Đi tìm cuốn sách dịch đã mất hay
Thế sự thăng trầm quân mạc vấn
Xin phép được làm
phiền bà con cô bác, bằng hữu thân quen bài viết mới này để chỉ nói toàn chuyện
cũ, đã thế còn bị hơi dài. Của đáng tội, lúc đầu tôi định chỉ viết vài trang
thôi để nói về một cuốn sách dịch. Nhưng có lẽ hồi này cái đầu đã bị lão hóa lại
thêm chớm bịnh Alzheimer đâm ra suy nghĩ quanh co lẩn thẩn, ăn nói lẩm cẩm càm
ràm. Đang câu chuyện này nhảy sang chuyện khác, lấy râu ông nọ cắm cầm bà kia,
chẳng đầu voi đuôi chuột ra sao cả. Viết xong đọc lại thấy dài tới mấy chục
trang, giật mình tự hỏi làm ăn viết lách kiểu này liệu có ma nào thèm đọc. Nhất
là thời buổi truyền thông trí tuệ ảo càng lúc lên ngội khiến chữ nghĩa rẻ hơn
bèo. Bộ không thấy là các tiệm sách ngày một rủ nhau uống thuốc ngủ, khiến công
nhân nhà in thất nghiệp mỗi lúc thêm đông. Bởi vậy, đã là dân văn minh sành
điệu phải biết sắm cho mình cái iphone, ipad loại xịn để tha hồ chí cha
chí chát, tuýt toe tuýt toét tối ngày. Có mấy
ai dại dột chúi mũi vào trang sách loằng ngoằng những giòng chữ cho thêm nặng
cái đầu kèm nhèm đôi mắt. Biết vậy, nhưng lỡ viết rồi biết làm sao đây. Thôi
đành liều cho phát tán đại trên mạng, phó mặc số phận cho con vi rút corona
quyết định may rui. Ít ra trong cái rủi phải có chút xíu cái may, như trong câu
chuyện ông lão mất ngựa ngày xửa ngày xưa ấy mà. Cái may của tôi, nếu có, oái
oăm thay lại phần nào do con covid-19 ác ôn đem lại. Cũng như cư dân tại mấy đô
thị lớn, cũng nhờ có nó giờ này mới cảm thấy phần nào dễ chịu vì được thở hít
chút ít không khí trong lành, thay vì cái không khí bụi bậm ô nhiễm trước đây
khi họ còn được phóng xe thả dàn. Sự đời, nhiều lúc ngẫm ra thấy cũng dzui
dzui. Nếu không vì nó, con vi rút ác ôn corona ấy, mọi người nơi nơi đâu có bị
treo giò cấm cửa. Chả lẽ ai nấy cũng ngồi yên khoanh tay chịu trận để gậm nhấm
mối sầu nhân thế, như con cọp của Thế Lữ gầm gừ mãi trông cũi sắt hay sao? Cũng
vì thế nên lúc này tôi mới thấy gặp thời cơ đem hàng ra gạ gẫm quí vị. Biết đâu
trong lúc đi tìm khuây khỏa, lại chẳng có cặp mắt xanh hay đã kèm nhèm tình cờ
ngó thấy. Qui vị nào có nhã ý ghé mắt coi chơi, sẽ được ưu tiên bao trọn gói và
bảo đảm toàn bộ bài viết sẽ được gửi tới tận tay quí vị trong suốt thời gian có
đại dịch . Xin mời và có lời cảm tạ trước.
Trân kính.
1. Một ngày giông bão vào dầu tháng 11
năm 2008. Nhân lúc tạt vào Siêu thị sách Minh Châu đường Tạ Quang Bửu, khu Tập
thể Bách Khoa Hà Nội để trú bão, tình cờ bắt gặp tại quầy "Văn học nước
ngoài" bản dịch cuốn A l'ombre des jeunes filles en
fleurs của Marcel PROUST ra tiếng Việt do ông Nguyễn Trọng Định
đảm nhiệm và Nhà Xuất Bản Nhã Nam ấn hành với tựa đề Dưới bóng những
cô gái tuổi hoa, tôi vội chụp lấy. Tôi vội chụp lấy, chẳng phải vì
đây là bản dịch tập hai của bộ A la recherche du temps perdu là
bộ sách của Proust vẫn được người đời ưa nhắc tới, mà vì Marcel Proust còn là
tác giả tôi đã biết học làm quen để, mỗi lần trở về với các trang sách của ông,
là một làn tôi lại phát hiện thêm được thích thú. Không, lý do khiến tôi không
bỏ lỡ cơ hội mua bản dịch cuốn sách của Proust mang về đọc, trước nhất, là để
có một ý niệm chính xác hơn về tình trạng dịch thuật ở Việt Nam; tiếp đến vì
muốn biết sự ra mắt bản dịch một cuốn sach của Proust sẽ được tiếp nhận ra sao,
có gây được âm vang nào trong các giới văn học Viêt Nam, trong nước cũng như
ngoài nước.
Trước hết ta hãy bàn về vấn đề dịch thuật.
Về mặt này, phần đông các bản dịch trong nước trước đây thường bị dư luận hải
ngoại, nói chung, đánh giá là cẩu thả, yếu kém, thậm chí đôi khi còn thể hiện
một tinh thần vô trách nhiệm. Điển hình là nhận xét của học giả Trần Thiện Đạo
qua hai lần trả lời phỏng vấn của nhà phê bình Thụy Khuê trên đài RFI và được
đăng lại trên tạp chí Hợp Lưu số 58 tháng 4&5 năm 2001 và số 82 tháng tháng
4&5 năm 2005. Trong lần trả lời phỏng vấn trên đài RFI – Paris tháng
9-2001, ô. Trần Thiện Đạo, trước tiên, có nhận định là " Ngoại trừ
vài ba nỗ lực hoàn toàn cá nhân như Đoàn Tử Huyến, như Phạm Xuân Nguyên, như
Nguyên Ngọc chẳng hạn... thì (ở trong nước) cho đến nay vẫn chưa thấy ai vừa
vạch ra, vừa thực thi một phương trình phiên dịch và giới thiệu văn học nước ngoài
một cách có hệ thống và có kế hoạch" (HL số 58, tr. 186). Sau đó
ô. Trần Thiện Đạo đã dẫn chứng hai thí dụ dịch sai trong bản dịch Chờ
đợi Godot theo bản tiếng Pháp En attendant Godot của
nhà văn Samuel Beckett, do nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội in. Thí dụ thứ nhất:
Trong câu mở đàu kịch bản: Route à la campagne avec arbre ,
thay vì dịch là Con đường ở nông thôn với một gốc cây, tác giả
lại đổi thành Con đường đẫn về nông thôn, có cây. Thí dụ thứ
hai : Si on se pendait? Ce serait un moyen de bander, thay vì dịch
là Hay ta tự treo cổ ? Đó cũng là một cách để được xuất tinh, người
dịch lại chuyển thành Hay chúng mình tự treo cổ ? Đó cũng là một biện
pháp để tự kết liễu.(HL số 58, tr. 188). Ngoài hai dẫn chứng " dịch
sai ", " dịch là phản " này, ông Trần Thiện Đạo còn lên tiếng
than phiền về vài tệ nạn khác : Đó là dịch không dựa trên bản gốc mà lại thông
qua một bản dịch ngoại ngữ khác khiến văn bản không những dễ rơi vào tình
trạng tam sao thất bổn mà còn khó lột được trọn vẹn tinh thần
nội dung tác phẩm. Tệ nạn này đã được ô. Trần Thiện Đạo nêu lên trong bài phỏng
vấn thứ hai trên đài RFI ngày 18-9-2004 và được đăng lại trên Hợp Lưu số 82
tháng 4&5 năm 2005. Trong cuộc phỏng vấn nêu trên, ông Trần Thiện Đạo bắt
đầu bằng than phiền về việc Hội Nhà Văn Hà Nội vừa trao giải văn học dịch cho
một bản dịch không dựa trên nguyên bản tiếng gốc, mà thông qua một bản
dịch ngoại ngữ khác.(HL số 82, tr. 291). Theo nhận dịnh của ông T.T Đạo đây
làmột việc làm tùy tiện, trái lẽ, gượng ép – hoặc là vì ban giám khảo đã cạn
suy (ai đời lại trao giải dịch thuật cho một bản – dịch từ một bản dịch), hoặc
là, tệ hơn nữa, nói thế nào nhỉ..., hoặc là để bốc bạn bè với nhau – điều này
cũng thường xảy ra ở nhiều địa hạt khác.(Sdd, tr. 292). Đây là một hiện
tượng khá phổ biến vì, cũng theo ô. TT Đạo, rất nhiều sách dịch in ra
mấy năm trở lại đây đã được hay bị thực hiện không dựa trên nguyên bản tiếng
gốc, mà lại thông qua một bản dịch ngoại ngữ khác. Dịch sách, ngay khi
dựa trên bản gốc, nếu không cân nhắc thận trọng đối với cách sử dụng một số câu
chữ của tác giả, có thể dễ bị sa vào bẫy dịch là phản. Huống
hồ là dịch không dựa trên nguyên bản gốc mà lại thông qua một bản ngoại ngữ
dich lại thì dịch, trong trường hợp này, không những có thể là phản, mà
có khi còn là diệt nữa (chữ của ô. Đạo).
Thế nhưng sự nghiêm khắc phê phán công tác
dịch thuật ở Việt Nam không phải chỉ có vậy. Mở lại trang mạng TALAWAS để lục
lọi các bài đã đăng vẫn được lưu trữ trước khi diễn đàn này tự ý ngưng hoạt
động, vào mục " Dịch thuật " ta có thể đọc bài viết ngày 17-10-2006
của Magaret Nguyen mang tựa đề : " Cộng đồng Pháp ngữ Việt Nam, lạc quan
hay bi quan ? " . Trong bài viết này, ô. Magaret Nguyen đã trưng ra một số
hạt sạn lượm lặt trong câu văn chuyển dịch của một số dịch giả. Thí dụ như câu
văn của Camus trong Discours de Suède : " ...De quel coeur aussi
pouvait-il recevoir cet honneur à l'heure où , en Europe, d'autres écrivains,
parmi les plus grands, sont réduits au silence, et dans le temps même où sa terre
natale connait un malheur incessant ? " , Phạm Toàn đã dịch ra
thành : " Thử hỏi anh ta có lòng nào đón nhận vinh quang ấy trong khi ở Âu
châu có các nhà văn khác và là nhà văn lớn vẫn đang bị bóp miệng ngay trong lúc
quê hương họ vẫn bị bóp miệng triền miên ? ". Cái sai lầm
ở đây là người dịch đã đổi tính từ sở hữu số ít (adjectif possessif) sa (terrre
natale) để chỉ quê hương của anh ta tức của Camus ra
thành leur, tính từ sở hữu số nhiều đê chỉ quê hương của họ tức
là quê hương của các nhà văn khác ở Âu châu. Một thí dụ khác là khi Từ Huy dịch
câu văn của Kristeva: "Mais profondément, c'est bien une
Francaise que vous accueillez en moi, que ce soit une
européenne "ra thành" Nhưng sâu xa, chính là quí
vị đón nhận một phụ nữ Pháp ở trong tôi, đó chính là môt phụ
nữ Châu Âu đã Pháp hóa. "Sai lầm ở đây là cụm từ que ce
soit phải dịch thành dù rằng đó là hoặc cho
dù có là chứ không thể đó chính là theo Từ Huy được.
Do đó câu dịch của Từ Huy cần được lại như sau: "Nhưng để diễn
tả sâu xa, đúng là một phụ nữ Pháp quí vị đang đón nhận ở nơi tôi, cho dù có
là một phụ nữ Âu châu đã được Pháp hóa. ".
Tuy nhiên mấy trích dẫn trên đây mới chỉ
nêu lên những sơ suất hay lỗi lầm mà người dịch nếu không để tâm chú ý có thể
mắc phải. Sơ suất là những lỗi nhỏ khi dịch sai do người dịch lơ là mẹo văn
phạm, hoặc hiểu sai nghĩa của từ hoặc của một nhóm từ mà tác giả cố ý dùng để
tạo dấu ấn cho văn phong hoặc kỹ thuật diễn tả của ông. Nếu là những câu văn
thường, thì những sơ suất này có thể tạm bỏ qua vì chúng không ảnh hưởng tai
hại tới nội dung ý nghĩa văn bản, hay đúng ra là câu truyện kể trong tác phẩm.
Riêng đối với các tác phẩm có giá trị văn học nghệ thuật cao được thừa nhận là
di sản văn hóa quốc tế, thì đòi hỏi về chuẩn xác trong dịch thuật phải khe
khắt, triệt để hơn. Đặc biệt với một số từ chủ chốt hay một số câu văn chủ chốt
(mot clef ou phrase clef), tác giả sử dụng với dụng ý. Các trường hợp này, mọi
từ ngữ dịch không phản ánh được dụng ý của tác giả sẽ khiến người đọc hiểu lầm
hoặc không nắm đúng được nội dung thông điệp tác giả muốn truyền đạt. Trong bài
viết " Dịch là phản ? " (1), nhân bàn về bản
dịch truyện " L'Hôte " trong tập " L'exil et le royaume "
của A. camus, chúng tôi đã có dịp chứng minh khi một bản dịch không dựa trên
nguyên tác mà trên một bản văn được dịch lại đã dẫn đến hậu quả tai hại cho
người thưởng ngoạn muốn hiểu biết về nghệ thuật diễn tả cũng như về nội dung tư
tưởng của Camus như thế nào. Trường hợp này, dịch nhiều
khi không chỉ có là phản mà thôi ; đôi khi, dịch còn
là diệt nữa (để mượn lời của ông Trần Thiện Đạo). Bởi vậy,
theo tôi nghĩ dịch sách, nhất là các tác phẩm có giá trị văn học quốc tế, là
một việc làm khó khăn tế nhị. Nó đòi hỏi nơi người thực hiện công tác, không
chỉ sự am tường rành rọt về ngôn ngữ văn bản gốc lẫn tiếng mẹ đẻ, mà còn một
trình độ văn hóa cao nữa. Có thế người dịch mới mong biến công tác dịch thuật
thành một công trình văn hóa đóng góp cho việc mở rộng kiến thức và nâng cao
trình độ thưởng ngoạn của người đọc.
Giờ ta hãy trở về với bản dịch mang tựa
đề Dưới bóng những cô gái tuổi hoa của ông Nguyễn
Trọng Đinh. Như chúng ta đều biết, Marcel Proust là nhà văn Pháp được cả thế
giới ngưỡng mộ với tác phẩm lẫy lừng " A la recherche du temps
perdu " của ông. Tác phẩm dài trên ba ngàn trang và được phân
thành bảy tập truyện với bảy tựa sách khác nhau. Cuốn sách " Dưới bóng
những tuổi hoa " là bản dịch tập hai mang tựa đề A l'ombre
des jeunes filles en fleurs trong toàn bộ truyện của Proust. Cũng là
trường thiên tiểu thuyết, nhưng A la recherche du temp perdu lại
không thuộc loại các bộ truyện tiểu thuyết xã hội dễ dàng câu độc giả như bộ
truyện La Comédie humaine của Balzac hay Les
Rougon-Macquart của Emile Zola nhờ vào các tình tiết gút mắc éo le,
hay các nhân vật nổi bật do đậm đặc cá tính. Tuy cũng cho ta một bức tranh toàn
cảnh xã hội, nhưng bộ truyện của Proust lại không nhằm chủ đích mô
tả các cảnh đời hay thuật lại câu chuyện
các mảnh đời. Khác với các nhà văn thế hệ trước ông, Proust lại muốn biến khung
cảnh xã hội của ông thành môi trường khảo sát và nghiên
cứu để từ đó ông tìm ra ý nghĩa đích thực cho cuộc
sống bản thân. Đó chính là cái đã tạo nên giá trị văn học cho tác phẩm của ông,
khiến nó được liệt vào hạng di sản văn hóa của loài người. Nhưng đây không phải
là đề tài để đem ra thảo luận cho bài viết này. Tôi mong sẽ có dịp đi sâu vào
vấn đề hơn trong một bài viết sắp tới. Điều tôi muốn nêu ra trong bài viết dưới
đây là có nên coi bản dịch của ông Nguyễn Trọng Định như là một đóng góp văn
hóa đáng kể nhằm giới thiệu tác phẩm của Proust với độc giả Việt Nam. Hay, nói
khác đi, bản dịch có đáng tin cậy không, nghĩa là ông Định có phạm phải những
sai lầm đã nêu trên như " dịch là phản " hay " dịch là diệt
" khiến, chỉ riêng về mặt hình thức, bản dịch đã làm giảm trị văn học cuốn
sách của Proust.
Nhưng trước khi đi vào đánh giá bản
dịch A l'ombre des jeunes filles en fleurs của ông Nguyễn
Trọng Định, tôi xin phép được có vài hàng để nói sơ qua về mối tương quan gai
góc giữa tác giả Marcel Proust với giới độc giả. Chỉ riêng về diện này, ta có
thể nói Proust nằm trong số các nhà văn hiếm hoi chọn độc
giả, chứ không thuộc loại nhà văn được độc giả ưa thích đọc. Chọn độc
giả, vì Đi tìm thời gian đã mất không thuộc loại
sách dành cho giới độc giả dễ dãi lấy chuyện đọc sách làm thú vui văn nghệ giải
trí, hoặc do hiếu kỳ muốn biết cuốn sách có gì đặc sắc mà sao lại được ca tụng
đến thế. Đối với thành phần độc giả này Proust, do văn phong của ông, cũng đủ
khiến họ chỉ mới đọc qua vài trang, thậm chí vài dòng đã vội tính đường "
chạy mặt ". Nhận định trên đây chỉ muốn nêu lên một thực tế, chứ không hề
mang dụng ý xúc phạm hay bỉ thử nào. Những ai có làm quen với văn học Pháp
chẳng lạ gì cái tên André Gide, nhà văn của thế kỷ 20 từng được trao giải
thưởng văn học Nobel. Thời còn làm " lecteur " cho Nouvelle revue
Française hay Gallimard ngày nay, tức phụ trách công việc tuyển lựa tác phẩm để
nhà xuất bản cho ấn hành, Gide đã loại bỏ tập A l'ombre des jeunes
filles en fleurs của Proust, sau khi mới đọc vài chương. Về sau, trong
một lá thư gửi cho Proust và N.R.F ngày 11 Janvier 1914, A. Gide đã phải nhìn
nhận lỗi lầm của mình bằng những lời lẽ như sau: "Sự từ chối cho
in cuốn sách này sẽ là sai lầm nghiêm trọng nhất của N.R.F và (tôi
lấy làm hổ thẹn vì có trách nhiệm lớn trong vụ này) cũng là một trong những hối
tiếc, những ân hận cay đắng nhất trong đời tôi." (" Le
refus de ce livre restera la plus grave erreur de la N.R.F et ( car j'ai cette
honte d'en être beaucoup responsable) l'un des regrets, des remords les plus
cuisants de ma vie "Proust: A la recherche du temps perdu,
tome I, collections Bouquins, Editions Robert Laffont, 1987 ; Introduction, p.
XXXII).
Chỉ nội đến với Proust để đọc không thôi cũng
đã trần ai như vậy, nói chi đến việc dịch toàn bộ cuốn sách. Ta có thể sánh mỗi
trang sách của ông như một khu rừng già rậm rạp, mà mỗi câu văn là một gốc cây
đại thụ với rễ mọc tứ phía chằng chịt xoắn xít lấy nhau. Bởi vậy độc giả nào có
ý mạo hiểm vào chốn đó, chẳng mấy chốc đã muốn lùi bước vì cảm thấy sẽ bị lạc
lối trước khu rừng xum xuê um tùm ấy. Tuy nhiên, sau khi đọc bản dịch của ông
Định và đối chiếu một số đoạn với nguyên tác, tôi cảm thấy an tâm phần nào. Tôi
không dám quả quyết rằng bản dịch là hoàn hảo ; nếu chịu khó bỏ công tìm kiếm
hoặc cố tình vạch lá tìm sâu, rất có thể ta sẽ nhặt được một vài hạt sạn. Tuy
nhiên một vài hạt sạn đó, nếu có, tôi không tin là chúng có thể lật đổ nổi cỗ
xe, tức là làm tổn hại tới phần đóng góp của công tác dịch thuật về mặt văn học
nghệ thuật. Qua đối chiếu một số trang dịch với nguyên tác, tôi cảm thấy người
dịch chứng tỏ có nội lực, rằng ông ta không chỉ am tường tiếng của văn bản gốc
lẫn tiếng mẹ đẻ, mà còn nắm vững khả năng diễn đạt đặc thù của mỗi thứ tiếng đó
nữa. Tôi xin minh chứng bằng ngay câu văn mở đầu cho cuốn sách của Proust như
sau: ("Ma mère, quand il fut question d'avoir pour la première
fois M. de Norpois à dîner, ayant exprimé le regret que le professeur Cottard
fût en voyage et qu'elle-même eût entièrement cessé de fréquenter Swann, car
l'un et l'autre eussent sans doute intéressé l'ancien Ambassadeur, mon père
répondit qu'un convive éminent, un savant illustre, comme Cottard, ne pouvait
jamais mal faire dans un dîner, mais que Swann, avec son ostentation, avec sa
manière de crier sur les toits ses moindres relations, était un vulgaire
esbroufeur que le marquis de Norpois eût sans doute trouvé, selon son
expression, " puant. "M. Proust: A l'ombre des
jeunes filles en fleurs - Livre de Poche, Gallimard 1954, p.5 ). Thú
thật, giả dụ có ai đó nhờ tôi dịch câu văn này và là lần đầu tiên tôi được
thấy, chắc chắn tôi phải đọc đi đọc lại nhiều lần may ra mới nắm được ý câu văn
lằng nhằng giây mơ rễ má ấy. Và dù có nắm được ý của toàn câu văn, chưa chắc
tôi đã kiếm được lời trình bày gãy gọn để giúp người nghe hiểu được đại khái
câu văn ý muốn nói lên điều gì. Và sau đây là phần dịch ra tiếng Việt của ông
Nguyễn Trọng Định: "Lần đầu tiên bố mẹ tôi bàn việc mời ông
de Norpois tới ăn tối. Mẹ tôi ý tiếc giáo sư Cottard đi du lịch vắng, đối với
Swann thì bà đã hoàn toàn cắt đứt quan hệ ; giá có hai vị này thì chắc hẳn ngài
cựu Đại sứ thích thú lắm. Bố tôi bảo, một vị khách vĩ đại, một nhà bác học trứ
danh như Cottard không bao giờ có thể thất thố trong một bữa ăn tối, còn với
lối phô trương, cái cung cách hễ quen biết ai là oang oang nêu danh người ta
lên, Swann chỉ là một tay khoe mã tầm thường mà ắt hẳn hàu tước de Norpois sẽ
cho là " thối hoắc " theo lối nói của ông. " (Marcel
Proust : " Dưới bóng những cô gái tuổi hoa " -Nguyễn Trọng
Định dịch - Nhã Nam, Nhà xuất bản Văn Học, tr.9 – 2008)
Vậy là đoạn văn Việt trên đây gồm ba câu
chỉ là sự chuyển dịch một câu văn độc nhất của Proust. Tuy nhiên người dịch,
ông Nguyễn Trọng Định, đã không chỉ dịch máy móc theo từ ngữ (traduire
littéralement) ; trái lại ông đã phân bố câu văn của Proust thành nhiều câu
ngắn hơn - không phải để sửa lại văn của Proust-, mà để dịch cho được thoát ý
bằng những câu văn ngắn cho sáng sủa, với những thành ngữ quen thuộc tiếng Việt
để thay thế lối diễn tả của người Pháp.Td: "mal faire" (thất thố); "crier sur les toits ses moindres relations" (oang oang nêu danh
người ta lên)... Điều này cho phép tôi tin tưởng phần nào bản dịch của ông sẽ
không phương hại tới giá trị nội dung văn học tác phẩm của Proust. Chỉ riêng về
mặt này thôi, cũng đủ cho thấy ông Định đã không ngại bỏ công để khuyến khích
độc giả tiếp tục cuộc phiêu lưu mạo hiểm vào khu rừng già, tức bản dịch cuốn
sách của Proust. Tuy nhiên , đánh giá khả năng dịch thuật của người
dịch không phải là mục đích chính của tôi. Động cơ chủ yếu khiến tôi vội chộp
lấy cuốn Dưới bóng những cô gái tuổi hoa, là do niềm
hân hoan phấn khởi thấy một tác phẩm văn học giá trị quốc tế, từng được dịch ra
hàng chục thứ tiếng trên thế giới, nay được đem ra giới thiệu với độc giả Việt
Nam (2). Tôi tò mò muốn biết tác phẩm sẽ được tiếp nhận ra sao, và tin tưởng,
không ít thì nhiều, nó sẽ được người đời chiếu cố. Về phản ứng trong nước, vì
tôi phải trở lại Pháp ngay sau bữa đó nên tôi không có điều kiện theo dõi để
được biết bản dịch của ông Nguyễn Trọng Định có được đón nhận nhiệt tình hay
không. Thế còn văn học hải ngoại phản ứng ra sao?
Tính từ ngày cuốn sách ra mắt (2008) tới
nay, đã dược trên mười năm rồi. Thế nhưng, qua sự theo dõi của tôi, ít ra cũng
trong giới hạn tìm kiếm của bản thân, tôi có cảm giác là, về mặt này, "
mặt trận miền Tây có vẻ còn yên tịnh lắm thì phải " (3). Như đã trình bày
ở trên, các nhà làm văn học hải ngoại thời gian qua, đều quan tâm, không ít thì
nhiều, tới sinh hoạt văn hóa trong nước, nhất là về mặt dịch thuật. Thế mà
trước một công trình dịch thuật của ông Định, nhất là để giới thiệu với độc giả
Việt Nam một cuốn sách trong bộ truyện Đi tìm thời gian đã
mất khiến Proust được tôn vinh là " nhà văn Pháp có tác phẩm
được dịch và được biết đến nhiều nhất trên thê giới " (lời giới thiêu của
nhà xuất bản trên mặt hai bia sách), dường như lại không có ai nhắc nhở tới,
chứ đừng nói đến bình phẩm. Tôi cho thái độ dửng dưng này là một hiện tượng
đáng buồn và đáng tiếc.
Quan tâm tới tình hình dịch thuật nhằm
giới thiệu các tác phẩm văn học quốc tế có giá trị, theo tôi, là cần thiết và
đáng hoan nghênh. Bởi vì chỉ những bản dịch được thực hiện với trình độ hiểu
biết và ý thức trách nhiệm mới đóng góp hữu ích cho công cuộc truyền bá văn hóa
nước ngoài, nghĩa là giúp cho người đọc mở rộng kiến thức hoặc nâng cao trình
độ thưởng ngoạn văn chương nghệ thuật của mình. Tuy nhiên đòi hỏi một bản dịch
hoàn chỉnh, chỉ mới là diều kiện ắt có hay tất yếu, chứ còn chưa được coi là đầy
đủ. Điều quan trọng không phải chỉ đánh giá khả năng dịch thuật, mà còn cần nêu
rõ phẩm chất văn chương, hay giá trị tư tưởng của tác phẩm được dịch ra sao. Có
thế, sự quan tâm của ta về một bản dịch được thực hiện với tinh thần hiểu biết
và ý thức trách nhiệm, mới thực sự đóng góp hữu ích cho công cuộc truyền bá văn
hóa nước ngoài. Phản ứng của các giới văn học hải ngoại đã vậy, thế còn trong
nước bản dịch của ông Nguyễn Trọng Định có nhận được hưởng ứng nào chăng?
Tháng 10 năm 2018, tôi mới trở lại Việt Nam,
mục đích chính là để thăm bà dì ruột ở Đà Lạt, nay đã ngoại cửu tuần. Tiếp đến,
tôi cũng muốn nhân dịp tìm kiếm cho riêng mình một cái nhìn mà tôi mong là đúng
đắn hơn, xác thực hơn về một Việt Nam đang đổi mới, so với những hình ảnh cực
kỳ tương phản còn được chuyển tải trên các trang mạng. Sau cùng, tôi tò mò muốn
biết bản dịch của ông Nguyễn Trọng Địch ra sao, liệu có được trong nước dành
cho một số phận khấm khá hơn so với các giới văn học hải ngoại.
Vậy là trên mười năm đã trôi qua từ khi
tôi có trong tay bản dịch mang tựa đề Dưới bóng những cô gái tuổi
hoa của ông Nguyễn Trọng Định do Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn, Nhã
Nam phát hành.Mười năm nước chảy qua cầu... Mười năm để mưa
rơi rơi xóa bao lối đi mòn...Mười năm mưa rơi rơi, để ngày trở
lại có được thấy những điều mình vẫn chờ trông?
Chú thích:
1. - Bài Dịch là phản? Của người viết đã được
đăng tải trên một sô diễn đàn mạng.
2.- Bộ A
la recherche du temps perdu đã được một số quốc gia Á châu như Nhật
Bản, Nam Hàn, Đài loan dịch thuật không nói làm chi, tôi chỉ xin nêu trường hợp
ông Jo Yoshida (1950- 2005) để thấy ngay từ thế kỷ trước người Nhật đã chú ý
tới bộ truyện nổi danh của Proust như thế nào. Tốt nghiệp tiến sĩ văn chương
đại học Sorbone Pháp, nhưng ngay khi còn là sinh viên, Yoshida đã say mê Proust
và bỏ nhiều thời gian để sưu khảo về Proust. Và cũng do công trình sưu tầm của
ông, nên Yoshida đã được nhà xuất bản Gallimard mời cộng tác với giáo sư Jean
Yves Tardie cho ấn bản toàn tập A la recherche du temps perdu trong
Tủ sách La Pleiade ( Bibliotheque La Pleiade) , như chúng ta đều biết, là thuộc
loại Tủ sách văn học hiếm quý được thế giới biết tiếng.
Nhưng ở Nhật không
chỉ có mình ông Jo Yoshida mới chú ý tới Marcel Proust. Trên trang mạng Le
Monde ngày 23-3-2020 có đăng bài của Philippe Pons, mang tựa đề "
A la recherche du temps perdu" en japonais ou l' art de traduction, để
nói về Kazyoshi Yoshikawa một nhà sưu khảo Nhật khác về Proust. Yoshikawa cũng
là dịch giả thứ ba bộ A la recherche du temps perdu Proust ra
tiếng Nhật. Hoàn tất năm 2019, bản dịch nay đã bán được 177000 cuốn.
3.- Để mượn tựa
cuốn A l Ouest rien de nouveau của văn hào Đức Eric Maria
Remarque .
2. Máy bay còn đang lượn vòng chờ đáp
xuống phi trường Tân Sơn Nhất, từ ghế ngồi dòm xuống tôi đã bị choáng ngợp
trước bộ mặt thay đổi của thành phố Sài Gòn với những tòa cao tầng mọc lên như
nấm cùng với một vài cây cầu kiến trúc hiện đại dẫn vào thành phố. Rồi tới khi
ngồi trên chiếc tắc xi "uber đưa tôi về khách sạn quang cảnh phố
phường cùng với nhịp độ sinh hoạt ở đây càng khiến tôi thêm bị ấn tượng
(4). Nhiều tòa nhà lầu hoành tráng, kiến trúc hiện đại lần lượt thay thế ngạo
nghễ bên cạnh những căn nhà cũ chật hẹp tường vàng ố trước đây, khiến nhiều con
phố vốn rất quen thuộc với tôi, nhiều lúc nay không còn nhận ra. Đường phố cũng
nhộn nhịp tấp nập hơn với đủ loại xe lưu thông nhiều khi vô kỷ luật, vô trật tự
khiến tình trạng bị tắt nghẹn hầu như cơm bữa. Không chỉ có xe cộ, khách bộ
hành cũng vậy. Trên những con đường nườm nượp đủ loại xe qua lại, tôi được
chứng kiến cảnh một vài khách bộ hành thoải mái băng qua đường rất là vô tư,
bất chấp những tiếng còi bóp inh ỏi, làm như họ đã thuộc nằm lòng cái luật giao
thông ở đây: "Xe có bổn phận tránh người, chứ người không việc gì phải
tìm cách né xe". Cảnh tượng hi hữu hầu như độc nhất vô nhị ấy đã khiến
một vài du khách vội lôi smartphone ra thu hình, chắc là để lưu niệm.
Tuy nhiên bên cạnh cảnh tượng thân thương
mang dấu ấn cây nhà lá vườn ấy, không thể phủ nhận là Việt Nam nay đã có khuôn
mặt của một đất nước trên đà phát triển và hiện đại hóa. Đường phố khá sạch sẽ,
không đến nỗi bụi bậm và ô nhiễm như tôi tưởng. Nơi tôi tạm nghỉ là một khách
sạn ngay bên hông chợ Bến Thành. Nơi đây nay đã trở thành khu "Tây ba lô" mới nên tôi thường gặp đủ loại du khách nước ngoài. Còn khu Bùi Viện hay
"Tây ba lô" cũ giờ hầu như đã trở thành một thứ chợ "Sex", nhất là về đêm, dành cho khách lạ bốn phương muốn biết mùi vị hương xa
của lạ Việt Nam, tương tự xóm Pigalle của Paris trước đây. Còn lại, những nơi
khác trong thành phố tôi đặt chân tới, đều là những cửa hàng trưng bày khá mỹ
thuật, bằng không hầu hết đều là nhà hàng, quán nhậu, quán cà phê, hay quán
nhạc karaoké. Về phần khu " Tây ba lô " mới nơi tôi tạm trú, khách
sạn và chi cuộc du lịch mọc lên nhan nhản. Một vài nơi tôi ghé lại tham khảo
đều được nhân viên tiếp đón nhã nhặn, hướng dẫn tận tình. Vào thăm Chợ Bến
Thành, tôi nhận thấy các quày hàng bày biện tươm tất ; đặc biệt là khu dành cho
trái cây, ở bên trong cũng như bên ngoài chợ, các loại trái cây được sắp xếp
ngay hàng thẳng lối, thứ nào ra thứ nấy nom rất mỹ thuật bắt mắt. Giá cả tương
đối ổn định, không quá nói thách bắt khách mua hàng phải mất công trả giá như
trước đây. Cũng tại những nơi này tôi ít gặp hành khất và cũng chưa là nạn nhân
của một vụ trộm cắp hay cướp giật như lần đầu về, khi Việt Nam mới bước sang
giai đoạn mở cửa. Điều này không có nghĩa là các tệ nạn này không có ở Việt
Nam. Nạn móc túi hay cướp giật ở đâu mà chẳng có. Ngay tại Paris, kinh đô của
ánh sáng, cũng xảy ra vô số những vụ cướp giật, móc túi, đặc biệt là các hầm métro,
các nơi tập trung du khách như Tháp Eiffel, đại lộ Champs Elysée khiến giới hữu
trách phải có lời cảnh báo du khách nên thận trọng mỗi khi lai vãng các khu vực
này. Tuy nhiên, tôi có cảm giác là tệ nạn xã hội kể trên, ít ra theo cảm nhận
của riêng tôi, tại Việt Nam có phần đã giảm đi nhiều. Tôi cho rằng tình trạng
cải thiện này là do người dân đã ý thức được rằng mọi phong cách sử xự lịch
thiệp, đúng đắn với du khách là để phục vụ cho quyền lợi của chính họ. Càng giở
trò chặt chém, lường gạt bao nhiêu, họ càng làm cạn đi nguồn tài nguyên ngoại
nhập bấy nhiêu. Tóm lại, về mặt phát triển và hiện đại hóa, Việt Nam đã có
những bước tiến đáng kể. Mức sống người dân trong nước, nói chung, cho thấy có
dấu hiệu được nâng cao và cải thiện. Tuy nhiên, niềm lạc quan phấn khởi của tôi
trước một hình ảnh tốt đẹp ấy về Việt Nam đã giảm dần để trở thành phần nào
quan ngại khi đi sâu vào tìm hiểu về đời sống tinh thần và tâm linh của xã hội
Việt.
Cũng như bao người Việt khác sống xa quê
hương, và dù nay được mang nhãn hiệu Việt Kiều, tôi không vì thế mà để mất căn
cước tính Việt Nam (identité vietnamienne) của mình. Trái lại là đằng khác.
Càng sống xa quê hương bao nhiêu, tôi càng luyến nhớ những hình ảnh thân quen
của thời thơ ấu cũ : lũy tre xanh đùm bọc thôn xã, cây đa với mái chùa cổ đầu
làng, con trâu hiền lành nhai cỏ bên bác nông phu mơ màng say khói thuốc, quán
tranh nghèo với cô hàng môi đỏ màu trầu đon đả mời chào khách qua sông... Đó là
những hình ảnh tiêu biểu cho một nếp sống bình dị mộc mạc của một đất nước còn
chưa phát triển, nhưng không hề lạc hậu vì vẫn duy trì được một truyền thống
văn hóa cao đẹp. Tiếc thay những hình ảnh đẹp đẽ đó, cũng như truyền thống văn
hóa cao đẹp đó đang ngày thêm xóa mờ. Nay ai có trở về thăm Việt Nam, chắc khó
tìm ra được một lũy tre xanh tại những vùng quanh các đô thị lớn. Ngay cả ngôi
chùa cổ với vị sư già hiền từ trong tấm áo nâu sòng bạc màu cũng khó lòng tìm
lại. Thay vào đó là những đền đài sơn son thiếp vàng với những bậc " cẳng
tu " (xin được dùng chữ nôm thay hai chữ " chân tu " lai Hán),
ăn mặc lòe loẹt như diễn viên phường chèo, mỗi tuần chay lại tổ chức đại nhạc
hội " karaoké " lên bục cầm micro hát " Ai cho tôi tình yêu
" gọi là để làm công tác xã hội gây chùa. Không chỉ có vậy, các bậc "
cẳng tu " ấy còn dụng ý biến các ngôi chùa hoành tráng mới dựng lên thành
một môi trường kinh doanh. Lợi dụng lòng tín ngưỡng của khách thập phương, họ
đã làm sống lại những hủ tục dị đoan đã một thời bị xóa bỏ như tục đốt vàng mã,
lễ cầu siêu, lễ cầu an, lễ giải hạn v.v...(Coi bài của Trần Văn trên Đài VOA
ngày 13-2-2019). Lẽ dĩ nhiên những buổi lễ cúng kiến linh đình ấy chỉ dành cho
những thành phần có máu mặt, nhiều tiền của. Càng bỏ tiền cúng dường để phô
trương sự giàu sang, quyền thế của mình bao nhiêu, họ càng được trọng đãi bấy
nhiêu. Còn đám dân nghèo làm ăn chân chỉnh, đến chùa vào những dịp lễ hay ngày
rằm, để mong được sống với niềm tin tôn giáo, khó mà mon men tới được các chốn
ấy, nếu không muốn nói là bị gạt ra bên lề. Về mặt tâm linh tín ngưỡng còn bị
sa đọa như vậy, thế còn đời sống tinh thần đặc biệt về mặt sinh hoạt văn
học, nghệ thuật thì sao ? Càng đào sâu tìm hiểu, tôi càng có cảm giác trong nỗ
lực đổi mới để phát triển và tiến bộ, Việt Nam hay đúng ra là một giai tầng xã
hội, đang đua đòi chạy theo nếp sống xa hoa của xã hội tiêu thụ để bị đồng
hóa, thậm chí đôi khi còn là tha hóa hơn là hội
nhập một thế giới thực sự văn minh tiến bộ.
Hội nhập là khi ta biết thủ
đắc cái hay cái đẹp, cái tinh hoa nơi người, biết cách tiêu hóa những thứ đó
làm cho cái tinh hoa nơi ta được phát huy, ngày một thêm phong phú, nhưng không
vì thế mà làm mất đi cái bản ngã của ta. Trong truyền thống sinh hoạt văn hóa,
nhân dân ta đã hai lần chứng tỏ có một khả năng hội nhập cao. Thời kỳ đầu là
" một ngàn năm đô hộ giặc Tàu ", tức là thời kỳ chịu nhiều ảnh hưởng
Hán học. Thời kỳ này, chữ Nho được trọng dụng, nhưng không vì thế tiếng Việt bị
lơ là để ngày thêm mai một. Trái lại là đằng khác. Dù chịu ảnh hưởng nhiều của
Hán học, nhân dân ta đã khôn ngoan mượn một số từ ngữ Hán kết hợp với một số từ
thuần Việt để làm giàu ngôn ngữ, giúp ta tăng cường khả năng chuyển đạt, diễn
ý. Để chứng minh, tưởng chỉ cần nhắc đến Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du là đủ.
Tuy phỏng theo một truyện cổ Trung Hoa và dựa trên nhiều điển tích Trung Hoa,
nhưng tác phẩm lại được diễn tả với tâm hồn Việt Nam dựa trên thể lục bát dân
gian cùng với hình ảnh và âm thanh luyến láy gợi cảm. Phải chăng vì vậy mà bất
cứ bà mẹ quê nào cũng biết à ới ngân nga dăm ba câu thơ Kiều trong lúc đong đưa
chiếc võng ru con ngủ. Và phải chăng cũng vì bản chất tâm hồn Việt Nam ấy nên
Truyện Kiều mới được xếp vào hàng di sản văn hóa quốc gia.
Nhưng để trình bày cho cụ thể, đề nghi
chúng ta hãy khảo sát bốn câu thơ dưới đây mở đầu cho bài " Chiều
hôm nhớ nhà " của Bà Huyện Thanh Quan nói lên nỗi nhớ nhà của một
khách tha hương :
Chiều trời bảng lảng
bóng hoàng hôn
Tiếng ốc xa đưa, vẳng trống đồn
Gác mái ngư ông về viễn phố
Gõ sừng mục tử lại cô thôn...
Ngay câu mở đầu, chữ chiều đặt
trước chữ trời, tôi cho là có dụng ý hẳn hoi. Ở vị thế đảo ngữ
này, chữ chiều hẳn muốn nhắc nhở ta rằng chính khoảnh
khắc thời gian (vào lúc chiều tàn) mới là tác nhân làm sống dậy nỗi
buồn nhớ nhà nơi tác giả; chứ không phải khung cảnh trời đất của
buổi chiều. Tiếp đến, hai chữ bảng lảng gợi cho ta một
khung cảnh ánh sáng chập chờn huyền ảo khiến buổi chiều hôm càng khơi dậy nỗi
buồn nhung nhớ. Vậy mà về sau, mỗi lần nhắc tới bài thơ, tôi đã vô tình đổi câu
thơ thành : Trời chiều thoi thóp ánh hoàng hôn, và rồi quen
thói, đinh ninh đó chính là câu thơ của tác giả. Sở dĩ tôi không hề mảy may
thắc mắc vì thoi thóp ánh nghe mới hợp tai, hợp nhãn, hợp khẩu
vị. Hợp khẩu vị, vì thoi thóp ánh là một hình tượng so sánh
đẹp, rất đẹp nên được các tao nhân mặc khách thích vay mượn (cũng như một sô
bình luân gia chính trị thích quanh quẩn với một số từ ngữ luận điệu cố hữu).
Riết trở thành thói quen, khiến hình tượng mỗi lúc một trở thành sáo mòn ước
lệ, để cuối cùng chỉ đem đến cho ta một thứ cảm xạ công thức. Bị sửa đổi như
vậy, câu thơ của Bà Huyên Thanh Quan sẽ bị tước đoạt thi tính rất nhiều. Hình
tượng thoi thóp ánh đẹp thì có đẹp, đậm nét có đậm nét,
nhưng là kết quả của một hoạt động tư duy để mô tả bằng so sánh. Trái lại chỉ
có bảng lảng bóng mới nói lên sự tiếp nhận trực tiếp
của thị giác, mới gợi cho ta cái ấn tượng ánh sánh chập chờn lẩn khuất vào lúc
hoàng hôn chạng vạng. Chính cái cảm giác hãy còn nhập nhòa thiên về gợi cảm hơn
là mô tả, cái ấn tượng hãy còn lung linh mờ ảo mà ở đó " cái Mơ hồ
được hòa nhập với cái Chính xác " (Où l'Indécis au Précis se joint) mới
truyền đạt cho ta chất thơ, theo L'Art poétique của Verlaine.
Nhưng cảnh chiều hôm không chỉ được họa bằng ánh sánh và màu sắc. Bức tranh
toàn cảnh huyền ảo đó còn được bổ túc bằng thanh âm trong câu hai : Tiếng
ốc xa đưa, vẳng trống đồn. Bình thường tiếng ốc (tù và), tiếng trống
đều là những âm thanh chát chúa mỗi lần nổi lên. Nhưng nhờ vào các động
từ xa đưa, vẳng chúng chỉ còn là những vang vọng xa xôi
khiến ta liên tưởng tới một không gian mênh mông trống trải như muốn làm tăng
thêm cảm giác cô đơn nơi lữ khách.
Từ toàn cảnh thời gian, không gian trải
rộng, ống kính sáp lại gần hơn trong câu ba và bốn để đưa ta trở về với cái
không khí an lạc hài hòa của đời sống thôn dã. Gác mái (c.3), gõ
sừng (c.4) là những nhóm từ chỉ động tác ; nhưng phần năm chữ còn
lại của mỗi câu thơ lại gợi cho ta dáng đi thư thái an nhàn của ông lão đánh
cá, cũng như hành động hồn nhiên của đứa bé chăn trâu. Thêm vào đó, cách phân
bố cân xứng hài hòa từ lời, từ âm tới mạch điệu (2/5) cũng như hình ảnh, đã tạo
cho bức tranh vẻ đẹp của của một cuộc sống an lạc hài hòa thôn dã khiến ta nao
nao muốn được, như Proust, làm cuộc hành trình" đi tìm thời gian đã mất
" (A la recherche du temps perdu).
Bốn câu thơ trên đây, như chúng ta đều
biết, là khổ đầu của bài thơ tuyệt tác theo thể thất ngôn bát cú Đường Thi. Đây
là một thể thơ Trung Hoa kinh điển với niêm luật khắt khe, chỉ những bậc thi
nhân tài hoa mới làm ra những bài thơ để đời. Sự thành công của bài Chiều
hôm nhớ nhà cũng không thoát khỏi qui luật này. Xin được dẫn chứng
bằng hai câu thơ dưới đây :
(3) Gác mái,/ ngư ông về viễn phố
(4) Gõ sừng,/ mục tử lại
cô thôn)
Có thể nói đây là hai câu thơ thuộc loại
tuyệt tác nhất của Bà Huyện Thanh Quan. Tuyệt tác, trước hết bởi vì nó đáp ứng
được các đòi hỏi khắt khe của niêm luật cổ thi về mặt đối xứng : nhịp đối nhịp
(2/5) ; động tác đối động tác (Gác mái / gõ sừng), từ ngữ đối từ
ngữ (ngư ông/ mục tử), hình tượng đối hình tượng (về viễn phố/lại cô
thôn)... Tiếp đến là thành tựu của bài thơ về mặt niêm luật cổ thi như
vậy không chỉ dành cho các cụ đồ sinh nho vừa ngâm nga vừa nhấp ngụm trà thưởng
thức. Nó còn được lưu truyền và phổ biến rộng rãi trong dân gian do bài thơ là
bức họa một khung cảnh thôn dã đậm đà bản sắc dân tộc với dáng đi thư thái an
nhàn của ông lão đánh cá cũng như động tác hồn nhiên vô tư của đứa bé chăn
trâu. Hình ảnh gợi lên quá bình dân gần gũi dến độ các từ ngữ Hán ngày một trở
nên quen thuộc để cuối cùng được sử dụng như một thành phần ngôn ngữ Việt (viễn
du, viễn khách, viễn xứ, viễn chinh...). Ta có thể nói bài thơ trên đây là
thành tựu của sự hội nhập một nền văn hóa cao, nhưng không để bị đồng hóa. Một
ngàn năm đô hộ giặc Tàu đã vậy. Thế còn một trăm năm nô lệ giặc Tây thì sao ?
Dù người Pháp đặt chân tới Việt Nam là
nhằm mục đích xâm lược, nhưng nhân dân ta đã không bỏ lỡ cơ hội được tiếp xúc
với nền văn hóa Tây phương để gia tăng nhận thức và mở rộng cảm quan thưởng
ngoạn của mình. Khỏi cần nhắc tới Tự Lực Văn Đoàn, hẳn ai cũng
biết cả rồi. Tôi chỉ xin trích dẫn vài câu thơ dưới đây trong bài Hổ
nhớ rừng của Thế Lữ để có cơ sở kiểm chứng :
Nào đâu những đêm vàng
bên bờ suối
Ta say mồi uống ánh trăng tan?...
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
Cũng là bài thơ nói lên nỗi niềm tiếc nhớ,
nhưng bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan gợi lên cho ta một bức tranh êm đẹp hài
hòa bao nhiêu, thi mấy câu thơ của Thế Lữ lại bày ra trước mắt ta một cảnh
tượng man rợ, hung bạo bấy nhiêu. Không chỉ bằng từ ngữ (lênh láng máu sau
rừng), mà còn bằng âm sắc và mạch điệu nữa. Thí dụ như câu: Ta
đợi chết/ mảnh mặt tròi gay gắt. Câu thơ
tám chữ, thì năm chữ lại thuộc âm trắc (đợi, chết, mảnh, mặt, gắt); hơn thế hai
chữ chết và gắt lại được đặt ở vị trí nghỉ
hay ngắt nhịp. Cách bố trí mạch điệu này càng làm dấy nơi ta cái cảm giác hung
bạo mang bản chất dã thú man rợ.
Hai bài thơ trên đây được sáng tác vào hai
thời kỳ khác nhau với hai kỹ thuật diễn tả khác nhau cho thấy chịu ảnh hưởng
hai nền văn hóa khác nhau. Nhưng cả hai đều là những bài thơ tuyệt tác. Điều
này chứng tỏ nhân dân ta là một dân tộc có nội lực và khả năng hội nhập cao.
Nhưng không chỉ riêng có lãnh vực văn chương chữ nghĩa; mà còn cả một số lãnh
vực văn hóa, nghệ thuật khác. Xin được bước qua lãnh vực âm nhạc để dẫn chứng.
Do sự có mặt của người Pháp, cũng như văn thơ, âm nhạc Việt Nam như được thổi
một luồng gió mới đem lại một sinh khí mới với các bản nhạc như Thuyền
mơ, Áng mây chiều của Dương Thiệu Tước, hoặc Con thuyền không
bến, Đêm thu của Đặng Thế Phong... Toàn là những tiết tấu giai điệu
mới mang âm hưởng nhạc thính phòng Tây phương. Bất kỳ ai, khi nghe vọng lên các
giai điệu ấy không thể không cảm thây tâm hồn rung động cho được. Đặc biệt là
bản Đêm thu của Đặng Thế Phong. Mở đầu là nhịp Slow rồi đến
nhịp Valse, toàn là những giai điệu hoàn toàn tây phương. Nhưng với kỹ thuật
điêu luyện tiếp thu và bằng rung cảm tâm hồn dận tộc, bản nhạc đã có sức mạnh
truyền cảm và gợi cảm không thua gì bản Sonate au clair de lune của
Beethoven. Chỉ cần nghe những nốt nhạc vọng lên cũng đủ khiến tôi hình dung ra
cảnh tượng một đêm thu, mặt trăng êm ả từ chân trời hiện lên soi sáng cả khu
vườn. Tiếp đến là điệu valse nhịp nhàng rộn rã làm tôi liên tưởng cảnh trăng
lên tới đỉnh cao ánh sáng rực rỡ, cùng lúc gió bắt đầu trổi lên khiến hoa, lá
lao xao lay động như muốn nhảy múa chào mừng ánh trăng. Nhưng có lẽ cũng nên kể
thêm một bản nhạc khác hầu như nay đã chìm trong quên lãng, mang tựa đề Ngày
xưa của Nguyễn Văn Quý hay Nguyễn Văn Quỳ tôi không nhớ lắm, nhưng vẫn
còn nhớ lời mây câu mở đầu như sau : " Giòng sông Hát ánh trăng mờ
chiếu. êm đềm trôi về đến nơi nao. Sóng đưa lăn tăn con thuyền xa bến....".
Cũng với một giai điệu khiêu vũ tây phương, nhưng bằng một âm điệu nhịp nhàng
êm dịu, tác giả đã diễn tả nỗi buồn sâu lắng của mình bên giòng sông Hát khi
tưởng nhớ tới hai chị em Bà Trưng đã anh dũng đứng dậy chống quân Bắc xâm lược
để trả thù nhà, rồi chọn cái chết để đền nợ nước và bảo vệ thanh danh, tiết
hạnh.
Một vài dẫn chứng trên tưởng cũng đủ cho
thấy nhân dân ta là một dân tộc bản lãnh và dồi dào khả năng hội nhập. Bản lãnh
ở chỗ nhân dân ta, dù phải sống dưới nhiều ách thống trị của ngoại nhân vẫn
không quản ngại khó khăn đương đầu đê giành lại chủ quyền cho đất nước. Dồi dào
khả năng hội nhập là vì nhân dân ta không bỏ lợi cơ hội được tiếp xúc với các
nền văn minh mới, văn hóa mới đã chịu khó học hỏi trau giồi kiến thức, để nâng
cao khiếu thẩm mỹ (sens esthétique) và mở rộng cảm quan thưởng ngoạn (jouissance
esthétique) ; nhưng không vì thế mà để cho bị đồng hóa. Thế còn Việt Nam ngày
nay, với nhiều điều kiện giao tiếp thuận lợi hơn với thế giới bên ngoài, có
thực hiện thêm được tiến bộ hội nhập đáng kể nào chăng, hay là chỉ biết chạy
theo đua đòi để trở thành bị đồng hóa?
Bị đồng hóa là khi thấy
bất kỳ cái gì mới lạ ta đều cho là hay, là đẹp và, do mặc cảm thua kém, ta nhắm
mắt đua đòi chạy theo mà không tự vấn những cái mà ta cho là hay là đẹp đó có
có cần chế biến cho phù hợp với lục phủ ngũ tạng truyền thống văn hóa của ta
hay không. Hay là sự đua đòi bắt chước máy móc mù quáng ấy chỉ đem lại hậu quả
là để cho những cái mới lạ đó lần lần lấn át, làm biến đổi cái phẩm chất, cái
tinh hoa nơi ta. Đó là hiện tượng đã xảy ra, ngày một thêm phổ biến tại Việt Nam.
Trớ trêu thay, hiện tượng này được nhận thấy không phải nơi thành phần đại
chúng, mà là thuộc giới trưởng giả, thượng lưu, tựu trung là những thành phần
thuộc về thương tầng kiến trúc, theo nghĩa kinh điển của học thuyết mác xít.
Thoạt nghe, nhận định trên có vẻ là một
nghịch lý. Bởi vì, ngay dưới hai thời kỳ bị chiếm đóng lâu dài, nhân dân ta đã
chẳng chứng tỏ được khả năng hội nhập cao đó sao? Vậy mà ngày nay đất nước
chẳng những đã thống nhất, giành được chủ quyền rồi, lại thêm kỹ thuật truyền
thông tiên tiến hiện đại, nhân dân ta được tiếp xúc dễ dàng với đủ nền văn
minh, văn hóa trên thế giới. Với những điều kiện học hỏi thuận lợi như vậy,
nhân dân ta phải càng có thêm cơ hội để hội nhập thế giới văn minh tiến bộ chứ.
Tại sao lại nói là có hiện tượng văn hóa suy thoái để trở thành nguy cơ bị đồng
hóa?
Muốn có câu trả lời thỏa đáng, có lẽ ta
cần trở về với nền tảng giá trị tinh thần và cơ cấu xây dựng tòa nhà Việt Nam.
Dân tộc ta có truyền thống tôn trọng phẩm cách con người và lấy phần đóng góp
cho lợi ích chung làm tiêu chuẩn đánh giá, nên đã phân định xã hội ra làm bốn
thành phần :sĩ, nông, công, thương theo thứ tự từ cao xuống thấp
như sau: nhất sĩ, nhì nông,
tam công, tứ phú.
- Nhất sĩ: sĩ đây là sĩ phu, sĩ tử, là
những người có trình độ học vấn cao, hiểu biết nhiều, dù đỗ đạt được bổ nhiệm
làm quan, hay chỉ là ông đồ nho sống ẩn dật lấy văn thơ cùng việc dạy dỗ con
trẻ làm niềm vui thú. Nhưng cả hai giới này đều có chung một điểm là lấy hai
chữ liêm khiết, chính trực làm phương châm sử thế, nên hết
lòng đem vốn kiến thức của mình để khai hóa đất nước, nâng cao trình độ nhận
thức cho toàn dân. Bởi vậy họ mới đươc tôn lên hàng thượng lưu xã hội,
- Nhì nông: nhà nông, dưới con
mắt người đời, thường bị coi là quê mùa cục mịch, không biết dùng
lời hoa mỹ nên bị liệt vào hạng cùng đinh xã hội. Không lấy làm buồn, người
nông dân vẫn chăm lo công việc đồng áng, và dành những lúc được nghỉ ngơi để
tâm tình bàu bạn với con trâu bằng những lời lẽ chân quê mộc mạc, vậy mà nay
đọc lại, tôi thấy sao đậm đà chất thơ:
Trâu ơi, ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta
Cày cấy vốn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy ai mà quản công
Bao giờ lúa chín đầy đồng
Ta ra ngoài ruộng lấy rạ trâu ăn.
(Theo Quốc văn giáo khoa thư)
Mải chăm lo công việc đồng áng và chỉ biết
tâm tình thủ thỉ với con trâu, bác nông phu đâu có ngờ rằng xã hội truyền thống
của ta lại xếp bác vào bậc hai, chỉ sau giới thượng lưu trí thức. Lý do cũng dễ
hiểu thôi, nước ta vốn là một nước nông nghiệp, mà bác nông dân lại là thành
phàn có công đóng góp lớn nhất vào việc cung cấp lương thực cho cả nước. Sự quí
trọng vai trò xã hội của người nông dân còn được biểu lộ qua câu hát vần vè
trong dân gian như sau
Nhất sĩ nhì nông,
Hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ.
- Tam công: côngđây là thợ
thủ công nghệ, những người làm việc bằng tay chân, nhưng không thuộc
thành phần nông dân, như thợ mộc, thợ nề, thợ chăn tầm dệt vải, thợ vẽ, thợ
điêu khắc v.v... Thành phần này được xếp vào hạng ba trong bậc thang xã hội bởi
vì việc làm của họ không chỉ hữu ích cho xã hội, mà còn đóng góp phần nào cho
bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc qua các công trình xây cất đền đài, những bản
điêu khắc chạm trổ, những tấm tơ lụa, những bức tranh Đông Hồ...
- Tứ phú: phú đây là phú thương, phú hộ, tức
là thành phần xã hội làm giàu chỉ nhờ vào buôn bán, hoặc là những tay điền chủ,
đại điền chủ sống nhàn hạ trên lưng các nông dân nghèo khó phải làm thuê cấy
mướn cho họ. Tuy là thành phần có tiền có của được ăn trên ngồi trốc thiên hạ,
những họ bị liệt xuống hạng cùng bậc thang xã hội, bởi vì sự giàu sang của họ
không giúp ích được gì cho xã hội, nếu không muốn nói tiền của đó đôi khi chỉ
là thành quả của mánh lới làm ăn lươn lẹo hay bóc lột sức lao động người khác.
Sự đánh giá và phân định các
thành phần xã hội theo bậc thang thứ tự trên cho thấy trong những giai đoạn lịch
sử trước đây, xã hội ta là một xã hội nhân bản, chú trọng tới phẩm cách con người.
Nhân dân ta không coi trọng quyền lực, danh vọng hay của cải, mà chỉ coi trọng
những bậc sĩ phu quân tử, bất kỳ thuộc giai tầng xã hội nào, biết lấy câu
"trọng nghĩa khinh tài" và câu "tiên học lễ, hậu học văn"
làm đạo đức sống, đồng thời làm tiêu chuẩn đánh giá con người. Phải chăng đặc
tính nhân bản này đã giúp nhân dân ta có một sức đề kháng (anti corps) cao,
giúp đất nước ta chống trả lại được mọi mưu toan xâm lược, thống trị bất kỳ dưới
hình thức nào, dù bằng vũ lực hay văn hóa. Và phải chăng đó cũng là lý do khiến
nhân dân ta đă có khả năng hội nhập cao, bởi vì thành phần được coi thuộc về
thượng lưu xã hội luôn luôn tìm cách học hỏi để mở rộng kiến, nâng cao trình độ
văn hóa của mình để đóng góp hữu ích cho xã hội. Trường hợp mấy câu thơ trong
bài "Chiều hôm nhớ nhà" của Bà Huyện Thanh Quan, hoặc trong bài
"Hổ nhớ rừng" của Thế Lữ qua hai giai đoạn lịch sử nêu trên, cho thấy
sức mạnh đề kháng của nhân dân ta như thế nào, trong khi vẫn nỗ lực bắt kịp
trào lưu tiến hóa về mặt đời sống văn hóa và tinh thần. Trong những hoàn cảnh đất
nước gặp khó khăn như vậy, nhân dân ta không chỉ biết bảo tồn mà còn phát huy
được bản sắc dân tộc để vươn lên theo kịp đà tiến hóa nhân loại. Vậy mà với những
điều kiện thuận lợi hiện nay, sao lại nói nhân dân ta có nguy cơ bị đồng hóa?
Câu hỏi trên thực ra không có gì là nghịch lý cả, nếu ta chịu bỏ công tìm hiểu
về các điều kiện hoàn cảnh và thời điểm luồng gió mới được thổi vào, thực chất
nó ra sao và do ai đem tới?
Chú thích:
- (4) Từ ấn tượng ở đây không theo nghĩa được dùng phổ biến hiện nay
ở Việt Nam, Trái lại, xin hiểu theo nghĩa từ impression lần đâu tiên nhà phê bình Leroy dùng để nói lên cảm
nhận của ông trước bức họa "Soleil levant" của danh họa Claude Monet, một trong những nhà
khai sáng ra trường phái hội họa ấn tượng (L'Impressionimsme). Leroy dùng từ này để nói lên cái cảm giác bị
choáng ngợp trước cảnh tượng bình minh hào quang rực rỡ. Đây chỉ là cảm nhận
trong khoảnh khắc, tức thời theo thị giác; chứ không phải là hình ảnh của hiện
thực theo nhận định của trí tuệ. Bởi vậy từ ấn tượng không phải lúc nào cũng là một lời ca tụng, khen
ngợi; trái lại đôi khi còn là một ngụ ý châm biếm, riễu cợt. Thí dụ như trong
câu nói sau "Trên sân khấu, nữ diễn viên danh tiếng một thời ấy, vẫn làm
khán giả phải choáng ngợp trước vẻ đẹp ấn tượng của cô ta;
nhưng nếu tình cờ được thấy cổ khi vừa thức giấc, chắc ta không khỏi giật mình". Xin mời đọc thêm bài " Trường phái ấn tượng hay là ngôn ngữ hội họa
sáng tạo" của người viết đã được phổ biến trên một số
diễn đàn mạng.
3. Về thời điểm, ta có thể nói là đó
khoảng thời gian những năm đầu của thập niên 80 thế kỷ trước, khi nhà nước Việt
Nam bắt đầu cho thi hành chính sách mở cửa đón nhận người nước ngoài vào thăm
bất kỳ từ đâu tới, không kể quốc tịch nào. Về phần cộng đồng người Việt hải
ngoại, lúc đầu phần nào còn dặt dè, e ngại. Chỉ riêng một số ông bà già cả,
phần không thích nghi được với nếp sống văn minh máy móc nơi xứ người, phần lâu
ngày sống xa quê hương nhớ con nhớ cháu, bà con lối xóm cùng với tập tục lề xưa
thói cũ quê nhà, nên tỏ ý muốn vể thăm. Các con cháu, thông cảm tình cảnh các
cụ tối ngày tha thẩn trong căn phòng vắng vẻ, nên sẵn lòng bỏ tiền mua vé máy
bay để làm vui lòng các cụ. Một số còn có ý mượn dịp để nhờ các cụ thăm dò tình
hình đường đi nước bước ra sao. Thế là các cụ hân hoan xen lẫn hồi hộp trở về.
Các cụ trở về đúng lúc người dân trong nước vùa được ra khỏi chế độ bế quan tỏa
cảng với những điều kiện sống khắc khổ do chính sách thắt lưng buộc bụng của
nhà nước. Bởi vậy các cụ đều được người thân ruột thịt, bà con họ hàng hân hoan
niềm nở tiếp đón. Hân hoan niềm nở bởi vì họ như kẻ đang phải sống bít bùng
được ra ngoài nhìn trời xanh chan hòa ánh sáng. Cái gì được nghe kể lại với họ
đều là hay là đẹp, là mới lạ. Và một vài món quà người thân đem vê, dù chỉ là
những món hàng tầm thường nơi xứ người, với họ đều được coi là những món quà
ngon lành đắt giá. Bởi vậy họ đã đón nhận mấy món quà từ tay người thân trao
lại bằng bộc lộ một niềm hân hoan nồng nhiệt, chẳng khác chi cái vui mừng hớn
hở của mấy đúa bé quê nghèo khi xưa được mẹ đi chợ xa về giúi vào tay miếng
bánh đa hay viên kẹo bột. Viết ra những hàng chữ trên đây, tôi không hề có ý
súc phạm hay coi thường người dân trong nước vào thời điểm đó. Những ai đã từng
phải trải qua một thời gian sống trong các trại giam cải tạo (5) may ra mới
biết cảm thông với thái độ tiếp đón nồng hậu trang trọng ấy, Riêng về phần tôi,
làm sao quên được cái bữa đó... Cái bữa mùa thăm nuôi được mở màn...
Sau một ngày lao động cực nhọc, vừa buông
tay cuốc đã thấy thằng bạn khác đội được thăm nuôi trước, mặt tươi rói tới ghé
tai nói nhỏ : " Bữa nay tụi tao mở " bum " (boum) nhớ qua
chơi nghe mầy." Thế là bao nhiêu cực nhọc trong ngày hầu như tan biến. Tối
về sau khi tắm rửa sạch sẽ, tôi mới lên khung bộ đồ vía nghĩa là chỉ có vài ba
miếng vá chưa đến nỗi tả tơi như mấy bộ để đi lao động, hồ hởi tiến về phía lán
thằng bạn. Mới tới gần cửa lán, chỉ nội được " nghe" cái mùi cà phê
thứ thiệt tỏa thơm phưng phức cũng đủ làm tôi đê mê ngây ngất, chẳng khác chi
lúc kẻ phàm tục được hít hà mùi thơm trinh nữ toát ra từ tấm thân ngà ngọc của
một nàng tiên xuống trần. Thể rồi khi được tợp ngụm cà phê đầu tiên... Mẹ kiếp!
Không biết mấy thằng cha tân đại gia thừa tiền dư của huênh hoang đã nếm đủ mọi
thứ sơn hào hải vị, có được những bữa ăn ngon miệng ra sao; chứ tôi í à, chỉ
những dịp hiếm hoi trong đời được tợp ngụm cà phê như thế, tôi mới biết thế nào
là cái được người đời ca tụng như một trong bốn thứ cực lạc trần gian do khoái
khẩu đem lại. Cực lạc không chỉ nhờ cái hương vị cà phê thứ thiệt (chứ không
phải thứ cà phê bằng hạt bắp rang cháy tụi tôi tự biên chế để đánh lừa khẩu
vị), mà còn thêm cái chất đậm đà của tình bằng hữu, tình huynh đệ chi binh
" miếng khi đói, gói khi no" cùng nhau chia xẻ ngọt bùi những lúc đói
khổ, trong những cơn gian nan hoạn nạn. Vâng, chỉ những ai đã từng trải qua
cảnh sống như tôi, mới hiểu được thái độ tiếp đón nồng hậu người dân trong nước
ở thời điểm đó, dành cho thân nhân từ nước ngoài trở về. Cũng như thái độ hân
hoan trang trọng biểu lộ khi họ đón nhận một vài món quà từ tay bà con họ hàng.
Hân hoan trang trọng, không chỉ vì món quà với họ là đắt giá, mà còn là biểu
tượng cho tình cảm gia đình thắm thiết vì nghĩ rằng người thân được sống sung
sướng đầy đủ nơi xứ người vẫn không quên họ.
Cảm kích trước sự tiếp đón nồng hậu của bà
con trong nước, mấy ông già bà cả trở về, mới kể lại cho con cháu nghe. An tâm
và biết sẽ không bị làm khó dễ, thế là người Việt ở hải ngoại mới lục tục rủ
nhau về. Trước còn lẻ tẻ, sau càng nhiều, Mỗi lúc thêm đông. Trước còn thưa
thớt, sau lũ lượt hết đợt này đến đợt khác. Mỗi lượt đi về, người đi trước lại
kể cho người đi sau những thành tích thâu hoạch của mình. Mà thường là với một
vài chi tiết thêm mắm thêm muối, vẽ rắn thêm chân. Bởi vi ai chẳng muốn câu
chuyện mình kể phải đặc biệt, phải ly kỳ hấp dẫn hơn mới gây ấn tượng được cho
người nghe. Quí vị nào không tin tôi, cứ chịu khó sưu tầm con số Fakenews đang
được phát tán vô tội vạ trên mạng, kể cả tại các nước tự do dân chủ nhất thì
biết. Thôi thì đủ loại... Tin phóng đại, tin bóp méo, tin xuyên tạc làm như
thật nhờ vào kỹ thuật photoshop ghép hình, ghép ảnh khiến người ta ngày càng bị
lôi kéo vào một thế giới hư hư ảo ảo như trong những chuyện kể phong thần ấy.
Ai đâu dám cấm cản, mình tự do dân chủ mà! Hậu quả của hành động xử dụng quyền
tự do dân chủ ấy đã khiến cái mối liên hệ tình cảm thấm đậm tình người, tình
ruột thịt, tình yêu quê hương bị mất dần cái phẩm chất tốt đẹp của cái thuở ban
đầu lưu luyến ấy. Để rồi các món quà đem về dần dà trở thành món hàng mua bán
đổi trác như một thứ trái sầu rụng rơi, thậm chí có khi còn là loại trái cây
ung thối độc hại. Điều này có đúng vậy chăng? Chẳng lẽ cái luồng gió mới thồi
vào Việt Nam thời kỳ mở cửa ấy, đến từ một quốc gia cường thịnh hàng đầu thế
giới là nước Mỹ lại có thể gây độc hại được sao? Câu hỏi này xét ra cũng chẳng
lấy gì làm cắc cớ, nếu ta chịu khó bỏ công tìm hiểu làn gió được từ Mỹ thổi vào
thuộc loại gió nào và do ai đem tới.
Về câu hỏi đầu, ta có thể nói ngay rằng
luồng gió mới từ Mỹ thổi vào thực ra có thể là một luồng sinh khí tạo cơ hội
cho Việt Nam được học hỏi để tiến bộ và phát triển, nếu đó vẫn là luồng gió
nguyên thủy mang dấu ấn tinh thần mạo và khai hóa của đám di dân sáng lập ra
nước Mỹ. Đó là những đám người, sau khi Christophe Colomb khám phá ra Mỹ châu
khoảng cuối thế kỷ 15 hay đầu thê kỷ 16, đã hàng loạt từ nhiều nước Âu châu tìm
đến Mỹ châu để làm lại cuộc đời. Những đám di dân này thuộc đủ thành phần quốc
tịch, hoặc bị quyến rũ bởi những câu chuyện huyền hoặc về một tân thế giới,
hoặc là nạn nhân của kỳ thị tôn giáo sau các cuộc xung đột tín ngưỡng giữa Tin
Lành và Công giáo. Nhưng dù động cơ là gì, đám di dân này đều có chung một mẫu
số, đó là óc phiêu lưu mạo hiểm với tinh thần chinh phục của nhà tiên phong
khai phá (esprit de conquête et aventurier du pionnier). Họ không ngại đương
đầu với mọi gian nan thử thách để xây dựng cho mình một sự nghiệp mới. Vượt qua
cả một trùng dương sóng gió mới chỉ là bước đầu. Đặt được chân trên lục địa Mỹ
hầu như với bàn tay trắng, họ còn phải phấn đấu vượt qua không biết bao trở lực
hiểm nghèo khác. Nào là sự chống đối quyết liệt của các sắc dân thổ địa, nào là
địa thế núi non hiểm trở, điều kiện khí hậu khắc nghiệt của những vùng núi
tuyết giá băng hay sa mạc cháy bỏng.' Đó là không kể còn những băng đảng gian
ác tấn công tìm cách chiếm đoạt cơ ngơi họ xây dựng được. Tất cả những giá trị
tinh thần của nhà chinh phục tiên phong ấy, chính là nền tảng cho công trình
xây dựng dất nước Hoa Kỳ.
Tiếp đến, với Bản Tuyên ngôn Độc lập ra
đời ngày 4-7-1776, các nhóm di dân tới lập nghiệp tại Mỹ châu cùng nhau tập hợp
lại thành một quốc gia độc lập thống nhất lấy tên Hợp Chủng Quốc (Les
Etats-Unis) với George Washington làm vị tổng thống đầu tiên. Là một quốc gia
thuộc loại non trẻ nhất trong lịch sử loài người, nước Mỹ hay Hiệp Chủng Quốc
lại sớm trở thành quốc gia hùng mạnh hàng đầu thế giới. Ấy là nhờ các thế hệ kế
thừa sự nghiệp đã không chỉ tiếp tục và phát huy các giá trị tinh thần của thế
hệ tiên phong để lại, mà còn biến óc phiêu lưu mạo hiểm khai hóa thành tinh
thần tìm tòi khai sáng, nghĩa là dùng ánh sáng của trí tuệ để biến Hiệp Chủng
Quốc hay nước Mỹ từ một đất nước chuyên về chăn nuôi và trồng trọt trở thành
một quốc gia công nghiệp tiên tiến hàng đầu thê giới. Tóm lại, óc phiêu lưu mạo
hiểm của nhà tiên phong khai phá (l'esprit aventurier et de conquête du
pionnier) cùng với tinh thần phấn đấu tự lực cánh sinh để xây dựng sự nghiệp
(l'esprit de lutte du self-made man) chính là những giá tri tinh thần làm nền
móng cho sự hình thành và phát triển của nước Mỹ. Ngoài ra, cũng phải kể thêm
tinh thần nghĩa hiệp của các tay súng oai hùng trừ gian diệt bạo, bênh vực kẻ
cô thế trong các phim cowboy-western mà hồi nhỏ tôi rất khoái đi coi, những lần
chó ngáp phải ruồi làm bài được điểm cao hí hửng vác về khoe để nhà thưởng cho
cái vé xi nê hạng bét. Có thể nói đó là những đặc tính chung về mặt giá trị
tinh thần và đạo đức của xã hội Mỹ, và cũng là động lực chủ yếu đã khiến Mỹ từ
một quốc gia non trẻ, chỉ trong một thời gian ngắn sớm trở thành một quốc giàu
có, hùng mạnh hàng đầu thế giới. Và với sức mạnh hùng cường ấy, Mỹ không chỉ
giữ riêng cho mình, mà còn tích cực đóng góp vào công cuộc tái lập hòa bình và
giữ gìn an ninh trật tự trên toàn thê giới. Bằng chứng là vai trò của Mỹ trong
hai cuộc thế chiến vừa qua và vị thế đàn anh trong hai thập niên tiếp sau đó.
Nhưng trên cõi trần ai tục lụy đủ bốn mùi
ca ngâm hỉ, nộ, ái, ố, đủ bộ tứ khoái ăn,
ngủ, ỉa, đ... này, có cái gì là tồn tại vĩnh viễn đâu. Thịnh rồi phải
tới lúc suy, cũng như hoa nở để mà tàn, trăng tròn để mà khuyết..., đó là qui
luật vận hành thế gian do ông Tạo trong lúc ngồi buồn đặt ra để trêu ngươi ấy
mà. Dù là Mỹ hay Hiệp Chủng quốc cũng vậy thôi. Với thời gian và di sản của các
thế hệ tiên phong nhọc công gây dựng các lớp người đến sau nay chỉ biết thụ
hưởng. Do đó, cái tinh thần phiêu lưu mạo hiểm cũng như cái óc tìm tòi khai phá
nhăm phục vụ cho lợi ích chung, tức là cái sinh khí nguyên thủy ngày một thêm
mai một để cuối cùng trở thành một thứ chủ nghĩa thực dụng, thực lợi lấy việc
gây dựng một sự nghiệp cho bản thân làm cứu cánh, nhưng lại ngụy trang cho nó
bằng danh hiệu mỹ miều Chủ nghĩa Thực Tiễn (le Pragmatisme). Ta có thể tóm tắt
chủ trương của những người chạy theo Chủ nghĩa Thực Tiễn đó như sau
" Kẻ nào thành công, kẻ đó có lý và chỉ có thành công mới là biểu
hiện cho sự thành nhân". Bởi vậy người ta mới đua nhau tìm kiếm
cho mình một sự nghiệp lớn bằng bất cứ phương tiện nào, không cần biết có hợp
với đạo lý và nhắm mục đích phục vụ cho quyền lợi chung hay không, miễn sao
thành công là được. Nói khác đi, đó là một biểu hiện khác của của nghĩa "cứu
cánh biện minh cho phương tiện". Cũng chính vi vậy mà thay vì là
một George Washington, một Benjamin Franklin, một Abraham Lincoln,một Theodore
Roosevelt..., ta lại thấy ngày một thêm xuất hiện các chính khách thuộc loại
dân túy. Mục tiêu hành động của họ không phải nhằm phục vụ cho lợi ích chung,
mà là thành tích sự nghiệp riêng. Chính khách dân túy, bởi vì sở trường của họ
là nói một đằng làm một nẻo, tiền hậu bất nhất, nhưng họ đâu cần biết. Điều
quan trọng, với họ, là biết tung ra những khâu hiệu tranh cử ngắn gọn, càng
ngắn càng tốt. Chỉ cần một vài hàng tweed là đủ, miễn sao đánh trúng tim đen
của thành phần cử tri họ muốn tranh thủ, đáp ứng được những đòi hỏi trước mắt,
nhất thời, hoặc giúp cho thành phần cử tri này được giải tỏa những mộng mơ hay
mặc cảm thầm kín. Miễn sao đắc cử, thế là họ tự cho có quyền tha hồ khuỳnh tay
ưỡn ngực, vênh vênh cái mặt ra điều "đã biết tay ta chưa" (m' as – tu
vu)? Nhưng bằng mánh lới, giành được thắng lợi trong một cuộc tranh cử có thể
dễ. Tới khi phải đảm nhiệm vai trò một nguyên thủ quốc gia, ta mới đánh giá được
khả năng lãnh đạo của nhân vật đó ra sao. Để đối phó với các vấn đề quốc gia
gai góc, hoặc đương đầu với các vấn nạn quốc tế, không thể hành sử như một
thuyền trưởng non tay lái được(6). Nghĩa là chỉ mải lo luồn lách tránh những
ghềnh đá trước mắt, mà không nhìn ra những báo hiệu cơn bão tố sắp nổi lên ở
chân trời. Thí dụ như lãnh tụ một quốc gia nghe đâu cũng thuộc loại tiên tiến
hàng đầu thế giới. Khi mới xảy ra nạn dịch virút Corona, ông vội lên tiêng trấn
an "Đừng có lo, no star where (không sao đâu), nước ta có nền y tế tiến bộ
nhất thế giới." Có điều ông quên rằng nền y tế ấy quả có nhất thế giới
thật, nhưng chỉ dành riêng cho các tỉ phú hoặc thành phần dư tiền dư của. Còn
đám dân nghèo hoặc lao động ba cọc ba đồng không dám hoặc không dủ tiền mua bảo
hiểm y tế đâu có được sơ múi chấm mút gì. Tới khi cơn dịch ào tới, đám người
này lãnh nguyên cán búa chết như rạ, ông mới trinh trọng tuyên bố là nếu nhân
dân chỉ chết độ mấy chục ngàn người thôi là may mắn rồi, ra đều ta đây biết
trông xa nhìn rộng. Ấy vậy mà không thiếu gì kẻ, vì được nghe những điều bùi
tai, vội chạy đên công kênh lên đầu lên cổ tôn vinh làm minh chúa. Họ chẳng
khác chi cái đám con chiên, theo Kinh Thánh, đã bỏ rơi ông Moise để tới quì
phục trước con Bò vàng. Ai có mắng mỏ tôi là ăn nói tào lao, tôi khoanh tay xin
cúi đầu nhận lỗi. Nhưng tôi chỉ muốn nói lên một vài cảm nghĩ riêng, sau khi
được nghe người dân khu Bolsa cãi nhau ỏm tỏi về câu chuyện ông hoàng dòng dõi
họ Kiều nào đó đang được một dám người bu quanh để tìm cách nâng bi.
Ừa, nếu như có những chính khách nói trước
quên sau, hành động tiền hậu bất nhất, xét cho cùng cũng dễ hiẻu thôi. Nghề của
chàng mà. Nhưng chủ nghĩa Thực Tiễn nói trên còn lây lan sang ngành truyền
thông báo chí nũa, thế mới chết cha thiên hạ chứ. Tuy được xếp vào hàng quyền
lực thú tư, chỉ trên danh nghĩa vì không được ghi trong Hiến Pháp, nhưng ngành
truyền thông báo chí không phải là một quyền lực hữu danh vô thực. Trái lại là
đằng khác. Vai trò của nó rất quan trọng. Có khi còn quan trọng hơn cả ba loại
quyền hành hợp hiến, nếu nó ý thức được thiên chức (vocation) của nó và đảm
nhiệm đúng hai chức năng thông tin (information) và truyền
thông (communication) nó được giao phó. Thông tin là công tác loan
báo, phổ biến các sự kiện, các diễn biến hữu ích liên quan đến cuộc sống hàng
ngày; còn truyền thông là phân tích, nhận định, thậm chí nói lên quan điểm
riêng liên quan đến một biến cố, một diễn biến thời sự nào đó. Một người làm
công tác truyền thông báo chí có lương tâm chức nghiệp bao giờ cũng bỏ công sưu
tầm, kiểm chứng tính xác thực các nguồn tin trước đã, sau đó mới cho loan. Về
phần truyền thông cũng vậy. Ở một nước tự do dân chủ, ai cũng có quyền trình
bày quan điểm riêng của mình; nhưng điều cốt yếu là phải biết tôn trọng quyền
tự do tìm hiểu của người khác. Không nên vì phương châm hành nghề "nhà báo
nói láo ăn tiền" mà tìm cách cưỡng chế tư tưởng đại chúng bằng những luận
điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật, thậm chí có khi còn dựng đứng là đằng khác. Ấy
vậy mà vẫn có những kẻ láy làm tự hào với những thành tích thuộc loại đó, vênh
vênh cái mặt ra đều chỉ có tại các nước tự do dân chủ, ta đây mới có quyền ăn
nói thả dàn. Tự do cái củ xê gi, thứ tự do tha hóa, vô ý thức,
vô trách nhiệm ấy.
Thôi thì các giới chính khứa hay truyền
thông báo chí đã đành. Cái Chủ nghĩa Thực tiễn kể trên lại chẳng chịu từ một
ai. Nó còn lây lan sang cả ngành y dược nữa, cái ngành được coi không phải là
con đường kinh doanh để gây lợi nhuận, mà với thiên chức cao cả là chăm lo sức
khỏe cho mọi người. Thế có bỏ mẹ con nhà người ta không chứ ! Ta có thể lấy
trường hợp Viện bào chế Johnson&Johnson làm thí dụ điển hình. Trước khi
tung ra thị trường một loại thuốc opiacee làm giảm đau nhức nhưng dễ sinh
ghiền, viện đã cử hàng ngàn trình dược viên đên các phòng mạch để khuyến dụ bác
sĩ kê toa cho bịnh nhân. Hậu quả là bịnh nhân sử dụng ngày càng lệ thuộc vào
thuốc và tăng thêm liều lượng khiến dẫn đến tử vong. Theo tin trên Đài truyền
hình Pháp Fr 24, tòa án Bang Oklahoma ngày 27-8-2019 đã phạt viện bào chế
Johnson&Johnson vì tội quảng cáo bậy gây tử vong cho gần 400000 ngàn người
trong khoảng thời gian từ 1999 đến 2017. Cũng vậy, hãng Perdue Pharma mới đây
cũng đã phải tuyên bố phá sản để khỏi phải đương đầu với gần 2000 đơn kiện liên
quan đến dược phẩm của hãng cũng thuộc loại này. Thế nhưng không chỉ có vậy.
Chủ nghĩa Thực Tiễn còn lây lan tới nhiều nợi khác trên thế giới. không thua gì
dịch vi rút Corona cả. Tại Pháp đang diễn ra vụ án thuốc Mediator của hãng bào
chê Servier đã mập mờ quảng cáo thuốc Mediator vốn là thuốc ngừa bịnh tiểu
đường ra là thuốc (diabete) như là thuốc chống bịnh béo phì (obèse). Hậu quả là
do tác hại phụ tới tim mạch, đã có hơn bốn ngàn người bị tử vong.
Một vài thí dụ nêu trên đủ cho thấy là
luồng gió mới từ Mỹ thổi vào Việt Nam không còn là luồng gió nguyên thủy mang dấu
ấn tinh thần mạo hiểm và khai phá của thời kỳ lập quốc nữa. Nay chỉ còn là ngọn
gió cuối mùa đã ít nhiều biến thái mang biểu tượng, không còn là Nữ Thần Tự Do
với ánh đuốc soi đường nữa, mà là bức tường đang xây giở dọc theo biên giới Mỹ
và Mễ Tây Cơ. Đã thế làn gió cuối mùa này còn bị một số người nào
đó đem vào làm thêm ô nhiễm, để từ nguồn sinh khí trở thành luồng chướng khí.
Vậy số người ấy là ai? Thành phần ra sao?
Nhưng trước hết, tôi xin được nhắc lại cho
rõ là tôi chỉ nói đến một số người nào đó thôi đấy nhá.
Kẻo người mình có thói quen suy diễn phản xạ theo kiểu sấm bên Đông,
động bên Tây khiến tôi e khó tránh khỏi bị khép cho cái tội giứt
dây gây động cả rừng, nghĩa là ăn nói theo kiểu vơ đũa cả nắm. Tôi
không dám vơ đũa cả nắm vi tôi biết rằng cộng đồng người Việt không chỉ có ở
tập trung tại quận Cam mà còn sống rải rác trên khắp nước Mỹ, và rằng bên cạnh
đám tập thể ổn ào hỗn tạp khu nhà lá Bolsa, còn có một thiểu số ưu tú thầm
lặng. Họ cũng phải đi chui như phần đông người Việt di tản khác và tự cho có
may mắn đặt được chân lên nước Mỹ là ánh nhờ ánh đuốc soi đường chi lối của Nữ
Thần Tự Do . Rồi tới khi tìm hiểu được giá trị và ý nghĩa của ánh đuốc soi
đường đó, họ mới xin nhận nơi này làm quê hương thứ hai. Hiểu được rồi, họ
không ngừng học hỏi trau giồi kiến thức để đóng góp hữu ích cho xứ sở mới đã mở
rộng vòng tay đón nhận họ. Nhờ vậy mà nhiều người đã thành công trên đường công
danh sự nghiệp, được nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng trong đủ mọi lãnh vực từ
hành chánh, quân sự, văn chương, giáo dục, khoa học v.v... Nhưng thành công,
với họ, không chỉ cốt để làm con đường tiến thân. Thành công, còn là để xứng
đáng trở thành công dân đất nước đất nuớc danh xưng chính thức Hiệp Chúng Quốc
tức United-States hay Cộng Hòa Liên Bang Mỹ chứ không phải cái tên Mỹ cộc lốc
như họ quen gọi khi còn ở Việt Nam. Đây không phải là một trò chơi chữ nghĩa.
Bởi vì cái tên chính thức United-States ngụ ý cho hiểu quốc gia mới mẻ này
chính là sự tập hợp của nhiều lãnh thổ tự trị hay bang cùng
với nhiểu chủng tộc khác nhau thành một quốc gia duy nhất trong tinh thần
"ba cây chụm lại nên hòn núi cao". Chinh với
danh xưng này, nước Mỹ mới sớm trở thành cường quốc số môt thế giới. Bởi
vì danh xưng mới này còn nói lên tinh thần hòa đồng, hòa hợp giữa các sắc dân
khác nhau, không phân biệt màu da hay kỳ thị chủng tộc để mọi tài năng được
phát triển. Đó cũng còn là ý nghĩa của ánh sáng trên tay tượng Nữ thần Tự Do
như để soi đường cho những ai gặp hoạn nạn biết đường mà tìm về miền đât hứa.
Bởi thế họ mới phấn đấu học hỏi, và coi sự thành công trên mảnh đất mang tên
Hiệp Chủng Quốc hay United-States này còn là cơ hội để trả ơn mảnh đất đã cưu
mang họ, đồng thời để vinh danh và đáp nghĩa giống nòi trên mảnh đất họ đã sinh
ra và trưởng thành. Thành công, nhưng không hề mưu cầu thành danh. Bởi vậy, họ
thường ít được quần chúng biết đến, nếu như đôi khi không nhờ có một vài người
nhắc đến tên họ. Nếu tôi không dám vơ đũa cả nắm cũng chỉ vì cái nhóm thiểu số
ưu tú thầm lặng hay cù lần (?) này, chứ tôi đâu có phải dân thỏ đế. Mà dù có là
dân thỏ đế, khi cần tôi cũng dám chơi bạo như ai, nghĩa là thò tay "giứt
dây gây động rừng", để mượn cách nói văn vẽ hình tượng của các bậc tao
nhân mặc khách. Chứ còn trong giới lính tráng đơ dèm củ bắp với nhau thì chúng
tôi gọi là dám "mó dái ngựa" đấy bà con cô bác ạ.
Vậy chứ đám người đem làn gió cuối mùa từ
Mỹ vào Việt Nam thành phần gồm những ai? Ố là là... Hầm bà làng đủ thứ, chẳng
khác chi các món bày ra cho một bữa lẩu thập cẩm cả . Nào là thành phần đi chui
đã từng nhiều lúc nghêu ngao dăm ba câu Người di tản buồn để
nói lên tâm sự mất nước nên mới phải bỏ nhà bỏ của ra đi. Nào là một số hăng
say tích cực chống cộng; nhưng chỉ huyên hoang chống cộng bằng mồm thôi. Bởi
thế trong khi chờ đợi ngày về giải phóng quê hương, thỉnh thoảng họ lại thậm
thụt đi đi về về để tìm cách trả thù dân tộc . Ngoài ra cũng
có thêm một vài ca sĩ, văn sĩ, thi sĩ, nghệ sĩ... thuộc dạng lá úa
chiều thu hay lá rụng về cội, ai muốn hiểu ra sao thì
hiểu, nhân tâm tùy mạng mỡ. Tuy khác nhau về danh nghĩa, nhưng họ lại giống
nhau ở một điểm: đó là họ thuộc thành phần thích nổ, nổ như
bắp rang, nổ như pháo tết, nổ như chai sâm banh được khu nút,
càng nổ lớn chừng nào, họ càng khoái chừng đó. Nổ, nổ, nổ
...Trong chừng mực nào đó, ta có thể coi căn bịnh ưa nổ này là một biến chứng
của Chủ nghĩa Thực Tiễn. Từ ngày được đặt chân qua bển, chảng
biết học hành có thành đạt hoặc làm nên sự nghiệp gì không, hay phải làm đủ mọi
thứ giốp (job) để dành dụm cho được một số tiền còm. Rồi khi trở về họ mới trổ
tài nổ, như một kẻ vinh quang bái tổ, sênh sang áo gấm về
làng. Ban đầu chỉ để hù hè bà con lối xóm. Riết rồi trở thành thói quen, họ đã
truyền cái bịnh nổ sống theo kiểu Mỹ, làm ăn bốc giàu theo kiểu Mỹ, ở sang như
Mỹ, ăn chơi như Mỹ, huênh hoang hợm hĩnh khoe tiền khoe của như Mỹ, đúng điệu
mấy tay đại tư bản hay diễn viên siêu sao Mỹ... Đó chính là một vài biểu hiện
về biến đổi tại Việt Nam trong chuyến tôi về thăm Việt Nam vừa qua. Cũng may,
các biểu hiện Mỹ hóa này chi mới lây lan sang một thành phần xã hội mà thôi :
đó là thành phần dư tiền dư tiền dư của do làm ăn bất chính, hay giới chức có
thê lực dễ mua chuộc. Tuy nhiên, theo cảm nhận của tôi, các biểu hiện Mỹ
hóa này mới chỉ là hiện tượng và chưa trở thành hiện
thực. Vậy hiện tượng Mỹ hóa ấy đã biểu hiện ra sao và
được thấy nơi tầng lớp nào?
Chú thích:
(5) – Xin
mời coi bài "Dấn bước thăng trầm" của người viết đã được phổ biến
trên một số diễn đàn mạng, đặc biệt là các trang mạng Chim Việt Cành
Nam, Thư Viện Sáng Tạo, Khoa Học Đời Sống...
(6) – Sau nhiều lần hăm dọa, ngày 14-4-2020 TT
Trump đã chính thức loan báo quyết định căt bỏ 450 triệu mỹ kim phần Mỹ đóng
góp hàng năm cho Tổ Chức Y Tế Quốc Tế (WHO) với lý do là ông Tổng thư ký của Tổ
chức này tỏ ra thiên vị Trung Quốc trong việc truy nguyên nguồn gốc vi rút gây
ra dịch nạn Covid-19. Vốn đã ghét sẵn Tàu khựa được coi là kẻ thù truyền kiếp
của nhân dân Việt Nam, thoạt nghe tôi mới thây đã làm sao. Nhưng nghĩ lại, tôi
hơi tiếc là ông Trump đã có quyết định này hơi trễ vì chẳng những nó không giúp
giải quyết được gì, mà còn lợi bất cập hại là đằng khác: 1) Trước hết là đúng
lúc nạn dịch đang lan tràn tới các khu vực đông dân nghèo khó trên thê giới như
một số nước Nam Mỹ, Phi châu hay Ấn Độ, quyết định cắt giảm vào thời điểm này
chỉ gây thiệt thòi cho đám dân phải sống trong các khu ổ chuột mà thôi, đồng
thời làm cho hình ảnh nước Mỹ trở thành xấu đi trước mắt người dân các khu vực
này. Biết đâu đám dân chúng nghèo khổ này lại chẳng hướng về phía Tàu khựa với
cạp mắt biêt ơn, nếu như nước này lợi dụng thời cơ vội gửi tặng họ dù chỉ có một
vài trăm ngàn tấm khẩu trang thôi. 2) Phải chi ông Trump lên tiếng cảnh báo và
chuẩn bị đối phó ngay khi nạn dịch còn đang hoành hành tại Vũ Hán thì đỡ biét
mấy. Thay vì chỉ tiết kiệm được có 450 triệu đô la, nay ông đã phải huy động
hàng ngàn tỷ đô để trợ giúp cho đám dân nghèo và thất nghiệp Mỹ, khiến họ phải
lái xe xếp hàng rồng rắn cả mấy cây số để chờ được nhận phần cứu trợ.
Trên đây chỉ là
ngu ý của một công dân hạng nhì thế giới. Nếu có điều gì sai trái, xin các bậc
cao minh hiền triết vui lòng chỉ bảo và thứ lổi cho.
4. Kỳ tôi về thăm Việt Nam vừa qua nhằm
đúng lúc đang diễn ra cuộc tranh luận ồn ào liên quan đến dự án xây dựng cho
Sài Gòn một Nhà hát Giao hưởng, nhạc và vũ kịch tương tự các rạp Opéra tây
phương với kinh phí khổng lồ lên tới hơn 1500 tỉ đồng. Cuộc tranh luận do thắc
mắc của KTS Ngô Viết Nam Sơn được đăng tải trên nhật báo Tuổi Trẻ ngày thứ tư
10-10-2018 - (mục Văn hóa – Giải trí, trang 17): "Nhà
nước phải chứng minh được hiệu quả xã hội của công trình (người dân thực sự
cần có nhà hát, không có không được), hoặc hiệu quả kinh tế (nhà hát này đem
lại lợi nhuân kinh tế cao). Đây cũng là cách quản lý đô thị của các nước trên
thế giới". Đáp lại, cũng nhật báo trên, ông Trần Vĩnh Tuyến phó
chủ tịch UBNDTP.HCM giải thích: "Không phải cuộc sống người dân khó
khăn là không cần thiết chế văn hóa. Quan trọng là làm sao công trình đạt chát
lượng không lãng phí nguồn lực nhà nước. Còn về thiết chế văn hóa, hiện nay TP
chưa có công trình nào đạt chuẩn, chưa có nhà hát giao hưởng, trong khi nguồn
nhân lực về nghệ thuật của thành phố đạt chất lượng." Nếu thắc mắc của
KTS Ngô Viết Nam Sơn là chính đáng, thì lời giải thích của ông Trần Vĩnh Tuyến
liệu có thuyết phục hay không?
Để có câu trả lời thích đáng, ta hãy xét
hai điểm chủ yếu như sau: 1) Nhu cầu xây dựng một Nhà hát giao hưởng đạt chuẩn
có thực sự cần thiết chưa? 2) Có thật TP.HCM đã có một nguồn nhân lực đạt chất
lượng như ông Trần Vĩnh Tuyến phát biểu hay không?
Trước hết là nhu cầu về một nhà hát Giao
hưởng đạt chuẩn. Hầu hết các thành phô văn minh tiên tiến trên thế giới đều có
một Nhà hát Giao hưởng thuộc loại Opera. Đó là một công trình kiến trúc bề
ngoài uy nghi cổ kính, nhưng bên trong lại trang trí mỹ thuật, thanh lịch. Hơn
thê, phần âm thanh phải được thiết bị sao để từ nhứng nốt nhạc nhẹ nhàng êm dịu
nhất mở đầu bản Sonate au clair de lune của Beethoven cho đến những nốt nhạc
dồn dập âm vang kết thúc, người nghe vẫn có thể thưởng thức được mà không phải nhắm
mắt bịt tai vì những âm thanh vang dội chát chúa. Nếu đạt được tiêu chuẩn này,
thì kinh phí hơn 1500 tỉ đồng dành Nhà hát giao hưởng xét ra không có gì quá
đáng. Do các đòi hỏi mỹ thuật và kỹ thuật cao như vậy, nên các Nhà hát giao
hưởng xứng với danh hiệu thường dành cho các buổi trình tấu âm nhạc cổ điển
dương cầm hay vĩ cầm, các buổi hòa nhạc giao hưởng. Ngoài ra nó cũng được dùng
làm sân khấu cho các vở kich cổ điển của Molière, Corneille, Racine hay các vở
kịch vũ ba lê (ballet) như Le lac des cygnes lấy nhạc
Tchaikovsky làm nền. Và phải chăng chính vì là biểu tượng cho một nền văn minh
lâu đời và một truyền thóng văn hóa cao, nên khi đặt chân tới Việt Nam người
Pháp không chỉ lo mở các đồn điền cao su, mà còn cho xây tại Hà Nội một Nhà Hát
lớn rập khuôn nhà hát Opera Paris thu nhỏ. Mục đích chắc là để phân bua với
miệng lưỡi thế gian rằng họ tới Việt Nam không chỉ với ý đồ chiếm đất giành
dân, mà còn muốn đóng góp vào công cuộc khai hóa xứ sở.
Giờ ta hãy xét tới "nguồn nhân lực
của TP đạt chất lượng" được ông phó chủ tịch TP.HCM nói tới. Theo
tôi nghĩ, một nguồn nhân lực nghệ thuật có chất lượng xứng với đòi hỏi một Nhà
hát giao hưởng kinh phí hơn 1500 tỉ đồng, trước hết phải là một vài nghệ sĩ độc
tấu dương cầm , vĩ cầm tài hoa, một dàn nhạc giao hưởng chuyên nghiệp, hoặc một
vài buổi trình diễn dành cho ban kịch vũ ba lê. Thêm vào đó cũng cần có một số
lượng khán giả biét thưởng thức các màn trình diễn kể trên. Thời gian hơn một
tháng ở Việt Nam, tôi không hề được nghe nhắc đến một nghệ sĩ dương cầm hay vĩ
cầm tên tuổi có tầm vóc quốc tế như nhà dương cầm Đặng Thái Sơn, hay một buổi
trình tấu nhạc giao hưởng nào hết. Trái lại, tôi chỉ thấy, nếu không là các
quán nhạc karaoke mọc lên như nấm, thì cũng là các buổi biểu diễn nhạc show hay
các phòng trà. Nơi đây thường là đia điểm lui tới của một thành phần xã hội dư
tiền dư của, dư thời giờ, đặc biệt là con cháu các đại gia, viên chức cửa
quyền. Tuy thuộc dòng dõi con nhà gia thế, nhưng nhạc sở thích của họ lại là
loại nhạc mang giai điệu bolero nay đang xuống cấp thành loại nhạc
"bèo", nhạc "sến" do những lời ca tình tự, ỉ ôi kể lể. Của
đáng tội, xếp các bản nhạc mang giai điệu bolero vào loại nhạc sến, nhạc bèo là
kết oan cho nó. Bèo, sến hay không, là do người sáng tác chạy theo thị hiếu
thời thượng. Còn người nghe chỉ chờ tiếng nhịp tắc xình, tắc xình, tắc xình...
nổi lên để cậu ấm cô chiêu kéo nhau ra sàn nhảy, cô thì lắc lư cái mông đong
đưa đôi vú, còn cậu thì cặp giò vừa nhún nhảy vừa đưa mắt đá lông nheo tống
tình người đối diện. Ấy vậy mà, nếu tôi nhớ không lầm, tại miền Nam VN thế kỷ
trước, trong khoảng thập niên 60, có một anh chàng nhạc sĩ hình như tên Đình
Chương họ Phạm thì phải. Cũng với giai điệu bolero gốc Nam Mỹ ấy, nghe đâu bằng
những nốt nhạc nhịp nhàng ấm áp, anh chàng lại sáng tác ra bản nhạc
mang tênXóm đêm, dể gợi lên cho ta khung cảnh một khu xóm
tối tăm, nghèo hèn, khuất nẻo. Nhưng ở đó lại ánh lên một hào quang nhân bản.
Nhưng ở đó lại nghe vọng lên những lời ru con trìu mến. Nhưng ở đó ta lại thấy
có những tấm lòng. Nhưng ở đó ta lại được gặp những con người biết mang tình
thương.(7)
Dành tới hai trang để chỉ nói về cuộc
tranh luận xoay quanh dự án xây cất một nhà hát cao cấp tại TP.HCM có vẻ hơi
dài; nhưng cũng có thể chưa đủ nếu ta muốn dùng nó làm câu chuyện biểu tượng để
nói lên sự tương phản giữa các biến đổi tại Việt Nam trong hai thập niên vừa
qua khi bước vào thời kỳ mở cửa: Phát triển về mặt kinh tế và cải thiện đời
sống cho người dân; nhưng đồng thời lại xuông cấp về mặt sinh hoạt văn hóa,
tinh thần.
Trước hết về mặt canh tân và phát triển xứ
sở. Khách quan mà nói - ít ra theo cảm nhận của tôi - , phải nhìn nhận là VN đã
thực hiện được nhièu thành tựu đáng kể về mặt canh tân xứ sở và cải thiện đời
sống chung cho cả nước. Công việc sản xuất được đẩy mạnh, đặc biệt là trong hai
lãnh vực công nghiệp và du lịch. Nhiều xí nghiệp, nhiều công ty được thành lập
khiến một số sản phẩm mang thương hiệu VN được có mặt trên thị trường quốc tế.
Về mặt du lịch, một số thắng cảnh hay địa điểm du ngoạn đã được chỉnh trang hay
dựng lên. Thêm vào đó phẩm chất công tác giao tế, liên lạc với người nước ngoài
cũng được cải thiện khiến Việt Nam trở thành một trong những trung tâm du lịch
được khách nước ngoài chiếu cố nhiều nhất trong vùng Đông Nam Á.
Nhưng... Bố khỉ, ở đời sao lúc nào cũng
gặp phải cái chữ nhưng! Bên cạnh các thành tựu về măt xây dựng
và phát triển ấy, đời sống tâm linh và văn hóa lại phát triển trái chiều theo
tỉ lệ nghịch, để mỗi lúc một rơi vào tình trạng suy thoái đáng ngại. Điều này
cũng dễ kiểm chứng thôi, nếu ta chịu khó theo dõi cách sử dụng ngôn ngữ trong
một số trường hợp ở Việt Nam hiện nay. Không phải là ngôn ngữ của đại chúng
trong sinh hoạt hàng ngày, mà là ngôn ngữ được thấy nơi một vài giới chức
nghiệp hay chức vụ. Nhưng trước hết ta hãy tìm hiểu sơ qua ngôn ngữ là gì?
Ngôn ngữ, khách quan mà nói, có thể được
coi là công cụ diễn đạt, là phương tiện truyền thông, là đặc quyền Tạo hóa dành
cho con người. Các loài thú không biết sử dụng ngôn ngữ. Khi muốn tỏ tình chẳng
hạn, chúng chỉ biết kêu bẹ, bẹ..ẹ..ẹ, hoặc dí mũi vào cái ấy mà hửi hửi... Chỉ
có con người mới biết chia động từ "yêu" mà thôi. Nhưng không phải
chỉ biết có chia động từ yêu. Còn hơn các dân tộc khác, người Việt còn có khả
năng chuyển đổi danh xưng bằng đại tự khác nhau, từ "cô" sang "em",
rồi "mình", rồi "nhà ấy ơi", và cuối cùng là "bà
nó" để đánh dấu từng giai đoạn chuyển biến quan hệ tình cảm trong đời sống
lứa đôi: từ người yêu tới người vợ, rồi người mẹ để sau cùng lên chức bà, Chỉ
riêng về mặt dùng đại tự để chuyển gam (gamme) đổi tông (ton) trong cách xưng
hô nêu trên, cũng đủ cho thấy dân tộc ta có một truyền thống sinh hoạt văn hóa
phong phú đa dạng như thế nào. Và trải qua biết bao thăng trầm lịch sử, cái
ngôn ngữ ấy tuy có thay đổi theo thời gian, nhưng luôn hướng về mặt cải thiện
để mỗi lúc diễn tả được hoàn thiện hơn, chính xác hơn.
Những ngày đầu trong chuyến về thăm Việt
Nam vừa qua, khi còn được trao đổi tiếp xúc với người dân trong sinh hoạt hàng
ngày như tại quán cà phê lề đường, tiệm ăn đầu phố, các của tiệm, các sạp hàng
trong chợ..., tôi không có cảm giác mình đang thay đổi môi trường sống. Chỉ khi
bắt đầu phải chạm mặt với các thành phần xã hội thuộc giai tầng ngành nghề hay
chức vụ, tôi mới cảm thấy phần nào lạc lõng, bỡ ngỡ như một kẻ xa lạ ngay chính
quê hương mình. Lạc lõng, bỡ ngỡ do cách họ sử dụng ngôn từ, câu cú khiến tôi
có cảm giác như đang được trao đổi với một thổ ngữ (dialecte) nào đó, hoặc
tưởng vì xa quê hương lâu ngày tôi đã quên mất phần nào tiếng mẹ đẻ
Trước hết, một số từ ngữ tôi quen sử dụng
để diễn tả cho chính xác, nay hầu như bị loại bỏ để được thay thế bằng một thứ
ngữ nghĩa đồng nhất, đồng phục khiến người không quen dùng khó phân định được
tách bạch, rõ ràng. Thí dụ như trường hợp từ chất liệu chẳng
hạn. Nay hầu như được dùng để thay thế cho cả từ số lượng, khối lượng
(quantité) lẫn phẩm chất, phẩm tính (qualité). Hoặc
có khi cả hai cùng một lúc. Điển hình là phát biểu của ông phó chủ tịch
UBNDTP.HCM trên tờ Tuổi Trẻ ngày 10-10-2018, tôi xin trích lại toàn bộ như sau:
" Không phải cuộc sông người dân khó khăn là không cần công trình
thiết chế văn hóa. Quan trọng là làm sao công trình đạt chất lượng,
không lãng phí nguồn lực nhà nước. Còn về thiết chế văn hóa hiện nay, TP chưa
có công trình nào đạt chuẩn, chưa có nhà hát giao hưởng, trong khi nguồn nhân
lực về nghệ thuật của TP đạt chất lượng."
Theo tôi hiểu, từ chất lượng ở
đây là để thay thế cho từ chất liệu (matière, substance) của
miền nam trước đây đểchỉ tất cả những gì tồn tại có thể chế biến để tạo ra sản
phẩm. Thí dụ như đất thó, gạch, đá hoa là những chất liệu hay vật liệu dựng túp
lều tranh, để làm nhà, xây lâu đài... Các loại chất liệu này không có phẩm
chất hay phẩm tính như nhau. Đất thó nay không ai
dùng để xây nhà, và nếu chỉ dùng gạch để xây lâu đài thì nom không sao hoành
tráng được. Cũng vậy, cất một căn nhà hay xây một ngôi biệt thự, người ta không
thể dùng một khối lượng hay số lượng gạch như
nhau. Có lẽ ông phó chủ tịch Trần Vĩnh Tuyến nghĩ có thể dùng từ chất liệu để
thay thế cho cả khối lượng lẫn phẩm chất, nên ông mới cho rằng TP có một
"nguồn nhân lực về nghê thuật đạt chất lượng" trong khi giới nghe
nhạc hầu như chỉ thích nghe những bản bolero thuộc loại nhạc "sến",
nhạc "bèo’’ mà thôi.
Một từ khác đang trở thành thời thượng, mà
sự lạm dụng đã khiến nghĩa của nó trở nên mập mờ, đôi khi còn khó hiểu là đằng
khác. Đó là trường hợp từ ấn tượng, KTS Nguyễn Ngọc
Dũng đã dùng để trả lời trong cuộc phỏng vấn dành cho phóng viên Tiến Long trên
tờ Tuổi Trẻ ngày 5-7- 2018, tr. 13. Sau đây là phát biểu của
KTS Nguyễn Tiến Long liên quan đến việc ra mắt cuốn sách Lang thang phố
thị đồng bằng sông Cửu Long như sau: " Tôi sống bằng nghề
vẽ, vẽ kiến trúc, qui hoạch là nghề chánh, nhưng tôi cũng thích vẽ đủ thứ ký
họa, màu nước hay sơn dàu chỉ là thiền, là dạo chơi với cây cọ, bút sắt. Vì
vậy, lang thang đến đâu tôi cũng vẽ. Tôi ấn tượng với cuộc
sông mưu sinh của những con người bình thường nhất, những phụ nữ Việt với nón
lá, với quang gánh, bên con trâu, xe bò hay xe lôi, xe thồ, ghe, xuồng, tắc
ráng... Chính là bản săc Việt miền sông nước không lẫn với con người nước
khác.".
Tôi hoàn toàn chia xẻ quan điểm của KTS
Nguyễn Ngọc Dũng khi ông muốn đề cao những người phụ nữ Việt Nam bình thường
với nón lá, với quang gánh bên con trâu, con bò, xe thồ, trên ghe, trên
xuồng..., mang bản sắc Việt miền sông nước Việt Nam. Đó cũng là điều khiến ông
muốn dùng màu nước hay sơn dàu để minh họa và vinh danh họ trên tấm bố. Tuy
nhiên điều làm tôi lấn cấn là cách ông phát biểu với từ "ấn tượng",
Ấn tượng, theo tôi hiểu, là từ để chỉ tác động mạnh mẽ bất ngờ, bất chợt của
một biến cố, một cảnh tượng hay của một nhân vật tới cảm xúc, cảm quan của ta.
Đó là tác động của bức tranh Mặt trời mọc (Soleil levant) của
Claude Monet vói nhà phê bình Leroy khi lần đầu ông ta đứng trước bức tranh
này. Hay như lời phát biểu sau: "Mới gặp lần đầu, ông X. đã để lại cho tôi
một ấn tượng tốt đẹp, do thái độ cởi mở, thân thiện của ông ta. Sau này tôi mới
biết đó chỉ là thói quen xã giao của ổng mà thôi" Bởi vậy tôi chưa nghe
hay đúng ra không hề được nghe ai nói "tôi ấn tượng", mà là tôi đã
"bị ấn tượng" trước cảnh tượng tàn phá điêu tàn ấy, hoặc cảnh tượng
tàn phá điêu tàn ấy đã để lại nơi tôi một "ấn tượng" sâu sắc. Còn khi
ông Dũng xưng tôi làm chủ từ trực tiếp và "ấn tượng" làm động từ,
thực tình tôi không năm rõ ý ông Dũng nói là ông bị ấn tượng bởi
hình ảnh những người phụ nữ quang gánh mang bản sắc Việt miền sông nước Cửu
Long, hay ông muốn nói dùng cây cọ và tấm bố để truyền đạt cảm xúc bất ngờ ấy
nơi ông, để gây "ấn tượng" cho khách thưởng ngoạn .
Không chỉ có hai từ "ấn tượng"
hay "chất lượng" kể trên. Nếu chịu khó lượm lặt trên các trang báo,
ta sẽ tìm thấy dễ dàng một lô các từ đao to búa lớn khác nhằm tạo ấn tượng hay
gây sốc. Thí dụ như "triều cường" để chỉ nước mưa lũ làm ngập chìm
một vài khu phố. Tôi không hề có ý bác bỏ hai chữ "triều cường". Từ
này có thể giúp tiếng Việt của ta được thêm phong phú. Nhưng tôi nghĩ ta chỉ
nên dùng hai chữ "triều cường" để nói về những đợt sóng khổng lồ hung
hãn ập vào và cuốn phăng nhà cửa, cây cối, xe cộ ..., những gì ở sát bờ biển
như tại một vài thành phố của Indonesia trong cơn đại hồng thủy hay tsunami vừa
qua. Rồi còn phải nghi sao đây về hai chữ "quan trắc" trong cái tựa TP.HCM
triẻn khai mạng lưới quan trắc không khí toàn TP trên
tờ Tuổi Trẻ ngày 5-7-1018, mục Đời sông đô thị, tr.8. Đây là lần đầu tiên tôi
gặp từ này, và phải vò tai bóp trán đọc đi đọc lại bài báo nhiều lần mới phỏng
đoán rằng (chỉ phỏng đoán thôi) từ "quan trắc" có lẽ để chỉ công tác
kiểm soát hay đo lường mức độ ô nhiễm không khí do chất thải của xăng dầu gây
nên. Nếu quả đúng là vậy, sao không dùng từ "kiểm soát" hay "đo
lường" quen thuộc dễ, mà đi bắt người đọc phải làm cuộc phiêu lưu mạo hiểm
để tìm hiểu làm chi? Chưa hết. Đoạn đường chiến binh của tôi còn phải tiếp tục
thêm chặng khổ ải khác với cái tựa hiểm hóc trên trang 6 tờ Thanh Niên số 291
ngày 18-10-2018 như sau : "Lùi tiến độ cổ phần hóa các doanh
nghiệp nhà nước của TP.HCM". Chèng đéc ơi! Hoặc lùi, hoặc tiến,
chứ đã lùi còn tiến sao được. Sau khi đã ba lần gieo quẻ âm dương để chọn nên
lùi hay tiến và đọc kỹ bài báo, tôi đành tạm giải quẻ như sau : Do không thể
thực hiện dúng thời hạn phương án cổ phần hóa 39 doanh nghiệp nhà nước trong
năm 2018 theo chỉ thị của chinh phủ, TP đề nghị Chính phủ cho phép triển hạn
hoặc rời thời hạn thực hiện phương án với 32 DNNN (Doanh nghiệp nhà nước?)
trong năm 2019 và 7 DNNN còn lại vào năm 2020. Đây mới chỉ là cách giải quẻ
theo kiếu "bói ra ma, quét nhà ra rác" của tôi, nên không dám bảo đảm
lời giải là đúng một trăm phần trăm.
Không chỉ có thế, một vài trường hợp sử
dụng câu cú, ngữ pháp đê diẽn tả như trên cũng đủ cho thấy sụ nghèo nàn hay
lười biếng trong tư duy. Thí dụ như dưới cái tựa " Gạo Việt mượn
thương hiệu ngoại để xuất khẩu", bái báo tờ Tuổi trẻ trên trang 7
số ra ngày 11-10-2018 đã có câu viết như sau : " Đặc biệt, các sản
phẩm thương hiệu gạo Việt vẫn chưa được người tiêu dùng cuối cùng tại các nước
biết đến do gạo Việt được thông qua một thương hiệu khác." Thú thiệt,
nếu tựa bài báo ngắn gọn sáng sủa bao nhiêu, thì câu giải thích ở dưới có vẻ
lại đưa người đọc vào "đêm tối bao la" bấy nhiêu. Thế nào là người
tiêu dùng cuối cùng? Tại sao đã là sản phẩm thương hiệu gạo Việt rồi
lại còn viết gạo Việt được xuất khẩu thông qua một thương hiệu khác? Chỉ
trong một câu ngắn mà ý tưởng mù mờ, lời lẽ lủng củng đã khiến người đọc như
muốn bị đưa vào mê hồn trận. Nếu chịu khó bỏ thì giờ suy nghĩ chín chắn , tác
giả câu viết trên có thể diễn tả thí dụ như sau, hầu giúp người đọc nắm được dễ
dàng ý muốn nói gì: " Trên thị trường quốc tế, gạo xuất khẩu Việt
Nam chưa được khách tiêu dùng biết đến như là gạo Việt Nam, mà phải mượn thương
hiệu một nước ngoài".
Tóm lại, nếu ngôn ngữ có thể được coi là
chỉ số (indice) của văn hóa, để mượn lời của GS Vương Trí Nhàn, thì ngôn ngữ
trong cách phát biểu hay diễn tả lại là thước đo trình độ nhận thức hay thưởng
ngoạn trong văn học. Hiểu theo nghĩa này, ăn nói có văn hóa không phải lúc nào
cũng tuôn ra những lời lẽ van chương hoa mỹ nhưng sáo mòn, hay những từ mới lạ
đao to búa lớn mới là biết ăn nói có văn hóa. Văn hóa cũng có thể là những lời
lẽ dung tục thô bạo, nhưng lại nói lên được cái chân thực, cái trung thực của
cuộc sống. Bởi vậy, ngày càng phải nghe những khẩu hiệu đấu tranh, những lời lẽ
hoa mỹ đầy dối trá, tôi lại đâm ra khoái một số từ ngữ được coi thuộc loại vô
học của dân sống vỉa hè, hay của dân lính tráng đơ dèm củ bắp. Thí dụ như mấy
lời thô tục của người lính miền nam VN trước 1975, có lần tôi tình cờ tôi nghe
lỏm được trong một cuộc trao đổi.
Hồi đó tôi đang phải theo đơn vị trú đóng
ở Pleiku, cái thành phố nơi khỉ ho cò gáy nhưng lại được dân đô thị hình dung
ra một thành phố thơ mộng với những người "em Pleiku má đỏ môi
hồng". Má đỏ môi hồng đâu không thấy, chỉ thấy mỗi lần có đoàn xe nhà
binh đi ngang là bụi đỏ bốc mù trời. Bữa đó, nhằm cuối tháng, nhặt nhạnh trong
túi thấy đủ tiền, tôi mới ghé lại một quán cà phê được coi là nơi giải trí để
đám lính tráng tụi tôi lui tới. Bàn bên cạnh tôi là hai người lính ngồi đối
diện nhau, Một anh khuôn mặt tươi tỉnh, quần áo tươm tất chắc là dân lính kiểng
với ly cà phê sữa đá cạn quá nửa và bao thuốc 555 mới bóc. Trước mặt là một anh
lính áo trận bạc màu, chắc thuộc loại "tiền lính tính liền", nghĩa là
thứ lính chưa hết tháng đã hết lương, nên không ai dám cho ăn chịu hay vay mượn
cả. Anh lính sau này, ta cứ tạm gọi là anh B cho tiện, ly cà phê đá trên tay
hãy còn đày, nhỏ to gi với anh A đối diện tôi nghe không rõ, nhưng anh này có
vẻ khoái trá gật gù cái đầu tủm tỉm cười. Một hồi, tôi bỗng nghe anh A cất
giọng: " Thôi, anh bốc thơm tôi như thế đủ rồi.
Khỏi cần tán thối thêm nữa. Anh mà còn tiép tục bơm tôi
lên như vậy, thế nào cũng có lúc tôi nổ tung như quả bóng te te cho mà coi.
Này, làm thêm điếu thuốc nữa đi." Anh B vội cầm lấy điếu thuốc,
nhưng cũng cố thòng thêm một câu để vớt vát: "Anh có biết thằng C vừa
được thăng binh nhất không? Mẹ kiếp, thằng đó có dám đấm đá ra trò gì đâu.Chẳng
qua vì nó biết cách nâng bi mấy ông xếp lớn hơn bọn mình đấy
thôi." Vậy là thay vì động từ nịnh bợ hay nịnh
hót thông dụng, mấy người lính miền nam trước đây còn sáng
chế ra bốn động từ khác nhau, mà tiếng nào cũng ý vị với âm hưởng, màu sắc
(nuances) khác nhau, nói lên được những biến đổi tâm trạng khác nhau:
- bốc thơm, anh A dùng lúc đầu
tỏ ý hài lòng được người bạn khen mình,
- tán thối, ngụ ý cho
hiểu anh A thừa biết những lời nói của anh B chỉ là phỉnh phờ mà thôi,
- bơm, anh A ngụ ý nhắn nhủ
anh B: Thôi, tốp đi là vừa cha nội!
- nâng bi, thường được
dùng để chi hành động nịnh hót khi muốn nói về một nhân vật thứ ba.
Giờ nhớ lại, tôi thấy mấy từ này đậm đà, ý
vị làm sao, và rất đáng đem cất vào nhà kho ngôn ngữ bình dân đại chúng, biết
đâu lại chẳng hữu dụng khi ta muốn có một sáng tác để nói về người lính miền
nam VN trước 1975.
Vả lại xét cho cùng, văn chương đích thực
không chủ trương kỳ thị ngôn ngữ như giữa con nguòi với nhau. Văn chương đích
thực không phân loại chữ nghĩa ra thành thượng vàng chỉ dành cho giai tầng
thương lưu, trí thức và hạ cám chỉ để cho giới ăn nói vô học. Mà chắc gì dâ
biết được ai thượng lưu, trí thức, ai ăn nói vô học? Thượng lưu? Một chính
khách khi ra tranh cử tuôn ra những lời hứa hẹn bùi tai; nhưng khi đắc cử rồi,
lại hành động theo kiẻu nói trước quên sau, tiền hậu bất nhất miễn sao phục vụ
cho sự nghiệp riêng của mình. Trí thức? Mấy ông chỉ thích trưng bằng cấp, tước
vị, nhưng lại quen uốn cong ngòi bút để chạy theo quyền lực hay tài lực. Vô
học? Như cái mụ " Nấm độc" nào đó, nghe đâu được Mỹ nhận cho tới tị
nạn, vậy mà chẳng bao lâu bà ta đã phát biểu linh tinh rằng nước Mỹ không "vĩ
đại" như người ta tưởng. Đúng là chỉ được cái ăn nói tào lao, bố láo. Đã
được voi lại còn đòi tiên. Nhưng ngẫm cho cùng, bước vào kỷ nguyên kỹ thuật
tiên tiến với trí tuệ ảo (intelligence artificielle) ngày càng lên ngôi khiến
ranh giới giữa thực và ảo ngày càng thêm xóa nhòa, nên ngày ta càng khó phân
biệt được cái thực với cái giả, cái chân với cái ảo. Văn hóa cũng vậy thôi. Đâu
có phải những lời lẽ văn chương hoa mỹ, nhưng đày dối trá, hoặc sáo mòn trống
rỗng, mới là lời ăn tiếng nói có văn hóa. Trái lại, những lời lẽ trắng trợn,
thẳng thừng đôi khi lại là biểu hiện nào đó của văn hóa. Văn hóa đích thực là
biết tìm kiếm cái thực và dám nói lên những cái thật ở đời. Theo nghĩa này, văn
hóa bao giờ cũng là thành quả của khổ công tìm kiếm sáng tạo để đưa ta gần cái
Chân, Thiện, Mỹ. Bởi vậy chỉ đáng coi là sản phẩm văn hóa những sáng tác như
bản "Xóm đêm" của Phạm Đình Chương, bài thơ "Chiều hôm nhớ
nhà" của Bà Huyện Thanh Quan, hay bài thơ "Hổ nhớ rừng" của Thê
Lữ. Nói khác đi, để mượn lời của học giả Pháp Emile Herriot : " Văn
hóa là cái gì còn ở lại nơi con người, khi mọi điều được quên đi hết thảy"
( La culture c’ est ce qui demeure dans l’homme quand tout est oublié). Phải
chăng, vì đã có sự hiểu hai chữ "văn hóa" như là biết trau giồi kiến
thức lẫn lộn với bằng cấp, học vị như là cần câu cơm, nên ở Việt Nam đang có
hiện tượng ngày thêm xuất hiện nhan nhản tiến sĩ, học "giả" do tệ nạn
mua bằng bán cấp. Và phải chăng đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy
thoái của văn hóa ở Việt Nam hiện nay, như GS Vương Trí Nhàn đã vạch rõ trong
bài viết " Vì sao người Việt không mê đọc sách?" được phổ biến trên diễn đàn mạng TALAWAS (8) ngày 22-9-2008.
Theo ông Vương Trí Nhàn, sở dĩ có hiên
tượng này, là do " gần đây ... dân ta làm việc gì thường theo lối
chụp giật, mà thiếu thói quen nghiên cứu sự vật; sự nghĩ ngợi hay chấp vá nửa
vời, đầu óc người ta không chăm chú theo đuổi tới cùng... Tất cả những bệnh
trạng đó trong tư duy bắt nguồn từ một văn hóa đọc đom đóm, một đời sông tinh
thần thiếu sách. Đến lượt mình, kiểu tư duy này lại quqy trở lại, cản trở người
Việt đọc sách ... Đứng ở góc độ tâm lý học cá nhân mà xét, với sự đọc sách, con
người phải trưởng thành như một nhân cách. Khi đọc sách, người ta phải có đơn
độc trong suy nghĩ và làm việc. Sự hình thành loại người này đòi hỏi bệ đỡ của
một nền văn hóa chắc chắn"
"... Giải thích sao
về hiện tượng này? ... Khi có thể dùng sách để lập thân thì người ta đọc sách.
Khi có nhiều con đường khác để lập thân mà ít tốn sức lực hơn – kể cả lối giả
vờ đọc sách, gian lận thi cử - thì người ta bỏ sách khá dễ dàng. Và đó chính là
tình trạng của xã hội hôm nay."
Hiện tượng người Việt không mê đọc sách,
theo nhận định của ông Vương Trí Nhàn phải chăng cũng là giải đáp cho câu hỏi
ông Chu Văn Sơn đã nêu ra trước đó hai năm trong bài viết mang tựa " Tác
phẩm lớn, tại sao chưa?" cũng trên diễn đàn TALAWAS ngày 16-11-2006.
Nhưng thế nào là một tác phẩm lớn? Vẫn theo ông Chu Văn Sơn, đó phải là một
"sản phẩm độc sáng, đặt ra được những vấn đề thật thiết cốt đối với
cuộc nhân sinh này và được viết bằng một cách tân nghệ thuật đầy bản lãnh và
bản sắc. Thế tất nó phải mang hơi thở một thời nhưng cũng là trăn trở của mọi
thời nảy sinh từ cuộc sống một dân tộc nhưng là câu chuyện chung của mọi dân
tộc, được viết từ tâm sự nhưng phải mang tâm tư của muôn người, là sản phẩm từ
một nền văn hóa, nhưng cũng có thể là vinh dự chung của nhiều nền văn
hóa." Thế nhưng, cũng theo nhận định của ông Chu Văn Sơn, từ khi
bước vào giai đoạn thời kỳ mở cửa, do ảnh hưởng của các làn gió từ ngoài thổi
vào, người ta chỉ thích đua đòi chạy theo nếp sống xa hoa hưởng thụ tây phương
và lấy việc phô trương giàu sang của cải làm biểu hiện cho nhân cách. Trong bối
cảnh sinh hoạt như vậy, vẫn theo lời ông Chu Văn Sơn, "Thói quen làm
hàng chợ vốn lên ngôi trong thời buổi chớm thị trường dường như đã làm xói mòn
khá nhiều kỉ luật làm hàng hiệu. Thật buồn, kiểu tâm huyết trăn trở tới hàng
chục năm lăn lóc thăng trầm để viết lên những tác phẩm để đời khám phá về cội
nguồn các sức sống và văn hóa dân tộc hay nghiền ngẫm về phận người, đau đáu về
tình người trong cuộc nhân sinh này thì như sao buổi sớm, còn dạng tâm huyết
"chạy show", bỏ ra ít tâm lực sản xuất những nghệ phẩm chiều nịnh thị
hiếu thời thượng thì như lá... rừng xuân" (bài đã dẫn)
Theo tôi nghĩ, sự đánh giá trên của ông Chu
Văn Sơn là chỉ nhắm vào tình trạng sáng tác văn học ở Việt Nam từ khi bước vào
giai đoạn mở cửa và chịu ảnh hưởng của các làn gió mới đên từ một số nước
ngoài, đặc biệt là từ Mỹ. Chứ còn trước đó, không thể nói là Việt Nam không có,
nếu không nhiều, thì ít ra cũng một số tác phẩm mang " tâm huyết trăn
trở ..., nghiền ngẫm về phận người, đau đáu về tình người trong cuộc nhân sinh
này..." như tập truyện ngắn "Mưa Nhã Nam" của Nguyễn Huy
Thiệp", "Bến không chồng" của Dương Hướng, "Phố" của
Chu Lai, "Nỗi buồn chiến tranh" của Bảo Ninh... Trong số này, ta có
thế coi cuốn " Nỗi buồn chiến tranh" là tiêu biểu nhất, bởi vì nó hội
đủ các yếu tố "tâm huyết trăn trỏ..., nghiền ngẫm về phận người, đau đau
về tình người trong cuộc nhân sinh..." mà các tác phẩm nêu trên đều ít
nhiều có đề cập tới. Ta có thể kiểm chứng điều này qua trích đoạn dưới đây và
cũng là phần kết cho cuốn sách của Bảo Ninh nói lên tâm trạng của Kiên, nhân
vật chính trong truyện: Sống sót sau những cái chết bi thảm của đồng đội, rồi
còn phải chứng kiến những cảnh đời trái tai gai mắt phơi bày sự khoe khoang hợm
hĩnh như là một phỉ báng xấc xược vào lý tưởng đấu tranh và sự hi sinh thiệt
thòi của những người đã nằm xuống, Kiên nhiều lúc đã phải sống trong hoang
tưởng của kẻ mộng du do chấn thương tâm thần... Và anh chỉ biết đi tìm an ủi
bằng sống trong quá khứ kỷ niệm "Bởi vì nhờ thế mà anh vĩnh viễn
được sống trong những ngày tháng đau thương nhưng huy hoàng những ngày bất hạnh
nhưng chan chứa tình người, những ngày mà chúng ta biết rõ vì sao chúng ta phải
bước vào chiến tranh, chúng ta phải chịu đựng tất cả, hi sinh tất cả. Ngày mà
tất cả đều còn rất son tre, trong trắng và chân thành." ( Bảo
Ninh : Nỗi buồn chiến tranh, Nhà Xuất bản Hội Nhà Văn 1991,
tr. 283) Theo tôi, đây là một tác phẩm nói về chiến tranh và thân phận bi đát
của những con người sống sót sau chiến tranh, có tầm vóc quốc tế không thua gì
cuốn "A l’ Ouest rien de nouveau" của nhà văn Đức Erich Maria
Remarque cả. Có lẽ vì thế cuốn sách đã được Phan Huy Đường dịch ra tiếng Pháp
dưới tựa đề " Le chagrin de guerre" – Editions Philippe Picque, 1995.
Tác phẩm cũng còn được dịch ra tiếng Anh, nhưng rất tiếc tôi không nhớ rõ tên
người dịch và tụa đề bản dich.
Đang mải mê viết và còn định viết nữa,
bỗng nghe có tiếng ai, sao giống giọng của ông Vũ Trọng Phụng thế, nói nhỏ vào
tai như muốn nhắc nhở: "Biết rồi, khổ lắm, nói mãi". Thê là
tôi sực tỉnh giật mình tự hỏi: Ừa, từ nãy tới giờ mình đang nói cái gì đây! Cái
tựa to tướng "Đi tìm cuốn sách dịch đã mất" dành dành ra đấy, mà
chẳng nghe nói gì tới cuốn sách cả, chỉ toàn chuyện trên trời dưới đất gi đâu.
Vâng, xin có lời tạ lỗi với quí vị nào có nhã ý theo dõi bài viết của tôi tới
nay. Giờ tôi xin chính thức công bố kết quả cuộc tìm kiếm cuốn sách đó như sau:
Mặc dù chịu khó la cà mấy tiệm sách và hỏi dò một vài chỗ thân quen, tôi chẳng
có tăm hơi, mà cũng chẳng được nghe ai nhắc đến cuốn sách tôi có ý đi tìm cả.
Nếu không có sẵn bản dịch của ông Nguyễn Trọng Định trong tay, có lẽ tôi đã
nghĩ mình đang mê ngủ, làm một công việc vô tích sự. Tuy nhiên tôi không thất
vọng lắm, mà chi hơi buồn thôi. Không thất vọng, vì đã chuẩn bị tinh thần sau
khi được đọc những bài lên tiếng báo động của hai ông Chu Văn Sơn và Vương Trí
Nhàn. Buồn vì tình trạng sinh hoạt văn hóa đang xuống cấp ở Việt Nam hiện nay.
Buồn, nhưng không vì thế mà tôi bị mất niềm tin. Buồn vì mái nhà Việt Nam có
nhiều dấu hiệu bị tróc lở và ít nhiều bị dột. Nhưng tôi không hề mất niềm tin
khi biết chắc rằng cái nền vẫn còn vững chắc, không dễ gì suy sụp. Sở dĩ tôi
vẫn giữ được niềm tin như vậy là nhờ những gì tôi đã tìm thấy nơi bình dân đại
chúng trong sinh hoạt hàng ngày. Như hình ảnh những người phụ nữ dân miệt vườn
đồng bằng sông Củu Long trong cuộc mưu sinh hàng ngày " với nón
lá, với quang gánh bên con trâu, con bò, trên xe lôi, xe thồ, trên ghe, trên
xuồng..." khiến KTS Nguyễn Ngọc Dũng muốn vinh danh họ bằng những nét
cọ trên tấm bố. Hay như tinh thần phấn đấu học hỏi của một số em học sinh tại
những vùng xa xôi hẻo lánh không quản ngại khắc phục mọi khó khăn để đến
trường, như bài báo mang tụa "Kéo bè phao vượt sông Cái đến
trường" trên tờ Tuôi trẻ, mục Giáo dục số ra ngày thứ năm
8-11-2018, tr.13. Sau đây là một đoạn của bài báo tôi xin trích lại nguyên văn
như sau:
"11h trưa, trời nắng chang chang,
Nguyễn Hoài Bảo Ngọc, Lê Thị Ngân (học sinh lớp 9 Trường THCS Trần Quốc Tuấn)
cùng nhau dắt chiếc xe đạp xuống bến sông trở về nhà sau giờ tan lớp. Chiếc bè
phao vừa kéo qua, có thêm hai hành khách là Võ Văn Đoan, học sinh lớp 10 Trường
trung cấp nghề Ninh Hòa và một cô giáo Trường tiểu học Ninh Thân cùng lỉnh kỉnh
nhu yếu phẩm. Không áo phao hay bất cứ dụng cụ lỉnh kỉnh nào, Đoan, Ngọc, Ngân
mang cặp sách trên lưng hì hục dùng tay kéo sọi dây đã được cố định để đưa bè
phao qua sông Cái rộng gần 100 mét.
Ngân cho biết đã đi bè
phao suốt ba năm qua. Nhà Ngân chỉ cách trường một con sông Cái, nếu đến trường
bằng đường vòng phải mất hơn 5km, còn đi bè chỉ vài phút. " Cực nhất là
vào mùa mưa bão nước sông lớn đò không đi được, nên em thường ở nhà bà ngoại
bên kia sông cả tháng trời để tiện cho việc đi học. Nhiều bạn không có người
quen đành đạp xe đường vòng, có khi muộn giờ vì đường xa" Ngân cho biết.
Còn Võ Văn Đoan cho biết
nếu không có bè phao này, em phải di chuyển thêm 10 km để đến trường.
"Biết không có áo phao đi qua sông rất nguy hiểm nhưng do khoảng cách đi
lại xa, nhiều năm em theo bè phao này để đến trường." Đoan nói.
Họ, những người dân miệt vườn đồng bằng
sông Cửu Long, với nón lá, quang gánh bên con trâu, con bò, trên xe bò, trên
ghe, xuồng ấy..., họ chính là biểu tượng cho tinh thần cần cù,
nhẫn nại, làm ăn lương thiện vốn là những đức tính mang bản sắc dân tộc. Về
phần mấy em học sinh cũng vậy. Trong khi người ta dự tính bỏ ra cả 1500 tỉ đồng
để xây một nhà Hát Opera chỉ để làm cảnh, các em bất chấp mọi gian nan cực khổ
vẫn cố ngày hai buổi cắp sách đến trường để trau giồi kiên thức, để học hỏi
những cái hay, cái đẹp, cái tinh hoa nơi người hầu tạo điều kiện hội nhập một
thế giới thực sự văn minh tiến bộ, như các thế hệ đi trước các em đã làm. Họ,
những người phụ nữ quang gánh bên con trâu, con bò, trên ghe trên xuồng , cũng
như các em học sinh lặn lội kéo bè phao vượt sông Cái để đến trường, chính họ
và chỉ có họ mới là những ông từ, bà từ (gardiens du temple), những con người
trông coi gìn giữ ngôi đên Việt Nam. Là những ông từ, bà từ bởi vì những người
phụ nữ quang gánh trên vai ấy, những em học sinh dùng bè phao vượt sông Cái để
đến trường ấy, họ chính là những con người được chọn lọc (des élus) để gìn giữ
bản sắc dân tộc Việt Nam, bảo tồn tâm hồn Việt Nam. Và điều may mắn khiến họ
được tuyẻn lựa, là vị họ được sống tại những nơi xa xôi hẻo lánh, địa thế trắc
trở nên không bị thở hít các luồng chướng khí từ ngoài thổi vào như dân thành
phố (cũng như dân sống ở những vùng đồng quê hay miền núi ít bị lây nhiễm vi
rút Corona hơn là dân sống tập trung tại các đô thị, thành phố lớn).
Về phần tôi, nhờ dược đọc hai bài báo nói
về những người phụ nữ đồng bằng sông Cửu Long, cũng như mấy em học sinh dùng bè
phao vượt sông Cái để tới trường, nên tôi đã không hề nản lòng khi không tìm ra
được vết tích bản dịch cuốn Dưới bóng những cô gái tuổi hoa của
ông Nguyễn Trọng Định. Không nản lòng, vì mặc dù có thắc mắc của ông Chu Văn
Sơn là tại sao Việt Nam chưa có tác phẩm lớn, nhưng không phải vì thế mà từ sau
thời kỳ mở cửa, không có những con người tâm huyết. Bằng chứng là bản dịch của
ông Nguyễn Trọng Định nhằm giúp độc giả Việt Nam được làm quen với một tác phẩm
lớn của một nhà văn lớn tầm cỡ quốc tế như Marcel Proust. Bởi vậy tôi không tin
cuốn Dưới bóng những cô gái tuổi hoa của ông Nguyễn Trọng Định
đã thực sự mất đi, theo nghĩa hoàn toàn bị nhận chìm trong quên lãng. Tôi cho
rằng cuốn sách chỉ bị thất lạc mà thôi, nghĩa là nó bị bỏ quên đâu dó, cũng như
khung trời kỷ niệm thời thơ ấu của Proust tại Illiers Combray. Biết đâu chẳng
có một ngày hay do sự tình cờ nào đó, như mùi vị miếng bánh madeleine tẩm trà
với Proust, cuốn sách lại có dịp được độc giả chú ý tới. Với kỳ vọng đó, tôi
mong sẽ có thể viết một bài để giới thiệu phần nào, trong giới hạn khả năng tìm
hiểu của tôi, về một cuốn sách, theo lời nhà xuất bản Nhã Nam, từ lâu đã
được coi là danh tác văn học, niềm kiêu hãnh của văn chương Pháp.
Chú thích:
- (7)
Mời coi "Bài ca tủ, bản nhạc để đời" đã được phổ biến trên một số
diễn đàn mạng.
- (8) Talawas là
một diễn đàn mạng văn học được sự hợp tác của nhiều học giả, nhiều nhà phê bình
có thẩm quyền ở trong nước cũng như ở hải ngoại. Rất tiếc, vì là một diễn đàn
độc lập, tự túc nên có thể do vấn đề ngân sách và tài trợ nên đã phải ngưng
hoạt động vào khoảng thập niên đầu thế kỷ này.
16-5-2020 Nguyễn Bảo Hưng
16-5-2020


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét