Trong thơ tình, tình yêu là kẻ chiến thắng sau cùng. Chứ
không phải lý trí, đạo đức, chính trị hay lịch sử. Bao giờ và ở đâu cũng thế.
Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại
Cùng tình yêu ở lại
Mặt khác, thơ trữ tình là đời sống riêng tư. Là tiếng nói thầm
của bạn. Ngay cả khi có người thứ hai đối diện, thì người ấy cũng im lặng. Xuân
Quỳnh có nhiều phút riêng tư như thế. Bài thơ của chị mong đợi người đọc nghĩ đến
các hình ảnh cụ thể hơn, ngay cả khi nó dùng một ngôn ngữ có tính khái quát và
trừu tượng. Chúng ta đọc tác phẩm văn học, sản phẩm của trí tưởng tượng, là để
hiểu biết nhiều hơn về thế giới hiện thực, thỏa mãn sự khao khát tri thức và
nhu cầu biểu hiện của các xúc động. Điểm đặc sắc là trong khi thơ trữ tình là
tiếng nói riêng của nhà thơ, đó cũng là tiếng nói của người đọc, tâm tình kín
đáo của họ. Một số thể loại văn học như nhật ký, hồi ký, tùy bút chia sẻ phần
nào tính chất này, tuy nhiên chỉ có thơ trữ tình là tối ưu hóa khả năng giao
thoa, tương tác ấy.
Mùa thu vào hoa cúc
Chỉ còn anh và em
Chỉ còn anh và em
Một bài thơ hay thường có điểm sáng, như từ một khung cửa sổ,
một kinh nghiệm hoặc một ý nghĩa chiếu rọi lên cả bài thơ, trang sách. Ở điểm
sáng ấy, có sự mất cân bằng giữa một hoàn cảnh khó khăn, tối tăm và tình yêu
lãng mạn, giữa hiện thực chiến tranh hỗn loạn và cảnh sắc tâm hồn, hay tâm cảnh.
Vào những khúc quanh ấy, hay điểm sáng ấy, giọng thơ thay đổi, tiến độ của bài
thơ gấp lên hoặc trầm hẳn lại, chuyển đổi một tình huống khách quan thành một
kinh nghiệm cá nhân. Quá trình nội tâm hóa ở Xuân Quỳnh là mạnh mẽ.
Mấy năm rồi, thơ em buồn hơn
Áo em rộng, lòng em tan nát
Những bài hát ngày xưa em vẫn hát
Áo em rộng, lòng em tan nát
Những bài hát ngày xưa em vẫn hát
Thơ trữ tình không khẳng định một chuyện gì, không mang lại
tin tức nào, không thuyết phục, chỉ trình bày, nhưng chính điều ấy làm thay đổi
người đọc.
Emily Dickinson: bạn hãy nói sự thật, nhưng nói thấp thoáng
thôi.
Tell the truth, but tell it slant.
Nhiều người làm thơ hiện nay không biết đến nguyên tắc giản dị
ấy. Sao áo em lại rộng?
Sao em vẫn hát bài hát ngày xưa khi lòng tan nát?
Chị nói thế để làm gì?
Trong một số tình huống, nhu cầu được sống trong môi trường
trật tự, mặc dù có thể mất tự do, lớn hơn nhu cầu được sống tự do. Trong một xã
hội như thế, người nghệ sĩ là tiếng nói đầu tiên của hai khát vọng tự nhiên,
khát vọng bình an và khát vọng tự do. Đó là hai nhu cầu xung khắc nhau.
Quá khứ đáng yêu, quá khứ đáng tôn thờ
Nhưng đâu phải là điều em luyến tiếc
Nhưng đâu phải là điều em luyến tiếc
Xuân Quỳnh đồng hóa mình với những tình cảm thân mật và
thiêng liêng như tình nam nữ, tình gia đình. Chị ở giữa độc giả, tương tác với
họ trong khoảng cách gần, vì vậy những thế hệ sau vẫn còn có khả năng đọc lại
chị như người đương thời. Tuy thành thực và bình dân, nhà thơ thường ý thức về
lời nói của mình, ấn tượng của nó mang lại cho người đọc, sự cam kết của chị đối
với xúc cảm. Thơ dung chứa những giấc mơ, ảo giác và những ẩn dụ xuất hiện như ảo
giác. Xuân Quỳnh nhấn mạnh đến ấn tượng ban đầu và những suy nghĩ day dứt về
sau, nhờ thế thơ chị có một vẻ quyến luyến lạ.
Thôi đừng buồn nữa anh
Tấm rèm cửa màu xanh
Trang thơ còn viết dở
Tách nước nóng trên bàn
Và lòng em thương nhớ
Tấm rèm cửa màu xanh
Trang thơ còn viết dở
Tách nước nóng trên bàn
Và lòng em thương nhớ
Ngôn ngữ giản dị, gần như dân gian, mà trầm tư, sâu sắc. Quyền
năng của một nhà thơ là ở lòng tin của người đọc, tức sự thành thật của người
viết. Thơ chị không chỉ nói về hạnh phúc mà còn về thách thức và lầm lỗi, được
nói lên một cách dịu dàng nhưng mạnh mẽ. Đó là khuynh hướng mô tả pha lẫn suy
tưởng, khuynh hướng thường gặp ở các nhà thơ sau lãng mạn. Bài thơ là hình ảnh
xoay quanh một suy tưởng chủ đề, tuy vậy đôi khi cũng có những hình ảnh không
thể giải thích: tự chúng xuất hiện.
Và bỗng nhiên em lại bơ vơ
Tay vẫn vụng, trán dô ra như trước
Tay vẫn vụng, trán dô ra như trước
Đối với nhiều người như tôi, thơ Xuân Quỳnh ở quá xa trong thời
gian và không gian, thuộc về một lịch sử khác, một văn hóa khác (1). Nhưng càng
đọc bạn càng thấy gần lại. Chị nói về thời gian:
Bao mùa thu hoa vẫn vàng như thế
Chỉ em là đã khác với em xưa
Thời gian là thước đo, là chiều kích của mối quan hệ giữa người làm thơ và người đọc. Người làm thơ sống dưới vùng trời khác, sinh ra trong gia đình khác. Người đọc thơ đi lại, nói năng trên mảnh đất khác, giữa bạn bè riêng, lịch sử khác. Những kiến thức và suy luận không mấy khi giúp họ đến gần nhau, nhưng sự xúc động, nỗi hồi hộp vui sướng, cảm giác bất an mơ hồ: chúng làm được điều ấy.
Thời gian là thước đo, là chiều kích của mối quan hệ giữa người làm thơ và người đọc. Người làm thơ sống dưới vùng trời khác, sinh ra trong gia đình khác. Người đọc thơ đi lại, nói năng trên mảnh đất khác, giữa bạn bè riêng, lịch sử khác. Những kiến thức và suy luận không mấy khi giúp họ đến gần nhau, nhưng sự xúc động, nỗi hồi hộp vui sướng, cảm giác bất an mơ hồ: chúng làm được điều ấy.
Em ở đây không sớm không chiều
Thời gian trắng, không gian toàn màu trắng
Trái tim buồn sau lần áo mỏng
Từng đập vì anh vì những trang thơ
Trái tim nay mỗi phút mỗi giờ
Chỉ có đập cho mình em đau đớn
Thời gian trắng, không gian toàn màu trắng
Trái tim buồn sau lần áo mỏng
Từng đập vì anh vì những trang thơ
Trái tim nay mỗi phút mỗi giờ
Chỉ có đập cho mình em đau đớn
Nhận thức về người khác và tự nhận thức là điều đáng ngạc
nhiên trong thơ Xuân Quỳnh, với lối nói nửa trau chuốt nửa không. Từ trong vòng
vây ràng buộc của không gian và cái chết, nhà thơ truyền cho người khác kinh
nghiệm của đời sống riêng. Nếu thời gian là sự chiêm nghiệm giữa một người
và một người thì không gian là tương tác giữa một người và người đương thời, bạn
bè, đất nước. Không gian ấy có thể nhỏ bé, nhưng tiêu biểu cho một giai đoạn lịch
sử, những mất mát được ghi lại lặng lẽ, kín đáo, khiêm tốn: sự khôn ngoan của
các chi tiết, trong thơ ngày nay chúng ta ít thấy.
Tuổi thơ con có những gì
Tuổi thơ con có những gì
Có con cười với mắt tre trong hầm
Không gian ấy bất tận, vì chính là thiên nhiên mà từ đó chị lớn lên. Thiên nhiên không phải là đối tượng của Xuân Quỳnh: muốn nói về thiên nhiên thì phải tách rời ra khỏi nó, nhìn ngắm nó như một thực tại tương đối biệt lập.
Mưa đổ bụi êm đềm trên bến vắng
Không gian ấy bất tận, vì chính là thiên nhiên mà từ đó chị lớn lên. Thiên nhiên không phải là đối tượng của Xuân Quỳnh: muốn nói về thiên nhiên thì phải tách rời ra khỏi nó, nhìn ngắm nó như một thực tại tương đối biệt lập.
Mưa đổ bụi êm đềm trên bến vắng
Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi;
Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng
Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời.
(Anh Thơ)
Chị cũng không tìm cách trở về thiên nhiên như các nhà thơ lãng mạn thời trước ở thành thị. Có hai khuynh hướng trong thơ trong mối quan hệ giữa nhà thơ và thiên nhiên, một, khuynh hướng tự đồng hóa với thiên nhiên, và hai, khuynh hướng xem thiên nhiên là môi trường của những mối quan hệ, là nơi ký gởi thông điệp. Đọc Xuân Quỳnh, chúng ta nhận ra cách đây nhiều thập niên, mặc dù trong chiến tranh, xã hội mà chị sống khá trật tự, an bình. Trong ký ức của tôi, xã hội nơi tôi lớn lên cũng an bình như thế, ngay giữa lửa đạn; và tôi cũng ngạc nhiên về nhận xét này.
(Anh Thơ)
Chị cũng không tìm cách trở về thiên nhiên như các nhà thơ lãng mạn thời trước ở thành thị. Có hai khuynh hướng trong thơ trong mối quan hệ giữa nhà thơ và thiên nhiên, một, khuynh hướng tự đồng hóa với thiên nhiên, và hai, khuynh hướng xem thiên nhiên là môi trường của những mối quan hệ, là nơi ký gởi thông điệp. Đọc Xuân Quỳnh, chúng ta nhận ra cách đây nhiều thập niên, mặc dù trong chiến tranh, xã hội mà chị sống khá trật tự, an bình. Trong ký ức của tôi, xã hội nơi tôi lớn lên cũng an bình như thế, ngay giữa lửa đạn; và tôi cũng ngạc nhiên về nhận xét này.
Ngọn gió đông làm má ửng hồng
Giữa đường cày con sáo đứng bâng khuâng
Hình ảnh con sáo đứng đó lâu dài, in bóng lên nền trời là một cảm thức hòa hợp giữa thiên nhiên và con người, và trên hậu cảnh ấy sự xa cách như những nhát cắt lúc nào cũng mới, đau đớn.
Ngờ ngợ bóng ai xa
Hình ảnh con sáo đứng đó lâu dài, in bóng lên nền trời là một cảm thức hòa hợp giữa thiên nhiên và con người, và trên hậu cảnh ấy sự xa cách như những nhát cắt lúc nào cũng mới, đau đớn.
Ngờ ngợ bóng ai xa
A! đúng rồi bóng cha
Tôi ôm người nức nở
Thơ như thế chưa phải là thơ hay, nhưng có thể làm người ta
xúc động. Đó là giọng thương cảm mà các nhà phê bình đương đại phương Tây chê
trách, nếu không muốn nói là chế nhạo. Nhưng tôi tin rằng có thể có quy luật
tình cảm riêng biệt. Bởi vì lúc khác, chị biết nén lại, khiến cho tâm sự có sức
tỏa xa, trong câu thơ giản dị:
Bàn tay em ngón chẳng thon dài
Vệt chai cũ, đường gân xanh vất vả
Em đánh chắt chơi chuyền thuở nhỏ
Hái rau dền rau dệu nấu canh
Tập vá may, tết tóc cho mình
Rồi úp mặt trên bàn tay khóc mẹ (1)
Câu chuyện cuộc đời riêng của chị thật xúc động.
Sự không thỏa mãn đối với nhu cầu tinh thần phát sinh cô đơn. Xuân Quỳnh là người cô đơn, mặc dù có thể trong đời thực, chị sống yêu thương, chan hòa với người khác. Cô đơn đến nỗi khi muốn vui, muốn đến bên nhau, chị đâm ra cuống quít vụng về:
Tay ta nắm lấy tay người
Sự không thỏa mãn đối với nhu cầu tinh thần phát sinh cô đơn. Xuân Quỳnh là người cô đơn, mặc dù có thể trong đời thực, chị sống yêu thương, chan hòa với người khác. Cô đơn đến nỗi khi muốn vui, muốn đến bên nhau, chị đâm ra cuống quít vụng về:
Tay ta nắm lấy tay người
Dẫu qua trăm suối ngàn đồi cũng qua
Tình yêu là động lực lớn chi phối cảm hứng thơ ca của Xuân Quỳnh. Tình yêu ấy đi qua một đất nước như thế này:
Những đường ray chìm trong cỏ dại
Tình yêu là động lực lớn chi phối cảm hứng thơ ca của Xuân Quỳnh. Tình yêu ấy đi qua một đất nước như thế này:
Những đường ray chìm trong cỏ dại
Những nhà ga lau sậy um tùm
Ngôn ngữ thơ là tập hợp một cách có tổ chức các chữ và các yếu
tố âm nhạc. Tính chất âm nhạc trong thơ Xuân Quỳnh tạo ra mật độ liên kết cao
giữa chữ và nghĩa, giữa bài hát và câu chuyện kể. Có một trái tim thiết tha đến
tội nghiệp đập dưới những câu thơ đầy nhạc điệu của chị. Có một cân bằng được cố
g ắng thiết lập giữa điều chị biết và điều tiên đoán, mong manh. Nhờ sử dụng thể
thơ có vần trong nhiều bài, có lẽ tác giả không phải phân vân nhiều giữa các chọn
lựa nhạc điệu. Tuy vậy trong một số bài, vẫn có một âm nhạc riêng.
Cuối trời mây trắng bay
Lá vàng thưa thớt quá
Phải chăng lá về rừng
Mùa thu đi cùng lá
Mùa thu ra biển cả
Theo dòng nước mênh mang
Câu thơ trên trang giấy là một tồn tại trong không gian nhưng cũng là một tồn tại trong thời gian. Người đọc có một khoảng cách và thời gian để đi đến với nó. Trong những câu thơ đều đặn, có vần, không gian và thời gian ấy có thể tiên đoán. Một nhà thơ làm thơ tự do có nhiều khả năng hơn một nhà thơ làm thơ có vần trong việc nới rộng không gian và thời gian của mình, ngược lại một người như Xuân Quỳnh, cần phải đào sâu hơn vào ngôn ngữ trong giới hạn cho phép: họ cần một nghệ thuật dùng chữ cao cường. Dưới áp lực ấy, các nhà thơ làm thơ có vần thường tạo ra những câu thơ đặc sắc.
Lá vàng thưa thớt quá
Phải chăng lá về rừng
Mùa thu đi cùng lá
Mùa thu ra biển cả
Theo dòng nước mênh mang
Câu thơ trên trang giấy là một tồn tại trong không gian nhưng cũng là một tồn tại trong thời gian. Người đọc có một khoảng cách và thời gian để đi đến với nó. Trong những câu thơ đều đặn, có vần, không gian và thời gian ấy có thể tiên đoán. Một nhà thơ làm thơ tự do có nhiều khả năng hơn một nhà thơ làm thơ có vần trong việc nới rộng không gian và thời gian của mình, ngược lại một người như Xuân Quỳnh, cần phải đào sâu hơn vào ngôn ngữ trong giới hạn cho phép: họ cần một nghệ thuật dùng chữ cao cường. Dưới áp lực ấy, các nhà thơ làm thơ có vần thường tạo ra những câu thơ đặc sắc.
Em sẽ kể anh nghe
Chuyện con thuyền và biển:
"Thuyền Và Biển" là một một bài thơ tình có yếu tố tự sự. Trong thơ Việt Nam, trước bài này chúng ta có Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp, Hai sắc hoa ti- gôn của TTKH, Màu tím hoa sim của Hữu Loan vân vân, đều là những câu chuyện tình được kể lại bằng thơ. Tuy nhiên, Thuyền và Biển còn là một đối thoại, và ẩn dụ của nó có thể lớn hơn tình yêu, không chỉ dừng lại ở mối quan hệ nam nữ. Vẻ đẹp của bài thơ về mặt ngôn ngữ là cổ điển, về mặt nội dung là táo bạo. Sức mạnh của người đàn bà, của em, trong bài thơ được nhắc đến rõ ràng. Bài thơ là sự nối kết của ký ức và hiện tại. Trừ một vài đoạn đầu hơi dài dòng, chị đã làm cho bài thơ trở thành mẩu đối thoại sôi nổi, chuyện tình dào dạt mà nghiêm trang, có trước có sau mà buông thả, dũng mãnh.
Chuyện con thuyền và biển:
"Thuyền Và Biển" là một một bài thơ tình có yếu tố tự sự. Trong thơ Việt Nam, trước bài này chúng ta có Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp, Hai sắc hoa ti- gôn của TTKH, Màu tím hoa sim của Hữu Loan vân vân, đều là những câu chuyện tình được kể lại bằng thơ. Tuy nhiên, Thuyền và Biển còn là một đối thoại, và ẩn dụ của nó có thể lớn hơn tình yêu, không chỉ dừng lại ở mối quan hệ nam nữ. Vẻ đẹp của bài thơ về mặt ngôn ngữ là cổ điển, về mặt nội dung là táo bạo. Sức mạnh của người đàn bà, của em, trong bài thơ được nhắc đến rõ ràng. Bài thơ là sự nối kết của ký ức và hiện tại. Trừ một vài đoạn đầu hơi dài dòng, chị đã làm cho bài thơ trở thành mẩu đối thoại sôi nổi, chuyện tình dào dạt mà nghiêm trang, có trước có sau mà buông thả, dũng mãnh.
Chỉ có thuyền mới hiểu
Biển mênh mông nhường nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu, về đâu
Những ngày không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau - rạn vỡ
Nếu từ giã thuyền rồi
Biển chỉ còn sóng gió
Nếu phải cách xa anh
Em chỉ còn bão tố
Biển mênh mông nhường nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu, về đâu
Những ngày không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau - rạn vỡ
Nếu từ giã thuyền rồi
Biển chỉ còn sóng gió
Nếu phải cách xa anh
Em chỉ còn bão tố
Do chiến tranh, chia cắt và hoàn cảnh xã hội, hai mươi năm
văn học miền Nam và hai mươi năm văn học miền Bắc, có lẽ ngoại trừ Nhân văn
Giai phẩm, là hai thực thể khác nhau. Ít có điểm chung. Ngoại trừ thơ tình.
Trong thơ tình, người Việt tìm thấy nhau, soi chiếu vào nhau. Xuân Quỳnh là một
trường hợp như vậy. Sức viết mạnh mẽ, nhiều tâm trạng thay đổi, đề tài giàu có,
Xuân Quỳnh cần thêm thời gian để làm phong phú các từ vựng, biến đổi các giọng
điệu, đưa nhiều câu chuyện của người khác hơn nữa vào trong thơ mình. Làm cho
trữ tình cá nhân trở thành trữ tình xã hội. Một số bài thơ của chị gây cảm giác
kêu gọi, căng thẳng, tạo ra không khí sôi động. Ngoại cảnh và nội tâm gặp nhau,
nhìn nhau, nghĩ về nhau.
Ở các cô, các cô âm thầm chịu đựng
Cho đến ngày tình yêu ấy tắt đi.
Còn ở tôi, tôi mang nó nặng nề
Muốn nguôi quên, nó lại ngày càng lớn
Nghệ thuật chống lại thời gian. Khi một cá nhân thỏa mãn với hiện tại, đời sống của người ấy không thể tiếp diễn. Sự quan sát của nhà thơ đối với hiện thực không bao giờ là cái nhìn của người hài lòng. Sự bất công, các tai nạn, sự bất cẩn, sự không may mắn, tính chất tạm thời của hạnh phúc, hủy hoại và làm mới lại. Đối với tác phẩm nghệ thuật, mục đích của đời sống có khi không quan trọng bằng hành trình của đời sống ấy. Điều hôm nay ta nói, ngày mai
Người khác lại nói lời yêu thuở trước
Đời sống chẳng vô cùng, em biết
Câu thơ đâu còn mãi ngày sau
Thơ chị, một cách can đảm, đến gần việc mô tả các rối loạn, những chấn thương bắt đầu được nhận ra sớm. Sự buông thả ở Xuân Quỳnh là có giới hạn, dù sao chị cũng thuộc về thế hệ cũ. Ngay cả trong xã hội miền Bắc thời chiến tranh, nơi người phụ nữ phần nào đã được giải phóng khỏi các ước chế ngàn năm, gánh nặng của quá khứ hãy còn nặng; và quan hệ giữa người nam và người nữ vẫn là quan hệ không bình đẳng:
Cho đến ngày tình yêu ấy tắt đi.
Còn ở tôi, tôi mang nó nặng nề
Muốn nguôi quên, nó lại ngày càng lớn
Nghệ thuật chống lại thời gian. Khi một cá nhân thỏa mãn với hiện tại, đời sống của người ấy không thể tiếp diễn. Sự quan sát của nhà thơ đối với hiện thực không bao giờ là cái nhìn của người hài lòng. Sự bất công, các tai nạn, sự bất cẩn, sự không may mắn, tính chất tạm thời của hạnh phúc, hủy hoại và làm mới lại. Đối với tác phẩm nghệ thuật, mục đích của đời sống có khi không quan trọng bằng hành trình của đời sống ấy. Điều hôm nay ta nói, ngày mai
Người khác lại nói lời yêu thuở trước
Đời sống chẳng vô cùng, em biết
Câu thơ đâu còn mãi ngày sau
Thơ chị, một cách can đảm, đến gần việc mô tả các rối loạn, những chấn thương bắt đầu được nhận ra sớm. Sự buông thả ở Xuân Quỳnh là có giới hạn, dù sao chị cũng thuộc về thế hệ cũ. Ngay cả trong xã hội miền Bắc thời chiến tranh, nơi người phụ nữ phần nào đã được giải phóng khỏi các ước chế ngàn năm, gánh nặng của quá khứ hãy còn nặng; và quan hệ giữa người nam và người nữ vẫn là quan hệ không bình đẳng:
Chúng tôi chỉ là những người đàn bà bình thường không tên tuổi
Quen việc nhỏ nhoi bếp núc hàng ngày
Xuân Quỳnh không phải là nhà thơ nữ quyền, còn lâu chị mới chạm tới điều ấy, nhưng chị biết tạo lập những cân bằng tạm thời giữa một bên là vai trò truyền thống của người phụ nữ một bên là những đòi hỏi tự do, mặc dù chỉ là tự do trong tình yêu, và ít khi vượt ra ngoài giới hạn ấy. Thơ tình là giây lát ngắn ngủi trong cuộc đời, ở đó hạnh phúc và khổ đau ở vị thế cân bằng, nhà thơ đứng ở cánh cửa mở ra hai thế giới, một bên là tình trạng hỗn độn, một bên là bình an, và ở đó ngôn ngữ của chị trở nên trong sáng, trong sạch lạ lùng.
Quen việc nhỏ nhoi bếp núc hàng ngày
Xuân Quỳnh không phải là nhà thơ nữ quyền, còn lâu chị mới chạm tới điều ấy, nhưng chị biết tạo lập những cân bằng tạm thời giữa một bên là vai trò truyền thống của người phụ nữ một bên là những đòi hỏi tự do, mặc dù chỉ là tự do trong tình yêu, và ít khi vượt ra ngoài giới hạn ấy. Thơ tình là giây lát ngắn ngủi trong cuộc đời, ở đó hạnh phúc và khổ đau ở vị thế cân bằng, nhà thơ đứng ở cánh cửa mở ra hai thế giới, một bên là tình trạng hỗn độn, một bên là bình an, và ở đó ngôn ngữ của chị trở nên trong sáng, trong sạch lạ lùng.
Chỉ riêng điều được sống cùng nhau
Niềm sung sướng với em là lớn nhất
Trái tim nhỏ nằm trong lồng ngực
Có niềm an ủi ở con người nhận ra mình không phải là kẻ đơn độc, chia sẻ với đồng loại những kinh nghiệm cá nhân, tình yêu và sợ hãi, dự cảm về tương lai. Cảm giác bất an, không những chỉ về khía cạnh thực tiễn của đời sống như cơm ăn áo mặc, bệnh tật và cái chết, mà còn là ám ảnh của các giấc mơ, mục đích, sự hài lòng. Sự lo âu có thể là một nỗi sợ hãi đến bất thường hay những ám ảnh lặp đi lặp lại.
Có niềm an ủi ở con người nhận ra mình không phải là kẻ đơn độc, chia sẻ với đồng loại những kinh nghiệm cá nhân, tình yêu và sợ hãi, dự cảm về tương lai. Cảm giác bất an, không những chỉ về khía cạnh thực tiễn của đời sống như cơm ăn áo mặc, bệnh tật và cái chết, mà còn là ám ảnh của các giấc mơ, mục đích, sự hài lòng. Sự lo âu có thể là một nỗi sợ hãi đến bất thường hay những ám ảnh lặp đi lặp lại.
Dường như đây, tôi có nỗi buồn
Có hạnh phúc, có một thời thơ bé
Có khát vọng những năm còn rất trẻ
Tôi thuộc từ ngọn cỏ đến nhành cây
Nhạc điệu reo vui, mừng rỡ. Người đọc thơ hôm nay khác, bớt xúc cảm, nhiều trí tuệ, nhưng thơ Xuân Quỳnh vẫn đọng lại vì mỗi câu của chị truyền đi một ý nghĩa. Đừng quên rằng trong một số bài thơ, nhân vật chính không phải là tác giả, người nói không phải là nhân vật. Các phương tiện tu từ, nhân cách hóa, ẩn dụ, tượng trưng được chị sử dựng nhiều, một cách ý thức hay vô thức. Sự tiếp nhận đối với thơ Xuân Quỳnh là dễ dàng hơn so với nhiều nhà thơ khác, cùng thời hoặc hiện nay, một phần vì sự tương họp giữa thông minh dí dỏm và chất nhân hậu, giữa tình yêu cuồng nhiệt và trí tuệ sắc sảo.
Có hạnh phúc, có một thời thơ bé
Có khát vọng những năm còn rất trẻ
Tôi thuộc từ ngọn cỏ đến nhành cây
Nhạc điệu reo vui, mừng rỡ. Người đọc thơ hôm nay khác, bớt xúc cảm, nhiều trí tuệ, nhưng thơ Xuân Quỳnh vẫn đọng lại vì mỗi câu của chị truyền đi một ý nghĩa. Đừng quên rằng trong một số bài thơ, nhân vật chính không phải là tác giả, người nói không phải là nhân vật. Các phương tiện tu từ, nhân cách hóa, ẩn dụ, tượng trưng được chị sử dựng nhiều, một cách ý thức hay vô thức. Sự tiếp nhận đối với thơ Xuân Quỳnh là dễ dàng hơn so với nhiều nhà thơ khác, cùng thời hoặc hiện nay, một phần vì sự tương họp giữa thông minh dí dỏm và chất nhân hậu, giữa tình yêu cuồng nhiệt và trí tuệ sắc sảo.
Cát vắng, sông đầy, cây ngẩn ngơ,
Không gian xao xuyến chuyển sang mùa.
Tên mình ai gọi sau vòm lá,
Lối cũ em về nay đã thu.
Mây trắng bay đi cùng với gió,
Lòng như trời biếc lúc nguyên sơ.
Đắng cay gửi lại bao mùa cũ,
Thơ viết đôi dòng theo gió xa.
Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ may
Áo em sơ ý cỏ găm đầy
Lời yêu mỏng mảnh như màu khói,
Ai biết lòng anh có đổi thay?
Không gian xao xuyến chuyển sang mùa.
Tên mình ai gọi sau vòm lá,
Lối cũ em về nay đã thu.
Mây trắng bay đi cùng với gió,
Lòng như trời biếc lúc nguyên sơ.
Đắng cay gửi lại bao mùa cũ,
Thơ viết đôi dòng theo gió xa.
Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ may
Áo em sơ ý cỏ găm đầy
Lời yêu mỏng mảnh như màu khói,
Ai biết lòng anh có đổi thay?
Thơ không mới, nhưng ngôn ngữ đẹp, tình cảm chân thật, hoài
niệm về hạnh phúc, và cố gắng của chị tìm cách vượt qua quá khứ. Như vậy sự khó
hiểu nếu có trong việc đọc thơ Xuân Quỳnh không phải ở sự mô tả hiện thực mà ở
sự vượt qua. Có hai giọng nói trong bài thơ, giọng của người nữ trẻ và giọng của
người lớn tuổi, lập lại. Câu chuyện dẫn chúng ta đi qua hai thế giới cùng lúc:
thế giới của xúc cảm và của ngoái nhìn. Bài thơ hay nào cũng mời gọi sự đọc nhiều
lần, mỗi lần đọc mang cho người đọc kiến giải riêng. Điều này thoạt nhìn cũng tựa
như khái niệm đa nghĩa, nhưng thực ra chúng có khác nhau. Không phải bao giờ
tình yêu cũng chiến thắng số phận. Sự hoang mang, lo sợ, bồn chồn ám ảnh thường
trực. Cảm giác thua cuộc của tình yêu trước bão tố. Nhưng trong thơ chị, không
có niềm bi quan đắng chát, không có thua cuộc vĩnh viễn. Nỗi đau buồn nếu có
bao giờ cũng ngắn hơn cảm giác hồi phục. Một trong những thành công lớn nhất của
Xuân Quỳnh là trong khi vẫn thuộc về hệ thẩm mỹ của những năm sáu mươi và bảy
mươi, ở miền Bắc thời chiến tranh, và trong khi nặng về giọng xúc cảm, mà sự hồn
nhiên rõ ràng là một trong những gốc rễ, trong nhiều bài chị vẫn tránh được
tính cảm xúc quá đáng, tránh véo von khóc lóc. Thơ chị không ngại dùng tính từ
và trạng từ, nhưng cách dùng của chúng gọn gàng, chính xác.
Chẳng có gì để em nói về em
Em chỉ thấy em là người có lỗi
Em chỉ thấy em là người có lỗi
Đôi khi chị có một bài thơ rất buồn, và chị giữ cho giọng điệu
buồn bã ấy đến gần cuối, nhưng sự đau khổ vẫn không làm nó sụp đổ.
Lại bắt đầu từ những trang giấy trắng
Lại ngọn đèn, màu mực những câu thơ
Lại nhịp đập bắt đầu, tim rạo rực
Trước biết bao nao nức với mong chờ
Xuân Quỳnh hình như không có bất kỳ ý định nào trong việc làm mới thẩm mỹ và phương pháp nghệ thuật. Chị hoàn toàn thuộc về dòng văn học hiện thực thời ấy, nối dài sau năm 1975, với tất cả những ưu điểm và khuyết điểm của nó, nhưng trong một không gian không rộng lớn lắm, vừa đủ, cánh chim thơ ca vẫn bay lượn. Tiếng hót của nó đủ sức mê hoặc người đọc nhiều năm sau, vì tính chân thực. Chân thực không phải bao giờ cũng là đức tính của thơ ca, nhưng ở Xuân Quỳnh, điều ấy là yếu tố chủ đạo làm nên xúc động. Thật khó khăn để tách rời ngôn ngữ và xuất thân của một tác giả, để tách rời khuôn mặt dịu dàng khả ái và bàn tay thô ráp của chị, như được tả, để tách rời giá trị thơ ca và cái chết đau thương huyền thoại. Những giây phút tỉnh thức chiếu sáng trong thơ nhắc chúng ta nhớ về sự tồn tại của điều kiện khác, những người khác, như đối với thơ trữ tình là hoàn cảnh khách quan. Một tác phẩm văn chương bao giờ cũng có điểm nhìn rõ ràng, nhưng đó là điểm nhìn thay đổi, không cố định; chính sự thay đổi này làm nên tính chất cần đọc lại của tác phẩm. Tôi thiết nghĩ, thơ Xuân Quỳnh cần nhiều hơn nữa những khoảng im lặng. Những khoảng dừng.
Lại ngọn đèn, màu mực những câu thơ
Lại nhịp đập bắt đầu, tim rạo rực
Trước biết bao nao nức với mong chờ
Xuân Quỳnh hình như không có bất kỳ ý định nào trong việc làm mới thẩm mỹ và phương pháp nghệ thuật. Chị hoàn toàn thuộc về dòng văn học hiện thực thời ấy, nối dài sau năm 1975, với tất cả những ưu điểm và khuyết điểm của nó, nhưng trong một không gian không rộng lớn lắm, vừa đủ, cánh chim thơ ca vẫn bay lượn. Tiếng hót của nó đủ sức mê hoặc người đọc nhiều năm sau, vì tính chân thực. Chân thực không phải bao giờ cũng là đức tính của thơ ca, nhưng ở Xuân Quỳnh, điều ấy là yếu tố chủ đạo làm nên xúc động. Thật khó khăn để tách rời ngôn ngữ và xuất thân của một tác giả, để tách rời khuôn mặt dịu dàng khả ái và bàn tay thô ráp của chị, như được tả, để tách rời giá trị thơ ca và cái chết đau thương huyền thoại. Những giây phút tỉnh thức chiếu sáng trong thơ nhắc chúng ta nhớ về sự tồn tại của điều kiện khác, những người khác, như đối với thơ trữ tình là hoàn cảnh khách quan. Một tác phẩm văn chương bao giờ cũng có điểm nhìn rõ ràng, nhưng đó là điểm nhìn thay đổi, không cố định; chính sự thay đổi này làm nên tính chất cần đọc lại của tác phẩm. Tôi thiết nghĩ, thơ Xuân Quỳnh cần nhiều hơn nữa những khoảng im lặng. Những khoảng dừng.
Anh có nghe hoa rơi
Quanh chỗ mình đứng đó
Quanh chỗ mình đứng đó
Hai câu thơ giản dị, đẹp như haiku, mà vẫn đúng chất Xuân Quỳnh.
Tuy nhiên chị đã quên dừng lại, và vì vậy:
Hoa ơi sao chẳng nói
Anh ơi sao lặng thinh
Đốt lòng em câu hỏi:
"Yêu em nhiều không anh?"
Anh ơi sao lặng thinh
Đốt lòng em câu hỏi:
"Yêu em nhiều không anh?"
Chị trở nên nhiều lời và cũ.
Nguyễn Đức Tùng









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét