Thế giới hiện sinh ngoài khung cửa
Tưởng tượng và Dấu vết của Uông Triều đã dẫn người đọc
rời hẳn thế giới tiểu thuyết hiện thực quen thuộc của văn chương Việt Nam
1945-1975, bước vào thế giới của sáng tạo đích thực, tiểu thuyết hư cấu
(fiction). Điều này hầu chưa tác giả trẻ đương đại nào thành công. Các tác giả
trẻ dù đã có nhiều cách tân, song họ vẫn bị hiện thực ghì chặt lấy, vẫn chưa
thoát được cách viết phản ánh hiện thực.
Bước vào Tưởng tượng và Dấu vết là bước vào thế
giới không thể phân biệt được đâu là thực, đâu là hư, đâu là ảo giác, đâu là đời
sống. Có những giấc mơ giữa ban ngày, có những con người hoang tưởng từ trong bức
tranh bước ra đời thực. Nhân vật hiển hiện ngay trước mặt nhưng không thể biết
họ là ai, họ từ đâu đến, đi đâu về đâu. Người mẹ ngoại tình với cây cổ thụ, ông
bố nổi ghen bị cái cây quật ngã. Cái rễ cây đuổi theo ông bố, mọc lên ngay giữa
nhà. Con số bí mật theo đuổi nhân vật Tôi đến dòng cuối cùng của trang sách. Và
sau cùng, Tôi, người kể chuyện cũng không biết mình là ai. Những “bí mật” ấy tạo
nên sự hấp dẫn mới lạ, buộc người đọc phải tìm câu trả lời.
Nhưng câu trả lời lại là ẩn ngữ của tác phẩm, bởi tác giả đặt
người đọc vào một tâm thế hoàn toàn khác so với tiểu thuyết “truyền thống”. Nhà
văn không kết luận, không bắt người đọc phải hiểu theo ý mình. Cánh cửa sổ mở
ra, nhân vật chính còn đang kiếm tìm lời giải cho cuộc sống của anh ta, và người
đọc, người đồng hành với nhân vật cũng phải tự tìm kiếm câu trả lời cho chính
mình khi đối diện với những vấn đề của hiện sinh.
Vấn đề của hiện sinh là gì? Con người tìm kiếm tự do? Nhưng tự
do có đem đến hạnh phúc không hay chỉ đem đến đổ vỡ? Tại sao thế giới hôm nay lại
vô cảm đến vậy? Cha, mẹ, con cái, người yêu, và những người ở ngoài khung cửa sổ
kia, họ đang lướt qua trước mặt Tôi, tất cả đều xa lạ. Họ gặp nhau mỗi ngày
nhưng như chưa bao giờ biết rõ về nhau. Tôi đang chết dần như cái cây hết nhựa
sống. Tôi tra hỏi sâu vào hiện sinh, con người là gì. Tôi nhận ra chính mình
đang trở thành cây, sau gáy đang mọc ra những lá cây. Nhân vật trong tác
phẩm của Tôi, cũng là chính Tôi, ban đêm mọc ra lông lá móng vuốt của loài quái
thú. Một nửa con người là quái thú, không sao tiêu diệt được. Tác giả cũng nói
đến những khó nhọc của việc viết văn, những trang văn giết người.
Tác giả đã sử dụng kỹ thuật dòng chảy ý thức khá
nhuần nhuyễn với nhân vật Tôi. Tôi là một “chàng trai 26 tuổi,(bị một tai nạn
thảm khốc) ngồi yên một chỗ, không một người bạn qua lại, đang dằn vật thể xác
và tinh thần, một kẻ cô độc, đang chết mòn”. Tôi nhìn đời qua ô cửa sổ,
nhận thức, suy tư và sống. Tôi trầm mình trong ký ức tuổi thơ và tuổi sinh
viên. Tôi nhìn rất sâu vào bản thể sinh tồn của chính mình, vào sự chết, vào bản
thể của mọi vật xung quanh, kể cả đàn kiến bò trên tường. Tôi ngửi được mùi rất
riêng của cô gái thoảng trên người bố, biết bố đang ngoại tình. Tôi soi rọi mọi
hành vi, cách hành xử của con người qua ánh sáng phân tâm học. Tác giả trộn lẫn
câu chuyện của nhân vật Tôi đang kể với câu chuyện trong những cuốn sách Tôi
đang đọc, đồng thời trộn Tôi với nhân vật trong cuốn sách anh đang viết. Tác giả
xóa nhòa ranh giới thời gian hiện tại và quá khứ, xóa nhòa ranh giới giữa thực
và mơ, giữa cái hiển hiện và cái hoang tưởng, giữa nhân vật Tôi trong thực tại
với nhân vật trong những cuốn sách anh đọc và cuốn sách anh viết. Quả thực tác
giả đã tạo được một thế giới nghệ thuật đa chiều đồng hiện, một thế giới còn ít
xuất hiện trong tiểu thuyết Việt Nam.
Trên cái nền của một thực tại đổ vỡ, mất mát, vô cảm như vậy
những tưởng tiếng nói nhà văn sẽ bị che lấp đi. Nhưng không, tiếng nói ấy vang
lên mạnh mẽ về nhiều vấn đề của thực tại xã hội hôm nay. Đó là sự đổ vỡ của gia
đình, là trạng thái vô cảm của con người, là những thân phận bé nhỏ vô danh như
bà lão tóc bạc trắng bán quán nước dưới gốc đa, ông già đi qua chiến tranh chết
ở giữa sông, dưới chân trụ sắt cây cầu cổ; cô gái điếm có con số bí mật, cô gái
câm họa sĩ vẽ bức tranh ấn tượng.
Tác giả chia sẻ những nỗi niềm không tỏ lộ của nhân vật bố và nhân vật mẹ khi họ đi tìm ý nghĩa cuộc sống riêng của họ. Dẫu thế nào, họ vẫn dành cho Tôi tất cả sự quan tâm, chăm sóc và yêu thương. Tác giả nhìn những thất vọng và khóc khuất của xã hội bằng cái nhìn nhân bản và cảm thông. Nhân vật cô gái điếm được miêu tả mạnh mẽ. Người mẹ, ông bố ngoại tình có chân lý riêng của họ. Sex cũng được miêu tả ở giá trị nhân bản. Tất cả các nhân vật đều có cuộc sống riêng theo ý mình, khẳng định mạnh mẽ giá trị của cá nhân, mặc dù rất khác nhau, nhưng họ vẫn tôn trọng nhau và cùng tồn tại.
Tác giả chia sẻ những nỗi niềm không tỏ lộ của nhân vật bố và nhân vật mẹ khi họ đi tìm ý nghĩa cuộc sống riêng của họ. Dẫu thế nào, họ vẫn dành cho Tôi tất cả sự quan tâm, chăm sóc và yêu thương. Tác giả nhìn những thất vọng và khóc khuất của xã hội bằng cái nhìn nhân bản và cảm thông. Nhân vật cô gái điếm được miêu tả mạnh mẽ. Người mẹ, ông bố ngoại tình có chân lý riêng của họ. Sex cũng được miêu tả ở giá trị nhân bản. Tất cả các nhân vật đều có cuộc sống riêng theo ý mình, khẳng định mạnh mẽ giá trị của cá nhân, mặc dù rất khác nhau, nhưng họ vẫn tôn trọng nhau và cùng tồn tại.
Trong tác phẩm có những trang đối thoại tinh tế, tài hoa.
Nhân vật như nhìn thấu vào trong nhau, và ngôn ngữ của họ, là một thứ ngôn ngữ
trau chuốt thiên về tư tưởng. Khả năng sáng tạo của tác giả rất phong phú, cuộc
tình của cái cây cổ thụ với người mẹ là một thí dụ. Tác phẩm có cấu trúc mạch lạc,
đơn tuyến nhưng lại tạo được một thế giới đa tầng đồng hiện. Tác giả tô đậm nhiều
chi tiết đặc trưng của mỗi nhân vật, nhờ đó tạo ra chất kết dính, làm nên sức hấp
dẫn của cốt truyện. Dãy số bí mật 688.211 theo với nhân vật Tôi mãi, dãy số ấy
từng cho anh công nhân trúng số, và người đọc hy vọng đến cuối tác phẩm sẽ biết
đó là bí mật gì…
Với Tưởng tượng và Dấu vết, Uông Triều đã góp được một
tiếng nói mới, khác lạ vào ngôn ngữ tiểu thuyết Việt đương đại.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét