yêu nàng. Màu vàng của mùa thu ẩn trong hao gầy của những bông hoa trên đoạn đường cả trong mơ và trong thực nơi người xưa không trở lại. Chàng thi sĩ cứ đi tìm, đi mãi qua cả 4 mùa, từ mùa xuân khi buồn còn lưu trên cây đào hơi xuân rồi buồn lang thang qua cây tùng đến chốn ở của đông quân. Chàng đi tiếp nhưng chẳng bao giờ gặp lại người tình xưa nữa. Chỉ gặp mùa thu buồn mênh mông giữa vàng rơi, vàng rơi không bao giờ dừng lại chỉ vương một chút buồn trên cây ngô đồng thuần túy và tượng trưng của thi ca phương Đông.
Ô! hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông.
Hoài Thanh gọi đây là những câu thơ hay bậc nhất của Việt Nam. Dường như
ta chỉ gặp cái bơ vơ ấy của người thi sĩ có một lần trong cô đơn mùa thu như vậy
và chàng đã đem thứ vàng quý nhất ấy của đời mình giấu trong gió thu để câu thơ
nói về nó trở nên bất tử. Một lần thôi. Không bao giờ tìm lại nữa. Lặp lại nữa.
Nhiều cái thuộc về Bích Khê mai này có thể tàn tạ như những giọt nước cuối cùng
của dĩ vãng đã tự nguyện rơi vào buổi chiều hôm ấy ở Thu Xà ngay bên mộ Bích
Khê. Nhưng thứ vàng giấu trong gió thu ở hai câu thơ này sẽ không bao giờ mất.
Rời Thu Xà tôi bay ngược ngọn gió mùa thu mong manh để trở về. Trên chuyến bay ấy,
giữa đông đảo những người khách trẻ tuổi rối rít nào những ba lô, máy tính bảng
và điện thoại thông minh, tôi như kẻ già nua cô đơn và lạc lòng vì có ai trong
số họ đi tìm vàng không có lượng gửi trong gió thu? Có phải thi sĩ bây giờ đang
tự mình rút lui vào ngõ nhỏ, phố nhỏ như một Thu Xà giữa các đô thị khang
trang. Nhường mặt tiền phố lớn cho doanh nhân sáng láng và thành đạt. Họ có rất
nhiều vàng. Không phải trừu tượng mà có cân. Có lượng. Nhưng gió thu không có
chỗ để giấu loại vàng ấy. Thi ca là vàng gửi được trong gió thu, giấu những điều
thầm kín nhất của loài người để những giá trị nhân văn bất tử.
Khuất Bình Nguyên
Nguồn: Văn nghệ số 47/2018







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét