Miền Nam nước Việt có nhiều nơi cùng mang địa danh Tha La. Tỉnh Tây Ninh có
những nơi như vậy, ở 2 huyện:
1. Tân Châu: suối Tha La dài 34km được đập cao su Tha La ngăn nước tạo
thành hồ thủy lợi Tha La.
2. Trảng Bàng: xóm đạo nổi tiếng khắp nơi nhờ bài thơ của Vũ Anh Khanh đã
được các nhạc sĩ phổ nên ca khúc tân nhạc, rồi được chuyển soạn thành tân cổ
giao duyên, mà bài này sẽ phản ánh.
Tha La do phiên âm từ psala, tiếng Khmer, nghĩa gốc là chòi trại của sư
sãi, nghĩa phái sinh là ngôi nhà được các phum sóc tạo lập giúp khách qua lại
có chỗ tạm nghỉ.
GIÁO ĐƯỜNG THA LA
Năm 1840, ở huyện Trảng Bàng, lúc ấy gọi huyện Quang Hóa, Tha La trở thành
xóm đạo bởi ông Côximô Nguyễn Hữu Trí - giáo dân chứ không phải linh mục mà
nhiều tài liệu ghi nhầm - cùng gia đình từ Huế vào định cư. Ông Trí đã mời quý
linh mục đến Tha La để thực hiện các nghi thức phụng vụ, kể cả bí tích thánh
tẩy/ rửa tội.
Năm 1860, Tha La mới có linh mục đầu tiên trú ngụ: Besombes Hạnh. Nhà thờ
Tha La ban sơ đơn giản bằng tranh tre đã bị dân làng Lộc Giang kề cận phóng lửa
thiêu rụi vào năm 1862 vì mâu thuẫn với linh mục Hạnh.
Chẳng bao lâu sau, tín đồ Paulus Nguyễn Văn Viên được chính quyền Pháp bổ
nhiệm cai tổng rồi tri huyện Trảng Bàng. Năm 1881, linh mục Laurenso Bính quản
họ Tha La tiến hành vận động xây dựng nhà thờ, tri huyện Viên liền góp 2.200 đồng.
Sau 3 năm thi công, giáo đường hoàn thành vào cuối năm 1885. Năm 1887, xây nhà
cha sở. Năm 1888, xây tháp chuông và mua chuông.
Năm 1956, đồng bào Công giáo từ miền Bắc di cư vào Nam được bố trí cư ngụ ở
xóm Trường Đà, sinh hoạt với họ đạo Tha La. Linh mục Gioan Baotixita Hồ Văn Vui
tu bổ giáo đường, xây trường học, dựng núi Đức Mẹ Lộ Đức trong sân nhà thờ Tha
La vào năm 1957. Kỷ yếu Giáo phận Phú Cường (1965-2005) (NXB
Tôn Giáo, 2005) ghi nhận: "Ðây là núi Ðức Mẹ, có mô hình hang đá Bê-lem,
nơi Thiên Chúa ra đời. Dưới bóng me xanh mướt, đá núi sẫm đen làm nổi bật hai
nấm mộ có bia bằng đá cẩm thạch trắng. Một bên là mộ ông bà tri huyện Nguyễn
Văn Viên, người bỏ nhiều tài lực góp xây dựng ngôi nhà thờ đầu tiên. Và ngôi mộ
kia của người đầu tiên khai mở nên giáo xứ Tha La là Côximô Trí."
Tích cực chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, nên linh mục Gioan Baotixita
Hồ Văn Vui tham gia đảo chính lần đầu do đại tá Nguyễn Chánh Thi và trung tá
Vương Quang Đông lãnh đạo. Vụ đảo chính này thất bại, linh mục Vui nhanh chân
qua Campuchia, sang Thái Lan rồi sang Pháp. Sau khi vụ đảo chính thứ nhì do
trung tướng Dương Văn Minh cầm đầu thành công ngày 1-11-1963, linh mục Vui hồi
hương.
Ngày 14-10-1965, Đức giáo hoàng Phaolô VI ban sắc chỉ thành lập giáo phận
Phú Cường tách từ tổng giáo phận Sài Gòn. Ngày 22-9-1966, giám mục địa phận Phú
Cường là Đức cha Giuse Phạm Văn Thiên chính thức thành lập giáo xứ Tha La, tiếp
tục cử linh mục Gioakim Nguyễn Văn Nghị quản xứ này. Linh mục Nghị kêu gọi tín
hữu trong giáo xứ Tha La mỗi ngày tiết kiệm 2 đồng đóng góp xây dựng thánh
đường mới do ông Ba Giúp thiết kế bằng cách phối hợp mẫu mã nhà thờ Bình Đại
(Bến Tre) và nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn. Khởi công ngày 10-9-1967, hoàn
thành ngày 13-12-1970, giáo đường Tha La được mọi người gọi vui là nhà thờ 2
Đồng. Vương Công Đức viết trong sách Trảng Bàng phương chí (NXB
Tri Thức, 2014): "Nhà thờ Tha La sau khi xây mới trở thành một trong những
nhà thờ giáo xứ lớn nhất tại miền Nam khi đó. Theo ước tính, tổng chi phí xay
dựng khoảng 50 triệu đồng Việt Nam Cộng Hòa, trong đó giáo dân trong vùng đóng
góp 5 triệu đồng."
Năm 1995, linh mục Giuse Nguyễn Tấn Tước xây tường rào quanh sân nhà thờ.
Năm 2016, linh mục Giuse Nguyễn Ngọc Đức cải tạo và mở rộng nhà thờ, nâng cao
mái tháp chuông.
Phanxipăng thăm Tha La. Mặc dù Tha La đã
trở thành giáo xứ từ năm 1966, nhưng cổng thánh đường lâu nay vẫn ghi họ
đạo.
Ảnh: Vàng Cốm
BÀI THƠ THA LA RA ĐỜI
Tha La có những giáo dân và linh mục nhiệt tình tham gia quốc sự. Trước
linh mục Gioan Baotixita Hồ Văn Vui, nơi đây xuất hiện linh mục Phêrô Nguyễn Bá
Kính.
Năm 1944, linh mục Phêrô Nguyễn Bá Kính về Tha La phụ giúp linh mục chánh
xứ Gioan Baotixita Nguyễn Thái Tông. Năm 1946, linh mục Kính cùng một số giáo
dân lên đường tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Linh mục
Kính đã tử nạn ở huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.
Nhà thơ, nhà văn, nhà báo Vũ Anh Khanh đến Tha La ăn Tết Kỷ Sửu 1949 với
bạn tâm giao là nhà văn, nhà báo, nhà giáo Thẩm Thệ Hà. Biết chuyện linh mục
liệt sĩ Phêrô Nguyễn Bá Kính, Vũ Anh Khanh vô cùng xúc động, bèn sáng tác bài
thơ gồm 93 dòng, trích:
Tha La giận mùa thu
Tha La hận quốc thù
Tha La hờn quốc biến
Tha La buồn tiếng kiếm
Não nùng chưa!
Tha La nguyện hy sinh
Ơ... ơ... hơ... có một đám chiên lành
Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy
Quỳ cạnh Chúa, đám chiên lành run rẩy:
Lạy Đức Thành Cha
Lạy Đức Thánh Mẹ
Lạy Đức Thánh Thần
Chúng con xin về cõi tục để làm dân...
Rồi... cởi trả áo tu
Rồi... xếp kinh cầu nguyện
Rồi... nhẹ bước trở về trần
Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!
Người hãy dừng chân
Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi, khách nhé!
Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ
Trời Tha La vần vũ đám mây tan
Vui gì đâu mà tâm sự?
Buồn làm chi mà bẽ bàng?
Ơ... ơ... hơ... ờ... ơ... hơ... tiếng hát
Rung lành lạnh ngâm trầm đôi khúc nhạc
Buồn tênh tênh, não lòng lắm khách ơi!
Tha La thương người viễn khách đi thôi!
Trích đoạn bài thơ Hận Tha La được Vũ Anh Khanh in đầu
"tiểu thuyết dài" Nửa bồ xương khô của chính mình
(NXB Tân Việt Nam, 1949); sau đó in trong sách Thơ mùa giải phóng (NXB
Sống Chung, 1950) với nhan đề Tha La.
THƠ CA NÂNG CÁNH THA LAVũ Anh Khanh có họ tên gì? Các tư liệu ghi nhận không thống nhất. Lược
sử văn nghệ Việt Nam: nhà văn miền Nam 1945-1950 của Thế Phong cho
rằng Vũ Anh Khanh có họ tên Vũ Văn Khánh. Từng nhiều lần tiếp xúc Vũ Anh Khanh
trước lẫn sau khi tập kết ra Bắc, nhà văn Xuân Vũ cho rằng Vũ Anh Khanh có họ
tên Võ Văn Khanh. Nhà văn Thẩm Thệ Hà quá thân thiết với Vũ Anh Khanh lại cho
rằng bạn mình có họ tên Nguyễn Năm.
Ngoại trừ hai tiểu thuyết Cây ná trắc và Sông máu in
năm 1948, các tác phẩm khác của Vũ Anh Khanh đều ấn hành năm 1949 gồm các tiểu
thuyết Bạc xỉu lìn, Nửa bồ xương khô, các tập truyện
ngắn Đầm Ô Rô, Ngũ Tử Tư, Bên kia sông, tập
thơ Chiến sĩ hành.
Theo Từ điển văn học bộ mới (NXB Thế Giới, 2004), sách của
Vũ Anh Khanh có "số lượng phát hành chiếm kỷ lục trong số ấn phẩm thời
đó", là loạt "bức tranh bi thiết nhưng hào hùng của người dân Nam Bộ trên
những chặng đường chống Pháp gay go".
Soạn bài Vũ Anh Khanh - cây bút hàng đầu của dòng văn chương tranh
đấu miền Nam 1945-1954 đăng tạp chí Nghiên Cứu Văn Học số 1-2012,
Nguyễn Thị Phương Thúy nhận định: "Trên thi đàn thỉnh thoảng vẫn có hiện
tượng nhà thơ một tác phẩm. Trong khi có người sáng tác rất nhiều vẫn không đủ
để người đời nhớ tên thì vẫn có những nhà thơ nổi danh chỉ nhờ một bài thơ
thành công, ghi sâu vào lòng công chúng. Vũ Anh Khanh thuộc vào danh sách những
nhà thơ này với bài thơ Tha La nổi tiếng, mặc dù đó không phải
là bài thơ duy nhất của ông."
Bài thơ Tha La của Vũ Anh Khanh liên tục vang xa, ngấm sâu
vào lòng người, không chỉ bằng các tiết mục đọc và diễn ngâm, mà còn bởi chuyển
thể để tiện tập luyện, trình diễn, ghi âm, ghi hình.
Năm 1964, nhạc sĩ Dzũng Chinh có họ tên Nguyễn Bá Chinh (1941-1969) phổ bài
thơ Tha La thành ca khúc Tha La xóm đạo với
nhịp ₵ (2/2), điệu slow rumba.
Năm 1965, nhạc sĩ Sơn Thảo tức Thanh Sơn có họ tên Lê Văn Thiện (1940-2012)
phổ bài thơ Tha La thành ca khúc Hận Tha La với
nhịp ₵, điệu bolero.
Cũng năm 1965, nhạc sĩ Anh Tuyền phổ bài thơ Tha La thành ca khúc Vĩnh
biệt Tha La với nhịp C (4/4), điệu slow rumba.
Nguyên tác cả ba ca khúc đều chơi âm giai chủ rê thứ.
Kết hợp ca khúc của Sơn Thảo, soạn giả cải lương Viễn Châu có họ tên Huỳnh
Trí Bá (1924-2016) sáng tác bài tân cổ giao duyên Hận Tha La.
Bài thơ Tha La của Vũ Anh Khanh cùng các bài ca vừa nêu
đã đang sẽ đưa Tha La đến với đông đảo công chúng muôn phương. Ngược lại, lâu
nay và mai sau, khá đông người gặp dịp ghé huyện Trảng Bàng đều háo hức tìm
thăm Tha La xóm đạo. Ngay tại giáo đường Tha La, trong những chương trình văn
nghệ phù hợp, bài thơ Tha La cùng các ca khúc tân nhạc và tân
cổ giao duyên phổ thi phẩm này vẫn ngân nga truyền cảm.
Đã đăng trên tạp chí Kiến Thức Ngày Nay 1047 (10/9/2019) Phanxipăng thăm Tha La. Mặc dù Tha La
đã
trở thành giáo xứ từ năm 1966,
nhưng cổng thánh đường lâu nay
vẫn ghi họ
đạo. Ảnh: Vàng Cốm
Chân dung Vũ Anh Khanh do Phanxipăng vẽ
nhanh
từ di ảnh cố nhà thơ, nhà văn, nhà báo
Bài thơ Hận Tha La được
Vũ Anh Khanh sáng tác dịp Tết Kỷ Sửu 1949, trích đoạn in đầu "tiểu thuyết
dài" Nửa bồ xương khô của chính mình (NXB Tân Việt Nam,
Sài Gòn, 1949)
Ca khúc Tha La xóm đạo
do Dzũng Chinh phổ thơ Vũ Anh Khanh
Ca khúc Hận Tha La do
Sơn Thảo
phổ thơ Vũ Anh Khanh
Ca khúc Vĩnh biệt Tha La
do Anh Tuyền phổ thơ Vũ Anh Khanh
Phanxipăng
Theo http://chimvie3.free.fr/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét