Chiếc lược ngà 2
Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà danh họa Foujita, người
con của đất nước Phù Tang, những nhà chơi tranh, mua bán tranh trên thế giới đã
nháo nhào chạy săn lùng tranh của Foujita. Dò theo bước đường phiêu lưu của
ông, giới sành tranh biết rằng ở Việt Nam đang còn vài bức của ông. Từ Mỹ, từ
Pháp, từ Úc, từ Canada... bằng thư hoặc bằng điện, họ gửi về những nhà mua bán
tranh ở Việt Nam, bằng mọi giá phải tìm mua cho được tranh của Foujita, đặc biệt
là tranh con mèo. Trên thế giới, họa sĩ nào cũng có một nét độc đáo, mang theo
dấu ấn tài nghệ của mình. Nét độc đáo của Foujita là nét vẽ con mèo.
Tôi may mắn là người chứng kiến cuộc săn lùng này. Từ Sài Gòn
có người bỏ tiền túi đi tàu tốc hành ra Hà Nội. Cao hơn và nhanh hơn, có người
đi máy bay. Trong thành phố Sài Gòn thì những chiếc hon-da chạy như ma đuổi, họ
đến các cửa hàng ở Đồng Khởi, vào các ngõ ngách của những nhà chơi tranh. Cuối
cùng tất cả đều trở về với hai bàn tay không, lơ láo, lắc đầu, gian nan hơn mò
kim đáy biển.
- Vậy bức tranh con mèo của Foujita đang ở đâu?
- Đang nằm trong tay tao chớ ở đâu mậy?
Thằng bạn của tôi ngước mặt cười đắc thắng. Thằng Nam, Nguyễn
Thành Nam, người có tiếng trong giới làm ăn đất Sài Gòn, nó cười từ dưới bụng
cười lên, hai hàm răng há to. Thấy cũng chưa đã, nó thêm :
- Ai trồng khoai đất này? Mầy có nhớ chuyến đi Hà Nội vừa rồi
của ta không?
- Nhớ.
Mỗi lần Nam đi đâu xa, tôi cũng biết trước đôi ba ngày và trước
khi đi bao giờ hai đứa cũng ngồi uống với nhau. Còn lần đó, Nam gõ cửa lúc tôi
còn ngái ngủ.
- Có việc gì vậy Nam?
- Tao đi Hà Nội.
Tôi sững mặt :
- Đột xuất.
- Có vé chưa? - Tôi hỏi.
- Chưa. Nhưng lo gì. Nó có cất cánh thì tao cũng ngoắc nó trở
lại rước.
- Cần tao đưa ra sân bay không?
- Khỏi. Xe đang đợi tao.
Mặc dầu chưa có vé, nó vẫn bay chuyến đầu tiên. Nó có cách của
nó. Và tôi nghĩ, nếu con người không có tính cách như nó thì không thể nào thắng
được cuộc đua này.
Tôi với nó là bạn lâu đời. Năm 1948, sau ba năm kháng chiến
chống Pháp, hai đứa gặp nhau trong một ngôi trường nằm ở mé rừng U Minh, bên những
con kinh nước ngầu đỏ: trường bổ túc văn hóa dành cho thanh thiếu niên từng
tham gia kháng chiến. Tình cờ hai đứa cùng quá giang xuồng về đất U Minh.
- Ở đâu về? - Tôi hỏi.
- Bộ đội.
- Đi bộ đội được mấy tháng?
- Sao lại mấy tháng. Hai năm, từ bốn sáu.
- Năm nay bao nhiêu?
- Mười sáu.
- Ham vui dữ ha!
Nó trợn mắt :
- Ê! Sao lại ham vui! Yêu nước đàng hoàng.
- Lính văn phòng hay ra mặt trận?
Nó lại bực, nói như hét :
- Sao lại văn phòng?
Nó có mái tóc hơi gợn sóng, mắt sâu, mặt hơi vuông, tỏ là người
gan góc, vầng trán cao, rắn chắc nhưng lại nhỏ con. Tôi nhìn khắp cả người nó,
biết tôi không tin, nó bực:
- Thấy mầy nhìn tao, tao biết mầy không tin, không tin tao
vác nổi cây súng phải không?
- Ờ...
- Đúng là tao không vác nổi cây súng.
- Bộ đội mà không vác nổi cây súng thì làm gì?
- Còn hơn cầm súng.
Tôi trố mắt :
- Truyền tin của chỉ huy, làm liên lạc, biết chưa?
- Học xong lớp mấy rồi đi bộ đội?
- "Xéc-ti-fi-ca".
- Ở trường học có khá không?
- Không bao giờ dưới hạng năm. Học "buộc". Học có
lương.
Biết nó đậu hạng cao trong kỳ thi này, tôi bắt đầu ngán nó. Hỏi
ra thì hai đứa cùng đẻ năm Mùi. Vào trường, hai đứa ngồi chung bàn. Suốt hai
năm, hai chiếc giường sát bên nhau, chia nhau từng miếng ăn, mặc cả quần áo của
nhau, hiểu nhau từng chân tơ kẽ tóc, tưởng không rời nhau.
- Sao sáng hôm đó, mầy không nói đi tìm tranh Foujita?
- Mèo rình chuột, tao thì rình mèo, nói sao được!
Rồi nó hào hứng kể lại với tôi :
- Tao bay ra Hà Nội bất thường như vậy, tất nhiên là phải giá
cao. Tới Hà Nội, tao bao ngay một chiếc xe. Nên nhớ không phải là bao xe hơi
đâu, tao thuê một chiếc xích lô, với giá cao gấp ba lần. Trước nhứt là gặp các
đệ tử ngay trong buổi sáng hôm đó. Tao biết ngày xưa, trước khi Nhật đổ quân
vào Đông Dương thì đã có người đi trước rồi. Người đi trước là ai? Tình báo
gián điệp?
- Tất nhiên! Ngoài ta còn ai nữa? Văn hóa và thể thao. Trong
số đó có nhà danh họa Foujita. Khi ông ta đến Hà Nội, tao đoán chắc không thể
nào khác, ông ta phải chơi với một vài họa sĩ Hà Nội. Đúng boong như vậy.
Foujita đã kết bạn với một họa sĩ. Đã là bạn bè, thì thế nào tranh của ông ta
cũng còn đó. Đó là thắng lợi đầu tiên của tao.
Nam không tập kết ra Bắc, nhưng Nam biết và hiểu Hà Nội hơn
tôi, mặc dù tôi ở Hà Nội đến mười hai năm.
Ngày trở về Sài Gòn, tôi nhớ nó, muốn tìm, nhưng chẳng biết
nó còn sống hay chết, ở đâu.
Bất ngờ nó đến nhà tôi vào một buổi chiều mưa. Từ năm 1954 đến
năm 1975, hai mươi mốt năm, tuổi hơn bốn mươi, hai thằng tóc đã điểm bạc. Chúng
tôi "a" lên một tiếng rồi ôm chầm lấy nhau.
- Mầy còn sống? - Tôi hỏi.
- Cũng tưởng là chết. Cũng tưởng mầy chôn vùi đâu đó trên chiến
trường. Chuyện dài lắm. Tao biết mầy quá bận rộn việc nhà và đang "truy
lùng kỷ niệm" phải không?
- Mầy đi guốc trong bụng tao.
Đứng ngay trước cửa, chưa kịp vào nhà, mái tóc dợn sóng của
nó rũ dài xuống qua cơn mưa.
- Tao trước sao, giờ vẫn vậy. Nếu không có sự trục trặc và cần
mầy thì bữa nay tao chưa tới. Trước là nhờ, sau mới thăm.
Tôi cảm động trước sự chân thật của nó.
- Vào nhà đi rồi nói.
Vào nhà, nó vẫn không cởi áo mưa.
- Tao bây giờ là phó thường dân Nam Bộ. Còn mầy vừa là dân tập
kết vừa là dân ở R về, mầy có thể hơn tao. Tao sắp có một chuyến đi, nhưng phường
khóm, chẳng mấy người biết tao. Thấy nhà tao giàu - ê tao giàu lắm nghe - họ nghi
tao là ngụy. Tao khai lý lịch, trước là Vệ quốc đoàn, từ năm 1950 đến trước
ngày tập kết, tao là cán bộ của Phòng tham mưu phân khu miền Tây Nam bộ, họ
không tin. Tao lại sơ ý, tao viết tắt P.L.K.M.T. - cắt nghĩa thế nào họ cũng
không hiểu. Tao nghĩ phải dè tao đi tập kết như mày! Mà mày biết tại sao không
đi tập kết hay không?
- Lúc đó lu bu quá, tao phải đón gia đình. Ra Bắc tao có tìm
mầy, sau mới biết mầy ở lại. Tao thắc mắc hoài không hiểu tại sao.
- Có mẹ gì đâu. Tao cũng muốn đi, nhưng tao lỡ hứa hôn với một
con nhỏ. Tao xin cho nó đi, nhưng nó không đủ tiêu chuẩn. Tao cũng không đủ
tiêu chuẩn cho vợ cùng đi. Mầy nhớ không, lúc đó, cấp tiểu đoàn trưởng, tức là
cấp đại úy bây giờ mới có tiêu chuẩn, còn tao, tao là thằng lính quèn.
- Bây giờ vợ con ra sao?
- Thôi đừng hỏi. Tất nhiên, sau đó, tụi tao làm đám cưới, hai
đứa kéo nhau về Sài Gòn. Có một đứa con, tao bị bắt. Sau năm năm ra tù bả đi với
thằng khác. Trái đất như sụp dưới chân tao. Tao độc thân cho đến bây giờ, nhưng
đừng thương hại tao. Thằng có vợ chỉ biết một người đàn bà, còn thằng độc thân
như tao thì không biết bao nhiêu là đàn bà. Chuyện này tao có lỗi với Cách Mạng...
ha... ha! - Nó bỗng cất giọng cười, cười mà nghe chua xót. Tôi nhận ra nỗi buồn
trong đôi mắt của nó. Mắt đang sáng rực bỗng như có đám mây che. - Từ đó tao mới
ngẫm ra một điều: tình yêu! Một trăm người đàn bà mà mình không yêu, mầy ạ!
Nhưng thôi - Vừa nói, Nam vừa móc trong túi áo bản lý lịch - Mày xác nhận cho
tao, mai lấy mộc cơ quan đóng vô, được hôn?
- Đâu có gì khó.
- Thôi, bữa khác nói chuyện nhiều, bây giờ tao phải đi.
- Mầy đi bằng gì, máy bay?
- Không! Máy bay bây giờ chưa bán vé, phải đi bằng giấy giới
thiệu. Tao thì ai giới thiệu, tao đi bằng xe hơi.
- Xe đò?
- Đâu. Xe của tao. Và tao lái. Mày tưởng tao không có xe hơi,
tao không biết lái à?
- Mày lái từ đây ra Bắc?
- Đồ cơm sườn. Thôi tao về - Nó đứng dậy, không ra về ngay mà
nói tiếp: - Mầy biết lúc hai vợ chồng tao về Sài Gòn tao sống như thế nào
không. Ở đậu trong một cái chuồng heo ở Xóm Củi cái chuồng heo nghĩa địa. Tao
thuê cái chuồng heo cũ, rồi đắp nên làm vách, lợp mái, kê vài miếng ván chớ
không có được một cái giường. Mầy có tưởng nổi, nhỏ con như tao mà khi nằm, hai
cái chân cũng thò ra ngoài vách. Nhiều lúc nghĩ đến những thằng tập kết như tụi
mầy mà phát ghen. Có một đêm mưa đầu mùa phân heo lâu đời dưới cái nền đất bốc
dậy lên muốn bể đầu. Tao bật ngồi dậy. "Đ.má nó, tao phải làm giàu!"
Coi như đó là lời tuyên ngôn của tao. Tao sẽ trả thù cái xã hội Sài Gòn này
không phải bằng súng đạn mà bằng đồng tiền. Nghe tao hét, vợ tao giật mình ôm lấy
hai vai tao: "Thôi anh đừng mơ. Cái thân người kháng chiến ở đất này, trước
hết là phải biết trốn anh à. Như vầy cũng được rồi!" Lúc đó tao chợt nghĩ
"túp lều tranh với hai quả tim vàng" chỉ có giá trị trong thơ mà thôi
mày ạ! Thôi chuyện còn dài lắm, đi Hà Nội về sẽ kể tiếp...
Chuyến đó, từ Hà Nội về, nó đến tôi, mặt mày rạng rỡ :
- Tao có một cái tánh xấu không sửa được là hay chơi trội! Mầy
có biết bài hát Nối vòng tay lớn của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn không? Từ Bắc vô
Nam... Ông ta mơ, ông ta hát, còn tao thì đi trước. Chỉ nghĩ đến vậy là tao đủ
thấy sướng rồi.
- Thấy miền Bắc ra sao?
- Tuyệt! Đẹp, đẹp, đẹp không bút mực nào tả nổi. Đúng là đất
cội nguồn của dân tộc. Tao nghĩ là tao đi chơi cho thỏa chí, không ngờ lại có lời,
lời to, to hơn cả một chuyến buôn...
Đúng là thời vận mầy ạ! Trên đường ngao du, tao dừng xe ghé
vào trụ sở của một cơ quan để hỏi thăm đường. Bất ngờ tao thấy ba cái lọ lục
bình thời Khang Hy để trên một cái tủ. Ba cái lọ như hút hết tâm trí tao. Nhìn
cái màu men, tao biết cái màu này đã thắng cả thời gian. Tao hỏi thăm, không ngờ
ông thủ trưởng cơ quan bảo với tao :
- Anh hỏi cái của nợ ấy làm gì?
- Sao là của nợ? - Tao ngạc nhiên, hỏi lại.
- Có gì đâu, lúc Mỹ đánh bom, trên cho mấy cái bình sơ tán về
đây. Hòa bình lập lại, chúng tôi có gởi công văn xin trả mà mãi đến nay họ chả
nói gì. Không phải của nợ thì là cái gì. Ô, ông đi chiếc xe đẹp quá. Xe nước
nào vậy - Ông thủ trưởng chợt nhìn ra sân thấy chiếc xe của mình, bèn tấm tắc.
- Xe của Nhật.
- Thế đấy. Cho tôi xem qua một chút nhé.
- Dạ được. Hay là tôi chở ông đi chơi một vòng.
- Thế thì còn gì bằng.
Miền Bắc đang hè, nóng như lửa táp - Xe có máy lạnh, khi ông
bước vào xe, ông kêu "Sao mát thế ông? Mát như trời lập đông, thích thật...".
Đưa ông ta bon bon trên đường cái, tao hỏi :
- Đồng chí có thích xe này không? Nếu đồng chí thích thì tôi
để xe này cho đồng chí, còn tôi, tôi xin lấy ba cái bình gốm của đồng chí.
- Ông đổi chiếc này với ba cái của nợ ấy à?
- Vâng!
- Đùa hay thật đấy đồng chí miền Nam?
- Ai lại đùa với đồng chí thủ trưởng.
- A! Hay đấy nhỉ? Được! Đêm nay đồng chí nghỉ đâu?
- Tôi muốn nghỉ ở khách sạn.
- Khách sạn làm gì, về nhà khách chúng tôi mà nghỉ. Sáng mai
họp cơ quan, tôi lấy ý kiến tập thể.
- Đồng chí không quyết được à!
- Sao lại không, nhưng tôi muốn tập thể cũng chịu trách nhiệm.
Tao phập phồng suốt cả đêm, cứ mơ ba cái lục bình thời Khang
Hy.
Sáng hôm sau, chẳng biết ông họp vào lúc nào, mình đang còn nằm
trên giường, bỗng nghe tiếng gõ cửa, tiếng gõ cửa dồn dập hối hả. Tao vừa bước
chân xuống giường, cửa đã bật ra. Ông ta vừa thò đầu vào cửa đã reo :
- Nhất trí trăm phần trăm đồng chí ạ!
Thế là tao để chiếc xe lại, tao bay về.
- Mầy khiêng ba cái lục bình ấy về!
- Đời nào tao chịu vất vả như vậy. Tao nhờ một nhân viên của
ông ta đóng thùng, rồi nhờ cả người của ông ta áp tải bằng tàu biển vào tận bến.
Mọi sở hụi tao chịu hết. Cậu nhân viên của ông được vào Sài Gòn, không phải tốn
một đồng xu, cậu ta mừng hết lớn. Tao đã về cả tuần nay rồi, nhưng chưa đến mầy
là vì ba cái lục bình.
- Tới chưa?
- Rồi, hồi chiều qua. Tao đền ơn đáp nghĩa cậu nhân viên áp tải
đó bằng một bữa tiệc ở khách sạn. Thật tôị nghiệp. Cậu ta không hiểu mình đang ở
đâu nữa. Khi cậu ta vừa xong chén cơm thì cô phục vụ mặt mày son phấn, dầu thơm
sực nức, chực một bên, hai tay nâng lấy cái chén, xúc cơm cho người ta. Mầy biết
cậu ta cảm tưởng sao không? - "Bữa nay em như là vua bác ạ!".
- Ba cái lục bình so với giá trị chiếc xe hơi của mầy thế
nào?
- Giá trị phải bằng năm chiếc xe của tao. Nó lại còn lời ở chỗ
này. Nếu tao mang xe về, phường khóm sẽ dòm ngó, bị quy là tư sản, muốn yên
thân thì phải hiến. Còn ba cái lục bình đó, họ coi là ba cái bình bằng đất...
Đó, chuyến đi đầu tiên của tao ra Hà Nội là vậy.
- Mầy biết xem đồ cổ?
- Ở cái đất Sài Gòn này, tao không dám xưng là sư, nhưng dám
nói là bậc thầy.
Tôi đưa tên một nhà nghiên cứu, tác giả nhiều quyển sách viết
về đồ cổ nổi tiếng ở đất Sài Gòn hỏi nó :
- Mầy với ông ta, ai hơn ai?
- Khó nói, cũng không nên so sánh. Rất khác nhau. Đứng trước
một món đồ cổ nào đó, ông ta nghiên cứu rồi ông ta viết. Nếu ông ta nhìn sai,
viết sai, ông ta chẳng mất gì, có thể đính chính được. Còn tao, tao ấy à, khi
tao nhìn nó là tao phải mua và phải bán. Nếu tao đánh giá sai, tao sẽ mất, mầy
nhớ là mất không nhỏ đâu. Trí tuệ của ông ta đẻ ra chữ, còn trí tuệ của tao thì
đẻ ra tiền.
- Mầy học nghề này từ lúc nào?
- Chẳng qua trường lớp nào. Kể cũng dài. Lúc tao vào tù. Ờ, mầy
biết tao bị bắt không?
- Sao?
- Nhớ thằng Điền ngồi dưới tao với mầy một bàn chưa? Nhớ hả?
Nó bị bắt, chịu không nổi, nó khai tao. Tụi nó bắt cũng lạ. Tao đi trên vỉa hè.
Suốt mấy năm đầu ở Sài Gòn, tao toàn đi bộ. Đi bộ để nhìn đời sống, để hiểu nhu
cầu của người dân. Nhờ đó mà tao phất.
- Phất như thế nào?
- Chuyện bị bắt kể sau, còn chuyện đi bộ, có chuyện như vầy.
Một hôm tao ra chợ Cầu Ông Lãnh mua một con cá lóc để kho tiêu cho vợ. Bả vừa mới
sanh thằng con trai. Con cá lóc gần hai ký, bằng cái bắp chuối của tao. Xỏ sợi
dây lác qua mang cá, tao xách toòng teng. Lẩn quẩn thế nào, tao tạt vô chỗ bán
cá lia thia. Người chơi cá cứ dụm đầu vào cái keo con cá xiêm. Con cá Xiêm xoè
cánh rực rỡ. Tao nghe người ta trả giá mà hết hồn: Bảy chục, rồi tám chục, chín
chục. Thằng cha bán cá vừa đưa tay chém xuống một cách dứt khoát: "Một
trăm! Không bớt một đồng xu". Con cá lóc trong tay tao, lớn bằng bắp chuối,
chỉ có hơn hai đồng. Còn con cá lia thia này lớn không bằng ngón tay cái mà một
trăm đồng. A ha! Hóa ra là đồ chơi mắc hơn đồ ăn. Tao bỗng như bừng tỉnh. Muốn
làm giàu phải bán đồ chơi chớ không bán đồ ăn mầy ạ! Nói rộng ra là phải lăn lộn
trong thị trường văn hóa. Sản phẩm văn hóa là những món hàng vô giá. Từ đó tao
nghĩ đến sách, đến tranh, đến đồ cổ... Sau đó, tao làm đầu nậu phát hành sách.
Sách gì có lời nhứt mầy hiểu không? Sách cho trẻ con. Móc túi trẻ con dễ hơn
móc túi người lớn. Tao bắt đầu khá lên từ đó, rồi tao thuê nhà ngoài mặt tiền.
Tao như người tìm được cái đầu mới của đời sống xô bồ của đô thị Sài Gòn. Cứ vậy
mà phăng, phất lên chẳng mấy hồi.
- Trở lại vụ bị bắt đi.
- Ờ... Tao đi.. Có hai thằng mang kiếng đen cứ kè kè theo.
Tao đâm nghi, định lách nhưng chưa tìm được một hẻm nào. Bỗng một thằng gõ lên
vai tao bằng hai ngón tay. Quay lại tao đã thấy nó đưa cái thẻ Tổng nha cảnh
sát. Cái thẻ nằm trong lòng tay nó, kiểu như nó chào mình. Nó bắt tao nhẹ nhàng
lịch sự như vậy. Rồi nó vẫy gọi tắc xi. Tức mình không biết nói gì, tao bảo:
"Nè, thằng nào kêu tắc-xi, thằng đó trả tiền nghe". Nó nhìn tao, bạnh
môi, cười rất đểu.
- Tôi bị tội gì? - Lên xe, tao hỏi.
- Ở trỏng, anh em đồng chí của anh đông lắm. Hôm qua mấy chả
họp chi bộ, thiếu anh, có người nhờ tôi đi tìm.
Vậy là mình bị khai. Vào tù gặp thằng Điền, chính nó khai
tao. Nó bảo như vầy mầy nghe có được không? "Để mầy ở ngoài tao sợ mầy hư".
"Tao hư hồi nào?" "Sắp làm tư bản mà không hư à? Vào đây để mà
rèn luyện. Nhà tù là trường đại học của Cách mạng, mầy quên à?". Giận mà
phát tức cười.
Vào tù, không ngờ gặp ông thầy dạy chữ nho, tao bắt đầu học
tiếp. Đây mày coi.
Nó đưa ngón tay trở cho tôi xem.
- Ốc tay của tao nhẵn lì hết rồi. Mỗi lần học là mỗi lần tao
liếm ngón tay nầy viết xuống nền xi-măng của nhà tù. Tao học gần hết chữ của ổng
thì tao ra tù. Từ đó thấy chỗ nào có chữ Hán là tao đọc. Tao đọc chữ Hán trên
các đồ cổ. Tao đọc tiểu thuyết của Quỳnh Dao, của Kim Dung qua chữ Hán. Thấy
ăn, và cũng phải nói là tao thấy vô hại, tao vừa tổ chức dịch, vừa in, vừa phát
hành. Sau, tao mua nhà in và vân vân... Người ta có tiền người ta mua vàng. ở đất
Sài Gòn nầy ngày trước, giới mua vàng là giới không biết làm ăn, là giới nhà
giáo, giới công chức. Nếu tiền của tao mà để mua vàng thì hôm nay, vàng của tao
phải cao bằng cái cột đèn ở ngoài đường. Lịch sử sang trang, những thằng như
tao bị phá sản, còn giới mua vàng giữ làm của thì bây giờ lại phây phây.
Ngoài những chuyện Nam kể với tôi, tôi còn biết về Nam khối
chuyện do bạn bè kể lại. Giới làm ăn ở đất Sài Gòn cũ nhắc đến tên Nam vừa ganh
vừa phục. Trước năm 1975, Chợ Lớn có một phòng tranh cổ Trung Quốc, gồm những họa
sĩ nổi tiếng của Trung Quốc như Từ Bi Hồng, Tề Bạch Thạch, Nhiệm Bá Niên, Cao Kỳ
Bội, Văn Trưng Minh, Mẫn Thọ Bình...
Những bức tranh thủy mạc, non nước hữu tình, những bức tranh
vẽ khỉ, vẽ ngựa, vẽ chim, vẽ cá, tôm... Giá tranh quá cao, không ai với tới. Đến
ngày đóng cửa, tưởng không bán được bức nào thì Nam xuất hiện. Tự mình lái chiếc
To-yo-ta, Nam dừng lại trước cửa, ăn mặc xềnh xoàng, quần tay xám, áo sơ-mi trắng,
không áo vét, không cà-vạt. Liếc qua giá cả, tính toán một lúc, sau cùng Nam gọi
chủ phòng tranh tới, khoát một vòng tay :
- Tôi lấy hết.
Chủ phòng tranh tưởng mình nghe nhầm, miệng há hốc :
- Ha! Cái gì ha!
- Tôi mua hết, rõ chưa? Gói lại đem lại nhà tôi, rồi ra nhà
băng lấy tiền.
Phòng tranh dọn sạch ngay ngày hôm ấy. Có người cho Nam là
gàn, có người bảo anh điên.
- Tao không điên, cũng không gàn. Theo dõi tình hình chiến sự,
tao thấy Mỹ đã cút rồi, tao chắc mẩm ngụy sẽ nhào. Nó nhào, tao hỏi mày, đồng
tiền của nó để làm gì? Cho nên, làm kinh tế không tách rời chính trị là vậy, mầy
rõ chưa nà!
Sau này, những bức tranh của Nam đối với người đi nước ngoài
bỗng trở nên quý hiếm đến kỳ lạ. Có bức người ta trả đến mươi, mười hai cây
vàng, mà cái vốn của Nam chỉ trên dưới một cây.
- Người ta dám mua, trước nhất là nó quý, cái giá trị của nghệ
thuật không có giá nhứt định, là cái giá tùy thời, tùy tâm. Cái gì mà thích rồi,
bao nhiêu mà chả được. Thứ hai, nếu người ta đi mang vàng đi hoặc không lọt, hoặc
không tiện. Còn một bức tranh, chỉ cuốn lại một cuộn, cầm tay, thật nhẹ nhàng.
Nếu nhà chức trách có để ý, có hỏi thì bảo là kỷ niệm của ông bà. Bức tranh ấy
đem ra ngoài, nếu gặp thời, họ sẽ bán gấp đôi gấp ba. Có lời đó, nhưng không phải
bức nào tao cũng bán. Mầy biết tao, tao là thằng vừa mua bán tranh lại vừa mê
tranh. Bán đi một bức là lòng tao bị mất đi một cái gì đó rất đau. Tao cứ nhớ,
cứ tương tư...
Trở lại bức tranh con mèo của Foujita, tôi hỏi :
- Sao mầy thích bức tranh con mèo của Foujita?
- Người không biết Foujita thì phải loại ra danh sách người
chơi tranh. Một cái núi cao của phương Đông. Tao biết Foujita từ lâu nhưng chuyến
đi vừa rồi, kể cũng tình cờ. Tên ông ta là Foujita Tsuguhara, tên thánh là Lê-
ô- na. Sinh năm 1886 tại Tô-ky-ô, mất ở Duy-rích- Thụy Sĩ năm 1968, vừa là họa
sĩ vừa điêu khắc gia Pháp gốc Nhật. Thành công và nổi danh tại Pa-ri từ năm
1915 với đường lối nghệ thuật vừa hiện thực vừa bay bổng thơ ca. Ông kết hợp
hai phương pháp ấy một cách nhuần nhuyễn và tài tình. Người ta gọi ông là
Pi-cát-xô của phương Đông. Nè, tao nói đây là nói theo tự điển La-rút đấy nhá!
Năm 1941, Foujita sang Đông Dương, mở một phòng triển lãm tranh tại Hà Nội cùng
với nhiều họa sĩ Nhật. Cuộc triển lãm đó có in ca-tơ-lô nhỏ để tặng cho khán giả.
Lạ là ông ghi tên trước cái dấu ấn 1 đồng bạc tiền Đông Dương, bìa sau của
ca-tơ-lô ông vẽ hình một con mèo bằng bút máy. Bìa ngoài ca-tơ-lô có in hình một
con mèo nhiều mầu của ông, bức đó nằm trong bảo tàng của Nhật. Với con mèo, người
ta thường nói "Trong như mắt mèo..." thể hiện cái chất trong của mắt
mèo qua nhiều trạng thái bằng chất liệu thủy mặc, trên thế gian này chẳng có mấy
ai? Do đó mà cho đến ngày giờ này, ngôi vị vua vẽ mèo không họa sĩ nào thay được.
- Sao không vẽ con gì dễ thương hơn mà vẽ con mèo?
- Đó chính là ẩn số, là bí quyết của tâm hồn người nghệ sĩ.
Tao cũng đã tự hỏi như mầy. Trong số thú vật nuôi trong nhà, so với con chó thì
nó không dễ thương bằng. Với con chó, mình đi đâu về, nó mừng, còn con mèo thì
nó dửng dưng. Và nó còn có nhiều cái đáng ghét nữa. Đến mùa động đực của nó, nó
cứ gào cứ ré lên trên mái nhà, đuổi bắt nhau, gầm gừ cấu xé giành gái, rồi kêu
rú lên nghe lạnh đến xương sống, gây náo động cả xóm. Nhưng khi rình mồi thì nó
nhẹ như cái bóng, nó như nhà y-ô-ga đã luyện đến mức thâm hậu, nó nén cả hơi thở,
nó dồn hết tinh lực vào bên trong, để cho con mồi tưởng như trên đời này không
có cái loài gọi là mèo, rồi bất thần nó phóng tới. Con mồi không kịp phản ứng,
hồn vía như rời khỏi xác. Bắt được mồi rồi, nó chưa vội ăn, nó còn vờn, còn giỡn,
thả rồi bắt, bắt rồi thả, nó vui trước sự sợ hãi của con mồi. Aác! Nhưng con
mèo của Foujita thì rất dễ thương. Ông đã vẽ nhiều con mèo chơi giỡn với nhau,
chơi giỡn với đồ vật, rất dễ thương. Dễ thương đến nỗi, con mèo đâu mà chẳng
có, thế mà cái giới sành tranh cả năm châu đều nháo nhác đi tìm mèo của
Foujita.
Có lẽ hồn nghệ sĩ của ông có sức làm mờ, làm mất đi cái xấu,
cái ác của mèo, và ông chỉ thấy cái đẹp và nâng cao cái đẹp ấy, đó chính là tâm
hồn của ông. Tâm hồn của người họa sĩ là tâm hồn của dân tộc. Tâm hồn của
Foujita là tâm hồn của phương Đông trong ngòi bút tài hoa của ông. Từ đó, đôi
lúc tao nghĩ, hình như người nghệ sĩ không chấp nhận cái xấu. Mà cái xấu và cái
đẹp lại song song tồn tại với con người. Và đó là bi kịch của người nghệ sĩ?
Chính vì con mèo của ông mà tao đi Hà Nội, sau khi đài BBC
báo cho biết năm nay là năm kỷ niệm trăm năm ngày sinh của ông. Ra Hà Nội tao
tìm ngay nhà của một họa sĩ mà ngày xưa đã kết bạn với Foujita, ông đã mất, chỉ
còn con cháu. Tao nhờ một đệ tử đưa đến chơi, không ngờ người con cả của họa sĩ
biết tao. Thế mới chết!
- Người ta biết mình là may, sao lại chết?
- Vậy là mầy chưa hiểu. Người ta thường biết tao là biết ở điểm
này: tao là thằng giàu, mua cái gì cũng cao, bán món gì cũng cao. Món nào tao hỏi
mua có nghĩa là món đó là đồ quý. Biết vậy tao phải đánh lạc hướng. Tao nói :
- Bữa nay nhân tiện ở Sài Gòn ra chơi, tôi muốn kiếm ít món đồ
cổ nho nhỏ như chén đĩa, ấm trà làm kỷ niệm.
Chủ nhà :
- Mấy món đó nhà em không có, chỉ có vài bức tranh.
- Về tranh thì tôi dốt, người tài bao nhiêu thì tranh của họ
khó hiểu bấy nhiêu.
- Tranh nhà này là tranh của bậc tài danh nhưng không khó hiểu.
Tao lại đánh trống lảng :
- Cậu biết đâu có chén đĩa cổ thì chỉ giùm.
- Nếu bác muốn tranh thì em đưa bác đi. Còn món ấy thì em chịu.
Tao làm bộ đứng dậy ra về rồi quay lại chợt nói :
- Về sài Gòn, tôi sẽ giới thiệu người chơi tranh với anh.
- Được thế thì tốt quá.
- Cho tôi xem qua để tôi biết mà giới thiệu.
- Vâng, vâng ạ!
Anh chủ nhà mừng rối rít. Nhìn ba bức tranh của Foujita trải
ra trên chiếc giường ngủ, tao muốn đứng tim. Đúng là tranh của Foujita rồi. Một
bức thiếu nữ Hà Nội, một bức cô con gái người Âu, bức thứ ba, đúng là bức các
nhà chơi tranh thế giới đang săn lùng, bức con mèo. Tao xem một cách thờ ơ,
cũng không hỏi giá cả.
- Sao không để làm kỷ niệm mà bán? - Tao hỏi.
- Chúng em đang cần tiền để chữa nhà bác ạ. Nhà phải lên tầng
mới đủ chỗ nằm.
Tao không nói gì thêm, không hứa hẹn điều gì. Sáng hôm sau,
tao tức tốc bay về Sài Gòn. Tao chọn một cô gái vốn là đệ tử của tao, một cô
gái không diêm dúa, không sang nhưng cũng không quê mùa, nhìn qua thấy là một
người biết làm ăn, không lanh lẹ, chân thật nhưng không khờ. Nữ đệ tử tao bay
ra Hà Nội ngay ngày hôm sau và đến nơi ngay trong buổi sáng.
Vào nhà, sau vài lời chào hỏi, cô nhìn lướt qua mấy bức tranh
treo ở nhà ngoài cũng của Nhật nhưng là những phiên bản và cũng tầm thường: cô
gái Nhật trong trà thất, cô gái Nhật cầm cây đàn. Cô hỏi mua, mua với giá gấp
đôi của chủ. Bán được mấy bức tranh vớ vẩn với giá hời, cả nhà đều vui vẻ. Vậy
là cả nhà sẵn sàng cho cô xem những bức tranh quý của Foujita. Người bán thì
tán, người mua thì chê, sau một hồi ngã giá, cô lấy hết cả ba với giá một cây
rưỡi.
Đời tao có bao giờ ra sân bay đón ai đâu. Thế mà tao đã ra tận
sân bay đón ba bức tranh của Foujita. Tính ra, kể cả sở hụi đi về và ăn ở, ba bức
của Foujita chỉ có hai cây. Tao sướng cả đời! Mầy đến tao tối nay.
* * * * *
Nhìn bức tranh cô gái Hà Nội của Foujita, tôi bỗng nhớ lại những
gương mặt các cô Hà Nội mà tôi quen hoặc tình cờ gặp trên những con đường thơ mộng
trong tiết thu. Tôi giật mình trước đôi mắt của cô gái người Âu, đôi mắt như
đang nhìn tôi, đôi mắt như gặp tôi lần đầu, đôi mắt như muốn dò hiểu tâm hồn
tôi. Lạ thay, từ đó, tôi nhớ đôi mắt qua nét vẽ của Foujita hơn đôi mắt thực của
người đời. Và bức thứ ba: con mèo. Con mèo với thế đứng đang nhìn lại. Tôi như
nghe tiếng "meo" từ trong nét vẽ của cái thế đứng con mèo. Đôi mắt của
con mèo vừa trong, vừa xanh, vừa lung linh. Đôi mắt lim dim như đang nghĩ ngợi
đến điều gì sâu xa lắm và bộ râu của nó như nhúc nhích với đôi môi chúm chím
như cười...
- Có đã không?
Tôi gật đầu.
Chừng vài tháng sau, những nhà săn tranh của Foujita rồi cũng
biết người chủ của những bức tranh quý ấy bây giờ là ai.
Một hôm, người bạn họa sĩ nổi tiếng ở đất Sài Gòn vốn cũng
quen với tôi, đến tìm tôi :
- Nghe nói anh quen với anh Nam?
- Bạn học từ nhỏ.
- Vậy là may cho tôi.
- Sao?
- Tôi nghe nói ông Nam có mấy bức tranh của Foujita?
- Có, tôi có xem.
- Vậy là đúng rồi. Tôi muốn nhờ anh giới thiệu tôi với ông
Nam.
- Để xem tranh?
- Không. Một người bạn ở Pháp có gởi thư về nhờ tôi tìm mua
cho một bức.
- Thì cứ đến thẳng ông ta.
- Không được, tánh ông ấy tôi biết. Nếu không có người báo
trước, ông ta hoặc không tiếp, hoặc lắc đầu bảo ông không biết ông Foujita là
ông nào...
Tôi đã giúp người họa sĩ mua tranh này gặp Nam. Nam bán bức
tranh thiếu nữ Hà Nội với giá hai cây. Còn bức cô gái người Âu, Nam gởi ra nước
ngoài, nghe nói để bán đấu giá. Còn bức con mèo, Nam vẫn giữ lại. Một hôm, Nam
đến tôi :
- Đêm qua tao nằm mơ một giấc mơ rất kỳ lạ. Có lẽ uống rượu
nhiều quá. Tao mơ thấy con mèo của Foujita từ trong tranh vọt ra. Tao giật mình
choàng dậy. Đúng là con mèo vừa vọt ra cửa sổ. Tưởng là nó thật.
Hốt hoảng, tao bật đèn, mở tủ. Bức tranh vẫn còn, tao vội
vàng trải ra. Con mèo bỗng hóa ra Foujita- Foujita chúm chím nhìn tao: cười.
Bài học tuổi thơ
Thằng con tôi 11 tuổi, học lớp sáu. Qua mùa thi chuyển cấp,
nhân một buổi chiều cho con đi chơi mát, nó kể... Đang hỏi nó về chuyện thi cử,
nó chợt hỏi lại tôi :
- Ba! Có bao giờ ba thấy có một bài luận văn nào không điểm
không ba? Con số không cô cho bự bằng quả trứng gà. Không phải cho bên lề, mà một
vòng tròn giữa trang giấy. Thiệt đó ba. Chuyện ngay trong lớp của con, chứ
không phải con nghe kể đâu.
Tôi chưa kịp hỏi, nó tiếp :
- Còn thua ba nữa đó, ba. Ít nhứt ba cũng được nửa điểm. Còn
thằng bạn con, con số không bự như quả trứng.
Thằng con tôi ngửa mặt cười, có lẽ nó thấy thú vị vì thời học
trò của ba nó ít nhứt cũng hơn được một đứa. Số là cách đây vài năm, có một nhà
xuất bản gởi đến các nhà văn nhà thơ quen biết trong cả nước một câu hỏi, tôi
còn nhớ đại ý, nhà văn nhà thơ thời thơ ấu học văn như thế nào, nhà xuất bản in
thành sách "Nhà văn học văn". Đọc qua, nghe các nhà văn nhà thơ kể, tất
nhiên là mỗi người có mỗi cuộc đời, mỗi người mỗi giọng văn, nhìn chung thì người
nào, lúc còn đi học, cũng có khiếu văn, giỏi văn. Nếu không thì lấy gì làm cơ sở
để sau này trở thành nhà văn? Rất lô-gích và rất tự nhiên. Duy chỉ có bài của
tôi là hơi khác, có gì như ngược lại. Tôi kể, hồi tôi học ở trường Trung học
Nguyễn văn Tố (1948 - 1950) tôi là một học sinh trung bình, về môn văn không đến
nỗi liệt vào loại kém, nhưng không có gì tỏ ra là người có khiếu văn chương. Và
có một lần, bài luận văn của tôi chỉ được có một điểm trên hai mươi (1/20). Đó
là kỷ niệm không quên trong đời học sinh của tôi, môn văn.
Khi con tôi đọc bài văn đó, con tôi hỏi :
- Sao bây giờ ba là nhà văn?
Và bạn bè tôi cũng hỏi như vậy. Tôi cũng đã tự lý giải về
mình, và lời giải cũng đã in vào sách rồi, xin không nhắc lại.
Tôi hỏi con tôi :
- Luận văn cô cho khó lắm hay sao mà bạn con bị không điểm.
- Luận văn cô cho "Trò hãy tả buổi làm việc ban đêm của
bố".
- Con được mấy điểm?
- Con được sáu điểm.
- Con tả ba như thế nào?
- Thì ba làm việc làm sao thì con tả vậy.
- Mấy đứa khác, bạn của con?
Thằng con tôi như chợt nhớ, nó liến thoắng :
- A! Có một thằng ba nó không hề làm việc ban đêm mà nó cũng
được sáu điểm đó ba.
- Đêm ba nó làm gì? Nó tả ba nó đi nhậu à?
- Dạ không phải. Ba nó làm việc ban ngày nhưng khi nó tả thì
nó tả ba nó làm việc ban đêm, ba hiểu chưa?
- Còn thằng bạn bị không điểm, nó tả như thế nào?
- Nó không tả gì hết, nó nộp giấy trắng cho cô.
- Sao vậy?
- Hôm trả bài lại cho lớp, cô gọi nó lên, cô giận lắm, ba. Cô
hét: "Sao trò không làm bài". Nó cúi đầu làm thinh. Tụi con ngồi dưới,
đứa nào cũng run cho nó.
- Nó là học trò loại "cá biệt" à?
- Không phải đâu ba, học trò tiên tiến đó ba.
- Sao nữa? Nó trả lời cô giáo như thế nào?
- Nó cứ làm thinh. Tức quá, cô mới quất cây thước xuống bàn
cái chát: "Sao trò không làm bài?" Tới lúc đó nó mới nói: "Thưa
cô, con không có ba". Nghe nó nói, hai con mắt của cô con mở tròn như hai
cái tô. Cô đứng sững như trời trồng vậy ba!
Tôi bỗng nhập vai cô giáo. Tôi thấy mình ngã qụy xuống trước
đứa học trò không có ba.
Sau đó cô và cả lớp mới biết được, em mồ côi cha vừa lọt lòng
mẹ. Ba em hy sinh trên chiến trường biên giới. Từ ấy, má em ở vậy, tần tảo nuôi
con...
Có người hỏi em: "Sao mày không tả ba của đứa
khác". Em không đáp, cúi đầu, hai giọt nước mắt chảy dài xuống đôi má.
Chuyện của đứa học trò bị bài văn không điểm đã để lại trong
tôi một nỗi đau. Em bị không điểm, nhưng với tôi, người viết văn là một bài học,
bài học trung thực. Sáng tạo không đồng nghĩa với bịa đặt.
Giữa những dòng chữ bịa đặt và trang giấy trắng, tôi xin để
trang giấy trắng trung thực trên bài viết.
Mùa thu, 1990
Con ma da
Khi tôi nhận được thiệp cưới của nó, thằng Danh bạn tôi, thì
đã muộn rồi. Muộn đến những ba tháng.
- Mẹ! Nếu mầy gởi trước một ngày thì dù có lời hàng tỉ tao
cũng bỏ - Tôi chửi thầm.
Và một bức thư vừa mới tới trước khi tôi về một vài ngày. Thư
có đoạn viết:
... Tao nghĩ, thiếu ai chứ không thể thiếu mầy. Vậy mà mầy không
về. Dù là ngày cưới (hạnh phúc, tất nhiên), vắng mầy tao vẫn thấy cô đơn... Sau
đó, những ngày trăng mật, tao quên tất cả, quên cả mầy nữa. Đừng giận! Nay thấy
nhớ bạn bè, nhớ mầy. Nhưng không trách vì biết mầy bận quá nhiều áp phe...
Mẹ, thương nó quá, lúc nào cũng thật. Quên thì nói quên! Chỉ
có vậy mà tôi cảm động và nhớ nó cồn cào. Nhớ những ngày cùng ký túc xá trường
đại học. Một thằng bạn mới nhìn tưởng là con nhà võ, mặt vuông mày đậm, mắt to,
da thịt cuồn cuộn, trông dữ dội nhưng lại mơ mộng, thích văn chương, hay triết
lý, viết nhật ký đều mỗi đêm và làm thơ khi bốc đồng. Bây giờ nó là hiệu trưởng
trường cấp ba của tỉnh. Cuộc đời của người thầy giáo, nó sống khiêm tốn, mực
thước và êm đềm. Không như tôi, người làm kinh tế, không tránh khỏi bước thăng
trầm, thường mệt mỏi vì đồng tiền. Ba mươi nó có vợ. Ba mươi, tôi vẫn cô đơn.
Đôi lúc tôi thèm cái cuộc đời của nó.
Hai đứa hẹn với nhau, hai đứa sẽ thay nhau làm phụ rể trong
ngày cưới. Thế mà tôi vắng mặt! Nhưng "dù muộn vẫn phải nói với
nhau...", tôi bỗng chợt nhớ đến cái giọng khẽ khàng của một cô gái thường
rỉ rả vào tai tôi trong một quán bia. Một cô gái tuổi hai mươi có mái tóc xõa
dài theo thân hình thon thả.
- Em tên Thu Hảo, tụi bạn ở đây gọi đùa là Thu Thảo. Anh muốn
gọi em tên gì cũng được - Ngày đầu cô tự giới thiệu.
Cả hai tên của cô, tôi đều không gọi. Nữ chiêu đãi viên trong
quán bia có mấy ai nói thật tên mình.
- Bữa nay em bắt số mấy?
- Bữa nay em hên lắm nghe - Giọng nhõng nhẽo - Đố anh số mấy?
- Số chín.
- Đúng. Đúng...
- Từ nay, anh gọi em là Chín được không?
- Hay, hay, cám ơn anh nhiều, từ nay em là Chín của anh...
Từ đó, mỗi lần có tiền và buồn, tôi đều đến với Chín, cùng
nhau một cốc bia trong phòng lạnh đèn mờ. Tôi vừa vuốt mái tóc cô khi nghe cô kể
chuyện đời, khi nghe cô hát. Cô kể, cô là con của một cán bộ quân đội, cấp tá.
Ba cô chuyển ngành làm kinh tế cho uỷ ban tỉnh. Trong đợt bể tín dụng, ba cô bị
kỷ luật, buộc phải về hưu với một số nợ phải trả. Tốt nghiệp lớp mười hai, cô
không thi đại học, mà trở về đưa vai gánh vác việc nhà.
- Đời em như cô Kiều.
Tôi cười. Nữ chiêu đãi viên trong các quán bia không ai không
có một cuộc đời bất hạnh. Thật giả làm sao biết được. Họ thêm thắt cuộc đời của
họ tài hơn cả nhà văn. Nghĩ vậy nhưng cũng cảm động, thế mới kỳ.
Tôi không yêu, nhưng như nghiện, nghiện cái phòng lạnh đèn mờ,
nghiện cái giọng hát khẽ khàng, nghiện mái tóc tỏa hương trầm... Rồi bỗng một
hôm, cô biến mất. Nghe cô chuyển đi quán khác, là chuyện thường tình của các
cô. Sài Gòn này bây giờ, bia ôm mọc lên như nấm, biết đâu mà tìm. Đọc thư của
thằng bạn loay hoay thế nào mà nhớ đến cô gái bia ôm, quái thật!
* * * * *
Tôi về thăm thằng Danh. Nhà Danh bên bờ sông Hậu. Nó đón tôi
từ đường cái. Hai đứa vừa đi vừa trò chuyện, quanh co theo con hẻm nhỏ ngoằn
ngoèo qua một xóm nhà lá lụp xụp, bỗng trước mắt tôi bừng lên một vòm trời mênh
mông trên dòng sông cũng mênh mông, rạt rào tiếng sóng, và gió như vui với mái
tóc tôi. Đám trẻ nhỏ đủ lứa tuổi đang nô đùa trên bến sông thật vui. Lòng cảm
thấy thư thái lạ. Trong đám trẻ có một đứa nhỏ trần truồng, con chim như trái ớt,
đập vào mắt tôi là cái vòng kiềng bằng sắt trong cái chân nhỏ lững chững của
nó.
- Thằng nhỏ dễ thương quá. Sao nó đeo cái kiềng sắt nặng quá
vậy Danh?
- Nhà nó vẫn noi.
- Noi là sao?
- Mày không biết à?
- Không.
- Dân thành phố tụi mày quên nhiều điều quá.
- Thôi nói đi, noi là sao?
- Ngày xưa, ông bố của thằng nhỏ đeo kiềng sắt đó chết trôi
trên dòng sông này. Người chết trôi thì biến thành con ma da. Con ma da thường
hay rút chân người tắm sông. Con cháu của người chết trôi như có một cái vết, gọi
là có huông cũng được, ở đây gọi là noi, rất dễ bị theo cái vết của ông bà, mầy
hiểu chưa?
- Biết rồi, nhưng tại sao cây kiềng sắt?
- Con ma da không ai thấy, nhưng theo ông bà thì con da thân
hình nó toàn là nhớt. Nó rút chân người ta bằng hai bàn tay nhớt của nó. Nhưng
nhớt thì kỵ với sắt. Nhớt gặp sắt thì nhớt tan. Vì nó có noi nên nó phải đeo
cây kiềng sắt là vậy. Hiểu chưa?
Qua câu chuyện của Danh, tôi như cảm nhận được biết bao điều
bí ẩn đang cuồn cuộn dưới dòng sông. Nhà của Danh, ngôi nhà sàn nhỏ dưới bóng
cây xoài, mái lá vàng, cửa nhìn ra sông, thật thơ mộng. Chưa kịp bước lên chiếc
cầu thang lên nhà, Danh đã gọi :
- Hiền, em ơi!
- Da... ạ...
- Ra đây tiếp khách.
Hiền, vợ Danh, xuất hiện trên sàn nhà, sau lan can.
Tôi chết đứng. Và Hiền, vợ của Danh, cũng chết đứng như tôi.
Mái tóc dài run rẩy trước ngọn gió từ những lượn sóng hất lên người nàng.
- Hiền chính là Thu Hảo, là Chín của tôi trong quán bia.
- Chào chị Hiền. - Tôi lấy lại bình tĩnh, lên tiếng trước.
- Dạ thưa anh, mời anh lên nhà!
Tôi theo Danh, gầm mặt bước lên cầu thang, bụng rối bời.
Khi tôi và Danh ngồi vào ghế thì Hiền bưng khay trà đặt lên
bàn.
- Đây là thằng Mạnh, bạn anh.
- Em nghe nhà em nhắc anh hoài, nay mới gặp. Anh ở chơi chừng
nào về?
- Ghé thăm anh chị một chút tôi về.
- Hả? - Thằng Danh như giật mình, nhổm lên - Về ngay à?
- Tối nay mình phải tiếp một phái đoàn kinh tế Singapo.
- Nếu vậy thì có gì cho tụi anh lai rai đi em.
- Tiếc quá, anh không ở chơi lâu. - Hiền nói, và chỉ một cái
nhìn, chúng tôi biết chúng tôi phải làm gì: đóng kịch.
Hiền biến vào nhà sau. Hai chúng tôi vừa uống trà vừa ôn lại
kỷ niệm. Sau một tuần trà, Hiền bưng ra chiếc mâm thau, trên mâm: một đĩa khô
sình, một đĩa xoài tượng xắt lát mỏng, một chai rượu đế, hai cái ly.
- Hai anh lai rai trước, em đi bắc nồi cơm.
Hiền lại biến. Tôi biết Hiền muốn tránh mặt nhưng Danh thì lại
muốn khoe vợ. Anh cứ giục Hiền nhanh tay, ra ngồi chơi. Rõ ràng là Danh muốn vợ
mình cùng nghe câu chuyện của hai đứa. Đợi đến lúc Hiền rảnh tay, Danh mới rót
rượu và gợi chuyện.
Nếu là trong quán bia thì Hiền cũng nâng ly, nhưng bây giờ
thì :
- Mời hai anh!
Trước mắt tôi bây giờ, Hiền không đánh phấn, không thoa son,
chân mày không vẽ hình cánh cung, mắt không đeo mi giả, cái vẻ đẹp sắc sảo giả
tạo không còn nữa, trở nên đúng là một người vợ hiền của ông giáo.
- Lai rai đi. Sài Gòn có đủ cao lương mỹ vị, nhưng không có
món này đâu.
Đúng như Danh nói, một miếng xoài tượng với một miếng khô
sình bắt mình phải uống cạn cả một ly, và uống thật sâu.
- Ôi! Đẹp quá! - Tôi reo lên và đưa tay chỉ một cánh buồm đỏ
thắm đang căng gió lướt qua giữa dòng sông.
Danh vừa nhìn theo cánh buồm vừa nói :
- Nhiều lúc mình nghĩ, nếu con sông này chỉ có tàu, có máy
đuôi tôm mà không có cánh buồm thì con sông này đối với mình chẳng còn gì là
thơ mộng, thật là vô vị, và nàng thơ sẽ bỏ chạy. Theo tao, nàng thơ đang sống
và đang căng đầy trong cánh buồm, nàng như nhắc nhở với mọi người, nàng vẫn
còn, và ta vẫn còn thơ.
Tôi liếc nhìn Hiền. Hiền nhìn chồng như đắm đuối. Hớp cạn
thêm một ly, Danh thao thao :
- Nhưng mầy nên nhớ, người căng buồm không phải vì nàng thơ,
mà vì không đủ tiền sắm máy. Cho nên nhiều khi tao nghĩ, cái nghèo là đất sống
của cái đẹp.
Tôi chỉ cười. Danh tiếp :
- Tao biết tao nghĩ vậy là lẩn thẩn, hoặc là tao chưa đủ lý,
chưa đủ lời để diễn đạt ý nghĩ của tao.
- Hai anh lai rai đi, nói hoài. - Hiền nhắc.
Không ngờ từ cái vẻ đẹp của cánh buồm loay hoay thế nào lại
chuyển sang chủ đề về đạo đức.
- Gần đây đọc báo của thành phố, tao thấy buồn?
- Vì cái gì?
- Cám ơn các nhà báo đã báo động về sự suy thoái của đạo đức,
nhất là nạn mãi dâm, mãi dâm công khai và mãi dâm trá hình của các quán bia ôm,
cà phê ôm, đủ thứ ôm, nghe đâu có cả thịt chó ôm nữa, hết nước.
Tôi chớp mắt nhìn Hiền. Hiền quay mặt nhìn ra sông.
- Thôi thì cũng tại cái nghèo.
- Không! - Danh dằn ly rượu, cơn giận như bốc lên, mặt anh bừng
đỏ - Tao không chấp nhận. Nếu nói vì nghèo mà ôm này ôm kia thì cả dân tộc này
làm nghề "ôm" hết. Trong đời có bao nhiêu cách sống, sao chọn bia ôm?
Nghèo thì mò cua bắt ốc!
Hiền bật đứng dậy :
- Em vô coi nồi cơm.
Tôi cầm ly rượu, nâng lên :
- Uống đi!
Hai đứa cùng cạn ly.
* * * * *
Một tuần sau, tôi nhận được thư của Danh báo tin: Hiền đã chết.
Chiều hôm đó trời chạng vạng. Vợ tao ra sông tắm. Đâu có ngờ,
Hiền không trở lên nữa. Cả xóm đổ xuống sông, mò lặn khắp nơi. Ba ngày sau, Hiền
mới nổi lên. Vợ tao chết vì con ma da. Nếu tao biết cho vợ tao đeo cây kiềng sắt
như đứa nhỏ có noi thì đâu đến nỗi...
Tôi gục đầu, đập tay xuống bàn, hét lên :
- Con ma da ấy là tao! Tao! Tao!
Dân chơi
Một đêm trăng rừng, sau một loạt bom nổ gần và sau tuần trà đậm,
cả hai chúng tôi đều không ngủ. Hai anh em, mỗi người mỗi chiếc võng đu đưa dưới
mái nhà lợp lá trung quân. Đêm rừng đã yên ắng, nhưng tiếng bom và tiếng rít của
phản lực vẫn chưa ra khỏi tâm trí tôi. Tôi đang nghĩ đến cái chết và cái sống của
thời chiến tranh. Ấy là đêm đầu mùa mưa năm 1966, và tôi là người ở Hà Nội đã
vượt Trường Sơn về đến khu rừng này đã tròn một tháng.
Cơ quan văn nghệ R. cho tôi ở chung với một nhà văn mà anh em
gọi là Tư già. Không hiểu anh đang nghĩ gì mà hỏi tôi thức hay ngủ rồi từ bên
võng, anh nói sang :
- Tôi nghĩ trong đời người muốn đạt được danh hiệu gì cũng
khó, cũng gian nan. Ví dụ, muốn đạt được danh hiệu anh hùng phải dũng cảm, phải
mưu lược, và phải trả giá bằng sinh mạng. Muốn đạt được danh hiệu là nghệ sĩ
nhân dân hay ưu tú phải có tài năng, được quần chúng ngưỡng mộ, vân vân... Đó
là những danh hiệu khác. Đời người, ít hay nhiều, ai cũng chơi nhưng đạt được
danh hiệu "Dân chơi" không phải dễ đâu.
Anh Tư nhà văn, anh chỉ hơn 40 mà sao ai cũng gọi anh Tư già?
Ở chung nhà với anh một tuần, tôi đoán chừng, một là trong cơ quan văn nghệ R
ai cũng trẻ, hai là anh lúc nào cũng thong thả, thong thả đến chậm chạp, nghe
có tiếng máy bay, ai cũng ào một cái là xuống hầm, còn anh, anh cứ đi từng bước
chậm chạp, thứ ba là trong các buổi nhậu anh em trẻ, ai cũng "dô"
trăm phần trăm, còn anh, anh từ từ nâng ly lên, nói chậm rãi: "Anh Tư già
rồi, tha cho anh Tư, để cho thằng già lai rai". Điều thứ tư là miệng anh
móm, móm xọm như ông già, bù lại cái miệng móm của anh lại có duyên.
Tôi gọi anh bằng anh, anh gọi tôi bằng chú, chú vai em, thân
mật hơn, anh gọi tôi bằng chú mày, tự xưng là mình.
- Chú mày có một thằng bạn học đạt được danh hiệu đó. Biết ai
không?
- Ai?
- Thằng Nguyễn Khắc Trung.
- Nhớ rồi! Thân lắm!
- Chú mày cho mình nghe một chi tiết nào đó chứng tỏ đúng là
bạn thân thì mình sẽ kể tiếp.
Hồi học cùng trường, có con nhỏ cùng lớp cùng tuổi, đẹp nhứt
tên là Thùy. Thằng Khắc Trung mê lắm. Mà không chỉ một mình nó mà cả lớp đều
mê. Em Thuỳ mà cười với thằng nào, thằng đó như lên mây, vui cả tuần cả tháng.
Một hôm, tôi thấy nó buồn. Hỏi tại sao, nó bảo, trước khi nói nó chửi thề, và
chưa bao giờ tôi thấy cái mặt nó đau khổ đến vậy: "Nó gọi tôi bằng
em".
Anh nhà văn già cười ha há, vừa cười vừa chòi đạp trên võng,
khiến hai cây cột lắc rung lên, cái võng của tôi cũng rung.
- Chi tiết đó chứng tỏ là bạn. Thằng Khắc Trung của chú mày nổi
lên giữa đất Sài Gòn năm 1958, sau khi nó ra tù.
Khắc Trung là nhà báo, nhưng chẳng có một bài báo nào đáng nhớ,
chỉ thấy ngày nào Khắc Trung áo quần cũng bảnh bao, cầm tay lái chiếc Wolsvagen
rong rong trên đường phố. Ăn sáng khi thì nhà hàng Thanh Thế, khi Pagode, khi
Givral, hoặc Brodart, những nơi đó như câu lạc bộ của giới báo chí Sài Gòn. Cơm
trưa, cơm chiều, cơm Tàu rong xe vào Chợ Lớn, cơm Tây ra Sài Gòn, cơm ta thì ra
Cầu Bông, về Gia Định, tối thì nhẩy đầm trong các bar đường Tự Do. Lang bạt,
không vợ không con, khi bắt bồ với vũ nữ, khi với ca sĩ, nổi tiếng nhứt là bắt
bồ với một cô diễn viên múa người Đại Hàn. Thật là hết biết!
Ông bạn già kể về thằng bạn học của tôi, giọng trìu mến cùng
với nỗi nhớ đất Sài Gòn.
- Chú mày có biết tại sao mình kể chuyện thằng Khắc Trung với
chú mày không?
- Anh nhớ?
- Nhớ cái cóc khô! Nếu nói nhớ thì mình nhớ một người đàn bà.
Nhưng mình kể về nó là vì chú mày có thể gặp lại nó.
- Thằng Khắc Trung ở Sài Gòn, sao tôi gặp được?
Anh Tư già bật lưng lên khỏi võng, đưa tay chỉ về phía tôi :
- Giấu phải không?
Tôi đã được tổ chức phân công vào công tác nội thành Sài Gòn,
là chuyện bí mật sao anh lại biết? Anh có biết cũng chẳng sao, tôi bèn thú nhận,
là tôi đang chờ liên lạc để xuống Củ Chi, rồi từ Củ Chi vọt vào nội thành.
Anh Tư già tiếp :
- Mình kể về thằng Khắc Trung để chú mày nay mai ra Sài Gòn
đi tìm nó. Nếu ngồi bên tay lái của nó như một thằng bạn, coi như an toàn.
- Vào nội thành là chuyện tuyệt mật, sao anh biết, anh Tư?
Anh Tư già lại bật lưng lên võng, cười ha há, một giọng cười
đắc chí.
- Đã là nhà văn thì phải chơi chi tiết, mình phát hiện chuyện
chú mày cũng từ một chi tiết, mình thấy chú mày đi chụp hình.
Đến lúc tôi bật lên võng lại cười, cười cái giọng của anh.
- Thằng nào mà không có một lần đi chụp hình?
- Ấy vậy! Chú mày lại dỡn với tôi rồi. Nên nhớ người chụp
hình là ông Tỷ, chú biết chưa? Mỗi lần ông Tỷ từ đặc khu Sài Gòn về R là một lần
có một người đặc phái vào nội thành Sài Gòn. Ông Tỷ làm căn cước giả cho mình,
giả như thật. Nếu chú mày không được phái vào nội thành thì mắc mớ gì ổng lên R
để chụp hình?
Tôi là người tập kết ra Hà Nội từ năm 54 vừa mới trở về còn rất
bỡ ngỡ nhiều điều chưa được biết. Anh Tư già lại tiếp :
- Mình cũng có một căn cước giả do ổng cấp. Thằng chả có cặp
mắt rất lạ, cặp mắt tinh đời, nói theo nghĩa dân gian là cặp mắt nhà coi tướng.
Sau khi mình nhìn qua ống kính, bấm rắc một cái, hỏi qua lai lịch của mình thì
chính ông ta ghi cho mình một cái nghề trong thẻ căn cước. Lần đó ổng hỏi mình:
"Anh muốn đề nghề gì?" Mình đáp: "Tôi đang viết báo". Ổng lắc
đầu, báo chí bây giờ bọn nó đang theo dõi, cái tướng của ông dong dỏng, quần
tây đen, áo sơ mi trắng, đeo kính trắng, tôi để cho ông là: "Nhà
giáo" nhưng không phải là nhà giáo chung chung, nếu bọn nó xét ông, hỏi
ông, ông dạy ở trường nào, cấp mấy, ông sẽ ấm ớ, trước sau gì ông cũng ăn còng
số 8, nên tôi để cho ông là nhà giáo tư gia, là gia sư nhưng chưa đủ, nếu nó hỏi
ông dạy môn gì chớ nói là dạy môn toán, cái mặt ông thì phải dạy văn, cái môn
văn là cái môn tào lao, ai cũng nói được. Mình nghe ông Tỷ bảo ban, mình phục ổng
sát đất! Có một chuyện rất vui, một đồng chí cấp cao bị ông Tỷ cho vào tờ căn
cước "nghề ở đợ", đồng chí cao cấp đỏ mặt tía tai: "Sao lại là
nghề ở đợ". Ông Tỷ tỉnh như không: "Cái mặt của đồng chí như vậy thì
đề như vậy, nếu đồng chí muốn đề nghề gì tôi sẽ chấp hành nhưng nếu đồng chí bị
bắt thì đừng trách tôi". Nói đến đó anh Tư già cười ha há rồi hỏi tôi :
- Ông Tỷ cho ông nghề gì?
Tôi kể, ông Tỷ nhìn tôi rất lâu mà không chọn được nghề nào.
Cái mặt của ông trơn quá, ông Tỷ than rồi hỏi cha mẹ tôi làm nghề gì. Thợ bạc,
tôi đáp. Lập tức ông xòe tay cho tôi xem chiếc cà rá đeo ngón giữa, hỏi, vàng
gì? - Vàng tây. Tôi đáp không cần suy nghĩ. Sao biết? Nếu trăm phần trăm thì
không bóng. Ông Tỷ cười, đúng, cái gì không thiệt trăm phần trăm thì làm bóng,
thế là ông Tỷ cho tôi một cái nghề "buôn bán", dặn thêm là buôn bán
vàng...
- Nè, gần mười năm hoạt động trong nội thành, mình nghiệm thấy
trong một khía cạnh nào đó của tâm lý, thằng Mỹ, thằng ngụy mắc một sai lầm lớn,
khi nghĩ đến Việt cộng chúng nó thường nghĩ đến những thằng nghèo, thằng dốt,
nó ít nghĩ đến người có học, người giàu, dân chơi thì hầu như nó không bao giờ
nghĩ tới. Thằng Khắc Trung với cái lai lịch của gia đình nó, nó phải bị nhốt ở
ngoài Côn Đảo. Nhưng nó là dân chơi, bọn nó không để ý. Nếu chú mày, tao nhắc lại
nếu ngồi bên tay lái của chiếc xe dân chơi thì cầm chắc "muôn năm".
Và chỉ một ngày, chú mày có thể nhìn bao quát được cả Sài Gòn.
- Làm sao tìm được nó?
- Cứ đến mấy tòa soạn báo, hỏi, ai mà không biết.
Sở dĩ tôi còn ở lại rừng là phải chờ giao liên. Giao liên từ
Củ Chi đưa cán bộ lên R, từ R đón cán bộ về Củ Chi, một tuần mới có một chuyến.
Từ Hà Nội trở về, tôi đề đạt nguyện vọng lên cấp trên xin được
về chiến trường Đồng Tháp Mười, đó là chiến trường xưa của tôi thời chống Pháp.
Nghĩ đến Đồng Tháp, tôi nghĩ đến cánh đồng mênh mông, những cô gái xõa tóc, hoặc
mái chèo trên những con kinh dài hun hút.
Khi tôi nhận được quyết định về nội thành, tôi rất băn khoăn.
Hai chiến trường, mỗi nơi có mỗi đặc điểm riêng. Vào nội thành Sài Gòn, sẽ
không bị chết vì bom đạn, không đói khát. Gặp một anh ở nội thành vào, tôi hỏi:
buổi sáng ăn gì? Anh đáp: bình thường thôi, hủ tíu, cà phê, bánh bao, giò cháo
quảy, cơm nếp lạp xườn, thích gì ăn nấy, nghe mà phát thèm. Nhưng lại không thoải
mái, phải đối phó từng giờ từng phút, phải đóng một vai kịch nào đó, đóng kịch
cả trong giấc ngủ, hễ sơ sẩy thì bị bắt, bị tra tấn, bị tù đày. Tôi không hình
dung nổi biết mình có dũng cảm khí tiết hay không. Nghĩ đến cảnh tượng ấy, tôi
sợ, nếu về chiến trường Đồng Tháp Mười, sẽ gian khổ, chẳng biết lúc nào bị chết
vì bom đạn, nhưng lại được tự do thoải mái. Chiến trường này hợp với tôi hơn
nhưng biết sao, mệnh lệnh thì phải chấp hành. Tìm lý do từ chối, sẽ bị mang tiếng
thằng chạy xịt!
May sao, cái ngày có giao liên là ngày tôi lên cơn sốt, sốt
cao, sốt mê man, ở rừng chết vì sốt ác tính là chuyện thường. Anh em phải
khiêng tôi vào bệnh viện. Trong những ngày tôi nằm bệnh viện, ban lãnh đạo Củ
Chi có công văn gởi về R đại ý rằng, Củ Chi đang chống càn do đó không nhận một
cán bộ nào nữa.
Dứt sốt tôi về cơ quan văn nghệ R với một quyết định mới, về
chiến trường Đồng Tháp Mười với nhiệm vụ: ký giả chiến trường.
Tôi mừng rơn. Tôi hình dung, tôi sẽ đứng bên bờ sông Cửu
Long, con sông quê hương mà tôi đã xa cách hơn 20 năm. Tôi hình dung tôi sẽ gặp
lại cha mẹ tôi, anh em tôi cùng với những người thân mà tôi hằng mong nhớ. Tôi
khoe với anh Tư gia, anh cười, cái miệng móm xọm :
- Tôi biết lúc ông còn trong bệnh viện, tôi mừng cho tương
lai văn học của chú mày. Mình không hình dung được chú mày vào nội thành, chú
mày sẽ viết được cái gì? Nếu suôn sẻ, chú mày có thể vào cấp ủy, nhưng văn
chương thì thật khó nói. Còn về chiến trường Đồng Tháp thì chú mày sẽ có ít nhứt
một tập ký về chiến trường. Thôi! Nói chuyện khác, sau một trận sốt, người ta
thèm ăn một món gì đó, mình hỏi, bây giờ chú mình thèm ăn cái món gì?
Nghe anh hỏi, tôi chợt nhớ và kể - Hồi ở miền Bắc, năm 1958,
tôi đi thực tế ở Ba Vì, theo một đơn vị Nam Bộ ở nông trường nuôi bò.
Dưới chân núi Ba Vì, tôi bị sốt. Dứt cơn sốt, anh chàng trung
đội trưởng tên Tốt, người như tên, thật tốt bụng, hỏi tôi, anh thèm gì, tôi
nói, thịt heo luộc với một xị đế. Tốt không nói gì, bật dậy "xách
đít" đi. Tôi nghĩ là Tốt hỏi cho vui và đi vì một việc gì đó của đơn vị.
Không ngờ, chiều về, anh mang đến cho tôi một tô thịt luộc, một nắm rau thơm với
một lít đế. Tốt cười thỏa mãn sau một thành công :
- Rất may, chiều nay đơn vị làm heo, tôi xắn một ký, nhúng vô
chảo nước sôi nấu cơm, thôi nhậu đi!
Tôi và Tốt ngồi nhậu cho đến mặt trời lặn. Không hiểu sao mà
tôi cắt luôn cơn sốt. Còn bây giờ thì tôi thèm.
- Thèm gì?
- Thèm cái mà ở rừng không thể có.
- Cứ nói xem?
- Chuối chiên!
Anh Tư già mắt liếc xéo tôi với nụ cười nửa môi.
Buổi trưa hôm sau, tôi đang lơ mơ ngủ trên võng dưới bóng cây
rừng. Nghe có ai lay đầu võng tôi :
- Dậy! Dậy!
Tôi mở mắt :
- Anh Tư già.
Từ chiếc võng của tôi qua chiếc võng của anh không quá ba thước
được che qua một hàng cây rừng. Chiếc võng dù của anh treo giữa hai cây tai
nghé gần khoảng trống nhìn ra trảng.
Dưới võng của anh, trên một tờ báo trải rộng dưới mặt cỏ, tôi
thấy có bốn miếng chuối chiên đặt dài trên tờ giấy rất trân trọng. Như một giấc
mơ anh bảo:
- Mỗi thằng hai miếng!
Miếng chuối chiên bằng hai ngón tay, bao bên ngoài là một lớp
bột vàng. Nhưng ở rừng làm gì có bột. Sau này, tôi được biết, anh xay bột bằng
cách bỏ từng nhúm gạo vào lon sữa bò, rồi dùng cán cây "boa nha" đâm
từng nhúm đến nát, rồi lại đâm nhúm khác cho đến khi đủ bột cho bốn miếng chuối.
- Miếng đầu chú mày ăn ngấu nghiến cho đã thèm, miếng sau thì
nhấm nháp từng miếng cho đã.
Ăn chuối chiên, uống trà củ măng trong một buổi trưa rừng, bữa
chuối chiên nhớ cả một đời người.
Nếu vào nội thành, gặp lại thằng bạn dân chơi chẳng biết có
vui không, chớ ở đây, chơi với anh Tư già thật thích thú.
* * * * *
Anh về Bến Tre, tôi ở Đồng Tháp, tôi với anh sẽ đi với nhau một
tuyến đường, bốn ngày bốn đêm đường bộ, một đoạn đường sông, qua bốn trạm. Đi với
anh thật yên tâm, thứ nhứt là bữa ăn, trong cái bòng mang trên lưng của anh
không chỉ có quần áo mà như có cả một cái bếp lưu động. Cái "bếp" có
đủ gia vị: hành khô, ớt khô, tiêu tỏi muối đường, bột ngọt và nước mắm khô. Tôi
chỉ làm một việc đơn giản, đi quơ củi, nấu cơm bằng cái "hăng gô"
treo trên cái bếp lửa dã chiến. Còn anh, anh đi vào rừng hái rau, rau cải trời,
rau càng cua, lá bứa và đủ thứ rau rừng. Ngoài cây "boa nha" trong
bòng của anh còn có con dao thái thịt bằng hai ngón tay, lại còn có một hộp lưỡi
câu, lưỡi câu nhiều cỡ khác nhau, một sợi nhợ dài. Hôm nào đến trạm sớm chưa
đúng bữa ăn thì anh chặt một nhánh cây rừng, chuốt thành cần câu, anh đi ra suối
hoặc một con rạch hay con sông của đất trạm. Anh đi không lâu, muộn nhứt là một
tiếng, anh thường trở về với một xâu cá rô mè.
Một bữa cơm chiến trường thật ngon lành.
* * * * *
Đến một cái trạm tôi với anh sẽ chia tay.
Chúng tôi đặt nó là một cái trạm "nghỉ ngơi". Không
như những trạm khác, ngủ lại một đêm, mờ sáng lại phải đeo bòng, lại đi. Còn
cái trạm này chúng tôi được nghỉ lại một ngày, ngủ thêm một đêm.
Trạm giao liên này đóng bên bờ con sông trong một xóm nhà lưa
thưa, nằm giữa một vạt tràm xơ xác. Tháng sáu âm lịch, nhằm những ngày con nước
quay, dòng sông ngầu đục chất phù sa, ào ạt và mỗi lúc dâng đầy. Con sông tựa
như con rắn uốn mình, ào ạt suốt đêm ngày. Để thử sức mình, tôi trầm mình, lặn
một hơi thì đến bên kia bờ, bên kia bờ là đất nước Cămpuchia. Khi tôi trở về,
anh Tư già khen chỉ cần hai hơi mà chú mày đụng được hai bờ biên giới của hai đất
nước, chú mày trở về chiến trường Đồng Tháp là đúng.
Ở trạm "nghỉ ngơi" này có người môi giới cho khách
đi đường đổi tiền Sài Gòn ra tiền "ria" của Campuchia, người môi giới
ấy không ai khác là các cô cậu giao liên, rồi cũng chính các cô cậu ấy bơi qua
sông nhờ các cô gái Miên ra chợ mua đủ thứ thức ăn theo yêu cầu của khách.
Người nhận đổi tiền và mua giúp thức ăn cho chúng tôi là cô
giao liên tuổi mười tám đôi mươi. Những cô giao liên tôi thường gặp đều là cô
gái nông thôn, nước da bánh mật, rám nắng, gương mặt cô nào cũng rắn rỏi. Còn
cô giao liên ở trạm "nghỉ ngơi" này thì như một cô nữ sinh, mái tóc
xõa ngang vai, nước da trắng hồng, môi đỏ như son, cô mặc chiếc áo bà ba màu
xanh lá cây, quần ny lông đen ống túm, choàng chiếc khăn rằn tưởng như cô văn
công đóng vai giao liên trên sân khấu.
Trạm nào cũng có thể bị đói, còn cái trạm "nghỉ
ngơi" này thì phủ phê. Cũng giao liên nhưng cô cậu nào về được cái trạm
coi như số đỏ. Nhìn cô giao liên đang đếm lại tiền, tôi nghĩ và hỏi :
- Em tên gì?
- Bông! - Cô ngước đôi mắt long lanh nhìn tôi.
Tôi trêu :
- Bông cũng là hoa, sao không đặt tên là Hoa cho nó đẹp.
Anh Tư già ngồi trên võng liếc xéo qua tôi. Cô Bông đáp :
- Cha mẹ đặt sao để vậy, với lại em không thích tên Hoa.
- Sao lại không thích tên Hoa?
- Tên Hoa nhiều nghĩa lắm. Người có tài gọi là tài hoa, không
ai gọi là tài bông, rồi lại hào hoa phong nhã, cũng không ai nói hào bông phong
nhã, còn em Bông là Bông!
Anh Tư già nhìn xéo tôi và như anh đứng về phía cô gái anh cười
chọc tôi. Khi cô gái đi rồi, anh lại nhìn xéo với nụ cười hóm hỉnh :
- Thua một bàn trông thấy!
Buổi sáng hôm đó, hai chúng tôi ăn thịt quay bánh hỏi. Chín
năm ở Hà Nội, thịt heo quay ở chợ nào cũng có, nhưng không thấy đâu có bánh hỏi.
Hơn ba tháng vượt Trường Sơn, tôi đang còn đói, món gì mà chẳng ngon, có dè đâu
lại được cái món ngon tuyệt vời này với rượu đế. Đã vậy, sau khi ăn lại còn uống
trà "củ măng" với bánh in sầu riêng. Tôi "chíp" cái bánh in
sầu riêng này, bèn gửi mua thêm một chục phong dành ăn trừ cơm.
Cơm nước no nê hai chúng tôi mỗi người mỗi võng dưới bóng cây
trâm bầu. Tôi đang lim dim thì anh đánh thức bằng một cái quèo nhẹ bên vai tôi:
"trực thăng", anh nói rất nhẹ nhưng tôi bật dậy ngay, đúng là có tiếng
trực thăng đâu đó xa lắm, cả hai đều nhìn xuống cái hầm đầu võng. Tiếng trực
thăng mỗi lúc mỗi rõ, rồi tiếng hét hốt hoảng: "Trực thăng! Trực
thăng!" Tiếng hét hốt hoảng của ai đó trong đoàn khách, khiến tất cả đều bật
dậy rời võng ngồi sẵn bên nắp hầm, nhưng thấy anh Tư già vẫn nằm trên võng phì
phà khói thuốc. Tôi bắt chước anh, cũng đốt một điếu thuốc, cũng hút trong tiếng
lạch bạch của trực thăng, nhưng mỗi người hút mỗi cách khác nhau, điếu thuốc
trên miệng anh cháy đều, khói cũng nhẹ nhàng, còn điếu thuốc trên miệng tôi thì
ngùn ngụt, khói thuốc từ cửa miệng tôi cũng ngùn ngụt như ống khói.
Khi tiếng trực thăng rộ lên hung hăng giận dữ, anh bật dậy với
lấy cái bình toong đựng rượu rót vào nắp bình toong đưa cho tôi với một cái
nháy mắt: "Hớp một miếng". Rồi anh cũng hớp một miếng: "Mình phải
lấy rượu làm nư!" (Sau này, tôi lại có một thói quen giống anh, hễ nghe tiếng
trực thăng đến gần là tôi uống một ly, có người hỏi tôi, tôi đáp, lấy trực
thăng làm mồi, nói tắt là nhậu trực thăng).
Ba chiếc trực thăng bay dọc theo con sông biên giới, nghiêng
cánh liếc qua cái trạm, rồi đảo một vòng, bay thẳng theo con đường mòn dẫn vào
cánh đồng sâu, "sút" ba cái hỏa tiễn, coi như xong nhiệm vụ rồi mất
hút.
Bầu trời trở nên yên lặng, yên lặng hơn cả trực thăng khuấy động,
chúng tôi trở lên võng. Vừa no vừa ngà ngà say, thần kinh vừa mệt mỏi lại có ngọn
gió đông, tôi đánh một giấc ngon lành. Khi tôi choàng tỉnh thì đã về chiều, trời
lại sa mưa. Buồn lạ! Nhìn qua, tôi thấy anh đang đọc sách tiếng Pháp, anh xếp
sách :
- Dậy rồi hả? Chiều nay tôi đãi chú mày một món nhậu của nông
dân.
- Món gì?
- Nhái.
- Ở đây có bán?
- Không! Mình đi bắt. Chú lo lửa củi.
Nói vậy rồi anh rời khỏi võng, trong tay một cái túi may bằng
áo mưa màu xanh đã cũ nát, bước ra đám cỏ dưới cơn mưa lất phất, rồi anh giả dọng
nhái, anh giả giọng thế nào mà nhái từ đâu trong đám cỏ, như thót bụng dọt qua
ngọn cỏ tới anh, anh đưa tay chớp gọn, nhốt vào bọc ni lông, rồi lại giả giọng
và nhái lại bươn bả nhảy lại dưới chân anh. Tôi không thể hiểu được và thấy như
lạc vào một miền đất xa lạ nào đó cùng với những cư dân có bùa chú.
- Củi lửa xong chưa?
Đến lúc ấy tôi mới bắt đầu nhen ngọn lửa. Tôi đã bảo anh là một
người khéo tay. Anh chặt mấy nhánh trâm bầu nhỏ, tuốt da đặt lên bếp lửa. Có
ngay một chén muối tiêu chanh và một chút bột ngọt. Anh nướng từng con, chín
con nào ăn con nấy, anh cầm nguyên con nhái đưa vào miệng tôi :
- Đừng cắn làm đôi hay làm ba, phải nhai nguyên con, nguyên
con mới đủ một hớp rượu.
Những cọng xương nhỏ cùng với thịt da của nó rào rạo dưới hàm
răng trong của tôi, ôi sao mà ngon mà ngọt mà thơm lạ, lại một hớp rượu nữa,
tuyệt! Hết con này tới con khác đang ngon miệng, tôi chợt hỏi :
- Anh Tư?
- Gì?
- Tôi thấy anh em đi vào cuộc chiến tranh này, một cuộc chiến
tranh quá khốc liệt, ai cũng có một tâm trạng nào đó, có lúc sơ hở có lúc cuống
cuồng, còn anh, tôi thấy sao anh cứ nhàn nhã như đi chơi vậy?
Hình như câu hỏi vô tình của tôi đã gãi đúng chỗ ngứa của
anh, anh bật cười ha hả, cười đến sặc cả rượu, rồi anh nhìn tôi, hai con mắt cười
long lanh :
- Đi làm cách mạng mà nói đi chơi là không nghiêm túc, có thể
bị phê bình là không đúng lập trường. Nhưng (anh nhấn mạnh) nghĩ theo một cái
nghĩa nào đó, nói là chơi cũng được.
Mình kể cho chú mày nghe cái tiếng "chơi". Hồi ở
Sài Gòn trước khi vào R mình có một bữa tiệc nhỏ chia tay với bạn bè. Bạn bè hỏi
mình đi đâu? Không thể nói vào khu, không thể nói đi làm cách mạng, cũng không
thể nói là đi đánh Mỹ, tự dưng mình buột miệng: "Đi chơi!". Vậy là từ
đó cái tiếng "chơi" cứ đeo đuổi theo mình. Càng gẫm càng thấy ý
nghĩa, đây là một cuộc chơi lớn. Miền Bắc, thế nào mình không rõ chớ trong Nam
mình, hồi nhỏ, hễ rủ nhau đánh lộn thì hỏi: "Chơi không?" Đối phương
đáp "Chơi". Thế là cả hai bên nhào vô "quánh". Cuộc này
mình chơi với thằng Mỹ. Đã dám chơi thì không sợ. Bom đạn cứ bom đạn, cần nhậu
thì nổi lửa. Nó bay trên đầu mình nổi lửa mà không có khói thì nó làm gì? Cũng
coi như "chơi" lại với nó.
Tôi nhen thêm lửa, anh móc thêm hai con nhái trong bọc nhựa đặt
lên bếp, anh vừa trở con mồi vừa nói :
- Có lúc, anh em thấy mình như nhởn nhơ, có người đặt cho
mình biệt hiệu: Tư chơi thay cho Tư già. Mình từ chối. Già thì đã đến,
"chơi" thì chưa đạt lắm.
Chiều hôm sau, đến chuyến hai đứa phải lên đường cùng với một
đoàn khách hơn hai mươi người và người dẫn đường là cô Bông. Trời nhá nhem tối,
đoàn người xếp hàng một, bòng đeo lên vai, tôi với anh Tư già đứng cuối cùng.
Anh lại đưa tay khều vai tôi :
- Có nên ở lại chơi thêm hai hôm nữa không?
Thật lòng, tôi muốn lắm, nhưng rất ngại.
- Tôi thấy chú mày chưa lại sức, ở lại "chơi" bồi
dưỡng thêm vài ngày nữa.
Vừa lúc đó có một đoàn cán bộ trên R về, đoàn này sẽ nghỉ lại
một chuyến và sẽ tiếp thu chỗ ăn ở của đoàn chúng tôi.
- Anh Tư! - Có ai đó gọi anh.
Một thanh niên trạc tuổi hai mươi lăm, xô tới ôm vai anh. Anh
quay lại :
- Bá! Mới tới?
- Dạ em mới tới.
- Hay lắm! Nghỉ lại một chuyến, ở lại "chơi" với tụi
này.
Bá lắc đầu :
- Đúng ra thì phải nghỉ lại một chuyến, nhưng em tranh thủ đi
ngay.
- Làm gì mà vội vậy?
Bá cười đỏ mặt.
- À biết rồi, đi đi...
Bá liền cắm đầu chạy theo đoàn khách đã đi một quãng xa.
Hai chúng tôi trở lại chỗ cũ mở bòng, mắc võng che tăng.
Lên võng, phì phà điếu thuốc, tôi hỏi :
- Bá nào mà vội quá vậy anh Tư?
- Em út của thằng bạn mình hồi chín năm. Nó mới vừa lấy vợ
thì được điều về R dự khóa dân quân một năm để trở về làm huyện đội phó. Nó sốt
ruột là phải.
- Bá về tới đâu?
- Cà Mau.
- Đi mất bao nhiêu ngày?
- Nếu suôn sẻ thì chuyến nào cũng phải mất hơn một tháng.
Tôi chặc lưỡi. Anh tiếp :
- Ấy là chuyện thường. Có đoàn đi chỉ cần một tuần, nhưng nếu
gặp giặc càn có khi mất đến cả mấy tháng. Chiến tranh thì đâu có gì bình thường.
Cái đêm ấy vì no bụng, no cả mắt hay là vì không ngủ được hai
chúng tôi cứ trở mình trên chiếc võng, như có một tín hiệu bí ẩn nào đó của chiến
tranh, lòng thấy nao nao. Thế là hai anh em lại uống rượu dưới tầm bay của chiếc
"ĐaKôta", nhìn pháo sáng ma quái và nghe tiếng bom rền. Một loạt bom
rền nghe rất xa, nhưng hơi bom lại dội về lao xao qua rặng trâm bầu. Cũng với
cái giọng nhẹ nhàng, anh bảo :
- Bê năm hai nghe rền rền vậy là xa lắm, khi nó nổ gần mình
thì cứ nghe ùn ụt, mặt đất chao đi như đưa võng. Buồn quá hả! Thôi! Ở Hà Nội có
gì vui kể nghe chơi.
Thế là tôi kể chuyện Hà Nội, chuyện này qua chuyện khác, thủ
thỉ mòn mỏi rồi thiếp đi lúc nào không hay biết.
Có ai đập trên đầu võng tôi như báo động, tôi bật dậy, anh Tư
già cũng bật dậy, trời sáng bảch.
Trước mắt chúng tôi là anh trạm trưởng quần đen, áo đen, khăn
rằn quàng cổ, mặt tối sầm :
- Hai đồng chí chưa đi hả?
Có thể bị quở trách gì đây, anh Tư già đưa tay chỉ qua tôi, lẹ
miệng :
- Đồng chí này vượt Trường Sơn, bị sốt.
Tưởng anh trạm trưởng phê phán hay trách móc nhưng anh nhìn
chúng tôi với hai con mắt buồn như có một đám mây, giọng khàn khàn :
- Thật may cho hai đồng chí. - Rồi giọng của anh như lạc hẳn
đi - Cả đoàn chết hết cả rồi!
Chúng tôi chết sững một hồi lâu mới cất được tiếng :
- Sao?
- Bê năm hai ba đợt dội ngay đội hình, rồi trực thăng, đồng
nước mênh mông, không hầm không hố.
- Cô giao liên tên Bông còn không?
Anh trạm trưởng chỉ hơn hai mươi tuổi mà già đi hơn bốn mươi,
anh buồn rầu lắc đầu. - Không còn một ai.
- Không còn một ai.
- Không còn một ai! - Anh Tư già không phải hỏi mà lặp lại
như tiếng vang.
* * * * *
Ba năm sau. Trong ba năm ấy, tôi xê dịch ba nơi: ở chiến trường
Đồng Tháp một mùa nước thì trở về R. Từ R theo một cách quân tiến về Sài Gòn
năm Mậu Thân, rồi từ chiến trường Sài Gòn lại trở về R. còn anh Tư già thì ở Bến
Tre, nhưng không ngồi yên một chỗ, khi ở cù lao này lúc ở cù lao khác, mỗi lần
thay đổi cù lao là phải vượt sông trong tầm súng của tàu tuần, dưới tầm bay của
trực thăng.
Cả hai đều suýt chết nhiều lần nhưng không chết mà gặp nhau
trên một cái hồ giữa rừng biên giới. Một cái hồ mênh mông có một dòng sông nhỏ
nối liền sông Cửu Long, nhờ đó mà cá từ Biển Hồ xuôi theo sông Cửu Long, rẽ vào
nhánh sông nhỏ, vào hồ trú ngụ sanh đẻ. Độ mươi cái nhà bè sống trên hồ, sống bằng
nghề đánh cá.
Anh em ở chiến trường về, bệnh hoạn hoặc ốm yếu mới được ra hồ
để bồi dưỡng. Hồ có rất nhiều loại cá: cá bống, cá lăn, cá trèn... có một loại
cá dễ câu nhất là cá thác lác, dễ câu là vì biết được cái khẩu vị của nó. Mồi
trùn, mồi dế, mồi cào cào cá thác lác không mê lắm, nó mê nhất là mồi con gián.
Đêm đêm, một thằng bạn chuyên làm nhiệm vụ bắt gián, sáng ra thì tôi đi câu.
Nói là đi chứ chẳng đi đâu. Nhà bè nào cũng có vài cái lỗ độ hai tấc vuông để
tuôn rác xuống hồ. Cái cần câu ở đây chẳng có gì thơ mộng nhưng rất thực dụng,
là một khúc tre già bằng ngón tay cái, dài bốn năm tấc, cả hai đầu đều bằng
nhau buộc nhợ câu vào đầu nào cũng được, ngắn gọn mà chắc. Tôi móc con gián vào
lưỡi câu, ngồi trên sàn gỗ của nhà bè, mở cái nắp lỗ, thả xuống.
Không phải đợi lâu, chỉ cần hút vài ba hơi thuốc là cần câu bị
ghì xuống, giật lên, con cá thác lác bề ngang bằng bàn tay, vẩy bạc li ti, mắc
vào lưỡi câu uốn mình giẫy giụa, tôi khéo léo kéo qua lỗ đưa nó lên sàn, một
con. Mỗi sáng chỉ cần ngồi câu độ nửa tiếng là có bốn năm con thác lác, đủ ăn cả
một ngày. Nhiệm vụ của tôi thế là xong. Phần còn lại là của anh Tư già, anh làm
cá, chế biến thức ăn và nấu cơm một ngày hai bữa, cực nhưng anh khoái làm bếp.
Làm cá thác lác người ta chỉ nạo lấy thịt còn da thì bỏ, anh Tư lại khác- cái
da cá anh đem phơi, da cá thác lác anh mắc đầy lên cây rừng.
- Cá đâu có thiếu gì mà tiết kiệm đến cái da anh Tư?
- Ấy, rồi sẽ có lúc cần.
Một hôm, tối lắm, một đoàn bạn trẻ cùng một cơ quan, bốn đứa
từ trong rừng kéo ra hồ. Anh Tư hỏi :
- Mấy chú đi đâu giờ này? Chuyện gì?
Hỏi vậy là có hơi lo, tin giặc càn hoặc dời cứ gì đây - một bạn
trẻ đáp :
- Có gì đâu! Tụi cháu rủ nhau ra thăm chú Tư chơi.
Anh Tư đưa ngón tay trỏ lên, hỏi :
- Nói cho rõ. Ra chú Tư chơi hay là ra chú để chơi?
Anh bạn trẻ lém lỉnh :
- Ra chú Tư chơi để chơi, được chưa?
- Vậy thì ngồi đó.
Anh Tư già nổi lửa rồi quay qua tôi :
- Mồi cá thác lác đâu?
Tôi biết anh không bảo tôi đi câu, lẹ chân tôi đi gom da cá
thác lác treo trên cây rừng, co ít nhứt cũng bốn năm chục cái da cá. Da cá thác
lác để vào lửa, nó quéo lại thơm lừng.
Với mồi da cá, rượu đựng trong thùng đạn Mỹ, bọn tôi uống sạch
bốn lít.
Một đêm cũng trên cái hồ ấy ngoài những chuyện về chiến trường,
anh lại nhắc đến thằng bạn dân chơi của tôi ở Sài Gòn, Nguyễn Khắc Trung.
- Trận Mậu Thân đánh vào Sài Gòn có gặp thằng dân chơi của
chú không?
- Không! Tôi chỉ đi đợt 1 cũng chỉ đến An Lạc rồi rút về.
- Uổng uổng!
Tôi nhớ lại thằng Khắc Trung, nhớ lại thời còn đi học. Không
ngủ được vì nhớ hay vì con trăng rừng huyền ảo quá!
* * * * *
Rồi hai đứa cũng gặp nhau. Ấy là một buổi chiều tháng năm
1975, những ngày đầu tưng bừng của Sài Gòn vừa giải phóng. Tôi đang thả bộ trên
vỉa hè dưới hàng me đường Trần Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần) bỗng có người gọi
đúng tên tôi, tiếng gọi nghe như hét, như bị dồn nén từ lâu, tôi quay lại: thằng
Khắc Trung, nó ngồi trên chiếc xe Honda nam màu đen cao lêu nghêu. Đã hơn hai
mươi năm từ ngày tôi với nó với mấy thằng bạn ngủ dưới nền đất trong ngôi nhà
bên sông Trà Cú trước ngày tập kết, hai mươi năm sau tôi vẫn nhận ra nó, cái mặt
chơi của nó rắn rỏi quá.
- Đi sau lưng mà sao nhận ra tao, Trung?
- Tao với mày có cái khác nhau. Cổ tao dài như cổ cò, còn cái
cổ của mày như cái cổ vịt lùn Sa Đéc. Nó đưa tay ra sau vỗ lên yên xe, nói như
lịnh: "Lên xe!".
Từ đó, đôi ba ngày nó lại thắng xe trước sân nhà tôi hét vào
:
- Bận áo vô!
Tôi có ở trần hồi nào đâu mà nó bảo tôi mặc áo? Đó như là ám
hiệu có nghĩa là lên đường đi nhậu.
Khi ngồi vào quán trước ly rượu, nó bảo :
- Với mày tao có kế hoạch như vầy, tao bỏ ra một tháng để chống
dốt cho mày.
Tôi chưa kịp hiểu thì nó nhướng mày :
- Không phải mày bị dốt vì chữ nghĩa, ra miền Bắc, mày được học
hành, chuyện đó bây giờ mày giỏi hơn tao. Nhưng tao biết tụi mầy gian khổ lắm,
cái gì ở đất Sài Gòn này, mầy chưa biết, tao cho mầy biết, được hôn.
- Còn gì bằng!
Buổi chiều lần đầu gặp nhau, nó đưa tôi đến một cái quán sang
ở chợ cũ, nó cho tôi ăn con đuông, quả là từ nhỏ đến lớn tôi mới biết mùi vị của
con đuông. Con đuông là một loại sâu trong cây chà là. Mỗi cây chỉ có một con,
con đuông chỉ to bằng một ngón tay, ngon và béo hơn con nhộng, đặc biệt thơm
mùi bơ. Đó cũng là cách nó chống dốt cho tôi...
Lần ấy tôi hỏi nó :
- Nghe nói ở ngoài này mầy nổi tiếng dân chơi?
- Sao mầy biết, ai nói?
- Anh Tư nhà văn.
- Anh Tư nhà văn, tao biết, tao cũng chống dốt cho ảnh đôi ba
lần. Mấy năm đó cũng chơi, nhưng không nổi đình đám bằng sau Mậu thân năm sáu
mươi tám.
Thằng dân chơi của tôi kể tiếp :
- Khi quân ta rút dần về căn cứ cũng là lúc tao được tin ông
già tao từ Hà Nội về đến rừng U Minh, người đem thư báo tin là một bà già. Thế
là tao đóng vai con của bà, về căn cứ. Chuyện cha con gặp nhau vui buồn thôi khỏi
kể. Trong những ngày đó, tao gặp ông Chánh ủy khu, vốn là bạn của ông già, tao
gọi là chú Sáu. Sau nhiều câu chuyện về Sài Gòn, chú Sáu Chánh ủy nói:
"Cách mạng muốn nhờ cháu một việc"... nhờ là chuyện thường tình, đằng
này ổng nói: "Cách mạng muốn nhờ...". Tao biết đây là chuyện sống chết,
chuyện lớn, tao nghe ớn xương sống, chẳng biết nói gì chỉ biết dạ.
Chú Sáu Chánh ủy tiếp :
- Hiện nay bộ đội mình đã hết tiền, anh em chiến sĩ ăn uống
kham khổ, vừa đói vừa chiến đấu. Cách mạng thì có tiền. Nhưng tiền xài không được,
có đôla nhưng chưa đổi thành ra tiền của Sài Gòn. Cách Mạng muốn nhờ cháu đổi
đô-la ra tiền Sài Gòn, cháu thấy sao?
Té ra hôm nay nói chuyện với ổng, ổng cố ý tìm hiểu và đánh
giá khả năng của mình. Tao đã vô tình kể về sự giao du của mình, đối với dân
thượng lưu của Sài Gòn. Phải nói là không khí rất nặng nề. Ông già tao mở tròn
hai con mắt nhìn tao lom lom. Hình như ổng cũng bị bất ngờ trước sự phân công
này. Lâu lắm tao mới mở miệng: "Chú Sáu cho cháu suy nghĩ".
Đêm hai cha con ngủ chung, ông già bảo: "Con nên nghĩ kỹ,
đồng tiền dễ mang tiếng". Tao đáp: "Con không sợ mang tiếng, con chỉ
sợ con không đủ sức". "Ba đang nghĩ đến bộ đội mình đang đói, tùy
con".
Sáng hôm sau cũng trong ngôi nhà lá trong cụm tràm thưa, bên
bờ kinh, tao nhớ một buổi sáng đầy nắng, không nghe tiếng súng, chỉ nghe tiếng
chim và tiếng ong bay đi tìm mật, tao ngồi đối diện với chú Sáu Chánh ủy.
Chú hỏi :
- Đêm qua cháu mất ngủ phải không?
- Dạ.
- Cháu đã nghĩ kỹ chưa?
- Dạ kỹ. Cháu xin nhận với hai điều kiện.
- Điều kiện gì cháu cứ nói.
- Điều kiện thứ nhứt là cháu hoạt động đơn tuyến. Tự tay cháu
nhận tiền và cũng đích thân cháu mang tiền về. Điều kiện thứ hai là cháu được
xài tiền.
Tao định giải thích cho rõ điều kiện thứ hai tại sao và tại
sao thì chú Sáu Chánh ủy đưa tay vẫy nhẹ :
- Cách mạng hiểu cháu. Cách mạng đồng ý với hai điều kiện của
cháu...
Lúc đó tao thầm nghĩ, chú đánh giá đúng người. Không thể để
anh em chiến sĩ bị đói, tao nghĩ khi xách đầy một vali đôla trên đường về Sài
gòn.
Về Sài Gòn, mở cửa vào nhà, tao thẩy vali lên giường như một
cái vali quần áo. Tao sống độc thân, nhà không có ai. Tối hôm đó tao lại ra
bar, giao tiếp với các tai to mặt lớn của ngụy Sài gòn. Xen lẫn trong những câu
chuyện tào lao, tao cho họ biết, Trần Lệ Xuân khai thác gỗ ở miền Đông, ở Tây
Nguyên, còn tao, tao sẽ khai thác gỗ ở rừng U Minh. "Các ông đánh Việt cộng
đến đâu thì tôi làm gỗ đến đó, hẹn một ngày huy hoàng!".
Sau đó tao đến nhà của một đại tá phu nhân, một mụ đàn bà đầu
mối buôn lậu, cái gì mụ cũng buôn, có cả buôn tiền, đổi tiền và rửa tiền.
Trên bốn mươi tuổi, đẹp sắc sảo, có học nhưng cặp mắt khi liếc
thì bén và ác. Sau khi nghe tao nói mụ bảo :
- Cho tôi xem mẫu.
Vừa nhìn tờ bạc mẫu trên tay tao, mụ nhìn tao với cặp mắt
khác, vừa hoảng sợ vừa căm thù :
- Tiền Việt Cộng ở đâu ông có?
Có lẽ tao cũng hoảng hơn cả mụ, nhưng tao làm tỉnh và trấn an
bằng một cái lưỡi :
- Tiền nào cũng là tiền. Tôi đến đây không phải để làm chính
trị. Tôi với bà là người làm giàu bằng chiến tranh. Cái gì có lời tôi nghĩ là
chúng ta không nên bỏ qua.
Ánh mắt mụ ta dịu lại :
- Đô-la này là đô-la Hồng Kông, đất Sài Gòn không ai có,
không ai xài, trừ Việt cộng. Nếu muốn đổi ra tiền Việt Nam Cộng Hòa thì phải đổi
ra đô-la Mỹ, không dễ đâu!
- Vì không dễ nên tôi mới tìm đến bà, nếu trong tay tôi là
đô-la Mỹ thì tôi với bà không quen nhau. Tôi thấy bà đánh giá đúng nhưng chưa đầy
đủ, đô-la này người Tàu Chợ Lớn nhiều nhiều lắm, nó có thể đốt cháy tôi và cả
bà.
Mụ ta cười, cái cười thấy đồng tiền trước mắt :
- Chiều mai ông trở lại, tôi trả lời dứt khoát...
Đây không phải là báo công mà kể lể dài dòng, vắn tắt để cho
mày biết chơi vậy thôi.
Nói đến chơi, tao chơi một cú thật động trời, bọn tướng tá,
thằng nào nghe, gặp tao cũng bái.
Số là hôm đó tao mang về hai vali tiền. Đến cái đồn cuối cùng
trước khi vào căn cứ thì trời về chiều, tao xách hai chiếc vali tiền đi thẳng
vào đồn. Cái đồn này coi như đồn biên giới giữa hai vùng ta và địch. Khi tao bước
vào tên trung úy đồn trưởng biết tao là ai rồi, nó đã nhận được điện của một
viên đại tá đàn anh báo trước, nó chực sẵn ngoài cổng.
- Chờ cậu Hai lâu quá! - Vừa vồn vã vừa đỡ lấy hai chiếc vali
và hỏi - Gì mà nặng dữ vậy cậu Hai?
- Tiền! Tiền gỗ, tiền phát lương.
Sau đó tao hỏi :
- Ở đây có gì vui?
- Khỉ ho cò gáy, buồn thúi ruột!
- Bây giờ làm gì vui?
Nó nháy mắt cười nửa miệng rất đểu :
- Cái gì vui, cậu Hai biết rồi!
Hiểu ý, tao lịnh cho nó :
- Gọi về Sài Gòn, lấy một chiếc trực thăng, chở em xuống, mỗi
thằng một em.
Bọn lính đứng xung quanh nhảy dựng lên, có thằng chạy lại đấm
bóp hai vai tao...
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, đổi hết tiền, một hôm gặp lại bọn
tướng tá trong nhà hàng, mượn rượu tao chửi thẳng vào mặt chúng nó :
- Đ.mẹ, tụi mày đánh giặc như con c... Tao theo chân tụi mày,
tao rải tiền, bây giờ tụi mày tháo chạy, gỗ của tao nằm ì tại chỗ, cháy túi.
Mặt thằng nào cũng sượng. Tao thấy nỗi thất vọng đến chán chường
qua cặp mắt lơ láo của bọn tướng tá.
Tôi nói :
- Mầy tồn tại đến bây giờ kể cũng giỏi.
- Biết thế nào mà giỏi với dở, cũng như mầy, bom đạn vậy mà mầy
vẫn sống, cũng không bị thương. Tao chơi, tao tung hoành trong cái khe hở của bọn
nó.
- Mầy có viết nhựt ký, ghi lại những việc đã làm không?
Nó bật cười :
- Viết làm quái gì!
Tôi hỏi sang chuyện khác :
- Sao mầy không lấy vợ?
- Ở đất Sài Gòn này, mang tiếng là dân chơi, có lẽ vì chơi mà
tao không tìm ra tình yêu. À! Mày còn nhớ con Thùy không?
- Nhớ đến mầy là tao nhớ đến nó.
- Tại sao nó không phải là Thủy là Thuy, là Thụy mà lại là
Thùy. Nghẫm nghĩ sự đời, tao thấy đời tao lận đận vì cái dấu huyền.
* * * * *
Tôi làm trung gian sắp xếp một cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn
được mệnh danh là dân chơi - Anh Tư già nhà văn và Nguyễn Khắc Trung - Một người
là dân chơi trong lòng giặc đầy trắc trở, hiểm nguy. Tôi hình dung một cuộc gặp
gỡ đầu thú vị.
Chiều hôm đó, tôi ăn mặc đàng hoàng hơn mọi ngày, ngồi chờ.
Thằng Nguyễn Khắc Trung của tôi cỡi chiếc xe Honda đen, như
ngồi trên con ngựa ô, xe thắng "két" trước sân nhà, nó khoác tay và hét
:
- Bận áo vô!
Đạo tưởng
Tân Châu được biết, tên thật của ông là Lâm văn Quốc, tự Ba
Quốc, con của ông Lâm văn Ngươn, mẹ là Nguyễn thị Nhỏ, quê ở Cái Cùng xã Long
Điền, một thôn nằm ở giữa xã Vĩnh Mỹ và Gia Thái tỉnh Bạc Liêu. Cái đất sinh ra
ông là Cái Cùng. Tên "Cái Cùng" gợi cho người ta một vùng rừng đất
hoang sơ của U Minh, một vùng rừng còn những con rắn khổng lồ đêm đêm treo mình
giữa hai thân cây, tự lấy thân mình làm gàu "bành bạch" tát nước giữa
đêm khuya để bắt cá.
Thuở nhỏ, nhà nghèo, Cái Cùng là nơi xa xôi hẻo lánh, nên ông
chỉ học đến lớp a, b, c... Lớn lên, với thân hình vạm vỡ của ông, ông thích võ
nghệ. Ông thích giao du với các hảo hớn, học võ "Thiếu Lâm tự" để thỏa
chí bình sanh, ông lưu lạc lên đất Miên, qua Lào, học thêm bùa ngải.
Sau bao năm "tầm sư học đạo" ông trở lại đất Tân
Châu, lãnh cai quản cho gia đình người cậu của mình là ông Nguyễn Chánh Sắt,
người có tiếng trong làng văn làng báo thời bấy giờ. Ba Quốc nổi tiếng là người
siêng năng, giỏi giang việc đồng áng, to lớn và "hầm hừ" vậy, nhưng
hiền lành dễ thương.
Chẳng bao lâu, vào một đêm mưa gió, những đêm mà sông Tiền
như con rồng chuyển mình, dậy sóng hàn đập ì ầm, sau những ngày bần thần rã rượi,
biếng nói biếng cười, cặp mắt như lờ đờ, khi đỏ ngầu, thân xác ông như bị một vị
khuất mặt nào đó hành hạ ông, ông la, ông hét, ông đấm ngực, ông đụng đầu vào cột
nhà, rồi ông "phát huệ", ông lại xưng là "ta là tướng núi"
và đủ thứ danh tánh.
Sau đó, ông lập am hành đạo. Rời nhà người cậu, bỏ việc đồng
áng, bằng bùa ngải ông bỏ công đi trị bịnh cho bà con dọc theo sông Tiền. Theo
lời kể, lạ thay, bịnh nào ông trị cũng hết. Đó là bịnh nhẹ. Còn bịnh nặng, những
bịnh kinh niên, ông gọi là bịnh tà ma ám ảnh, sau khi cho bịnh nhân uống bùa ngải,
ông ra thần oai, ông đụng đầu vào cột nhà cho tà ma hoàng xuất. Rồi ông trầm
tư, dùng luồng sáng của đôi mắt chiếu vào bịnh nhân. Cũng lạ thay, bịnh nhân
nào cũng thấy nhẹ người, người nào cũng thấy nhẹ người, người nào cũng lồm cồm
ngồi dậy xá lạy ông.
Vào năm 1928, cái am bằng tre lá như một cái chòi ruộng được
dựng lên, bề thế, tọa lạc trên con đường gọi là Hương Chùa, cách chợ Tân Châu độ
cây số ngàn.
Đạo của ông lấy kinh gốc từ chùa Tây An. Mỗi ngày ông hành lễ
ba thời: khuya, ngọ và chiều. Trước hết ông lễ Bàn Thầy, Bàn Thánh, Bàn Thần.
Bàn chư vị năm Ông, mỗi bàn mười hai lạy. Xong, ông ra lễ bàn Thông Thiên, lạy
đủ bốn phương: đông, nam, tây, bắc.
Khi hành lễ cũng có chuông mảo ngân vang như nhà chùa.
Sau 14 năm hành đạo (1925-1939), ông có trên 10.000 tín đồ sống
rải rác trên khắp cả đất Tân Châu, từ sông lớn đến kinh rạch qua các đồng sâu.
Ông đi đến đâu cũng được tín đồ tung hô, vái lạy. Từ đó ông tự xưng là
"Minh Hoàng Quốc", lúc ban đầu, đạo tưởng có nghĩa là ông ngồi tưởng
cho bịnh nhân thoát bịnh.
Sau cái nghĩa của Đạo Tưởng được nâng cao hơn, tưởng về
"giang san tổ quốc, tưởng đến ngôi vua".
Dần dần, cái sân am hành đạo của ông biến thành sân võ. Một
đêm đệ tử thấy thần oai, ông đụng đầu vào một thân cây, cây lá rung rinh như
đương đầu trước ngọn gió. Như vậy, chắc ông thấy cũng chưa đủ, có lần ông đóng
cây đinh ba tấc vào cột nhà, trước mặt hàng ngàn tín đồ đứng vây quanh, ông đụng
đầu vào cây đinh, cây đinh quẹo ngang mà đầu ông không hề có một vết xước xây
xát.
Rồi đêm đêm, như một thời xa xưa nào được dựng bên bờ sông đất
Tân Châu. Trước cái sân am hành đạo của ông, lá dừa bó thành đuốc nổ lép bép, đỏ
đùng đục như ánh ma trơi. Hàng trăm tín đồ với sắc phục vàng hươm, kiếm loang
loáng trong ánh đuốc đỏ rực dưới trời đêm, bên con sông không bao giờ mệt mỏi,
vừa trôi vừa vỗ sóng dập bờ.
Chừng như đã có một đạo quân, ông Đạo Tưởng bắt đầu lập triều
đình:
Ông là Minh Hoàng Quốc, quân trẻ của Nguyễn văn Hương, Đinh
Phan, Vương Lèo và Nguyễn Soái Năm.
Đã có tham vọng, có triều đình, có quân đội, ắt phải có ngày
hành động.
Theo sách đã ghi, đó là đêm mùng 8 rạng ngày 9 âm lịch năm Kỷ
Mão (20-2-1939), đêm trăng lưỡi liềm mờ mờ ảo ảo cùng nhang khói, tín đồ từ xa
kéo đến nghe ông thuyết pháp. Buổi thuyết pháp trong đêm huyền ảo ấy, ông không
giảng giáo lý cao siêu của đấng Từ bi hay đức hy sinh cao cả của Phật Thích Ca,
mà chuyển giọng sang sảng như tiếng kèn thúc quân.
"Hỡi đồng bào. Dân tộc ta đã bị người Lang Sa cai trị nhục
nhã gần trăm năm nay, số của chúng ta đã sắp mãn, đồng bào hãy cùng bổn đạo
đánh đuổi quân thù rửa nhục nước".
Rồi ông đưa tay vỗ ngực, dõng dạc tự xưng "Ta là Chánh
vì Vương thừa mạng trời lập Quốc".
Như sóng dậy từ lòng người, tiếng hò hét của tín đồ dâng lên
như sấm, đuốc huơ cao, dao gươm kiếm vung lên loang loáng, tiếng reo, tiếng trống,
tiếng phèng la nổi dậy trời... Chó dọc theo con sông cất tiếng tru ông ổng, xao
xác cả dân chợ dân làng.
Rạng ngày mùng 9 trời vừa hừng sáng, cò Laffont, Quận trưởng
Nguyễn văn Đề, thơ ký Phan văn Thông cùng với hai tiểu đội lính vũ trang súng
trường, xếp hàng theo một bờ kinh Vĩnh An tiến vào đường chùa. Quân của cò
Laffont vây tròn lấy cái am của ông Đạo Tưởng trong tầm súng.
Ông Đạo Tưởng không hề nao núng... Cái am của ông không còn
là cái am hành đạo nữa. Là một triều đình đã bày binh bố trận, sẵn sàng chinh
chiến. Đuốc trước am, ông Đạo Tưởng oai vệ trong sắc phục vàng, áo tay rộng, đầu
phủ bịch cân, lưng thắt dây đen, chân mang giày vàng, cổ đeo lòng thòng xâu chuỗi
bồ đề, theo cách mô tả của người cùng thời "ông đường đường như Vu Hồng
đương kiểm binh vua tướng qủy, sái đậu thành binh hầu xuất trận". Đứng hai
bên, dài dọc theo sân võ, gồm hàng trăm nam nữ "đầu trọc áo vàng" tay
gươm tay giáo, bừng bừng khí thế.
Giữa sân võ là hai cái thây của hai vợ chồng Hương Kiếm đã bị
đem ra tế cờ vào giữa đêm vì tội phản đạo.
Ông cất giọng về phía quân thù, nhằm nói với tên cò Laffont
và quận Lễ :
- Các ông cứ bắn súng đi. Súng đạn của các ông không lủng được
da thịt của quân "Minh Hoàng Quốc" này đâu. Bắn đi.
Sau lời thách thức của ông, súng vẫn im. Với giọng nói hùng hồn
và sang sảng của ông, tín đồ không chỉ tin súng không làm gì được ông mà kể cả
họ nữa. Họ đã được thầy tẩm cho bùa ngải rồi. Cả ông, cả họ không còn là người
thường nữa, họ là người mình đồng da sắt.
Quận Lễ đứng từ xa cất tiếng :
- Ba Quốc hãy buông gươm giáo đầu hàng. Không sẽ thiệt mạng.
Đạo Tưởng phất tay áo :
- Hỡi binh sĩ. Trẫm nay vốn thiệt là "Minh Hoàng".
Các người hãy trả áo lại cho bọn Lang Sa cùng ta tiêu diệt kẻ thù. Tiến.
Tín đồ của ông một loạt trụ bộ, rừng chân đi vừa chĩa gươm
giáo vừa hô, tiếng hô như tiếng gầm phát ra từ những lồng ngực, rừng rực máu.
Phía bên cò Laffont và quận Lễ, đạn lên nòng, một họng súng cất
lên trời.
- Cốp.
Súng không nổ. Viên đạn lép đầu tiên của cò Laffont là bằng
chứng cho lòng tin của Đạo Tưởng và tín đồ.
Gươm giáo lủa tủa trong vang lên cùng tiếng gầm thét. Súng bắt
đầu nổ. Nhưng đạn chỉ cày lên sân cỏ, bốc khói, chẳng trúng ai. Quân "đầu
trọc áo vàng" của Đạo Tưởng vừa nhảy vừa xông lên như một đám lân vừa đạp
xác pháo vừa cất cao đầu.
Khi mặt dần giáp mặt, ông Đạo Tưởng vừa lắc hai vai vừa bước,
phất hai tay áo, đưa hai bộ vuốt hùm, mắt trợn nhìn cò Laffont, Lễ trong nháy mắt,
hai bộ vuốt hùm của ông sẽ móc cả ruột gan cò Laffont.
Cò Laffont vừa lùi bước vừa móc súng, bàn tay cầm súng của hắn
run lẩy bẩy. Một tiếng nổ.
Nghe tiếng "hực" của ông, binh lính tín đồ giật
mình quay lại. Con người siêu phàm đang loạng choạng, vừa ngã, vừa đưa cái bàn
tay móng vuốt hùm lên lồng ngực. Cái lồng ngực căng đầy của ông máu tràn đẫm cả
chiếc áo vàng. Không một lời trối trăng, chỉ có tiếng "ừng ực" uất
nghẹn không nên lời, hai con mắt nhìn trời trợn ngược.
Bao năm tu luyện bùa ngải, chỉ cần một tiếng nổ, một viên đạn
đồng bằng đầu đũa, mộng lớn của ông bỗng tan biến như khói hương trong am hàng
đạo trong cơn gió.
Ông ngã xuống, không một tín đồ nào ở bên ông, quanh ông chỉ còn là gươm giáo của tín đồ đã tản chạy.
Sau này có một lão râu dài đến tận ngực, vốn trước kia, thỉnh
thoảng ông được Đạo Tưởng mời vào am đàm đạo. Ông kể lại với một vài bạn tri
âm. "Ông Đạo muốn làm vua nước Nam, nhưng ông không biết biên giới nước
Nam mình từ đâu đến đâu. Nước Nam có bao nhiêu sông lớn, bao nhiêu núi cao, ông
cũng không rành. Ông tưởng đánh được đồn Tân Châu thì cả quân Pháp đầu hàng.
Ông tội thay".
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét