Thứ Ba, 23 tháng 11, 2021

Dalloway 2

Dalloway 2

VI. Xé vụn ra, chia nhỏ và tiếp tục chia nhỏ nữa, những cái đồng hồ của phố Harley gặm nhấm dần cái ngày tháng Sáu này, khuyên người ta nên khuất phục, giữ vững thẩm quyền, và đồng thanh chỉ ra những lợi thế lớn nhất của một ý thức về sự tương quan, cho tới khi cái ụ thời gian đã thu nhỏ lại đến độ một cái đồng hồ trưng bày để bán, treo trên một cửa hiệu ở phố Oxford, thông báo một cách ân cần, thân thiện, như thể việc cung cấp thông tin miễn phí là một niềm vui đối với các ông Rigby và Lowdes, rằng bây giờ là một giờ rưỡi.

Khi ngẩng nhìn lên, có vẻ như mỗi mẫu tự trong tên của họ đại diện cho một trong những giờ; theo tiềm thức, người ta biết ơn Rigby và Lowdes về việc cung cấp cho người ta thời giờ đã được Greenwich phê chuẩn; và lòng biết ơn này (Hugh Whitbread nghĩ thế trong lúc lượn lờ ở trước cửa sổ tiệm) sau đó, theo lẽ tự nhiên, nằm dưới hình thức mua những đôi vớ hay giày từ Rigbey và Lowdes. Ông nghĩ thế. Đó là thói quen của ông. Ông không đi sâu. Ông chỉ lướt qua các bề mặt; những tử ngữ, những sinh ngữ, cuộc sống ở Constantinople, Paris, Romes; cưỡi ngựa, săn bắn, quần vợt, nó từng như thế. Những kẻ ác tâm quả quyết rằng hiện giờ ông đang canh gác thứ mà không ai biết được ở điện Buckingham, mang những chiếc vớ lụa và mặc quần ống chẽn. Nhưng ông đã làm điều đó cực kỳ hiệu quả. Ông đã trôi nổi trên tầng lớp tinh hoa của xã hội suốt năm mươi lăm năm. Ông đã quen biết Thủ tướng. Người ta hiểu rằng những tình cảm của ông là sâu sắc. Và nếu đúng là ông không tham gia vào bất kỳ phong trào lớn nào của thời đại hay nắm giữ một chức vụ quan trọng, ông cũng đã thực hiện được một hai cải cách khiêm tốn; một trong số đó là việc cải tiến các chỗ nương thân công cộng, một việc khác là bảo vệ loài cú ở Norfolk; những cô người hầu có lý do để biết ơn ông; và tên của ông, nằm bên dưới những lá thư gửi tới tờ Times, yêu cầu những quỹ tài trợ, yêu cầu công chúng bảo vệ, bảo quản, dọn sạch rác rến, giảm hút thuốc, và dập tắt sự phi đạo đức trong các công viên, xứng đáng được tôn trọng.

Ông còn tỏ ra là một nhân vật cao quý, khi dừng lại giây lát (khi tiếng chuông điểm nửa giờ lắng lại) để nhìn với vẻ phê phán, hách dịch, vào những đôi giày và vớ; với vẻ không thể sai lầm, hệ trọng, như thể ông đang ngắm nhìn thế giới từ một mô đất cụ thể, và ăn mặc để đi diễu hành; nhưng nhận ra những nghĩa vụ mà tầm vóc, sự giàu sang, sức khỏe, tài sản thừa kế mang lại, và quan sát một cách tỉ mỉ ngay cả khi không cần thiết những cử chỉ lịch sự nho nhỏ, những nghi thức lỗi thời vốn mang tới một phẩm chất cho cung cách xử sự của ông một điều gì đó để noi theo, một điều gì đó để nhớ tới ông, vì ông sẽ không bao giờ ăn trưa, chẳng hạn, với phu nhân Bruton, kẻ ông đã quen biết hai mươi năm qua, nếu không mang tới cho bà một bó hoa cẩm chướng và hỏi thăm cô Brush, thư ký của phu nhân Bruton, về anh trai của bà ta ở Nam Phi, mà vì lý do nào đó khiến cô Brush, suy nghĩ một cách nông cạn rằng mình có mọi thuộc tính của vẻ quyến rũ nữ tính, bực tức đến nỗi cô ta bảo “Cám ơn ông, ông ta đang sống ổn ở Nam Phi,” trong khi suốt sáu năm qua ông ta sống rất tệ ở Portsmouth.

Bản thân phu nhân Bruton thích Richard Dalloway hơn, kẻ vừa tới ngay sau đó. Thật sự, họ đã gặp nhau ở thềm nhà.

Dĩ nhiên là phu nhân Bruton thích Richard Dalloway hơn. Ông được tạo thành từ một chất liệu tốt đẹp hơn nhiều. Nhưng bà sẽ không để cho họ bêu xấu Hugh thân mến tội nghiệp của bà. Bà không bao giờ quên được lòng tử tế của anh ta – thật sự anh ta rất tốt. Dù sao đi nữa, sự khác biệt giữa hai người đàn ông không đáng kể mấy. Bà chưa bao giờ nhìn ra ý nghĩa của việc chia rẽ mọi người như Clarissa Dalloway đã làm – chia rẽ họ và làm cho họ gắn bó trở lại; không, với bất cứ giá nào khi người ta ở tuổi sáu mươi hai. Bà nhận bó hoa cẩm chướng của Hugh với nụ cười cứng đơ khe khắt. Không có ai khác tới, bà nói. Bà đã mời họ tới đó với lý do vờ vịch, để giúp bà gỡ rối một việc khó khăn…

“Nhưng chúng ta hãy ăn trước đã,” bà nói.

Và thế là bắt đầu một sự di chuyển tới lui êm ru và khéo léo qua những cánh cửa xoay của những người hầu đội mũ trắng, những cô hầu gái không cần thiết, nhưng rất lão luyện về vẻ bí ẩn hay sự dối trá được thực hành bởi những bà chủ nhà ở khu Mayfair từ số 130 tới số 132, khi mà, với một cái vẫy tay, sự lưu thông ngừng lại, và thay vào đó nổi lên ngay từ đầu cái ảo tưởng sâu sắc vềthức ăn – không phải trả tiền; và sau đó cái bàn trải ra một cách tự nguyện với những ly cốc, dao nĩa, những miếng vải lót nhỏ, những đĩa trái cây chín đỏ; những con cá bơn phủ những lớp kem nâu; những con gà bị chặt bơi trong những cái nồi; ngọn lửa bùng lên rực rỡ sắc màu, hoang dã; và với rượu vang và cà phê (không tính tiền) những ảo tượng vui tươi mọc lên trước những đôi mắt mơ màng; những đôi mắt trầm tư; những đôi mắt mà với chúng cuộc sống hiện ra đầy chất nhạc, bí ẩn; những đôi mắt lúc này ngời lên để quan sát một cách thân ái vẻ đẹp của những bông cẩm chướng đỏ mà phu nhân Bruton (những cử động của bà luôn cứng đơ) đã đặt bên cạnh đĩa của mình, khiến cho Hugh Whitebread, cảm thấy an bình với toàn vũ trụ đồng thời hoàn toàn chắc chắn về vị trí của mình, vừa nói vừa đặt nĩa xuống:

“Không phải trông chúng thật đáng yêu trên tấm vải đăng ten của bà hay sao?”

Cô Brush cực kỳ phẫn nộ với sự suồng sã này. Cô nghĩ ông ta là một gã thô lỗ. Cô khiến cho phu nhân Bruton cười phá lên.

Phu nhân Bruton giơ những đóa hoa cẩm chướng lên, cầm chúng khá cứng nhắc với cung cách hệt như cung cách cầm cuộn giấy của vị tướng trong bức tranh sau lưng bà; bà duy trì trạng thái bất động, xuất thần. Bà là ai, cháu nội của vị tướng? Cháu cố? Richard Dalloway tự hỏi. Ngài Roderick, ngài Miles, ngài Talbot – đó là bức tranh. Trong gia đình đó, vẻ giống nhau tồn tại ở những người phụ nữ là một điều nổi bật. Lẽ ra bản thân bà nên là một vị tướng kỵ binh. Và Richard sẽ phục vụ dưới quyền của bà, một cách hân hoan; ông rất kính trọng bà; ông yêu thích những cảnh tượng lãng mạn về những người phụ nữ có huyết thống cao quý, và thích, theo cách thức vui vẻ của mình, đưa một số chàng trẻ tuổi bốc đồng mà ông quen biết tới ăn trưa với bà; như thể một kiểu người như bà có thể là dòng dõi của những người hòa nhã ưa thích uống trà! Ông biết quê hương của bà. Ông biết những người thân của bà. Có một dây nho, vẫn đang sinh trưởng, mà Lovelace 1 hoặc Herrick 2 – bản thân bà không hề đọc một câu thơ nào, nhưng câu chuyện kể như thế – đã ngồi dưới gốc nó. Tốt hơn nên đợi trước khi đưa ra với họ vấn đề đã khiến bà phiền lòng (về việc đưa ra cho công chúng một yêu cầu; nếu thế thì theo những điều kiện nào, vân vân), tốt hơn nên đợi cho tới khi họ dùng xong cà phê, phu nhân Bruton nghĩ; và do đó đặt những nhánh hoa cẩm chướng xuống cạnh cái đĩa của mình.

“Clarissa thế nào?” Bà đột ngột hỏi.

Clarissa luôn nói rằng phu nhân Bruton không thích mình. Thật ra, phu nhân Bruton nổi tiếng về việc quan tâm tới chính trị hơn là mọi người; về việc nói năng như một người đàn ông; về việc có dính dáng tới một mưu đồ khét tiếng trong thập niên tám mươi, mà hiện đang bắt đầu được nhắc tới trong những cuốn hồi ký. Chắc chắn là trong phòng khách của bà có một cái hốc tường, và trong đó có một cái bàn, trên cái bàn đó là một bức ảnh của Tướng Talbot Moore, giờ đã quá cố, kẻ đã ngồi viết ở đó (vào một buổi tối trong thập niên tám mươi) với sự hiện diện của phu nhân Bruton, với sự chứng kiến, có lẽ cố vấn, của bà, một bức điện tín ra lệnh cho quân lính Anh tiến hành một sự kiện lịch sử. (Bà cầm cây bút máy và kể câu chuyện.) Do vậy, khi bà hỏi theo cách thức ứng khẩu của mình “Clarissa thế nào?” những ông chồng gặp khó khăn trong việc thuyết phục các bà vợ của mình và thật ra, bất kể tận tụy tới đâu, vẫn kín đáo ngờ vực chính mình, về sự quan tâm của bà đối với những người phụ nữ vốn thường hay cản đường đấng phu quân của họ, ngăn họ nhận những chức vụ ở nước ngoài, và phải được đưa tới bờ biển vào giữa phiên họp để phục hồi sức khỏe sau một cơn cảm cúm. Dù sao, câu hỏi “Clarissa thế nào?” của bà, mà những người phụ nữ hoàn toàn biết rõ là một dấu hiệu của một người mong muốn điều tốt, từ một người bạn hầu như im lặng, kẻ mà những phát biểu của bà ta (khoảng sáu lần trong quãng thời gian một đời người) biểu thị sự thừa nhận về một tình đồng chí của phái nữ diễn ra bên dưới những bữa ăn trưa của phái nam và hợp nhất phu nhân Bruton với bà Dalloway – kẻ mà bà ít khi gặp mặt, và khi họ gặp nhau lại có vẻ lãnh đạm, thậm chí thù địch – trong một mối ràng buộc đặc biệt.

“Hồi sáng này tôi gặp Clarissa trong công viên.” Hugh Whitbread nói, lặn vào cái nồi thịt hầm, nôn nao muốn tự mình bày tỏ lòng ngưỡng mộ nhỏ nhoi này, vì ông chỉ cần tới London và đã gặp mọi người ngay lập tức; nhưng tham lam, một trong những người đàn ông tham lam nhất mà cô từng biết, Milly Brush nghĩ; cô quan sát những người đàn ông với thái độ chính trực không hề nao núng, và có khả năng tận tụy mãi mãi, với giới tính riêng của mình nói riêng, với gương mặt đầy góc cạnh, u nần, vết xây xát, và hoàn toàn không có vẻ quyến rũ của phái nữ.

“Anh có biết ai đang ở trong thị trấn không?” Phu nhân Bruton đột nhiên sực nhớ. “Anh bạn cũ Peter Walsh của chúng ta.”

Cả bọn mỉm cười. Peter Walsh! Và ông Dalloway thật sự vui mừng, Milly Brush nghĩ; còn ông Whitbread thì chỉ nghĩ tới món thịt gà của mình.

Peter Walsh! Cả ba người, phu nhân Bruton, Hugh Whitbread và Richard Dalloway, đều cùng nhớ về một chuyện – Peter đã yêu say đắm ra sao; đã bị khước từ; sang Ấn Độ; gặp chuyện không may; làm hỏng mọi thứ; và Richard Dalloway cũng rất mến ông bạn cũ thân mến này. Milly Brush nhìn thấy điều đó; nhìn thấy một vết hằn sâu trên mày của ông; nhìn thấy ông ta do dự; tự hỏi; điều khiến bà thích thú, vì ông Dalloway luôn khiến cô thấy thích thú, vậy ông ta đang nghĩ gì về Peter Walsh, cô tự hỏi.

Rằng Peter Walsh đã từng yêu Clarissa; rằng ông sẽ trở về ngay sau bữa ăn và tìm Clarissa; rằng ông sẽ nói với bà ấy, với thật nhiều từ, rằng ông yêu bà ấy. Phải, ông sẽ nói điều đó.

Có lần Milly Brush đã suýt phải lòng với những sự im lặng đó; và ông Dalloway luôn rất đáng tin cậy; còn là một quý ông tuyệt vời nữa. Hiện giờ, với tuổi bốn mươi của mình, phu nhân Bruton chỉ cần gật đầu hoặc xoay đầu hơi bất ngờ một chút là Milly đã nắm bắt được ám hiệu,bất kể cô có thể chìm sâu tới đâu vào những hồi ức về một tinh thần tách biệt, một linh hồn liêm chính mà cuộc sống không thể đánh lừa, vì cuộc sống không hề cho cô một vật nữ trang có giá trị nhỏ nhất nào; không một lọn tóc xoăn, nụ cười, môi, má, mũi; không bất cứ thứ gì; phu nhân Bruton chỉ cần gật đầu, và Perkins nhận được chỉ thị nhanh nhanh đưa cà phê lên.

“Phải, Peter Walsh đã trở về.” Phu nhân Bruton nói. Điều này đã mơ hồ tôn giá trị của tất cả bọn họ lên. Ông ta đã trở về những bờ biển an toàn của họ, hao mòn, thất bại. Nhưng không thể nào giúp ông ta, họ ngẫm nghĩ; có một sai sót trong tính cách của ông ta. Có lần Hugh Whitbread đã nói, dĩ nhiên chỉ nhắc tới tên ông ta là gì gì đó. Ông nhăn mặt một cách sầu thảm, tự đắc, với ý nghĩ về những lá thư ông sẽ viết cho lãnh đạo các văn phòng của chính phủ về “ông bạn cũ Peter Walsh của tôi,” vân vân. Nhưng điều đó sẽ không đưa tới đâu cả – không đưa tới bất cứ thứ gì có tính chất lâu dài, do tính cách của ông ta.

“Đang gặp rắc rối với một người đàn bà nào đó.” phu nhân Bruton nói. Cả bọn đều đoán rằng điều đó nằm ở đáy của vấn đề.

“Tuy nhiên,” phu nhân Bruton nói, nôn nóng muốn rời khỏi chủ đề này, “chúng ta sẽ nghe toàn bộ câu chuyện từ chính bản thân Peter.”

(Cà phê tới chậm quá.)

“Địa chỉ?” Hugh Whitbread lẩm bẩm; và ngay tức khắc có một gợn sóng lăn tăn trong đợt thủy triều phục vụ cuốn quanh phu nhân Bruton hết ngày này sang ngày khác, tập trung, chặn đứng, bao phủ bà trong một tấm vải mỏng; đập tan những chấn động, giảm thiểu những gián đoạn và trải quanh ngôi nhà trên phố Brook một tấm lưới bền chắc nơi mọi thứ được đặt để và chọn ra một cách chính xác, tức thì, bởi Perkins tóc bạc, kẻ đã sống với phu nhân Bruton suốt ba mươi năm qua và lúc này đang viết cái địa chỉ; trao nó cho Whitbread. Ông móc cuốn sổ bỏ túi của mình ra, nhướng mày, rồi nhét nó vào giữa những thứ hồ sơ có tầm quan trọng cao nhất, nói rằng ông sẽ bảo Evelyn mời ông ta tới ăn trưa.

(Họ đang chờ Whitbread xong việc để mang cà phê tới.)

Hugh quá chậm chạp, phu nhân Bruton nghĩ. Anh ta đang ngày càng béo ra, bà nhận thấy. Richard luôn duy trì bản thân trong điều kiện hoàn hảo nhất. Bà đang trở nên nóng nảy; toàn bộ bản thể của bà đều mang tính tích cực, dứt khoát, gạt sang bên một cách độc đoán tất cả những điều vặt vãnh, không cần thiết (Peter Walsh và những vấn đề của anh ta) trùm lên cái chủ đề thu hút sự chú ý của bà, và không chỉ sự chú ý, mà cả cái thớ sợi vốn là cái que thông nòng súng của tinh hồn bà, cái phần tinh túy đó mà nếu thiếu nó hẳn Millicent Bruton sẽ không còn là Millicent Bruton; cái dự án về việc đưa những người trẻ tuổi ở cả hai giới tính là con cái của những bậc phụ huynh khả kính đi di cư và thiết lập một tương lai xán lạn thịnh vượng ở Canada. Có lẽ bà đã đánh mất ý thức về sự tương quan của mình. Đối với những người khác di cư không phải là một biện pháp hiển nhiên, ý niệm cao nhất. Đối với họ (đối với Hugh, hay Richard, hay thậm chí cô Brush tận tâm) nó không phải là kẻ giải phóng cho tính tự cao tự đại bị đè nén của một phụ nữ thượng võ mạnh mẽ, được nuôi dạy tốt, được kế thừa tốt, có những thôi thúc trực tiếp, những cảm xúc thẳng thừng, và ít khả năng nội quan (rộng rãi và đơn giản – vì sao mọi người không thể rộng rãi và đơn giản? Bà hỏi), những cảm giác nổi lên trong lòng bà, một khi tuổi trẻ đã là quá khứ, và phải nảy ra từ một đối tượng nào đó – đó có thể là Sự di cư, đó có thể là Sự giải phóng; nhưng bất kể nó là gì, đối tượng vốn là bản chất của linh hồn bị giấu kín hàng ngày này của bà, đã trở thành nửa phần là tấm gương soi sáng rực, tựa như lăng kính, nửa phần là đá quý; lúc thì được cẩn thận che đậy để tránh bị mọi người chế nhạo; lúc thì được phô bày một cách tự hào. Nói tóm lại, ở một mức độ lớn, Sự di cư đã trở thành phu nhân Bruton.

Nhưng bà phải viết. Và một lá thư gửi tới tờ Times, bà thường nói với cô Brush, khiến bà tốn kém nhiều hơn tổ chức một đoàn thám hiểm tới Nam Phi (mà bà đã tiến hành trong cuộc chiến). Sau khi một trận đánh của buổi sáng bắt đầu, loang ra, bắt đầu lại, bà thường cảm thấy sự vô hiệu quả của nữ tính của chính bà mà bà không cảm thấy trong những trường hợp khác, và thường quay một cách biết ơn sang ý nghĩ về Hugh Whitbread, kẻ sở hữu – không ai có thể nghi ngờ điều đó – nghệ thuật viết những lá thư cho tờ Times.

Một con người được cấu tạo hoàn toàn khác với bà, với một khả năng tinh thông về ngôn ngữ đến thế; có thể sắp đặt mọi thứ giống như những biên tập viên; có những đam mê mà người ta không thể gọi một cách đơn giản là lòng tham. Phu nhân Bruton thường đình chỉ sự phán xét đối với những người đàn ông thể theo hiệp ước bí ẩn mà trong đó họ, chứ không phải phụ nữ, đại diện cho những quy luật của vũ trụ; biết cách sắp đặt các thứ; biết cần phải nói gì; để nếu Richard góp ý cho bà, và Hugh viết cho bà, vì lý do nào đó bà chắc chắn về sự đúng đắn. Vì thế bà để cho Hugh ăn xong món trứng rán phồng; hỏi thăm về Evelyn tội nghiệp; chờ cho tới khi họ hút thuốc, và rồi cất tiếng:

“Milly, cô đi lấy giấy giùm được không?”

Và cô Brush đi ra, quay lại; đặt những tờ giấy lên bàn; và Hugh móc cây bút máy ra; cây bút máy bằng bạc của ông, đã phục vụ suốt hai mươi năm qua, vặn nắp bút. Nó vẫn còn trong tình trạng hoàn hảo; ông đã đưa nó cho những nhà sản xuất xem; không có lý do gì, họ bảo, để nó bị mòn đi; theo cách nào đó điều này mang lại uy tín cho Hugh, và uy tín cho những tình cảm mà cây bút của ông thể hiện (Richard Dalloway cảm thấy như thế) trong lúc Hugh bắt đầu cẩn thận viết những chữ hoa với những vòng tròn quanh chúng ở lề giấy, và do vậy đã giảm thiểu một cách kỳ diệu những ý tưởng rối rắm của phu nhân thành thứ ý nghĩa, thứ ngữ pháp mà tay biên tập viên của tờ Times phải tôn trọng, phu nhân Bruton nghĩ, trong lúc quan sát sự chuyển hóa kỳ diệu đó. Hugh chậm chạp. Hugh cố chấp. Richard bảo người ta phải đánh liều. Hugh đề nghị những bổ sung chiếu theo những cảm nghĩ của mọi người, mà, ông nói với vẻ khá chua chát khi Richard bật cười, “phải được cân nhắc tới,” và đọc to lên “do đó, chúng tôi có ý kiến rằng thời điểm đã chín muồi ra sao… giới trẻ thừa thãi của dân số không ngừng gia tăng của chúng ta… điều mà chúng ta mang ơn những người chết…” mà Richard nghĩ toàn là những lời lẽ ba hoa rỗng tuếch, nhưng không có hại gì trong chuyện đó, dĩ nhiên, và Hugh tiếp tục phác thảo những cảm nghĩ theo trật tự abc của tầng lớp cao quý nhất, phủi tro xì gà khỏi cái áo gi-lê, và thỉnh thoảng tóm tắt lại quá trình đã viết cho tới khi, rốt cuộc, ông đọc lớn bản nháp của một lá thư mà phu nhân Bruton cảm thấy chắc chắn là một kiệt tác. Bà có thể tự mình viết nghe kêu đến thế hay không?

Hugh không thể bảo đảm việc biên tập viên sẽ đệ trình nó lên; nhưng ông sẽ gặp ai đó vào bữa ăn trưa.

Tới đây, phu nhân Bruton, kẻ hiếm khi tỏ ra biết ơn, nhét tất cả những nhánh hoa cẩm chướng của Hugh vào phía trước váy của bà, và chìa tay ra, gọi ông là “ngài Thủ tướng của tôi!” Hẳn bà sẽ không biết phải làm gì nếu không có hai người bọn họ. Họ đứng lên. Và Richard Dalloway chậm chạm bước ra ngoài như thường lệ để nhìn một cái vào bức chân dung vị tướng, vì ông có ý định, khi có thời gian rảnh rỗi, sẽ viết một tiểu sử về gia đình của phu nhân Bruton.

Và Millicent Bruton rất tự hào về gia đình của bà. Nhưng họ có thể chờ, họ có thể chờ, bà nói, nhìn bức ảnh; có ý nói rằng gia đình bà, những người đàn ông trong giới quân sự, những nhà lãnh đạo, những vị đô đốc, là những con người của hành động, đã thực hiện bổn phận của họ; và bổn phận đầu tiên của Richard là đất nước của ông, nhưng đó là một gương mặt đẹp, bà nói; và tất cả giấy tờ đã sẵn sàng để Richard mang xuống Aldmixton khi tới thời điểm; ý bà là chính quyền của đảng Lao động. “Chà, tin tức từ Ấn Độ!” Bà kêu lên.

Thế rồi, trong lúc họ đứng trong đại sảnh lấy những đôi găng tay vàng từ cái bát trên cái bàn malachite và Hugh đang trao cho cô Brush, với sự nhã nhặn hoàn toàn không cần thiết, một tấm vé bị loại nào đó hay một lời khen ngợi khác, mà cô ghét cay ghét đắng từ tận đáy tim vàkhiến cô đỏ ửng lên như gạch nung, Richard quay sang phu nhân Bruton, với cái mũ trên tay, và bảo:

“Chúng tôi sẽ gặp phu nhân ở bữa tiệc tối nay của chúng tôi chứ?” Nghe thế phu nhân Bruton khôi phục lại vẻ cao quý mà việc viết thư đã làm cho tan tác. Bà có thể tới mà cũng có thể không. Clarissa có một năng lượng tuyệt vời. Những bữa tiệc khiến phu nhân Bruton kinh hãi. Nhưng bà đang ngày càng già đi. Bà thố lộ thế, đứng ở lối ra vào; xinh đẹp; người rất thẳng; trong lúc con chó su của bà duỗi người ra sau lưng bà, và cô Brush biến mất vào phía sau với hai tay đầy những tờ giấy.

Và phu nhân Bruton đi một cách đường bệ, chậm rãi lên phòng mình, nằm duỗi một cánh tay trên chiếc trường kỷ. Bà thở dài, bà ngáy, không phải vì đang ngủ, chỉ hơi lơ mơ và nặng nề, lơ mơ và nặng nề, như một cánh đồng cỏ ba lá dưới ánh mặt trời trong cái ngày tháng Sáu nóng bức này, với lũ ong lượn vòng quanh và những con bướm vàng. Bà luôn trở lại những cánh đồng ở mạn Devonshire đó, nơi bà đã phóng qua những con suối trên lưng Patty, con ngựa nhỏ của bà, với Mortimer và Tom, các anh của bà. Và còn có đàn chó; có những con chuột đồng; có cha mẹ bàtrên bãi cỏ dưới những hàng cây, với những bộ đồ uống trà bày ngoài trời và những luống hoa thược dược, hoa thục quỳ, cỏ bông bạc; và họ, những đứa ranh con nhỏ xíu, luôn dự tính một trò tai quái nào đó! len lén quay lại qua khu bụi rậm để không bị nhìn thấy, cả bọn áo quần lấm láp vì một trò nghịch ngợm. Bà vú già thường ca cẩm nhiều biết bao về cái váy yếm của bà!

Ái chà, bà nhớ – đó là một ngày thứ Tư ở phố Brook. Những anh chàng tốt bụng dễ thương đó, Richard Dalloway, Hugh Whitbread, trong cái ngày nóng nực này, đã đi qua những đường phố mà tiếng ồn ào của nó vọng lên tới nơi bà đang nằm trên chiếc trường kỷ. Quyền lực thuộc về bà, địa vị, thu nhập. Bà đã sống ở tuyến đầu của thời đại mình. Bà đã có những người bạn tốt; quen biết những người đàn ông có khả năng nhất vào thời của mình. London đang thì thầm cuốn lên chỗ bà, và bàn tay bà, đang gác trên lưng trường kỷ, cong lại trên một chiếc gậy tưởng tượng mà những người ông của bà đã cầm, như thể bà đang cầm nó, ngủ lơ mơ và nặng nề, chỉ huy những tiểu đoàn hành quân tới Canada, và những chàng trai tử tế đó bước ngang qua London, cái lãnh địa đó của họ, tấm thảm bé nhỏ đó, Mayfair.

Và họ đi ngày càng xa bà, bị gắn vào bà bởi một sợi chỉ mỏng (vì họ đã ăn trưa với bà) cứ trải dài, trải dài, ngày càng trở nên mỏng manh hơn khi họ bước ngang qua London; như thể bạn hữu của một người được gắn vào thân thể của người đó, sau khi ăn trưa với họ, bởi một sợi chỉ mỏng (trong lúc bà ngủ mơ màng ở đó); nó trở nên mơ hồ với âm thanh của những cái chuông, đang điểm giờ hay gọi phục vụ, như một sợi tơ nhện duy nhất lấm tấm những giọt mưa, và, trở nên nặng trĩu, võng xuống. Cứ thế bà ngủ.

Richard Dalloway và Hugh Whitbread ngần ngừ ở góc phố Conduit vào đúng giây phút mà Millicent Bruton, đang nằm trên trường kỷ, bỏ mặc cho sợi chỉ đứt phựt; ngáy pho pho. Những cơn gió ngược chiều xô vào nhau ở góc phố. Họ nhìn vào một cửa tiệm; họ không muốn mua hay trò chuyện mà chỉ muốn tách khỏi những cơn gió ngược chiều đang xô vào nhau ở góc phố, với một dạng dòng chảy nào đó trong những đợt thủy triều của thân thể, hai lực lượng gặp nhau trong một cơn lốc xoáy, buổi sáng và buổi chiều, họ dừng lại. Một tấm áp phích quảng cáo nhật trình bay vút lên không trung, một cách quả cảm, thoạt tiên như một con diều giấy, rồi dừng lại, nhào xuống, vẫy cánh; và một tấm voan che mặt của một phu nhân treo lơ lửng. Những tấm vải bạt màu vàng run rẩy. Tốc độ lưu thông của buổi sáng chậm lại, và những cỗ xe một ngựa lóc cóc chạy một cách bất cẩn dọc những đường phố nửa phần vắng vẻ. Ở Norfolk, mà Richard đang lơ mơ nghĩ tới, một cơn gió nhẹ ấm áp thổi ngược những cánh hoa; khuấy động những mặt nước; làm những đám cỏ đang ra hoa gợn lên như sóng. Trước đó những người thợ phơi cỏ đã dựng lều bên dưới những hàng rào để ngủtrưa sau buổi sáng cực nhọc; giờ họ tách những tấm màn lá cỏ xanh ra; gạt sang bên những chùm hoa ngò tây hình cầu đang rung động để nhìn thấy bầu trời; bầu trời xanh, kiên định, sáng chói của mùa hè.

Ý thức rằng mình đang nhìn vào một cái ca bạc có hai quai, và Hugh Whitbread đang thưởng thức một cách nhún nhường với dáng vẻ của một người am hiểu một chuỗi hạt Tây Ban Nha và nghĩ tới việc hỏi giá để nhỡ khi Evelyn có thể ưa thích nó – tuy nhiên Richard vẫn còn mụ mị; không thể suy nghĩ hay cử động. Cuộc sống đã nôn ra sự đổ nát này; cửa sổ của các tiệm đầy những hạt đá giả nhiều màu và người ta đứng thừ ra với trạng thái hôn mê của người già, cứng người lại với sự cứng đơ của người già, nhìn vào. Evelyn Whitbread có thể thích mua cái xâu chuỗi hạt Tây Ban Nha này – rất có thể. Ông phải ngáp. Hugh đang bước vào tiệm.

“Anh đúng đấy!” Richard nói, đi theo.

Có trời biết là ông không muốn đi mua những xâu chuỗi với Hugh. Nhưng có những đợt thủy triều trong cơ thể. Buổi sáng gặp buổi chiều. Chịu đựng như một chiếc xuồng máy mong manh trên những dòng nước lũ sâu, rất sâu, ông cố của phu nhân Bruton và cuốn hồi ký và những chiến dịch của ông ta ở Bắc Mỹ bị dìm xuống và chìm đắm. Cả Millicent nữa. Bà chìm xuống. Richard không hề quan tâm tới việc Sự di cư sẽ trở thành thứ gì; về lá thư đó, về việc tay biên tập viên có đệ trình nó lên hay không. Xâu chuỗi treo lủng lẳng giữa những ngón tay hâm mộ của Hugh. Cứ mặc ông ta tặng nó cho một cô gái, nếu ông ta phải mua đồ trang sức bằng đá quý – bất cứ cô gái nào, bất cứ cô gái nào trên đường. Vì sự vô giá trị của cuộc đời này đã giáng cho Richard một đòn mạnh mẽ – việc mua những xâu chuỗi cho Evelyn. Giá như ông có một cậu con trai ông sẽ bảo, Làm việc, làm việc. Nhưng ông có Elizabeth; ông yêu quý Elizabeth của mình.

“Tôi muốn gặp ông Dubonnet.” Hugh nói với giọng cộc lốc thường ngày. Có vẻ như gã Dubonnet này có những số đo vòng cổ của bà Whitbread, hoặc, còn lạ lùng hơn, biết các quan điểm của bà ta về đồ trang sức bằng đá quý Tây Ban Nha và mức độ tài sản của bà ta ở phạm vi này (điều mà Hugh không thể nhớ). Với Richard Dalloway, dường như tất cả những điều này vô cùng kỳ quặc. Vì ông không bao giờ tặng quà cho Clarissa, trừ một cái vòng đeo tay cách nay hai ba năm và đó không phải là một thành công. Bà ấy chả bao giờ đeo nó. Ông đau lòng khi nhớ ra bà ấy không bao giờ đeo nó. Và như một sợi tơ nhện độc nhất sau khi dao động qua lại tự gắn mình vào một chỏm lá, tâm hồn của Richard cũng thế, hồi phục lại từ trạng thái mơ màng, lúc này đặt vào vợ của ông, Clarissa mà Peter Walsh đã từng yêu say đắm; và ông đã có một ảo tượng đột ngột về bà ấy trong bữa ăn trưa; về chính ông và Clarissa, về cuộc sống chung của họ; và ông kéo cái khay đựng những món trang sức cũ về phía mình, cầm lên đầu tiên là cái trâm cài tóc này rồi tới chiếc nhẫn kia, “Cái đó giá bao nhiêu?” Ông hỏi, nhưng nghi ngờ thị hiếu của chính mình. Ông muốn mở cánh cửa phòng khách ra và bước vào, đưa ra vật gì đó; một món quà cho Clarissa. Chỉ có điều đó là gì? Nhưng Hugh lại cất bước. Ông ta vênh vang không thể tả. Thật sự, sau khi qua lại ở đây suốt ba mươi lăm năm, ông ta sẽ không để cho một cậu bé không biết việc trì hoãn mình lại. Vì dường như Dubonnet đã ra ngoài, và Hugh sẽ không mua bất cứ món gì cho tới khi ông Dubonnet chọn cách ở trong tiệm; nghe vậy chàng thanh niên đỏ mặt lên và khẽ cúi đầu chào ông ta theo đúng thể thức. Tất cả đều đúng một cách hoàn hảo. Thế nhưng Richard không thể nói điều đó sẽ cứu vớt cuộc đời ông! Vì sao những người này chịu đựng được sự xấc láo đáng nguyền rủa đó ông không thể hiểu. Hugh đang trở thành một con lừa khó mà khoan thứ nổi. Richard Dalloway không thể chịu được một giờ đi cùng với ông ta. Và, khẽ vỗ vào cái mũ quả dưa thay cho lời từ giã, Richard quẹo ở góc phố Conduit, nôn nóng hơn, phải, rất nôn nóng, để đi theo sợi tơ nhện của sự gắn bó giữa ông và Clarissa; ông sẽ đi thẳng tới chỗ bà ấy, ở Westminster.

Nhưng ông muốn bước vào, tay cầm thứ gì đó. Hoa chăng? Phải, hoa, vì ông không tin vào thị hiếu về vàng của mình; bất kỳ số lượng hoa nào, hồng, phong lan, để chúc mừng cái, mà khi bạn sẵn lòng xét tới các thứ, đúng là một sự kiện; cái cảm giác về bà ấy khi họ nói về Peter Walsh trong bữa ăn trưa; và họ chưa bao giờ nói về nó; họ không hề nói về suốt bao năm nay; điều đó, ông nghĩ, ôm những nhánh hoa hồng đỏ và trắng bó chung lại (cả một bó lớn bọc trong giấy lụa), là sai lầm lớn nhất trên đời. Thời điểm đến khi người ta không thể nói nên lời; người ta quá ngượng ngùng không nói được, ông nghĩ, cất bước với bó hoa lớn ôm sát vào người tới Westminster để vừa nói thẳng ra bằng rất nhiều lời lẽ (bất kể bà ấy có thể nghĩ gì về ông), vừa giơ bó hoa ra, “Tôi yêu em.” Sao không chứ? Đây thật sự là một phép mầu khi nghĩ tới cuộc chiến tranh, và nhiều ngàn chàng trai tội nghiệp, với cả cuộc đời phía trước, đã bị vùi lấp cùng nhau, và đã bị nửa phần quên lãng; đây là một phép mầu. Tại đây, ông đang băng qua London để nói với Clarissa bằng rất nhiều lời lẽ rằng ông yêu bà ấy. Điều mà người ta chưa bao giờ nói, ông nghĩ. Phần vì người ta lười lĩnh; phần vì người ta ngượng. Và Clarissa – nghĩ tới bà ấy thật khó khăn; trừ những lúc bắt đầu, như ở bữa ăn trưa, khi ông thấy bà ấy hoàn toàn khác biệt; toàn bộ cuộc đời của họ. Ông dừng lại ở ngã tư; và lặp lại – vốn đơn giản do bản chất, và chưa hề trở nên hư hỏng, vì ông đã đi bộ và săn bắn; vốn cố chấp và kiên trì, từng đấu tranh để bảo vệ những kẻ bị áp bức và làm theo những bản năng của mình ở Hạ viện; vẫn duy trì tính mộc mạc của mình nhưng đồng thời trở nên khá ít lời, hay đúng hơn là cứng nhắc – ông lặp lại rằng việc ông lấy Clarissa thật là một phép mầu; một phép mầu – cuộc đời ông đã là một phép mầu, ông nghĩ; do dự chưa băng qua đường. Nhưng việc nhìn thấy những đứa bé năm sáu tuổi băng qua ngã tư Piccadilly một mình khiến máu ông sôi lên. Cảnh sát nên dừng lưu thông lại ngay lập tức. Ông không có ảo tưởng nào về cảnh sát London. Thật ra ông đang thu thập chứng cứ về những việc làm phi pháp của họ; và những người bán hàng rong đó, không được phép dừng xe ba gác của họ trên đường phố; và những cô gái điếm, Trời ạ, lỗi không phải ở họ, cũng không phải ở những gã thanh niên, mà ở hệ thống xã hội đáng tởm của chúng ta, vân vân; ông cân nhắc tất cả những điều đó, người ta có thể thấy là ông đang cân nhắc, tóc bạc, bền bỉ, nhanh nhẹn, sạch sẽ, khi ông bước ngang qua công viên để nói với vợ ông rằng ông yêu bà ấy.

Vì ông sẽ nói điều đó với rất nhiều lời lẽ, khi bước vào phòng. Vì thật là ngàn lần đáng tiếc nếu không bao giờ nói ra điều mà người ta cảm thấy, ông nghĩ, vừa băng qua công viên Green vừa thích thú quan sát cái cách toàn bộ những gia đình, những gia đình nghèo, đang nằm ườn ra dưới bóng râm của cây cối; lũ trẻ vung chân lên, bú sữa; những cái túi giấy vứt xung quanh, có thể dễ dàng được thu nhặt (nếu mọi người phản đối) bởi một trong những quý ông béo ị mặc chế phục; vì ông ta có ý kiến rằng mọi công viên, mọi quảng trường, trong những tháng hè, nên được mở ra cho trẻ em (cỏ trong công viên đỏ ửng và héo úa, soi sáng những bà mẹ nghèo của khu Westminster và những em bé mới biết bò, như thể có một ngọn đèn vàng đang di chuyển bên dưới). Nhưng người ta có thể làm gì cho những người phụ nữ lang thang như sinh vật khốn khổ đó, đang duỗi người trên khuỷu tay (như thể cô ta tự treo mình lên trái đất, cởi bỏ mọi ràng buộc, để quan sát một cách tò mò, để suy xét một cách táo tợn, để cân nhắc những lý do và nguyên cớ, trơ tráo, môi thừ ra, hóm hỉnh), ông không biết. Mang bó hoa của mình như thể một thứ vũ khí, Richard Dalloway tới gần cô ta; ông phăm phăm bước ngang qua cô ta; tuy nhiên có đủ thì giờ cho một cái chạm mắt giữa họ với nhau – cô ta cười to khi nhìn thấy ông, ông mỉm cười vui vẻ, xét tới nan đề về những phụ nữ lang thang; không phải là họ sẽ nói tới việc đó. Nhưng ông sẽ bảo với Clarissa rằng ông yêu bà ấy, với rất nhiều lời lẽ. Lâu lắm rồi, ông từng ghen với Peter Walsh; ghen với ông ta và Clarissa. Nhưng bà ấy thường nói với ông rằng bà đã đúng khi không lấy Peter Walsh; rõ ràng đúng là thế, nếu biết Clarissa; bà ấy muốn có sự hỗ trợ. Không phải bà ấy nhu nhược; nhưng bà ấy muốn có sự hỗ trợ.

Còn về phần điện Buckingham (như một nữ diễn viên chính đối mặt với khán giả trong bộ đồ toàn trắng), bạn không thể chối rằng nó có một phẩm cách nhất định, ông cân nhắc, cũng không coi thường cái, nói cho cùng, đại diện cho một biểu tượng, dù nó phi lý, đối với hàng triệu người (một đám đông nhỏ đang đợi để nhìn thấy đức vua lái xe ra); hẳn một đứa bé với một thùng gạch có thể làm tốt hơn, ông nghĩ; nhìn vào đài kỷ niệm Nữ hoàng Victoria (ông có thể nhớ bà mang đôi kính gọng sừng ngồi xe qua khu Kensington), cái mô đất cao của nó, tính chất người mẹ dâng trào của nó; nhưng ông thích được cai quản bởi hậu duệ của Horsa 3 ; ông thích sự tiếp nối; và cảm giác về việc lưu truyền những truyền thống của quá khứ. Đây là một thời đại vĩ đại để sống. Thật sự, cuộc đời của chính ông là một phép mầu; đừng để ông phạm sai lầm gì về nó; ông ở đây, trong giai đoạn tươi đẹp của cuộc đời, đi bộ về nhà mình ở Westminster để nói với với Clarissa rằng ông yêu bà ấy. Hạnh phúc là điều này, ông nghĩ.

Nó là điều này, ông nói, khi ông bước vào Dean’s Yard 4 . Tháp Big Ben bắt đầu đổ chuông, trước tiên là tiếng nhạc báo hiệu, rồi tới giờ khắc, bất khả vãn hồi. Những bữa tiệc trưa làm phí mất cả buổi chiều, ông nghĩ, đi tới gần cửa nhà mình.

Tiếng chuông Big Ben tràn ngập căn phòng khách của Clarissa, nơi bà ngồi cạnh bàn viết, đang khá bực mình; lo âu, bực mình. Hoàn toàn đúng là bà không mời Ellie Henderson tới dự tiệc; nhưng bà làm điều đó là có mục đích. Bây giờ bà Marsham viết: Bà ta đã nói với Ellie Henderson rằng bà ta sẽ đề nghị với Clarissa – Ellie rất muốn tới dự.

Nhưng vì sao bà phải mời tất cả những phụ nữ tẻ ngắt ở London tới dự những bữa tiệc của mình? Vì sao bà Marsham can thiệp? Và còn chuyện Elizabeth cứ to nhỏ với Doris Kilman suốt buổi trong buồng. Bà không thể tưởng tượng ra chuyện gì đáng tởm hơn thế. Cầu nguyện với người đàn bà đó vào giờ này. Và tiếng chuông Big Ben tràn ngập căn phòng với làn sóng u hoài của nó; làn sóng này rút lui, rồi tự tập hợp lại để hạ xuống một lần nữa, khi bà nghe thấy, một cách lơ đãng, có thứ gì đó đang sờ soạng, thứ gì đó đang cào vào cửa. Ai đến vào giờ này? Ba giờ, ôi Trời. Đã là ba giờ! Vì với sự trực tiếp đầy áp đảo và phẩm giá, đồng hồ điểm ba giờ; và bà không nghe thấy gì khác; nhưng cái tay nắm cửa xoay đi và Richard bước vào! Thật kinh ngạc biết bao! Richard bước vào, giơ bó hoa ra. Có lần bà đã phụ lòng ông, ở Constantinople; và phu nhân Bruton, người mà những bữa tiệc của bà ta được cho là cực kỳ thú vị, đã không mời bà. Ông ấy đang giơ bó hoa ra – hoa hồng, những đóa hồng đỏ và trắng. (Nhưng ông không thể đủ can đảm thốt lên rằng ông yêu bà ấy; với rất nhiều lời lẽ, không.)

Nhưng đáng yêu làm sao, bà nói, cầm lấy bó hoa của ông. Bà hiểu; bà hiểu mà không cần ông nói ra; Clarissa của ông. Bà cắm chúng vào cái lọ trên bệ lò sưởi. Trông chúng đáng yêu làm sao! Bà nói. Và bữa tiệc có vui không? Bà hỏi. Phu nhân Bruton có hỏi thăm bà không? Peter Walsh đã trở lại. Bà Marsham đã viết. Bà có phải mời Ellie Henderson không? Người đàn bà Kilman đó đang ở trên gác.

“Nhưng chúng ta hãy ngồi xuống năm phút đã.” Richard nói.

Tất cả trông có vẻ quá trống vắng. Toàn bộ những cái ghế xếp sát tường. Họ đã làm gì? Ồ, đó là dành cho bữa tiệc; không ông không quên, bữa tiệc. Peter Walsh đã trở lại. Ồ, phải; bà ấy đã có ông. Và ông ta sắp sửa ly dị; và ông ta đã yêu một người phụ nữ nào đó ở ngoài kia. Và ông ta không hề thay đổi chút nào. Bà ấy ở đó, đang chữa lại cái váy của mình…

“Đang nghĩ tới Bourton.” Bà nói.

“Hugh đã tới ăn trưa.” Richard nói. Bà cũng đã gặp ông ta! Chà, ông ấy đang ngày càng quá quắt. Mua những xâu chuỗi cho Evelyn; béo hơn bao giờ hết; một con lừa không thể chịu nổi.

“Và đột nhiên tôi nghĩ ‘Lẽ ra tôi đã lấy ông.’” bà nói, nghĩ tới Peter đang ngồi đó với cái nơ con bướm nhỏ xíu của mình; với con dao nhíp đó, mở nó ra, đóng nó lại. “Giống như ông ta luôn là vậy, ông biết đó.”

Họ đã nói chuyện về ông ta trong bữa trưa, Richard nói. (Nhưng ông không thể nói với bà ấy rằng ông yêu bà ấy. Ông cầm lấy tay của bà ấy. Hạnh phúc là điều này, ông nghĩ.) Họ đã viết một lá thư cho tờ Times giùm Millicent Bruton. Đó là tất cả những gì phù hợp với Hugh.

“Và cô Kilman thân mến của chúng ta?” Ông hỏi. Clarissa nghĩ những đóa hồng hoàn toàn đáng yêu; đầu tiên được bó chung với nhau; giờ sự hòa hợp của chính họ bắt đầu tách rời nhau.

“Kilman tới ngay khi chúng tôi ăn trưa xong.” Bà nói. “Elizabeth có vẻ bối rối. Họ tự nhốt mình trong phòng. Tôi cho là họ đang cầu nguyện.”

Chúa ơi! Ông không thích điều này; nhưng những vụ này sẽ đi quá trớn nếu bạn để mặc chúng.

“Mặc một cái áo khoác đi mưa và mang một cái dù.” Clarissa nói.

Ông không nói “Tôi yêu em”; nhưng ông cầm tay bà. Hạnh phúc là điều này, là điều này, ông nghĩ.

“Nhưng vì sao tôi phải mời tất cả những phụ nữ tẻ ngắt ở London tới dự tiệc của tôi?” Clarissa nói. Và nếu bà Marsham tổ chức một bữa tiệc, bà ta có mời khách của bà không?

“Ellie Henderson tội nghiệp.” Richard nói – thật rất lạ lùng khi Clarissa quan tâm tới những bữa tiệc của bà ấy nhiều đến thế, ông nghĩ.

Nhưng Richard không để ý gì tới dáng vẻ của một căn phòng. Tuy nhiên – ông sẽ nói gì đây?

Nếu bà ấy lo lắng về những bữa tiệc này, ông sẽ không cho bà ấy tổ chức chúng. Bà ấy có ao ước rằng giá mà đã lấy Peter không? Nhưng ông phải đi.

Ông phải đi, ông nói, đứng lên. Nhưng ông đứng giây lát như thể sắp nói điều gì đó; và bà tự hỏi đó là gì? Vì sao? Có những đóa hồng.

“Một cuộc họp ủy ban nào đó hở?” Bà hỏi khi ông mở cửa.

“Những người Armenia.” Ông nói; hoặc có lẽ đó là “Những người Albania.”

Và ở mọi người có một phẩm chất; một sự lẻ loi; thậm chí giữa vợ chồng cũng có một cái vịnh; và người ta phải tôn trọng điều đó, Clarissa nghĩ, quan sát ông mở cửa; vì người ta sẽ không tựtách nó khỏi chồng mình, hay đón nhận nó, trái với ý muốn của ông ta, mà không đánh mất sự độc lập, lòng tự trọng của mình – một điều gì đó, nói cho cùng, là vô giá.

Ông quay lại với một cái gối và một tấm chăn.

“Một giờ nghỉ ngơi trọn vẹn sau bữa trưa.” Ông nói. Và ông đi.

Đúng là tính cách của ông! Ông sẽ tiếp tục nói “Một giờ nghỉ ngơi trọn vẹn sau bữa trưa” cho tới phút tận cùng của thời gian, vì có lần một bác sĩ đã ra lệnh như thế.

Tính cách của ông là nghiêm chỉnh tuân theo những gì các bác sĩ nói; một phần của sự đơn giản đáng mến, tuyệt vời của ông, mà không ai có cùng mức độ; nó khiến cho ông đi và làm điều đó trong lúc bà và Peter phung phí thì giờ để cãi cọ không đâu. Ông đã đi được nửa đường tới Hạ viện, tới những người Armenia, những người Albania của mình, sau khi bố trí bà trên chiếc trường kỷ, nhìn những bông hồng. Và mọi người sẽ nói: “Clarissa Dalloway hỏng rồi.” Bà quan tâm tới những bông hồng của mình hơn những người Armenia nhiều. Bị săn đuổi khỏi sự hiện hữu, bị làm cho trở nên tật nguyền, bị đóng băng, những nạn nhân của sự độc ác và bất công (bà đã từng nghe Richard nói đi nói lại mãi như thế) – không , bà không thể cảm nhận gì về những người Albania, hay đó là những người Armenia? Nhưng bà yêu những bông hồng của mình (điều đó có giúp gì cho những người Armenia không?) – những bông hoa duy nhất mà bà có thể chịu đựng được việc nhìn chúng bị cắt. Nhưng Richard đã ở Hạ viện; ở Ủy ban của ông, sau khi giải quyết tất cả những khó khăn của bà. Nhưng không; ôi trời, điều đó không đúng. Ông không nhìn thấy những lý do chống lại việc mời Ellie Henderson. Bà sẽ làm điều đó, dĩ nhiên, như ông muốn. Vì ông đã mang cái gối tới, bà sẽ nằm xuống. Nhưng… nhưng… vì sao bà đột nhiên cảm thấy, bà không thể khám phá là vì lý do gì, bất hạnh một cách tuyệt vọng? Như một người đã đánh rơi một hạt ngọc hay hạt kim cương xuống cỏ và rất thận trọng tách những lá cỏ ra, theo hướng này hướng khác, tìm kiếm chỗ này chỗ khác một cách vô hiệu quả, rồi cuối cùng phát hiện ra nó ở đó, trên lớp rễ, thế là bà đi từ việc này sang việc khác; không, không phải việc Sally Seton bảo rằng Richard sẽ không bao giờ vào nội các vì ông có một bộ não của tầng lớp thứ hai (nó quay lại với bà); không, bà không quan tâm tới điều đó; cũng không dính dáng gì tới Elizabeth và Doris Kilman; đó là những thực tế. Nó là một cảm giác, một cảm giác không vui nào đó, có lẽ là hồi đầu ngày; một điều gì đó mà Peter đã nói, cộng với một sự phiền muộn nào đó của chính bà, trong phòng ngủ của bà, khi bà gỡ mũ ra; và những gì Richard nói đã bổ sung vào đó, nhưng ông đã nói gì? Có những bông hồng của ông ấy. Những bữa tiệc của bà! Đúng là nó rồi! Những bữa tiệc của bà! Cả hai người bọn họ đã chỉ trích bà rất bất công, chế nhạo bà rất bất công, vì những bữa tiệc của bà. Đúng là nó rồi! Đúng là nó rồi!

Chà, bà sẽ tự vệ như thế nào đây? Giờ bà đã biết nó là gì, bà cảm thấy hoàn toàn hạnh phúc. Họ nghĩ, hay ở bất kỳ giá nào Peter nghĩ, rằng bà vui sướng khi tự ép buộc mình; thích có những người nổi tiếng xung quanh mình; những tên tuổi lớn; nói tóm, chỉ là một sự hợm hĩnh. Vâng, Peter có thể nghĩ như thế. Richard chỉ nghĩ bà thật ngốc khi thích sự kích động trong lúc bà biết nó có hại cho trái tim của mình. Nó trẻ con, ông ấy nghĩ. Và cả hai đều sai hoàn toàn. Cái bà thích chỉ đơn giản là cuộc sống.

“Tôi làm là vì điều đó.” Bà nói, lớn tiếng, với cuộc sống.

Vì bà đang nằm trên trường kỷ, ẩn dật, vô nghĩa vụ, sự hiện diện của điều mà bà cảm thấy rất hiển nhiên này trở nên sự hiện hữu về mặt vật chất; với những chuỗi âm thanh từ đường phố, ánh mặt trời, với hơi thở ấm nồng, đang thì thầm, thổi tung những tấm màn che. Nhưng giả sử Peter nói với bà “Phải, phải, nhưng những bữa tiệc của bà – ý nghĩa của chúng là gì?” tất cả những gì bà có thể nói là (và bà không thể mong ai thấu hiểu): Chúng là một sự trao tặng; điều đó nghe mơ hồ kinh khủng. Nhưng Peter là ai để cho rằng toàn bộ cuộc sống chỉ là việc ra khơi? – lúc nào Peter cũng yêu, lúc nào cũng yêu một người phụ nữ không phù hợp? Tình yêu của ông là gì? Bà có thể nói với ông ta. Và bà biết câu trả lời của ông ta; rằng nó là điều quan trọng nhất trên đời và không người phụ nữ nào có thể hiểu nó. Rất hay. Nhưng liệu có bất kỳ người đàn ông nào hiểu ý định của bà không? Về cuộc đời? Bà không thể hình dung rằng Peter hay Richard chuốc lấy sự phiền phức của việc tổ chức một bữa tiệc không vì bất cứ lý do gì.

Nhưng nếu đi sâu hơn, bên dưới những gì mọi người nói (và những phán xét này thật nông cạn, thật chắp vá biết bao!) trong tâm trí của bà lúc này, nó có ý nghĩa gì với bà, cái điều mà bà gọi là cuộc đời này? Ôi, nó thật lạ lùng. Đây là Ngài nào đó ở South Kensingtin; một ai đó ở Bayswater; và một ai đó khác, chẳng hạn, ở Mayfair. Và bà cảm thấy một ý thức liên tục về sự tồn tại của họ; bà cảm thấy thật lãng phí biết bao; bà cảm thấy thật đáng tiếc biết bao; bà cảm thấy giá như bà có thể đưa họ tới gần nhau; thế là bà làm điều đó. Và đó là một sự trao tặng; để kết hợp, để sáng tạo; nhưng cho ai?

Một sự trao tặng vì chính sự trao tặng, có lẽ. Dù sao, đó là khả năng thiên phú của bà. Bà không còn thứ gì khác với tầm quan trọng nhỏ nhất; không thể tư duy, viết lách, thậm chí chơi dương cầm; bà lẫn lộn giữa người Armenia và người Thổ; yêu sự thành công; ghét sự thiếu tiện nghi; phải được người khác ưa thích; nói vô số những điều phi lý; và tới tận hôm nay, nếu hỏi bà đường xích đạo là gì, bà không biết. Tuy nhiên, ngày này tiếp theo ngày khác; Thứ tư, Thứ năm, Thứ sáu, Thứ bảy; người ta phải thức dậy vào buổi sáng; nhìn thấy bầu trời; thả bộ trong công viên; gặp Hugh Whitbread; rồi đột nhiên Peter bước vào; rồi những bông hồng này; thế là đủ. Sau đó, cái chết thật khó tin biết bao! Rằng nó phải kết thúc; và không ai trên toàn thế giới biết bà đã yêu tất cả những điều này như thế nào; như thế nào, trong từng khoảnh khắc…

--------------------------------

1

Richard Lovelace (1618–1657) nhà thơ Anh.

2

Robert Herrick (1591 – 1674) nhà thơ Anh.

3

Nhân vật truyền thuyết trong lịch sử Anh, sống vào khoảng thế kỷ thứ 5.

4

Là phần sân có cổng riêng nằm trong khu vực Tu viện Westminster ở London.

VII

Cửa mở. Elizabeth biết mẹ mình đang nằm nghỉ. Cô lặng lẽ bước vào. Cô đứng bất động hoàn toàn. Phải chăng một người Mông Cổ nào đó đã bị đắm tàu ở bờ biển Norfolk (như bà Hilbery nói), đã pha lẫn dòng máu với những quý bà dòng họ Dalloway, có lẽ, cách đây một trăm năm? Vì nói chung những người mang họ Dalloway có mái tóc sáng; mắt xanh; Elizabeth, trái lại, có mái tóc đen; có đôi mắt Trung Hoa trên một gương mặt trắng trẻo; một bí ẩn phương Đông; hòa nhã, thận trọng, lặng lẽ. Khi còn bé, cô có một đầu óc hài hước tuyệt vời; nhưng giờ đây, ở tuổi mười bảy, cô đã trở nên rất nghiêm trang, vì sao, Clarissa không thể hiểu được chút nào; như một cây lan dạ hương được bao bọc trong màu xanh bóng loáng, với những chồi non mới ửng màu, một cây dạ lan hương thiếu ánh mặt trời.

Cô đứng bất động hoàn toàn và nhìn mẹ mình; nhưng cánh cửa để mở hé, và bên ngoài cửa là cô Kilman, như Clarissa biết; cô Kilman trong chiếc áo khoác đi mưa, đang lắng nghe bất cứ điều gì họ nói.

Phải, cô Kilman đứng ở đầu cầu thang, và mặc một cái áo khoác đi mưa; nhưng có những lý do của cô. Trước hết, nó rẻ tiền; thứ hai, cô đã quá bốn mươi; và, nói cho cùng, cô không mặc để làm hài lòng người khác. Ngoài ra cô nghèo; nghèo đến mức trở nên hèn hạ. Không thì cô sẽ không nhận những công việc từ những người như gia đình Dalloway; từ những kẻ giàu có, thích tỏ ra tử tế. Ông Dalloway tốt bụng, nếu xét một cách công bằng. Nhưng bà Daloway thì không. Bà ấy chỉ đơn giản tỏ ra hạ cố. Bà ấy xuất thân từ tầng lớp vô giá trị nhất trong mọi tầng lớp – những kẻ giàu có, với chút ít văn hóa. Họ có những thứ đắt tiền ở khắp nơi; những bức tranh, những tấm thảm, nhiều người hầu. Cô cho rằng cô có hoàn toàn có quyền đón nhận bất cứ điều gì gia đình Dalloway đã làm cho cô.

Cô đã bị lừa. Phải, từ này không hề cường điệu, vì chắc chắn là một cô gái phải có một quyền được hạnh phúc nào đó chứ? Và cô chưa bao giờ hạnh phúc, do quá vụng về và quá nghèo. Và rồi, ngay khi cô có thể có một cơ may ở trường trung học của cô Dolby thì cuộc chiến nổ ra; và cô không bao giờ có thể nói dối. Cô Dolby nghĩ cô có thể hạnh phúc hơn với những người chia sẻ các quan điểm của cô về người Đức. Cô phải ra đi. Đúng là gia đình cô có nguồn gốc người Đức; mang cái tên viết theo chính tả là Kiehlman hồi thế kỷ mười tám; nhưng anh trai cô đã bị giết. Họ từ chối cô vì cô không thể giả vờ rằng tất cả những người Đức đều là những kẻ hung đồ – khi cô có những người bạn Đức, khi những ngày hạnh phúc duy nhất trong đời cô đã trải qua ở Đức! Và nói cho cùng, cô có thể đọc lịch sử. Cô phải nắm lấy bất cứ thứ gì có thể nắm được. Ông Dalloway đã tình cờ gặp cô khi cô đang làm việc cho hội Những người bạn. Ông đã cho phép cô (và ông thật rộng lượng về điều đó) được dạy con gái mình môn lịch sử. Cô cũng đã thực hiện chút ít bài giảng mở rộng, vân vân. Thế rồi Thượng đế đã đến với cô (nghĩ tới đây cô cúi đầu chào). Cô đã nhìn ra ánh sáng cách nay hai năm ba tháng. Giờ đây cô không còn ghen ghét với những người phụ nữ như Clarissa Dalloway; cô thương hại họ.

Cô thương hại và coi thường họ từ đáy lòng mình, khi đang đứng trên tấm thảm mềm, nhìn bức tranh điêu khắc cũ về một cô gái với một cái bao tay. Với mọi thứ xa hoa triền miên này, còn có hy vọng nào cho một tình trạng tốt đẹp hơn của mọi sự vật? Thay vì nằm trên trường kỷ – “Mẹ tôi đang nằm nghỉ,” Elzabeth nói –lẽ ra bà ấy nên ở trong một nhà máy; đứng sau một cái quầy tính tiền; bà Dalloway và tất cả những quý phu nhân xinh đẹp khác!

Cay đắng và tràn đầy nhiệt huyết, hai năm ba tháng trước cô Kilman đã quay sang một nhà thờ. Cô đã nghe đức cha Edward Whittaker giảng đạo; những cậu bé ca hát; đã trông thấy những ánh sáng trang nghiêm tỏa xuống, và dù nó là âm nhạc hay những giọng hát (bản thân cô tìm sự an ủi ở một chiếc vĩ cầm khi ở một mình vào chiều tối; nhưng tiếng đàn của cô rất khó nghe; cô không có lỗ tai âm nhạc), những cảm giác nóng bỏng và náo loạn vốn từng sôi lên và trào dâng trong lòng cô đã nguôi khuây khi cô ngồi đó, và cô đã khóc như mưa, và đã tới thăm cha Whittaker ở ngôi nhà riêng của ông tại Kensington. Đó là bàn tay của Chúa, ông nói. Chúa đã chỉ cho cô con đường đi. Vì thế bây giờ, bất cứ lúc nào những cảm giác nóng bỏng và đau đớn sôi lên trong lòng cô, niềm căm ghét bà Dalloway này, sự hận thù đối với thế giới này, cô lại nghĩ tới Chúa. Cô nghĩ tới cha Whittaker. Sự giận dữ được tiếp nối bởi sự bình thản. Một hương vị ngọt ngào tràn ngập những huyết mạch của cô, môi cô hé mở, và, đứng đó trên đầu cầu thang trong chiếc áo khoác đi mưa, cô nhìn bà Dalloway, người vừa bước ra cùng cô con gái, với sự trầm lặng kiên định và nham hiểm.

Elizabeth bảo cô đã quên lấy đôi găng tay. Đó là vì cô Kilman và mẹ cô ghét nhau. Cô không thể chịu nổi việc nhìn thấy họ bên cạnh nhau. Cô chạy lên gác để tìm đôi găng tay.

Nhưng cô Kilman không ghét bà Dalloway. Hướng đôi mắt to màu lý gai sang Clarissa, quan sát gương mặt hồng hào, thân hình thanh tú, vẻ tươi tắn và hợp thời trang của bà, cô Kilman cảm thấy, Ngốc nghếch! Cả quỷnh! Bà ấy không biết gì về nỗi u buồn lẫn lạc thú; những thứ này đã làm lãng phí đời bà ấy! Và trong lòng cô dâng lên một khát khao muốn chinh phục bà ấy; lột trần bà ấy. Nếu cô có thể hạ bệ bà ấy, cô sẽ thấy dễ chịu. Nhưng không phải là thân thể; mà chính linh hồn và sự nhạo báng của nó là thứ mà cô muốn chinh phục; muốn biến cô thành chủ nhân. Giá cô có thể làm cho bà ấy khóc; có thể hủy hoại bà ấy; sỉ nhục bà ấy; khiến bà ấy sụp xuống gối cô và kêu lên, Cô đúng! Nhưng đây là ý chí của Chúa, không phải của cô Kilman. Đây là một thắng lợi tôn giáo. Thế là cô nhìn trừng trừng; thế là cô quắc mắt lên.

Clarissa thật sự bị sốc. Đây là một tín đồ Cơ đốc – người phụ nữ này! Người phụ nữ đã tước đoạt con gái bà khỏi bà này! Cô ta tiếp xúc với những sự hiện diện vô hình! Nặng nề, xấu xa, tầm thường, không có chút lòng tốt hay vẻ duyên dáng, cô ta biết ý nghĩa của cuộc đời!

“Cô sẽ đưa Elizabeth tới các cửa hàng hả?” Bà Dalloway hỏi.

Cô Kilman đáp cô sẽ. Họ đứng đó, Cô Kilman sẽ không cố tự làm cho mình hài lòng. Cô đã luôn tự kiếm sống. Kiến thức của cô về lịch sử hiện đại cực kỳ thông suốt. Cô trích ra rất nhiều từ khoản thu nhập nhỏ nhoi của mình cho những chính nghĩa mà cô tin tưởng; trong lúc người đàn bà này không làm gì cả; không tin gì cả; chỉ nuôi cô con gái của bà ta – nhưng Elizabeth đây rồi, đang gần như hụt hơi, một cô gái xinh đẹp.

Vậy là họ sẽ tới những cửa tiệm. Thật kỳ lạ biết bao, khi cô Kilman đứng đó (và cô đứng, với sức mạnh và sự lầm lì của một con quái vật tiền sử được vũ trang cho chiến tranh trong thời đại nguyên sinh), từng giây một, ý tưởng về bà thu nhỏ lại, lòng căm ghét (đối với các ý tưởng chứ không phải mọi người) tan vỡ, cô ta đánh mất ác tâm của mình, kích thước của mình, trở thành sau từng giây một đơn thuần là cô Kilman, trong một chiếc áo khoác đi mưa, kẻ mà có trời biết Clarissa sẽ muốn giúp đỡ.

Clarissa bật cười với ý nghĩ về sự thu nhỏ của con quái vật. Vừa nói tạm biệt, bà vừa cười khanh khách.

Họ cùng nhau rời khỏi, cô Kilman và Elizabeth, đi xuống gác.

Với một thôi thúc thật đột ngột, với một nỗi thống khổ mạnh mẽ, vì người đàn bà này đang tước đoạt con gái của bà khỏi bà, Clarissa tựa người vào lan can cầu thang và kêu lớn, “Hãy nhớ tới bữa tiệc! Hãy nhớ tới bữa tiệc tối nay của chúng ta!”

Nhưng Elizabeth đã mở cửa trước; có một chiếc xe tải chạy qua; cô không trả lời.

Tình yêu và tôn giáo! Clarissa nghĩ, quay trở vào phòng khách, ngứa ran khắp cả người. Họ thật đáng ghét, thật đáng ghét biết bao! Vì lúc này thân thể của cô Kilman không còn ở trước mặt bà, nó chế ngự bà – cái ý tưởng. Những điều độc ác nhất trên đời, bà nghĩ, nhìn thấy chúng lóng ngóng, độc đoán, đạo đức giả, thích nghe trộm, ganh tị, độc ác và vô liêm sỉ cùng cực, mặc một cái áo khoác đi mưa, đứng ở đầu cầu thang; tình yêu và tôn giáo. Cô ta có từng tự mình cải đạo bất kỳ người nào chưa nhỉ? Cô ta không muốn mọi người đơn giản chỉ là chính họ thôi sao? Và bà nhìn ra cửa sổ quan sát vị phu nhân già ở nhà đối diện đang đi lên cầu thang. Cứ để cho bà ấy đi lên cầu thang nếu bà ấy muốn; để cho bà ấy dừng lại; rồi để cho bà ấy, như Clarissa thường nhìn thấy, đi tới phòng ngủ của mình, tách hai tấm màn che ra, và lại biến mất vào phía sau. Vì một lý do nào đó người ta kính trọng điều này – việc bà cụ đang nhìn ra cửa sổ đó hoàn toàn ý thức được rằng mình đang bị quan sát. Trong việc này có cái gì đó nghiêm trang – nhưng tình yêu và tôn giáo sẽ hủy diệt điều đó, bất kể nó là gì, sự riêng tư của linh hồn. Kilman đáng ghét sẽ hủy diệt nó. Thế nhưng nó là một cảnh tượng khiến bà muốn khóc.

Tình yêu cũng hủy diệt. Mọi thứ đẹp đẽ, mọi thứ đã thật sự xảy ra. Cứ đơn cử Peter Walsh. Một người đàn ông, dễ thương, thông minh, với những ý tưởng về mọi thứ. Nếu bạn muốn biết về Pope, chẳng hạn, hay Addison, hay chỉ nói những chuyện vớ vẩn, điều mà mọi người thích, các sự vật có ý nghĩa gì, Peter biết rõ hơn bất cứ người nào. Chính Peter là người đã giúp bà; Peter là người cho bà mượn những cuốn sách. Nhưng cứ nhìn những người đàn bà ông ta yêu xem – thiếu đầu óc thẩm mỹ, nhỏ nhặt, tầm thường. Cứ nghĩ tới Peter trong tình yêu – ông ấy tới thăm bà sau ngần ấy năm, và ông ấy đã nói về cái gì? Bản thân ông ấy. Sự đam mê khủng khiếp! Bà nghĩ. Sự đam mê làm người ta giảm đi giá trị! Bà nghĩ, liên tưởng tới Kilman và Elizbeth của bà đang đi tới các cửa hàng Quân đội và Hải quân.

Tháp Big Ben đổ chuông nửa giờ.

Thật khác thường biết bao, lạ lùng, cảm động, vâng, khi nhìn một phu nhân già (họ đã là láng giềng suốt bao năm qua) rời khỏi cửa sổ, như thể bà ấy đang gắn liền với âm thanh đó, sợi dây đó. Lớn lao là thế, nó có liên hệ nào đó với bà ấy. Ngón tay hạ xuống, xuống nữa, vào giữa những sự vật bình thường, biến khoảnh khắc này trở nên nghiêm trang. Bà ấy bị ép buộc phải di chuyển, phải đi, bởi âm thanh đó, Clarissa tưởng tượng thế, nhưng đi đâu? Clarissa cố đi theo bà ấy khi bà ấy quay lại và biến mất, tuy nhiên vẫn có thể thấy cái mũ trắng của bà ấy di động ở cuối căn phòng ngủ. Bà ấy vẫn ở đó, chuyển động ở đầu kia căn phòng. Vì sao phải có những tín ngưỡng, những lời cầu nguyện và những chiếc áo mưa? khi, Clarissa nghĩ, đó chính là sự nhiệm mầu, cái bí mật đó; ý của bà là vị phu nhân già đó, người mà bà có thể nhìn thấy đang di chuyển từ cái rương sang cái tủ ngăn rồi sang cái bàn trang điểm. Bà vẫn có thể nhìn thấy bà ấy. Và sự bí ẩn tối cao mà Kilman có thể nói cô ta đã tìm ra lời giải đáp, hay Peter có thể nói ông ta đã tìm ra, nhưng Clarissa không tin bất cứ ai trong số hai người bọn họ có một ý tưởng mong manh nhất nào để tìm ra, chỉ đơn giản là điều này: đây là một căn phòng; kia là căn phòng khác. Tôn giáo, hoặc tình yêu, đã tìm ra lời giải đáp đó chưa?

Tình yêu – nhưng đây là một cái đồng hồ khác, cái đồng hồ luôn luôn điểm giờ sau Big Ben hai phút, lê bước vào cái vòng đua đầy những thứ lặt vặt của nó, mà nó trút ào xuống như thể Big Ben hoàn toàn ổn thỏa với vẻ uy nghi của mình, đang đặt ra luật pháp, rất trang nghiêm, rất công chính, nhưng bà phải nhớ tất cả những sự vật bé nhỏ bên ngoài – bà Marsham, Ellie Henderson, những cái ly đựng đá lạnh – tất cả mọi sự vật bé nhỏ lũ lượt kéo tới, xoay vòng và nhảy múa ngay sau tiếng chuông đổ trang nghiêm đang trải ra bằng phẳng như một cồn cát vàng trên mặt biển đó. Bà Marsham, Ellie Henderson, những ly đá lạnh. Bà phải gọi điện thoại ngay tức khắc.

Liếng thoắng, hỗn loạn, cái đồng hồ chạy trễ đổ chuông, ngay sau tiếng chuông Big Ben, với cái vòng đua đầy những thứ vặt vãnh của nó. Bị đập tan, phá vở bởi sự tấn công của những cỗ xe ngựa, sự thô bạo của những chiếc xe tải, sự nôn nao tiến tới của vô số những đàn ông gầy guộc, hay những phụ nữ diêm dúa, những mái vòm và chóp nhọn của những văn phòng và bệnh viện, những tàn tích cuối cùng của cái vòng đua đầy những thứ vặt vãnh này dường như vỡ toang ra, như bọt nước của một lượn sóng kiệt sức, bên trên thân hình của cô Kilman đang đứng bất động trên đường trong một thoáng giây để lẩm bẩm: “Đó là xác thịt.”

Chính xác thịt là cái mà cô phải kiểm soát. Clarissa đã sỉ nhục cô. Cô mong đợi điều đó. Nhưng bà ấy không chiến thắng; bà ấy không làm chủ được xác thịt. Xấu xí, vụng về, Clarissa đã chế nhạo cô về điểm ấy; và đã làm sống lại những khát khao xác thịt, vì cô quan tâm tới vẻ ngoài như cô đã quan tâm lúc ở bên cạnh Clarissa. Cô cũng không thể nói như cô đã nói. Nhưng vì sao muốn giống với bà ấy? Vì sao? Cô khinh thường bà Dalloway từ tận đáy lòng mình. Bà ta không nghiêm túc. Bà ta không tốt. Cuộc đời bà ta là một chuỗi phù hoa và dối trá. Thế nhưng Doris Kilman đã bị khuất phục. Cô đã, thật thế, hầu như bật khóc khi Clarissa cười nhạo cô. “Đó là xác thịt, đó là xác thịt,” cô lẩm bẩm (thói quen của cô là hay nói lớn tiếng) cố trấn áp cảm giác xao động và đau đớn này trong lúc cô bước xuôi xuống phố Victoria. Cô nguyện cầu Chúa. Cô không thể không xấu xí; cô không thể mua những thứ quần áo đẹp. Clarissa đã cười rộ lên – nhưng cô phải tập trung tâm trí vào một điều khác cho tới khi cô tới cái trụ thư công cộng. Với bất cứ giá nào, cô đã có được Elizabeth. Nhưng cô sẽ nghĩ tới một điều khác; cô sẽ nghĩ tới nước Nga; cho tới khi cô tới cái trụ đựng thư.

Nó phải đẹp biết bao, cô nói, ở đất nước đó, việc đấu tranh, như ông Whittaker đã nói với cô, với sự căm thù mãnh liệt đó nhằm chống lại cái thế giới đã khinh rẻ cô, chế nhạo cô, vứt bỏ cô, bắt đầu với sự sỉ nhục này – buộc cô mang cái thân thể không chút hấp dẫn mà mọi người không thể chịu nổi khi nhìn thấy. Dù cô có chải tóc kiểu nào, trán cô vẫn giống hệt một quả trứng, nhẵn thín, trắng nhợt. Không thứ trang phục nào thích hợp với cô. Dù cô có mua thứ gì thì cũng thế. Và đối với một phụ nữ, dĩ nhiên, điều đó có nghĩa là không bao giờ gặp gỡ người khác giới. Cô sẽ không bao giờ tới trước với bất cứ người nào. Với cô, gần đây có vẻ là như thế, ngoại trừ Elizabeth, thức ăn là tất cả những gì cô có; những niềm an ủi của cô; bữa tối của cô, trà của cô; chai nước nóng vào buổi tối của cô. Nhưng người ta phải chiến đấu; chiến thắng; có niềm tin nơi Thượng đế. Ông Whittaker đã nói cô hiện diện ở đó là vì một mục đích. Nhưng không ai biết được nỗi thống khổ! Ông ta nói, chỉ vào cây thập giá, rằng Thượng đế biết. Nhưng vì sao cô phải đau khổ khi những người đàn bà khác, như Clarissa Daloway, trốn thoát được? Tri thức đến thông qua sự đau khổ, ông Whittaker nói.

Cô đã đi qua cái trụ đựng thư, và Elizabeth đã quẹo vào khu bán thuốc lá nâu của các cửa hàng Quân đội và Hải quân trong lúc cô vẫn lẩm bẩm với chính mình những điều ông Whittaker đã nói về việc tri thức đến thông qua đau khổ và xác thịt. “Xác thịt,” cô lẩm bẩm.

Cô muốn tới khu nào? Elizabeth cắt đứt ý nghĩ của cô.

“Váy lót dài,” cô nói cộc lốc, và nghênh ngang bước lên thang máy.

Họ đi lên. Elizabeth hướng dẫn cô đi chỗ này chỗ khác; hướng dẫn cô trong lúc cô vẫn lơ đãng như thể cô là một đứa bé lớn con, một con tàu chiến cồng kềnh. Có những cái váy lót dài, nâu, đoan trang, có sọc, phù phiếm, một màu, mỏng manh; và cô chọn, trong sự lơ đãng, vênh váo, và cô gái bán hàng nghĩ là cô điên.

Elizabeth tự hỏi, trong lúc họ gói hàng, cô Kilman đang nghĩ gì. Họ phải uống trà, cô Kilman nói, bừng tỉnh, có lại sự kiểm soát. Họ đi uống trà.

Elizabeth tự hỏi cô Kilman có đói bụng không. Cách cô ta ăn là vậy, ăn ào ào, rồi nhìn đi nhìn lại vào cái đĩa bánh rắc đường ở bàn bên cạnh; sau đó, khi một quý bà và một đứa bé ngồi xuống và đứa bé cầm cái bánh, cô Kilman có thật sự quan tâm tới nó hay không? Có, cô Kilman có quan tâm tới nó. Cô đã muốn cái bánh đó – cái màu hồng. Lạc thú của việc ăn hầu như là một lạc thú đơn thuần duy nhất còn lại của cô, và rồi nó bị phá hỏng ngay cả trong chuyện đó!

Khi mọi người hạnh phúc, họ có một vật dự trữ, cô ta từng nói với Elizabeth, để rút ra từ đó, trong khi cô ta giống như một cái bánh xe thiếu lốp (cô ta thích những phép ẩn dụ như thế), bị xóc lên bởi từng hòn sỏi, vì thế cô thường nói như thế khi nán lại sau bài học, đứng cạnh lò sưởi với cái túi đựng sách, cô ta gọi nó là “cái cặp táp”, vào một sáng thứ Sáu, sau khi bài học kết thúc. Và cô ta cũng nói về cuộc chiến. Nói cho cùng, có những người không nghĩ là nước Anh lúc nào cũng đúng. Có những cuốn sách. Có những cuộc biểu tình. Có những quan điểm khác. Elizabeth có muốn đi cùng cô ta tới nghe vị Nào đó (một ông già trông rất khác thường) không? Sau đó, cô Kilman đưa cô tới một nhà thờ ở Kensington và họ dùng trà với một mục sư. Cô ta đã cho mượn những cuốn sách của mình. Luật, y học, chính trị, mọi nghề nghiệp đều mở rộng đối với những người phụ nữ ở thế hệ của em, cô Kilman nói. Nhưng đối với cô ta, sự nghiệp của cô ta hoàn toàn bị hủy hoại và đó có phải là lỗi của cô ta không? Ôi trời, không đâu, Elizabeth đáp.

Và mẹ của cô sẽ ghé qua để nói rằng một cái thùng mây đã được gửi tới từ Bourton và cô Kilman có thích một ít hoa hay không? Bà luôn rất, rất tử tế với cô Kilman, nhưng cô Kilman ép tất cả hoa thành một bó và không nói lời nào, và những gì cô Kilman thích thú lại làm cho mẹ cô phát chán, và cô Kilman và bà thật kinh khủng khi ở cạnh nhau; và cô Kilman sưng sỉa, trông có vẻ rất thô lỗ. Nhưng cô Kilman thông minh một cách đáng sợ. Elizabeth chưa bao giờ nghĩ tới người nghèo. Họ sống với mọi thứ họ muốn – mẹ cô ăn điểm tâm trên giường hàng ngày; Lucy mang nó lên; và bà thích những phụ nữ lớn tuổi vì họ là những nữ công tước, và là dòng dõi của một lãnh chúa nào đó. Nhưng cô Kilman bảo (vào một trong những buổi sáng Thứ ba khi giờ học kết thúc), “Ông của tôi có một cửa hiệu bán sơn dầu ở Kensington.” Cô Kilman khiến cho người ta cảm thấy rất nhỏ bé.

Cô Kilman rót một tách trà khác. Elizabeth với ngoại hình đông phương, vẻ bí ẩn khôn dò của mình, ngồi thật thẳng người; không, cô không muốn thêm bất cứ thứ gì nữa. Cô tìm đôi găng tay – đôi găng tay trắng của cô. Chúng đang ở dưới bàn. Chà, nhưng cô phải đi! Cô Kilman không thể để cho cô đi! Sự trẻ trung rất xinh đẹp này, cô gái này, người cô thật sự mến yêu! Bàn tay to lớn của cô mở ra và khép lại trên bàn.

Nhưng vì lẽ nào đó Elizabeth cảm thấy bữa trà hơi tẻ nhạt. Và cô thật sự muốn đi.

Nhưng cô Kilman bảo: “Tôi chưa hoàn toàn kết thúc bữa trà.”

Vậy thì Elizabeth sẽ đợi, dĩ nhiên. Nhưng ở đây khá ngột ngạt.

“Tối nay em có dự tiệc không?” Cô Kilman hỏi. Elizabeth cho rằng cô sẽ tới; mẹ cô muốn cô tới. Cô không được để cho những bữa tiệc thu hút mình, cô Kilman nói, nhón lấy cái bánh éclair chocolate dài hai in-sơ cuối cùng.

Cô không thích mấy bữa tiệc cho lắm, Elizabeth nói. Cô Kilman há miệng ra, hơi hất cằm lên, và nuốt trôi hai in-sơ bánh cuối cùng, rồi lau mấy ngón tay, và tráng trà quanh cái tách của mình.

Cô cảm thấy cô sắp bị tách ra làm đôi. Nỗi thống khổ thật kinh khủng. Nếu cô có thể tóm lấy cô bé, nếu cô có thể xiết chặt lấy cô bé, nếu cô có thể làm cho cô ta trở thành của cô hoàn toàn và mãi mãi và sau đó chết đi; đó là tất cả những gì cô muốn. Nhưng việc ngồi đây, không thể nghĩ ra bất cứ điều gì để nói; nhìn thấy Elizabeth quay sang chống lại cô; cảm thấy bị kinh tởm thậm chí bởi cô bé – là quá nhiều; cô không thể chịu nổi. Những ngón tay to co quắp vào bên trong.

“Tôi không bao giờ tới những bữa tiệc,” cô Kilman nói, chỉ để ngăn không cho Elizabeth đi. “Mọi người không mời tôi tới dự những bữa tiệc” – và cô biết ngay trong lúc nói rằng chính cái tính tự cao tự đại này là thứ khiến cô bị hủy hoại; ông Whittaker đã cảnh báo cô; nhưng cô không thể kềm chế nó. Cô đã đau khổ kinh khủng. “Vì sao họ phải mời tôi?” cô hỏi. “Tôi thô kệch, tôi bất hạnh.” Cô biết nói thế thật ngu ngốc. Nhưng chính những người đang đi qua đó – những người với những gói đồ đã khinh miệt cô, đã khiến cô nói ra điều đó. Tuy nhiên, cô là Doris Kilman. Cô có học vị. Cô là một phụ nữ đã tạo ra con đường đi của mình trong cõi đời này. Kiến thức của cô về lịch sử hiện đại còn hơn cả mức đáng kính.

“Tôi không tự thương hại bản thân,” cô nói. “Tôi thương hại” – ý cô định nói là “mẹ của em” nhưng không, cô không thể, không thể với Elizabeth. “Tôi thương hại những người khác hơn,” cô nói.

Như một sinh vật khờ khạo nào đó, đã được đưa tới một cánh cổng vì một mục đích không rõ, và đứng đó mong muốn được chuồn đi. Elizabeth Dalloway ngồi im lặng. Cô Kilman sẽ nói thêm gì nữa?

“Đừng hoàn toàn quên tôi,” Doris Kilam nói; giọng cô run rẩy. Ngay lập tức, con vật khờ khạo cất vó phi tới cuối cánh đồng trong niềm kinh hãi.

Bàn tay to lớn mở ra khép lại.

Elizabeth quay đầu đi. Người nữ hầu bàn tới. Người ta phải thanh toán ở quầy, Elizabeth nói, và bỏ đi, rút bộ ruột trong người của cô ra, cô Kilman cảm thấy như thế, trải chúng ra trong lúc cô ta băng qua căn phòng, và rồi, với một cú xoắn cuối cùng, cúi đầu mình rất nhã nhặn, cô ta đi.

Cô ta đã đi khỏi. Cô Kilman ngồi ở cái bàn đá hoa giữa những cái bánh éclair, bị tấn công một lần, hai lần, ba lần, bởi những cơn chấn động khổ đau. Cô ta đã đi khỏi. Bà Dalloway đã chiến thắng. Elizabeth đã đi khỏi.

Vẻ đẹp đã ra đi, tuổi trẻ đã ra đi.

Cô ngồi đó. Cô đứng lên, loạng choạng bước giữa những cái bàn nhỏ, hơi đu đưa người từ bên này sang bên kia, và có ai đó đi theo cô với chiếc áo khoác đi mưa của cô, và cô lạc đường, bị vây quanh bởi những cái rương được đặc biệt chuẩn bị để đưa tới Ấn Độ; kế đến bước vào giữa những bộ đồ dành cho bà bầu, những bộ quần áo em bé bằng vải lanh; cô lảo đảo đi qua tất cả những thứ hàng hóa vật dụng vô thường và vĩnh cửu trên đời, những cái đùi lợn sấy, thuốc men, hoa, văn phòng phẩm, tỏa ra những thứ mùi khác nhau, khi ngọt, khi chua; tự nhìn thấy toàn thân của mình đang lảo đảo như vậy với cái mũ lệch sang một bên, mặt đỏ bừng, trong một tấm gương; và cuối cùng bước ra đường phố.

Tháp chuông của Giáo đường Westminster nổi lên trước mặt cô, nơi cư ngụ của đức Chúa Trời. Cô kiên trì cất bước với gói đồ của mình tới cái nơi trú ẩn khác đó, Tu viện, nơi mà, giơ cao đôi bàn tay chắp lại trước mặt, cô ngồi bên cạnh những người cũng bị đưa đẩy tới nơi trú ẩn; những người tín ngưỡng đủ loại, lúc này lột bỏ đi giai tầng xã hội, hầu như cả giới tính, khi họ chắp tay trước mặt, nhưng khi họ bỏ tay xuống, ngay lập tức hiện ra những người đàn ông và phụ nữ Anh khả kính, thuộc giai cấp trung lưu, một số trong bọn họ khao khát được nhìn thấy những tác phẩm làm bằng nến.

Nhưng cô Kilman vẫn chắp hai tay trước mặt mình. Lúc cô bị bỏ rơi; lúc có người tham gia. Những người sùng bái bước vào từ đường phố để thế chỗ cho những kẻ dạo chơi, tuy nhiên, khi mọi người nhìn quanh và lê bước qua ngôi mộ của Người chiến binh Vô danh, cô đưa những ngón tay che mắt và cố gắng mong muốn vượt lên trên những thứ phù hoa, những khao khát, những vật dụng, để rủ bỏ khỏi bản thân cả lòng căm ghét lẫn tình yêu, trong bóng tối gấp đôi này, vì ánh sáng trong tu viện là vô hình. Hai bàn tay cô co giật. Dường như cô đang đấu tranh. Thế nhưng với những người khác Thượng đế có thể tiếp cận được và con đường đến với Người phẳng lặng. Ông Fletcher, đã nghỉ hưu, của Bộ Tài chính, bà Gorham, vợ góa của ngài K.C. 1 nổi tiếng, đến gần Người một cách đơn giản, và đã cầu nguyện xong, ngả người ra, thưởng thức âm nhạc (cây đàn organ ngân lên ngọt ngào), và nhìn thấy cô Kilman ở cuối hàng, đang cầu nguyện, cầu nguyện mãi, và, đang bất động trên bậc thềm của âm ty, suy nghĩ một cách đồng cảm về cô như một linh hồn đang ngụ cư trong cùng lãnh thổ; một linh hồn bị cắt khỏi vật chất vô hình; không phải một người phụ nữ, mà là một linh hồn.

Nhưng ông Fletcher phải đi. Ông phải đi ngang qua cô, và vì bản thân mình sạch sẽ tinh tươm như một cái kẹp cà vạt mới toanh, ông không thể không cảm thấy hơi đau buồn vì tình trạng bê bối của người phụ nữ nghèo; tóc cô xõa xuống; cái gói của cô nằm trên sàn. Cô không để cho ông bước qua ngay. Mà, trong lúc ông đứng nhìn quanh, vào cái bàn đá hoa trắng, những ô cửa sổ xám, và những bảo vật tích lũy (vì ông cực kỳ tự hào về Tu viện), sự vĩ đại, sự thô kệch và sức mạnh của cô, trong lúc cô ngồi đó, thỉnh thoảng lại di chuyển hai đầu gối(đường đến gần Thượng đế của cô quá gian nan – những ước ao của cô quá kiên định) khiến cho ông xúc động, như chúng đã khiến cho bà Dalloway (chiều hôm đó bà không thể xua đuổi ý nghĩ về cô ra khỏi tâm trí mình), đức cha Edward Whittaker và cả Elizabeth, phải xúc động.

Elizabeth đợi xe buýt trên phố Victoria. Ra khỏi nhà thật là dễ chịu. Cô nghĩ có lẽ cô chưa cần phải về nhà ngay. Ở ngoài trời thật dễ chịu. Vì thế cô sẽ đón một chuyến xe buýt. Và ngay khi cô đứng đó, trong bộ quần áo cắt may rất khéo, nó đã bắt đầu xảy ra… Mọi người bắt đầu so sánh cô với những cây dương, buổi ban mai, những đóa dạ lan hương, những con hươu non, nước chảy, và hoa huệ trong vườn; và điều này biến cuộc sống của cô thành một gánh nặng đối với cô, vì cô thích được ở một mình để làm những gì cô thích ở miền quê hơn, nhưng họ cứ so sánh cô với những bông hoa huệ, và cô phải tới dự những bữa tiệc, và London quá đáng sợ so với việc được ở một mình ở miền quê với cha cô và đàn chó.

Những chiếc xe buýt nhào tới, đậu lại, lao đi – những cỗ xe sặc sỡ, lấp lánh lớp va ni đỏ và vàng. Nhưng cô sẽ lên chiếc nào? Cô không có sở thích nào hết. Tất nhiên, cô sẽ không chen lấn. Cô có khuynh hướng thụ động. Cái cô cần là sự thể hiện, nhưng đôi mắt cô đẹp, giống mắt của người Trung Hoa, mang nét đông phương, và, như mẹ cô nói, với đôi vai đẹp và thân người thật thẳng như thế, cô luôn trông thật đáng yêu; và vào lúc muộn hơn, đặc biệt là khi chiều tối, khi cô thích thú, vì dường như cô không bao giờ kích động, trông cô hầu như xinh đẹp, rất trang nghiêm, rất thanh thản. Cô đang suy nghĩ điều gì? Mọi người đàn ông đều phải lòng cô, và cô thật sự chán vô cùng. Vì chuyện đó đang bắt đầu. Mẹ cô có thể nhìn thấy điều đó – nhưng lời khen ngợi đang bắt đầu. Việc cô không quan tâm gì tới nó – chẳng hạn đối với trang phục của cô – đôi khi khiến Clarissa thấy lo âu, nhưng có lẽ điều này cũng tốt như với tất cả những con chó con và chuột lang đang khó ở, và nó mang tới cho cô một vẻ quyến rũ. Và còn có cái tình bạn kỳ quặc với cô Kilman. Tốt, nó chứng tỏ con bé có một trái tim, Clarissa đã nghĩ thế vào lúc khoảng ba giờ sáng, khi đang đọc hồi ký của Nam tước Marbot vì bà không ngủ được.

Đột nhiên Elizabeth bước tới trước và phóng lên chiếc xe buýt hai tầng một cách thành thạo, ngay trước mắt mọi người. Cô chọn một chỗ ngồi ở tầng trên. Con vật mạnh mẽ – một tên cướp biển – vọt tới trước, lao đi; cô phải nắm lấy thanh chấn song để giữ thăng bằng, vì nó là một tên cướp biển, liều mạng, khinh suất, liên tục phóng tới, quẹo cua một cách nguy hiểm, táo bạo vồ lấy một hành khách, hay làm ngơ một hành khách, cuộn xiết như một con lươn và hống hách giữa hai chặng dừng, rồi lao tới một cách xấc xược trong suốt quãng đường qua phố Whitehall. Và Elizabeth có dành một ý nghĩ nào cho cô Kilman tội nghiệp, người yêu mến cô không chút ghen tị, người mà đối với cô ta cô là một chú hươu non ở giữa đồng, một vầng trăng trên trảng trống, hay không? Cô vui mừng vì được tự do. Bầu không khí trong lành thật tuyệt. Ở trong Các cửa hàng Quân đội và Hải quân quá tù túng. Và lúc này cô cứ như đang phi ngựa, vọt lên phố Whitehall; và với mỗi chuyển động của chiếc xe buýt cái thân hình xinh đẹp trong chiếc áo khoác màu nâu đáp lại một cách thoải mái như một kỵ sĩ, như một thuyền trưởng của một con tàu, vì cơn gió đang khẽ vuốt ve cô; sức nóng mang tới cho đôi má cô vẻ xanh xao của gỗ sơn trắng; và đôi mắt đẹp của cô, không có mắt ai để gặp, nhìn đăm đăm về phía trước, trống vắng, sáng rực, với vẻ ngây thơ lạ thường của một bức tượng.

Chính việc luôn nói về những đau khổ của chính mình khiến cho cô Kilman trở nên rất khó chịu. Và cô ta có đúng không? Nếu việc tham gia vào những ủy ban và bỏ ra giờ này sang giờ khác mỗi ngày (cô hầu như không bao giờ thấy cha mình ở London) để giúp ích cho người nghèo, cha cô đã làm điều đó, có trời đất biết – nếu đó là điều mà cô Kilman muốn nói về việc trở thành một người Cơ đốc giáo; nhưng rất khó nói ra điều đó. Chà, cô muốn đi xa hơn một chút. Có phải thêm một xu nữa là tới phố Strand không? Vậy đây là một xu nữa. Cô sẽ lên phố Strand.

Cô thích những người đau ốm. Và mọi nghề nghiệp đều mở rộng đối với những người phụ nữ ở thế hệ của em, cô Kilman nói. Vì thế cô có thể là một bác sĩ. Cô có thể là một chủ nông trại. Lũ súc vật thường bị bệnh. Cô có thể làm chủ một ngàn mẫu Anh và có những người dưới quyền. Cô sẽ tới thăm họ trong những ngôi nhà thôn dã. Đây là Tòa nhà Somerset. Người ta có thể trở thành một chủ nông trại rất tốt – và điều đó, khá lạ lùng dù cô Kilman có phần trong đó, hầu như hoàn toàn là vì Tòa nhà Somerset. Trông nó thật tuyệt diệu, thật trang nghiêm, cái tòa nhà to lớn màu xám ấy. Và cô thích cảm giác về những người đang làm việc. Cô thích những giáo đường đó, như những hình dáng làm bằng giấy xám, ưỡn ngực về phía dòng chảy của phố Strand. Ở đây hoàn toàn khác với khu Westminster, cô nghĩ, xuống xe ở phố Chancery Lane. Nó rất nghiêm trang; nó rất bận rộn. Nói tóm lại, cô muốn có một nghề nghiệp chuyên môn. Cô sẽ trở thành một bác sĩ, một chủ nông trại, có khả năng sẽ vào Quốc hội, nếu cô thấy điều đó cần thiết, tất cả là vì phố Strand.

Đôi chân của những người đó bận rộn với các hoạt động của họ, những bàn tay đặt đá lên đá, những trí tuệ vĩnh viễn bị xâm chiếm không phải bởi những câu tán gẫu vặt vãnh (so sánh những người phụ nữ với những cây dương – điều đó khá thú vị, dĩ nhiên, nhưng rất ngốc nghếch), mà bởi ý nghĩ về những con tàu, công việc kinh doanh, luật pháp, sự điều hành, và bởi tất cả những thứ rất trang nghiêm (cô đang ở trong Thánh đường), vui tươi (có một con sông), sùng đạo (có Nhà thờ), khiến cô hoàn toàn quyết tâm trở thành một chủ nông trại hay một bác sĩ, bất chấp mẹ cô có thể nói gì. Nhưng dĩ nhiên là cô khá lười biếng.

Và tốt hơn là không nói gì về việc đó. Dường như nó rất ngốc nghếch. Đó là loại sự việc thỉnh thoảng xảy ra, khi người ta đơn độc – những tòa nhà không có tên của các kiến trúc sư, những đám đông đang quay về từ thành phố có nhiều khả năng hơn những vị mục sư độc thân ở Kensington, hơn bất kỳ cuốn sách nào trong số mà cô Kilman đã cho cô mượn, để khuấy động cái đang nằm mơ màng, lóng ngóng và thẹn thùng trên nền cát của tâm trí trồi lên bề mặt, như một đứa trẻ con đột nhiên duỗi đôi cánh tay ra; nó chính là điều đó, có lẽ, một tiếng thở dài, một cử động duỗi đôi cánh tay, một sự thôi thúc, một sự phát hiện, mãi mãi tạo nên các ảnh hưởng, và rồi nó lại chìm xuống nền cát. Cô phải về nhà. Cô phải thay đồ cho bữa ăn tối. Nhưng giờ là mấy giờ rồi? –Ở đâu có một cái đồng hồ?

Cô nhìn lên phố Fleet. Cô đi một đoạn ngắn về phía phố St. Paul, bẽn lẽn, như một người đang rón rén xâm nhập, thám hiểm một ngôi nhà xa lạ vào ban đêm với một cây nến, nép người kẻo chủ nhà có thể đột nhiên mở rộng cánh cửa phòng ngủ và hỏi cô tới có việc gì, cô cũng không dám đi lang thang vào những con hẻm lạ, những đường phố quyến rũ, bất kỳ thứ gì nhiều hơn là một ngôi nhà lạ mở những cánh cửa mà có thể là cửa phòng ngủ, hay cửa phòng khách, hay dẫn thẳng tới cầu thang. Vì không có người nhà Dalloway nào đi xuống phố Strand hàng ngày; cô là một người tiên phong, một người đi lạc, mạo hiểm, tin tưởng.

Theo nhiều cách, mẹ cô cảm thấy, cô cực kỳ non nớt, vẫn còn như một đứa trẻ con, gắn bó với những con búp bê, những đôi dép cũ; một em bé hoàn hảo; và điều đó đáng yêu. Nhưng, dĩ nhiên, trong gia đình Dalloway có truyền thống phục vụ công cộng. Những nữ tu viện trưởng, những hiệu trưởng, những nữ lãnh đạo, những người quyền cao chức trọng, trong nền cộng hòa của những người phụ nữ – không xuất chúng mấy, bất kỳ người nào trong số họ, họ là thế. Cô xâm nhập thêm chút nữa về hướng phố St. Paul. Cô thích sự ân cần, tình chị em, tình mẫu tử, tình huynh đệ của tiếng ồn ào náo động này. Với cô nó có vẻ tốt đẹp. Tiếng ồn thật lớn; và đột nhiên có những tiếng kèn (những người thất nghiệp) đang nổi lên, gây huyên náo trong tiếng ồn ào; tiếng quân nhạc; như thể mọi ngườiđang diễu hành; thế nhưng họ đang hấp hối – nếu một phụ nữ nào đó hít hơi thở cuối cùng và một người nào đó bất kỳ đang quan sát mở một cánh cửa sổ của căn phòng nơi bà ta vừa thực hiện hành động mang phẩm giá tối cao đó, nhìn xuống phố Fleet, cái tiếng ồn ào đó, tiếng quân nhạc đó sẽ vọng lên chỗ ông ta, đắc thắng, an ủi, dửng dưng.

Đây không phải là ý thức. Trong nó không có nhận thức nào về một tương lai hay định mệnh, và chính vì lý do đó, về sự an ủi, thậm chí với những ai choáng váng với việc quan sát những rung động cuối cùng của ý thức trên những gương mặt của kẻ hấp hối. Tính hay quên trong mọi người có thể gây thương tổn, sự vô ơn của họ có thể ăn mòn, nhưng giọng nói này, đang tuôn ra vô tận, từ năm này sang năm khác, sẽ thực hiện bất cứ điều gì nó có thể; lời nguyền này; đội quân tiên phong này; cuộc sống này; tiến trình này, sẽ bao bọc tất cả bọn họ và mang họ đi, như trong một dòng nước xiết của con sông băng, một tảng băng giữ lại một mảnh xương, một cánh hoa màu xanh, một vài thân cây sồi, và lăn chúng đi.

Nhưng đã muộn hơn mức cô nghĩ. Mẹ cô sẽ không thích cô lang thang một mình như thế này. Cô quay lại, xuôi xuống phố Strand.

Một luồng gió (bất chấp sức nóng, đó hoàn toàn là một cơn gió) thổi một tấm voan đen mỏng qua mặt trời và qua phố Strand. Những gương mặt nhòa đi; những chiếc xe buýt hai tầng đột nhiên mất đi vẻ rực rỡ. Vì dù những đám mây trắng to như núi khiến người ta có thể tưởng tượng tới việc đẻo ra từ đó những mảnh cứng với một cái rìu, với những sườn dốc rộng vàng óng, những bãi cỏ của những khu vườn địa đàng đầy lạc thú ở hai bên sườn của chúng, và có mọi dáng vẻ của những ngôi nhà tập hợp lại cho cuộc hội nghị của những thần linh ở cõi trên, có một chuyển động không ngừng giữa chúng. Những dấu hiệu thay đổi, khi, như thể để hoàn thành một kế hoạch nào đó đã chuẩn bị sẵn, khi thì chóp núi thu nhỏ lại, khi thì toàn một một khối to có kích thước của một kim tự tháp trước đó duy trì vị trí của nó một cách bất biến tiến vào chính giữa hoặc nghiêm trang dẫn dắt đám diễu hành tới một chỗ buông neo mới. Dù có vẻ như chúng được cố định tại vị trí của mình, đang nghỉ ngơi trong một trạng thái thống nhất hoàn hảo, không gì có thể tươi mới hơn, tự do hơn, dễ bị phá hủy ở bề ngoài hơn cái bề mặt trắng như tuyết hay vàng óng đó; việc thay đổi, bay đi, triệt phá sự tập hợp trang nghiêm là điều có khả năng xảy ra ngay lập tức; và bất chấp sự bất động trang nghiêm, sự vững chắc và dày đặc, khi thì chúng buông ánh sáng xuống trái đất, khi thì buông bóng tối.

Bình thản và thành thạo, Elizabeth trèo lên chiếc xe buýt Westminster.

--------------------------------

1

King’s Counsel: một địa vị trong giới Tư pháp Anh.

VIII

Với Septimus Warren Smith, đang ngồi trên chiếc trường kỷ trong phòng khách, dường như ánh sáng và bóng tối cứ đến rồi đi, vẫy tay, ra dấu, khi khiến cho bức tường xám đi, khi khiến cho những quả chuối trở nên vàng rực, khi khiến cho phố Strand xám đi, khi khiến cho những chiếc xe buýt trở nên vàng rực; quan sátmàu vàng long lanh như nước bừng lên và nhòa đi với sự nhạy cảm lạ lùng của một sinh vật nào đó trên những bông hồng, trên lớp giấy dán tường. Ngoài đường, những cây cối kéo những chùm lá của chúng như kéo những tấm lưới qua những độ sâu của bầu không khí; trong phòng có âm thanh của nước và xuyên qua những làn sóng vang lên tiếng hót của lũ chim. Mọi sức mạnh trút những báu vật của chúng lên đầu anh, và bàn tay nằm đó, trên lưng trường kỷ, như anh đã nhìn thấy bàn tay của anh nằm trong lúc anh đang tắm, nổi lềnh bềnh, trên đỉnh những làn sóng, trong lúc từ bờ biển xa xa anh nghe thấy tiếng lũ chó sủa, ngày càng xa hơn. Đừng sợ nữa, quả tim trong cơ thể cất tiếng; đừng sợ nữa.

Anh không sợ. Ở mỗi khoảnh khắc, Tự nhiên biểu lộ, thông qua một ám hiệu vui tươi như cái chấm vàng di chuyển vòng quanh bức tường đó – đó, đó, đó – quyết tâm thể hiện của nàng, bằng cách vung những chiếc lông chim của nàng lên, lắc lư bím tóc của nàng, vung vẩy chiếc áo choàng của nàng sang bên này bên khác một cách đẹp mắt, luôn một cách đẹp mắt, và đứng sát lại gần để thì thào qua đôi bàn tay chụm lại những từ ngữ của Shakespeare, ý nghĩa của nàng.

Rezia, đang ngồi ở bàn, hai tay vặn vẹo một cái mũ, quan sát anh; thấy anh mỉm cười. Vậy là anh hạnh phúc. Nhưng cô không chịu nổi việc nhìn thấy anh mỉm cười. Đó không phải là hôn nhân; làm chồng của một người không phải là để trông lạ lùng như thế, lúc nào cũng giật mình, cười phá lên, ngồi lặng thinh hết giờ này sang giờ khác, hoặc vồ lấy cô và bảo cô viết. Cái ngăn bàn đầy những bài viết đó; về cuộc chiến; về Shakespeare; về những khám phá lớn lao; việc không có cái chết ra sao. Gần đây anh đã trở nên kích động một cách bất ngờ không vì lý do gì cả (và cả bác sĩ Holmes lẫn ngài William Bradshaw đều bảo sự kích động là điều tệ hại nhất đối với anh), và vung vẫy đôi tay, hét lên rằng anh biết sự thật! Anh biết mọi thứ! Người đàn ông đó, người bạn đã bị giết của anh, Evans, đã tới, anh nói. Anh ta đang hát sau bức bình phong. Cô đã viết lại nó ngay trong lúc anh nói. Có những điều rất đẹp; những điều khác hoàn toàn vô ý nghĩa. Và anh luôn dừng lại giữa chừng, đổi ý; muốn bổ sung thêm điều gì đó; đang nghe thấy điều gì đó mới; lắng nghe với bàn tay giơ lên.

Nhưng cô không nghe thấy gì cả.

Có lần họ phát hiện ra cô gái dọn phòng đang đọc một trong những tờ giấy đó và cười sằng sặc. Đó là một điều đáng tiếc kinh khủng. Vì điều đó khiến cho Septimus kêu lên về sự tàn ác của con người – họ đã xé nhau ra thành từng mảnh ra sao. Họ xé những người ngã xuống thành từng mảnh, anh nói. “Holmes đang tấn công chúng ta,” anh thường nói, và anh thường bịa ra những câu chuyện về Holmes; Holmes ăn cháo đặc; Holmes đang đọc Shakespeare – khiến anh phải cười to hoặc gầm lên giận dữ, vì dường như bác sĩ Holmes đại diện cho một điều gì đó kinh khủng đối với anh. “Bản chất con người,” anh gọi ông ta như vậy. Rồi còn có những ảo ảnh. Anh bị chết đắm, anh thường nói, và đang nằm trên một vách đá với những con chim hải âu đang gào thét bên trên người anh. Anh thường nhìn qua mép trường kỷ xuống biển. Hoặc anh đang nghe nhạc. Thật ra đó chỉ là một tiếng đàn thùng hay tiếng người đàn ông nào đó đang la lối dưới phố. Nhưng anh thường kêu lên “Thật tuyệt vời!” và đôi dòng lệ lăn xuống má anh, điều đáng sợ nhất đối với cô: nhìn thấy một người đàn ông như Septimus, kẻ đã từng chiến đấu, kẻ quả cảm, đang khóc. Và anh thường nằm lắng nghe cho tới khi đột nhiên anh la lên rằng anh đang rơi xuống, rơi vào những ngọn lửa! Thật ra cô đã tìm kiếm những ngọn lửa, hình ảnh đó quá sống động. Nhưng không có gì cả. Họ đang ở một mình trong phòng. Đó là một giấc mơ, cô thường nói với anh và cuối cùng giúp anh bình lặng lại, nhưng đôi khi cô cũng khiếp sợ. Cô thở dài trong lúc ngồi may.

Tiếng thở dài của cô dịu nhẹ đầy mê hoặc, như gió thổi ngoài một cánh rừng lúc ban chiều. Khi cô đặt cây kéo xuống; khi cô quay sang để lấy món gì đó trên bàn. Một chuyển động nho nhỏ, một nét lượn thoáng qua, một tiếng vỗ khe khẽ, đã tạo nên thứ gì đó trên cái bàn, nơi cô đang ngồi may. Qua đôi hàng mi anh có thể nhìn thấy đường nét nhòa nhòa của cô, thân hình màu đen của cô; gương mặt và đôi bàn tay của cô; những cử động xoay người của cô ở bàn, khi cô cầm lấy một ống chỉ, hay tìm kiếm (cô có khuynh hướng hay để thất lạc các thứ) miếng lụa. Cô đang may một cái nón cho cô con gái đã lấy chồng của bà Filmer, tên là – anh đã quên mất tên của cô ta.

“Tên của cô con gái đã lấy chồng của bà Filmer là gì nhỉ?” Anh hỏi.

“Peters.” Cô đáp. Cô e là nó quá nhỏ, cô nói, giơ nó ra trước mặt. Peters là một phụ nữ to lớn; nhưng cô không ưa cô ta. Chỉ vì bà Filmer cư xử rất tốt với họ. “Hồi sáng này bà ấy cho em nho,” cô nói – Rezia muốn làm gì đó để tỏ ra rằng họ biết ơn. Một chiều nọ cô bước vào phòng mình và thấy cô Peters, do tưởng là họ đã đi ra ngoài, đang mở cái máy hát.

“Thật thế à?” Anh hỏi. Cô ta đang mở cái máy hát sao? Phải; cô đã kể với anh suốt buổi về chuyện đó; cô đã phát hiện ra cô Peters đang mở cái máy hát.

Anh bắt đầu, rất thận trọng, mở mắt ra, để nhìn xem cái máy hát có thật sự ở đó không. Nhưng những đồ vật thật sự – những đồ vật thật sự quá kích thích. Anh phải cảnh giác. Anh sẽ không phát điên. Thoạt tiên anh nhìn những tờ giấy vẽ kiểu nón ở cái kệ thấp, rồi dần dà nhìn vào cái máy hát với cái loa màu xanh. Không gì có thể xác thực hơn. Và thế là, gom hết can đảm, anh nhìn cái tủ ngăn, đĩa chuối; bức tranh chạm hình Nữ hoàng Victoria và Hoàng tử Consort; nhìn cái bệ lò sưởi, với lọ hoa hồng. Không thứ nào trong số các vật này chuyển động. Tất cả đều bất động; tất cả đều có thật.

“Cô ta là một người đàn bà có cái lưỡi đầy ác ý.” Rezia nói.

“Ông Peters làm nghề gì?” Septimus hỏi.

“Ờ,” Eezia nói, cố nhớ lại. Cô nghĩ bà Filmer đã bảo rằng anh ta đi lại giao dịch cho một công ty nào đó. “Ngay lúc này anh ta ở Hull,” cô nói.

“Ngay lúc này!” Cô nói câu đó với giọng Ý của mình. Cô tự nói câu đó. Anh che mắt lại để có thể nhìn thấy chỉ một phần nhỏ trên gương mặt cô mỗi lần, trước tiên là cằm, rồi tới mũi, rồi tới trán, phòng khi nó bị biến dạng, hay trên đó có một dấu vết kinh khủng nào đó. Nhưng không, cô ngồi đó, hoàn toàn tự nhiên, đang may, với đôi môi mím lại mà những người phụ nữ có, hình thể đó, biểu hiện buồn bã đó, khi đang may. Nhưng ở nó không có gì kinh khủng cả, anh tự trấn an mình, tìm kiếm lần thứ hai, lần thứ ba ở gương mặt của cô, đôi bàn tay của cô, một thứ đáng sợ hay có tính chất ngụy trang ở cô trong lúc cô ngồi dưới ánh ngày thoáng đãng, đang may? Cô Peters có một cái lưỡi đầy ác ý. Ông Peters đang ở Hull. Vậy thịnh nộ và tiên đoán là sao? Bị hành hạ và ruồng bỏ là sao? Bị những đám mây khiến cho run lên và khóc nức nở là sao? Vì sao phải tìm kiếm sự thật và đem tới những thông điệp khi Rezia ngồi đính những cây kim gút vào phía trước cái váy của mình và ông Peters đang ở Hull? Những phép mầu, những phát hiện, những nỗi thống khổ, sự lẻ loi, đang rơi qua biển, rơi mãi, vào những ngọn lửa, tất cả cháy tan tành, vì anh có một ý thức, trong lúc quan sát Rezia tô điểm cho cái mũ rơm của cô Peters, về một tấm khăn trải giường in hoa.

“Nó quá bé đối với cô Peters.” Septimus nói.

Lần đầu tiên trong suốt nhiều ngày anh đang nói như dạo trước! Dĩ nhiên là thế – nhỏ một cách phi lý, cô nói. Nhưng cô Peters đã chọn nó.

Anh nhấc nó khỏi tay cô. Anh nói nó là mũ của con khỉ của người quay đàn hộp.

Câu nói đó khiến cô vui dạ biết bao! Đã nhiều tuần họ không cười với nhau như thế này, chọc ghẹo nhau một cách kín đáo riêng tư như những người đã kết hôn. Ý của cô là nếu bà Filmer có bước vào, hoặc cô Peters hoặc bất kỳ người nào, họ sẽ không hiểu cô và Septimus đang cười cái gì.

“Kìa,” cô nói, ghim một bông hồng vào một phía của cái nón. Cô chưa bao giờ sung sướng đến thế! Chưa bao giờ trong cuộc đời cô!

Nhưng việc đó chỉ thêm lố bịch, Septimus nói. Giờ đây người đàn bà tội nghiệp đó giống như một con lợn trong một buổi hội chợ. (Chưa hề có ai làm cho cô cười lăn lóc như Septimus.)

Cô có thứ gì trong hộp đồ nghề của mình? Cô có những dải ruy băng và hạt cườm, những núm tua, những đóa hoa giả. Cô đổ ào chúng lên bàn. Anh bắt đầu xếp những màu sắc kỳ quặc lại với nhau– vì dù anh không có những ngón tay khéo léo, thậm chí không thể gói một gói đồ, anh có một con mắt tuyệt vời, và thường là anh đúng, đôi khi phi lý, tất nhiên, nhưng đôi khi đúng một cách tuyệt vời.

“Cô ta sẽ có một cái nón đẹp!” Anh lẩm bẩm, cầm thứ này thứ kia lên. Rezia quỳ gối cạnh anh, nhìn qua vai anh. Giờ nó đã hoàn tất – đó là nói về thiết kế; cô phải đính các thứ lại với nhau. Nhưng cô phải rất, rất cẩn thận, anh nói, để giữ cho nó nguyên vẹn như anh đã sắp xếp.

Thế rồi cô may. Khi cô may, anh nghĩ, cô tạo ra một âm thanh giống như tiếng một cái ấm nước trên bếp ủ ấm; sôi lục bục, rì rầm, luôn bận bịu, những ngón tay búp măng nhỏ nhắn kéo và đẩy, cây kim chuyển động vun vút. Mặt trời có thể vào và ra, trên những cái núm tua, trên lớp giấy dán tường, nhưng anh sẽ đợi, anh nghĩ, duỗi hai bàn chân ra, nhìn chiếc vớ ngắn có viền ở đầu cái trường kỷ, anh sẽ đợi trong nơi chốn ấm áp này, cái hốc chứa đựng không khí yên tĩnh này, mà đôi khi người ta bắt gặp ở một bìarừng vào lúc chiều hôm, khi mà, vì một cú ngã lăn ra đất, hoặc vì một sự sắp xếp nào đó của những cây cối (người ta phải có đầu óc khoa học trên hết, có đầu óc khoa học), hơi ấm còn vương vất, và không khí quật vào gò má như cánh của một con chim.

“Đây này,” Rezia nói, xoay tròn cái nón của cô Peters trên những đầu ngón tay. “Nó sẽ xong trong giây lát. Sau đó…” câu nói của cô sủi tăm lên, nhỏ giọt, nhỏ giọt, nhỏ giọt, như một cái vòi nước mãn nguyện được để mặc cho chảy tí tách.

Nó thật tuyệt diệu. Anh chưa bao giờ làm bất cứ điều gì khiến anh thấy tự hào đến vậy. Nó rất thật, nó rất cụ thể, cái mũ của cô Peters.

“Cứ nhìn nó mà xem.” Anh nói.

Phải, việc nhìn cái nón đó sẽ luôn khiến cho cô hạnh phúc. Vậy là anhđã trở lại là chính mình, vậy là anh đã cười. Họ chỉ có một mình với nhau. Cô sẽ luôn luôn thích cái mũ đó.

Anh bảo cô thử đội nó lên.

“Nhưng chắc trông em phải rất kỳ cục!” Cô la lên, chạy tới chỗ tấm gương và nhìn, đầu tiên phía này, rồi tới phía kia. Rồi cô lại lột nó xuống, vì có tiếng gõ cửa. Đó phải chăng là ngài William Bradshaw? Ông ta đã tới rồi sao?

Không! Chỉ là con bé gái với tờ báo buổi chiều.

Điều luôn xảy ra, lúc đó đã xảy ra – điều xảy ra mỗi tối trong đời họ. Con bé ấn ngón cái vào cửa; Rezia quỳ sụp xuống; Rezia nói thủ thỉ và hôn nó; Rezia lấy ra từ trong ngăn bàn một túi kẹo. Vì nó luôn xảy ra như vậy. Đầu tiên là điều này, rồi tới điều khác. Cứ thế cô dựng nó lên, đầu tiên là một thứ, rồi tới thứ khác. Họ múa may, nhảy tung tăng vòng quanh căn phòng. Anh cầm lấy tờ báo. Toàn hạt Surrey đều ra khỏi nhà, anh đọc. Có một đợt nắng nóng. Rezia lặp lại: Toàn hạt Surrey đều ra khỏi nhà; có một đợt nắng nóng; biến nó thành một phần của trò chơi mà cô đang chơi với cháu ngoại của bà Filmer. Anh rất mệt mỏi. Anh rất hạnh phúc. Anh sẽ ngủ. Anh nhắm mắt lại. Nhưng ngay tức khắc anh không thấy gì nữa, những âm thanh của cuộc chơi trở nên nhạt nhòa đi đến lạ và nghe như tiếng kêu của những người đang tìm kiếm và không tìm thấy, và đi ngày càng xa dần. Họ đã lạc khỏi anh!

Anh giật mình nhổm dậy trong nỗi kinh hoàng. Anh đã nhìn thấy điều gì? Cái đĩa chuối trên cái tủ ngăn. Không có ai ở đó (Rezia đã đưa con bé tới chỗ mẹ nó. Đã tới giờ ngủ). Là thế đó: cô đơn mãi mãi. Đó là số phần bất hạnh đã được công bố ở Milan khi anh bước vào phòng và nhìn thấy họ đang cắt những mảnh vải hồ với mấy cây kéo của họ; sống cô đơn mãi mãi.

Anh lẻ loi một mình với cái tủ ngăn và nải chuối. Anh cô đơn, phơi trần ra trên mô đất hoang vu này, duỗi dài ra – nhưng không phải trên một ngọn đồi – trên đỉnh; không phải trên một vách đá cheo leo; mà trên cái trường kỷ trong phòng khách của bà Filmer. Còn về phần những ảo ảnh, những gương mặt, những giọng nói của những người chết, chúng đâu rồi? Ở trước mặt anh có một bức bình phong, với những cây cỏ chỉ đen và những con chim nhạn màu xanh. Ở nơi trước đó anh đã nhìn thấy những ngọn núi, ở nơi anh đã nhìn thấy những gương mặt, ở nơi anh đã nhìn thấy vẻ đẹp, có một bức bình phong.

‘Evans!” Anh kêu lên. Không có lời đáp. Một con chuột nhắt ré lên, hoặc một tấm màn che kêu sột soạt. Đó là những giọng nói của những người chết. Bức bình phong, cái thùng đựng than, cái tủ ngăn ở lại với anh. Vậy anh cứ để cho đối mặt với bức bình phong, cái thùng đựng than và cái tủ ngăn… nhưng Rezia vừa lao vào phòng vừa nói líu lo.

Có một lá thư đã đến. Các kế hoạch của mọi người đã thay đổi. Rốt cuộc bà Filmer sẽ không thể tới Brighton được. Không có thì giờ để cho bà Willliam biết, và thật sự Rezia nghĩ thật rất, rất bực mình, khi cô bắt gặp cái mũ và nghĩ… có lẽ… cô… có thể làm một chút… Giọng của cô tắt lịm trong giai điệu mãn nguyện.

“Ôi, chết tiệt!” Cô kêu lên (đó là một cách đùa của họ, tiếng chửi thề của cô), cây kim đã gãy. Mũ, trẻ con, Brighton, cây kim. Cô xây đắp nó; trước tiên là thứ này, rồi tới thứ kia, cô xây đắp nó, trong lúc may.

Cô muốn anh nói rằng bằng cách dời chỗ cái bông hồng cô đã cải thiện cho cái mũ. Cô ngồi ở đầu cái trường kỷ.

Giờ thì họ hoàn toàn hạnh phúc, cô nói, đột ngột, đặt cái mũ xuống. Vì lúc này cô có thể nói với anh bất cứ điều gì. Cô có thể nói bất cứ thứ gì nảy ra trong đầu mình. Đó hầu như là điều đầu tiên cô đã cảm thấy về anh, đêm hôm đó trong quán cà phê khi anh tới với những người bạn Anh của mình. Anh đã bước vào, khá bẽn lẽn. nhìn quanh mình, và cái mũ của anh đã rơi xuống khi anh treo nó lên. Cô có thể nhớ chuyện đó. Cô biết anh là người Anh, dù không nằm trong số những người Anh to lớn mà chị gái cô ngưỡng mộ, vì anh luôn gầy gò; nhưng anh có một màu da tươi tắn đẹp đẽ; và với cái mũi to, đôi mắt sáng, cách thức anh ngồi hơi khòm xuống một chút khiến cho cô suy nghĩ, cô đã thường nói với anh, tới một con chim ưng non, cái buổi tối đầu tiên cô gặp anh đó, khi họ đang chơi cờ đô mi nô, và anh bước vào – một con chim ưng non; nhưng với cô anh luôn rất dịu dàng. Cô chưa bao giờ trông thấy anh nổi điên lên hay say rượu, chỉ đôi khi chịu đau khổ trong cuộc chiến khủng khiếp này, nhưng ngay cả như vậy, khi cô bước vào, anh sẽ gạt bỏ nó đi. Bất cứ thứ gì, bất cứ thứ gì trên toàn cõi thế này, bất cứ phiền muộn nhỏ nhoi nào với công việc của mình, bất cứ thứ gì buộc cô phải nói ra cô sẽ nói với anh, và anh hiểu ngay lập tức. Ngay cả chính gia đình cô vẫn không giống như vậy. Lớn tuổi hơn cô và thông minh đến thế – anh thật là nghiêm túc, muốn cô đọc Shakespeare thậm chí trước khi cô có thể đọc một câu chuyện thiếu nhi bằng tiếng Anh! – vì có nhiều kinh nghiệm hơn, anh có thể giúp cô. Và cô cũng có thể giúp anh.

Nhưng giờ là cái mũ này. Và sau đó (đêm đã khuya) là ngài William Bradshaw.

Cô áp hai tay vào đầu, chờ anh nói xem anh có thích cái mũ hay không, và trong lúc cô ngồi đó, chờ đợi, nhìn xuống, anh có thể cảm nhận được tâm trí cô, như một con chim, rơi từ nhánh này sang nhánh khác, và luôn luôn tỏa sáng, một cách hoàn toàn chính đáng; anh có thể dõi theo tâm trí của cô, trong lúc cô ngồi đó, trong một tư thế uể oải đến với cô một cách tự nhiên và, nếu anh nói bất cứ điều gì, cô sẽ mỉm cười ngay lập tức, như một con chim tỏa sáng với mọi móng vuốt của nó cắm chặt vào cành cây.

Nhưng anh nhớ Bradshaw nói, “Những người chúng ta yêu quý nhất không tốt đối với chúng ta khi chúng ta bị ốm.” Bradshaw nói anh phải được dạy cho cách nghỉ ngơi. Bradshaw nói họ phải cách ly nhau.

“Phải,” “phải,” vì sao lại “phải”? Bradshaw có quyền gì đối anh? “Bradshaw có quyền gì để nói ‘phải’ với tôi?” Anh vặn hỏi.

“Đó là vì anh đã nói tới việc tự sát.” Rezia đáp. (Trời đất thương tình, giờ cô không thể nói gì với Septimus.)

Vậy là anh đang nằm trong vòng quyền lực của họ! Holmes và Bradshaw đang áp chế anh! Tên cục súc với hai lỗ mũi đỏ đang đánh hơi sục sạo vào mọi nơi chốn bí mật! Nó có thể nói “phải”! Những tờ giấy của anh đâu rồi? Những thứ anh đã viết ra đâu?

Cô mang tới cho anh những tờ giấy, những thứ anh đã viết, những thứ mà cô đã viết giùm anh. Cô quẳng nó lên cái trường kỷ. Họ cùng nhìn vào chúng. Những sơ đồ, những thiết kế, những người đàn ông và phụ nữ nhỏ bé đang vung những cái que thay cho vũ khí; họ có cánh – phải không? – ở sau lưng; những vòng tròn phỏng theo những đồng siling và đồng sáu su – nhữngvầng thái dương và những vì sao; những vách núi ngoằn ngoèo khúc khuỷu với những người leo núi đang cùng trèo lên, giống hệt những những con dao và nĩa ăn; những mảnh biển khơi với những bộ mặt cười ló ra từ cái có lẽ là những lượn sóng: tấm bản đồ thế giới. Đốt chúng đi! Anh kêu lên. Còn giờ là những ghi chép của anh; những người chết ca hát ra sao đằng sau những bụi đỗ quyên; những bài tụng ca Thời gian; những cuộc đối thoại với Shakespeare; Evans, Evans, Evans – những thông điệp từ những người chết của anh ta; đừng đốn hạ cây cối; hãy nói với Thủ tướng. Tình yêu phổ quát: ý nghĩa của thế giới. Đốt chúng đi! Anh kêu lên.

Nhưng Rezia đặt hai tay lên chúng. Một số rất đẹp, cô nghĩ. Cô sẽ cột chúng lại (vì cô không có phong bì) bằng một dải lụa.

Ngay cả khi họ đưa anh đi, cô nói, cô sẽ đi với anh. Họ không thể phân ly cô và anh ngược với ý muốn của hai người, cô nói.

Cô xếp lại cho các mép giấy ngay hàng thẳng lối, và cột chồng giấy lại, hầu như không cần nhìn, đang ngồi cạnh anh, anh nghĩ, như thể toàn bộ những cánh hoa của cô đang vây quanh cô. Cô là một cây trổ hoa; và xuyên qua những cành lá của cô ló ra gương mặt của một người làm ra luật, kẻ đã tới một chốn trú ẩn, nơi cô không còn sợ một ai; không sợ Holmes; không sợ Bradshaw; một phép mầu, một thắng lợi, cuối cùng và vĩ đại nhất. Anh thấy cô lảo đảo leo lên cái cầu thang đáng sợ, cõng trên lưng Holmes và Bradshaw, những kẻ chưa bao giờ nặng dưới một trăm sáu mươi cân Anh, những kẻ đã đưa vợ họ tới triều đình, những kẻ kiếm được mười ngàn bảng mỗi năm và nói về sự tương quan; những kẻ có phán quyết khác nhau (vì Holmes nói một đằng, Bradshaw nói đằng khác), thế nhưng họ là quan tòa; những kẻ trộn lẫn ảo ảnh với cái tủ ngăn; không thấy gì rõ ràng, thế nhưng lại thống trị, thế nhưng lại có thẩm quyền. “Phải,” họ nói. Cô đã chiến thắng họ.

“Đó!” Cô nói. Chồng giấy đã được cột lại. Sẽ không ai chạm vào chúng. Cô sẽ cất chúng đi.

Và, cô nói, không gì có thể phân cách họ. Cô ngồi xuống cạnh anh và gọi anh bằng cái tên của con chim ưng hoặc con quạ đó, cũng ác độc và là một kẻ phá hoại mùa màng vĩ đại giống hệt như anh. Không ai có thể phân cách họ, cô nói.

Rồi cô đứng lên, định đi vào phòng ngủ để gói ghém đồ đạc của họ, nhưng nghe thấy những giọng nói bên dưới cầu thang và nghĩ rằng có lẽ bác sĩ Holmes đã ghé tới, cô chạy xuống để ngăn không cho ông ta đi lên.

Septimus có thể nghe tiếng cô nói chuyện với Holmes ở đầu cầu thang.

“Quý bà thân mến của tôi, tôi tới với tư cách một người bạn.” Holmes đang nói.

“Không. Tôi sẽ không cho phép ông gặp chồng tôi.” Cô nói.

Anh có thể trông thấy cô, giống như một con gà mái, với đôi cánh dang ra để cản đường ông ta. Nhưng Holmes rất kiên trì.

“Quý bà thân mến của tôi, hãy cho phép tôi…” Holmes nói, đẩy cô sang một bên (Holmes là một gã to lớn cường tráng).

Holmes đang đi lên gác. Holmes sẽ mở toang cửa. Holmes sẽ nói “Đang hoảng sợ, hử?” Holmes sẽ tóm được anh. Nhưng không; Holmes thì không; Bradshaw thì không. Đứng lên một cách khá loạng choạng, thật sự là đang nhảy lò cò, anh xem xét con dao cắt bánh mì sạch đẹp của bà Filmer với chữ “Bánh mì” khắc trên cán. Chà, nhưng người ta không được làm hỏng thứ đó. Lửa bếp ga chăng? Nhưng giờ đã quá muộn. Holmes đang tới. Anh có thể lấy những con dao cạo, nhưng Rezia, kẻ luôn làm loại công việc đó, đã gói chúng lại. Chỉ còn cái cửa số, cái cửa sổ nhà trọ rộng lớn của khu Bloomsbury, chỉ còn cái công việc mệt mỏi, rắc rối và khá bi thảm là mở cánh cửa sổ và tự quăng mình ra ngoài. Đó là ý tưởng của họ về tấn bi kịch chứ không phải của anh hay của Rezia (vì cô đứng về phía anh). Holmes và Bradshaw khoái kiểu đó. (Anh ngồi lên bệ cửa sổ.) Nhưng anh sẽ chờ cho tới giây phút cuối. Anh không muốn chết. Cuộc sống thật tốt đẹp. Mặt trời nóng ấm. Chỉ có con người – họ muốn gì nhỉ? Đi xuống thang đối mặt với một người đàn ông lớn tuổi ngăn anh lại và nhìn anh chòng chọc. Holmes đã tới cửa. “Tôi sẽ cho ông điều đó!” Anh kêu lên, và hùng hổ, mạnh bạo, quăng mình xuống khu vực hàng rào của bà Filmer.

“Đồ hèn.” Bác sĩ Holmes la lên, mở tung cánh cửa. Rezia chạy tới cửa sổ, cô nhìn thấy; cô hiểu. Bác sĩ Holmes và bà Filmer va vào nhau. Bà Filmer đập vào tấm tạp dề của mình và đứng che mắt trong phòng ngủ. Có nhiều cuộc chạy lên chạy xuống cầu thang. Bác sĩ Holmes bước vào – trắng như một tờ giấy, cả người run lẩy bẩy, tay cầm một cái ly. Cô phải dũng cảm lên và uống chút gì đó, ông ta nói (Thứ gì nhỉ? Một thứ gì đó ngọt), vì chồng cô đã bị xé rách cả người một cách khủng khiếp, sẽ không tỉnh lại, cô không được nhìn thấy anh ta, phải tránh đi càng nhiều càng tốt, sẽ có một cuộc điều tra tỉ mỉ, người thiếu phụ tội nghiệp ạ. Ai có thể nói trước được điều đó? Một cơn bốc đồng đột ngột, không thể đổ lỗi cho ai hết (ông nói với bà Filmer). Và anh ta làm thế vì cái quái gì chứ, bác sĩ Holmes không thể hiểu.

Với cô, trong lúc uống thứ nước ngọt đó, dường như cô đang mở những cánh cửa sổ dài ra, bước vào một khu vườn nào đó. Nhưng ở đâu? Đồng hồ đang điểm giờ – một, hai, ba: âm thanh nghe thật rõ rệt; so với tất cả những thứ thình thịch và thì thầm này; như chính bản thân Septimus. Cô đang ngủ thiếp đi. Nhưng cái đồng hồ tiếp tục đổ chuông, bốn, năm, sáu, và bà Filmer đang vẫy tấm tạp dề (họ sẽ không đưa cái xác vào đây chứ, phải không?) dường như là một phần của khu vườn đó; hoặc một lá cờ. Có lần cô đã nhìn thấy một lá cờ chậm chạp bung ra từ một cột cờ khi cô ở Venice với cô của mình. Những người đàn ông tử trận được chào như thế, và Septimus đã trải qua cuộc chiến. Hầu hết những hồi ức của cô đều hạnh phúc.

Cô đội mũ lên, và chạy qua những đồng lúa mạch – nó có thể ở đâu? – trên một ngọn đồi nào đó, ở đâu đó gần biển, vì có những con tàu, những con chim hải âu, những con bướm; họ ngồi trên một vách đá. Cả ở London, họ ngồi đó, và trong lúc mơ mơ màng màng, đến với cô qua cánh cửa phòng ngủ, mưa đang rơi, những tiếng lao xao thì thầm giữa những bụi lúa khô, sự mơn trớn của biển – dường như nó đang ve vuốt cô – úp họ vào trong cái vỏ cong của nó và thì thầm với cô đang nằm trên bờ biển, cô cảm thấy đang bị rải tung ra, như những bông hoa bay lả tả bên trên một nấm mộ nào đó.

“Anh ấy đã chết.” Cô nói, mỉm cười với bà cụ già tội nghiệp, kẻ đang canh chừng cô với đôi mắt xanh nhạt trung thực dán vào cánh cửa. (Họ sẽ không đưa anh ta vào đây, có phải không?) Nhưng bà Filmer bác bỏ. Ồ không, ồ không! Lúc này họ đang mang anh ta đi. Có nên nói cho cô ta biết hay không? Những cặp vợ chồng nên ở cạnh nhau, bà Filmer nghĩ. Nhưng họ phải làm như ông bác sĩ đã nói.

“Cứ để cho cô ấy ngủ.” Bác sĩ Holmes nói, sờ vào cái ví của cô. Cô nhìn thấy đường viền tối to lớn của thân hình đang đứng ngược với hướng cửa sổ của ông ta. Vậy ra đó là bác sĩ Holmes.

IX

Một trong những thắng lợi của nền văn minh, Peter Walsh nghĩ. Đây là một trong những thắng lợi của nền văn minh, khi tiếng còi báo động của chiếc xe cấp cứu vang vang. Chiếc xe cấp cứu vọt tới bệnh viện một cách nhanh chóng, gọn gàng, sau khi đã thu nhặt một cách tức thì, đầy lòng nhân đạo, một kẻ vô phúc tội nghiệp nào đó; một ai đó bị đập vào đầu, ngất xỉu vì bệnh, bị xe đụng có lẽ trước đó khoảng một phút tại một trong những ngã tư này, như chuyện có thể xảy ra với bất kỳ người nào. Đó là nền văn minh. Nó gây ấn tượng cho ông, kẻ quay trở về từ phương Đông – tính hiệu quả, tính tổ chức, tinh thần công cộng ở London. Mọi cỗ xe ngựa hay xe hơi tự nguyện nép sang một bên để cho chiếc xe cấp cứu chạy qua. Có lẽ nó không lành mạnh; hoặc đúng hơn là nó không gợi lòng thương cảm, sự tôn trọng mà họ bày tỏ trước chiếc xe cấp cứu với nạn nhân bên trong này – những người đàn ông bận rộn đang hối hả về nhà thế nhưng lập tức bị nhắc nhớ tới một bà vợ nào đó khi chiếc xe chạy ngang qua; hoặc có thể giả sử một cách dễ dàng rằng họ đang ở trong đó, duỗi người trên một cái băng ca với một viên bác sĩ và một người y tá… Chà, nhưng suy nghĩ ngay lập tức trở nên bệnh hoạn, ủy mị khi người ta bắt đầu hình dung tới những tay bác sĩ, những tử thi; một niềm vui nho nhỏ, cả một dạng khao khát với cái ấn tượng hiển hiện cảnh báo người ta đừng tiếp tục với điều đó nữa – tính chất tiền định đối với nghệ thuật, tính chất tiền định đối với tình bằng hữu. Đúng. Thế nhưng, Peter Walsh nghĩ, khi chiếc xe cấp cứu quẹo ở góc phố dù vẫn có thể nghe thấy tiếng còi xe ở con đường kế tiếp và xa hơn khi nó băng qua phố Tottenham Court, tiếp tục hụ lên inh ỏi, đó là đặc quyền của sự cô đơn; trong sự riêng tư, người ta có thể làm theo ý thích. Người ta có thể khóc nếu không có ai nhìn thấy. Đây là thứ đã tàn phá ông – sự nhạy cảm này – trong một xã hội Anh-Ấn; không khóc hay cười vào thời điểm đúng. Mình có điều đó trong tâm hồn, ông nghĩ khi đứng cạnh trụ thư công cộng mà giờ có thể tan biến trong những dòng nước mắt. Vì sao, chỉ có trời mới biết. Có lẽ một loại vẻ đẹp nào đó, và sức nặng của ngày hôm nay, bắt đầu với cuộc viếng thăm Clarissa, đã làm cho ông kiệt sức vì độ nóng của nó, sự căng thẳng của nó, và sự nhỏ giọt, nhỏ giọt, của hết ấn tượng này sang ấn tượng khác xuống cái tầng hầm nơi họ đứng, sâu thẳm, tối tăm, và chưa ai từng biết. Một phần vì lý do đó, sự bí ẩn của nó, trọn vẹn và bất khả xâm phạm, đã khiến ông phát hiện ra cuộc sống giống như một khu vườn chưa ai biết tới, đầy những chỗ ngoặt, những góc quanh, bất ngờ, phải; thật sự nó đã khiến cho người ta bị hụt hơi, những khoảnh khắc ấy; chiếc xe cấp cứu này; sự sống và cái chết. Như thể ông đang bị hút lên một cái mái nhà rất cao bởi dòng cảm xúc dạt dào và phần còn lại của ông, như một bờ biển trắng rải rác vỏ sò, bị bỏ trống không. Đây là thứ đã tàn phá ông trong xã hội Anh-Ấn – sự nhạy cảm này.

Có lần, Clarissa đã lên tầng trên của một chiếc xe buýt hai tầng với ông ở đâu đó, Clarissa rất dễ xúc động, ít ra ở vẻ ngoài, khi thì thất vọng, khi thì hưng phấn, hoàn toàn run rẩy trong những ngày đó và là một người bạn đồng hành tuyệt vời, nhìn những cảnh tượng nho nhỏ lạ lùng, những cái tên, mọi con người, từ tầng trên của một chiếc xe buýt, vì họ thường thám hiểm London và mang về những túi xách đầy các thứ quý báu từ chợ Caledonian – hồi đó Clarissa có một lý thuyết, như mọi người trẻ tuổi. Đó là giải thích cảm giác của họ về sự bất mãn; không hiểu biết mọi người; không được mọi người hiểu biết. Vì làm sao họ có thể hiểu biết về nhau? Bạn gặp nhau hàng ngày; rồi không gặp suốt sáu tháng, hay nhiều năm trời. Đó là sự bất mãn, họ đồng ý, người ta biết mọi người thật ít ỏi biết bao. Nhưng bà ấy nói, khi ngồi trên chiếc xe buýt đang chạy trên đại lộ Shaftesbury, bà ấy cảm thấy mình ở khắp mọi nơi; không phải “ở đây, ở đây, ở đây” mà khắp mọi nơi; và bà ấy vỗ vào lưng ghế;Bà ấy vẫy tay, ngồi xe ngược đại lộ Shaftesbury. Bà ấy là tất cả những thứ đó. Vì thế để hiểu biết bà ấy, hay bất cứ một ai, người ta phải tìm ra những người giúp cho họ trở nên trọn vẹn; ngay cả những địa điểm. Bà có những quan hệ kỳ lạ với những người chưa từng nói chuyện, một phụ nữ nào đó trên phố, một người đàn ông nào đó sau một quầy tính tiền – thậm chí cả những cây cối hay những kho thóc. Nó kết thúc trong một lý thuyết tiên nghiệm mà, với sự khiếp sợ cái chết của bà ấy, cho phép bà ấy tin tưởng hoặc nói rằng bà ấy tin (bất chấp mọi hoài nghi của bà ấy) rằng từ khi chúng ta xuất hiện, cái phần xuất hiện của chúng ta rất ngắn ngủi nhất thời so với phần khác, phần không nhìn thấy của chúng ta; nó trải rộng ra, có thể sống sót, có thể khôi phục lại, vì lý do nào đó gắn liền với người này hay người nọ, hay thậm chí vẫn ngụ lại ở những nơi chốn nhất định sau cái chết… có lẽ – có lẽ.

Khi nhìn lại tình bạn lâu dài gần ba mươi năm đó, lý thuyết của bà ấy đã có hiệu quả tới mức độ này. Vắn tắt, đổ vỡ, thường là đau khổ như những cuộc gặp gỡ thực sự của họ với sự lơ đãng của ông và những sự xen ngang (ví dụ hồi sáng này, Elizabeth bước vào, như một chú ngựa non chân dài, xinh đẹp, lầm lì, vừa đúng lúc ông bắt đầu nói với Clarissa), tác động của chúng lên cuộc đời ông là không thể đo lường. Ở nó có một sự bí ẩn. Bạn được trao cho một thứ hạt sắc nhọn, khó chịu – cuộc gặp gỡ thật sự; thường xuyên là đau khủng khiếp; thế nhưng trong sự vắng mặt, ở những địa điểm ít có khả năng nhất, nó sẽ trào ra, mở rộng, tỏa mùi, để cho bạn chạm vào, nếm trải, nhìn quanh bạn, có toàn bộ cảm nhận về nó và thấu hiểu, sau nhiều năm thất tung tăm tích. Bà ấy đã tới với ông thế đó; trên boong tàu; trên đỉnh Hy Mã Lạp Sơn; được gợi ra từ những điều kỳ quặc nhất (Sally Seton cũng thế, một cô nàng ngốc nghếch hào phóng, nhiệt tình! Nghĩ tới ông khi cô ta nhìn thấy những bông hoa tú cầu). Bà ấy có ảnh hưởng tới ông nhiều hơn bất kỳ người nào mà ông từng biết. Và luôn đến trước ông theo cách thức mà ông không hề mong muốn này, lãnh đạm, ra vẻ tiểu thư, hay chỉ trích; hoặc tỏ ra say đắm, lãng mạn, nhắc tới một cánh đồng hay một mùa gặt nào đó ở nước Anh. Ông thường gặp bà nhiều nhất là ở vùng quê chứ không phải ở London. Hết cảnh tượng này tới cảnh tượng khác ở Bourton…

Ông đã tới khách sạn của mình. Ông băng qua đại sảnh, với những hàng ghế và trường kỷ đỏ, những cây cỏ có lá như mũi giáo, trông khô héo. Ông gỡ chìa khóa của mình khỏi móc. Người thiếu nữ trao cho ông vài lá thư. Ông lên lầu – ông thường gặp bà ấy nhất ở Bourton, vào cuối mùa hè, khi ông ở lại đó một tuần hay thậm chí nửa tháng, như mọi người vẫn làm hồi đó. Đầu tiên là trên một đỉnh đồi nào đó, bà đứng, đôi bàn tay vỗ nhẹ vào mái tóc, tấm áo choàng bay phấp phới, vừa chỉ trỏ vừa kêu to với họ – bà ấy nhìn thấy thung lũng Severn ở bên dưới. Hay trong một cánh rừng, đang cố đun một ấm nước – rất không hiệu quả với những ngón tay của bà; khói uốn éo tỏa lên, thổi vào mặt họ; gương mặt nhỏ nhắn ửng hồng của bà bộc lộ hết những cảm xúc bên trong; xin nước của một bà cụ trong một ngôi nhà thôn dã, người đã ra tới cửa để quan sát họ đi. Họ luôn đi bộ; những người khác đi xe ngựa. Bà chán ngồi xe, không thích tất cả mọi con thú, trừ con chó đó. Họ lê bước nhiều dặm dọc những con đường. Bà thường dừng lại đột ngột để chỉnh trang y phục, dẫn ông quay về băng qua vùng quê; và suốt thời gian đó họ cãi nhau, thảo luận về thơ ca, về mọi người và chính trị (hồi đó bà ấy là một người cấp tiến); không bao giờ chú ý tới thứ gì ngoại trừ khi bà ấy dừng lại, kêu lên với một cảnh vật hay một loài cây, và buộc ông phải nhìn với mình; và cứ tiếp tục như thế, qua những cánh đồng đầy gốc rạ, bà ấy đi trước, với một cây hoa cho bà cô của mình, không bao giờ mệt mỏi vì đi bộ dù dáng vẻ rất mảnh khảnh; để về tới Bourton lúc trời sụp tối. Rồi sau bữa ăn tối, ông cụ Breikopf sẽ mở nắp cây đàn dương cầm ra và hát mà không có chút hơi nào, và họ sẽ nằm sâu trong những cái ghế bành, cố không bật cười, nhưng luôn luôn không nén được và cười phá lên, cười thỏa thích – cười không vì cái gì cả. Họ cho là Breitkopf không nhìn thấy. Và rồi vào buổi sáng, lượn qua lượn lại trước nhà như một chú chim chìa vôi…

Ồ, đó là một lá thư của bà ấy! Cái phong thư màu xanh trời này; đó là nét chữ của bà ấy. Và ông sẽ phải đọc nó, Đây là một dạng khác trong những cuộc gặp gỡ đó, buộc phải chịu khổ đau! Đọc thư của bà ấy cần một nỗ lực khốn khổ. “Thật tuyệt vời khi gặp ông. Bà phải nói với ông điều đó.” Chỉ có thế.

Nhưng nó khiến ông phiền muộn. Nó khiến ông bực mình. Ông ước gì bà ấy đã không viết nó. Trên đỉnh của những ý nghĩ của ông, nó giống như một cú thúc cùi chỏ vào những cái xương sườn. Vì sao bà ấy không để cho ông yên? Nói cho cùng, bà ấy đã cưới Dalloway, và sống với ông ta trong hạnh phúc trọn vẹn suốt ngần ấy năm trời.

Những khách sạn này không phải là những nơi giúp người ta khuây khỏa. Còn lâu mới thế. Bất cứ số người nào cũng đều móc mũ của mình trên những cái móc đó. Thậm chí cả những con ruồi, nếu bạn nghĩ tới chúng, cũng đậu lên mũi của những người khác. Còn về sự vệ sinh vốn đập thẳng vào mắt của ông, nó không sạch sẽ chút nào, quá nhiều thứ trơ trụi, lạnh giá; một điều tất phải diễn ra. Một mệnh phụ phu nhân khô khan nào đó rảo vài vòng buổi sáng, đánh hơi, dòm ngó, sai phái những cô người hầu khắt khe đi thám thính khắp thế giới như thể người khách tiếp theo là một súc thịt được phục vụ trên một cái đĩa hoàn toàn sạch sẽ. Để ngủ, có một cái giường, để ngồi, có một cái ghế bành; để làm sạch bộ răng và cạo sạch râu cằm, có một cái cốc, một tấm gương. Sách vở, thư từ, áo choàng nằm ngổn ngang ở những vị trí không thích hợp. Và chính lá thư của Clarissa đã khiến cho ông nhìn thấy tất cả những điều này. “Thật tuyệt vời khi gặp ông. Bà phải nói thế!” Ông gấp tờ giấy lại; gạt nó sang một bên; không gì có thể dẫn dụ ông đọc nó thêm lần nữa!

Để gửi lá thư đó cho ông trước sáu giờ, bà ấy phải ngồi xuống và viết nó ngay lập tức sau khi ông đi khỏi; dán tem; cử ai đó mang tới bưu điện. Việc đó, như mọi người nói, rất giống với tính cách của bà ấy. Bà ấy không vui vì cuộc thăm viếng của ông. Bà ấy đã cảm nhận nhiều điều; trong một khoảnh khắc, khi hôn tay ông, bà ấy đã cảm thấy tiếc nuối, thậm chí ghen tị với ông, có lẽ nhớ lại (vì ông đã thấy bà nhìn nó) một điều gì đó ông từng nói – có lẽ là họ sẽ thay đổi thế giới như thế nào nếu họ cưới nhau; nhưng ngược lại, nó là việc này;nó là tuổi trung tuần; nó là sự tầm thường; sau đó tự ép bản thân với sức sống bất khuất của mình để gạt tất cả sang bên, chỉ còn lại trong bà ấy một sợi chỉ cuộc đời dành cho sự cứng rắn, bền bỉ, sức mạnh để khắc phục những chướng ngại, và đưa bà vượt qua một cách thắng lợi những thứ mà ông chưa bao giờ biết. Phải; nhưng sẽ có một phản ứng ngay sau khi ông rời khỏi căn phòng. Bà ấy sẽ hối tiếc cho ông kinh khủng; bà ấy sẽ nghĩ tới điều mà bà ấy có thể thực hiện trên cõi đời này để trao cho ông niềm vui (luôn thiếu chính điều đó) và ông có thể nhìn thấy bà ấy bước tới bàn viết với những giọt lệ lăn xuống má và thảo nhanhdòng chữ mà ông muốn nghĩ là chào mừng ông…. “Thật tuyệt khi gặp ông!” Và ý bà ấy là thế.

Lúc này Peter Walsh cởi dây ủng ra.

Nhưng nó sẽ không là một thành công, cuộc hôn nhân của họ. Nói cho cùng, điều khác đã đến một cách tự nhiên hơn nhiều.

Nó thật kỳ lạ; nó có thật; nhiều người cảm nhận được nó. Peter Walsh, kẻ đã thực hiện bổn phận một cách đáng tôn trọng, đã đảm nhiệm các vị trí thông thường một cách thích đáng, được ưa thích, nhưng cũng bị cho rằng hơi gàn dở chút chút, hay bộ tịch ta đây – thật lạ lùng vì lẽ ra ông phải có, nhất là vào lúc này khi tóc ông đã bạc, một vẻ hài lòng mãn nguyện; một dáng vẻ của người dư dật. Chính điều này khiến ông trở nên hấp dẫn với những người phụ nữ thích cái cảm giác rằng ông không hoàn toàn nam tính. Có một cái gì đó bất thường ở ông, hay một cái gì đó ở phía sau ông. Có thể là ông là một con mọt sách – không bao giờ tới thăm bạn mà không cầm cuốn sách ở trên bàn lên (lúc này ông đang đọc, với mấy sợi dây cột ủng kéo lê trên sàn nhà); hoặc việc ông là một quý ông, tự nó biểu lộ ra trong cách ông gõ tro thuốc ra khỏi ống tẩu, và trong những cung cách xử sự với phụ nữ của ông. Vì thật là hấp dẫn và hoàn toàn buồn cười khi một cô gái không có chút xíu đầu óc nào đó có thể dễ dàng quay ông quanh ngón tay của mình. Nhưng cô ta phải dè chừng. Nghĩa là, dù ông có thể rất dễ dãi và thật sự quyến rũ để kết giao với tính tình vui vẻ và thái độ lịch sự, điều đó chỉ tới một mức nào đó. Cô ta nói gì đó – không, không ; ông nhìn thấu qua điều đó. Ông sẽ không chịu nổi điều đó – không, không. Khi đó ông có thể hét lên, lắc lư người và ôm bụng cười lăn lóc vì một câu chuyện đùa nào đó với cánh đàn ông. Ông là một giám khảo về nấu ăn giỏi nhất ở Ấn Độ. Ông là một người đàn ông. Nhưng không phải loại đàn ông người ta phải kính trọng – đó là một điều vạn hạnh. Thí dụ, không giống như Thị trưởng Simons; không giống chút nào, Daisy đã nghĩ thế, khi, bất chấp hai đứa con nhỏ của mình, cô thường so sánh họ với nhau.

Ông lột đôi ủng ra. Ông trút ra mọi thứ trong các túi. Cùng rơi ra với con dao nhíp là một hình ảnh thoáng nhanh về Daisy ở trước hiên nhà; Daisy mặc toàn màu trắng, với một con chó phốc trên đầu gối; rất đáng yêu; rất nâu bánh mật; vẻ đẹp hoàn hảo nhất mà ông từng nhìn thấy ở cô. Nó đã đến, nói cho cùng rất tự nhiên; tự nhiên hơn đối với Clarissa nhiều. Không chút ồn ào. Không chút bận tâm. Không có sự kiểu cách và sự bồn chồn. Tất cả đều đơn giản lướt đi. Và cô gái da bánh mật xinh xắn đáng yêu ở dưới mái hiên cảm thán (ông có thể nghe thấy cô ta). Dĩ nhiên, dĩ nhiên cô sẽ trao cho anh ta mọi thứ! cô ta kêu lên (cô ta không có đầu óc chính chắn), mọi thứ anh ta muốn! cô ta kêu lên, chạy tới để gặp ông, bất kể có thể ai đó đang nhìn. Và cô ta chỉ mới hai mươi bốn tuổi. Và cô ta có hai đứa con. Tốt, tốt!

Thật sự tốt khi ông đã tự chuốc lấy phiền hà vào tuổi của mình. Và nó xâm chiếm ông một cách khá mạnh mẽ khi ông thức giấc trong đêm. Giả sử họ lấy nhau thì sao? Với ông tất cả sẽ rất tốt đẹp, nhưng còn cô ta thì sao? Bà Burgess, một kẻ tốt bụng và không phải loại ba hoa, người mà ông đã tâm sự, nghĩ rằng sự vắng mặt của ông để về Anh, bề ngoài là để gặp các luật sư có thể giúp cho Daisy suy nghĩ cân nhắc lại ý nghĩa của vụ này. Đó là vấn đề về địa vị của cô ta, bà Burgess nói; cái rào chắn xã hội; việc từ bỏ hai đứa con của cô ta. Cô ta là một bà góa với một quá khứ vừa mới xảy ra, sống lê la ở vùng ngoại ô, hoặc, có khả năng hơn, sống chung chạ bừa bãi (anh biết những người phụ nữ như thế trông như thế nào với quá nhiều mỹ phẩm, bà ta nói). Nhưng Peter Walsh bác bỏ tất cả những điều đó. Ông chưa có ý định chết. Dù sao đi nữa, cô ta phải tự sắp xếp cho mình; tự mình phán xét, ông nghĩ, đi lại quanh phòng trong đôi tất ngắn, vuốt phẳng lại cái áo sơ mi, vì có thể ông sẽ tới dự bữa tiệc của Clarissa, hoặc có thể tới một trong những đại sảnh, hoặc có thể ở nhà và đọc một cuốn sách hấp dẫn do một người ông từng quen biết ở Oxford viết ra. Và nếu ông nghỉ hưu, đó là điều ông sẽ làm – viết sách. Ông sẽ tới Oxford và sục sạo trong thư viện Bodleian. Cô gái da ngăm xinh xắn đáng yêu chạy tới đầu sân hiên một cách vô ích; vẫy tay một cách vô ích; kêu lên một cách vô ích rằng cô không quan tâm chút nào tới những gì mọi người nói. Ông ở đó, người đàn ông mà cô ta nghĩ là cả thế giới, quý ông hoàn hảo, hấp dẫn, nổi bật (và tuổi tác của ông không tạo ra chút khác biệt nào đối với cô), đang đi lại quanh quẩn trong một căn phòng của một khách sạn ở khu Bloomsbury, cạo râu, rửa mặt, tiếp tục, trong lúc cầm những cái bình lên, đặt những con dao cạo xuống, sục sạo trong thư viện Bodleian, và tìm ra chân lý về một hoặc hai vấn đề nho nhỏ khiến ông quan tâm. Và ông sẽ có một cuộc chuyện gẫu với bất cứ người nào có thể, và cứ thế ngày càng ít quan tâm tới những giờ giấc chính xác để ăn trưa, bỏ lỡ những lời cam kết, và khi Daisy yêu cầu ông một nụ hôn, một màn kịch, như thường lệ, ông không thể tỏ ra tốt đẹp như cô ta mong muốn (dù ông chân thành dâng hiến cho cô) – nói tóm lại có thể sẽ hạnh phúc hơn, như bà Burgess nói, nếu cô ta quên ông đi hay chỉ nhớ ông như ông từng là hồi tháng 8, 1922, giống như một hình dáng đứng ở ngã tư đường lúc trời chạng vạng, ngày càng trở nên xa xôi hơn khi chiếc xe chó kéo lướt đi, mang theo cô ta được cột một cách an toàn vào cái ghế sau, dù hai tay cô ta duỗi ra, và trong lúc nhìn thấy hình dáng đó thu nhỏ lại và biến mất, cô ta vẫn kêu lên cô ta sẽ làm bất cứ điều gì trên đời này, bất cứ điều gì, bất cứ điều gì, bất cứ điều gì…

Ông không bao giờ biết mọi người nghĩ gì. Ông ngày càng thấy khó tập trung hơn. Ông trở nên chăm chú; ông trở nên bận rộn với những quan tâm của chính mình; khi cáu gắt, khi vui vẻ; tùy thuộc vào những người phụ nữ, đãng trí, ủ rũ, ngày càng ít có khả năng (ông nghĩ thế trong lúc cạo râu) để thấu hiểu vì sao Clarissa không thể đơn giản tìm cho họ một nơi ở tạm thời và tỏ ra tử tế với Daisy; giới thiệu cô ta. Và sau đó ông chỉ có thể – chỉ có thể làm gì? chỉ lui tới la cà (lúc này ông đang thật sự thực hiện việc phân loại những chiếc chìa khóa, giấy tờ khác nhau), xông tới và hưởng thụ, một mình, nói ngắn gọn, thấy đầy đủ với bản thân; thế nhưng dĩ nhiên là không có ai phụ thuộc vào những người khác hơn (ông cài nút cái áo gi-lê); đó là cái đã tàn phá ông. Ông không thể tránh khỏi những phòng hút thuốc, thích những viên đại tá, thích đánh gôn, thích chơi bài brit, và trên hết là xã hội của những người phụ nữ, và sự tuyệt vời khi bầu bạn với họ, và sự trung thực, táo bạo và vĩ đại của họ trong tình yêu dù dường như với ông nó có những mặt hạn chế (và gương mặt ngăm ngăm xinh xắn đáng yêu đang ở trên cùng của những phong bì), một đóa hoa rất đáng ngưỡng mộ, rất tuyệt vời, mọc trên đỉnh đời người, thế nhưng ông không thể đáp ứng được những kỳ vọng, luôn có khuynh hướng nhìn thấy những điều hoàn mỹ (Clarissa đã làm hao mòn vĩnh viễn trong ông một điều gì đó), và dễ dàng phát mệt với sự dâng hiến câm lặng, muốn có nhiều điều khác nhau trong tình yêu dù ông sẽ nổi cơn thịnh nộ nếu Daisy yêu bất cứ người nào khác, thịnh nộ! vì ông rất ghen, ghen không thể kiểm soát được do tính cách. Ông gánh chịu những dằn vặt khổ đau! Nhưng con dao của ông đâu rồi; cái đồng hồ của ông; những con dấu của ông, cái ví của ông, và lá thư của Clarissa mà ông sẽ không đọc lại nữa nhưng thích nghĩ tới, và tấm ảnh của Daisy? Và giờ là lúc ăn tối.

Họ đang ăn.

Họ ngồi ở những cái bàn nhỏ quanh những chậu hoa, mặc đồ sang trọng hoặc không sang trọng, với những cái khăn choàng, và túi xách nằm bên cạnh, với dáng vẻ giả vờ điềm tĩnh, vì họ không quen với việc có quá nhiều món ăn trong bữa tối, và tự tin, vì họ có thể thanh toán nó, và căng thẳng, vì họ đã chạy khắp London suốt cả ngày để mua sắm, tham quan; với sự hiếu kỳ tự nhiên của họ, vì họ nhìn quanh và ngẩng lên khi quý ông dễ nhìn đeo đôi kính gọng sừng bước vào, và với bản chất tốt đẹp của họ, vì họ sẽ vui sướng thực hiện bất cứ sự phục vụ nhỏ nhoi nào, như cho mượn một tờ thời gian biểu hay chia sẻ một thông tin hữu ích, và nỗi khao khát của họ, đang ngấm ngầm thôi thúc bên trong họ, lôi kéo họ, bằng cách nào đó tạo lập những kết nối dù chỉ là việc cùng chào đời ở một địa điểm (chẳng hạn Liverpool) hay có những người bạn cùng tên; với những thoáng nhìn lén lút, những phút lặng im kỳ lạ, và đột ngột rút lui vào hoạt động vui đùa và sự riêng biệt của gia đình; họ ngồi đó ăn bữa tối khi Walsh bước vào và ngồi xuống cái bàn nhỏ cạnh màn cửa.

Không phải do ông đã nói bất cứ điều gì, vì ngồi một mình, ông chỉ có thể nói với người bồi bàn; mà do cách ông nhìn vào cuốn thực đơn, cách ông chỉ ngón trỏ vào một loại rượu vang cụ thể, cách ông thẳng người lên để gọi món ăn một cách nghiêm túc chứ không thèm khát, ông đã chiếm được sự kính trọng của họ; sau khi vẫn không biểu lộ gì suốt phần lớn bữa ăn, nó chợt lóe lên ở cái bàn nơi gia đình Morris ngồi khi họ nghe ông Walsh nói vào cuối bữa ăn, “Lê Barlett.” Vì sao ông ta nói một cách rất khiêm tốn thế nhưng lại dứt khoát, với dáng vẻ của một người chấp hành kỷ luật tốt trong phạm vi các quyền hạn được xác lập dựa trên sự công chính của mình, cả cậu thanh niên Charles Morris lẫn ông Charles, cả cô Elaine lẫn bà Morris đều không biết được. Nhưng khi ông nói, “Lê Barlett,” ngồi một mình ở bàn của mình, họ cảm thấy rằng ông trông mong sự ủng hộ của họ trong một yêu cầu luật pháp nào đó; là chiến sĩ của một chính nghĩa mà ngay lập tức trở thành chính nghĩa của chính họ, khiến ánh mắt họ gặp ánh mắt của ông với sự đồng cảm, và khi tất cả bọn họ cùng đồng thời tới phòng hút thuốc, một cuộc trò chuyện nhỏ giữa họ trở thành điều không thể tránh khỏi.

Nó không sâu sắc lắm – chỉ tới mức độ rằng London quá đông đúc; đã thay đổi trong vòng ba mươi năm qua; rằng ông Morris thích Liverpool hơn; rằng bà Morris đã tới dự cuộc triển lãm hoa Westminster và rằng cả tất cả bọn họ đã nhìn thấy Hoàng tử xứ Wales. Phải, Peter Walsh nghĩ, không có gia đình nào trên đời này có thể so với gia đình Morris; không, bất kể là gia đình nào; và mối quan hệ giữa mỗi người bọn họ với nhau thật hoàn hảo, và họ không đếm xỉa tới các tầng lớp trên, họ thích thứ họ thích, và Elaine đang được đào tạo cho công việc kinh doanh của gia đình, còn cậu con trai đã chiếm được một học bổng ở Leeds, và quý phu nhân lớn tuổi (trạc tuổi của ông) còn có ba đứa con khác ở nhà; và họ có hai chiếc xe hơi, nhưng ông Morris vẫn chữa lại những đôi ủng vào ngày Chủ nhật: điều này thật tuyệt vời, rất đỗi tuyệt vời, Peter Walsh nghĩ, hơi xoay người ra phía sau rồi phía trước một chút với ly rượu vang cầm trên tay, giữa những cái ghế lông đỏ và những cái gạt tàn, cảm thấy rất hài lòng với bản thân, vì gia đình Morris thích ông. Phải, họ thích một người đàn ông nói “Lê Barlett.” Họ ưa thích ông, ông cảm thấy.

Ông sẽ tới dự bữa tiệc của Clarissa. (Gia đình Morris lên đường; nhưng họ sẽ gặp lại.) Ông sẽ tới dự bữa tiệc của Clarissa, vì ông muốn hỏi Richard họ đang làm gì ở Ấn Độ – những tên ngốc bảo thủ ấy. Và điều gì đang được tiến hành? Và âm nhạc… Ồ, vâng, và chuyện tầm phào đơn thuần.

Vì đây là sự thật về linh hồn của chúng ta, ông nghĩ, bản ngã của chúng ta, giống như loài cá sống dưới những biển sâu và lặn lội trong những nơi chốn tối tăm, len lỏi qua giữa những thân rêu khổng lồ, qua những không gian lung linh ánh mặt trời và đi tiếp, đi tiếp vào chốn âm u, lạnh giá, sâu thẳm khôn dò; đột nhiên bà ấy lao lên bề mặt và đùa giỡn tung tăng trên những lượn sóng dập dềnh; nghĩa là, có một nhu cầu xác thực để chải chuốt, chà rửa, đánh bóng bản thân, tán chuyện tầm phào. Chính phủ định làm gì ở Ấn Độ? Richard Dalloway sẽ biết điều đó.

Vì đó là một đêm rất nóng bức và những cậu bé bán báo đi ngang qua với những tờ áp phích thông báo bằng những mẫu tự to màu đỏ rằng có một đợt nắng nóng, những cái ghế đan bằng cành liễu gai được đặt trên những bậc thềm khách sạn và những quý ông ngồi tách riêng ra, nhấm nháp rượu hay trà, hút thuốc. Peter Walsh ngồi ở đó. Người ta có thể tưởng tượng rằng ánh ngày, ánh ngày của London, vừa mới bắt đầu. Như một phụ nữ đã lột bỏ cái váy in hoa và tấm tạp dề trắng để diện một bộ váy áo xanh trời và những chuỗi ngọc trai, ngày cũng thay đổi, tháo bỏ mọi thứ, khoác lên một màn sương mỏng, chuyển sang chiều tối, và cùng với tiếng thở dài vui sướng của một người phụ nữ vừa quẳng chiếc váy dài lên sàn nhà, cả nó cũng buông bỏ lớp bụi mù, hơi nóng, sắc màu; xe cộ lưu thông thưa đi; những chiếc xe hơi kêu leng keng, phóng ào ào, nối theo những đoàn xe tải; và đó đây, giữa tán lá dày của những quảng trường, tỏa ra một ánh sáng chói chang. Dường như buổi xế chiều nói rằng Ta rút lui đây, vì nó nhạt nhòa và tan biến đi bên trên những bức tường có lỗ châu mai và chỗ nhô cao, những đường gờ, chóp nhọn của khách sạn, dãy phòng và khối cửa hiệu, Ta tan đi, Nàng ta đang bắt đầu, ta biến mất, nhưng London không chấp thuận, và phóng những lưỡi lê của mình lên bầu trời, chặt đứt đôi cánh của buổi chiều, cưỡng ép nó trở thành một phần trong cuộc truy hoan náo nhiệt của mình.

Cuộc cách mạng lớn lao về thời gian mùa hè của ông Willett 1 đã diễn ra từ sau chuyến về thăm nước Anh lần trước của Peter Walsh. Buổi chiều kéo dài là một điều mới mẻ đối với ông. Nói đúng hơn, nó gây hưng phấn. Vì trong lúc những người trẻ tuổi đi ngang qua với những hộp đựng hồ sơ, cực kỳ vui sướng vì được tự do, cả tự hào một cách câm lặng nữa, bước trên cái vỉa hè nổi tiếng này, một dạng hân hoan rẻ tiền, hào nhoáng, nếu bạn thích, nhưng đồng thời cũng thật mê ly, làm đỏ ửng gương mặt họ. Họ cũng ăn mặc rất lịch sự; những đôi tất màu hồng; những đôi giày đẹp. Hiện giờ họ sẽ có hai giờ trong cảnh tượng đẹp đẽ này. Nó làm cho họ trở nên sâu sắc, tinh tếhơn, cái ánh sáng xế chiều màu lam ấy; và những chiếc lá trong quảng trường tỏa ánh sáng xanh nhợt, tím bầm – trông như thể chúng được nhúng trong nước biển – tán lá của một thành phố chìm dưới biển. Ông kinh ngạc vì vẻ đẹp; nó còn có tính chất cổ vũ nữa, vì trong khi những người Anh-Ấn hồi hương (ông biết nhiều đám đông trong số họ) được quyền ngồi ở Câu lạc bộ Đông Phương tóm tắt một cách gắt gỏng về sự đổ vỡ của thế giới, ông ở đây, trẻ trung như ngày nào; đang ganh tị với những người tuổi trẻ về thời gian mùa hè của họ và phần còn lại của nó, và còn hơn cả mong đợi từ những lời nói của một cô gái, từ tiếng cười của một cô giúp việc – những thứ mơ hồ mà bạn không thể đặt tay lên – sự chuyển biến đó trong toàn bộ khối tích lũy mang hình kim tự tháp mà trong thời trẻ tuổi của ông dường như bất động. Nó đã áp lên trên họ, đè họ xuống, nhất là những người phụ nữ, như những bông hoa mà cô Helena của Clarissa đã từng ép giữa những tờ giấy thấm màu xám với cuốn tiểu tự điển tiếng Pháp ở trên cùng, khi bà ngồi dưới ánh đèn dầu sau bữa ăn tối. Giờ thì bà cụ đã tạ thế. Ông có nghe nói về bà, từ Clarissa, rằng bà đã mất đi thị lực một bên mắt. Điều đó có vẻ rất phù hợp – một con mắt trong những kiệt tác của tự nhiên – khi bà cô già Parry đó chuyển sang đeo kính. Bà thuộc vào một lứa tuổi khác, nhưng rất hoàn hảo, rất toàn diện, luôn đứng thẳng ở phía chân trời, trắng như đá, kiệt xuất, như một ngọn hải đăng đánh dấu một giai đoạn quá vãng nào đó trên hành trình mạo hiểm dài dằng dặc này (ông sờ soạng tìm một đồng xu để mua một tờ báo và đọc về Surrey và Yorkshire – ông đã giơ cái đồng xu đó ra hàng triệu lần. Một lần nữa, toàn hạt Surrey đều ra khỏi nhà) – cuộc sống triền miên vô tận này. Nhưng crickê không chỉ là một trò chơi. Crickê rất quan trọng. Ông không bao giờ có thể dằn lòng không đọc về crickê. Ông đọc các tỷ số của tin giờ chót trước, rồi tới việc ngày hôm đó nóng như thế nào; rồi về một vụ giết người. Việc đã thực hiện mọi điều hàng ngàn lần làm cho chúng trở nên phong phú, dù có thể nói rằng nó đã cởi bỏ đi lớp bề mặt. Quá khứ trở nên phong phú, và kinh nghiệm, và việc đã quan tâm tới một hai người, và do đó đã thủ đắc cái sức mạnh cắt gọn đi mà một cậu thanh niên có để thực hiện điều cậu ta thích, không quan tâm chút xíu nào tới những gì mọi người nói, đến và đi không có bất cứ kỳ vọng rất lớn lao nào (ông bỏ lại tờ báo trên bàn và cất bước), mà dù sao (và ông tìm cái mũ và chiếc áo khoác của mình) cũng không hoàn toàn có thật đối với ông, đêm nay thì không, vì ở đây ông đang cất bước tới dự một bữa tiệc, ở lứa tuổi của ông, với niềm tin rằng ông sẽ có một cuộc trải nghiệm. Nhưng trải nghiệm điều gì?

Vẻ đẹp, dù sao đi nữa. Không phải là vẻ đẹp thô kệch của con mắt. Đó không phải là vẻ đẹp đơn thuần và giản dị – phố Bedford Place dẫn tới quảng trường Russel. Tất nhiên là nó thẳng và trống vắng; sự đối xứng của một hành lang; nhưng nó cũng có những khung cửa sổ sáng đèn, văng vẳng tiếng dương cầm, tiếng máy hát; một cảm giác kín đáo về việc tạo ra lạc thú, nhưng thỉnh thoảng nó lại nổi lên khi, qua khung cửa sổ không màn che, cánh cửa để mở, người ta nhìn thấy những đám đông dự tiệc đang ngồi quanh những cái bàn, những người trẻ tuổi chậm chạp xoay tròn, những cuộc trò chuyện giữa đàn ông và phụ nữ, những nàng hầu lười nhát nhìn ra (một người lạ đang phê bình về công việc của họ, khi công việc đã xong xuôi), những chiếc tất đang phơi trên đầu tường, một con vẹt, một vài thứ cây cỏ. Cuộc sống này thật quyến rũ, bí ẩn, phong phú vô cùng tận. Và trong quảng trường rộng lớn nơi những chiếc xe vọt đi và quẹo cua rất nhanh, có những cặp tình nhân đang dạo gót, tán tỉnh nhau, ôm nhau, co rút người dưới một bóng cây; điều đó thật xúc động; im lìm say đắm đến nỗi người ta phải đi qua một cách dè dặt, ngượng ngùng, như thể khi đang hiện diện trong một nghi thức thiêng liêng nào đó, sự gián đoạn sẽ là điều bất kính. Điều đó thật thú vị. Và cứ thế tiến vào vùng sáng lóa, chói chang.

Chiếc áo khoác nhẹ của ông bị thổi bung ra, ông bước với một phong thái riêng biệt không thể mô tả, hơi nghiêng về trước, nhẹ nhàng lướt tới, với hai bàn tay đặt sau lưng và đôi mắt bất động hơi giống như mắt của một con chim ưng, ông vừa nhẹ nhàng bước qua London, hướng về phía Westminster, vừa quan sát.

Phải chăng mọi người đang ăn tối ngoài trời? Những cánh cửa ở đây đang được mở rộng bởi một người hầu để một quý bà lớn tuổi nhấc cao chân bước ra, bà ta mang một đôi giày có khóa, tóc cài ba chiếc lông đà điểu tím. Những cánh cửa đang được mở rộng cho những quý bà quấn trong những tấm khăn choàng như những xác ướp, bên trên đính những bông hoa rực rỡ, những phu nhân với những cái đầu hói. Và ở những khu vực khả kính với những chiếc cột trát vữa, những người phụ nữ băng qua những khu vườn nhỏ mặt tiền, mái tóc chải rẻ cài những chiếc lược (phải chạy lên để nhìn thấy con của họ); những người đàn ông đứng chờ họ, với những chiếc áo khoác bị gió thổi mở tung, và những chiếc xe hơi đã khởi động máy. Mọi người đang đổ ra ngoài. Với những cánh cửa đang mở này, với việc xuống thang và xuất phát, như thể toàn bộ London đang bước xuống những con tàu nhỏ bỏ neo sát bờ, nhấp nhô trên mặt nước, như thể toàn bộ nơi này đang bềnh bồng trôi đi trong một ngày hội. Và phố Whitehall, với vỉa hè lát gỗ đã bị đầm đến trở thành bạc phếch, bị những con nhện trượt qua, trượt qua, và có một cảm giác về lũ muỗi vằn lượn quanh những bóng đèn hồ quang 2 ; trời nóng đến nỗi mọi người đứng gần nhau trò chuyện. Và ở phố Westminster này có một vị thẩm phán về hưu, có lẽ đang ngồi vững chãi ở cửa nhà mình, mặc toàn đồ trắng. Có lẽ là một người Anh - Ấn.

Và chỗ này một cuộc cãi cọ om xòm của những người đàn bà ầm ĩ, say rượu; chỗ này chỉ có một viên cảnh sát và những ngôi nhà lù lù, những ngôi nhà cao, những ngôi nhà có mái vòm, những nhà thờ, những tòa nhà quốc hội, và tiếng còi của một con tàu hơi nước trên sông, một tiếng kêu mơ hồ trống rỗng. Nhưng đó là con phố của bà ấy, con phố này, của Clarissa; những chiếc taxi đang hối hả vòng quanh góc phố, như dòng nước uốn quanh những cái trụ của một chiếc cầu, với ông dường như chúng hút vào nhau vì chúng khiến cho những người tới dự bữa tiệc của bà ấy, bữa tiệc của Clarissa, phát chán.

Dòng ấn tượng thị giác lạnh lẽo lúc này đánh lừa ông như thể con mắt là một cái cốc tràn ngập và để mặc cho số còn lại chảy xuống quanh cái thành bằng sứ của nó mà không ghi chép lại. Hẳn bây giờ bộ não đã thức tỉnh. Bây giờ thân thể phải thu nhỏ lại, bước vào ngôi nhà, ngôi nhà sáng ánh đèn, nơi cánh cửa mở rộng, nơi những chiếc xe hơi đang đậu, và những người phụ nữ rực rỡ đang đi xuống: linh hồn phải gắng thu hết lòng can đảm để chịu đựng. Ông mở lưỡi dao đen của con dao nhíp ra.

--------------------------------

1

William Willett (1856 – 1915) là một nhà xây dựng người Anh. Ông đã cổ động không mệt mỏi cho việc chuẩn y phương án tiết kiệm thời gian ban ngày (daylight time saving- DTS) vào mùa hè ở nước Anh. Ông qua đời trước khi nhìn thấy kết quả các nỗ lực của mình. Cuối cùng, Quốc hội Anh đã thông qua đạo luật này vào ngày 17-5-1916. DTS được thực hiện bằng cách cho đồng hồ chạy trước một giờ so với giờ thường lệ vào mùa hè.

2

Nguyên văn: “And Whitehall was skated over, silver beaten as it was, skated over by spiders, and there was a sense of midges round the arc lamps” đây có thể là đoạn văn khó hiểu nhất trong Mrs Daloway; người đọc có thể hiểu hình ảnh ẩn dụ về lũ nhện trượt trên đường phố, về đám muỗi vằn bay quanh những bóng đèn, nhưng cụm từ “silver beaten” thì quá khó hiểu. Người dịch đã chừa lại phần nguyên văn nêu trên cho tới khi kết thúc bản dịch mới cố công tìm hiểu về nó lần nữa, may sao có một bài viết đã lý giải được vấn đề này. “silver beaten” có thể hiểu là gỗ bị nện, đập hay đầm cho tới lúc trở nên bạc phếch. Vì vậy, đây là một chi tiết mang tính lịch sử; nó xác định rằng ở thời điểm Peter Walsh đi trên đường phố Whitehall (1923), vỉa hè của con đường này được lát gỗ.

PHẦN KẾT

Lucy chạy ào xuống thang sau khi ghé nhanh vào phòng khách để vuốt phẳng một tấm khăn trải bàn, chỉnh lại một cái ghế, dừng lại một chút và cảm thấy bất cứ ai bước vào phải nghĩ thật là sạch sẽ, thật là rực rỡ, thật là xinh đẹp, khi họ nhìn thấy bộ dao nĩa đẹp, bộ đồ lò bằng đồng thau, những tấm vải phủ ghế mới, và những bức màn vải hoa màu vàng; cô đánh giá từng thứ một; nghe thấy một loạt giọng nói ồn ào; mọi người đã đi lên sau bữa ăn; cô phải chuồn thôi!

Thủ tướng đang tới, Agnes nói: cô đã nghe họ bảo thế ở phòng ăn, cô nói, bước vào với một khay đựng ly. Việc đó có quan trọng không, có quan trọng chút xíu nào không, khi thêm hay bớt một ông Thủ tướng?Điều đó không tạo nên chút khác biệt nào vào giờ này đối với bà Walker, đang ngồi giữa những cái đĩa, những cái nồi đựng súp, những cái chao, những cái chảo rán, món thịt gà nấu đông, những cái máy làm kem, những mẩu vỏ bánh đã gọt ra, những quả chanh, những liễn đựng súp, và những chậu đựng thức ăn tráng miệng, việc rửa chúng trong phòng rửa bát dù có vất vả tới đâu dường như là điều quan trọng tối cao đối với bà, với cái bàn nhà bếp, với những cái ghế, trong lúc ngọn lửa rú rít ồn ào, những bóng đèn điện tỏa sáng, và vẫn còn bữa ăn tối phải bày ra. Tất cả những gì bà cảm thấy là: việc thêm hay bớt một ông thủ tướng chẳng hề tạo ra chút khác biệt nào đối với bà Walker.

Các vị phu nhân đang lên gác, Lucy nói; các vị phu nhân đang đi lên, từng người một, bà Dalloway đi sau chót và hầu như luôn luôn gửi lại một tin nhắn nào đó cho nhà bếp, “Tình yêu của tôi dành cho bà Walker,” một đêm nọ là câu đó. Sáng mai họ sẽ kiểm tra lại các món ăn – món súp, món cá hồi; bà Walker biết, như thường lệ, món cá hồi chưa chín tới, vì bà luôn lo lắng về món tráng miệng và giao nó lại cho Jenny; và việc xảy ra là thế, món cá hồi luôn chưa chín tới. Nhưng một phu nhân nào đó với mái tóc vàng và những đồ trang sức bằng bạc đã nói, Lucy kể, về món ăn đầu tiên, có thật là nó được làm tại nhà? Nhưng chính món cá hồi khiến bà Walker phải bận tâm, khi bà xoay tròn những cái đĩa và đút vào, kéo ra những cái bánh nướng dưới tro; một tràng cười rộ vọng lên từ phòng ăn; một giọng nói cất lên; rồi lại một tràng cười rộ khác – những quý ông tự tìm vui khi các phu nhân đã đi khỏi. Rượu tôkê, Lucy chạy vào nói. Bà Dalloway đã cử người đi lấy rượu tôkê, từ những hầm rượu của Hoàng đế, loại rượu tôkê của Hoàng đế.

Nó được mang ngang qua nhà bếp. Lucy thường thuật lại qua vai bà trông cô Elizabeth hoàn toàn xinh xắn ra sao; cô không thể dời mắt khỏi cô bé; mặc một cái váy hồng, đeo cái chuỗi hạt mà bà Dalloway đã cho cô ta. Hẳn Jenny phải nhớ tới con chó, con chó phốc của cô Elizabeth, mà, từ khi nó cắn, phải bó mõm nó lại và có thể, Elizabeth nghĩ, muốn điều gì đó. Jenny phải nhớ con chó đó. Nhưng Jenny sẽ không lên gác với cả bọn người ở đó. Đã có một chiếc xe hơi đậu trước cửa. Có tiếng chuông reo – và những quý ông vẫn đang ở trong phòng ăn, đang uống rượu tôkê!

Kia, họ đang đi lên gác; đó là người đầu tiên tới, và lúc này họ sẽ tới ngày càng nhanh hơn, khiến bà Parkinson (được thuê cho những bữa tiệc) phải để cánh cửa đại sảnh luôn mở hé, và đại sảnh sẽ đầy những quý ông chờ đợi (họ đứng chờ, vuốt cho tóc thêm mượt) trong lúc các quý bà cởi áo choàng ra trong căn phòng dọc hành lang; ở đó có bà Barnet giúp họ, bà cụ Ellen Barnet, người đã làm việc cho gia đình này suốt bốn mươi năm, và tới vào mỗi mùa hè để giúp đỡ các quý bà, và nhớ những người mẹ khi họ còn là những nàng thiếu nữ, và dù rất khiêm tốn cũng bắt tay; nói “chào phu nhân” một cách rất tôn trọng, thế nhưng bà có một cách nhìn rất nghịch ngợm vào những vị tiểu thư, và luôn khéo léo giúp phu nhân Lovejoy, người đã gặp chút ít rắc rối ở cái vạt áo dưới. Và họ,phu nhân Lovejoy và tiểu thư Alice, không thể không cảm thấy rằng họ đã được ban thưởng một đặc quyền nho nhỏ nào đó trong vấn đề bút lông và lược chải khi quen biết bà Barnet – “ba mươi năm rồi, phu nhân,” bà Barnet bổ sung. Các tiểu thư trẻ tuổi không quen dùng phấn hồng, phu nhân Lovejoy từng nói, khi họ ở Bourton vào những ngày xưa. Và tiểu thư Alice không cần tới phấn hồng, bà Barnet nói, nhìn cô với vẻ yêu thích. Bà Barnet sẽ ngồi đó, trong phòng giữ áo choàng, vỗ nhẹ vào những lớp lông, vuốt phẳng những cái khăn choàng Tân Ban Nha, dọn dẹp bàn trang điểm, và hoàn toàn biết rõ, bất chấp những thứ áo lông và đồ thêu, ai là những phu nhân tốt, ai thì không phải. Bà cụ già thân mến, phu nhân Lovejoy nói, bước lên cầu thang, người vú già cũ của Clarissa.

Thế rồi phu nhân Lovejoy cứng người lại. “Phu nhân và tiểu thư Lovejoy,” bà nói với ông Wilkins (được thuê cho những bữa tiệc). Ông ta có một cung cách đáng ngưỡng mộ, khi ông ta nghiêng người và đứng thẳng lại, nghiêng người và đứng thẳng lại và thông báo với sự vô tư hoàn hảo ““Phu nhân và tiểu thư Lovejoy… Ngài John và phu nhân Needham… Tiểu thư Weld… Ông Walsh.” Cung cách của ông ta thật đáng ngưỡng mộ; hẳn cuộc sống gia đình của ông ta không thể chê vào đâu được, ngoại trừ rằng dường như không thể có chuyện một kẻ với đôi môi xanh tái và đôi má cạo nhẵn có thể mắc phải sai lầm là chuốc lấy sự phiền toái về con cái.

“Rất vui được gặp ông/bà!” Clarissa nói. Bà ấy nói câu đó với mọi người. Rất vui được gặp ông/bà! Bà ấy đang trong tình trạng tệ hại nhất – tỏ ra dạt dào tình cảm, không chân thành. Việc tới đây là một sai lầm lớn. Lẽ ra ông nên ở nhà và đọc cuốn sách của mình, Peter Walsh nghĩ; lẽ ra nên tới một phòng hòa nhạc; lẽ ra ông nên ở nhà, vì ông không quen biết ai cả.

Chao ôi, nó sẽ là một thất bại; một thất bại hoàn toàn, Clarissa cảm thấy trong từng cái xương của mình khi ngài Lexham già thân mến đứng đó xin thứ lỗi cho vợ ông, người đã bị cảm lạnh trong bữa tiệc ở điện Buckingham. Bà có thể trông thấy Peter từ đuôi mắt của mình, đang phê phán bà, ở đó, trong góc đó. Sao chứ, nói cho cùng, không phải bà đã làm những chuyện này hay sao? Vì sao lại tìm những đỉnh cao và đứng ướt sũng trong ngọn lửa? Dù sao thì nó cũng có thể thiêu rụi bà! Đốt cháy bà thành than! Bất cứ chuyện gì cũng tốt hơn, vung một ngọn đuốc và ném nó vào quả đất vẫn tốt hơn là dần dần teo lại như một Ellie Henderson nào đó! Thật lạ lùng biết bao khi Peter đặt bà vào những trạng thái này chỉ bằng cách tới đây và đứng trong một góc. Ông ấy khiến cho bà nhìn thấy bản thân mình; cường điệu nó lên. Thật là ngu xuẩn. Nhưng vậy thì vì sao ông ấy đến, chỉ để phê phán? Vì sao luôn luôn lấy đi, không bao giờ cho? Vì sao không thử đánh liều vứt bỏ đi một quan điểm nhỏ bé của mình? Ông ấy đang đi lang thang ra đó, và bà phải nói chuyện với ông ấy. Nhưng bà sẽ không nắm lấy cơ hội đó. Cuộc sống là thế – sự bị sỉ nhục, sự quên mình. Điều ngài Lexham đang nói là vợ ông ta sẽ không mặc áo lông của bà ấy trong bữa tiệc vì “bà bạn thân mến của tôi, tất cả các vị phu nhân của bà đều giống hệt như nhau” – ít nhất phu nhân Lexham đã bảy mươi lăm tuổi! Thật tuyệt vời, cái cách họ cưng chiều nhau, đôi vợ chồng già đó. Bà không thích ngài Lexham. Bà nghĩ nó quan trọng, bữa tiệc của bà, và bà hoàn toàn muốn bệnh khi biết rằng tất cả đang đi chệch hướng, tất cả đang rơi vào sự tẻ nhạt. Bất cứ điều gì, bất cứ sự bùng nổ nào, bất cứ nỗi kinh hoàng nào cũng còn tốt hơn việc mọi người đi lại lang thang vô mục đích, đứng thành nhóm ở một góc như Ellie Henderson, thậm chí không quan tâm tới việc giữ cho thẳng thân hình của họ.

Tấm màn màu vàng với tất cả những con chim của chốn Thiên đường nhẹ nhàng cuốn ra ngoài và dường như thể có một đàn chim với những đôi cánh bay vào phòng, bay ra, rồi bị hút trở lại. (Vìnhững cánh cửa sổ đang mở.) Có phải đó là gió lùa không, Ellie Henderson tự hỏi? Bà đang gánh chịu những cơn rùng mình ớn lạnh. Nhưng việc bà sẽ bị sổ mũi vào hôm sau không quan trọng; chính những cô gái với những đôi vai trần là điều bà nghĩ tới, vì đã được huấn luyện để nghĩ về những người khác bởi một ông bố lớn tuổi, một vị cựu cha sở bệnh tật của xứ đạo Bourton, nhưng giờ ông đã chết; và những cơn ớn lạnh của bà không bao giờ lên tới lồng ngực của bà, không bao giờ. Chính những cô gái là điều bà nghĩ tới, những cô gái trẻ với những đôi vai trần, bản thân bà luôn là một người nhỏ thó, với một mái tóc thưa và nét nhìn nghiêng gầy guộc; dù bây giờ, đã quá tuổi năm mươi, nó đang bắt đầu bừng lên qua một tia sáng dịu êm nào đó, một cái gì đó được tinh lọc thành sự khác biệt bởi những năm tháng xả thân quên mình nhưng rồi lại mờ đi vĩnh viễn bởi vẻ quý phái đầy khổ sở của bà, sự sợ hãi hoang mang của bà, vốn nảy sinh từ khoản thu nhập ba trăm bảng Anh, và tình trạng vô vũ khí của bà (bà không thể kiếm được một xu) và nó khiến cho bà trở nên rụt rè, và theo từng năm trôi qua ngày càng thiếu tư cách để gặp gỡ những người ăn mặc sang trọng, những kẻ thực hiện loại công việc này hằng đêm trong mùa, chỉ đơn giản nói với người hầu của họ: “Tôi sẽ mặc như thế như thế…” trong lúc Ellie Henderson chạy ra ngoài một cách lo lắng và mua những bông hoa màu hồng rẻ tiền, nửa chục bông, sau đó ném một chiếc khăn choàng lên cái váy đen cũ kỹ của mình. Vì thiệp mời dự tiệc của Clarissa đã tới vào phút cuối cùng. Bà không hoàn toàn vui vẻ về chuyện đó. Bà có một cảm giác rằng năm nay Clarissa không có ý định mời bà.

Vì sao bà ta phải làm thế? Thật sự không có lý do nào cả, ngoại trừ rằng họ luôn luôn biết nhau. Thật ra họ là hai chị em họ. Nhưng họ đã dạt ra khỏi nhau khá xa, một cách tự nhiên, về sau này Clarissa trở nên quá theo đuổi danh vọng. Việc tới dự một bữa tiệc đối với bà là một sự kiện. Chỉ nhìn thấy những bộ quần áo xinh xinh thôi đã hoàn toàn là một niềm vui sướng. Có phải đó là Elizabeth, đã trưởng thành, với mái tóc cắt theo kiểu thời trang, trong cái váy hồng không? Thế nhưng nó không thể quá mười bảy tuổi. Nó rất, rất xinh đẹp. Nhưng dường như những cô gái không mặc toàn trắng khi xuất hiện lần đầu như thời trước nữa. (Bà phải nhớ mọi thứ để kể lại với Edith.) Các cô gái mặc những cái váy yếm thẳng, rất chật, với những cái váy khá cao bên trên đầu gối. Nó không thích hợp, bà nghĩ.

Thế là, với thị lực yếu của mình, Ellie Henderson nghểnh cổ về phía trước, và bà không quan tâm mấy tới việc có bất kỳ ai đó để chuyện trò (bà hầu như không quen ai ở đó), vì bà cảm thấy tất cả bọn họ đều là những người rất thú vị để quan sát; có lẽ là những chính khách; những người bạn của Richard Dalloway; nhưng chính bản thân Richard cảm thấy ông không thể để cho con người tội nghiệp này đứng đó một mình suốt buổi tối.

“Chà, Ellie, thế giới đối xử với chị thế nào rồi?” Ông nói với cái kiểu cách ân cần của mình, và Ellie Henderson, trở nên hồi hộp và đỏ mặt, cảm thấy ông cực kỳ tốt bụng khi bước tới và nói chuyện với mình, bảo rằng có nhiều người thật sự cảm thấy nóng hơn là lạnh.

“Phải, đúng thế.” Richard Dalloway nói. ‘Phải.”

Nhưng người ta sẽ nói gì thêm nữa?

“Xin chào, Richard.” Ai đó nói, nắm lấy khuỷu tay của ông, và, ôi trời, đó là già Peter, già Peter Walsh. Ông rất vui mừng khi gặp ông ta – rất đỗi hài lòng khi gặp ông ta! Ông ta chẳng thay đổi chút xíu nào. Và họ cùng bước ra ngoài, đi thẳng qua căn phòng, cho nhau những cái vỗ vai nhè nhẹ, như thể họ đã không gặp nhau một thời gian dài, Ellie Henderson nghĩ, quan sát họ đi, chắc chắn rằng bà biết gương mặt của người đàn ông đó. Một người cao lớn, tuổi trung tuần, đôi mắt khá đẹp, thẫm màu, đeo kính, với dáng vẻ của John Burrows. Chắc chắn Edith sẽ biết.

Tấm màn với đàn chim của chốn Thiên đường lại bay ra. Và Clarissa nhìn thấy – bà nhìn thấy Ralph Lyon đẩy nó trở lại, và tiếp tục nói chuyện. Vậy ra nói cho cùng đây không phải là một thất bại! Lúc này mọi sự sẽ diễn ra tốt đẹp – bữa tiệc của bà. Nó đã bắt đầu. Nó đã khởi động. Nhưng nó vẫn còn đầy rẫy nguy cơ. Bà phải đứng đó để nhận quà. Mọi người dường như trở nên hối hả.

Đại tá và bà Garrod… ông Hugh Whitbread… ông Bowley… bà Hilbery… phu nhân Mary Maddox… ông Quin… Wilkin xướng lên với giọng ngâm nga. Bà nói với mỗi người sáu hoặc bảy từ, và họ đi tiếp, họ đi vào phòng; đi vào một thứ gì đó lúc này, chứ không phải vào chốn hư không, vì Ralph Lyn đã đẩy tấm màn trở lại.

Thế nhưng về phần của chính bà, đó là một nỗ lực quá nhiều. Bà không thấy thích thú gì. Nó quá giống sự hiện hữu – chỉ bất kỳ ai đó, đứng đó; bất kỳ ai đó có thể thực hiện nó; thế nhưng bà hơi ngưỡng mộ kẻ bất kỳ ai đó này, không thể không cảm thấy rằng bà đã, theo cách nào đó, khiến cho điều này xảy ra, rằng nó đã đánh dấu cho một giai đoạn, cái vị trí mà bà cảm thấy bản thân đang trở thành này, vì khá là lạ lùng khi bà hoàn toàn quên mất trông bà như thế nào, mà cảm thấy bản thân là một cái cọc được cắm ở trên đầu cầu thang. Mỗi lần tổ chức một bữa tiệc bà lại có cái cảm giác là một thứ gì đó không phải chính bản thân mình này, và rằng mọi người không có thật theo một cách thức nào đó; có thật hơn theo một cách thức khác. Không thể nào, bà nghĩ, phần vì quần áo của họ, phần vì việc bị tước khỏi những cung cách bình thường của họ, phần vì tầng lớp xã hội, không thể nào nói những điều mà bạn không thể nói theo bất cứ cách nào khác, những điều cần tới một nỗ lực; khả năng để đi sâu hơn nữa. Nhưng không phải đối với bà; dù sao thì cũng chưa.

“Rất vui được gặp ông!” Bà nói. Ngài Harry già thân mến! Ông ấy biết hết mọi người.

Và điều thật lạ lùng về chuyện đó là cảm giác mà người ta có khi họ lần lượt đi lên cầu thang, bà Mount và Celia, Herbert Ainsty, bà Dakers – và, ồ, phu nhân Bruton!

“Bà thật tốt kinh khủng khi tới dự!” Bà nói, và ý của bà là thế – thật lạ lùng biết bao khi người ta đứng đó cảm thấy họ đi tiếp, đi tiếp, một số hoàn toàn già nua, một số…

Tên gì nhỉ? Phu nhân Rosseter? Nhưng phu nhân Rosseter là ai?

“Clarissa!” Giọng nói đó! Chính là Sally Seton! Sally Seton! Sau tất cả ngần ấy năm trời! Cô ta lù lù hiện ra qua một màn sương. Vì trông cô ấy không giống như thế, khi Clarissa cầm lấy bình nước nóng, để nghĩ về cô ta dưới mái nhà này, dưới mái nhà này! Không giống thế!

Họ ôm chầm nhau, bối rối, bật cười, những từ tuôn ra – đang đi ngang qua London; nghe tin từ Clara Haydon; thật là một cơ hội tuyệt vời để gặp bà! Thế là tôi chạy ào tới – không có lấy một tấm thiệp mời…

Người ta có thể đặt cái bình nước nóng xuống một cách hoàn toàn điềm tĩnh. Vẻ lộng lẫy đã rời khỏi cô ấy. Thế nhưng thật đặc biệt khi gặp lại cô ấy, già hơn, hạnh phúc hơn, ít đáng yêu hơn. Họ hôn nhau, trước tiên là má bên này, rồi má bên kia, cạnh cửa phòng khách, và Clarissa quay lại, với đôi tay của Sally trong tay mình, và nhìn thấy những căn phòng đầy người của mình, nghe thấy tiếng ồn của những giọng nói, nhìn thấy những cái giá nến, những tấm màn đang bay phấp phới, và những bông hồng mà Richard đã tặng bà.

“Tôi có năm cậu con trai to tướng.” Sally nói.

Bà ta có thứ tính ích kỷ đơn giản nhất, niềm khao khát cởi mở nhất là luôn được nghĩ tới đầu tiên, và Clarissa yêu bà ta vì vẫn còn như thế. “Tôi không thể tin nổi điều đó!” Bà kêu lên, cả người bừng sáng với niềm hân hoan khi nghĩ tới quá khứ.

Nhưng trời ạ, Wilkins, Wilkins cần tới bà; Wilkin đang xướng lên, bằng một giọng đầy thẩm quyền chỉ huy như thể toàn bộ nhóm người này phải bị khiển trách và nữ chủ nhân phải ngưng ngay hành vi phù phiếm, một cái tên:

“Thủ tướng.” Peter Walsh nói.

Thủ tướng? Có thật thế không? Ellie Henderson kinh ngạc.

Một điều thật tuyệt để kể cho Edith!

Người ta không thể chế nhạo ông ta. Trông ông ta rất bình thường. Bạn có thể đứng cạnh ông ta sau một cái quầy và mua bánh quy – anh chàng khốn khổ, quần áo đính đầy những đăng ten vàng. Và nói cho công bằng, khi ông ta đi một vòng chào mọi người, đầu tiên với Clarissa rồi với Richard đi theo hộ tống ông ta, ông ta đã làm rất tốt. Ông ta cố nhìn một ai đó. Quan sát điều đó thật thú vị. Không ai nhìn ông ta. Họ cứ tiếp tục trò chuyện, thế nhưng hoàn toàn rõ ràng rằng tất cả bọn họ đều biết, đều cảm thấy cho tới tận tủy xương mình, nhân vật oai vệ này đang bước ngang qua; biểu tượng của cái mà tất cả bọn họ đại diện này, xã hội Anh. Phu nhân già Bruton ló ra, và trông bà cũng rất đẹp, rất khỏe mạnh trong bộ váy đăng ten, và họ rút lui vào một căn phòng nhỏ mà ngay tức khắc có người lui tới dò xét, canh gác, và một sự khuấy động lao xao như sóng gợn lướt qua mọi người, một cách công khai: Thủ tướng!

Ngài này, tướng công nọ, sự hợm hĩnh của người Anh! Peter Walsh nghĩ, đứng ở góc phòng. Họ ưa thích việc ăn mặc những thứ đăng ten vàng và đang bày tỏ lòng tôn kính! Kìa! Bên cạnh Jove, phải là Hugh Whitbread, đang đánh hơi quanh khu vực dành riêng của nhân vật lớn, đã trở nên béo tốt hơn, trắng trẻo hơn, Hugh đáng ngưỡng mộ!

Ông ta luôn luôn trông như thể đang làm bổn phận, Peter nghĩ, một con người được ban đặc quyền nhưng bí ẩn, cất giữ những bí mật mà ông ta sẽ chết để bảo vệ, dù đó chỉ là một mẩu tin tức tí tẹo nào đó, được tung ra bởi một người hầu trong triều đình, và ngày mai sẽ có trên tất cả các tờ báo. Đó là những cái lúc lắc của ông ta, những đồ trang sức rẻ tiền của ông ta, trong lúc chơi đùa với chúng, ông ta đã trở nên trắng trẻo, tiến gần tới tuổi già, thụ hưởng sự tôn trọng và cảm tình của tất cả những ai có đặc quyền biết tới kiểu người của trường tư thục nước Anh này. Không thể tránh khỏi việc người ta bịa đặt những điều như thế về Hugh; đó là phong cách của ông ta; thứ phong cách của những lá thư đáng ngưỡng mộ đó mà Peter đã đọc trong tờ Times từ phía bên kia biển cách đó hàng ngàn dặm, và tạ ơn Trời vì ông đã thoát khỏi cái ống dọc tẩu độc hại đó nếu đúng là thế chỉ để nghe những con khỉ đầu chó tán gẫu và những anh cu li đánh vợ họ. Một chàng thanh niên da màu ô-liu từ một trong những trường đại học đứng bên cạnh ông ta với vẻ khúm núm. Ông ta sẽ chiếu cố, khai tâm, dạy bảo cho anh ta cách tiến thân. Vì ông ta không thích gì hơn là làm những việc tốt, khiến cho quả tim của những phu nhân lớn tuổi đập rộn lên với niềm vui vì được nghĩ tới ở tuổi của họ, nỗi ưu phiền của họ khi nghĩ rằng bản thân họ đã hoàn toàn bị lãng quên, thế nhưng Hugh thân mến đã chạy xe tới đây và bỏ ra một giờ để nói về quá khứ, nhớ lại những điều vặt vãnh, khen ngợi món bánh làm tại nhà, dù Hugh có thể ăn bánh với một bà công tước vào bất cứ ngày nào trong đời mình, và trôngông ta xem, chắc chắn ông ta đã dành ra khá nhiều thời gian cho công việc dễ chịu đó. Đấng Phán xét, Đấng Từ bi, có thể thứ tha. Peter Walsh không có lòng thương hại. Phải có những tên vô lại, và Thượng đế biết những kẻ bất lương bị treo cổ vì đập vỡ sọ của một cô gái trong một chiếc tàu hỏa nói chung vẫn ít tai hại hơn Hugh Whitbread và lòng tốt của ông ta. Cứ nhìn ông ta lúc này, đang nhón chân lên, nhún nhảy tiến tới, cúi chào và kéo một chân về phía sau, khi Thủ tướng và phu nhân Bruton xuất hiện, kín đáo báo cho toàn thế giới thấy rằng ông ta có đặc quyền nói một điều gì đó, một điều riêng tư, với phu nhân Bruton khi bà ta đi ngang qua. Bà ta dừng lại. Bà ta lắc mái đầu già nua xinh đẹp của mình. Có thể đoán bà đang cám ơn ông ta về một việc làm mang tính chất nô lệ nào đó. Bà ta có những tay nịnh bợ, những quan chức cấp thấp trong những văn phòng của nhà nước chạy đôn chạy đáo để thực hiện những công việc nho nhỏ với tư cách của bà ta, để đáp lại, bà ta mời họ ăn trưa. Nhưng bà ta bắt nguồn từ thế kỷ mười tám. Bà ta tầm thường.

Và lúc này Clarissa hộ tống ngài Thủ tướng của bà ấy xuống phòng, có vẻ vênh váo, rạng rỡ, với sự oai nghiêm của mái tóc bạc của mình. Bà ấy đeo hoa tai và mặc một chiếc váy đuôi cá màu xanh ánh bạc. Có vẻ như bà ấy đang vừa lê chân trên những lượn sóng vừa bện bím tóc của mình, vẫn còn cái khả năng thiên phú đó, để sống, để tồn tại; để tổng kết tất cả trong cái khoảnh khắc khi bà ấy bước qua; quay lại, vướng cái khăn choàng cổ vàoáo của một phụ nữ khác, gỡ nó ra, bật cười, tất cả với sự dễ dàng tuyệt hảo nhất và dáng vẻ của một sinh vật đang nổi bềnh bồng trong môi trường của nó. Nhưng tuổi tác đã lướt qua bà ấy; ngay cả với tư cách của một mỹ nhân ngư cũng có thể nhìn thấy trong tấm gương của bà vầng mặt trời đang lặn trên những lượn sóng vào một chiều tối rất trong trẻo. Có một hơi thở dịu dàng; sự nghiêm nghị của bà ấy, sự đoan trang kiểu cách của bà ấy, sự thô cứng vụng về của bà ấy, tất cả bấy giờ đều trở nên ấm áp, và bà ấy có nó quanh người khi chào từ biệt người đàn ông trên người đầy những đăng ten vàng đã cố làm hết sức mình, và chúc ông ta thượng lộ bình an, trông có vẻ quan trọng, một phẩm cách không thể nào mô tả; một sự thân ái tinh tế; như thể bà ấy chúc toàn thế giới bình an, và giờ đây, vì đang ở mép rìa của mọi sự vật, phải rời khỏi đó. Bà ấy khiến cho ông nghĩ như thế. (Nhưng ông không yêu.)

Thật ra, Clarissa cảm thấy, ông Thủ tướng rất tốt khi tới. Và khi bước xuống phòng với ông ta, với Sally ở đó và Peter ở đó và Richard rất hài lòng, với tất cả những người khá sẵn sàng ganh tị đó, có lẽ, bà đã cảm thấy sự nhiễm độc của khoảnh khắc đó, sự giãn nỡ của những dây thần kinh của chính quả tim cho tới khi dường như nó run rẩy, đắm chìm, vươn thẳng; … phải, nhưng nói cho cùng đó là điều bà cảm thấy, cảm giác đó; vì, dù bà yêu thích nó và cảm thấy nó râm ran và nhoi nhói, những vẻ bề ngoài này, những thắng lợi này (ông bạn già Peter thân mến, chẳng hạn, nghĩ rằng bà rất xuất sắc) có một sự trống rỗng; chúng ở bên ngoài, chứ không phải trong tim; và có thể là bà đang trở về già nhưng họ không còn làm cho bà hài lòng như trước nữa; và đột nhiên, trong lúc bà nhìn thấy ông Thủ tướng đi xuống thang, cái mép mạ vàng của bức tranh do ngài Joshua 1 vẽ cô bé với cái bao tay chợt hối hả đưa Kilman quay lại. Kilman, kẻ thù của bà. Điều đó đem lại sự thỏa mãn, điều đó có thật. Chà, bà ghét cô ta biết bao – nóng nảy, đạo đức giả, bẩn thỉu; với tất cả sức mạnh đó; kẻ quyến rũ Elizbeth; người phụ nữ đã bò vào để đánh cắp và làm ô uế (Richard thường nói, Thật vô lý!). Bà ghét cô ta: bà yêu cô ta. Chính những kẻ thù là thứ người ta muốn chứ không phải những người bạn – không phải ông Durrant và Clara, ngài William và phu nhân Bradshaw, cô Truelock và Eleanor Gibson (những người bà thấy đang đi lên gác). Họ phải tìm bà nếu họ muốn gặp bà. Bà dành cho bữa tiệc!

Có ông bạn già Harry của bà.

“Ngài Harry thân mến!” Bà nói, đi lên chỗ ông bạn già tốt bụng, người đã vẽ ra nhiều bức tranh tệ hơn bất kỳ người nào khác trong số hai viện sĩ hàn lâm ở phố St. John’s Wood (chúng luôn luôn là những con gia súc, đang đứng trong những ao hoàng hôn hấp thu hơi ẩm, hoặc đang biểu thị gì đó, vì ông có một chuỗi dáng điệu nhất định, bằng cách nhấc chân trước của một con vật lên vàngửa những cặp sừng, “Sự tiếp cận của kẻ xa lạ” – tất cả những hoạt động của ông ta, ăn tối ở ngoài, xem đua ngựa, đều đặt trên nền tảng lũ gia súc đang đứng hấp thu hơi ẩm trong những cái ao hoàng hôn).

“Ông đang cười gì vậy?” Bà hỏi ông ta. Vì cả nhóm, Willie Titcomb và ngài Harry và Herbert Ainsty đều đang cười ha hả. Nhưng không. Ngài Harry không thể nói với Clarissa Dalloway (dù ông rất thích bà, ông nghĩ bà hoàn hảo ở típ người như bà, và đã dọa sẽ vẽ bà) những câu chuyện về sân khấu nhà hát. Ông huyên thuyên với bà về bữa tiệc. Ông nhớ loại rượu mạnh của ông. Những giới này, ông nói, ở bên trên ông. Nhưng ông yêu mến bà; tôn trọng bà, bất chấp sự tao nhã khó khăn chết tiệt của tầng lớp thượng lưu của bà, điều khiến ông không thể mời Clarissa Dalloway ngồi lên đầu gối của ông. Và con ma trơi lang thang đó, cái ánh lân tinh mơ hồ đó, bà cụ Hilbery, đang chìa hai tay ra để cổ vũ cho tràng cười của ông (về ông Công tước và phu nhân), mà, khi bà nghe thấy nó ở mé bên kia căn phòng, dường như trấn an bà về một điểm vốn vẫn thỉnh thoảng quấy rầy bà nếu bà thức giấc sớm vào buổi sáng và không thích gọi người hầu mang tới một tách trà; chúng ta phải chết, điều đó chắc chắn biết bao.

“Họ sẽ không kể cho chúng ta nghe những câu chuyện của họ.” Clarissa nói.

“Clarissa thân mến!” Bà Hilbery cảm thán. Đêm nay trông bà rất giống mẹ mình, bà ta nói, khi bà ta nhìn thấy mẹ bà lần đầu tiên, đang bước đi trong một khu vườn, đội một cái mũ màu xám,.

Và đôi mắt của Clarissa thật sự tràn ngập lệ. Mẹ bà, đang bước trong một khu vườn! Nhưng, chao ôi, bà phải đi.

Vì có giáo sư Bierly, người giảng dạy về Milton 2 , đang nói chuyện với Jim Hutton nhỏ bé (kẻ không có khả năng hoàn chỉnh cả cà vạt lẫn áo gilê hay chải cho mái tóc của mình rạp xuống, ngay cả cho một bữa tiệc như thế này), và thậm chí ở khoảng cách này bà có thể thấy họ đang cãi nhau. Vì giáo sư Brierly là một con cá rất kỳ quặc. Với tất cả những bằng cấp, vinh dự, chức vị giảng dạy đó giữa ông và nhà thơ tồi này, ngay lập tức ông thấy hoài nghi một bầu không khí không thuận lợi cho sự phức hợp lạ lùng của mình; kiến thức đồ sộ và tính rụt rè của ông; sức mê hoặc lạnh lùng không chút thân mật của ông; sự ngây thơ trộn lẫn với tính hợm hĩnh của ông; ông run rẩy nếu bị đánh thức bởi mái tóc rối bù của một phụ nữ, đôi ủng của một thanh niên, về một thế giới ngầm, chắc chắn rất đáng ca ngợi, về những kẻ nổi loạn, về những người trẻ tuổi nhiệt tình; về những thiên tài tương lai, và gián tiếp nói ra điều đó với một cái hất đầu nhè nhẹ, với một cái khịt mũi – Hừm! – giá trị của sự tiết chế; về một khóa sơ giảng văn học cổ điển để đánh giá đúng Miltton. Giáo sư Brierly (Clarissa có thể thấy) không nhất trí với Jim Hutton nhỏ bé (kẻ mang tất đỏ, đôi tất đen của anh ta đang ở hiệu giặt ủi) về Milton. Bà can thiệp.

Bà bảo bà yêu Bach. Hutton cũng thế. Đó là sự liên kết giữa họ, và Hutton (một nhà thơ rất tồi) luôn luôn cảm thấy rằng bà Dalloway giỏi nhất trong số những vị đại phu nhân quan tâm tới nghệ thuật. Thật lạ lùng khi bà thật quá khắt khe. Bà hoàn toàn vô cảm về âm nhạc. Bà khá là ta đây. Nhưng trông thật đáng yêu! Bà bố trí nhà mình rất đẹp nếu đó không phải là vì những ông giáo sư của bà. Clarissa cân nhắc tới khả năng lôi ông ta đi và ấn ông ta ngồi xuống chiếc đàn dương cầm ở phòng sau. Vì ông ta chơi rất tuyệt.

“Nhưng tiếng ồn!” Bà nói. “Tiếng ồn!”

“Dấu hiệu của một bữa tiệc thành công.” Nhã nhặn gật đầu, vị giáo sư cất bước ra ngoài một cách thanh lịch.

“Ông ta biết mọi thứ trên đời về Milton.” Clarissa nói.

“Thật vậy ư?” Hutton nói, kẻ sẽ noi gương theo ông giáo sư khắp khu Hampstead; vị giáo sư về Milton; vị giáo sư về sự tiết chế; vị giáo sư đã cất bước ra ngoài một cách thanh lịch.

Nhưng bà phải nói chuyện với hai người đó, Clarissa nói, ngài Gayton và Nancy Blow.

Không phải vì họ bổ sung thêm cho tiếng ồn của bữa tiệc một cách dễ nhận ra. Họ không nói chuyện (có thể nhận thấy) trong lúc đứng bên nhau cạnh những bức màn cửa màu vàng. Họ sẽ sớm di chuyển tới một chỗ khác, cùng nhau; và không bao giờ có rất nhiều điều để nói trong bất cứ hoàn cảnh nào. Họ nhìn; chỉ thế thôi. Thế là đủ. Trông họ rất đẹp đẽ, khỏe mạnh, bà ta cài một bông mai làm bằng bột và sơn, nhưng ông ta phủi, giũ, với đôi mắt của một con chim, để không một viên bột nào có thể lan qua ông ta hay khiến cho ông ta ngạc nhiên. Ông ta đập, ông ta nhảy lên, nói một cách chính xác, ngay tại chỗ. Mõm của những con ngựa pony run lên ở đầu dây cương của ông ta. Ông ta có những vinh dự của mình, những tấm bia kỷ niệm các vị tổ tiên, những lá cờ treo trong ngôi nhà thờ tại nhà. Ông ta có những bổn phận của mình; những người thuê đất của mình; một người mẹ và các chị em gái; có mặt suốt ngày ở sân Lord’s, và đó là thứ mà họ đang nói về – môn crickê, những người anh em họ, những cuốn phim – khi bà Dalloway tới gần. Ngài Gayton vô cùng thích bà. Tiểu thư Blow cũng vậy. Bà có những cung cách thật đáng yêu.

“Thật thần tiên, thật tuyệt vời khi các vị đã tới!” Bà nói. Bà yêu những đức ông; bà yêu sự trẻ trung, và Nancy, mặc y phục rất đắttiền may bởi những nghệ nhân lớn nhất ở Paris, đứng đó trông như thể thân hình của cô đã đơn giản tạo nên, bởi sự chọn lựa của chính nó, một nếp diềm màu xanh lá.

“Tôi đã định là có khiêu vũ.” Clarissa nói.

Vì những người trẻ tuổi không thể nói chuyện. Và sao họ lại phải nói chứ? La hét, ôm nhau, nhún nhảy, thức giấc lúc bình minh; mang đường cho mấy con ngựa pony; hôn và vuốt ve mũi của những con chó su đáng yêu; và rồi tất cả rộn lên, tuôn chảy, lao ra và bơi. Nhưng những nguồn lực lớn lao của tiếng Anh, sức mạnh mà nó ban tặng, nói cho cùng, của những cảm giác giao tiếp (ở lứa tuổi của họ, bà và Peter sẽ tranh cãi suốt buổi tối), không phải dành cho họ. Họ sẽ củng cố tuổi trẻ. Họ sẽ tốt ngoài mức đo lường đối với mọi người trong điền trang, nhưng cô đơn, có lẽ, khá buồn nản.

“Thật đáng tiếc!” Bà nói. “Tôi đã hy vọng có khiêu vũ.”

Họ cực kỳ tốt bụng khi đã tới! Nhưng nói về vụ khiêu vũ! Căn phòng đã chật ních.

Có bà cô già Helene choàng tấm khăn. Ôi chao, bà phải rời khỏi họ – ngài Gayton và Nancy Blow. Kia là cô Parry già, cô của bà.

Vì cô Parry già chưa chết: cô Parry già còn sống. Bà đã quá tám mươi. Bà chậm chạp xuống thang với một cây gậy. Bà được đặt vào một cái ghế (Richard đã lo chuyện đó). Những người đã từng biết Miến Điện hồi thời thập niên bảy mươi luôn được dẫn tới gặp bà. Peter đã đi đâu rồi nhỉ? Họ từng là những người bạn tuyệt vời. Vì khi nhắc tới Ấn Độ, hay thậm chí Ceylon 3 , đôi mắt của bà (chỉ có một là mắt thủy tinh) dần lắng sâu xuống, trở nên xanh biếc, nhìn thấy, không phải là những con người – bà không có những hồi ức êm đềm, không có những ảo tượng tự hào về những vị tổng trấn, những vị tướng lĩnh, những cuộc binh biến – thứ mà bà nhìn thấy là những chùm phong lan, những con đèo và chính bà được cõng trên lưng của những người cu li thời thập niên sáu mươi qua những chỏm núi quạnh hiu; hay đang đi xuống để nhổ phong lan (những chùm hoa tuyệt diệu, chưa từng thấy trước đó) mà bà đã vẽ bằng màu nước; một phụ nữ Anh bất khuất, cáu kỉnh, nếu bị cuộc chiến quấy rầy, chẳng hạn, đã thả một quả bom xuống ngay cửa nhà bà, từ sự mặc tưởng sâu xa về những chùm phong lan và chính con người bà đang du hành trong thập niên sáu mươi ở Ấn Độ – nhưng Peter đây rồi.

“Hãy tới nói chuyện với cô Helena về Miến Điện.” Clarissa nói.

Thế nhưng ông ấy chưa nói lời nào với bà suốt buổi tối nay!

“Chúng ta sẽ nói chuyện sau.” Clarissa nói, dẫn ông tới chỗ cô Helena, đang trùm chiếc khăn choàng và cầm cây gậy.

“Peter Walsh.” Clarissa nói.

Điều đó chẳng có nghĩa lý gì.

Clarissa đã mời bà. Nó gây mệt mỏi; nó ồn ào; nhưng Clarissa đã mời bà. Thế nên bà đã tới. Thật đáng tiếc khi chúng sống ở London – Richard và Clarissa. Giá như vì sức khỏe của Clarissa, tốt hơn chúng nên sống ở vùng nông thôn. Nhưng Clarissa luôn ưa thích giao du.

“Anh ấy từng ở Miến Điện.” Clarissa nói.

Chà. Bà không thể không nhắc lại điều Charles Darwin đã nói về cuốn sách nhỏ về các loài phong lan xứ Miến Điện của bà.

(Clarissa phải trò chuyện với phu nhân Bruton.)

Không ngờ gì nữa, giờ nó đã bị lãng quên, cuốn sách về các loài phong lan xứ Miến Điện của bà, nhưng nó đã được xuất bản ba lần trước năm 1870, bà nói với Peter. Giờ bà đã nhớ ra ông. Ông từng tới Bourton (và ông đã rời khỏi bà ta, Peter Wlash nhớ, không nói lời nào, trong căn phòng khách đêm đó, khi Clarissa yêu cầu ông tới đi thuyền).

“Richard rất thích thú bữa tiệc trưa của ông ấy.” Clarissa nói với phu nhân Bruton.

“Richard là sự giúp đỡ khả dĩ lớn nhất.” Phu nhân Bruton đáp. “Anh ta đã giúp tôi viết một lá thư. Còn cô thế nào?”

“Ồ, hoàn toàn khỏe mạnh!” Clarissa nói. (Phu nhân Bruton rất ghét sự ốm yếu ở những bà vợ của các chính khách.)

“Và kia là Peter Walsh!” Phu nhân Bruton nói (vì bà không bao giờ có thể nghĩ ra bất kỳ điều gì để nói với Clarissa; dù bà thích cô ta. Cô ta có nhiều phẩm chất tốt đẹp; nhưng họ không có điểm chung nào – bà và Clarissa. Có thể sẽ tốt hơn nếu Richard cưới một phụ nữ ít quyến rũ hơn, kẻ có thể giúp anh ta nhiều hơn trong công việc. Anh ta đã đánh mất cơ hội vào Nội các của mình). “Kia là Peter Walsh!” Bà nói, bắt tay với tên tội đồ dễ thương đó, con người rất có năng lực đó, kẻ lẽ ra có thể tự tạo nên tên tuổi cho mình nhưng lại không làm (luôn gặp khó khăn với những người phụ nữ), và, dĩ nhiên, với cô Parry. Vị tiểu thư già tuyệt vời!

Phu nhân Bruton đứngcạnh ghế của cô Parry, một bóng ma cận vệ, quấn người trong lớp vải đen, mời Peter Walsh tới ăn trưa; thân mật; nhưng không nói chuyện linh tinh, không nhớ bất cứ thứ gì về cây cỏ hay động vật của Ấn Độ. Bà từng ở đó, dĩ nhiên; đã ở với ba ông tổng trấn; nghĩ rằng một số thường dân Ấn Độ là những anh chàng tốt một cách khác thường; nhưng đúng là một bi kịch – nhà nước Ấn Độ! Ông Thủ tướng vừa nói với bà (đại tiểu thư Parry co người lại trong tấm khăn choàng, không quan tâm tới những gì Thủ tướng vừa nói với bà ta), và phu nhân Bruton muốn xin ý kiến của Peter Walsh, ông mới trở về từ trung tâm, và bà sẽ mời ngài Sampson tới gặp ông, vì thật sự việc này đã ngăn không cho bà ngủ vào ban đêm, sự điên rồ của nó, sự đồi bại của nó, bà có thể nói, với tư cách con gái của một người lính. Giờ bà là một bà già, không còn giúp ích gì mấy. Nhưng ngôi nhà của bà, những người giúp việc của bà, ông bạn tốt Milly Brush của bà – ông ta có nhớ bà không? – tất cả đều có đó chỉ yêu cầu được dùng đến nếu – nếu họ có thể giúp, nói tóm lại. Vì bà chưa bao giờ nói về nước Anh, nhưng hòn đảo của những người đàn ông này, mảnh đất thân mến, rất thân mến này, đã nằm trong máu của bà (không cần đọc Shakespeare), và nếu có bao giờ một phụ nữ có thể đội mũ sắt và bắn tên, có thể dẫn quân tấn công, cai trị với sự công bằng bất khuất những bầy người man rợ và nằm tắt thở dưới một tấm khiên trong một nhà thờ, hay trở thành một nấm cỏ xanh trên một sườn đồi nguyên sinh nào đó, người phụ nữ đó là Millicent Bruton. Bị ngăn cấm bởi giới tính của mình và cả một sự thiếu sót nào đó của khả năng lôgich (bà nhận thấy mình không thể viết một lá thư cho tờ Times), bà vẫn luôn luôn suy nghĩ về Đế chế, và đã thủ đắc từ mối liên hệ của mình với nữ thần mang giáp sắt đó một thân hình thẳng tắp, cách xử sự ngay thẳng, khiến người ta không thể nghĩ rằng bà, ngay cả trong cái chết, bị tách lìa khỏi quả đất hay đang lang thang qua những lãnh địa mà trên đó, dưới một hình thức tinh thần nào đó, lá quốc kỳ của Vương quốc Anh đã ngừng bay. Không phải là người Anh, ngay cả giữa những người đã chết ư – không, không! Không thể nào!

Nhưng đó phải chăng là phu nhân Bruton (người bà từng quen biết)? Có phải đây là Peter Walsh đã bạc đầu? Phu nhân Rosseter tự hỏi (người từng là Sally Seton).Tất nhiên đây là bà cô già Parry rồi – bà cô già rất gắt gỏng hồi bà còn ở Bourton. Bà không bao giờ quên việc để mình trần chạy dọc theo hành lang, và bị cô Parry cho mời tới! Và Clarissa! Ôi Clarissa! Sally chụp cánh tay của bà ta.

Clarissa dừng lại bên cạnh họ.

“Nhưng tôi không thể ở lại.” Bà nói. “Tôi sẽ tới sau. Chờ nhé.” Bà nói, nhìn Peter và Sally. Họ phải chờ, ý bà là thế, cho tới khi tất cả những người này đã ra về.

“Tôi sẽ quay lại.” Bà nói, nhìn hai người bạn cũ của mình, Sally và Peter. Họ đang bắt tay nhau, và Sally, chắc chắn là nhớ tới quá khứ, đang cười ròn rã.

Nhưng giọng của bà ấy đã cạn kiệt sự tươi tắn mê hồn; đôi mắt của bà ấy không sáng ngời như hồi trước, khi bà ấy hút xì gà, khi bà ấy chạy xuống hành lang để lấy cái túi xách đựng bọt biển của mình, không có một mảnh vải trên người, và Ellen Atkins đã hỏi, Giá như các quý ông bắt gặp cô ấy thì sao?

Nhưng mọi người đều tha thứ cho bà ấy. Bà ấy lấy trộm một con gà từ tủ chạn vì bà ấy đói lúc đêm khuya; bà ấy hút xì gà trong phòng ngủ; bà ấy để quên một cuốn sách vô giá trong chiếc thuyền. Nhưng mọi người yêu mến bà ấy (có lẽ ngoại trừ Papa). Đó là hơi ấm của bà ấy; nguồn sinh lực của bà ấy – bà ấy vẽ, bà ấy viết. Cho tới tận hôm nay, những người phụ nữ lớn tuổi trong làng không bao giờ quên hỏi thăm “bạn của bà, người mặc chiếc áo choàng đỏ và có vẻ rất thông minh.” Bà ấy đã cáo buộc Hugh Whitbread, trong số tất cả mọi người chỉ có mình ông ta, ông bạn già Hugh của bà, nói với ông Đại sứ Bồ Đào Nha về việc ông ta hôn bà trong phòng hút thuốc để trừng phạt bà vì đã nói rằng phụ nữ nên có quyền bầu cử. Những gã đàn ông tầm thường được bầu cử, bà ấy nói. Và Clarissa nhớ đã thuyết phục bà ấy đừng tố cáo ông ta trong buổi cầu nguyện gia đình – điều mà bà ấy có thể thực hiện với sự táo tợn, sự khinh suất, tình yêu thái quá của mình đối với việc là trung tâm của mọi thứ và việc tạo ra những màn kịch, và nó buộc phải kết thúc trong một tấn thảm kịch kinh khủng nào đó, Clarissa thường nghĩ vậy; cái chết của bà ấy; sự tử vì đạo của bà ấy; thay vì thế bà ấy đã lấy chồng, hoàn toàn bất ngờ, một người đàn ông hói đầu với một cái khuy áo to tướng, người làm chủ, theo lời họ nói, những xưởng chế biến vải cotton ở Manchester. Và bà ấy có năm cậu con trai!

Bà ấy và Peter đã ngồi lại với nhau. Họ đang nói chuyện: vụ này có vẻ rất quen thuộc – việc họ sẽ nói chuyện với nhau. Họ sẽ bàn về quá khứ. Bà ấy chia sẻ với hai người bọn họ (vì thậm chí còn có thêm Richard) quá khứ của mình; khu vườn; những hàng cây; già Joseph Breitkopf hát nhạc Brahms mà không có chút hơi nào; giấy dán tường trong phòng khách; mùi của những tấm thảm. Sally phải luôn là một phần của chuyện này. Peter phải luôn là. Nhưng bà phải rời khỏi họ. Còn có gia đình Bradshaw, kẻ mà bà không thích. Bà phải đi lên chỗ phu nhân Bradshaw (mặc y phục xám và bạc, đang giữ thăng bằng như một con sư tư biển ở mép cái bồn nước của nó, sủa lên những lời mời, các nữ công tước, vợ của người đàn ông thành đạt điển hình), bà phải đi lên chỗ phu nhân Bradshaw và nói…

Nhưng phu nhân Bradshaw đã lường trước tình huống:

“Chúng tôi tới muộn kinh khủng, bà Dalloway thân mến, chúng tôi hầu như không dám vào.” Bà ta nói.

Và ngài William, kẻ trông rất nổi bật, với mái tóc hoa râm và đôi mắt xanh, bảo vâng; họ không thể cưỡng lại sự cám dỗ. Chắc chắn là ông ta đã nói chuyện với Richard về Dự luật đó, mà họ muốn thông qua ở Hạ viện. Vì sao cảnh tượng ông ta nói chuyện với Richard lại khiến bà thu người lại? Trông ông ta đúng như nghề nghiệp của ông ta, một bác sĩ lớn. Một người đàn ông hoàn toàn dẫn đầu trong chuyên môn của mình, rất quyền uy, khá mệt mỏi. Vì phải suy nghĩ ca bệnh nào sẽ đến trước mặt ông ta – những người ở chiều sâu cùng cực của sự bất hạnh; những người ở bên rìa sự mất trí; những ông chồng và bà vợ. Ông ta phải quyết định những vấn đề khó khăn kinh khủng. Phải – điều mà bà nghĩ là người ta sẽ không thích ngài William nhìn thấy người ta không vui. Không; người đàn ông đó thì không.

“Cậu con trai của bà ở Eton thế nào?” Bà hỏi phu nhân Bradshaw.

Nó vừa mới trượt lớp mười một, phu nhân Bradshaw đáp, vì những lời cằn nhằn. Cha của nó thậm chí còn bận tâm hơn nó, bà nghĩ. “Không là gì, nhưng bản thân nó là một cậu trai tuyệt vời.” Bà nói.

Clarissa nhìn ngài William, đang nói chuyện với Richard. Trông ông ta không giống một cậu con trai – không giống một cậu bé chút nào. Có lần bà đã đi với ai đó để yêu cầu sự tư vấn của ông ta. Ông ta đã hoàn toàn đúng; cực kỳ nhạy bén. Nhưng Trời ạ – thật nhẹ nhõm biết bao khi bước ra đường trở lại! Có tiếng nức nở của một kẻ bất hạnh đáng thương nào đó, bà nhớ, trong phòng chờ. Nhưng bà không biết đó là gì – về ngài William; chính xác là bà không thích điều gì. Chỉ có Richard đồng ý với bà “không thích thị hiếu của ông ta, không thích mùi của ông ta.” Nhưng ông ta có khả năng đặc biệt. Họ đang nói chuyện về Dự luật này. Có một ca bệnh, ngài William đang nhắc tới, hạ thấp giọng xuống. Điều ông ta đang nói về những ảnh hưởng bị trì hoãn của chứng chấn thương tâm lý do chiến đấu có phương diện riêng của nó. Phải có một điều khoản nào đó trong dự luật.

Chìm giọng xuống, thu hút bà Dalloway vào nơi trú ẩn của một nữ tính chung, một niềm tự hào chung về những phẩm chất lừng lẫy của những đức ông chồng và khuynh hướng làm việc thái quá đáng buồn của họ, phu nhân Bradshaw (kẻ khờ dại đáng thương – người ta không ưa bà ta) thì thầm rằng: “ngay đúng lúc chúng tôi đang xuất phát, chồng tôi được gọi tới nghe điện thoại, một ca bệnh rất đáng buồn. Một người đàn ông trẻ (đó là điều ngài William đang nói với ông Dalloway) đã tự sát. Anh ta từng ở trong quân đội.” Ồ! Clarissa nghĩ, giữa buổi tiệc của mình, đây là cái chết, bà nghĩ.

Bà đi tiếp, vào căn phòng nhỏ nơi ngài Thủ tướng đã vào với phu nhân Bruton. Có lẽ có người nào đó ở đó. Nhưng không có ai cả. Những cái ghế vẫn lưu giữ ấn tượng về ngài Thủ tướng và phu nhân Bruton, bà quay lại một cách kính cẩn, ông ta đang ngồi vững chãi, đầy vẻ quyền uy. Họ đã nói chuyện về Ấn Độ. Không có ai cả. Sự huy hoàng của bữa tiệc rơi xuống sàn nhà, thật lạ lùng khi đi vào đó một mình trong bộ y phục lộng lẫy của bà.

Việc gì gia đình Bradshaw phải nói về cái chết trong bữa tiệc của bà?Một người đàn ông trẻ đã tự sát. Và họ nói về nó trong bữa tiệc của bà – vợ chồng nhà Bradshaw, nói về cái chết. Anh ta đã tự sát – nhưng như thế nào? Luôn luôn thân thể bà đi qua nó trước nhất, khi bà được kể lại, một cách đột ngột, về một tai nạn; chiếc áo của bà bùng cháy, thân thể của bà bị thiêu rụi. Anh ta đã tự quăng người ra khỏi một cửa sổ. Mặt đất chợt lóe sáng; những que sắt nhọn đầu xuyên qua thân người tím bầm của anh ta, một cách sai lầm. Anh ta nằm đó với một tiếng rơi uỵch, uỵch, uỵch trong bộ não,và rồi một màu tối đen nghẹt thở. Bà nhìn thấy nó như thế. Nhưng vì sao anh ta làm điều đó? Và vợ chồng nhà Bradshaw đã nói về nó trong bữa tiệc của bà!

Có lần bà đã ném một đồng siling xuống hồ Serpentine, không ném bất cứ thứ gì khác nữa. Nhưng anh ta đã vứt bỏ nó. Họ tiếp tục sống(bà phải quay lại; các phòng vẫn còn đông người; mọi người vẫn tiếp tục tới). Họ (suốt ngày bà đã suy nghĩ về Bourton, về Peter, về Sally), họ sẽ già đi. Một điều quan trọng; một điều, bị bao quanh với những lời lẽ huyên thuyên, đã làm xấu đi, đã làm tối mờ đi cuộc sống của chính bà, đã thả xuống mỗi ngày sự đồi bại, những lời nói dối, những câu chuyện huyên thuyên. Anh ta đã bảo tồn điều này. Cái chết là sự thách thức. Cái chết là một nỗ lực để giao tiếp; mọi người cảm nhận sự bất khả của việc đi tới điểm trung tâm vốn lẫn tránh họ một cách bí ẩn; sự gần gũi bị tách rời ra; trạng thái mê ly tan biến, người ta còn lại một mình. Có một cái ôm xiết trong cái chết.

Nhưng người đàn ông đã tự sát này – anh ta có lao xuống trong lúc vẫn nắm giữ báu vật của mình không? “Nếu giờ là lúc phải chết, giờ là lúc hạnh phúc nhất,” có lần bà đã tự nhủ với mình, khi đi xuống trong bộ y phục toàn màu trắng.

Hoặc có những thi sĩ và tư tưởng gia. Giả sử anh ta có một đam mê, và đã tìm tới ngài William Bradshaw, một bác sĩ lớn thế nhưng với bà lại xấu xa một cách kín đáo, không có sức hấp dẫn giới tính hay dâm tính, cực kỳ nhã nhặn với phụ nữ, nhưng có khả năng gây tổn thương không tài nào tả được – áp bức linh hồn của bạn, đúng là thế – nếu người đàn ông trẻ này đã tìm tới ông ta, và ngài William đã gây ấn tượng đối với anh ta, như thế, với sức mạnh của mình, vậy khi đó anh ta có thể nói (lúc này bà thật sự cảm nhận được điều đó), Cuộc sống bị biến thành không thể chịu đựng nổi hay không? Phải chăng họ đã biến cuộc sống thành không thể chịu đựng nổi, những người đàn ông như thế?

Thế rồi (bà chỉ cảm thấy nó hồi sáng này) có một sự kinh hoàng; sự bất lực lấn áp, bố mẹ của người ta trao nó vào tay người ta, cuộc sống này, để sống cho tới lúc tận cùng, để bước đi với sự thanh bình; trong chiều sâu của tim bà có một nỗi sợ kinh khủng. Ngay cả lúc này, hoàn toàn bình thường nếu Richard không ở đó đọc tờ Times, để bà có thể thu người lại như một con chim và dần dần hồi sinh, hét lên niềm vui khôn dò đó, chà xát chiếc que này vào chiếc que kia, thứ này với thứ khác, hẳn bà phải bị diệt vong. Nhưng người đàn ông trẻ đó đã tự sát.

Vì lý do nào đó đây là tai ách của bà – điều ô nhục của bà. Sự bị trừng phạt của bà chính là nhìn thấy chìm đắm và biến mất ở chỗ này một người đàn ông, chỗ kia một người đàn bà, trong bóng tốt thẳm sâu này, và bà buộc phải đứng đây trong bộ váy buổi tối của mình. Bà đã âm mưu; bà đã đánh cắp. Bà chưa bao giờ hoàn toàn đáng ngưỡng mộ. Bà đã mong muốn thành công. Phu nhân Bexborough và phần còn lại của nó. Và có lần bà đã bước trên sân hiên ở Bourton.

Đó là do Richard; bà chưa bao giờ hạnh phúc như thế. Không có gì đủ chậm; không có gì kéo dài quá lâu. Không niềm hân hoan nào có thể sánh ngang, bà nghĩ, kéo mấy cái ghế lại cho thẳng hàng, đẩy một cuốn sách trên kệ vào, điều này đã được thực hiện với những thắng lợi của tuổi trẻ, đánh mất bản thân trong tiến trình của sự sống, để tìm ra nó, với một niềm vui chấn động, khi mặt trời lên, khi mặt trời lặn. Hồi ở Bourton, bà đã nhiều lần đi ra trong lúc tất cả bọn họ đang trò chuyện để nhìn lên bầu trời; hoặc nhìn thấy nó giữa vai của mọi người vào bữa ăn tối; nhìn thấy nó ở London khi bà không thể ngủ. Bà bước tới cửa sổ.

Nó nắm giữ, ý tưởng ngốc nghếch thế ấy, một thứ gì đó của chính bà trong nó, bầu trời đất nước này, bầu trời bên trên khu Westminster này. Bà tách hai tấm màn ra, bà nhìn. Ôi, thật kinh ngạc biết bao! – ở căn phòng đối diện vị phu nhân già đang nhìn thẳng vào bà! Bà ta sắp đi ngủ. Và bầu trời. Nó sẽ là một bầu trời trang nghiêm, bà nghĩ, nó sẽ là một bầu trời u tối, quay mặt khỏi vẻ đẹp. Nhưng nó ở đó – tái nhợt màu tro, với những đám mây thon thon rộng lớn vùn vụt lướt qua. Nó mới mẻ với bà. Hẳn gió đã nổi lên. Bà ta sắp đi ngủ, ở căn phòng đối diện. Thật thú vị khi quan sát bà ta đi đi lại lại, vị phu nhân già ấy, băng qua căn phòng, tới gần cửa sổ. Bà ta có thể nhìn thấy bà không? Trong lúc mọi người vẫn cười ầm, la lối trong phòng khách, thật thú vị khi quan sát bà cụ đó, hoàn toàn lặng lẽ, sắp lên giường. Lúc này bà ta kéo tấm màn xuống. Đồng hồ bắt đầu điểm giờ. Người đàn ông trẻ đã tự sát; nhưng bà không thương hại anh ta; với đồng hồ đang điểm, một, hai, ba, bà không thương hại anh ta, với tất ả những điều này đang tiếp diễn. Kia! Bà cụ đã tắt đèn. Lúc này toàn bộ ngôi nhà tối omvới điều này đang tiếp diễn, bà lặp lại, và những từ đó nảy ra trong tâm trí, Đừng sợ nữa sức nóng của vầng dương. Bà phải quay lại với họ. Nhưng đêm nay thật đặc biệt! Vì lý do nào đó bà cảm thấy rất thích anh ta – người đàn ông trẻ đã tự sát. Bà thấy mừng vì anh ta đã thực hiện điều đó; quẳng nó đi. Đồng hồ đang điểm giờ. Những vòng tròn xám xịt đã tan biến giữa không trung. Anh ta khiến cho bà cảm thấy vẻ đẹp; khiến cho bà cảm thấy niềm vui. Nhưng bà phải quay lại. Bà phải tập hợp. Bà phải tìm Sally và Peter. Và bà đi vào từ căn phòng nhỏ.

“Nhưng Clarissa đâu rồi?” Peter hỏi. Ông đang ngồi trên cái trường kỷ với Sally. (Sau ngần ấy năm trời ông thật sự không thể gọi bà ta là “phu nhân Rosseter”.) “Người phụ nữ đó đi đâu?” Ông hỏi. “Clarissa đâu?”

Sally phỏng đoán, và cả Peter cũng thế về vấn đề đó, rằng có những người quan trọng, những chính khách, những kẻ mà không ai trong hai người quen biết trừ phi nhìn thấy họ trong những bức ảnh trên báo, những kẻ mà Clarissa phải đối xử tốt đẹp, phải chuyện trò. Bà ấy đang ở với họ. Thế nhưng Richard Dalloway không ở trong nội các. Ông ta không thành công, Sally đoán. Bản thân bà hầu như không hề đọc báo. Đôi khi bà thấy báo chí nhắc tới tên ông ta. Nhưng lúc đó – vâng, bà sống một cuộc đời rất cô quạnh, ở chốn hoang vu, Clarissa có thể nói thế, giữa những thương nhân, những nhà sản xuất lớn, nói cho cùng, những người đàn ông đã làm mọi thứ. Cả bà cũng đã làm mọi thứ!

“Tôi có năm thằng con trai!” Bà nói với Peter.

Ôi Trời, ôi Trời, bà ta đã thay đổi biết bao! Sự dịu hiền của tình mẫu tử; sự ích kỷ của nó nữa. Lần cuối họ gặp nhau, Peter nhớ, là ở giữa đám cải bắp dưới ánh trăng, những chiếc lá “giống như đồng thô” bà ta đã nói thế, với thiên hướng văn chương của mình; và bà ta đã hái một bông hồng. Bà ta đã dắt ông đi lên đi xuống trong cái đêm kinh khủng đó, sau màn kịch cạnh đài phun nước; ông muốn bắt kịp chuyến tàu nửa đêm. Lạy Trời, ông đã khóc!

Đó là cái tật cũ của ông, mở một con dao nhíp ra, Sally nghĩ, luôn mở và đóng một con dao khi ông ta kích động. Họ từng rất, rất thân mật, bà và Peter, khi ông ta đang yêu Clarissa, và đã có màn kịch dễ sợ, ngớ ngẩn đó về Richard Dalloway trong bữa ăn trưa. Bà đã gọi Richard là “Wickham”. Vì sao không gọi Richard là Wickham chứ? Clarissa đã nổi giận! Và thật sự họ không bao giờ gặp nhau kể từ đó, bà và Clarissa, có lẽ không hơn sáu lần trong mười năm qua. Peter Walsh đã sang Ấn Độ, và bà mơ hồ nghe nói rằng ông ta đã có một cuộc hôn nhân bất hạnh, và bà không biết ông ta có đứa con nào hay không, bà không thể hỏi ông ta, vì ông ta đã thay đổi. Trông ông ta khá nhăn nheo, nhưng tử tế hơn, bà cảm thấy, và bà có một tình cảm thật sự đối với ông ta, vì ông ta nối liền với tuổi trẻ của bà, và bà vẫn còn giữ cuốn sách nhỏ của Emily Brontë mà ông ta tặng cho bà, và ông ta có viết, đúng không? Trong thời gian đó ông ta có viết.

“Ông có viết không?” Bà ta hỏi ông, xòe bàn tay ra, bàn tay chắc chắn và có nét của bà ta, trên đầu gối theo một cách thức mà ông nhớ lại.

“Không một từ nào!” Peter Walsh đáp, và bà cười khanh khách.

Bà ta vẫn còn hấp dẫn, vẫn còn là một người có nét, Sally Seton. Nhưng gã Rosseter này là ai? Ông ta cài hai đóa hoa trà trong ngày cưới của mình – đó là tất cả những gì Peter biết về ông ta. “Họ có vô số người hầu, nhiều dặm nhà kính trồng cây,” Clarissa đã viết; đại loại như thế. Sally làm chủ nó với một tràng cười rộ.

“Phải, tôi có mười ngàn bảng mỗi năm” – trước hay sau khi đóng thuế thì bà không thể nhớ, vì chồng bà, “người mà ông phải gặp,” bà nói, “người mà ông sẽ thích,” bà nói, đã làm mọi thứ đó cho bà.

Và Sally đã từng nghèo tơi tả. Bà từng đem cầm chiếc nhẫn của bà nội mình, chiếc nhẫn do Marie Antoinettte tặng ôngcố bà, để tới Bourton.

Ồ, vâng, Sally nhớ; bà vẫn còn giữ nó, một chiếc nhẫn nạm hồng ngọc mà Marie Antoinette đã tặng cho ông cố của bà. Dạo đó bà không bao giờ có một xu dính túi, và việc tới Bourton luôn có ý nghĩa là một thời kỳ gay go đáng sợ. Nhưng tới Bourton cũng có rất nhiều ý nghĩ với bà – đã giúp bà không phát điên, bà tin vậy, bà đã rất khốn khổ lúc ở nhà. Nhưng tất cả những cái đó là chuyện quá khứ –giờ tất cả đã trôi qua, bà nói. Và ông Parry đã qua đời; còn cô Parry thì vẫn còn sống. Ông chưa bao giờ bị sốc đến thế trong đời mình! Peter nói. Ông đã hoàn toàn chắc chắn rằng bà ấy đã chết. Và cuộc hôn nhân, Sally đoán, là một thành công? Và cô gái rất đẹp, rất điềm tĩnh đó là Elizabeth, đang đứng đằng kia, cạnh những bức màn, mặc đồ đỏ.

(Cô ta giống như một cây dương, giống như một dòng sông, giống như một bông hoa lan dạ hương, Willie Titcomb nghĩ. Ồ, sẽ tốt hơn biết bao nhiêu nếu được sống ở miền quê và làm những gì cô thích! Cô có thể nghe con chó tội nghiệp của mình đang tru lên, Elizabeth chắc chắn.) Con bé không giống Clarissa chút xíu nào, Peter Walsh nói.

“Ồ, Clarissa!” Sally nói.

Điều Sally cảm thấy đơn giản là thế này. Bà đã nợ Clarissa một khoản lớn. Họ từng là bạn của nhau chứ không phải những người quen biết nhau, hai người bạn, và bà vẫn nhìn thấy Clarissa mặc toàn màu trắng đi lại trong nhà với hai tay ôm đầy hoa – cho tới hôm nay những cây thuốc lá vẫn khiến bà nghĩ tới Bourton. Nhưng – Peter có hiểu không? – bà ta thiếu một thứ gì đó. Thiếu thứ gì nhỉ? Bà ta có sự quyến rũ; bà ta có một sức quyến rũ cực kỳ. Nhưng nói thực lòng (và bà cảm thấy Peter là một người bạn cũ, một người bạn thật sự – sự vắng mặt có quan trọng không? Khoảng cách có quan trọng không? Bà vẫn thường muốn viết cho ông ta, nhưng rồi lại xé bỏ thư, thế nhưng cảm thấy rằng ông ta hiểu, vì người ta hiểu mà không cần phải nói ra, khi người ta nhận ra mình đang trở về già, và bà đã già, đã tới chiều hôm đó để thăm mấy đứa con trai ở Eton, nơi chúng mắc bệnh quai bị), vậy cứ nói thật lòng, vì sao Clarissa có thể làm điều đó? – lấy Richard Dalloway?Một người ưa thích thể thao, một người chỉ quan tâm tới những con chó. Nói cho đúng, khi ông ta bước vào phòng ông ta bốc mùi chuồng ngựa. Và rồi tất cả những thứ này? Bà vẫy tay.

Đó là Hugh Withbread, đang lững thững đi qua trong chiếc áo gilê trắng, mắt lờ mờ, béo tốt, mù tịt, bỏ qua mọi thứ ông ta nhìn, trừ lòng tự trọng và sự tiện nghi.

“Ông ta sẽ không nhận ra chúng ta.” Sally nói, và thật sự bà không có can đảm – vậy đó là Hugh! Hugh đáng ngưỡng mộ!

“Ông ta làm gì vậy?” Bà hỏi Peter.

Ông ta đánh giày cho nhà vua hoặc đếm những cái chai ở Windsor, Peter nói với bà. Peter vẫn còn giữ cái giọng điệu gay gắt của mình! Nhưng Sally phải thẳng thắn, Peter nói. Về cái hôn đó, của Hugh.

Trên môi, bà đảm bảo với Peter, một đêm nọ trong phòng hút thuốc. Bà đã đi thẳng tới chỗ Clarissa trong cơn giận dữ. Hugh không làm những chuyện như vậy! Clarissa nói, Hugh đáng ngưỡng mộ! Những đôi tất của Hugh là thứ đẹp nhất mà bà từng thấy, không có ngoại lệ – và giờ là cái áo buổi tối của ông ta. Tuyệt hảo! Và ông ta có con cái gì không?

“Mọi người trong phòng đều có sáu đứa con trai ở Eton.” Peter nói với bà, trừ chính ông ta ra. Ông ta, tạ ơn Trời, không có đứa nào hết. Không con trai, không con gái, không vợ. Chà, có vẻ như ông không bận tâm, Sally nói. Trông ông ta trẻ hơn bất cứ người nào trong số họ, bà nghĩ.

Nhưng theo nhiều cách, kết hôn như thế là làm một điều ngốc nghếch, Peter nói; “Bà ấy là một người hoàn toàn ngốc nghếch,” ông nói, nhưng “chúng ta đã có một thời gian tuyệt diệu”. Nhưng làm sao có thể thế được? Sally tự hỏi; ý của ông ta là gì? Và thật lạ lùng biết bao khi quen biết ông ta nhưng lại không biết một điều duy nhất nào đã xảy ra đối với ông ta? Và phải chăng ông ta nói câu đó vì lòng tự hào? Rất có khả năng, vì nói cho cùng hẳn ông ta phải rất bực mình (dù ông ta là một con người kỳ cục, một dạng yêu quái, không hề là một người bình thường), hẳn là rất cô đơn khi ở tuổi ông ta mà không có nhà cửa, không có nơi nào để đi. Nhưng ông ta phải ở lại với họ suốt nhiều tuần. Tất nhiên là ông ta sẽ; ông ta sẽ thích ở lại với họ, và đó là cách nó diễn ra. Suốt ngần ấy năm gia đình Dalloway chưa bao giờ tới một lần. Vợ chồng bà đã mời họ hết lần này tới lần khác. Clarissa (vì dĩ nhiên chính là Clarissa) sẽ không tới. Vì, Sally nói, Clarissa trong thâm tâm là một kẻ hợm mình – người ta phải thừa nhận điều đó, một kẻ hợm mình. Và đó chính cái thứ chắn ngang giữa họ, bà tin chắc. Clarissa nghĩ bà đã lấy một người thấp kém hơn mình, chồng bà – bà tự hào về điều đó – con của một người thợ mỏ. Ông ta đã kiếm được từng xu mà họ có. Hồi còn bé (giọng bà run rẩy) ông ta đã vác những cái bao tải lớn.

(Và bà ta sẽ tiếp tục như thế, Peter nghĩ, hết giờ này sang giờ khác; con trai của một người thợ mỏ; mọi người nghĩ bà ta đã lấy một kẻ thấp kém hơn mình; năm đứa con trai của bà ta; và điều khác là gì – những thứ cây trồng, những cây tú cầu, những cây tử đinh hương, những cây dâm bụt rất, rất hiếm, không bao giờ mọc ở kênh đào Suez, nhưng bà, với một người thợ làm vườn ở một khu ngoại ô gần Manchester, có nhiều luống loại hoa đó, chắc chắn là nhiều luống! Giờ Clarissa đã trốn thoát tất cả những thứ đó, một người không có tình mẫu tử như bà ấy.)

Bà ấy là một kẻ hợm mình ư? Phải, theo nhiều cách. Bà ấy đâu rồi, suốt thời gian này? Đêm đã khuya rồi.

“Chưa,” Sally nói, “khi tôi nghe nói Clarissa tổ chức một bữa tiệc, tôi cảm thấy tôi không thể không tới – phải gặp lại bà ấy (và tôi đang ở phố Victoria, thật sự là ngay kế bên). Vì thế tôi cứ tới không cần thiệp mời. Nhưng,” bà ta thì thầm, “hãy nói cho tôi biết, người này là ai vậy?”

Đó là bà Hilbery, đang tìm cửa đi ra. Vì đêm đã khuya rồi! Và bà lẩm bẩm, khi đêm ngày càng khuya hơn, người ta tìm thấy những người bạn cũ; những góc vườn góc phòng yên tĩnh; và những cảnh vật đáng yêu. Họ có biết rằng họ đang bị bao vây bởi một khu vườn bị yếm bùa hay không? Bà hỏi. Những bóng đèn và những cây cối và những mặt hồ lấp lánh tuyệt diệu và bầu trời. Chỉ có vài ngọn đèn lồng ở vườn sau, Clarissa Dalloway đã nói thế! Nhưng bà ta là một nhả ảo thuật. Nó là một công viên… Và bà không biết tên của họ, nhưng bà biết họ là những người bạn, những người bạn không có tên, những bài ca không có lời, luôn là thứ tốt nhất. Nhưng có quá nhiều cửa, những nơi bất ngờ như thế, bà không thể tìm được lối ra.

“Bà cụ Hilbery,” Peter nói; nhưng người đó là ai? Quý bà đã đứng cạnh bức màn suốt cả buổi tối mà không nói lời nào đó? Ông biết mặt bà ta; từng liên hệ với bà ta ở Bourton. Chắc chắn là bà ta từng cắt đồ lót ở cái bàn lớn trong cửa tiệm? Davidson, phải chăng đó là tên của bà ta?

“Ồ, đó là Ellie Henderson.” Sally nói. Clarissa thật sự rất khắc nghiệt với bà ta. Bà ta là một người chị em họ, rất nghèo. Clarissa rất khắc nghiệt với mọi người.

Bà ấy khá khắc nghiệt, Peter nói. Thế nhưng – Sally nói, theo cách thức đầy cảm xúc của mình, với một dòng chảy nhiệt tình mà Peter từng yêu mến bà vì nó, nhưng giờ hơi sợ sệt chút ít, bà ta có thể trở nên rất dạt dào tình cảm – Clarissa rất phóng khoáng với bạn bè của mình! Và người ta nhận ra đó là một phẩm chất hiếm hoi biết bao, và đôi khi vào đêm hay ngày của lễ Giáng sinh, khi bà ta tính đếm những lời chúc phúc của mình, bà ta đặt tình bạn đó lên hàng đầu. Họ còn trẻ; đúng là thế. Clarissa có tâm hồn trong trắng; đúng là thế. Peter sẽ nghĩ là bà đa cảm. Bà là như vậy, Vì bà đã tới để cảm thấy rằng đây là điều duy nhất đáng nói tới – những gì người ta cảm thấy. Trí thông minh chỉ là thứ vớ vẩn. Người ta phải nói một cách đơn giản điều mà người ta cảm thấy.

“Nhưng tôi không biết tôi cảm thấy thế nào.” Peter Walsh nói.

Peter tội nghiệp, Sally nghĩ. Vì sao Clarissa không tới nói chuyện với họ? Đó là điều mà ông ta đang mong muốn. Bà biết điều đó. Suốt buổi ông ta cứ nghĩ về Clarissa, và cứ nghịch con dao của mình.

Ông không thấy là cuộc đời đơn giản, Peter nói. Những mối quan hệ giữa ông với Clarissa không đơn giản. Nó đã làm hỏng đời ông, ông nói. (Họ đã từng rất thân mật – ông và Sally Seton, thật phi lý nếu không nói ra điều đó.) Người ta không thể yêu hai lần, ông nói. Và bà có thể nói gì? Tuy nhiên, tốt hơn là được yêu (nhưng ông ta sẽ nghĩ là bà đa cảm – ông ta từng rất gay gắt). Ông ta phải đến Manchester và ở lại với họ. Tất cả những điều đó đúng, ông ta nói. Tất cả đều rất đúng. Ông ta thích tới và ở lại với họ, ông ta đã thực hiện ngay tức khắc điều ông ta phải làm ở London.

Và Clarissa đã quan tâm tới ông ta hơn là quan tâm tới Richard. Sally chắc chắn về điều đó.

“Không, không, không!” Peter nói (Sally không nên nói như thế – bà ta đã đi quá xa). Anh chàng tốt bụng đó – ông ta ở đầu kia phòng, đang đưa ra ý kiến, hệt như trước giờ, già Richard thân mến. Ông ta đang nói với ai thế? Sally hỏi, người đàn ông trông rất nổi bật đó. Dù sống ở miền thôn dã, bà có một sự hiếu kỳ vô hạn, luôn muốn biết mọi người là ai. Nhưng Peter không biết. Ông không thích dáng vẻ của ông ta, ông nói, có lẽ là một bộ trưởng. Trong số tất cả bọn họ, dường như với ông Richard là người tốt nhất, ông nói – người bất vụ lợi nhất.

“Nhưng ông ta đã làm gì?” Sally hỏi. Công tác công cộng, bà đoán. Và họ có hạnh phúc với nhau không? Sally hỏi (bản thân bà cực kỳ hạnh phúc); vì, bà thừa nhận, bà không biết chút gì về họ, chỉ nhảy tới những kết luận, như người ta thường làm, vì người ta có thể biết gì thậm chí về những người mà người ta sống chung hàng ngày? Bà hỏi. Không phải tất cả chúng ta đều là những tù nhân hay sao? Bà đã đọc một vở kịch tuyệt vời về một người đàn ông, kẻ đã viết nguệch ngoạc lên vách xà lim của mình, và bà cản thấy đó đúng là cuộc đời – người ta viết nguệch ngoạc lên vách tường. Thất vọng về những mối quan hệ con người (mọi người quá khó khăn), bà thường ra vườn và nhận được từ những cây hoa của mình một sự thanh bình mà những người đàn ông và phụ nữ không bao giờ cho bà. Nhưng không; ông không thích những cây cải bắp; ông thích những con người hơn, Peter nói. Thật sự, tuổi trẻ thật là xinh đẹp, Sally nói, quan sát Elizbeth băng ngang qua phòng. Rất khác với Clarissa hồi bằng tuổi của nó! Ông có thể đoán ra bất cứ điều gì ở nó không? Nó sẽ không hé môi. Không nhiều, chưa, Peter thừa nhận. Con bé giống như một đóa hoa huệ, Sally nói, một đóa hoa huệ cạnh một bờ ao. Nhưng Peter không đồng ý rằng chúng ta không biết gì cả. Chúng ta biết mọi thứ, ông nói; ít ra là ông đã biết.

Nhưng hai người này, Sally thì thầm, hai người đang đi tới lúc này (và thật sự bà phải đi, nếu Clarissa không sớm tới), người đàn ông trông có vẻ nổi bật và bà vợ trông khá bình thường của ông ta, kẻ vừa nói chuyện với Richard – người ta có thể biết gì về những người như thế?

“Rằng họ là những kẻ bịp bợm đáng nguyền rủa.” Peter nói, thờ ơ nhìn họ. Ông khiến Sally bật cười.

Nhưng ngài William Bradshaw dừng lại ở cửa để nhìn một bức tranh. Ông ta nhìn vào góc tranh để xem tên của tác giả. Cả vợ ông ta cũng nhìn. Ngài William rất quan tâm tới mỹ thuật.

Khi người ta trẻ, Peter nói, người ta rất nôn nóng muốn hiểu biết mọi người. Giờ đây, khi người ta đã già, chính xác là năm mươi hai (Sally năm mươi lăm, về mặt cơ thể, bà nói, nhưng tâm hồn bà giống như tâm hồn của một cô gái hai mươi tuổi); giờ đây, khi người ta đã chín chắn, Peter nói, người ta có thể quan sát, người ta có thể thấu hiểu, và người ta không muốn đánh mất khả năng cảm nhận, ông nói. Không muốn, điều đó đúng, Sally nói. Mỗi năm bà lại cảm nhận sâu sắc hơn, mãnh liệt hơn. Nó tăng lên, có lẽ, ông nói, chao ôi, nhưng người ta nên vui mừng về điều đó – nó tiếp tục tăng lên trong kinh nghiệm của ông. Có một người ở Ấn Độ. Ông muốn kể với Sally về cô ta. Ông muốn Sally biết cô ta. Cô ta đã kết hôn, ông nói. Cô ta có hai đứa con nhỏ. Tất cả bọn họ phải tới Manchester, Sally nói – ông phải hứa trước khi họ ra về.

Đó là Elizabeth, ông nói, con bé chỉ cảm thấy phân nửa những gì chúng ta cảm thấy, chưa hết. Nhưng người ta có thể nhìn thấy họ dành hết tình cảm cho nhau, Sally nói, quan sát Elizabeth đi tới chỗ cha cô. Bà có thể cảm thấy nó thông qua cách Elizabeth đi tới chỗ cha mình.

Vì cha cô đang nhìn cô, trong lúc ông ta đứng nói chuyện với vợ chồng nhà Bradshaw, và ông ta đã tự nhủ, Cô gái đáng yêu đó là ai nhỉ? Và đột nhiên ông ta nhận ra đó là Elizabeth, và ông ta đã không nhận ra cô, trông cô rất đáng yêu trong cái váy màu hồng! Elizabeth đã cảm thấy ông ta nhìn cô khi cô nói chuyện với Willie Titcomb. Vì thế cô tới chỗ ông ta và họ đứng bên nhau, lúc này, khi bữa tiệc đã gần như kết thúc, nhìn mọi người ra về, và những căn phòng ngày càng trở nên trống vắng, với những thứ nằm rải rác trên sàn. Ngay cả Ellie Henderson cũng ra về, gần như cuối cùng, dù không ai nói chuyện với bà ta, nhưng bà ta muốn nhìn thấy mọi thứ, để kể cho Edith nghe. Richard và Elizabeth khá vui mừng vì nó đã kết thúc, nhưng Richard tự hào về con gái của mình. Và ông không có ý định nói với cô, nhưng ông không thể không nói với cô. Ông đã nhìn cô, ông nói, và đã tự hỏi, Cô gái đáng yêu đó là ai nhỉ? và hóa ra đó là con gái của ông! Điều đó khiến cô thấy hạnh phúc. Nhưng con chó của cô đang tru lên.

“Richard đã tiến bộ. Ông nói đúng.” Sally nói. “Tôi sẽ tới nói chuyện với ông ta. Tôi sẽ chúc ngủ ngon. Bộ não thì có gì là quan trọng,” phu nhân Rosseter nói, đứng lên, “so với quả tim?”

“Tôi sẽ tới,” Peter nói, nhưng ông ngồi lại một lúc. Sự khiếp hãi này là gì vậy? Trạng thái mê ly này là gì vậy? Ông tự nhủ. Sự khích động lạ lùng tràn ngập tâm hồn mình là gì vậy?

Chính là Clarissa, ông nói.

Vì bà ở đó.

Chú thích:

1

Sir Joshua Reynolds (1723 – 1792) họa sĩ Anh nổi tiếng về tranh chân dung.

2

John Milton (1608 – 1674) nhà thơ, nhà bút chiến nổi tiếng người Anh.

3

Nay là Sri Lanka. Trước đây Sri Lanka là thuộc địa của Anh (1815-1948).

 Virginia Woolf
Nguyễn Thành Nhân dịch
Theo https://vietmessenger.com/
 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

222222 Tuy nhiên, chúng ta lại thấy nguồn sống của xã hội phong kiến thời xưa có một khả năng điều hòa giữa lý trí và bản năng dục vọng. Vậy...