Phận số đã khéo trói buộc những thi nhân có một đời sống nội
tâm rất đổi lạ thường, họ nặng nỗi với đời, với người, với vạn vật của tạo hóa…
Hàn Mặc Tử là một nhà thơ kiệt xuất của thời kỳ hiện đại, một
hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam giữa thời hoàng kim của phong trào thơ
mới. Với tài năng xuất chúng của mình, với nỗi đớn đau của định mệnh vô cùng
nghiệt ngã. Ông đã hoàn tất sứ mệnh với cuộc đời, để lại cho đời một di sản vô
cùng quý báu với nhiều câu thơ kỳ diệu có thể xếp vào hàng hay nhất của thi ca
Việt Nam.
78 năm qua, kể từ ngày thi sĩ rời xa cõi tạm, đã có không biết
bao nhiêu người thuộc mọi tầng lớp, mọi trình độ đã kính cẩn nghiêng mình rơi lệ
trước anh linh của người thi sĩ tài hoa mà bạc mệnh này. Với tư duy khác lạ của
một nhà thơ hiện đại, cùng với sức tiên cảm đặc biệt của một bậc “thánh thi”,
trong những tháng năm ngắn ngủi của đời mình, Hàn Mặc Tử đã “hóa giải” được mối
liên hệ thống nhất khăng khít giữa thi sĩ với vũ trụ vô thủy vô chung này.
“Một mai kia ở bên khe nước ngọc
Với sao sương anh nằm chết như trăng
Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc
Đến hôn anh và rửa vết thương tâm”
Sinh thời, nhà thơ tài hoa này đã mắc phải một chứng bệnh khốc
hại (bệnh phong) mà cho tới nay người đời vẫn cứ đinh ninh rằng Hàn Mặc Tử phải
sớm lìa xa cõi thế cũng vì chứng nan y này.
Rất ít người biết được rằng, từ sau khi được người anh rể (chồng
của chị Lễ), một viên chức làm việc trong ngành xét nghiệm phát hiện bị mắc bệnh
phong, suốt bốn năm trời chạy chữa và dưỡng bệnh ấy, dẫu rằng có rất nhiều những
người bạn, những người tình trong mộng đến bên cạnh Hàn Mặc Tử, vậy mà “vết
thương tâm” trong nhà thơ vẫn cứ mỏi mòn.
Hạnh phúc thay còn có một người, đó là ông Phạm Hành (em con
chú ruột của Hàn Mặc Tử). Vì quá thương anh sớm lâm trọng bệnh mà ông Hành đã bỏ
học để theo chăm sóc, đưa cơm xách nước, phục vụ chu tất trong những ngày nhà
thơ chống chọi tuyệt vọng với căn bệnh nan y.
Là anh em chú bác ruột, nhưng người mang họ Nguyễn (Hàn Mặc Tử
tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh năm 1912, tại làng Lệ Mỹ, nay thuộc thành phố
Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình), người lại mang họ Phạm, là do ông nội của nhà thơ
và ông Hành là ông Phạm Bồi (người gốc Thanh Hóa), vì có liên quan đến phong
trào Cần Vương chống Pháp, nên sau khi phong trào thất bại, ông Bồi đã phải trốn
vào ẩn dật ở đất Thừa Thiên.
Khi sinh ra thân phụ của Hàn Mặc Tử, ông Phạm Bồi đã cải họ
Phạm của mình thành họ Nguyễn và đặt tên cho con là Nguyễn Văn Toản nhằm tránh
những rắc rối về lý lịch sau này. Nhưng chẳng hiểu vì lý do gì, khi sinh ra
thân phụ của ông Hành thì ông Phạm Bồi vẫn giữ nguyên họ Phạm để đặt tên cho
con?
Ông Phạm Hành sinh năm 1924, tại làng Thanh Tân, xã Phong
Sơn, huyện Phong Điền (Thừa Thiên-Huế). Khi lớn lên, do những run rủi của phận
người, bước chân ông đã dạt trôi đến vùng đất ở phía Nam cầu Mỹ Chánh, thuộc xã
Hải Chánh, huyện Hải Lăng (Quảng Trị) và sống luôn ở đó cho đến bây giờ.
Thời điểm tôi cùng với Nhà báo Nguyễn Hoàn ở Báo Quảng Trị
(Nay Nhà báo Nguyễn Hoàn là Phó Giám đốc Sở Thông tin - Truyền thông kiêm Chủ tịch
Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị) tìm đến được nhà ông Hành, trông ngôi
nhà của vợ chồng ông trú ngụ nhỏ bé và tuềnh toàng lắm, nằm khuất sau một lối
đi nhỏ cỏ mọc um tùm, hoang vắng. Vườn nhà tuy rộng nhưng cũng chỉ có mấy gốc
chè, vài cây mít…
Gia sản đáng giá nhất có chăng cũng chỉ là một cỗ hậu sự do mấy
người con đi xây dựng vùng kinh tế mới ở tận trong miền Đông Nam Bộ gom góp chuẩn
bị sẵn cho ngày ra đi của ông và một kho ký ức về nhà thơ tài danh Hàn Mặc Tử.
Sau khi cha mất sớm, Nguyễn Trọng Trí được mẹ đưa vào Quy
Nhơn để sống với người anh ruột là Nguyễn Trọng Nhân (lúc này ông Nhân là công
chức ở Sở cầu đường Quy Nhơn, Bình Định). Năm 1928, Nguyễn Trọng Trí được mẹ
cho ra Huế học. Năm 1930, đoạt giải nhất cuộc thi thơ do một thi xã tổ chức với
bút hiệu là Lệ Thanh và Phong Trần.
Năm 1932, Nguyễn Trọng Trí làm công chức ở Sở Đạc Điền Quy
Nhơn dưới quyền của Thương tá Hoàng Phùng (thân sinh của bà Hoàng Thị Kim Cúc -
người yêu của Hàn Mặc Tử). Năm 1934, theo Thúc Tề vào Sài Gòn ôm mộng viết báo,
làm thơ, lấy bút hiệu là Hàn Mặc Tử. Năm 1936, thấy mình nhuốm bệnh, Hàn Mặc Tử
đã từ giã những người bạn cùng ôm mộng làm thơ, viết báo của mình, từ giả cả
Sài Gòn hoa lệ để quay trở lại Quy Nhơn và xuất bản tập thơ đầu tay “Gái
Quê”...
Năm đó, ông Hành chừng mười hai, mười ba tuổi gì đó. Sống bên
cạnh Hàn Mặc Tử, ngày ngày ông giúp nhà thơ thay quần áo rồi gói ghém mang đến
tiệm thợ giặt gửi giặt, lo bưng cơm, rót nước, đặc biệt là lo dán tem lên những
bì thư rồi đạp xe đi bỏ thư vào những thùng thư mà Nha Bưu điện đặt rải rác dọc
các đường phố Quy Nhơn. Ông Hành nhớ là hầu như ngày nào anh Trí cũng bảo ông đạp
xe đi gửi thư cả, có ngày tới ba, bốn lá…
Dừng lại và ngẫm nghĩ một hồi lâu ông Hành kể: “Hồi đó, anh
Trí chỉ mới bị mấy cái nụ đỏ đỏ ở trên mặt thôi, chứ chưa phải là phong hủi chi
hết. Khi bệnh còn nhẹ, sáng nào anh Trí cũng tập thể dục thiệt sớm, thường là
anh kéo dây, khi khỏe thì anh kéo một lúc 6 sợi dây cao su, lúc nào mệt thì anh
chỉ kéo 2, 3 sợi thôi. Rồi cả ngày anh viết thơ luôn tay không nghỉ, rồi dạo
lui, dạo tới ngâm thơ một mình như người điên… (cười).
Anh Trí có kiểu viết thơ lạ lắm, khi mô cũng nằm ngửa, rồi kê
tờ giấy trong lòng bàn tay mà viết. Chữ của anh Trí thì cứ chữ này dính với chữ
kia kéo thành dây nhìn ngồ ngộ. Hỏi thì anh nói viết như rứa cho mau”. Dù đã
cách xa nhà thơ từ nhiều năm lắm rồi, nhưng ông Hành vẫn nhớ như in hình bóng của
người anh khả kính. “Thân hình anh Trí không to mà cũng không nhỏ lắm, đầu tóc
khi mô cũng bờm xờm như đội mũ bia rê. Trưa trưa, chiều chiều là bắc ghế mây ra
trước sân ngồi nhìn phong cảnh ở ngoài con đường Khải Định.
Tính tình hiền từ như con gái, và rất ít khi nghe anh Trí nói
chuyện ở nhà. Vậy mà mỗi khi có bạn thơ họp mặt, ngâm ngợi với nhau thì anh Trí
là người cãi sôi nổi hơn ai hết. Về sau khi bệnh tình hành hạ, anh Trí hầu như
không thích giao du với mọi người nữa" - Ông Hành nhớ lại - "Hồi đó
có một cô gái nói giọng Bắc Kỳ sang trọng lắm, ngày nào cũng thuê xe kéo tay đảo
lui đảo tới vài vòng trước nhà để xin gặp mặt anh Trí, nhưng mà anh cứ trốn lỳ
trong buồng từ chối không gặp mặt.
Riết rồi cô con gái năn nỉ quá anh mới chịu cho gặp, nhưng với
một điều kiện là cô gái kia phải bịt mắt khi đối diện với nhà thơ. May thay, bà
Nguyễn Thị Duy, mẹ của Hàn Mặc Tử biết chuyện và đã cho cô gái cởi khăn bịt mắt
ra".
Theo ông Nguyễn Bá Tín (em ruột của Hàn Mặc Tử) thì: “Anh Trí
vốn ít nói, sống thầm lặng, nhất là sau tai nạn ở bờ biển, lại càng khép kín
hơn.
Gần bên anh lâu ngày, tôi biết anh có nhiều tâm sự chưa hề tiết
lộ với ai. Bên ngoài có vẻ như lặng lẽ vô tình nhưng bên trong lại rất nồng nàn
mãnh liệt mà anh đang sống bằng cảm thụ.
Giá như anh không làm thơ để “bài tiết” cái tâm sự của anh,
thì thật nguy hiểm vô cùng, nhất là với tình trạng mà tôi cho là bất bình thường
sinh lý sau đây:
Từ thời còn đi học giáo lý, anh chịu ảnh hưởng sâu đậm của
cha Thiềng, một linh mục nhân đức có nếp sống đơn sơ mà anh rất cảm phục yêu mến.
Có hai điều giáo lý của cha mà anh ghi nhớ rất cẩn thận và
tuân thủ vô cùng chặt chẽ. Đó là:
– Nhân đức sạch sẽ (có nghĩa tinh khiết) mà cha hay nói: “Điều
răn thứ sáu (tình dục) rất đáng sợ, thậm chí các Thánh ngày xưa không dám nói đến
tên.
– Đừng bắt chước bọn Pharisiêu mà kinh thánh cho là giả hình.
Cần phải sống bằng nhân đức khiêm nhượng kín đáo (humilité).
Trong đời anh, người con gái duy nhất mà anh dám trò chuyện
vui đùa là chị Như Lễ, ngoài ra anh không hề mở miệng với bất cứ thiếu nữ nào đồng
trang lứa dù là để chào hỏi, kể cả láng giềng hay bà con.
Chị Lễ có học, ít nhiều có khiếu văn chương, rất hợp với anh.
Nhưng hễ ngồi lại là hay tranh cãi, nhất là cãi giáo lý, và chị Lễ thường bị
anh chỉ trích là Pharisiêu, vì chị có thói quen đứng hàng giờ bên bàn thờ sau
buổi kinh tối (tôi nghĩ hai chị em không có đề tài để nói chuyện ngoại trừ
tranh cãi giáo lý).
Và chị Lễ cũng là người con gái đầu tiên được anh ca ngợi tán
dương trong bài “Chơi giữa mùa trăng” như một pho tượng trinh nữ.
Không biết có phải vì anh có những nét nhân đức thật sự, hay
vì e ngại tội lỗi, mà cha Thiềng nhắm muốn đỡ đầu cho anh đi tu, xem anh như có
ơn kêu gọi, cho nên anh rất sợ bị dòm ngó đạo đức của anh mà vốn dĩ anh là đứa
trẻ nghịch ngợm nhất nhà. Ngay cả những khi đọc kinh anh cũng rất kín đáo,
tràng hạt trong túi áo, hai tay thọc sâu vào đi đi lại lại im lặng. Không ai biết
anh lần tràng hạt hay làm thơ. Thế rồi, anh biết yêu. Khi anh tiến sâu vào địa
hạt văn thơ.
Bạn bè đều biết anh bắt đầu yêu sau khi tiếng tăm thơ văn anh
được báo chí nói đến, cũng đồng thời có nhiều cảm hứng trong giao thiệp văn
chương với một số nữ sĩ. Tôi hay đùa: Thơ và tình đến với anh cùng một lúc.
“Để rồi một buổi trăng sáng nào đó yên lặng, anh chờ người đẹp
từ từ trong sách hiện ra với anh”.
Cho nên gần suốt cuộc đời anh, vẫn chưa gặp được người yêu mơ
ước và cuối cùng phải thở than:
Đời không có ngọc trong pho sách
E hết khôi nguyên ở Thượng Trì…
Trong tác phẩm “Hàn Mặc Tử, anh tôi”, ở chương 4 có tên gọi
là “Những mối tình”, ông Nguyễn Bá Tín cũng đã ghi lại bốn mối tình của thi
nhân mà bóng dáng còn lưu lại đậm đà trong văn thơ Hàn Mặc Tử, và cũng là bốn mối
tình Hàn Mặc Tử mang nhiều ray rứt trong tâm tư. Đó là mối tình đầu với Hoàng
Hoa, ông Tín viết: “Năm 1933, anh Trí vào làm việc ở Sở Địa Chánh (Cadastre),
nơi đây anh bắt đầu quen với một số bạn bè yêu thích văn thơ.
Trước hết là Hoàng Diệp và Hoàng Tùng Ngâm. Ngâm là cháu ruột
cụ Thương tá Hoàng Phùng, giám đốc Sở Địa Chánh.
Hoàng Tùng Ngâm có người chị thúc bá (ái nữ cụ Hoàng Phùng)
cũng rất yêu thơ Hàn Mặc Tử, thường viết báo làm thơ với bút hiệu Hoàng Hoa nữ
sĩ, tên thật là Hoàng Thị Kim Cúc, một thiếu nữ khuê các mà phong thái nhàn hạ,
thoáng đôi chút kiêu sa khiến anh Trí say mê và… sợ sệt. Trong nhà cũng phong
phanh biết anh Trí yêu cô Kim Cúc.
Bà Kim Cúc lúc còn trẻ
Chị Kim Cúc là một thiếu nữ rất “Huế”. Nghiêm đường thuộc
giòng dõi thế gia ở Vỹ Dạ, một vùng mà nếp sống như xa xôi với thôn quê, vùng
dành riêng cho các vị hưu quan, các ông tham, ông thị. Nếp sống quan dạng kiểu
cách đó được biểu lộ rõ ràng.
Ông Quách Tấn khi được tin ấy cho là điều không may cho anh
Trí, vì không được xếp vào môn đăng hộ đối.
Hai người quen biết nhau được một thời gian, các mối liên lạc
dường như chỉ thông qua thơ ca là chính.
Rồi đến một ngày, cụ Thương tá Hoàng Phùng về hưu, rồi cụ mang
cả gia đình quay trở về sinh sống ở Vỹ Dạ. Năm 1936, Hàn Mặc Tử có dịp ra Huế để
dự hội chợ, ông mang theo tập thơ “Gái quê” để tặng cho một số người quen trong
đó có những người em của Kim Cúc, Hàn Mặc Tử cũng đã đi về Vỹ Dạ, đứng trước cổng
nhà của Kim Cúc nhưng chỉ đứng vậy rồi quay gót ra về.
Đến năm 1939, khi nhà thơ đã bệnh nặng, Kim Cúc có gửi cho
nhà thơ một tấm ảnh cỡ 6x9, hình Kim Cúc mặc áo dài lụa trắng đứng sau vòm cây
xanh mát, ngay sau khi nhận được tấm phiếu ảnh ấy, Hàn Mặc Tử đã viết một mạch
bài thơ “Đây thôn Vỹ Dạ” nổi tiếng cho đến tận bây giờ…
Có thể nói, sau mối tình với Kim Cúc, người phụ nữ số 2 đã đi
qua cuộc đời của Hàn Mặc Tử là Mộng Cầm. Ông Nguyễn Bá Tín kể: “Tôi biết được
chị Mộng Cầm chỉ qua lời giới thiệu nửa đùa nửa thật của Thúc Tề. Anh Trí thì dấu
kín, ở nhà không ai hay biết gì.
Thúc Tề cho tôi biết, Mộng Cầm tên thật là Nghệ, cháu kêu thi
sĩ Bích Khê bằng cậu ruột, quen biết Hàn Mặc Tử qua văn thơ trên báo chí
Saigon.
Mộng Cầm ở với cậu, lúc bấy giờ dạy học tại Phan Thiết… Mối
tình giữa hai người đã có một thời sôi nổi trong giới văn nghệ sĩ. Họ bàn tán
thêu dệt theo cảm ý hay suy đoán của mỗi người.
Có người thương Hàn Mặc Tử thì trách Mộng Cầm bạc bẽo vội ôm
cầm thuyền khác, khi vừa nghe tin anh mắc ác bệnh, nhất là khi nghe những lời
thơ cay đắng của anh. Cũng có người bênh vực Mộng Cầm còn quá trẻ mà nghiệp chướng
hồng nhan đẩy đưa vào một cuộc tình hữu thủy vô chung tạo nhiều tai tiếng cho
nàng.
Chưa ai biết rõ mối tình đó ra sao cả. Gia đình của chị cũng
không hề hé răng tiết lộ, dù là để thanh minh.
Chỉ nghe mang máng một chuyện tình khá du dương, khi thì lầu
Ông Hoàng, khi thì Cù lao Mũi Né…Sau thời gian anh Trí vào Sài Gòn ôm mộng làm
báo với bạn bè, rồi quay trở lại Quy Nhơn sống ở ngôi nhà số 20 Khải Định.
Trong thời gian anh Trí ở đây, có một lần chị Mộng Cầm ghé đến thăm, rồi ra đi
rất vội vàng…Không lâu sau đó, nghe nói chị lập gia đình. Từ đó tôi không nghe
ai nói gì về chị, ngoài trừ những chuyện huyền thoại về sau này…”.
Về mối tình thứ ba của Hàn Mặc Tử, ông Tín cho biết: “Khác với
những mối tình âm thầm kín đáo, hoặc dè dặt của Hoàng Hoa, của Mộng Cầm, chị
Mai Đình là người yêu thơ cũng như yêu con người phong cùi đó, một cách ồn ào,
sôi nổi và tha thiết nhất.Thơ của chị cảm ứng với Hàn Mặc Tử rất nhiều. Chị Mai
Đình làm thơ rất có khiếu và dễ dàng, ý thơ tình nghĩa, súc tích gắn bó với thơ
Hàn Mặc Tử gần năm mươi năm nay. Tôi nói gắn bó với thơ anh Trí, vì hiện nay chị
đã có gia đình.
Từ thời tiền chiến, và suốt thời kỳ kháng chiến, thơ chị được
truyền khẩu hoặc trao tay người này qua người khác, mà toàn là các bạn làng
văn.
Có lẽ chị chất phác dễ thân mật. Bất cứ chỗ nào có vài người
họp lại để nói về thơ anh Trí là có chị tham gia. Cho nên có rất nhiều bài thơ
nghe nói là của chị sáng tác, vẫn còn chờ đợi được minh xác chưa ai dám tự tiện
phổ biến.
Tôi cũng có dịp đọc được, thơ hay, tình nghĩa và tự nhiên.
Nhà văn Trần Thanh Mại từng viết về chị trong cuốn Hàn Mạc Tử rằng: “Về người
đàn bà này (Mai Đình) ta có thể nói nhiều hơn, kể rõ ràng hơn, mà không ngần ngại
phải chạm đến danh giá của một kẻ nào, đến cái mà họ trương lên làm danh giá.
Một người đàn bà không cần dư luận, một người trong hạng người
thành thật nhất xã hội. Họ đáng liệt vào chế độ lễ nghi, mọi thứ do người bày đặt
ra để che lấp cái giả dối của người.”.
Mộ của Hàn Mặc Tử ngày nay ở Quy Nhơn
Những năm 1938-1939, tôi nghe nói chị đến
thăm anh Trí tại nhà, lúc bấy giờ đã dọn về đường Odend’hall vì anh bắt đầu đau
nặng, mà mẹ tôi không muốn cho ai biết. Việc chị Mai Đình đến thăm anh Trí như
một tin sốt dẻo được loan đi rất nhanh trong những người bạn thân. Vì thế đã
làm ồn ào lên một dạo mà mẹ tôi lo sợ tai tiếng cho chị.
Thế nhưng, sự dè dặt đó không cần thiết gì đối với chị. Chị
Như Lễ nói với tôi: “Chị Mai Đình do ông Tấn giới thiệu cho anh Trí kết bạn
thơ.”
Theo chỗ tôi biết qua bạn bè anh Trí, thì chị Mai Đình đã ham
mê thơ anh từ lâu, nhưng không ai giới thiệu. Đến khi gặp anh thì lại yêu luôn
anh, mặc dầu thấy tận mắt anh đang bệnh.
Thật sự thì bệnh anh cũng không có vẻ gì đáng sợ, nếu nhìn về
bên ngoài.
Năm 1939, anh đau nặng nhất, thì cũng chỉ là dấu hiệu khô chết
lớp da bên ngoài. Tay anh cầm muỗng ăn hay viết lách, chỉ khó khăn khi kéo mấy
ngón tay co lại. Bàn tay như mang một chiếc găng da khô cứng. Da dẻ đen sạm đi
không lở lói gì.
Với chị Mai Đình, thì hình như chị cũng không thấy “cái bên
ngoài” đó nữa, mà chỉ cần nghe anh ngâm thơ, chỉ cần ở gần bên anh.
Nhiều người bạn, nói theo thời bấy giờ là chị Mai Đình bị tiếng
sét ái tình đánh gục (Coup de foudre). Người đàn bà đã từng phen lưu lạc phong
trần mà thơ viết lên nghe như cô gái mới được yêu.
Nghe nói chị vẫn dạy nữ công cho nhiều trường ở Saigon, nhưng
thỉnh thoảng lại động lòng bốn phương, tìm bạn bè ngâm thơ vịnh nguyệt. Mai
Đình viết cho Hàn Mặc Tử lá thơ nũng nịu đủ thứ khiến anh Trí buồn cười đem xếp
lại thành bài thơ dưới đây…
… Thôi em chán quá, em buồn quá
Anh của em giờ cười với ai
Với những gì đâu tức tối lạ
Em hồ nghi mãi giận không thôi…
Nhưng xa xôi quá biết làm sao
Lấy Trí tương tư đo được nào
Em mới vùng vằng em thở dốc
Năm 1939, tôi về thăm nhà, nghe chị có ghé lại ở chơi mấy
ngày.
Trong nhà, hình như ai cũng yêu mến chị, vì chị đơn sơ thành
thật, không nề hà khách sáo, có lẽ cuộc đời “phiếm thủy đào hoa” của chị nhiều
trôi nổi quá, nên sống cách nào cũng được, không thấy khó khăn gì, nên ai cũng
thương…”.
Mối tình thứ tư của Hàn Mặc Tử là với Thương Thương, nàng như
một nàng tiên xuất hiện mơ hồ trong mộng và thực của nhà thơ (Thương Thương
nàng chỉ là một cái tên mà Trần Thanh Địch, bạn thân của nhà thơ bắt gặp đâu đó
giữa mây trời để giới thiệu với Hàn Mặc Tử). Mối tình kỳ diệu với Thương Thương
đã làm cho thơ Hàn Mặc Tử trong tập Duyên kỳ ngộ trở thành bất hủ…
Ngày tháng cứ dần trôi, bệnh tình của nhà thơ mỗi lúc càng
thêm bi đát, và rồi căn nhà nằm bên con đường Khải Định ở thành phố Quy Nhơn
cũng không đủ sức để níu giữ thân phận nghiệt ngã của nhà thơ. Thời đó, quan niệm
của người đời về bệnh phong là kinh khủng lắm, nên gia đình đành phải thuê một
căn nhà nhỏ nằm ven bãi biển Gềnh Ráng, cạnh một cái đồn lính Tây của hai chị
em người đàn bà góa để cho nhà thơ trú ngụ.
Ông Hành cũng khăn gói đi theo để phục dịch anh mình, tiếng
thì đi ở riêng nhưng cơm nước hằng ngày ông Hành vẫn về nhà mang đến. Ông Hành
cứ nhớ mãi, hồi đó anh Trí chỉ thích ăn cơm với cá liệt kho khô (cá liệt hồi đó
con mô cũng to bằng bàn tay chứ không nhỏ như bây chừ-ông Hành nhấn mạnh) vì
loài cá này không độc. Lâu lâu anh Trí mới được ăn một bữa thịt, vì mẹ của anh
cho rằng bệnh phong rất kỵ với hơi của thịt mỡ.
Hai anh em ở trong cái nhà thuê lụp xụp bên mé biển đó được
chừng 5 tháng thì bệnh nặng ra. Hàn Mặc Tử được đưa đi cấp cứu ở Bệnh viện Quy
Nhơn, nằm được vài hôm, đến ngày 20-9-1940 thì hai anh em phải dắt díu nhau đến
trú ngụ ở Bệnh viện phong Quy Hòa. Ở đó, thời bấy giờ được xem là nơi tột cùng
của đau khổ nhân gian…
Ông Hành nhớ rất rõ rằng: Khi vào Bệnh viện phong Quy Hòa,
tay của anh Trí đã hơi cứng nên viết lách rất khó khăn, trên mặt thì nổi nhiều
mụn đỏ mọng như sắp nứt. Khi mới đến, anh Trí được phát bộ áo quần bệnh viện,
mang số 1134 và xếp cho nằm trong phòng tập thể. Sau đó một thời gian thì được
xếp nằm riêng một mình. Theo ký ức của ông Hành thì từ khi được xếp ra ở riêng
được chưa đến chục ngày thì anh Trí trút hơi thở cuối cùng, từ giã cõi dương
gian để về với Chúa.
Chiều ngày 11-11-1940, khi ông Hành đạp xe từ Quy Nhơn lên tới
Quy Hòa, trên tay vẫn đang cầm gói thức ăn cho anh Trí thì những người ở bệnh
viện đã khâm liệm xong xuôi. Ông Hành nghẹn ngào kể lại: “Tui vẫn còn nhớ như
in ngày mới vô Quy Hòa anh Trí cứ dặn dò “em nhớ đừng nhổ nước miếng xuống nền
nhà nghe chưa, nếu em nhổ là anh bị phạt ăn cơm lạt và nhổ cỏ đó”. Để hâm nóng
pho ký ức về Hàn Mặc Tử của ông Hành, tôi phải kéo dòng hồi tưởng trong ông chầm
chậm lại.
“Bây giờ ông có còn thuộc thơ của anh Trí viết không?”. “Có
chớ, hồi trai trẻ thì thuộc nhiều, chừ già rồi cũng quên hết...”, nói xong ông
ngồi ngâm khe khẽ: “Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu/ đợi gió đông về để lả
lơi/ Hoa lá ngây tình không muốn động/ Lòng em hồi hộp, chị Hằng ơi/ Trong khóm
vi lau rào rạt mãi/ Tiếng lòng ai nói? sao im đi?/ Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng
tắm/ Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe”.
Mấy mươi năm đã qua đi, buổi chiều này ngồi để nhắc nhớ lại
chuyện của người thiên cổ, ký ức về người anh tài hoa mệnh bạc cứ như đong đầy,
nặng trĩu làm cho ông Hành vốn đã già yếu lại càng già đi. Gió heo may rườn rượt
kéo về cùng với những cơn rét đậm, linh cảm cho tôi biết dường như thời gian
không còn nhiều nữa cho pho ký ức sống về Hàn Mặc Tử hiếm hoi này.
Chia tay tôi trong cái buổi chiều trời mưa lất phất, ông Hành
còn nhắc: “Mai về Đà Nẵng, cậu cố gắng tìm đến Thánh viện Phao Lồ, nằm trên đường
Yên Bái, ở đó có bà Công Tằng Tôn Nữ Phương Khanh là con gái của chị Lễ và là
cháu gọi nhà thơ Hàn Mặc Tử bằng cậu ruột. May ra người này có biết thêm một
chút gì về những ngày tháng cuối cùng của anh Trí...”.
Về Đà Nẵng, tôi đã tìm gặp bà Phương Khanh, hiện đang là nữ
tu ở thánh viện Phao Lồ, nhưng bà Khanh bảo rằng: “Khi cậu Trí mất tôi cũng còn
nhỏ lắm, lớn lên thì vào tu trong dòng, chỉ nghe mẹ tôi kể lại rằng ngày đó,
gia đình bà ngoại tôi đã chạy đôn chạy đáo khắp nơi để tìm phương cứu chữa cho
cậu Trí, nghe ai bảo làm gì cũng làm, kể cả việc mài vàng ròng cho cậu Trí uống.
Có lẽ vì cậu Trí được cho uống quá nhiều bột vàng ròng nên sinh ra bị bệnh đường
ruột. Theo bà Phương Khanh thì Hàn Mặc Tử qua đời là vì bệnh đường ruột (bệnh
kiết lỵ) chứ không phải thủ phạm đã cướp đi sinh mạng của nhà thơ tài hoa nước
Việt là trực khuẩn Han sen!?
Nhận định về nguyên nhân dẫn đến cái chết của người cậu ruột
tài hoa đoản mệnh của bà Phương Khanh xem ra rất có lý khi đem đối chiếu với những
tư liệu mà người bạn cùng nằm bệnh viện phong Quy Hòa với Hàn Mặc Tử là ông
Nguyễn Văn Xê đã kể lại trong hồi ký của mình và đã được trích đăng trên Tạp
chí Sông Hương số 28, ra ngày 11-12-1987 như sau: Ngày 20-9-1940, có tiếng
phanh xe ôtô trước Nhà thương nam làm bệnh nhân người nhìn qua cửa sổ, kẻ lẹ
chân chạy ra gần chiếc xe. Mẹ Juetta lẹ làng chạy ra cửa tiếp hồ sơ nơi tay bác
y tá đứng tuổi rồi đỡ bệnh nhân xuống. Đến giường số 3, mẹ dừng lại, nhìn hồ sơ
và nhẹ nhàng nói: “Trí, đây là chỗ của con”.
15 giờ chiều hôm ấy, ông Xê bắt chuyện với Hàn Mặc Tử: “Tôi
là Xê, người Huế, vào trại đã hai năm, hiện đang giúp việc cho các mẹ. Tôi còn
nhỏ lắm, mới 21 tuổi thôi, xin anh Trí hãy gọi bằng em cho thân mật”. Hàn Mặc Tử
lắc đầu: “Anh Xê đừng quan tâm chuyện tuổi tác, tôi cũng mới hai mươi tám”. Hàn
Mặc Tử nói với ông Nguyễn Văn Xê: “Khắp các tiệm thuốc bắc và các ông bà thầy
thuốc nam ở Bình Định tôi đến chữa không sót một người, mà càng ngày thân thể
ra thế này”.
Hàn Mặc Tử vào Quy Hòa được ba tuần. Nhờ sự chăm sóc chu đáo,
tận tụy của các nữ tu dòng thánh François Dassise, mà đặc biệt là mẹ Juetta phụ
trách Nhà thương nam là người lo lắng cho Hàn Mặc Tử nhất nên bệnh tình thuyên
giảm rõ rệt.
Từ tuần lễ thứ tư, sinh hoạt của ông đều đều: 5 giờ sáng dậy
đi nhà thờ đọc kinh và rất sốt sắng chầu lễ, rước lễ; 7giờ cùng anh em bệnh
nhân ăn điểm tâm cháo trắng với đường đen; 8giờ băng bó, uống thuốc hoặc chuyện
trò với anh em đồng bệnh; 11giờ ăn cơm trưa rồi nghỉ ngơi; 14giờ 30 đi nhà thờ
đọc kinh lần hạt; đến 17giờ đi ăn cơm chiều.
Sang tuần thứ năm, Hàn Mặc Tử được mẹ Juetta chích thuốc trị
bệnh thời đó do bác sĩ Gour vile, Giám đốc Bệnh viện Quy Nhơn bào chế với tên
Huile de Cholmoogra để chích ven mỗi lần 1/2cc cộng với thuốc trị công phạt ác
tính là Essene Teberentine nên bệnh có vẻ giảm do đó thường thấy Hàn Mặc Tử
bách bộ lui tới ở hành lang Nhà thương nam hoặc ở vườn hoa ngồi suy tư trên ghế
đá với tập giấy kẹp ở nách cầm cây bút chì nhỏ mòn cùn. Hàn Mặc Tử sinh hoạt
bình thường cho đến vào buổi trưa 30-10-1940, sau khi đi đọc kinh lần hạt ở nhà
thờ về.
Cả buổi trưa cho đến tối ngày hôm đó (30-10-1940) ông Xê bận
việc đến sáng hôm sau mới hay Hàn Mặc Tử đi kiết bị kiệt sức nên không thể đến
nhà thờ.
Khi ông Xê đến thăm thì thấy Hàn Mặc Tử phờ phạc, xanh xao
nhiều lắm nên ông đề nghị mẹ Juetta cho ông vào trong phòng liệt nằm cho tiện.
Rồi suốt hơn một tuần lễ từ 30-10 đến 7-11-1940 thì bệnh kiết lị của Hàn Mặc Tử
vẫn không thuyên giảm mà có phần tăng thêm nên người ông khô đét, gầy guộc xanh
xao đến thảm não. Đêm 8-11-1940, Hàn Mặc Tử đi tiêu rất nhiều lần, mỗi lần đi
có một chút chất nhầy và vài giọt máu nên ông Xê thấy Hàn Mặc Tử mệt lả đến đi
không nổi, ông phải dìu đi tiêu, rồi về giường nằm.
Đêm càng về khuya thì sức ông Xê càng mệt nên đã ngủ quên chắn
cả lối đi, không ngờ trong lúc ấy Hàn Mặc Tử tuột xuống giường đi không nổi nên
đã lấy một cái âu ngồi lên đó mà đi tiêu.
Khi ông Xê giật mình thức giấc thì thấy Hàn Mặc Tử ngồi trong
xó tối sau chiếc tủ con ôm bụng nhăn nhó nói: “Anh Xê ơi, đỡ tôi lên với”. Ông
Xê đến đỡ Hàn Mặc Tử lên giường nằm rồi mới nói: “Sao anh không thức tôi dậy”,
thi sĩ trả lời vô cùng mệt nhọc: “Tôi thấy anh cũng mệt nên để anh nghỉ một
chút”.
Sáng 9-11-1940, sau khi khám bệnh, mẹ Juetta bưng chén thuốc
cho Hàn Mặc Tử uống xong nói: “Chiều nay có xe đi mời Cha Tuyên úy vào xức dầu
cho con”, ông gật đầu và nói tiếng “dạ” rất nhỏ. Sáng 10-11-1940 lúc 6giờ 45,
Cha cho Hàn Mặc Tử được chịu phép xức dầu và rước lễ lần cuối.
Đêm 10-11, ông Xê trực, hai mẹ Juetta và soeur Julienne có đến
thăm Hàn Mặc Tử ba lần và lần thứ ba khoảng 3h thì soeur Julienne cho biết từ
đó đến sáng Hàn Mặc Tử sẽ chết.
Thời gian của đêm đó như chùng xuống, ông Xê nhìn Hàn Mặc Tử ngoài
những lúc đau bụng đi tiêu, thì khi quỳ cũng như ngồi hoặc nằm, Hàn Mặc Tử đều
đọc kinh cho đến ngày 11-11-1940 lúc 5 giờ 45 phút sáng thì ông nhẹ nhàng tắt thở.
Ông Phạm Hành nay đã không còn nữa, nhưng may mắn thay những
gì chúng tôi ghi lại được từ ký ức của ông về người anh con bác ruột của mình,
thi sĩ tài hoa Hàn Mặc Tử sẽ mãi mãi là những tư liệu vô cùng quý báu cho những
ai yêu quý Hàn Mặc Tử và cho nền văn học nước nhà.








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét