Thứ Bảy, 17 tháng 7, 2021

Đi tìm cuốn sách dịch đã mất hay Thế sự thăng trầm quân mạc vấn

Đi tìm cuốn sách dịch đã mất hay
Thế sự thăng trầm quân mạc vấn

Xin phép được làm phiền bà con cô bác, bằng hữu thân quen bài viết mới này để chỉ nói toàn chuyện cũ, đã thế còn bị hơi dài. Của đáng tội, lúc đầu tôi định chỉ viết vài trang thôi để nói về một cuốn sách dịch. Nhưng có lẽ hồi này cái đầu đã bị lão hóa lại thêm chớm bịnh Alzheimer đâm ra suy nghĩ quanh co lẩn thẩn, ăn nói lẩm cẩm càm ràm. Đang câu chuyện này nhảy sang chuyện khác, lấy râu ông nọ cắm cầm bà kia, chẳng đầu voi đuôi chuột ra sao cả. Viết xong đọc lại thấy dài tới mấy chục trang, giật mình tự hỏi làm ăn viết lách kiểu này liệu có ma nào thèm đọc. Nhất là thời buổi truyền thông trí tuệ ảo càng lúc lên ngội khiến chữ nghĩa rẻ hơn bèo. Bộ không thấy là các tiệm sách ngày một rủ nhau uống thuốc ngủ, khiến công nhân nhà in thất nghiệp mỗi lúc thêm đông. Bởi vậy, đã là dân văn minh sành điệu phải biết sắm cho mình cái iphone, ipad loại xịn để tha hồ chí cha chí chát, tuýt toe tuýt toét tối ngày. Có mấy ai dại dột chúi mũi vào trang sách loằng ngoằng những giòng chữ cho thêm nặng cái đầu kèm nhèm đôi mắt. Biết vậy, nhưng lỡ viết rồi biết làm sao đây. Thôi đành liều cho phát tán đại trên mạng, phó mặc số phận cho con vi rút corona quyết định may rui. Ít ra trong cái rủi phải có chút xíu cái may, như trong câu chuyện ông lão mất ngựa ngày xửa ngày xưa ấy mà. Cái may của tôi, nếu có, oái oăm thay lại phần nào do con covid-19 ác ôn đem lại. Cũng như cư dân tại mấy đô thị lớn, cũng nhờ có nó giờ này mới cảm thấy phần nào dễ chịu vì được thở hít chút ít không khí trong lành, thay vì cái không khí bụi bậm ô nhiễm trước đây khi họ còn được phóng xe thả dàn. Sự đời, nhiều lúc ngẫm ra thấy cũng dzui dzui. Nếu không vì nó, con vi rút ác ôn corona ấy, mọi người nơi nơi đâu có bị treo giò cấm cửa. Chả lẽ ai nấy cũng ngồi yên khoanh tay chịu trận để gậm nhấm mối sầu nhân thế, như con cọp của Thế Lữ gầm gừ mãi trông cũi sắt hay sao? Cũng vì thế nên lúc này tôi mới thấy gặp thời cơ đem hàng ra gạ gẫm quí vị. Biết đâu trong lúc đi tìm khuây khỏa, lại chẳng có cặp mắt xanh hay đã kèm nhèm tình cờ ngó thấy. Qui vị nào có nhã ý ghé mắt coi chơi, sẽ được ưu tiên bao trọn gói và bảo đảm toàn bộ bài viết sẽ được gửi tới tận tay quí vị trong suốt thời gian có đại dịch . Xin mời và có lời cảm tạ trước.
Trân kính.
1. Một ngày giông bão vào dầu tháng 11 năm 2008. Nhân lúc tạt vào Siêu thị sách Minh Châu đường Tạ Quang Bửu, khu Tập thể Bách Khoa Hà Nội để trú bão, tình cờ bắt gặp tại quầy "Văn học nước ngoài" bản dịch cuốn A l'ombre des jeunes filles en fleurs của Marcel PROUST ra tiếng Việt do ông Nguyễn Trọng Định đảm nhiệm và Nhà Xuất Bản Nhã Nam ấn hành với tựa đề Dưới bóng những cô gái tuổi hoa, tôi vội chụp lấy. Tôi vội chụp lấy, chẳng phải vì đây là bản dịch tập hai của bộ A la recherche du temps perdu là bộ sách của Proust vẫn được người đời ưa nhắc tới, mà vì Marcel Proust còn là tác giả tôi đã biết học làm quen để, mỗi lần trở về với các trang sách của ông, là một làn tôi lại phát hiện thêm được thích thú. Không, lý do khiến tôi không bỏ lỡ cơ hội mua bản dịch cuốn sách của Proust mang về đọc, trước nhất, là để có một ý niệm chính xác hơn về tình trạng dịch thuật ở Việt Nam; tiếp đến vì muốn biết sự ra mắt bản dịch một cuốn sach của Proust sẽ được tiếp nhận ra sao, có gây được âm vang nào trong các giới văn học Viêt Nam, trong nước cũng như ngoài nước.
Trước hết ta hãy bàn về vấn đề dịch thuật. Về mặt này, phần đông các bản dịch trong nước trước đây thường bị dư luận hải ngoại, nói chung, đánh giá là cẩu thả, yếu kém, thậm chí đôi khi còn thể hiện một tinh thần vô trách nhiệm. Điển hình là nhận xét của học giả Trần Thiện Đạo qua hai lần trả lời phỏng vấn của nhà phê bình Thụy Khuê trên đài RFI và được đăng lại trên tạp chí Hợp Lưu số 58 tháng 4&5 năm 2001 và số 82 tháng tháng 4&5 năm 2005. Trong lần trả lời phỏng vấn trên đài RFI – Paris tháng 9-2001, ô. Trần Thiện Đạo, trước tiên, có nhận định là " Ngoại trừ vài ba nỗ lực hoàn toàn cá nhân như Đoàn Tử Huyến, như Phạm Xuân Nguyên, như Nguyên Ngọc chẳng hạn... thì (ở trong nước) cho đến nay vẫn chưa thấy ai vừa vạch ra, vừa thực thi một phương trình phiên dịch và giới thiệu văn học nước ngoài một cách có hệ thống và có kế hoạch" (HL số 58, tr. 186). Sau đó ô. Trần Thiện Đạo đã dẫn chứng hai thí dụ dịch sai trong bản dịch Chờ đợi Godot theo bản tiếng Pháp En attendant Godot của nhà văn Samuel Beckett, do nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội in. Thí dụ thứ nhất: Trong câu mở đàu kịch bản: Route à la campagne avec arbre , thay vì dịch là Con đường ở nông thôn với một gốc cây, tác giả lại đổi thành Con đường đẫn về nông thôn, có cây. Thí dụ thứ hai : Si on se pendait? Ce serait un moyen de bander, thay vì dịch là Hay ta tự treo cổ ? Đó cũng là một cách để được xuất tinh, người dịch lại chuyển thành Hay chúng mình tự treo cổ ? Đó cũng là một biện pháp để tự kết liễu.(HL số 58, tr. 188). Ngoài hai dẫn chứng " dịch sai ", " dịch là phản " này, ông Trần Thiện Đạo còn lên tiếng than phiền về vài tệ nạn khác : Đó là dịch không dựa trên bản gốc mà lại thông qua một bản dịch ngoại ngữ khác khiến văn bản không những dễ rơi vào tình trạng tam sao thất bổn mà còn khó lột được trọn vẹn tinh thần nội dung tác phẩm. Tệ nạn này đã được ô. Trần Thiện Đạo nêu lên trong bài phỏng vấn thứ hai trên đài RFI ngày 18-9-2004 và được đăng lại trên Hợp Lưu số 82 tháng 4&5 năm 2005. Trong cuộc phỏng vấn nêu trên, ông Trần Thiện Đạo bắt đầu bằng than phiền về việc Hội Nhà Văn Hà Nội vừa trao giải văn học dịch cho một bản dịch không dựa trên nguyên bản tiếng gốc, mà thông qua một bản dịch ngoại ngữ khác.(HL số 82, tr. 291). Theo nhận dịnh của ông T.T Đạo đây làmột việc làm tùy tiện, trái lẽ, gượng ép – hoặc là vì ban giám khảo đã cạn suy (ai đời lại trao giải dịch thuật cho một bản – dịch từ một bản dịch), hoặc là, tệ hơn nữa, nói thế nào nhỉ..., hoặc là để bốc bạn bè với nhau – điều này cũng thường xảy ra ở nhiều địa hạt khác.(Sdd, tr. 292). Đây là một hiện tượng khá phổ biến vì, cũng theo ô. TT Đạo, rất nhiều sách dịch in ra mấy năm trở lại đây đã được hay bị thực hiện không dựa trên nguyên bản tiếng gốc, mà lại thông qua một bản dịch ngoại ngữ khác. Dịch sách, ngay khi dựa trên bản gốc, nếu không cân nhắc thận trọng đối với cách sử dụng một số câu chữ của tác giả, có thể dễ bị sa vào bẫy dịch là phản. Huống hồ là dịch không dựa trên nguyên bản gốc mà lại thông qua một bản ngoại ngữ dich lại thì dịch, trong trường hợp này, không những có thể là phản, mà có khi còn là diệt nữa (chữ của ô. Đạo).
Thế nhưng sự nghiêm khắc phê phán công tác dịch thuật ở Việt Nam không phải chỉ có vậy. Mở lại trang mạng TALAWAS để lục lọi các bài đã đăng vẫn được lưu trữ trước khi diễn đàn này tự ý ngưng hoạt động, vào mục " Dịch thuật " ta có thể đọc bài viết ngày 17-10-2006 của Magaret Nguyen mang tựa đề : " Cộng đồng Pháp ngữ Việt Nam, lạc quan hay bi quan ? " . Trong bài viết này, ô. Magaret Nguyen đã trưng ra một số hạt sạn lượm lặt trong câu văn chuyển dịch của một số dịch giả. Thí dụ như câu văn của Camus trong Discours de Suède : " ...De quel coeur aussi pouvait-il recevoir cet honneur à l'heure où , en Europe, d'autres écrivains, parmi les plus grands, sont réduits au silence, et dans le temps même où sa terre natale connait un malheur incessant ? " , Phạm Toàn đã dịch ra thành : " Thử hỏi anh ta có lòng nào đón nhận vinh quang ấy trong khi ở Âu châu có các nhà văn khác và là nhà văn lớn vẫn đang bị bóp miệng ngay trong lúc quê hương họ vẫn bị bóp miệng triền miên ? ". Cái sai lầm ở đây là người dịch đã đổi tính từ sở hữu số ít (adjectif possessif) sa (terrre natale) để chỉ quê hương của anh ta tức của Camus ra thành leur, tính từ sở hữu số nhiều đê chỉ quê hương của họ tức là quê hương của các nhà văn khác ở Âu châu. Một thí dụ khác là khi Từ Huy dịch câu văn của Kristeva: "Mais profondément, c'est bien une Francaise que vous accueillez en moi, que ce soit une européenne "ra thành" Nhưng sâu xa, chính là quí vị đón nhận một phụ nữ Pháp ở trong tôi, đó chính là môt phụ nữ Châu Âu đã Pháp hóa. "Sai lầm ở đây là cụm từ que ce soit phải dịch thành dù rằng đó là hoặc cho dù có là chứ không thể đó chính là theo Từ Huy được. Do đó câu dịch của Từ Huy cần được lại như sau: "Nhưng để diễn tả sâu xa, đúng là một phụ nữ Pháp quí vị đang đón nhận ở nơi tôi, cho dù có là một phụ nữ Âu châu đã được Pháp hóa. ".
Tuy nhiên mấy trích dẫn trên đây mới chỉ nêu lên những sơ suất hay lỗi lầm mà người dịch nếu không để tâm chú ý có thể mắc phải. Sơ suất là những lỗi nhỏ khi dịch sai do người dịch lơ là mẹo văn phạm, hoặc hiểu sai nghĩa của từ hoặc của một nhóm từ mà tác giả cố ý dùng để tạo dấu ấn cho văn phong hoặc kỹ thuật diễn tả của ông. Nếu là những câu văn thường, thì những sơ suất này có thể tạm bỏ qua vì chúng không ảnh hưởng tai hại tới nội dung ý nghĩa văn bản, hay đúng ra là câu truyện kể trong tác phẩm. Riêng đối với các tác phẩm có giá trị văn học nghệ thuật cao được thừa nhận là di sản văn hóa quốc tế, thì đòi hỏi về chuẩn xác trong dịch thuật phải khe khắt, triệt để hơn. Đặc biệt với một số từ chủ chốt hay một số câu văn chủ chốt (mot clef ou phrase clef), tác giả sử dụng với dụng ý. Các trường hợp này, mọi từ ngữ dịch không phản ánh được dụng ý của tác giả sẽ khiến người đọc hiểu lầm hoặc không nắm đúng được nội dung thông điệp tác giả muốn truyền đạt. Trong bài viết " Dịch là phản ? " (1), nhân bàn về bản dịch truyện " L'Hôte " trong tập " L'exil et le royaume " của A. camus, chúng tôi đã có dịp chứng minh khi một bản dịch không dựa trên nguyên tác mà trên một bản văn được dịch lại đã dẫn đến hậu quả tai hại cho người thưởng ngoạn muốn hiểu biết về nghệ thuật diễn tả cũng như về nội dung tư tưởng của Camus như thế nào. Trường hợp này, dịch nhiều khi không chỉ có là phản mà thôi ; đôi khi, dịch còn là diệt nữa (để mượn lời của ông Trần Thiện Đạo). Bởi vậy, theo tôi nghĩ dịch sách, nhất là các tác phẩm có giá trị văn học quốc tế, là một việc làm khó khăn tế nhị. Nó đòi hỏi nơi người thực hiện công tác, không chỉ sự am tường rành rọt về ngôn ngữ văn bản gốc lẫn tiếng mẹ đẻ, mà còn một trình độ văn hóa cao nữa. Có thế người dịch mới mong biến công tác dịch thuật thành một công trình văn hóa đóng góp cho việc mở rộng kiến thức và nâng cao trình độ thưởng ngoạn của người đọc.
Giờ ta hãy trở về với bản dịch mang tựa đề  Dưới bóng những cô gái tuổi hoa  của ông Nguyễn Trọng Đinh. Như chúng ta đều biết, Marcel Proust là nhà văn Pháp được cả thế giới ngưỡng mộ với tác phẩm lẫy lừng " A la recherche du temps perdu " của ông. Tác phẩm dài trên ba ngàn trang và được phân thành bảy tập truyện với bảy tựa sách khác nhau. Cuốn sách " Dưới bóng những tuổi hoa " là bản dịch tập hai mang tựa đề  A l'ombre des jeunes filles en fleurs  trong toàn bộ truyện của Proust. Cũng là trường thiên tiểu thuyết, nhưng  A la recherche du temp perdu lại không thuộc loại các bộ truyện tiểu thuyết xã hội dễ dàng câu độc giả như bộ truyện  La Comédie humaine  của Balzac hay  Les Rougon-Macquart  của Emile Zola nhờ vào các tình tiết gút mắc éo le, hay các nhân vật nổi bật do đậm đặc cá tính. Tuy cũng cho ta một bức tranh toàn cảnh xã hội, nhưng bộ truyện của Proust lại không nhằm chủ đích mô tả các cảnh đời hay thuật lại câu chuyện các mảnh đời. Khác với các nhà văn thế hệ trước ông, Proust lại muốn biến khung cảnh xã hội của ông thành môi trường khảo sát và nghiên cứu để từ đó ông tìm ra ý nghĩa đích thực cho cuộc sống bản thân. Đó chính là cái đã tạo nên giá trị văn học cho tác phẩm của ông, khiến nó được liệt vào hạng di sản văn hóa của loài người. Nhưng đây không phải là đề tài để đem ra thảo luận cho bài viết này. Tôi mong sẽ có dịp đi sâu vào vấn đề hơn trong một bài viết sắp tới. Điều tôi muốn nêu ra trong bài viết dưới đây là có nên coi bản dịch của ông Nguyễn Trọng Định như là một đóng góp văn hóa đáng kể nhằm giới thiệu tác phẩm của Proust với độc giả Việt Nam. Hay, nói khác đi, bản dịch có đáng tin cậy không, nghĩa là ông Định có phạm phải những sai lầm đã nêu trên như " dịch là phản " hay " dịch là diệt " khiến, chỉ riêng về mặt hình thức, bản dịch đã làm giảm trị văn học cuốn sách của Proust.
Nhưng trước khi đi vào đánh giá bản dịch A l'ombre des jeunes filles en fleurs của ông Nguyễn Trọng Định, tôi xin phép được có vài hàng để nói sơ qua về mối tương quan gai góc giữa tác giả Marcel Proust với giới độc giả. Chỉ riêng về diện này, ta có thể nói Proust nằm trong số các nhà văn hiếm hoi chọn độc giả, chứ không thuộc loại nhà văn được độc giả ưa thích đọc. Chọn độc giả, vì Đi tìm thời gian đã mất không thuộc loại sách dành cho giới độc giả dễ dãi lấy chuyện đọc sách làm thú vui văn nghệ giải trí, hoặc do hiếu kỳ muốn biết cuốn sách có gì đặc sắc mà sao lại được ca tụng đến thế. Đối với thành phần độc giả này Proust, do văn phong của ông, cũng đủ khiến họ chỉ mới đọc qua vài trang, thậm chí vài dòng đã vội tính đường " chạy mặt ". Nhận định trên đây chỉ muốn nêu lên một thực tế, chứ không hề mang dụng ý xúc phạm hay bỉ thử nào. Những ai có làm quen với văn học Pháp chẳng lạ gì cái tên André Gide, nhà văn của thế kỷ 20 từng được trao giải thưởng văn học Nobel. Thời còn làm " lecteur " cho Nouvelle revue Française hay Gallimard ngày nay, tức phụ trách công việc tuyển lựa tác phẩm để nhà xuất bản cho ấn hành, Gide đã loại bỏ tập A l'ombre des jeunes filles en fleurs của Proust, sau khi mới đọc vài chương. Về sau, trong một lá thư gửi cho Proust và N.R.F ngày 11 Janvier 1914, A. Gide đã phải nhìn nhận lỗi lầm của mình bằng những lời lẽ như sau: "Sự từ chối cho in cuốn sách này sẽ là sai lầm nghiêm trọng nhất của N.R.F và (tôi lấy làm hổ thẹn vì có trách nhiệm lớn trong vụ này) cũng là một trong những hối tiếc, những ân hận cay đắng nhất trong đời tôi." (" Le refus de ce livre restera la plus grave erreur de la N.R.F et ( car j'ai cette honte d'en être beaucoup responsable) l'un des regrets, des remords les plus cuisants de ma vie "Proust: A la recherche du temps perdu, tome I, collections Bouquins, Editions Robert Laffont, 1987 ; Introduction, p. XXXII).
Chỉ nội đến với Proust để đọc không thôi cũng đã trần ai như vậy, nói chi đến việc dịch toàn bộ cuốn sách. Ta có thể sánh mỗi trang sách của ông như một khu rừng già rậm rạp, mà mỗi câu văn là một gốc cây đại thụ với rễ mọc tứ phía chằng chịt xoắn xít lấy nhau. Bởi vậy độc giả nào có ý mạo hiểm vào chốn đó, chẳng mấy chốc đã muốn lùi bước vì cảm thấy sẽ bị lạc lối trước khu rừng xum xuê um tùm ấy. Tuy nhiên, sau khi đọc bản dịch của ông Định và đối chiếu một số đoạn với nguyên tác, tôi cảm thấy an tâm phần nào. Tôi không dám quả quyết rằng bản dịch là hoàn hảo ; nếu chịu khó bỏ công tìm kiếm hoặc cố tình vạch lá tìm sâu, rất có thể ta sẽ nhặt được một vài hạt sạn. Tuy nhiên một vài hạt sạn đó, nếu có, tôi không tin là chúng có thể lật đổ nổi cỗ xe, tức là làm tổn hại tới phần đóng góp của công tác dịch thuật về mặt văn học nghệ thuật. Qua đối chiếu một số trang dịch với nguyên tác, tôi cảm thấy người dịch chứng tỏ có nội lực, rằng ông ta không chỉ am tường tiếng của văn bản gốc lẫn tiếng mẹ đẻ, mà còn nắm vững khả năng diễn đạt đặc thù của mỗi thứ tiếng đó nữa. Tôi xin minh chứng bằng ngay câu văn mở đầu cho cuốn sách của Proust như sau: ("Ma mère, quand il fut question d'avoir pour la première fois M. de Norpois à dîner, ayant exprimé le regret que le professeur Cottard fût en voyage et qu'elle-même eût entièrement cessé de fréquenter Swann, car l'un et l'autre eussent sans doute intéressé l'ancien Ambassadeur, mon père répondit qu'un convive éminent, un savant illustre, comme Cottard, ne pouvait jamais mal faire dans un dîner, mais que Swann, avec son ostentation, avec sa manière de crier sur les toits ses moindres relations, était un vulgaire esbroufeur que le marquis de Norpois eût sans doute trouvé, selon son expression, " puant. "M. Proust: A l'ombre des jeunes filles en fleurs - Livre de Poche, Gallimard 1954, p.5 ). Thú thật, giả dụ có ai đó nhờ tôi dịch câu văn này và là lần đầu tiên tôi được thấy, chắc chắn tôi phải đọc đi đọc lại nhiều lần may ra mới nắm được ý câu văn lằng nhằng giây mơ rễ má ấy. Và dù có nắm được ý của toàn câu văn, chưa chắc tôi đã kiếm được lời trình bày gãy gọn để giúp người nghe hiểu được đại khái câu văn ý muốn nói lên điều gì. Và sau đây là phần dịch ra tiếng Việt của ông Nguyễn Trọng Định: "Lần đầu tiên bố mẹ tôi bàn việc mời ông de Norpois tới ăn tối. Mẹ tôi ý tiếc giáo sư Cottard đi du lịch vắng, đối với Swann thì bà đã hoàn toàn cắt đứt quan hệ ; giá có hai vị này thì chắc hẳn ngài cựu Đại sứ thích thú lắm. Bố tôi bảo, một vị khách vĩ đại, một nhà bác học trứ danh như Cottard không bao giờ có thể thất thố trong một bữa ăn tối, còn với lối phô trương, cái cung cách hễ quen biết ai là oang oang nêu danh người ta lên, Swann chỉ là một tay khoe mã tầm thường mà ắt hẳn hàu tước de Norpois sẽ cho là " thối hoắc " theo lối nói của ông. "  (Marcel Proust : " Dưới bóng những cô gái tuổi hoa " -Nguyễn Trọng Định dịch - Nhã Nam, Nhà xuất bản Văn Học, tr.9 – 2008)

Vậy là đoạn văn Việt trên đây gồm ba câu chỉ là sự chuyển dịch một câu văn độc nhất của Proust. Tuy nhiên người dịch, ông Nguyễn Trọng Định, đã không chỉ dịch máy móc theo từ ngữ (traduire littéralement) ; trái lại ông đã phân bố câu văn của Proust thành nhiều câu ngắn hơn - không phải để sửa lại văn của Proust-, mà để dịch cho được thoát ý bằng những câu văn ngắn cho sáng sủa, với những thành ngữ quen thuộc tiếng Việt để thay thế lối diễn tả của người Pháp.Td: "mal faire" (thất thố); "crier sur les toits ses moindres relations" (oang oang nêu danh người ta lên)... Điều này cho phép tôi tin tưởng phần nào bản dịch của ông sẽ không phương hại tới giá trị nội dung văn học tác phẩm của Proust. Chỉ riêng về mặt này thôi, cũng đủ cho thấy ông Định đã không ngại bỏ công để khuyến khích độc giả tiếp tục cuộc phiêu lưu mạo hiểm vào khu rừng già, tức bản dịch cuốn sách của Proust. Tuy nhiên , đánh giá khả năng dịch thuật của người dịch không phải là mục đích chính của tôi. Động cơ chủ yếu khiến tôi vội chộp lấy cuốn Dưới bóng những cô gái tuổi hoa, là do niềm hân hoan phấn khởi thấy một tác phẩm văn học giá trị quốc tế, từng được dịch ra hàng chục thứ tiếng trên thế giới, nay được đem ra giới thiệu với độc giả Việt Nam (2). Tôi tò mò muốn biết tác phẩm sẽ được tiếp nhận ra sao, và tin tưởng, không ít thì nhiều, nó sẽ được người đời chiếu cố. Về phản ứng trong nước, vì tôi phải trở lại Pháp ngay sau bữa đó nên tôi không có điều kiện theo dõi để được biết bản dịch của ông Nguyễn Trọng Định có được đón nhận nhiệt tình hay không. Thế còn văn học hải ngoại phản ứng ra sao?
Tính từ ngày cuốn sách ra mắt (2008) tới nay, đã dược trên mười năm rồi. Thế nhưng, qua sự theo dõi của tôi, ít ra cũng trong giới hạn tìm kiếm của bản thân, tôi có cảm giác là, về mặt này, " mặt trận miền Tây có vẻ còn yên tịnh lắm thì phải " (3). Như đã trình bày ở trên, các nhà làm văn học hải ngoại thời gian qua, đều quan tâm, không ít thì nhiều, tới sinh hoạt văn hóa trong nước, nhất là về mặt dịch thuật. Thế mà trước một công trình dịch thuật của ông Định, nhất là để giới thiệu với độc giả Việt Nam một cuốn sách trong bộ truyện  Đi tìm thời gian đã mất  khiến Proust được tôn vinh là " nhà văn Pháp có tác phẩm được dịch và được biết đến nhiều nhất trên thê giới " (lời giới thiêu của nhà xuất bản trên mặt hai bia sách), dường như lại không có ai nhắc nhở tới, chứ đừng nói đến bình phẩm. Tôi cho thái độ dửng dưng này là một hiện tượng đáng buồn và đáng tiếc.
Quan tâm tới tình hình dịch thuật nhằm giới thiệu các tác phẩm văn học quốc tế có giá trị, theo tôi, là cần thiết và đáng hoan nghênh. Bởi vì chỉ những bản dịch được thực hiện với trình độ hiểu biết và ý thức trách nhiệm mới đóng góp hữu ích cho công cuộc truyền bá văn hóa nước ngoài, nghĩa là giúp cho người đọc mở rộng kiến thức hoặc nâng cao trình độ thưởng ngoạn văn chương nghệ thuật của mình. Tuy nhiên đòi hỏi một bản dịch hoàn chỉnh, chỉ mới là diều kiện ắt có hay tất yếu, chứ còn chưa được coi là đầy đủ. Điều quan trọng không phải chỉ đánh giá khả năng dịch thuật, mà còn cần nêu rõ phẩm chất văn chương, hay giá trị tư tưởng của tác phẩm được dịch ra sao. Có thế, sự quan tâm của ta về một bản dịch được thực hiện với tinh thần hiểu biết và ý thức trách nhiệm, mới thực sự đóng góp hữu ích cho công cuộc truyền bá văn hóa nước ngoài. Phản ứng của các giới văn học hải ngoại đã vậy, thế còn trong nước bản dịch của ông Nguyễn Trọng Định có nhận được hưởng ứng nào chăng?
Tháng 10 năm 2018, tôi mới trở lại Việt Nam, mục đích chính là để thăm bà dì ruột ở Đà Lạt, nay đã ngoại cửu tuần. Tiếp đến, tôi cũng muốn nhân dịp tìm kiếm cho riêng mình một cái nhìn mà tôi mong là đúng đắn hơn, xác thực hơn về một Việt Nam đang đổi mới, so với những hình ảnh cực kỳ tương phản còn được chuyển tải trên các trang mạng. Sau cùng, tôi tò mò muốn biết bản dịch của ông Nguyễn Trọng Địch ra sao, liệu có được trong nước dành cho một số phận khấm khá hơn so với các giới văn học hải ngoại.
Vậy là trên mười năm đã trôi qua từ khi tôi có trong tay bản dịch mang tựa đề  Dưới bóng những cô gái tuổi hoa  của ông Nguyễn Trọng Định do Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn, Nhã Nam phát hành.Mười năm nước chảy qua cầu... Mười năm để mưa rơi rơi xóa bao lối đi mòn...Mười năm mưa rơi rơi, để ngày trở lại có được thấy những điều mình vẫn chờ trông? 
Chú thích:
1. - Bài Dịch là phản? Của người viết đã được đăng tải trên một sô diễn đàn mạng.
2.- Bộ A la recherche du temps perdu đã được một số quốc gia Á châu như Nhật Bản, Nam Hàn, Đài loan dịch thuật không nói làm chi, tôi chỉ xin nêu trường hợp ông Jo Yoshida (1950- 2005) để thấy ngay từ thế kỷ trước người Nhật đã chú ý tới bộ truyện nổi danh của Proust như thế nào. Tốt nghiệp tiến sĩ văn chương đại học Sorbone Pháp, nhưng ngay khi còn là sinh viên, Yoshida đã say mê Proust và bỏ nhiều thời gian để sưu khảo về Proust. Và cũng do công trình sưu tầm của ông, nên Yoshida đã được nhà xuất bản Gallimard mời cộng tác với giáo sư Jean Yves Tardie cho ấn bản toàn tập A la recherche du temps perdu trong Tủ sách La Pleiade ( Bibliotheque La Pleiade) , như chúng ta đều biết, là thuộc loại Tủ sách văn học hiếm quý được thế giới biết tiếng.
Nhưng ở Nhật không chỉ có mình ông Jo Yoshida mới chú ý tới Marcel Proust. Trên trang mạng Le Monde ngày 23-3-2020 có đăng bài của Philippe Pons, mang tựa đề " A la recherche du temps perdu" en japonais ou l' art de traduction, để nói về Kazyoshi Yoshikawa một nhà sưu khảo Nhật khác về Proust. Yoshikawa cũng là dịch giả thứ ba bộ A la recherche du temps perdu Proust ra tiếng Nhật. Hoàn tất năm 2019, bản dịch nay đã bán được 177000 cuốn.
3.- Để mượn tựa cuốn A l Ouest rien de nouveau của văn hào Đức Eric Maria Remarque .
2. Máy bay còn đang lượn vòng chờ đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, từ ghế ngồi dòm xuống tôi đã bị choáng ngợp trước bộ mặt thay đổi của thành phố Sài Gòn với những tòa cao tầng mọc lên như nấm cùng với một vài cây cầu kiến trúc hiện đại dẫn vào thành phố. Rồi tới khi ngồi trên chiếc tắc xi "uber  đưa tôi về khách sạn quang cảnh phố phường cùng với nhịp độ sinh hoạt ở đây càng khiến tôi thêm bị ấn tượng  (4). Nhiều tòa nhà lầu hoành tráng, kiến trúc hiện đại lần lượt thay thế ngạo nghễ bên cạnh những căn nhà cũ chật hẹp tường vàng ố trước đây, khiến nhiều con phố vốn rất quen thuộc với tôi, nhiều lúc nay không còn nhận ra. Đường phố cũng nhộn nhịp tấp nập hơn với đủ loại xe lưu thông nhiều khi vô kỷ luật, vô trật tự khiến tình trạng bị tắt nghẹn hầu như cơm bữa. Không chỉ có xe cộ, khách bộ hành cũng vậy. Trên những con đường nườm nượp đủ loại xe qua lại, tôi được chứng kiến cảnh một vài khách bộ hành thoải mái băng qua đường rất là vô tư, bất chấp những tiếng còi bóp inh ỏi, làm như họ đã thuộc nằm lòng cái luật giao thông ở đây: "Xe có bổn phận tránh người, chứ người không việc gì phải tìm cách né xe". Cảnh tượng hi hữu hầu như độc nhất vô nhị ấy đã khiến một vài du khách vội lôi smartphone ra thu hình, chắc là để lưu niệm.
Tuy nhiên bên cạnh cảnh tượng thân thương mang dấu ấn cây nhà lá vườn ấy, không thể phủ nhận là Việt Nam nay đã có khuôn mặt của một đất nước trên đà phát triển và hiện đại hóa. Đường phố khá sạch sẽ, không đến nỗi bụi bậm và ô nhiễm như tôi tưởng. Nơi tôi tạm nghỉ là một khách sạn ngay bên hông chợ Bến Thành. Nơi đây nay đã trở thành khu "Tây ba lô" mới nên tôi thường gặp đủ loại du khách nước ngoài. Còn khu Bùi Viện hay "Tây ba lô" cũ giờ hầu như đã trở thành một thứ chợ "Sex", nhất là về đêm, dành cho khách lạ bốn phương muốn biết mùi vị hương xa của lạ Việt Nam, tương tự xóm Pigalle của Paris trước đây. Còn lại, những nơi khác trong thành phố tôi đặt chân tới, đều là những cửa hàng trưng bày khá mỹ thuật, bằng không hầu hết đều là nhà hàng, quán nhậu, quán cà phê, hay quán nhạc karaoké. Về phần khu " Tây ba lô " mới nơi tôi tạm trú, khách sạn và chi cuộc du lịch mọc lên nhan nhản. Một vài nơi tôi ghé lại tham khảo đều được nhân viên tiếp đón nhã nhặn, hướng dẫn tận tình. Vào thăm Chợ Bến Thành, tôi nhận thấy các quày hàng bày biện tươm tất ; đặc biệt là khu dành cho trái cây, ở bên trong cũng như bên ngoài chợ, các loại trái cây được sắp xếp ngay hàng thẳng lối, thứ nào ra thứ nấy nom rất mỹ thuật bắt mắt. Giá cả tương đối ổn định, không quá nói thách bắt khách mua hàng phải mất công trả giá như trước đây. Cũng tại những nơi này tôi ít gặp hành khất và cũng chưa là nạn nhân của một vụ trộm cắp hay cướp giật như lần đầu về, khi Việt Nam mới bước sang giai đoạn mở cửa. Điều này không có nghĩa là các tệ nạn này không có ở Việt Nam. Nạn móc túi hay cướp giật ở đâu mà chẳng có. Ngay tại Paris, kinh đô của ánh sáng, cũng xảy ra vô số những vụ cướp giật, móc túi, đặc biệt là các hầm métro, các nơi tập trung du khách như Tháp Eiffel, đại lộ Champs Elysée khiến giới hữu trách phải có lời cảnh báo du khách nên thận trọng mỗi khi lai vãng các khu vực này. Tuy nhiên, tôi có cảm giác là tệ nạn xã hội kể trên, ít ra theo cảm nhận của riêng tôi, tại Việt Nam có phần đã giảm đi nhiều. Tôi cho rằng tình trạng cải thiện này là do người dân đã ý thức được rằng mọi phong cách sử xự lịch thiệp, đúng đắn với du khách là để phục vụ cho quyền lợi của chính họ. Càng giở trò chặt chém, lường gạt bao nhiêu, họ càng làm cạn đi nguồn tài nguyên ngoại nhập bấy nhiêu. Tóm lại, về mặt phát triển và hiện đại hóa, Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Mức sống người dân trong nước, nói chung, cho thấy có dấu hiệu được nâng cao và cải thiện. Tuy nhiên, niềm lạc quan phấn khởi của tôi trước một hình ảnh tốt đẹp ấy về Việt Nam đã giảm dần để trở thành phần nào quan ngại khi đi sâu vào tìm hiểu về đời sống tinh thần và tâm linh của xã hội Việt.
Cũng như bao người Việt khác sống xa quê hương, và dù nay được mang nhãn hiệu Việt Kiều, tôi không vì thế mà để mất căn cước tính Việt Nam (identité vietnamienne) của mình. Trái lại là đằng khác. Càng sống xa quê hương bao nhiêu, tôi càng luyến nhớ những hình ảnh thân quen của thời thơ ấu cũ : lũy tre xanh đùm bọc thôn xã, cây đa với mái chùa cổ đầu làng, con trâu hiền lành nhai cỏ bên bác nông phu mơ màng say khói thuốc, quán tranh nghèo với cô hàng môi đỏ màu trầu đon đả mời chào khách qua sông... Đó là những hình ảnh tiêu biểu cho một nếp sống bình dị mộc mạc của một đất nước còn chưa phát triển, nhưng không hề lạc hậu vì vẫn duy trì được một truyền thống văn hóa cao đẹp. Tiếc thay những hình ảnh đẹp đẽ đó, cũng như truyền thống văn hóa cao đẹp đó đang ngày thêm xóa mờ. Nay ai có trở về thăm Việt Nam, chắc khó tìm ra được một lũy tre xanh tại những vùng quanh các đô thị lớn. Ngay cả ngôi chùa cổ với vị sư già hiền từ trong tấm áo nâu sòng bạc màu cũng khó lòng tìm lại. Thay vào đó là những đền đài sơn son thiếp vàng với những bậc " cẳng tu " (xin được dùng chữ nôm thay hai chữ " chân tu " lai Hán), ăn mặc lòe loẹt như diễn viên phường chèo, mỗi tuần chay lại tổ chức đại nhạc hội " karaoké " lên bục cầm micro hát " Ai cho tôi tình yêu " gọi là để làm công tác xã hội gây chùa. Không chỉ có vậy, các bậc " cẳng tu " ấy còn dụng ý biến các ngôi chùa hoành tráng mới dựng lên thành một môi trường kinh doanh. Lợi dụng lòng tín ngưỡng của khách thập phương, họ đã làm sống lại những hủ tục dị đoan đã một thời bị xóa bỏ như tục đốt vàng mã, lễ cầu siêu, lễ cầu an, lễ giải hạn v.v...(Coi bài của Trần Văn trên Đài VOA ngày 13-2-2019). Lẽ dĩ nhiên những buổi lễ cúng kiến linh đình ấy chỉ dành cho những thành phần có máu mặt, nhiều tiền của. Càng bỏ tiền cúng dường để phô trương sự giàu sang, quyền thế của mình bao nhiêu, họ càng được trọng đãi bấy nhiêu. Còn đám dân nghèo làm ăn chân chỉnh, đến chùa vào những dịp lễ hay ngày rằm, để mong được sống với niềm tin tôn giáo, khó mà mon men tới được các chốn ấy, nếu không muốn nói là bị gạt ra bên lề. Về mặt tâm linh tín ngưỡng còn bị sa đọa như vậy, thế còn đời sống tinh thần đặc biệt về  mặt sinh hoạt văn học, nghệ thuật thì sao ? Càng đào sâu tìm hiểu, tôi càng có cảm giác trong nỗ lực đổi mới để phát triển và tiến bộ, Việt Nam hay đúng ra là một giai tầng xã hội, đang đua đòi chạy theo nếp sống xa hoa của xã hội tiêu thụ để bị đồng hóa, thậm chí đôi khi còn là tha hóa hơn là hội nhập một thế giới thực sự văn minh tiến bộ.
Hội nhập là khi ta biết thủ đắc cái hay cái đẹp, cái tinh hoa nơi người, biết cách tiêu hóa những thứ đó làm cho cái tinh hoa nơi ta được phát huy, ngày một thêm phong phú, nhưng không vì thế mà làm mất đi cái bản ngã của ta. Trong truyền thống sinh hoạt văn hóa, nhân dân ta đã hai lần chứng tỏ có một khả năng hội nhập cao. Thời kỳ đầu là " một ngàn năm đô hộ giặc Tàu ", tức là thời kỳ chịu nhiều ảnh hưởng Hán học. Thời kỳ này, chữ Nho được trọng dụng, nhưng không vì thế tiếng Việt bị lơ là để ngày thêm mai một. Trái lại là đằng khác. Dù chịu ảnh hưởng nhiều của Hán học, nhân dân ta đã khôn ngoan mượn một số từ ngữ Hán kết hợp với một số từ thuần Việt để làm giàu ngôn ngữ, giúp ta tăng cường khả năng chuyển đạt, diễn ý. Để chứng minh, tưởng chỉ cần nhắc đến Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du là đủ. Tuy phỏng theo một truyện cổ Trung Hoa và dựa trên nhiều điển tích Trung Hoa, nhưng tác phẩm lại được diễn tả với tâm hồn Việt Nam dựa trên thể lục bát dân gian cùng với hình ảnh và âm thanh luyến láy gợi cảm. Phải chăng vì vậy mà bất cứ bà mẹ quê nào cũng biết à ới ngân nga dăm ba câu thơ Kiều trong lúc đong đưa chiếc võng ru con ngủ. Và phải chăng cũng vì bản chất tâm hồn Việt Nam ấy nên Truyện Kiều mới được xếp vào hàng di sản văn hóa quốc gia.
Nhưng để trình bày cho cụ thể, đề nghi chúng ta hãy khảo sát bốn câu thơ dưới đây mở đầu cho bài " Chiều hôm nhớ nhà " của Bà Huyện Thanh Quan nói lên nỗi nhớ nhà của một khách tha hương  :
Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn
Tiếng ốc xa đưa, vẳng trống đồn
Gác mái ngư ông về viễn phố
Gõ sừng mục tử lại cô thôn...
Ngay câu mở đầu, chữ chiều đặt trước chữ trời, tôi cho là có dụng ý hẳn hoi. Ở vị thế đảo ngữ này, chữ chiều hẳn muốn nhắc nhở ta rằng chính khoảnh khắc thời gian (vào lúc chiều tàn) mới là tác nhân làm sống dậy nỗi buồn nhớ nhà nơi tác giả; chứ không phải khung cảnh trời đất của buổi chiều. Tiếp đến, hai chữ bảng lảng gợi cho ta một khung cảnh ánh sáng chập chờn huyền ảo khiến buổi chiều hôm càng khơi dậy nỗi buồn nhung nhớ. Vậy mà về sau, mỗi lần nhắc tới bài thơ, tôi đã vô tình đổi câu thơ thành : Trời chiều thoi thóp ánh hoàng hôn, và rồi quen thói, đinh ninh đó chính là câu thơ của tác giả. Sở dĩ tôi không hề mảy may thắc mắc vì thoi thóp ánh nghe mới hợp tai, hợp nhãn, hợp khẩu vị. Hợp khẩu vị, vì thoi thóp ánh là một hình tượng so sánh đẹp, rất đẹp nên được các tao nhân mặc khách thích vay mượn (cũng như một sô bình luân gia chính trị thích quanh quẩn với một số từ ngữ luận điệu cố hữu). Riết trở thành thói quen, khiến hình tượng mỗi lúc một trở thành sáo mòn ước lệ, để cuối cùng chỉ đem đến cho ta một thứ cảm xạ công thức. Bị sửa đổi như vậy, câu thơ của Bà Huyên Thanh Quan sẽ bị tước đoạt thi tính rất nhiều. Hình tượng thoi thóp ánh đẹp thì có đẹp, đậm nét có đậm nét, nhưng là kết quả của một hoạt động tư duy để mô tả bằng so sánh. Trái lại chỉ có bảng lảng bóng mới nói lên sự tiếp nhận trực tiếp của thị giác, mới gợi cho ta cái ấn tượng ánh sánh chập chờn lẩn khuất vào lúc hoàng hôn chạng vạng. Chính cái cảm giác hãy còn nhập nhòa thiên về gợi cảm hơn là mô tả, cái ấn tượng hãy còn lung linh mờ ảo mà ở đó " cái Mơ hồ được hòa nhập với cái Chính xác " (Où l'Indécis au Précis se joint) mới truyền đạt cho ta chất thơ, theo L'Art poétique của Verlaine. Nhưng cảnh chiều hôm không chỉ được họa bằng ánh sánh và màu sắc. Bức tranh toàn cảnh huyền ảo đó còn được bổ túc bằng thanh âm trong câu hai : Tiếng ốc xa đưa, vẳng trống đồn. Bình thường tiếng ốc (tù và), tiếng trống đều là những âm thanh chát chúa mỗi lần nổi lên. Nhưng nhờ vào các động từ xa đưa, vẳng chúng chỉ còn là những vang vọng xa xôi khiến ta liên tưởng tới một không gian mênh mông trống trải như muốn làm tăng thêm cảm giác cô đơn nơi lữ khách.

Từ toàn cảnh thời gian, không gian trải rộng, ống kính sáp lại gần hơn trong câu ba và bốn để đưa ta trở về với cái không khí an lạc hài hòa của đời sống thôn dã. Gác mái (c.3), gõ sừng (c.4) là những nhóm từ chỉ động tác ; nhưng phần năm chữ còn lại của mỗi câu thơ lại gợi cho ta dáng đi thư thái an nhàn của ông lão đánh cá, cũng như hành động hồn nhiên của đứa bé chăn trâu. Thêm vào đó, cách phân bố cân xứng hài hòa từ lời, từ âm tới mạch điệu (2/5) cũng như hình ảnh, đã tạo cho bức tranh vẻ đẹp của của một cuộc sống an lạc hài hòa thôn dã khiến ta nao nao muốn được, như Proust, làm cuộc hành trình" đi tìm thời gian đã mất " (A la recherche du temps perdu).
Bốn câu thơ trên đây, như chúng ta đều biết, là khổ đầu của bài thơ tuyệt tác theo thể thất ngôn bát cú Đường Thi. Đây là một thể thơ Trung Hoa kinh điển với niêm luật khắt khe, chỉ những bậc thi nhân tài hoa mới làm ra những bài thơ để đời. Sự thành công của bài Chiều hôm nhớ nhà cũng không thoát khỏi qui luật này. Xin được dẫn chứng bằng hai câu thơ dưới đây :
(3) Gác mái,/ ngư ông về viễn phố
(4) Gõ sừng,/ mục tử lại cô thôn)
Có thể nói đây là hai câu thơ thuộc loại tuyệt tác nhất của Bà Huyện Thanh Quan. Tuyệt tác, trước hết bởi vì nó đáp ứng được các đòi hỏi khắt khe của niêm luật cổ thi về mặt đối xứng : nhịp đối nhịp (2/5) ; động tác đối động tác (Gác mái / gõ sừng), từ ngữ đối từ ngữ (ngư ông/ mục tử), hình tượng đối hình tượng (về viễn phố/lại cô thôn)... Tiếp đến là thành tựu của bài thơ về mặt niêm luật cổ thi như vậy không chỉ dành cho các cụ đồ sinh nho vừa ngâm nga vừa nhấp ngụm trà thưởng thức. Nó còn được lưu truyền và phổ biến rộng rãi trong dân gian do bài thơ là bức họa một khung cảnh thôn dã đậm đà bản sắc dân tộc với dáng đi thư thái an nhàn của ông lão đánh cá cũng như động tác hồn nhiên vô tư của đứa bé chăn trâu. Hình ảnh gợi lên quá bình dân gần gũi dến độ các từ ngữ Hán ngày một trở nên quen thuộc để cuối cùng được sử dụng như một thành phần ngôn ngữ Việt (viễn du, viễn khách, viễn xứ, viễn chinh...). Ta có thể nói bài thơ trên đây là thành tựu của sự hội nhập một nền văn hóa cao, nhưng không để bị đồng hóa. Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu đã vậy. Thế còn một trăm năm nô lệ giặc Tây thì sao ?
Dù người Pháp đặt chân tới Việt Nam là nhằm mục đích xâm lược, nhưng nhân dân ta đã không bỏ lỡ cơ hội được tiếp xúc với nền văn hóa Tây phương để gia tăng nhận thức và mở rộng cảm quan thưởng ngoạn của mình. Khỏi cần nhắc tới Tự Lực Văn Đoàn, hẳn ai cũng biết cả rồi. Tôi chỉ xin trích dẫn vài câu thơ dưới đây trong bài Hổ nhớ rừng của Thế Lữ để có cơ sở kiểm chứng :
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi uống ánh trăng tan?...
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
Cũng là bài thơ nói lên nỗi niềm tiếc nhớ, nhưng bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan gợi lên cho ta một bức tranh êm đẹp hài hòa bao nhiêu, thi mấy câu thơ của Thế Lữ lại bày ra trước mắt ta một cảnh tượng man rợ, hung bạo bấy nhiêu. Không chỉ bằng từ ngữ (lênh láng máu sau rừng), mà còn bằng âm sắc và mạch điệu nữa. Thí dụ như câu: Ta đợi chết/ mảnh mặt tròi gay gắt. Câu thơ tám chữ, thì năm chữ lại thuộc âm trắc (đợi, chết, mảnh, mặt, gắt); hơn thế hai chữ chết và gắt lại được đặt ở vị trí nghỉ hay ngắt nhịp. Cách bố trí mạch điệu này càng làm dấy nơi ta cái cảm giác hung bạo mang bản chất dã thú man rợ.
Hai bài thơ trên đây được sáng tác vào hai thời kỳ khác nhau với hai kỹ thuật diễn tả khác nhau cho thấy chịu ảnh hưởng hai nền văn hóa khác nhau. Nhưng cả hai đều là những bài thơ tuyệt tác. Điều này chứng tỏ nhân dân ta là một dân tộc có nội lực và khả năng hội nhập cao. Nhưng không chỉ riêng có lãnh vực văn chương chữ nghĩa; mà còn cả một số lãnh vực văn hóa, nghệ thuật khác. Xin được bước qua lãnh vực âm nhạc để dẫn chứng. Do sự có mặt của người Pháp, cũng như văn thơ, âm nhạc Việt Nam như được thổi một luồng gió mới đem lại một sinh khí mới với các bản nhạc như Thuyền mơ, Áng mây chiều của Dương Thiệu Tước, hoặc Con thuyền không bến, Đêm thu của Đặng Thế Phong... Toàn là những tiết tấu giai điệu mới mang âm hưởng nhạc thính phòng Tây phương. Bất kỳ ai, khi nghe vọng lên các giai điệu ấy không thể không cảm thây tâm hồn rung động cho được. Đặc biệt là bản Đêm thu của Đặng Thế Phong. Mở đầu là nhịp Slow rồi đến nhịp Valse, toàn là những giai điệu hoàn toàn tây phương. Nhưng với kỹ thuật điêu luyện tiếp thu và bằng rung cảm tâm hồn dận tộc, bản nhạc đã có sức mạnh truyền cảm và gợi cảm không thua gì bản Sonate au clair de lune của Beethoven. Chỉ cần nghe những nốt nhạc vọng lên cũng đủ khiến tôi hình dung ra cảnh tượng một đêm thu, mặt trăng êm ả từ chân trời hiện lên soi sáng cả khu vườn. Tiếp đến là điệu valse nhịp nhàng rộn rã làm tôi liên tưởng cảnh trăng lên tới đỉnh cao ánh sáng rực rỡ, cùng lúc gió bắt đầu trổi lên khiến hoa, lá lao xao lay động như muốn nhảy múa chào mừng ánh trăng. Nhưng có lẽ cũng nên kể thêm một bản nhạc khác hầu như nay đã chìm trong quên lãng, mang tựa đề Ngày xưa của Nguyễn Văn Quý hay Nguyễn Văn Quỳ tôi không nhớ lắm, nhưng vẫn còn nhớ lời mây câu mở đầu như sau : " Giòng sông Hát ánh trăng mờ chiếu. êm đềm trôi về đến nơi nao. Sóng đưa lăn tăn con thuyền xa bến....". Cũng với một giai điệu khiêu vũ tây phương, nhưng bằng một âm điệu nhịp nhàng êm dịu, tác giả đã diễn tả nỗi buồn sâu lắng của mình bên giòng sông Hát khi tưởng nhớ tới hai chị em Bà Trưng đã anh dũng đứng dậy chống quân Bắc xâm lược để trả thù nhà, rồi chọn cái chết để đền nợ nước và bảo vệ thanh danh, tiết hạnh.
Một vài dẫn chứng trên tưởng cũng đủ cho thấy nhân dân ta là một dân tộc bản lãnh và dồi dào khả năng hội nhập. Bản lãnh ở chỗ nhân dân ta, dù phải sống dưới nhiều ách thống trị của ngoại nhân vẫn không quản ngại khó khăn đương đầu đê giành lại chủ quyền cho đất nước. Dồi dào khả năng hội nhập là vì nhân dân ta không bỏ lợi cơ hội được tiếp xúc với các nền văn minh mới, văn hóa mới đã chịu khó học hỏi trau giồi kiến thức, để nâng cao khiếu thẩm mỹ (sens esthétique) và mở rộng cảm quan thưởng ngoạn (jouissance esthétique) ; nhưng không vì thế mà để cho bị đồng hóa. Thế còn Việt Nam ngày nay, với nhiều điều kiện giao tiếp thuận lợi hơn với thế giới bên ngoài, có thực hiện thêm được tiến bộ hội nhập đáng kể nào chăng, hay là chỉ biết chạy theo đua đòi để trở thành bị đồng hóa?
Bị đồng hóa là khi thấy bất kỳ cái gì mới lạ ta đều cho là hay, là đẹp và, do mặc cảm thua kém, ta nhắm mắt đua đòi chạy theo mà không tự vấn những cái mà ta cho là hay là đẹp đó có có cần chế biến cho phù hợp với lục phủ ngũ tạng truyền thống văn hóa của ta hay không. Hay là sự đua đòi bắt chước máy móc mù quáng ấy chỉ đem lại hậu quả là để cho những cái mới lạ đó lần lần lấn át, làm biến đổi cái phẩm chất, cái tinh hoa nơi ta. Đó là hiện tượng đã xảy ra, ngày một thêm phổ biến tại Việt Nam. Trớ trêu thay, hiện tượng này được nhận thấy không phải nơi thành phần đại chúng, mà là thuộc giới trưởng giả, thượng lưu, tựu trung là những thành phần thuộc về thương tầng kiến trúc, theo nghĩa kinh điển của học thuyết mác xít.
Thoạt nghe, nhận định trên có vẻ là một nghịch lý. Bởi vì, ngay dưới hai thời kỳ bị chiếm đóng lâu dài, nhân dân ta đã chẳng chứng tỏ được khả năng hội nhập cao đó sao? Vậy mà ngày nay đất nước chẳng những đã thống nhất, giành được chủ quyền rồi, lại thêm kỹ thuật truyền thông tiên tiến hiện đại, nhân dân ta được tiếp xúc dễ dàng với đủ nền văn minh, văn hóa trên thế giới. Với những điều kiện học hỏi thuận lợi như vậy, nhân dân ta phải càng có thêm cơ hội để hội nhập thế giới văn minh tiến bộ chứ. Tại sao lại nói là có hiện tượng văn hóa suy thoái để trở thành nguy cơ bị đồng hóa?
Muốn có câu trả lời thỏa đáng, có lẽ ta cần trở về với nền tảng giá trị tinh thần và cơ cấu xây dựng tòa nhà Việt Nam. Dân tộc ta có truyền thống tôn trọng phẩm cách con người và lấy phần đóng góp cho lợi ích chung làm tiêu chuẩn đánh giá, nên đã phân định xã hội ra làm bốn thành phần :sĩ, nông, công, thương theo thứ tự từ cao xuống thấp như sau: nhất sĩ, nhì nông, tam công, tứ phú.
- Nhất sĩ: sĩ đây là sĩ phu, sĩ tử, là những người có trình độ học vấn cao, hiểu biết nhiều, dù đỗ đạt được bổ nhiệm làm quan, hay chỉ là ông đồ nho sống ẩn dật lấy văn thơ cùng việc dạy dỗ con trẻ làm niềm vui thú. Nhưng cả hai giới này đều có chung một điểm là lấy hai chữ liêm khiết, chính trực làm phương châm sử thế, nên hết lòng đem vốn kiến thức của mình để khai hóa đất nước, nâng cao trình độ nhận thức cho toàn dân. Bởi vậy họ mới đươc tôn lên hàng thượng lưu xã hội,
- Nhì nông: nhà nông, dưới con mắt người đời, thường bị coi là quê mùa cục mịch, không biết dùng lời hoa mỹ nên bị liệt vào hạng cùng đinh xã hội. Không lấy làm buồn, người nông dân vẫn chăm lo công việc đồng áng, và dành những lúc được nghỉ ngơi để tâm tình bàu bạn với con trâu bằng những lời lẽ chân quê mộc mạc, vậy mà nay đọc lại, tôi thấy sao đậm đà chất thơ:
Trâu ơi, ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta
Cày cấy vốn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy ai mà quản công
Bao giờ lúa chín đầy đồng
Ta ra ngoài ruộng lấy rạ trâu ăn.
(Theo Quốc văn giáo khoa thư)
Mải chăm lo công việc đồng áng và chỉ biết tâm tình thủ thỉ với con trâu, bác nông phu đâu có ngờ rằng xã hội truyền thống của ta lại xếp bác vào bậc hai, chỉ sau giới thượng lưu trí thức. Lý do cũng dễ hiểu thôi, nước ta vốn là một nước nông nghiệp, mà bác nông dân lại là thành phàn có công đóng góp lớn nhất vào việc cung cấp lương thực cho cả nước. Sự quí trọng vai trò xã hội của người nông dân còn được biểu lộ qua câu hát vần vè trong dân gian như sau
Nhất sĩ nhì nông,
Hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ.
- Tam công: côngđây là thợ thủ công nghệ, những người làm việc bằng tay chân, nhưng không thuộc thành phần nông dân, như thợ mộc, thợ nề, thợ chăn tầm dệt vải, thợ vẽ, thợ điêu khắc v.v... Thành phần này được xếp vào hạng ba trong bậc thang xã hội bởi vì việc làm của họ không chỉ hữu ích cho xã hội, mà còn đóng góp phần nào cho bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc qua các công trình xây cất đền đài, những bản điêu khắc chạm trổ, những tấm tơ lụa, những bức tranh Đông Hồ...
- Tứ phú: phú đây là phú thương, phú hộ, tức là thành phần xã hội làm giàu chỉ nhờ vào buôn bán, hoặc là những tay điền chủ, đại điền chủ sống nhàn hạ trên lưng các nông dân nghèo khó phải làm thuê cấy mướn cho họ. Tuy là thành phần có tiền có của được ăn trên ngồi trốc thiên hạ, những họ bị liệt xuống hạng cùng bậc thang xã hội, bởi vì sự giàu sang của họ không giúp ích được gì cho xã hội, nếu không muốn nói tiền của đó đôi khi chỉ là thành quả của mánh lới làm ăn lươn lẹo hay bóc lột sức lao động người khác.
Sự đánh giá và phân định các thành phần xã hội theo bậc thang thứ tự trên cho thấy trong những giai đoạn lịch sử trước đây, xã hội ta là một xã hội nhân bản, chú trọng tới phẩm cách con người. Nhân dân ta không coi trọng quyền lực, danh vọng hay của cải, mà chỉ coi trọng những bậc sĩ phu quân tử, bất kỳ thuộc giai tầng xã hội nào, biết lấy câu "trọng nghĩa khinh tài" và câu "tiên học lễ, hậu học văn" làm đạo đức sống, đồng thời làm tiêu chuẩn đánh giá con người. Phải chăng đặc tính nhân bản này đã giúp nhân dân ta có một sức đề kháng (anti corps) cao, giúp đất nước ta chống trả lại được mọi mưu toan xâm lược, thống trị bất kỳ dưới hình thức nào, dù bằng vũ lực hay văn hóa. Và phải chăng đó cũng là lý do khiến nhân dân ta đă có khả năng hội nhập cao, bởi vì thành phần được coi thuộc về thượng lưu xã hội luôn luôn tìm cách học hỏi để mở rộng kiến, nâng cao trình độ văn hóa của mình để đóng góp hữu ích cho xã hội. Trường hợp mấy câu thơ trong bài "Chiều hôm nhớ nhà" của Bà Huyện Thanh Quan, hoặc trong bài "Hổ nhớ rừng" của Thế Lữ qua hai giai đoạn lịch sử nêu trên, cho thấy sức mạnh đề kháng của nhân dân ta như thế nào, trong khi vẫn nỗ lực bắt kịp trào lưu tiến hóa về mặt đời sống văn hóa và tinh thần. Trong những hoàn cảnh đất nước gặp khó khăn như vậy, nhân dân ta không chỉ biết bảo tồn mà còn phát huy được bản sắc dân tộc để vươn lên theo kịp đà tiến hóa nhân loại. Vậy mà với những điều kiện thuận lợi hiện nay, sao lại nói nhân dân ta có nguy cơ bị đồng hóa? Câu hỏi trên thực ra không có gì là nghịch lý cả, nếu ta chịu bỏ công tìm hiểu về các điều kiện hoàn cảnh và thời điểm luồng gió mới được thổi vào, thực chất nó ra sao và do ai đem tới? 

Chú thích:
(4) Từ ấn tượng ở đây không theo nghĩa được dùng phổ biến hiện nay ở Việt Nam, Trái lại, xin hiểu theo nghĩa từ impression lần đâu tiên nhà phê bình Leroy dùng để nói lên cảm nhận của ông trước bức họa "Soleil levant" của danh họa Claude Monet, một trong những nhà khai sáng ra trường phái hội họa ấn tượng (L'Impressionimsme). Leroy dùng từ này để nói lên cái cảm giác bị choáng ngợp trước cảnh tượng bình minh hào quang rực rỡ. Đây chỉ là cảm nhận trong khoảnh khắc, tức thời theo thị giác; chứ không phải là hình ảnh của hiện thực theo nhận định của trí tuệ. Bởi vậy từ ấn tượng không phải lúc nào cũng là một lời ca tụng, khen ngợi; trái lại đôi khi còn là một ngụ ý châm biếm, riễu cợt. Thí dụ như trong câu nói sau "Trên sân khấu, nữ diễn viên danh tiếng một thời ấy, vẫn làm khán giả phải choáng ngợp trước vẻ đẹp ấn tượng của cô ta; nhưng nếu tình cờ được thấy cổ khi vừa thức giấc, chắc ta không khỏi giật mình". Xin mời đọc thêm bài " Trường phái ấn tượng hay là ngôn ngữ hội họa sáng tạo" của người viết đã được phổ biến trên một số diễn đàn mạng.
3. Về thời điểm, ta có thể nói là đó khoảng thời gian những năm đầu của thập niên 80 thế kỷ trước, khi nhà nước Việt Nam bắt đầu cho thi hành chính sách mở cửa đón nhận người nước ngoài vào thăm bất kỳ từ đâu tới, không kể quốc tịch nào. Về phần cộng đồng người Việt hải ngoại, lúc đầu phần nào còn dặt dè, e ngại. Chỉ riêng một số ông bà già cả, phần không thích nghi được với nếp sống văn minh máy móc nơi xứ người, phần lâu ngày sống xa quê hương nhớ con nhớ cháu, bà con lối xóm cùng với tập tục lề xưa thói cũ quê nhà, nên tỏ ý muốn vể thăm. Các con cháu, thông cảm tình cảnh các cụ tối ngày tha thẩn trong căn phòng vắng vẻ, nên sẵn lòng bỏ tiền mua vé máy bay để làm vui lòng các cụ. Một số còn có ý mượn dịp để nhờ các cụ thăm dò tình hình đường đi nước bước ra sao. Thế là các cụ hân hoan xen lẫn hồi hộp trở về. Các cụ trở về đúng lúc người dân trong nước vùa được ra khỏi chế độ bế quan tỏa cảng với những điều kiện sống khắc khổ do chính sách thắt lưng buộc bụng của nhà nước. Bởi vậy các cụ đều được người thân ruột thịt, bà con họ hàng hân hoan niềm nở tiếp đón. Hân hoan niềm nở bởi vì họ như kẻ đang phải sống bít bùng được ra ngoài nhìn trời xanh chan hòa ánh sáng. Cái gì được nghe kể lại với họ đều là hay là đẹp, là mới lạ. Và một vài món quà người thân đem vê, dù chỉ là những món hàng tầm thường nơi xứ người, với họ đều được coi là những món quà ngon lành đắt giá. Bởi vậy họ đã đón nhận mấy món quà từ tay người thân trao lại bằng bộc lộ một niềm hân hoan nồng nhiệt, chẳng khác chi cái vui mừng hớn hở của mấy đúa bé quê nghèo khi xưa được mẹ đi chợ xa về giúi vào tay miếng bánh đa hay viên kẹo bột. Viết ra những hàng chữ trên đây, tôi không hề có ý súc phạm hay coi thường người dân trong nước vào thời điểm đó. Những ai đã từng phải trải qua một thời gian sống trong các trại giam cải tạo (5) may ra mới biết cảm thông với thái độ tiếp đón nồng hậu trang trọng ấy, Riêng về phần tôi, làm sao quên được cái bữa đó... Cái bữa mùa thăm nuôi được mở màn...
Sau một ngày lao động cực nhọc, vừa buông tay cuốc đã thấy thằng bạn khác đội được thăm nuôi trước, mặt tươi rói tới ghé tai nói nhỏ : " Bữa nay tụi tao mở "  bum " (boum) nhớ qua chơi nghe mầy." Thế là bao nhiêu cực nhọc trong ngày hầu như tan biến. Tối về sau khi tắm rửa sạch sẽ, tôi mới lên khung bộ đồ vía nghĩa là chỉ có vài ba miếng vá chưa đến nỗi tả tơi như mấy bộ để đi lao động, hồ hởi tiến về phía lán thằng bạn. Mới tới gần cửa lán, chỉ nội được " nghe" cái mùi cà phê thứ thiệt tỏa thơm phưng phức cũng đủ làm tôi đê mê ngây ngất, chẳng khác chi lúc kẻ phàm tục được hít hà mùi thơm trinh nữ toát ra từ tấm thân ngà ngọc của một nàng tiên xuống trần. Thể rồi khi được tợp ngụm cà phê đầu tiên... Mẹ kiếp! Không biết mấy thằng cha tân đại gia thừa tiền dư của huênh hoang đã nếm đủ mọi thứ sơn hào hải vị, có được những bữa ăn ngon miệng ra sao; chứ tôi í à, chỉ những dịp hiếm hoi trong đời được tợp ngụm cà phê như thế, tôi mới biết thế nào là cái được người đời ca tụng như một trong bốn thứ cực lạc trần gian do khoái khẩu đem lại. Cực lạc không chỉ nhờ cái hương vị cà phê thứ thiệt (chứ không phải thứ cà phê bằng hạt bắp rang cháy tụi tôi tự biên chế để đánh lừa khẩu vị), mà còn thêm cái chất đậm đà của tình bằng hữu, tình huynh đệ chi binh " miếng khi đói, gói khi no" cùng nhau chia xẻ ngọt bùi những lúc đói khổ, trong những cơn gian nan hoạn nạn. Vâng, chỉ những ai đã từng trải qua cảnh sống như tôi, mới hiểu được thái độ tiếp đón nồng hậu người dân trong nước ở thời điểm đó, dành cho thân nhân từ nước ngoài trở về. Cũng như thái độ hân hoan trang trọng biểu lộ khi họ đón nhận một vài món quà từ tay bà con họ hàng. Hân hoan trang trọng, không chỉ vì món quà với họ là đắt giá, mà còn là biểu tượng cho tình cảm gia đình thắm thiết vì nghĩ rằng người thân được sống sung sướng đầy đủ nơi xứ người vẫn không quên họ.
Cảm kích trước sự tiếp đón nồng hậu của bà con trong nước, mấy ông già bà cả trở về, mới kể lại cho con cháu nghe. An tâm và biết sẽ không bị làm khó dễ, thế là người Việt ở hải ngoại mới lục tục rủ nhau về. Trước còn lẻ tẻ, sau càng nhiều, Mỗi lúc thêm đông. Trước còn thưa thớt, sau lũ lượt hết đợt này đến đợt khác. Mỗi lượt đi về, người đi trước lại kể cho người đi sau những thành tích thâu hoạch của mình. Mà thường là với một vài chi tiết thêm mắm thêm muối, vẽ rắn thêm chân. Bởi vi ai chẳng muốn câu chuyện mình kể phải đặc biệt, phải ly kỳ hấp dẫn hơn mới gây ấn tượng được cho người nghe. Quí vị nào không tin tôi, cứ chịu khó sưu tầm con số Fakenews đang được phát tán vô tội vạ trên mạng, kể cả tại các nước tự do dân chủ nhất thì biết. Thôi thì đủ loại... Tin phóng đại, tin bóp méo, tin xuyên tạc làm như thật nhờ vào kỹ thuật photoshop ghép hình, ghép ảnh khiến người ta ngày càng bị lôi kéo vào một thế giới hư hư ảo ảo như trong những chuyện kể phong thần ấy. Ai đâu dám cấm cản, mình tự do dân chủ mà! Hậu quả của hành động xử dụng quyền tự do dân chủ ấy đã khiến cái mối liên hệ tình cảm thấm đậm tình người, tình ruột thịt, tình yêu quê hương bị mất dần cái phẩm chất tốt đẹp của cái thuở ban đầu lưu luyến ấy. Để rồi các món quà đem về dần dà trở thành món hàng mua bán đổi trác như một thứ trái sầu rụng rơi, thậm chí có khi còn là loại trái cây ung thối độc hại. Điều này có đúng vậy chăng? Chẳng lẽ cái luồng gió mới thồi vào Việt Nam thời kỳ mở cửa ấy, đến từ một quốc gia cường thịnh hàng đầu thế giới là nước Mỹ lại có thể gây độc hại được sao? Câu hỏi này xét ra cũng chẳng lấy gì làm cắc cớ, nếu ta chịu khó bỏ công tìm hiểu làn gió được từ Mỹ thổi vào thuộc loại gió nào và do ai đem tới.
Về câu hỏi đầu, ta có thể nói ngay rằng luồng gió mới từ Mỹ thổi vào thực ra có thể là một luồng sinh khí tạo cơ hội cho Việt Nam được học hỏi để tiến bộ và phát triển, nếu đó vẫn là luồng gió nguyên thủy mang dấu ấn tinh thần mạo và khai hóa của đám di dân sáng lập ra nước Mỹ. Đó là những đám người, sau khi Christophe Colomb khám phá ra Mỹ châu khoảng cuối thế kỷ 15 hay đầu thê kỷ 16, đã hàng loạt từ nhiều nước Âu châu tìm đến Mỹ châu để làm lại cuộc đời. Những đám di dân này thuộc đủ thành phần quốc tịch, hoặc bị quyến rũ bởi những câu chuyện huyền hoặc về một tân thế giới, hoặc là nạn nhân của kỳ thị tôn giáo sau các cuộc xung đột tín ngưỡng giữa Tin Lành và Công giáo. Nhưng dù động cơ là gì, đám di dân này đều có chung một mẫu số, đó là óc phiêu lưu mạo hiểm với tinh thần chinh phục của nhà tiên phong khai phá (esprit de conquête et aventurier du pionnier). Họ không ngại đương đầu với mọi gian nan thử thách để xây dựng cho mình một sự nghiệp mới. Vượt qua cả một trùng dương sóng gió mới chỉ là bước đầu. Đặt được chân trên lục địa Mỹ hầu như với bàn tay trắng, họ còn phải phấn đấu vượt qua không biết bao trở lực hiểm nghèo khác. Nào là sự chống đối quyết liệt của các sắc dân thổ địa, nào là địa thế núi non hiểm trở, điều kiện khí hậu khắc nghiệt của những vùng núi tuyết giá băng hay sa mạc cháy bỏng.' Đó là không kể còn những băng đảng gian ác tấn công tìm cách chiếm đoạt cơ ngơi họ xây dựng được. Tất cả những giá trị tinh thần của nhà chinh phục tiên phong ấy, chính là nền tảng cho công trình xây dựng dất nước Hoa Kỳ.
Tiếp đến, với Bản Tuyên ngôn Độc lập ra đời ngày 4-7-1776, các nhóm di dân tới lập nghiệp tại Mỹ châu cùng nhau tập hợp lại thành một quốc gia độc lập thống nhất lấy tên Hợp Chủng Quốc (Les Etats-Unis) với George Washington làm vị tổng thống đầu tiên. Là một quốc gia thuộc loại non trẻ nhất trong lịch sử loài người, nước Mỹ hay Hiệp Chủng Quốc lại sớm trở thành quốc gia hùng mạnh hàng đầu thế giới. Ấy là nhờ các thế hệ kế thừa sự nghiệp đã không chỉ tiếp tục và phát huy các giá trị tinh thần của thế hệ tiên phong để lại, mà còn biến óc phiêu lưu mạo hiểm khai hóa thành tinh thần tìm tòi khai sáng, nghĩa là dùng ánh sáng của trí tuệ để biến Hiệp Chủng Quốc hay nước Mỹ từ một đất nước chuyên về chăn nuôi và trồng trọt trở thành một quốc gia công nghiệp tiên tiến hàng đầu thê giới. Tóm lại, óc phiêu lưu mạo hiểm của nhà tiên phong khai phá (l'esprit aventurier et de conquête du pionnier) cùng với tinh thần phấn đấu tự lực cánh sinh để xây dựng sự nghiệp (l'esprit de lutte du self-made man) chính là những giá tri tinh thần làm nền móng cho sự hình thành và phát triển của nước Mỹ. Ngoài ra, cũng phải kể thêm tinh thần nghĩa hiệp của các tay súng oai hùng trừ gian diệt bạo, bênh vực kẻ cô thế trong các phim cowboy-western mà hồi nhỏ tôi rất khoái đi coi, những lần chó ngáp phải ruồi làm bài được điểm cao hí hửng vác về khoe để nhà thưởng cho cái vé xi nê hạng bét. Có thể nói đó là những đặc tính chung về mặt giá trị tinh thần và đạo đức của xã hội Mỹ, và cũng là động lực chủ yếu đã khiến Mỹ từ một quốc gia non trẻ, chỉ trong một thời gian ngắn sớm trở thành một quốc giàu có, hùng mạnh hàng đầu thế giới. Và với sức mạnh hùng cường ấy, Mỹ không chỉ giữ riêng cho mình, mà còn tích cực đóng góp vào công cuộc tái lập hòa bình và giữ gìn an ninh trật tự trên toàn thê giới. Bằng chứng là vai trò của Mỹ trong hai cuộc thế chiến vừa qua và vị thế đàn anh trong hai thập niên tiếp sau đó.
Nhưng trên cõi trần ai tục lụy đủ bốn mùi ca ngâm hỉ, nộ, ái, ố, đủ bộ tứ khoái ăn, ngủ, ỉa, đ... này, có cái gì là tồn tại vĩnh viễn đâu. Thịnh rồi phải tới lúc suy, cũng như hoa nở để mà tàn, trăng tròn để mà khuyết..., đó là qui luật vận hành thế gian do ông Tạo trong lúc ngồi buồn đặt ra để trêu ngươi ấy mà. Dù là Mỹ hay Hiệp Chủng quốc cũng vậy thôi. Với thời gian và di sản của các thế hệ tiên phong nhọc công gây dựng các lớp người đến sau nay chỉ biết thụ hưởng. Do đó, cái tinh thần phiêu lưu mạo hiểm cũng như cái óc tìm tòi khai phá nhăm phục vụ cho lợi ích chung, tức là cái sinh khí nguyên thủy ngày một thêm mai một để cuối cùng trở thành một thứ chủ nghĩa thực dụng, thực lợi lấy việc gây dựng một sự nghiệp cho bản thân làm cứu cánh, nhưng lại ngụy trang cho nó bằng danh hiệu mỹ miều Chủ nghĩa Thực Tiễn (le Pragmatisme). Ta có thể tóm tắt chủ trương của những người chạy theo Chủ nghĩa Thực Tiễn đó như sau " Kẻ nào thành công, kẻ đó có lý và chỉ có thành công mới là biểu hiện cho sự thành nhân". Bởi vậy người ta mới đua nhau tìm kiếm cho mình một sự nghiệp lớn bằng bất cứ phương tiện nào, không cần biết có hợp với đạo lý và nhắm mục đích phục vụ cho quyền lợi chung hay không, miễn sao thành công là được. Nói khác đi, đó là một biểu hiện khác của của nghĩa "cứu cánh biện minh cho phương tiện". Cũng chính vi vậy mà thay vì là một George Washington, một Benjamin Franklin, một Abraham Lincoln,một Theodore Roosevelt..., ta lại thấy ngày một thêm xuất hiện các chính khách thuộc loại dân túy. Mục tiêu hành động của họ không phải nhằm phục vụ cho lợi ích chung, mà là thành tích sự nghiệp riêng. Chính khách dân túy, bởi vì sở trường của họ là nói một đằng làm một nẻo, tiền hậu bất nhất, nhưng họ đâu cần biết. Điều quan trọng, với họ, là biết tung ra những khâu hiệu tranh cử ngắn gọn, càng ngắn càng tốt. Chỉ cần một vài hàng tweed là đủ, miễn sao đánh trúng tim đen của thành phần cử tri họ muốn tranh thủ, đáp ứng được những đòi hỏi trước mắt, nhất thời, hoặc giúp cho thành phần cử tri này được giải tỏa những mộng mơ hay mặc cảm thầm kín. Miễn sao đắc cử, thế là họ tự cho có quyền tha hồ khuỳnh tay ưỡn ngực, vênh vênh cái mặt ra điều "đã biết tay ta chưa" (m' as – tu vu)? Nhưng bằng mánh lới, giành được thắng lợi trong một cuộc tranh cử có thể dễ. Tới khi phải đảm nhiệm vai trò một nguyên thủ quốc gia, ta mới đánh giá được khả năng lãnh đạo của nhân vật đó ra sao. Để đối phó với các vấn đề quốc gia gai góc, hoặc đương đầu với các vấn nạn quốc tế, không thể hành sử như một thuyền trưởng non tay lái được(6). Nghĩa là chỉ mải lo luồn lách tránh những ghềnh đá trước mắt, mà không nhìn ra những báo hiệu cơn bão tố sắp nổi lên ở chân trời. Thí dụ như lãnh tụ một quốc gia nghe đâu cũng thuộc loại tiên tiến hàng đầu thế giới. Khi mới xảy ra nạn dịch virút Corona, ông vội lên tiêng trấn an "Đừng có lo, no star where (không sao đâu), nước ta có nền y tế tiến bộ nhất thế giới." Có điều ông quên rằng nền y tế ấy quả có nhất thế giới thật, nhưng chỉ dành riêng cho các tỉ phú hoặc thành phần dư tiền dư của. Còn đám dân nghèo hoặc lao động ba cọc ba đồng không dám hoặc không dủ tiền mua bảo hiểm y tế đâu có được sơ múi chấm mút gì. Tới khi cơn dịch ào tới, đám người này lãnh nguyên cán búa chết như rạ, ông mới trinh trọng tuyên bố là nếu nhân dân chỉ chết độ mấy chục ngàn người thôi là may mắn rồi, ra đều ta đây biết trông xa nhìn rộng. Ấy vậy mà không thiếu gì kẻ, vì được nghe những điều bùi tai, vội chạy đên công kênh lên đầu lên cổ tôn vinh làm minh chúa. Họ chẳng khác chi cái đám con chiên, theo Kinh Thánh, đã bỏ rơi ông Moise để tới quì phục trước con Bò vàng. Ai có mắng mỏ tôi là ăn nói tào lao, tôi khoanh tay xin cúi đầu nhận lỗi. Nhưng tôi chỉ muốn nói lên một vài cảm nghĩ riêng, sau khi được nghe người dân khu Bolsa cãi nhau ỏm tỏi về câu chuyện ông hoàng dòng dõi họ Kiều nào đó đang được một dám người bu quanh để tìm cách nâng bi.

Ừa, nếu như có những chính khách nói trước quên sau, hành động tiền hậu bất nhất, xét cho cùng cũng dễ hiẻu thôi. Nghề của chàng mà. Nhưng chủ nghĩa Thực Tiễn nói trên còn lây lan sang ngành truyền thông báo chí nũa, thế mới chết cha thiên hạ chứ. Tuy được xếp vào hàng quyền lực thú tư, chỉ trên danh nghĩa vì không được ghi trong Hiến Pháp, nhưng ngành truyền thông báo chí không phải là một quyền lực hữu danh vô thực. Trái lại là đằng khác. Vai trò của nó rất quan trọng. Có khi còn quan trọng hơn cả ba loại quyền hành hợp hiến, nếu nó ý thức được thiên chức (vocation) của nó và đảm nhiệm đúng hai chức năng thông tin (information)  truyền thông (communication) nó được giao phó. Thông tin là công tác loan báo, phổ biến các sự kiện, các diễn biến hữu ích liên quan đến cuộc sống hàng ngày; còn truyền thông là phân tích, nhận định, thậm chí nói lên quan điểm riêng liên quan đến một biến cố, một diễn biến thời sự nào đó. Một người làm công tác truyền thông báo chí có lương tâm chức nghiệp bao giờ cũng bỏ công sưu tầm, kiểm chứng tính xác thực các nguồn tin trước đã, sau đó mới cho loan. Về phần truyền thông cũng vậy. Ở một nước tự do dân chủ, ai cũng có quyền trình bày quan điểm riêng của mình; nhưng điều cốt yếu là phải biết tôn trọng quyền tự do tìm hiểu của người khác. Không nên vì phương châm hành nghề "nhà báo nói láo ăn tiền" mà tìm cách cưỡng chế tư tưởng đại chúng bằng những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật, thậm chí có khi còn dựng đứng là đằng khác. Ấy vậy mà vẫn có những kẻ láy làm tự hào với những thành tích thuộc loại đó, vênh vênh cái mặt ra đều chỉ có tại các nước tự do dân chủ, ta đây mới có quyền ăn nói thả dàn. Tự do cái củ xê gi, thứ tự do tha hóa, vô ý thức, vô trách nhiệm ấy.
Thôi thì các giới chính khứa hay truyền thông báo chí đã đành. Cái Chủ nghĩa Thực tiễn kể trên lại chẳng chịu từ một ai. Nó còn lây lan sang cả ngành y dược nữa, cái ngành được coi không phải là con đường kinh doanh để gây lợi nhuận, mà với thiên chức cao cả là chăm lo sức khỏe cho mọi người. Thế có bỏ mẹ con nhà người ta không chứ ! Ta có thể lấy trường hợp Viện bào chế Johnson&Johnson làm thí dụ điển hình. Trước khi tung ra thị trường một loại thuốc opiacee làm giảm đau nhức nhưng dễ sinh ghiền, viện đã cử hàng ngàn trình dược viên đên các phòng mạch để khuyến dụ bác sĩ kê toa cho bịnh nhân. Hậu quả là bịnh nhân sử dụng ngày càng lệ thuộc vào thuốc và tăng thêm liều lượng khiến dẫn đến tử vong. Theo tin trên Đài truyền hình Pháp Fr 24, tòa án Bang Oklahoma ngày 27-8-2019 đã phạt viện bào chế Johnson&Johnson vì tội quảng cáo bậy gây tử vong cho gần 400000 ngàn người trong khoảng thời gian từ 1999 đến 2017. Cũng vậy, hãng Perdue Pharma mới đây cũng đã phải tuyên bố phá sản để khỏi phải đương đầu với gần 2000 đơn kiện liên quan đến dược phẩm của hãng cũng thuộc loại này. Thế nhưng không chỉ có vậy. Chủ nghĩa Thực Tiễn còn lây lan tới nhiều nợi khác trên thế giới. không thua gì dịch vi rút Corona cả. Tại Pháp đang diễn ra vụ án thuốc Mediator của hãng bào chê Servier đã mập mờ quảng cáo thuốc Mediator vốn là thuốc ngừa bịnh tiểu đường ra là thuốc (diabete) như là thuốc chống bịnh béo phì (obèse). Hậu quả là do tác hại phụ tới tim mạch, đã có hơn bốn ngàn người bị tử vong.
Một vài thí dụ nêu trên đủ cho thấy là luồng gió mới từ Mỹ thổi vào Việt Nam không còn là luồng gió nguyên thủy mang dấu ấn tinh thần mạo hiểm và khai phá của thời kỳ lập quốc nữa. Nay chỉ còn là ngọn gió cuối mùa đã ít nhiều biến thái mang biểu tượng, không còn là Nữ Thần Tự Do với ánh đuốc soi đường nữa, mà là bức tường đang xây giở dọc theo biên giới Mỹ và Mễ Tây Cơ. Đã thế làn gió cuối mùa này còn bị một số người nào đó đem vào làm thêm ô nhiễm, để từ nguồn sinh khí trở thành luồng chướng khí. Vậy số người ấy là ai? Thành phần ra sao?
Nhưng trước hết, tôi xin được nhắc lại cho rõ là tôi chỉ nói đến một số người nào đó thôi đấy nhá. Kẻo người mình có thói quen suy diễn phản xạ theo kiểu sấm bên Đông, động bên Tây khiến tôi e khó tránh khỏi bị khép cho cái tội giứt dây gây động cả rừng, nghĩa là ăn nói theo kiểu vơ đũa cả nắm. Tôi không dám vơ đũa cả nắm vi tôi biết rằng cộng đồng người Việt không chỉ có ở tập trung tại quận Cam mà còn sống rải rác trên khắp nước Mỹ, và rằng bên cạnh đám tập thể ổn ào hỗn tạp khu nhà lá Bolsa, còn có một thiểu số ưu tú thầm lặng. Họ cũng phải đi chui như phần đông người Việt di tản khác và tự cho có may mắn đặt được chân lên nước Mỹ là ánh nhờ ánh đuốc soi đường chi lối của Nữ Thần Tự Do . Rồi tới khi tìm hiểu được giá trị và ý nghĩa của ánh đuốc soi đường đó, họ mới xin nhận nơi này làm quê hương thứ hai. Hiểu được rồi, họ không ngừng học hỏi trau giồi kiến thức để đóng góp hữu ích cho xứ sở mới đã mở rộng vòng tay đón nhận họ. Nhờ vậy mà nhiều người đã thành công trên đường công danh sự nghiệp, được nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng trong đủ mọi lãnh vực từ hành chánh, quân sự, văn chương, giáo dục, khoa học v.v... Nhưng thành công, với họ, không chỉ cốt để làm con đường tiến thân. Thành công, còn là để xứng đáng trở thành công dân đất nước đất nuớc danh xưng chính thức Hiệp Chúng Quốc tức United-States hay Cộng Hòa Liên Bang Mỹ chứ không phải cái tên Mỹ cộc lốc như họ quen gọi khi còn ở Việt Nam. Đây không phải là một trò chơi chữ nghĩa. Bởi vì cái tên chính thức United-States ngụ ý cho hiểu quốc gia mới mẻ này chính là sự tập hợp của nhiều lãnh thổ tự trị hay bang cùng với nhiểu chủng tộc khác nhau thành một quốc gia duy nhất trong tinh thần "ba cây chụm lại nên hòn núi cao". Chinh với danh xưng này, nước Mỹ mới sớm trở thành cường quốc số môt thế giới. Bởi vì danh xưng mới này còn nói lên tinh thần hòa đồng, hòa hợp giữa các sắc dân khác nhau, không phân biệt màu da hay kỳ thị chủng tộc để mọi tài năng được phát triển. Đó cũng còn là ý nghĩa của ánh sáng trên tay tượng Nữ thần Tự Do như để soi đường cho những ai gặp hoạn nạn biết đường mà tìm về miền đât hứa. Bởi thế họ mới phấn đấu học hỏi, và coi sự thành công trên mảnh đất mang tên Hiệp Chủng Quốc hay United-States này còn là cơ hội để trả ơn mảnh đất đã cưu mang họ, đồng thời để vinh danh và đáp nghĩa giống nòi trên mảnh đất họ đã sinh ra và trưởng thành. Thành công, nhưng không hề mưu cầu thành danh. Bởi vậy, họ thường ít được quần chúng biết đến, nếu như đôi khi không nhờ có một vài người nhắc đến tên họ. Nếu tôi không dám vơ đũa cả nắm cũng chỉ vì cái nhóm thiểu số ưu tú thầm lặng hay cù lần (?) này, chứ tôi đâu có phải dân thỏ đế. Mà dù có là dân thỏ đế, khi cần tôi cũng dám chơi bạo như ai, nghĩa là thò tay "giứt dây gây động rừng", để mượn cách nói văn vẽ hình tượng của các bậc tao nhân mặc khách. Chứ còn trong giới lính tráng đơ dèm củ bắp với nhau thì chúng tôi gọi là dám "mó dái ngựa" đấy bà con cô bác ạ.
Vậy chứ đám người đem làn gió cuối mùa từ Mỹ vào Việt Nam thành phần gồm những ai? Ố là là... Hầm bà làng đủ thứ, chẳng khác chi các món bày ra cho một bữa lẩu thập cẩm cả . Nào là thành phần đi chui đã từng nhiều lúc nghêu ngao dăm ba câu Người di tản buồn để nói lên tâm sự mất nước nên mới phải bỏ nhà bỏ của ra đi. Nào là một số hăng say tích cực chống cộng; nhưng chỉ huyên hoang chống cộng bằng mồm thôi. Bởi thế trong khi chờ đợi ngày về giải phóng quê hương, thỉnh thoảng họ lại thậm thụt đi đi về về để tìm cách trả thù dân tộc . Ngoài ra cũng có thêm một vài ca sĩ, văn sĩ, thi sĩ, nghệ sĩ... thuộc dạng lá úa chiều thu hay lá rụng về cội, ai muốn hiểu ra sao thì hiểu, nhân tâm tùy mạng mỡ. Tuy khác nhau về danh nghĩa, nhưng họ lại giống nhau ở một điểm: đó là họ thuộc thành phần thích nổnổ như bắp rang, nổ như pháo tết, nổ như chai sâm banh được khu nút, càng nổ lớn chừng nào, họ càng khoái chừng đó. Nổ, nổ, nổ ...Trong chừng mực nào đó, ta có thể coi căn bịnh ưa nổ này là một biến chứng của Chủ nghĩa Thực Tiễn. Từ ngày được đặt chân qua bển, chảng biết học hành có thành đạt hoặc làm nên sự nghiệp gì không, hay phải làm đủ mọi thứ giốp (job) để dành dụm cho được một số tiền còm. Rồi khi trở về họ mới trổ tài nổ, như một kẻ vinh quang bái tổ, sênh sang áo gấm về làng. Ban đầu chỉ để hù hè bà con lối xóm. Riết rồi trở thành thói quen, họ đã truyền cái bịnh nổ sống theo kiểu Mỹ, làm ăn bốc giàu theo kiểu Mỹ, ở sang như Mỹ, ăn chơi như Mỹ, huênh hoang hợm hĩnh khoe tiền khoe của như Mỹ, đúng điệu mấy tay đại tư bản hay diễn viên siêu sao Mỹ... Đó chính là một vài biểu hiện về biến đổi tại Việt Nam trong chuyến tôi về thăm Việt Nam vừa qua. Cũng may, các biểu hiện Mỹ hóa này chi mới lây lan sang một thành phần xã hội mà thôi : đó là thành phần dư tiền dư tiền dư của do làm ăn bất chính, hay giới chức có thê lực dễ mua chuộc. Tuy nhiên, theo cảm nhận của tôi, các biểu hiện Mỹ hóa này mới chỉ là hiện tượng và chưa trở thành hiện thực. Vậy hiện tượng Mỹ hóa ấy đã biểu hiện ra sao và được thấy nơi tầng lớp nào? 
Chú thích:
(5) – Xin mời coi bài "Dấn bước thăng trầm" của người viết đã được phổ biến trên một số diễn đàn mạng, đặc biệt là các trang mạng Chim Việt Cành Nam, Thư Viện Sáng Tạo, Khoa Học Đời Sống...
(6) – Sau nhiều lần hăm dọa, ngày 14-4-2020 TT Trump đã chính thức loan báo quyết định căt bỏ 450 triệu mỹ kim phần Mỹ đóng góp hàng năm cho Tổ Chức Y Tế Quốc Tế (WHO) với lý do là ông Tổng thư ký của Tổ chức này tỏ ra thiên vị Trung Quốc trong việc truy nguyên nguồn gốc vi rút gây ra dịch nạn Covid-19. Vốn đã ghét sẵn Tàu khựa được coi là kẻ thù truyền kiếp của nhân dân Việt Nam, thoạt nghe tôi mới thây đã làm sao. Nhưng nghĩ lại, tôi hơi tiếc là ông Trump đã có quyết định này hơi trễ vì chẳng những nó không giúp giải quyết được gì, mà còn lợi bất cập hại là đằng khác: 1) Trước hết là đúng lúc nạn dịch đang lan tràn tới các khu vực đông dân nghèo khó trên thê giới như một số nước Nam Mỹ, Phi châu hay Ấn Độ, quyết định cắt giảm vào thời điểm này chỉ gây thiệt thòi cho đám dân phải sống trong các khu ổ chuột mà thôi, đồng thời làm cho hình ảnh nước Mỹ trở thành xấu đi trước mắt người dân các khu vực này. Biết đâu đám dân chúng nghèo khổ này lại chẳng hướng về phía Tàu khựa với cạp mắt biêt ơn, nếu như nước này lợi dụng thời cơ vội gửi tặng họ dù chỉ có một vài trăm ngàn tấm khẩu trang thôi. 2) Phải chi ông Trump lên tiếng cảnh báo và chuẩn bị đối phó ngay khi nạn dịch còn đang hoành hành tại Vũ Hán thì đỡ biét mấy. Thay vì chỉ tiết kiệm được có 450 triệu đô la, nay ông đã phải huy động hàng ngàn tỷ đô để trợ giúp cho đám dân nghèo và thất nghiệp Mỹ, khiến họ phải lái xe xếp hàng rồng rắn cả mấy cây số để chờ được nhận phần cứu trợ.
Trên đây chỉ là ngu ý của một công dân hạng nhì thế giới. Nếu có điều gì sai trái, xin các bậc cao minh hiền triết vui lòng chỉ bảo và thứ lổi cho.
4. Kỳ tôi về thăm Việt Nam vừa qua nhằm đúng lúc đang diễn ra cuộc tranh luận ồn ào liên quan đến dự án xây dựng cho Sài Gòn một Nhà hát Giao hưởng, nhạc và vũ kịch tương tự các rạp Opéra tây phương với kinh phí khổng lồ lên tới hơn 1500 tỉ đồng. Cuộc tranh luận do thắc mắc của KTS Ngô Viết Nam Sơn được đăng tải trên nhật báo Tuổi Trẻ ngày thứ tư 10-10-2018 - (mục Văn hóa – Giải trí, trang 17): "Nhà nước phải chứng minh được hiệu quả xã hội của công trình (người dân thực sự cần có nhà hát, không có không được), hoặc hiệu quả kinh tế (nhà hát này đem lại lợi nhuân kinh tế cao). Đây cũng là cách quản lý đô thị của các nước trên thế giới". Đáp lại, cũng nhật báo trên, ông Trần Vĩnh Tuyến phó chủ tịch UBNDTP.HCM giải thích: "Không phải cuộc sống người dân khó khăn là không cần thiết chế văn hóa. Quan trọng là làm sao công trình đạt chát lượng không lãng phí nguồn lực nhà nước. Còn về thiết chế văn hóa, hiện nay TP chưa có công trình nào đạt chuẩn, chưa có nhà hát giao hưởng, trong khi nguồn nhân lực về nghệ thuật của thành phố đạt chất lượng." Nếu thắc mắc của KTS Ngô Viết Nam Sơn là chính đáng, thì lời giải thích của ông Trần Vĩnh Tuyến liệu có thuyết phục hay không?
Để có câu trả lời thích đáng, ta hãy xét hai điểm chủ yếu như sau: 1) Nhu cầu xây dựng một Nhà hát giao hưởng đạt chuẩn có thực sự cần thiết chưa? 2) Có thật TP.HCM đã có một nguồn nhân lực đạt chất lượng như ông Trần Vĩnh Tuyến phát biểu hay không?
Trước hết là nhu cầu về một nhà hát Giao hưởng đạt chuẩn. Hầu hết các thành phô văn minh tiên tiến trên thế giới đều có một Nhà hát Giao hưởng thuộc loại Opera. Đó là một công trình kiến trúc bề ngoài uy nghi cổ kính, nhưng bên trong lại trang trí mỹ thuật, thanh lịch. Hơn thê, phần âm thanh phải được thiết bị sao để từ nhứng nốt nhạc nhẹ nhàng êm dịu nhất mở đầu bản Sonate au clair de lune của Beethoven cho đến những nốt nhạc dồn dập âm vang kết thúc, người nghe vẫn có thể thưởng thức được mà không phải nhắm mắt bịt tai vì những âm thanh vang dội chát chúa. Nếu đạt được tiêu chuẩn này, thì kinh phí hơn 1500 tỉ đồng dành Nhà hát giao hưởng xét ra không có gì quá đáng. Do các đòi hỏi mỹ thuật và kỹ thuật cao như vậy, nên các Nhà hát giao hưởng xứng với danh hiệu thường dành cho các buổi trình tấu âm nhạc cổ điển dương cầm hay vĩ cầm, các buổi hòa nhạc giao hưởng. Ngoài ra nó cũng được dùng làm sân khấu cho các vở kich cổ điển của Molière, Corneille, Racine hay các vở kịch vũ ba lê (ballet) như Le lac des cygnes lấy nhạc Tchaikovsky làm nền. Và phải chăng chính vì là biểu tượng cho một nền văn minh lâu đời và một truyền thóng văn hóa cao, nên khi đặt chân tới Việt Nam người Pháp không chỉ lo mở các đồn điền cao su, mà còn cho xây tại Hà Nội một Nhà Hát lớn rập khuôn nhà hát Opera Paris thu nhỏ. Mục đích chắc là để phân bua với miệng lưỡi thế gian rằng họ tới Việt Nam không chỉ với ý đồ chiếm đất giành dân, mà còn muốn đóng góp vào công cuộc khai hóa xứ sở.
Giờ ta hãy xét tới "nguồn nhân lực của TP đạt chất lượng" được ông phó chủ tịch TP.HCM nói tới. Theo tôi nghĩ, một nguồn nhân lực nghệ thuật có chất lượng xứng với đòi hỏi một Nhà hát giao hưởng kinh phí hơn 1500 tỉ đồng, trước hết phải là một vài nghệ sĩ độc tấu dương cầm , vĩ cầm tài hoa, một dàn nhạc giao hưởng chuyên nghiệp, hoặc một vài buổi trình diễn dành cho ban kịch vũ ba lê. Thêm vào đó cũng cần có một số lượng khán giả biét thưởng thức các màn trình diễn kể trên. Thời gian hơn một tháng ở Việt Nam, tôi không hề được nghe nhắc đến một nghệ sĩ dương cầm hay vĩ cầm tên tuổi có tầm vóc quốc tế như nhà dương cầm Đặng Thái Sơn, hay một buổi trình tấu nhạc giao hưởng nào hết. Trái lại, tôi chỉ thấy, nếu không là các quán nhạc karaoke mọc lên như nấm, thì cũng là các buổi biểu diễn nhạc show hay các phòng trà. Nơi đây thường là đia điểm lui tới của một thành phần xã hội dư tiền dư của, dư thời giờ, đặc biệt là con cháu các đại gia, viên chức cửa quyền. Tuy thuộc dòng dõi con nhà gia thế, nhưng nhạc sở thích của họ lại là loại nhạc mang giai điệu bolero nay đang xuống cấp thành loại nhạc "bèo", nhạc "sến" do những lời ca tình tự, ỉ ôi kể lể. Của đáng tội, xếp các bản nhạc mang giai điệu bolero vào loại nhạc sến, nhạc bèo là kết oan cho nó. Bèo, sến hay không, là do người sáng tác chạy theo thị hiếu thời thượng. Còn người nghe chỉ chờ tiếng nhịp tắc xình, tắc xình, tắc xình... nổi lên để cậu ấm cô chiêu kéo nhau ra sàn nhảy, cô thì lắc lư cái mông đong đưa đôi vú, còn cậu thì cặp giò vừa nhún nhảy vừa đưa mắt đá lông nheo tống tình người đối diện. Ấy vậy mà, nếu tôi nhớ không lầm, tại miền Nam VN thế kỷ trước, trong khoảng thập niên 60, có một anh chàng nhạc sĩ hình như tên Đình Chương họ Phạm thì phải. Cũng với giai điệu bolero gốc Nam Mỹ ấy, nghe đâu bằng những nốt nhạc nhịp nhàng ấm áp, anh chàng lại sáng tác ra bản nhạc mang tênXóm đêm, dể gợi lên cho ta khung cảnh một khu xóm tối tăm, nghèo hèn, khuất nẻo. Nhưng ở đó lại ánh lên một hào quang nhân bản. Nhưng ở đó lại nghe vọng lên những lời ru con trìu mến. Nhưng ở đó ta lại thấy có những tấm lòng. Nhưng ở đó ta lại được gặp những con người biết mang tình thương.(7)
Dành tới hai trang để chỉ nói về cuộc tranh luận xoay quanh dự án xây cất một nhà hát cao cấp tại TP.HCM có vẻ hơi dài; nhưng cũng có thể chưa đủ nếu ta muốn dùng nó làm câu chuyện biểu tượng để nói lên sự tương phản giữa các biến đổi tại Việt Nam trong hai thập niên vừa qua khi bước vào thời kỳ mở cửa: Phát triển về mặt kinh tế và cải thiện đời sống cho người dân; nhưng đồng thời lại xuông cấp về mặt sinh hoạt văn hóa, tinh thần.

Trước hết về mặt canh tân và phát triển xứ sở. Khách quan mà nói - ít ra theo cảm nhận của tôi - , phải nhìn nhận là VN đã thực hiện được nhièu thành tựu đáng kể về mặt canh tân xứ sở và cải thiện đời sống chung cho cả nước. Công việc sản xuất được đẩy mạnh, đặc biệt là trong hai lãnh vực công nghiệp và du lịch. Nhiều xí nghiệp, nhiều công ty được thành lập khiến một số sản phẩm mang thương hiệu VN được có mặt trên thị trường quốc tế. Về mặt du lịch, một số thắng cảnh hay địa điểm du ngoạn đã được chỉnh trang hay dựng lên. Thêm vào đó phẩm chất công tác giao tế, liên lạc với người nước ngoài cũng được cải thiện khiến Việt Nam trở thành một trong những trung tâm du lịch được khách nước ngoài chiếu cố nhiều nhất trong vùng Đông Nam Á.
Nhưng... Bố khỉ, ở đời sao lúc nào cũng gặp phải cái chữ nhưng! Bên cạnh các thành tựu về măt xây dựng và phát triển ấy, đời sống tâm linh và văn hóa lại phát triển trái chiều theo tỉ lệ nghịch, để mỗi lúc một rơi vào tình trạng suy thoái đáng ngại. Điều này cũng dễ kiểm chứng thôi, nếu ta chịu khó theo dõi cách sử dụng ngôn ngữ trong một số trường hợp ở Việt Nam hiện nay. Không phải là ngôn ngữ của đại chúng trong sinh hoạt hàng ngày, mà là ngôn ngữ được thấy nơi một vài giới chức nghiệp hay chức vụ. Nhưng trước hết ta hãy tìm hiểu sơ qua ngôn ngữ là gì?
Ngôn ngữ, khách quan mà nói, có thể được coi là công cụ diễn đạt, là phương tiện truyền thông, là đặc quyền Tạo hóa dành cho con người. Các loài thú không biết sử dụng ngôn ngữ. Khi muốn tỏ tình chẳng hạn, chúng chỉ biết kêu bẹ, bẹ..ẹ..ẹ, hoặc dí mũi vào cái ấy mà hửi hửi... Chỉ có con người mới biết chia động từ "yêu" mà thôi. Nhưng không phải chỉ biết có chia động từ yêu. Còn hơn các dân tộc khác, người Việt còn có khả năng chuyển đổi danh xưng bằng đại tự khác nhau, từ "cô" sang "em", rồi "mình", rồi "nhà ấy ơi", và cuối cùng là "bà nó" để đánh dấu từng giai đoạn chuyển biến quan hệ tình cảm trong đời sống lứa đôi: từ người yêu tới người vợ, rồi người mẹ để sau cùng lên chức bà, Chỉ riêng về mặt dùng đại tự để chuyển gam (gamme) đổi tông (ton) trong cách xưng hô nêu trên, cũng đủ cho thấy dân tộc ta có một truyền thống sinh hoạt văn hóa phong phú đa dạng như thế nào. Và trải qua biết bao thăng trầm lịch sử, cái ngôn ngữ ấy tuy có thay đổi theo thời gian, nhưng luôn hướng về mặt cải thiện để mỗi lúc diễn tả được hoàn thiện hơn, chính xác hơn.
Những ngày đầu trong chuyến về thăm Việt Nam vừa qua, khi còn được trao đổi tiếp xúc với người dân trong sinh hoạt hàng ngày như tại quán cà phê lề đường, tiệm ăn đầu phố, các của tiệm, các sạp hàng trong chợ..., tôi không có cảm giác mình đang thay đổi môi trường sống. Chỉ khi bắt đầu phải chạm mặt với các thành phần xã hội thuộc giai tầng ngành nghề hay chức vụ, tôi mới cảm thấy phần nào lạc lõng, bỡ ngỡ như một kẻ xa lạ ngay chính quê hương mình. Lạc lõng, bỡ ngỡ do cách họ sử dụng ngôn từ, câu cú khiến tôi có cảm giác như đang được trao đổi với một thổ ngữ (dialecte) nào đó, hoặc tưởng vì xa quê hương lâu ngày tôi đã quên mất phần nào tiếng mẹ đẻ
Trước hết, một số từ ngữ tôi quen sử dụng để diễn tả cho chính xác, nay hầu như bị loại bỏ để được thay thế bằng một thứ ngữ nghĩa đồng nhất, đồng phục khiến người không quen dùng khó phân định được tách bạch, rõ ràng. Thí dụ như trường hợp từ chất liệu chẳng hạn. Nay hầu như được dùng để thay thế cho cả từ số lượng, khối lượng (quantité) lẫn phẩm chất, phẩm tính (qualité). Hoặc có khi cả hai cùng một lúc. Điển hình là phát biểu của ông phó chủ tịch UBNDTP.HCM trên tờ Tuổi Trẻ ngày 10-10-2018, tôi xin trích lại toàn bộ như sau: " Không phải cuộc sông người dân khó khăn là không cần công trình thiết chế văn hóa. Quan trọng là làm sao công trình đạt chất lượng, không lãng phí nguồn lực nhà nước. Còn về thiết chế văn hóa hiện nay, TP chưa có công trình nào đạt chuẩn, chưa có nhà hát giao hưởng, trong khi nguồn nhân lực về nghệ thuật của TP đạt chất lượng."
Theo tôi hiểu, từ chất lượng ở đây là để thay thế cho từ chất liệu (matière, substance) của miền nam trước đây đểchỉ tất cả những gì tồn tại có thể chế biến để tạo ra sản phẩm. Thí dụ như đất thó, gạch, đá hoa là những chất liệu hay vật liệu dựng túp lều tranh, để làm nhà, xây lâu đài... Các loại chất liệu này không có phẩm chất hay phẩm tính như nhau. Đất thó nay không ai dùng để xây nhà, và nếu chỉ dùng gạch để xây lâu đài thì nom không sao hoành tráng được. Cũng vậy, cất một căn nhà hay xây một ngôi biệt thự, người ta không thể dùng một khối lượng hay số lượng gạch như nhau. Có lẽ ông phó chủ tịch Trần Vĩnh Tuyến nghĩ có thể dùng từ chất liệu để thay thế cho cả khối lượng lẫn phẩm chất, nên ông mới cho rằng TP có một "nguồn nhân lực về nghê thuật đạt chất lượng" trong khi giới nghe nhạc hầu như chỉ thích nghe những bản bolero thuộc loại nhạc "sến", nhạc "bèo’’ mà thôi.
Một từ khác đang trở thành thời thượng, mà sự lạm dụng đã khiến nghĩa của nó trở nên mập mờ, đôi khi còn khó hiểu là đằng khác. Đó là trường hợp từ ấn tượng, KTS Nguyễn Ngọc Dũng đã dùng để trả lời trong cuộc phỏng vấn dành cho phóng viên Tiến Long trên tờ Tuổi Trẻ ngày 5-7- 2018, tr. 13. Sau đây là phát biểu của KTS Nguyễn Tiến Long liên quan đến việc ra mắt cuốn sách Lang thang phố thị đồng bằng sông Cửu Long như sau: " Tôi sống bằng nghề vẽ, vẽ kiến trúc, qui hoạch là nghề chánh, nhưng tôi cũng thích vẽ đủ thứ ký họa, màu nước hay sơn dàu chỉ là thiền, là dạo chơi với cây cọ, bút sắt. Vì vậy, lang thang đến đâu tôi cũng vẽ. Tôi ấn tượng với cuộc sông mưu sinh của những con người bình thường nhất, những phụ nữ Việt với nón lá, với quang gánh, bên con trâu, xe bò hay xe lôi, xe thồ, ghe, xuồng, tắc ráng... Chính là bản săc Việt miền sông nước không lẫn với con người nước khác.".
Tôi hoàn toàn chia xẻ quan điểm của KTS Nguyễn Ngọc Dũng khi ông muốn đề cao những người phụ nữ Việt Nam bình thường với nón lá, với quang gánh bên con trâu, con bò, xe thồ, trên ghe, trên xuồng..., mang bản sắc Việt miền sông nước Việt Nam. Đó cũng là điều khiến ông muốn dùng màu nước hay sơn dàu để minh họa và vinh danh họ trên tấm bố. Tuy nhiên điều làm tôi lấn cấn là cách ông phát biểu với từ "ấn tượng", Ấn tượng, theo tôi hiểu, là từ để chỉ tác động mạnh mẽ bất ngờ, bất chợt của một biến cố, một cảnh tượng hay của một nhân vật tới cảm xúc, cảm quan của ta. Đó là tác động của bức tranh Mặt trời mọc (Soleil levant) của Claude Monet vói nhà phê bình Leroy khi lần đầu ông ta đứng trước bức tranh này. Hay như lời phát biểu sau: "Mới gặp lần đầu, ông X. đã để lại cho tôi một ấn tượng tốt đẹp, do thái độ cởi mở, thân thiện của ông ta. Sau này tôi mới biết đó chỉ là thói quen xã giao của ổng mà thôi" Bởi vậy tôi chưa nghe hay đúng ra không hề được nghe ai nói "tôi ấn tượng", mà là tôi đã "bị ấn tượng" trước cảnh tượng tàn phá điêu tàn ấy, hoặc cảnh tượng tàn phá điêu tàn ấy đã để lại nơi tôi một "ấn tượng" sâu sắc. Còn khi ông Dũng xưng tôi làm chủ từ trực tiếp và "ấn tượng" làm động từ, thực tình tôi không năm rõ ý ông Dũng nói là ông bị ấn tượng bởi hình ảnh những người phụ nữ quang gánh mang bản sắc Việt miền sông nước Cửu Long, hay ông muốn nói dùng cây cọ và tấm bố để truyền đạt cảm xúc bất ngờ ấy nơi ông, để gây "ấn tượng" cho khách thưởng ngoạn .
Không chỉ có hai từ "ấn tượng" hay "chất lượng" kể trên. Nếu chịu khó lượm lặt trên các trang báo, ta sẽ tìm thấy dễ dàng một lô các từ đao to búa lớn khác nhằm tạo ấn tượng hay gây sốc. Thí dụ như "triều cường" để chỉ nước mưa lũ làm ngập chìm một vài khu phố. Tôi không hề có ý bác bỏ hai chữ "triều cường". Từ này có thể giúp tiếng Việt của ta được thêm phong phú. Nhưng tôi nghĩ ta chỉ nên dùng hai chữ "triều cường" để nói về những đợt sóng khổng lồ hung hãn ập vào và cuốn phăng nhà cửa, cây cối, xe cộ ..., những gì ở sát bờ biển như tại một vài thành phố của Indonesia trong cơn đại hồng thủy hay tsunami vừa qua. Rồi còn phải nghi sao đây về hai chữ "quan trắc" trong cái tựa TP.HCM triẻn khai mạng lưới quan trắc không khí toàn TP trên tờ Tuổi Trẻ ngày 5-7-1018, mục Đời sông đô thị, tr.8. Đây là lần đầu tiên tôi gặp từ này, và phải vò tai bóp trán đọc đi đọc lại bài báo nhiều lần mới phỏng đoán rằng (chỉ phỏng đoán thôi) từ "quan trắc" có lẽ để chỉ công tác kiểm soát hay đo lường mức độ ô nhiễm không khí do chất thải của xăng dầu gây nên. Nếu quả đúng là vậy, sao không dùng từ "kiểm soát" hay "đo lường" quen thuộc dễ, mà đi bắt người đọc phải làm cuộc phiêu lưu mạo hiểm để tìm hiểu làm chi? Chưa hết. Đoạn đường chiến binh của tôi còn phải tiếp tục thêm chặng khổ ải khác với cái tựa hiểm hóc trên trang 6 tờ Thanh Niên số 291 ngày 18-10-2018 như sau : "Lùi tiến độ cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước của TP.HCM". Chèng đéc ơi! Hoặc lùi, hoặc tiến, chứ đã lùi còn tiến sao được. Sau khi đã ba lần gieo quẻ âm dương để chọn nên lùi hay tiến và đọc kỹ bài báo, tôi đành tạm giải quẻ như sau : Do không thể thực hiện dúng thời hạn phương án cổ phần hóa 39 doanh nghiệp nhà nước trong năm 2018 theo chỉ thị của chinh phủ, TP đề nghị Chính phủ cho phép triển hạn hoặc rời thời hạn thực hiện phương án với 32 DNNN (Doanh nghiệp nhà nước?) trong năm 2019 và 7 DNNN còn lại vào năm 2020. Đây mới chỉ là cách giải quẻ theo kiếu "bói ra ma, quét nhà ra rác" của tôi, nên không dám bảo đảm lời giải là đúng một trăm phần trăm.
Không chỉ có thế, một vài trường hợp sử dụng câu cú, ngữ pháp đê diẽn tả như trên cũng đủ cho thấy sụ nghèo nàn hay lười biếng trong tư duy. Thí dụ như dưới cái tựa " Gạo Việt mượn thương hiệu ngoại để xuất khẩu", bái báo tờ Tuổi trẻ trên trang 7 số ra ngày 11-10-2018 đã có câu viết như sau : " Đặc biệt, các sản phẩm thương hiệu gạo Việt vẫn chưa được người tiêu dùng cuối cùng tại các nước biết đến do gạo Việt được thông qua một thương hiệu khác." Thú thiệt, nếu tựa bài báo ngắn gọn sáng sủa bao nhiêu, thì câu giải thích ở dưới có vẻ lại đưa người đọc vào "đêm tối bao la" bấy nhiêu. Thế nào là người tiêu dùng cuối cùng? Tại sao đã là sản phẩm thương hiệu gạo Việt rồi lại còn viết gạo Việt được xuất khẩu thông qua một thương hiệu khác? Chỉ trong một câu ngắn mà ý tưởng mù mờ, lời lẽ lủng củng đã khiến người đọc như muốn bị đưa vào mê hồn trận. Nếu chịu khó bỏ thì giờ suy nghĩ chín chắn , tác giả câu viết trên có thể diễn tả thí dụ như sau, hầu giúp người đọc nắm được dễ dàng ý muốn nói gì: " Trên thị trường quốc tế, gạo xuất khẩu Việt Nam chưa được khách tiêu dùng biết đến như là gạo Việt Nam, mà phải mượn thương hiệu một nước ngoài".
Tóm lại, nếu ngôn ngữ có thể được coi là chỉ số (indice) của văn hóa, để mượn lời của GS Vương Trí Nhàn, thì ngôn ngữ trong cách phát biểu hay diễn tả lại là thước đo trình độ nhận thức hay thưởng ngoạn trong văn học. Hiểu theo nghĩa này, ăn nói có văn hóa không phải lúc nào cũng tuôn ra những lời lẽ van chương hoa mỹ nhưng sáo mòn, hay những từ mới lạ đao to búa lớn mới là biết ăn nói có văn hóa. Văn hóa cũng có thể là những lời lẽ dung tục thô bạo, nhưng lại nói lên được cái chân thực, cái trung thực của cuộc sống. Bởi vậy, ngày càng phải nghe những khẩu hiệu đấu tranh, những lời lẽ hoa mỹ đầy dối trá, tôi lại đâm ra khoái một số từ ngữ được coi thuộc loại vô học của dân sống vỉa hè, hay của dân lính tráng đơ dèm củ bắp. Thí dụ như mấy lời thô tục của người lính miền nam VN trước 1975, có lần tôi tình cờ tôi nghe lỏm được trong một cuộc trao đổi.
Hồi đó tôi đang phải theo đơn vị trú đóng ở Pleiku, cái thành phố nơi khỉ ho cò gáy nhưng lại được dân đô thị hình dung ra một thành phố thơ mộng với những người "em Pleiku má đỏ môi hồng". Má đỏ môi hồng đâu không thấy, chỉ thấy mỗi lần có đoàn xe nhà binh đi ngang là bụi đỏ bốc mù trời. Bữa đó, nhằm cuối tháng, nhặt nhạnh trong túi thấy đủ tiền, tôi mới ghé lại một quán cà phê được coi là nơi giải trí để đám lính tráng tụi tôi lui tới. Bàn bên cạnh tôi là hai người lính ngồi đối diện nhau, Một anh khuôn mặt tươi tỉnh, quần áo tươm tất chắc là dân lính kiểng với ly cà phê sữa đá cạn quá nửa và bao thuốc 555 mới bóc. Trước mặt là một anh lính áo trận bạc màu, chắc thuộc loại "tiền lính tính liền", nghĩa là thứ lính chưa hết tháng đã hết lương, nên không ai dám cho ăn chịu hay vay mượn cả. Anh lính sau này, ta cứ tạm gọi là anh B cho tiện, ly cà phê đá trên tay hãy còn đày, nhỏ to gi với anh A đối diện tôi nghe không rõ, nhưng anh này có vẻ khoái trá gật gù cái đầu tủm tỉm cười. Một hồi, tôi bỗng nghe anh A cất giọng: " Thôi, anh bốc thơm tôi như thế đủ rồi. Khỏi cần tán thối thêm nữa. Anh mà còn tiép tục bơm tôi lên như vậy, thế nào cũng có lúc tôi nổ tung như quả bóng te te cho mà coi. Này, làm thêm điếu thuốc nữa đi." Anh B vội cầm lấy điếu thuốc, nhưng cũng cố thòng thêm một câu để vớt vát: "Anh có biết thằng C vừa được thăng binh nhất không? Mẹ kiếp, thằng đó có dám đấm đá ra trò gì đâu.Chẳng qua vì nó biết cách nâng bi mấy ông xếp lớn hơn bọn mình đấy thôi." Vậy là thay vì động từ nịnh bợ hay nịnh hót thông dụngmấy người lính miền nam trước đây còn sáng chế ra bốn động từ khác nhau, mà tiếng nào cũng ý vị với âm hưởng, màu sắc (nuances) khác nhau, nói lên được những biến đổi tâm trạng khác nhau:
- bốc thơm, anh A dùng lúc đầu tỏ ý hài lòng được người bạn khen mình,
tán thối, ngụ ý cho hiểu anh A thừa biết những lời nói của anh B chỉ là phỉnh phờ mà thôi,
bơm, anh A ngụ ý nhắn nhủ anh B: Thôi, tốp đi là vừa cha nội!
nâng bi, thường được dùng để chi hành động nịnh hót khi muốn nói về một nhân vật thứ ba.
Giờ nhớ lại, tôi thấy mấy từ này đậm đà, ý vị làm sao, và rất đáng đem cất vào nhà kho ngôn ngữ bình dân đại chúng, biết đâu lại chẳng hữu dụng khi ta muốn có một sáng tác để nói về người lính miền nam VN trước 1975.
Vả lại xét cho cùng, văn chương đích thực không chủ trương kỳ thị ngôn ngữ như giữa con nguòi với nhau. Văn chương đích thực không phân loại chữ nghĩa ra thành thượng vàng chỉ dành cho giai tầng thương lưu, trí thức và hạ cám chỉ để cho giới ăn nói vô học. Mà chắc gì dâ biết được ai thượng lưu, trí thức, ai ăn nói vô học? Thượng lưu? Một chính khách khi ra tranh cử tuôn ra những lời hứa hẹn bùi tai; nhưng khi đắc cử rồi, lại hành động theo kiẻu nói trước quên sau, tiền hậu bất nhất miễn sao phục vụ cho sự nghiệp riêng của mình. Trí thức? Mấy ông chỉ thích trưng bằng cấp, tước vị, nhưng lại quen uốn cong ngòi bút để chạy theo quyền lực hay tài lực. Vô học? Như cái mụ " Nấm độc" nào đó, nghe đâu được Mỹ nhận cho tới tị nạn, vậy mà chẳng bao lâu bà ta đã phát biểu linh tinh rằng nước Mỹ không "vĩ đại" như người ta tưởng. Đúng là chỉ được cái ăn nói tào lao, bố láo. Đã được voi lại còn đòi tiên. Nhưng ngẫm cho cùng, bước vào kỷ nguyên kỹ thuật tiên tiến với trí tuệ ảo (intelligence artificielle) ngày càng lên ngôi khiến ranh giới giữa thực và ảo ngày càng thêm xóa nhòa, nên ngày ta càng khó phân biệt được cái thực với cái giả, cái chân với cái ảo. Văn hóa cũng vậy thôi. Đâu có phải những lời lẽ văn chương hoa mỹ, nhưng đày dối trá, hoặc sáo mòn trống rỗng, mới là lời ăn tiếng nói có văn hóa. Trái lại, những lời lẽ trắng trợn, thẳng thừng đôi khi lại là biểu hiện nào đó của văn hóa. Văn hóa đích thực là biết tìm kiếm cái thực và dám nói lên những cái thật ở đời. Theo nghĩa này, văn hóa bao giờ cũng là thành quả của khổ công tìm kiếm sáng tạo để đưa ta gần cái Chân, Thiện, Mỹ. Bởi vậy chỉ đáng coi là sản phẩm văn hóa những sáng tác như bản "Xóm đêm" của Phạm Đình Chương, bài thơ "Chiều hôm nhớ nhà" của Bà Huyện Thanh Quan, hay bài thơ "Hổ nhớ rừng" của Thê Lữ. Nói khác đi, để mượn lời của học giả Pháp Emile Herriot : " Văn hóa là cái gì còn ở lại nơi con người, khi mọi điều được quên đi hết thảy" ( La culture c’ est ce qui demeure dans l’homme quand tout est oublié). Phải chăng, vì đã có sự hiểu hai chữ "văn hóa" như là biết trau giồi kiến thức lẫn lộn với bằng cấp, học vị như là cần câu cơm, nên ở Việt Nam đang có hiện tượng ngày thêm xuất hiện nhan nhản tiến sĩ, học "giả" do tệ nạn mua bằng bán cấp. Và phải chăng đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy thoái của văn hóa ở Việt Nam hiện nay, như GS Vương Trí Nhàn đã vạch rõ trong bài viết " Vì sao người Việt không mê đọc sách?" được phổ biến trên diễn đàn mạng TALAWAS (8) ngày 22-9-2008.
Theo ông Vương Trí Nhàn, sở dĩ có hiên tượng này, là do " gần đây ... dân ta làm việc gì thường theo lối chụp giật, mà thiếu thói quen nghiên cứu sự vật; sự nghĩ ngợi hay chấp vá nửa vời, đầu óc người ta không chăm chú theo đuổi tới cùng... Tất cả những bệnh trạng đó trong tư duy bắt nguồn từ một văn hóa đọc đom đóm, một đời sông tinh thần thiếu sách. Đến lượt mình, kiểu tư duy này lại quqy trở lại, cản trở người Việt đọc sách ... Đứng ở góc độ tâm lý học cá nhân mà xét, với sự đọc sách, con người phải trưởng thành như một nhân cách. Khi đọc sách, người ta phải có đơn độc trong suy nghĩ và làm việc. Sự hình thành loại người này đòi hỏi bệ đỡ của một nền văn hóa chắc chắn"
"... Giải thích sao về hiện tượng này? ... Khi có thể dùng sách để lập thân thì người ta đọc sách. Khi có nhiều con đường khác để lập thân mà ít tốn sức lực hơn – kể cả lối giả vờ đọc sách, gian lận thi cử - thì người ta bỏ sách khá dễ dàng. Và đó chính là tình trạng của xã hội hôm nay."
Hiện tượng người Việt không mê đọc sách, theo nhận định của ông Vương Trí Nhàn phải chăng cũng là giải đáp cho câu hỏi ông Chu Văn Sơn đã nêu ra trước đó hai năm trong bài viết mang tựa " Tác phẩm lớn, tại sao chưa?" cũng trên diễn đàn TALAWAS ngày 16-11-2006. Nhưng thế nào là một tác phẩm lớn? Vẫn theo ông Chu Văn Sơn, đó phải là một "sản phẩm độc sáng, đặt ra được những vấn đề thật thiết cốt đối với cuộc nhân sinh này và được viết bằng một cách tân nghệ thuật đầy bản lãnh và bản sắc. Thế tất nó phải mang hơi thở một thời nhưng cũng là trăn trở của mọi thời nảy sinh từ cuộc sống một dân tộc nhưng là câu chuyện chung của mọi dân tộc, được viết từ tâm sự nhưng phải mang tâm tư của muôn người, là sản phẩm từ một nền văn hóa, nhưng cũng có thể là vinh dự chung của nhiều nền văn hóa." Thế nhưng, cũng theo nhận định của ông Chu Văn Sơn, từ khi bước vào giai đoạn thời kỳ mở cửa, do ảnh hưởng của các làn gió từ ngoài thổi vào, người ta chỉ thích đua đòi chạy theo nếp sống xa hoa hưởng thụ tây phương và lấy việc phô trương giàu sang của cải làm biểu hiện cho nhân cách. Trong bối cảnh sinh hoạt như vậy, vẫn theo lời ông Chu Văn Sơn, "Thói quen làm hàng chợ vốn lên ngôi trong thời buổi chớm thị trường dường như đã làm xói mòn khá nhiều kỉ luật làm hàng hiệu. Thật buồn, kiểu tâm huyết trăn trở tới hàng chục năm lăn lóc thăng trầm để viết lên những tác phẩm để đời khám phá về cội nguồn các sức sống và văn hóa dân tộc hay nghiền ngẫm về phận người, đau đáu về tình người trong cuộc nhân sinh này thì như sao buổi sớm, còn dạng tâm huyết "chạy show", bỏ ra ít tâm lực sản xuất những nghệ phẩm chiều nịnh thị hiếu thời thượng thì như lá... rừng xuân" (bài đã dẫn)
Theo tôi nghĩ, sự đánh giá trên của ông Chu Văn Sơn là chỉ nhắm vào tình trạng sáng tác văn học ở Việt Nam từ khi bước vào giai đoạn mở cửa và chịu ảnh hưởng của các làn gió mới đên từ một số nước ngoài, đặc biệt là từ Mỹ. Chứ còn trước đó, không thể nói là Việt Nam không có, nếu không nhiều, thì ít ra cũng một số tác phẩm mang " tâm huyết trăn trở ..., nghiền ngẫm về phận người, đau đáu về tình người trong cuộc nhân sinh này..." như tập truyện ngắn "Mưa Nhã Nam" của Nguyễn Huy Thiệp", "Bến không chồng" của Dương Hướng, "Phố" của Chu Lai, "Nỗi buồn chiến tranh" của Bảo Ninh... Trong số này, ta có thế coi cuốn " Nỗi buồn chiến tranh" là tiêu biểu nhất, bởi vì nó hội đủ các yếu tố "tâm huyết trăn trỏ..., nghiền ngẫm về phận người, đau đau về tình người trong cuộc nhân sinh..." mà các tác phẩm nêu trên đều ít nhiều có đề cập tới. Ta có thể kiểm chứng điều này qua trích đoạn dưới đây và cũng là phần kết cho cuốn sách của Bảo Ninh nói lên tâm trạng của Kiên, nhân vật chính trong truyện: Sống sót sau những cái chết bi thảm của đồng đội, rồi còn phải chứng kiến những cảnh đời trái tai gai mắt phơi bày sự khoe khoang hợm hĩnh như là một phỉ báng xấc xược vào lý tưởng đấu tranh và sự hi sinh thiệt thòi của những người đã nằm xuống, Kiên nhiều lúc đã phải sống trong hoang tưởng của kẻ mộng du do chấn thương tâm thần... Và anh chỉ biết đi tìm an ủi bằng sống trong quá khứ kỷ niệm "Bởi vì nhờ thế mà anh vĩnh viễn được sống trong những ngày tháng đau thương nhưng huy hoàng những ngày bất hạnh nhưng chan chứa tình người, những ngày mà chúng ta biết rõ vì sao chúng ta phải bước vào chiến tranh, chúng ta phải chịu đựng tất cả, hi sinh tất cả. Ngày mà tất cả đều còn rất son tre, trong trắng và chân thành." ( Bảo Ninh : Nỗi buồn chiến tranh, Nhà Xuất bản Hội Nhà Văn 1991, tr. 283) Theo tôi, đây là một tác phẩm nói về chiến tranh và thân phận bi đát của những con người sống sót sau chiến tranh, có tầm vóc quốc tế không thua gì cuốn "A l’ Ouest rien de nouveau" của nhà văn Đức Erich Maria Remarque cả. Có lẽ vì thế cuốn sách đã được Phan Huy Đường dịch ra tiếng Pháp dưới tựa đề " Le chagrin de guerre" – Editions Philippe Picque, 1995. Tác phẩm cũng còn được dịch ra tiếng Anh, nhưng rất tiếc tôi không nhớ rõ tên người dịch và tụa đề bản dich.
Đang mải mê viết và còn định viết nữa, bỗng nghe có tiếng ai, sao giống giọng của ông Vũ Trọng Phụng thế, nói nhỏ vào tai như muốn nhắc nhở: "Biết rồi, khổ lắm, nói mãi". Thê là tôi sực tỉnh giật mình tự hỏi: Ừa, từ nãy tới giờ mình đang nói cái gì đây! Cái tựa to tướng "Đi tìm cuốn sách dịch đã mất" dành dành ra đấy, mà chẳng nghe nói gì tới cuốn sách cả, chỉ toàn chuyện trên trời dưới đất gi đâu. Vâng, xin có lời tạ lỗi với quí vị nào có nhã ý theo dõi bài viết của tôi tới nay. Giờ tôi xin chính thức công bố kết quả cuộc tìm kiếm cuốn sách đó như sau: Mặc dù chịu khó la cà mấy tiệm sách và hỏi dò một vài chỗ thân quen, tôi chẳng có tăm hơi, mà cũng chẳng được nghe ai nhắc đến cuốn sách tôi có ý đi tìm cả. Nếu không có sẵn bản dịch của ông Nguyễn Trọng Định trong tay, có lẽ tôi đã nghĩ mình đang mê ngủ, làm một công việc vô tích sự. Tuy nhiên tôi không thất vọng lắm, mà chi hơi buồn thôi. Không thất vọng, vì đã chuẩn bị tinh thần sau khi được đọc những bài lên tiếng báo động của hai ông Chu Văn Sơn và Vương Trí Nhàn. Buồn vì tình trạng sinh hoạt văn hóa đang xuống cấp ở Việt Nam hiện nay. Buồn, nhưng không vì thế mà tôi bị mất niềm tin. Buồn vì mái nhà Việt Nam có nhiều dấu hiệu bị tróc lở và ít nhiều bị dột. Nhưng tôi không hề mất niềm tin khi biết chắc rằng cái nền vẫn còn vững chắc, không dễ gì suy sụp. Sở dĩ tôi vẫn giữ được niềm tin như vậy là nhờ những gì tôi đã tìm thấy nơi bình dân đại chúng trong sinh hoạt hàng ngày. Như hình ảnh những người phụ nữ dân miệt vườn đồng bằng sông Củu Long trong cuộc mưu sinh hàng ngày " với nón lá, với quang gánh bên con trâu, con bò, trên xe lôi, xe thồ, trên ghe, trên xuồng..." khiến KTS Nguyễn Ngọc Dũng muốn vinh danh họ bằng những nét cọ trên tấm bố. Hay như tinh thần phấn đấu học hỏi của một số em học sinh tại những vùng xa xôi hẻo lánh không quản ngại khắc phục mọi khó khăn để đến trường, như bài báo mang tụa "Kéo bè phao vượt sông Cái đến trường" trên tờ Tuôi trẻ, mục Giáo dục số ra ngày thứ năm 8-11-2018, tr.13. Sau đây là một đoạn của bài báo tôi xin trích lại nguyên văn như sau:
"11h trưa, trời nắng chang chang, Nguyễn Hoài Bảo Ngọc, Lê Thị Ngân (học sinh lớp 9 Trường THCS Trần Quốc Tuấn) cùng nhau dắt chiếc xe đạp xuống bến sông trở về nhà sau giờ tan lớp. Chiếc bè phao vừa kéo qua, có thêm hai hành khách là Võ Văn Đoan, học sinh lớp 10 Trường trung cấp nghề Ninh Hòa và một cô giáo Trường tiểu học Ninh Thân cùng lỉnh kỉnh nhu yếu phẩm. Không áo phao hay bất cứ dụng cụ lỉnh kỉnh nào, Đoan, Ngọc, Ngân mang cặp sách trên lưng hì hục dùng tay kéo sọi dây đã được cố định để đưa bè phao qua sông Cái rộng gần 100 mét.
Ngân cho biết đã đi bè phao suốt ba năm qua. Nhà Ngân chỉ cách trường một con sông Cái, nếu đến trường bằng đường vòng phải mất hơn 5km, còn đi bè chỉ vài phút. " Cực nhất là vào mùa mưa bão nước sông lớn đò không đi được, nên em thường ở nhà bà ngoại bên kia sông cả tháng trời để tiện cho việc đi học. Nhiều bạn không có người quen đành đạp xe đường vòng, có khi muộn giờ vì đường xa" Ngân cho biết.
Còn Võ Văn Đoan cho biết nếu không có bè phao này, em phải di chuyển thêm 10 km để đến trường. "Biết không có áo phao đi qua sông rất nguy hiểm nhưng do khoảng cách đi lại xa, nhiều năm em theo bè phao này để đến trường." Đoan nói.
Họ, những người dân miệt vườn đồng bằng sông Cửu Long, với nón lá, quang gánh bên con trâu, con bò, trên xe bò, trên ghe, xuồng ấy..., họ chính là biểu tượng cho tinh thần cần cù, nhẫn nại, làm ăn lương thiện vốn là những đức tính mang bản sắc dân tộc. Về phần mấy em học sinh cũng vậy. Trong khi người ta dự tính bỏ ra cả 1500 tỉ đồng để xây một nhà Hát Opera chỉ để làm cảnh, các em bất chấp mọi gian nan cực khổ vẫn cố ngày hai buổi cắp sách đến trường để trau giồi kiên thức, để học hỏi những cái hay, cái đẹp, cái tinh hoa nơi người hầu tạo điều kiện hội nhập một thế giới thực sự văn minh tiến bộ, như các thế hệ đi trước các em đã làm. Họ, những người phụ nữ quang gánh bên con trâu, con bò, trên ghe trên xuồng , cũng như các em học sinh lặn lội kéo bè phao vượt sông Cái để đến trường, chính họ và chỉ có họ mới là những ông từ, bà từ (gardiens du temple), những con người trông coi gìn giữ ngôi đên Việt Nam. Là những ông từ, bà từ bởi vì những người phụ nữ quang gánh trên vai ấy, những em học sinh dùng bè phao vượt sông Cái để đến trường ấy, họ chính là những con người được chọn lọc (des élus) để gìn giữ bản sắc dân tộc Việt Nam, bảo tồn tâm hồn Việt Nam. Và điều may mắn khiến họ được tuyẻn lựa, là vị họ được sống tại những nơi xa xôi hẻo lánh, địa thế trắc trở nên không bị thở hít các luồng chướng khí từ ngoài thổi vào như dân thành phố (cũng như dân sống ở những vùng đồng quê hay miền núi ít bị lây nhiễm vi rút Corona hơn là dân sống tập trung tại các đô thị, thành phố lớn).
Về phần tôi, nhờ dược đọc hai bài báo nói về những người phụ nữ đồng bằng sông Cửu Long, cũng như mấy em học sinh dùng bè phao vượt sông Cái để tới trường, nên tôi đã không hề nản lòng khi không tìm ra được vết tích bản dịch cuốn Dưới bóng những cô gái tuổi hoa của ông Nguyễn Trọng Định. Không nản lòng, vì mặc dù có thắc mắc của ông Chu Văn Sơn là tại sao Việt Nam chưa có tác phẩm lớn, nhưng không phải vì thế mà từ sau thời kỳ mở cửa, không có những con người tâm huyết. Bằng chứng là bản dịch của ông Nguyễn Trọng Định nhằm giúp độc giả Việt Nam được làm quen với một tác phẩm lớn của một nhà văn lớn tầm cỡ quốc tế như Marcel Proust. Bởi vậy tôi không tin cuốn Dưới bóng những cô gái tuổi hoa của ông Nguyễn Trọng Định đã thực sự mất đi, theo nghĩa hoàn toàn bị nhận chìm trong quên lãng. Tôi cho rằng cuốn sách chỉ bị thất lạc mà thôi, nghĩa là nó bị bỏ quên đâu dó, cũng như khung trời kỷ niệm thời thơ ấu của Proust tại Illiers Combray. Biết đâu chẳng có một ngày hay do sự tình cờ nào đó, như mùi vị miếng bánh madeleine tẩm trà với Proust, cuốn sách lại có dịp được độc giả chú ý tới. Với kỳ vọng đó, tôi mong sẽ có thể viết một bài để giới thiệu phần nào, trong giới hạn khả năng tìm hiểu của tôi, về một cuốn sách, theo lời nhà xuất bản Nhã Nam, từ lâu đã được coi là danh tác văn học, niềm kiêu hãnh của văn chương Pháp.

Chú thích:
- (7) Mời coi "Bài ca tủ, bản nhạc để đời" đã được phổ biến trên một số diễn đàn mạng.
- (8) Talawas là một diễn đàn mạng văn học được sự hợp tác của nhiều học giả, nhiều nhà phê bình có thẩm quyền ở trong nước cũng như ở hải ngoại. Rất tiếc, vì là một diễn đàn độc lập, tự túc nên có thể do vấn đề ngân sách và tài trợ nên đã phải ngưng hoạt động vào khoảng thập niên đầu thế kỷ này.
16-5-2020
Nguyễn Bảo Hưng
Theo http://chimvie3.free.fr/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Lịch sử: Chân lý và hư cấu trong Đức Thánh Trần của Trần Thanh cảnh

Lịch sử: Chân lý và hư cấu trong Đức Thánh Trần của Trần Thanh cảnh Có thể nói, với Trần Thanh Cảnh, lịch sử chỉ là cái cớ, phông nền để ô...