Căn nhà sau cửa biển
5. Mẹ qua đời vào một ngày cuối mùa hè trước giỗ đầu của cha. Căn bệnh tim ngày càng nguy kịch và nỗi thương nhớ con xa đã không giúp được mẹ nấn ná sống mà làm tròn bổn phận trước khi thanh thản theo chồng. Những ngày cuối đời, lúc tỉnh táo mẹ cầm tay Nữ kể chuyện con, chuyện rể, và tháng ngày gia đình đầm ấm trong ngôi nhà ở phố những năm về trước. Câu chuyện Nữ nghe nhiều lần đã thuộc nằm lòng, qua hơi sức tàn của mẹ nghe thất lạc mong manh như giữa một giấc chiêm bao khiến nàng ôm chầm lấy mẹ khóc ròng. Một lần mẹ đòi Nữ phải đỡ bà ra trước sân nhà. Đồi cát vọng chắn triều âm đã mấy mùa nắng cháy hạ vàng, âu sầu đông xám. Cát trải lòng im lìm qua cuộc biển dâu như hình ảnh câm nín mù lòa của thượng đế. Những đứa con của mẹ giờ này đang lưu lạc, sống chết phương nào? Từng dấu chân trên cát, khuya sớm đi về hằn sâu lối mòn định mệnh. Dấu chân nào của cha hụt hẫng thấp cao theo tiếng ho khan sau đêm biển sóng rạc rài. Dấu chân nào của đứa con lêu lổng, xác cha trên vai từng bước đoạn trường. Rồi đây sẽ chỉ còn dấu chân nhỏ nhoi đơn độc của Nữ trên cõi đời này. Mẹ nở nụ cười héo hắt khen con tốt nghiệp rồi thi đậu vào trường đào tạo giáo viên ở Hội An. Bà chép miệng thở dài.
- Anh Niên con vẫn chưa có tin tức từ nơi đày ải rừng thiêng nước độc. Ở đây một mình, đi học xa xôi quá. Con nên về nhà mình trong phố, đòi lại một phòng, ở đó đi học cho tiện. Chờ tới khi mô anh Niên con về hẵng hay.
Quắt quay với giây khắc ngắn ngủi còn sót lại, Nữ trân quí ôm mẹ muốn giữ chặt nhịp sống tàn hơi trong lồng ngực mẹ héo hon. Mẹ nhìn căn nhà mang đầy dấu vết của chồng con sau màn nước mắt, tay gầy vuốt tóc con xanh.
- Mẹ biết sức mình. Mẹ tin con có đủ nghị lực phấn đấu với đời. Thế nào cũng có ngày anh chị em lại sum họp dưới một mái nhà.
Đám tang mẹ lúc ngày vừa chớm. Bạn chài của cha vừa từ đêm khơi trở về, tóc áo còn lộng tanh mùi cá, họ lặng lẽ gánh áo quan giữa hai hàng xương rồng lối ra nghĩa trang nơi mẹ sẽ nằm cạnh cha suốt cả thiên thu. Nữ và gia đình cậu dì từ Quế Sơn bước sau quan tài khóc sụt sùi trong áo khăn sô. Đứa con gái mồ côi cha mẹ đứng bất động giữa hai hàng người thân. Mẹ nằm đó trong áo quan đóng chặt, chỉ tấc gang mà đã nghìn trùng. Chị Nhi, anh Dõng, anh Niên, các anh chị đang ở đâu? Sao lại nở bỏ em một mình ở lại. Mắt Nữ lệ mờ đăm nhìn về phía đầm sông đợi chờ một điều không thể. Nữ cảm thấy trời thật cao và mọi vật dường như bất động. Thời gian. Hơi thở. Mặt nước lặng lờ. Dì Chanh đến bên Nữ víu nhẹ vai cháu, trao cho nàng nhành bạch trang còn tươi lá. Nữ khóc òa lên lúc nhìn thấy cành hoa trắng trên nắp quan tài chìm dần dưới những nắm đất chôn kín đời người.
Buổi sáng sau ngày mở cửa mả, gia đình các cậu dì về lại Quế Sơn. Ngồi một mình trên bến đò thẫn thờ nhìn theo ghe người thân khuất dạng sau cù lao Thuận Tình, Nữ sợ đến điếng người khi cảm nhận ra mọi người đã bỏ đi và anh Niên đã thực sự không về.
Dáng anh Niên ngồi buồn dưới hiên nhà, bóng anh đơn độc chèo đò qua sông buổi sớm bỏ nhà ra đi, và hình ảnh xác xơ của anh trong trại tạm giam ở Chân Mây vì tội vượt biên mãi rõ nét trong trí nhớ Nữ.
Chẳng bao lâu sau cái Tết đầu tiên xa nhà, anh Niên phải sống lang thang ở Đà Nẵng, thì mẹ và Nữ hay tin anh vượt biên thất bại. Nữ theo mẹ lặn lội đi xe đò qua đèo Hải Vân ra tận Lăng Cô rồi Chân Mây tìm thăm con trai. Trong cảnh hỗn loạn, nạt nộ, khóc than, chờ chực, mẹ bật khóc khi thấy công an dẫn anh Niên ra phòng thăm nuôi. Khuôn mặt anh bơ phờ, vài vết bầm tím trên gò má trông anh càng tội nghiệp. Suốt nửa giờ thăm viếng, anh Niên luôn vỗ về an ủi mẹ. Nữ trao giỏ thức ăn, áo quần, thuốc men cho người công an khám xét trong lúc mẹ thăn thỉ thăm hỏi con trai. Nhà nước đã “khoan hồng” để anh Niên thay vì bị tù tội đã được “tình nguyện” theo đoàn lao động đi thâu hoạch quế trầm cho nhà nước. Đoàn sẽ khởi hành trong vài ngày tới. Người công an hất hàm ra dấu cho anh Niên nhận giỏ quà đã khám xong, rồi chỉ tay ra cửa nói với mẹ bằng thứ âm giọng miền ngoài khó nghe.
Mẹ già nước mắt lưng tròng bịn rịn từ giã con trai mắt cũng đỏ hoe. Niên thương mến nhìn em gái, cầm tay kín đáo trao cho Nữ mảnh giấy xếp nhỏ. Đó là lần cuối cùng Nữ còn nhìn thấy nét tinh anh trong mắt Niên, buổi chiều cuối cùng không lâu trước khi anh Niên của Nữ bị quăng ngược vào u mê của rừng rú.
Lúc hai mẹ con ra khỏi trại giam thì trời đã cuối chiều, chuyến xe đò sau cùng về Đà Nẵng - Ngã Ba Đi Huế đã chạy khỏi từ lâu. Đang lo lắng tìm nơi tá túc qua đêm thì một người đàn bà trẻ hấp tấp dựng xe đạp vồn vã chào hỏi. Nữ mừng rỡ gặp được người quen ở nơi xa lạ, reo vui.
- Chị Vê ở bệnh viện Hội An, vẫn thường đến nhà mình với anh Đức ở cùng giang đoàn với anh Dõng, mẹ nhớ không?
- Mẹ nhớ chớ! Cậu Đức, cậu Toản, cậu Hoát, cậu Lương sáng nào mà không sắp hàng ở bệnh viện chờ cô Vê, cô Mai y tá thử máu cho.
- Bác nhớ đúng nhưng nhìn không ra cháu vì mới có mấy năm mà cháu đã già đi quá nhiều phải không bác? Chị Vê nhìn mẹ nói đùa rồi tỏ vẻ quan tâm. Bác có thường không, nhìn bác xanh và ốm lắm.
- Ôi thôi, già rồi ai mà không ốm.
Chị Vê ân cần mời mẹ và Nữ về nhà, vừa đi vừa thăm hỏi chuyện nhà. Sau việc hôn nhân không thành, anh Đức buồn xin thuyên chuyển đi tàu biển. Vì tự ái, chị Vê cũng xin đổi bệnh viện ra Đà Nẵng mà không cho anh hay chị đã có thai. Sau bảy lăm, chị Vê đưa con trai về sống ở vùng đất nhỏ này cho tới bây giờ. Cháu Thiếu Anh đã hơn bốn tuổi rồi, giống anh Đức như khuôn. Nữ nhìn ánh mắt chị Vê, thương cảm bồi hồi nhớ lại những lần thấy đôi tình nhân đến nhà thăm anh chị mình.
- Giống anh Đức như vậy chắc Thiếu Anh “beau” lắm hả chị?
- Đẹp trai cho lắm chỉ thêm khổ con gái người ta thôi em ơi. Rồi chị đùa. Em được khổ chưa!?
Ngôi nhà nhỏ của mẹ con chị Vê ở cuối xóm, nghe được tiếng sóng biển. Trên tường tấm hình nhỏ đôi tình nhân chụp ngày còn ở Hội An quây quần với nhiều hình của cháu bé từ lúc nằm nôi. Cơm nước xong, bé Thiếu Anh liến thoắng dẫn đường cả nhà ra bãi biển. Nhìn chị Vê cùng con nô đùa với sóng, tiếng cười trẻ thơ rộn trong tiếng rạt rào của biển, Nữ biết chị đang sống hạnh phúc và cảm thấy vui lây. Nàng ôm tay mẹ, nhìn những ánh đèn chài chụm đầu vào nhau trên mặt biển.
Đêm biển mùa xuân gió thổi mát lạnh. Chị Vê dẫn con ngồi xuống bên mẹ. Bà ngồi im lặng, thỉnh thoảng lại buông tiếng thở dài.
- Bác yên tâm. Ngày mai cháu vào trại giam khám bệnh sẽ mang thêm vào cho Niên thuốc sốt rét và một ít thuốc kháng sinh. Ở đây cháu được tiếng là “bác sĩ” kiêm bà mụ, cấp cứu, đủ thứ... Chị Vê cười. Chẳng còn ai ngoài O y tá “chột” ni.
Chị Vê chỉ tay về phía núi thoáng mờ trong bóng đêm.
- Túy Vân phía đó. Đi ngược lên xa nữa là Nam Đông, A Sau, A Lưới... Họ làm ăn dữ lắm. Tù vượt biên, tù tệ nạn xã hội, thay vì giam tốn cơm họ bắt “tình nguyện” đi tuốt vô trong núi xa, có khi qua tận Lào, tìm trầm đốn quế về cho mấy hợp tác xã, công ty quốc doanh. Tới khi nào đạt chỉ tiêu qui hoạch thì cho về.
Đêm hôm đó, trong căn nhà nhỏ bên bờ nước Chân Mây có thêm người mất ngủ, lăn trở thở dài. Lạ nhà không ngủ được, nửa đêm Nữ thức dậy rót nước cho mẹ thì thấy chị Vê đang đứng dưới hiên nhà nhìn trời khuya.
- Ở nhà em có nhận được tin tức chi của vợ chồng chị Nhi em chưa? Không biết họ bây giờ lưu lạc xứ nào?
Chị Vê hỏi Nữ rồi thở dài tâm sự. Gặp bác và em chiều nay lay dậy trong lòng chị cảm giác từ lâu lắm chị tưởng đã an bài. Không biết anh Đức bây giờ đang ở đâu? Định mệnh. Hạnh phúc. Khổ đau. Phải chi mà mình sống yên được với nó, cho dù vui hay buồn. Có một thời, lâu lắm rồi, chị tưởng chẳng thể nào tìm được hạnh phúc giữa nhớ thương, oan ức, khóc ròng... rứa mà thiệt lạ... trong cõi sâu thẳm nhất của khổ đau chỉ một thai động, một mấp máy môi cười đã giúp chị vượt qua tất cả, “chấp hết” và sống thương đời. Có lần trong một giấc chiêm bao chị đứng nhìn anh Đức và gia đình đang nô đùa hạnh phúc trên ngọn đồi hoa vàng rực rỡ. Tỉnh ra chị ẵm con nhìn tấm hình cũ của hai đứa mà lòng thật bình an. Tình yêu của chị về anh vẫn đằm thắm như thuở nào. Em biết không? Chỉ là định mệnh mà thôi...
Khuya lắng sâu theo tiếng sóng rạt rào. Hai chi em đứng yên lặng hồi lâu. Hình như có tiếng Thiếu Anh cười trong giấc ngủ trẻ thơ. Chị Vê quay nhìn hỏi Nữ rồi tự trả lời.
- Có chi khác nhau giữa sống thương đời và nghị lực, em biết không? Đó là khi Thiếu Anh khóc hay cười, mà cu cậu thì khóc cười tùy “tình hình” nên mình luôn phải có sẵn cả hai để đối phó.
Nữ chợt nhớ ra tiếng cười “pha lê vỡ” của chị Vê vẫn như ngày xưa.
Chiếc xe đò chạy than cuối cùng rồi cũng uể oải lăn bánh về phía đèo Hải Vân. Mẹ và Nữ cùng nhoài người ra cửa xe vẫy chào. Cháu Thiếu Anh ngồi sau lưng mẹ trên xe đạp, miệng cười tay vẫy thật dễ thương.
Xe vất vả trèo lên đèo dốc ngoằn ngoèo. Nữ mải mê nhìn mây núi quên cả thời gian, xe lên đến đỉnh đèo lúc nào không hay. Nữ nhớ lại lần đầu tiên theo chị Nhi ra Huế, lòng say sưa cảm giác lâng lâng lúc nhìn mây nước quyện nhau từ chốn lưng trời. Nàng thích thú lạ kỳ tưởng mình đang đứng trên mây nhìn xuống vịnh biển mờ sương khói. Giữa tiếng gió trời nồng nàn kỷ niệm, lòng chợt tạm quên đi tiếc nhớ sầu đau để chỉ còn nghe nhịp đập của tim và tiếng lòng anh chị Dõng Nhi trao nhau qua những dòng thơ Nữ đã thuộc nằm lòng.
Tôi về ngậm ngải tìm mơ
Trầm em hương vọng cuối bờ thơ ngây
Bóng tà huy đọng mây ngàn
Đèo xa quán lú sương bàng hoàng rơi
Này em nhấc chén sầu khơi
Tóc phai màu trách chi lời phân vân
Mắt như lá mộng mây gần
Chiều heo hút núi chập chờn thanh xuân.
Trời hay mưa vào những buổi chiều hè sót muộn này. Mưa từ biển về. Nhóm đàn bà ngồi đan lưới dưới bóng dừa xóm Thuận Tình nhốn nháo dọn dẹp lưới thúng vào dưới hàng hiên nhà hợp tác rồi ngồi ngóng mưa qua. Màn nước trắng lịm cửa biển, phủ mờ xóm chài trên đồi cát rồi lan dần lên mặt sông. Lúc mưa rớt giọt rào rào trên mái tranh thì đầm sông ngoài kia đã mênh mông một màu trắng xóa. Có lần mưa chợt tới giữa lúc Nữ chèo ghe về nhà sau buổi làm. Một mình trong bao la mưa, chỉ còn lại con đò dập dềnh theo nước quyện vây quanh. Nàng vô cùng sợ hãi và cảm thấy đơn độc đến tuyệt lòng. Nhưng rồi bỗng dưng trong một chợt thoắt sát na, Nữ bình tĩnh lạ lùng buông xuôi tay chèo nằm nhắm mắt bất động trong lòng con đò nhỏ. Nàng hồ như nhẹ nhàng theo dòng nước, mơ màng theo mưa bay qua năm tháng, tình thâm, buồn phiền hệ lụy. Muôn vàn mưa rơi xuống châu thân nàng gõ nhịp bồi hồi, phải chăng cho lần chung cuộc trở về hay đẩy đưa Nữ thơ dại trôi xuôi vào vùng thinh sắc ảnh hình êm đềm kỉ niệm. Tiếng cười hiền của mẹ, tiếng nô đùa của anh chị trong rộn rã vườn trăng, và bóng dáng cha đứng dưới buồm căng buổi sớm thuyền về nặng lòng cá quẩy, cuối cùng đã kéo Nữ ra khỏi giấc mê. Mưa đã tạnh tự lúc nào. Nữ vuốt mặt, trấn tĩnh, chèo đò vào bến. Triền cát ngấm mưa xa lắc ngã về nhà. Người khô rốc trong mệt lả nghi nan, nàng bấu từng bước chân mình lên cát ướt, vừa bước đi vừa khóc một mình.
Hoa sim quanh mộ phần cha mẹ dại tím buổi chiều sau cơn mưa. Khói hương bay lãng đãng trong ngày tàn. Vạt nắng xế nghiêng qua hiên nhà quạnh quẽ, mái lá im lìm. Đầm sông lặng lờ, phân vân níu lại dòng nước đang trôi xuôi ra biển. Nữ nhìn quanh cảnh sắc quen thuộc buồn thiu rồi dõi mắt ngược sông Thu về phố, lòng phân vân tháng ngày sắp tới.
Nữ về lại nhà ở Hội An nhưng mãi sau gần hai tuần mới dọn vào phòng cũ của mình được. Buổi chiều trước ngày khai giảng, nàng theo ghe chài quen về bến chợ. Nữ hàm ơn quay chào người hàng xóm tốt bụng đã bỏ ghe xách giúp túi gạo bobo tiêu chuẩn nàng lãnh từ hợp tác xã đến nhà. Nàng tần ngần đứng lại trước cổng nhà thân yêu, cánh cửa khép hờ cũ kỹ màu sơn dưới giàn bông giấy lơ thơ hoa đỏ cuối mùa. Nữ tay xách vai mang, chân bước qua ánh mắt nhìn chẳng mấy thiện cảm của vợ chồng người bác họ. Chưa kịp trấn tĩnh cơn xúc động trở về, Nữ đã hốt hoảng hét lên khi nhìn vào căn phòng cũ của mình qua cửa sổ mở toang. Cửa ra vào bị khóa chặt, mấy tấm gỗ đóng nghiêng xéo làm đà chắn bên ngoài trông càng cáu bẩn. Gian phòng đã trở thành chuồng nuôi heo.
Nữ ngồi phệt xuống hiên nhà giữa đống áo quấn, sách vở, gạo mắm. Nước mắt ràn rụa, nàng nhìn về phía người đàn ông, căm hận đến không thể nói lên lời. Ông ngồi chò hõ kiểu nước lụt trên sân gạch. Khói thuốc mờ mịt trào ra từ cặp môi xám xịt, mấy ngón tay xương xẩu đen đúa của người cán bộ huyện đội di di mẫu thuốc tàn dưới chiếc dép lốp.
- Cô này lạc hậu quá. Tăng gia sản xuất để cải thiện mà cô không nhất trí thì là thế nào? Bảo cho mà biết nhé. Đợt thứ ba này lớn lên, bán xong là có tiền mua xe động cơ rồi đấy.
Giọng Quảng Nam pha lợ miền ngoài của người bà con tập kết càng làm Nữ chói tai, cáu giận thêm. Chẳng nói chẳng rằng, Nữ bặm môi xắn áo dùng khúc củi lớn phá sập tấm vách chắn, mở cửa lôi xềnh xệch hai chú heo con ra cột ở góc vườn. Người vợ lồng lên xỉa xói.
- Con Ngụy non chết tiệt kia. Mày khôn hồn thì xéo ra khỏi nhà bà.
Còn hiểu chút thiệt hơn khi nhìn vào ánh mắt uất hờn như tóe lửa của đứa cháu họ, người đàn ông chột dạ kéo vợ ra phía nhà trước. Suốt chiều hôm đó cho đến khi tối mịt, Nữ luôn tay xách nước giội rửa từ vách tới sàn mới chỉ bớt đi một phần sự dơ bẩn tích lũy từ mấy năm qua. Đứng bên thành giếng trong vườn đêm chớm thu rười rượi, nhìn ánh đèn dầu le lói trên bệ cửa sổ thấp thoáng sau nhành vú sữa la đà, lòng Nữ nguôi ngoai. Nàng nhắm mắt lắng nghe mình trở về với những ngày ấu thơ yên ả.
Cả tuần lễ, sau buổi học Nữ vội về nhà bỏ thì giờ tâm sức cạo chùi từng phân vuông căn phòng. Sau đó nàng đến chào thăm gia đình người bạn của cha mẹ và hỏi nhờ tìm cách mua vôi màu để quét lại căn phòng đã dọn sạch sẽ. Bà mẹ ôm Nữ vào lòng, thương cảm đứa con người bạn vắn số của mình, chỉ mới vài tuần sau ngày mẹ mất mà đã hao gầy thấy rõ. Hai người, một già một trẻ, ngồi hàn huyên chuyện nhà quên cả thời gian. Người con lớn của bà cũng là sĩ quan hải quân. Những ngày tháng Tư năm bảy lăm, anh Mẫn đang phục vụ trên tàu biển đã theo chiến hạm đi nước ngoài từ Sài Gòn, đến nay vẫn chưa có thơ tin như anh chị Dõng Nhi của Nữ. Người con kế là sĩ quan bộ binh, hiện đang ở tù cải tạo trên vùng núi Tiên Lãnh. Cũng như mẹ của Nữ lúc sinh thời và hàng trăm ngàn bà mẹ khác trên toàn Miền Nam, từ mấy năm nay bà vẫn ngày đêm mỏi mòn trông nhớ con xa và cặm cụi bới xách cho con gần trong vòng tù tội.
Nữ khệ nệ ôm thùng sơn lớn trên tay, háo hức rảo bước về nhà. Bà mẹ đã sốt sắng lục tìm cho nàng thùng sơn gia đình cất giữ từ lâu nhưng vẫn còn dùng được. Bà còn hứa sẽ xin cho Nữ một chân trong hợp tác xã làm đèn lồng nơi bà là xã viên.
Một buổi chiều ở trường về, Nữ thấy những mảnh rời của chiếc giường cũ được ai đó dựng ngay ngắn phía ngoài vách cửa. Nữ đã lục tìm mấy hôm nay hầu như khắp nơi trong nhà mà chẳng thấy đâu. Nàng nhìn về phía gian phòng lớn luôn đóng kín của vợ chồng người bác họ rồi tặc lưỡi lắc đầu. Họ trả lại cho mình là được rồi, hơi sức đâu mà nghĩ cho mệt. Người đàn bà trao cho Nữ một bóng điện tròn cũ sau khi nàng bằng lòng trả tiền điện mỗi tháng. Loay hoay suốt buổi chiều cho đến sập tối rồi Nữ cũng mang được giường vào phòng và ráp lại theo đúng khuôn chiều. Nàng trải chiếc chiếu mang theo từ nhà ở Xuyên Thọ lên giường đặt ngay ngắn ở góc phòng. Nữ nằm yên thật lâu trong mùi chiếu gối thân quen, lún sâu vào cảm giác ấm cúng trở về căn phòng tràn đầy kỷ niệm. Tiếng chuông xe đạp leng keng vào cuối giấc mơ kéo Nữ ra khỏi cơn mộng mị đầu đêm. Nàng biếng lười với tay kéo sợi dây công tắc. Ánh đèn bật lên vàng tươi căn phòng còn thơm mới mùi sơn làm Nữ bật rộ tiếng reo vui. Sợi dây gai từ bóng điện trần nhà treo dài đong đưa khiến nàng nhớ tới bầy khỉ nhỏ bằng nhựa mềm anh Dõng cho đu tòng ten trên sợi dây dù màu ô liu. Màu lân tinh ngũ sắc rạng lên mỗi lần Nữ tắt đèn phòng. Sợi dây quá khứ vui vầy hóm hỉnh đã thất lạc vắng xa. Nữ vùng dậy xếp dọn, tới lui tắm gội trong ánh sáng như nắng vàng đã thiếu vắng từ lâu.
Cuộc sống của Nữ dần ổn định theo với bận rộn ở trường và công việc ở hợp tác xã sau giờ học. Một tháng vài lần khi có giờ rảnh Nữ thường theo ghe cá về nhà, ở lại qua đêm, quét dọn thăm nom bàn thờ phần mộ mẹ cha. Nữ là đứa con chung của xóm chài sau cửa biển. Vừa thấy bóng chị Nữ trên ghe từ phố về là bầy trẻ đã líu lo chạy bừa theo dốc cát xuống bến đón nàng. Các bà mẹ xóm chài thương cô gái côi cút mà nghị lực trùm bồ cho từng con khô, con mực mỗi khi Nữ về lại phố. Đứng với họ trên dốc cát chờ ghe về vào những buổi sớm sương còn vương trên lau lách, nhìn vào từng ánh mắt vọng phu đẫm đọng đợi chờ, lòng Nữ lại rưng rưng nỗi nhớ mẹ cha anh chị.
Tết năm đó, lần đầu tiên Nữ được về quê ngoại Quế Sơn. Nàng say sưa nhìn cảnh vật ven sông trong suốt chuyến đò ngược dòng Thu Bồn rồi hiểu ra vì sao anh Niên luôn nhắc tới cảnh quê. Những ngày đầu năm đoàn tụ với gia đình cậu dì trong lòng quê ngoại hiền hòa thân thuộc giúp Nữ quên đi phần nào cuộc sống cô quạnh của mình. Cậu Chấn hỏi chuyện học hành rồi nhìn đứa cháu mồ côi pha trò.
- Người ta học Nga văn, Hoa văn. Còn mi lại học tiếng Mỹ, đúng là còn muốn ôm chân đế quốc mà.
Ông cười ha hả sau câu nói bông đùa. Cậu Chấn là giáo sư Pháp văn, bị “mất dạy” từ mấy năm nay, về lại quê làm ruộng, may mà không bị bắt đi cải tạo.
- Tại họ chê không ai xin thi tuyển vào lớp này, nếu không thì làm gì tới phiên con, lí lịch trích dọc trích ngang lem nhem từ trên xuống dưới từ trái qua phải... Cũng nhờ sách vở Anh văn của chị Nhi con còn cất giữ, học theo mấy năm nay nên vào lớp cũng dễ dàng. Giáo viên phó tiến sĩ dạy Anh văn của cháu tốt nghiệp tận Hà Nội nên dạy dỗ trật trúng tùy đối tượng.
Cậu Chấn vuốt tóc cháu.
- Thôi ráng đi con. Ráng mà học cho đỡ cái thân.
Chuyến đò xuôi Thu Bồn về Hội An, Nữ gói ghém theo tình thương quê ngoại cậu dì chòm xóm qua vị ngọt của mít, của bòn bon mãi còn đậm đà trong trí nhớ và một xách đầy dưa mắm sắn khoai. Nữ nghĩ tới tiếng cười của dì Chanh, cậu Chấn trên cầu Chợ Đụn, của mẹ con chị Vê trên bãi sóng Chân Mây. Tiếng cười của người sống thương đời với nghị lực sẵn lòng.
Cô gái miền Nam ở trọ trong chính ngôi nhà của mình. Nàng sống bình thản trong một thế giới riêng ngập tràn kỉ niệm, chẳng màn chi tới sự xoi bói của vợ chồng người bác họ. Từ khung cửa sổ rộng mở đến khoanh giếng khơi cuối vườn là khoảng cách an nhiên nàng tự tại bước chân, một thứ đường ranh cấm kỵ cho dù ganh tức vợ chồng gã chủ nhà biển lận cũng đành phải chấp nhận. Bếp lửa nhỏ cuối ngày bập bùng dưới hiên nhà thơm lừng mùi tôm cá ngoài tiêu chuẩn. Tiếng gàu nước lanh canh thành giếng tròn căng ánh mắt rình rập thèm muốn ghen tương. Áo mỏng mường tượng dáng xuân sung mãn bước qua vườn đêm còn đọng giọt giếng khơi làm lay động ánh trăng xuyên qua tàng cây vú sữa.
- Tướng này mắn con tợn đấy. Lấy que thọc vào cũng đẻ thôi.
Tiếng thuốc lào rít lên lúc giọng mụ đàn bà cũng rít qua kẽ răng.
- Ối giời! Cái ngữ đàn bà con gái tiểu tư sản, tắm táp mà cũng mân mê cả giờ.
Rồi như chạm phải nọc, người đàn bà the thé lên.
- Giá mà của ông cán bộ cũng được như cái que đó thì bây giờ gái già này cũng được vài mụn con với người ta... Thế mà cứ tưởng mình là “đỉnh cao”, cứ thấy nồn là mắt sáng tít lên. Rõ tội, chẳng bao giờ vào được tới thủ đô. Để cho gà đéo còn sướng hơn.
Mặc cho mụ vợ xỉa xói, người đàn ông bỏ vào nhà trong. Gã ực một ly rượu thuốc cho dễ ngủ, nằm mơ màng. Mấy chục năm trước, thời chín năm, bước vào tuổi thanh niên gã sớm bỏ làng quê Đại Lộc theo Việt Minh kháng chiến chống Pháp. Thời cuộc đẩy đưa, năm năm tư gã tập kết ra Bắc được Đảng chỉ định cho làm cán bộ một hợp tác xã nông nghiệp vùng Bùi Chu Phát Diệm nơi phần lớn giáo dân đã di cư vào Nam. Vài năm sau, Đảng bố trí cho đi B vào chiến trường miền Nam, vùng Tây Bắc Thừa Thiên. Trung đoàn của gã gần như tan rã trong vụ tổng công kích tết Mậu Thân, lần về tạm chiếm cố đô Huế hai mươi mấy ngày. Gã may mắn chỉ bị thương nhẹ theo tàn quân trở ra Bắc đóng tại một vùng hẻo lánh thuộc tỉnh Hà Nam Ninh. Không lâu sau đó, Đảng lại bố trí cho gã lập gia đình, vợ gã bây giờ. Cô gái lở thì làm hậu cần hợp tác xã ngày đó hãnh diện lấy chồng là chiến sĩ đi B về, già hơn cả giáp. Sau tháng Ba bảy lăm, người đàn ông đem vợ hồi kết về quê cũ. Toàn miến Nam là chiến lợi phẩm của người chiến thắng. Họ cũng được chia phần, ăn trên ngồi trốc. Người vợ trình độ lớp ba hiện làm trưởng một cửa hàng mậu dịch quốc doanh - tiệm tạp hóa của mẹ Nữ ngày trước.
Một đêm tối trời sắp cuối niên học đầu, sau buổi làm việc ở hợp tác xã về, Nữ mệt mỏi thiếp đi lúc nào không hay. Đang lúc ngủ say, Nữ chợt thức giấc vì sức nặng đè trĩu lên người. Mùi hôi thối từ lỗ miệng của gã cán bộ khiến nàng muốn ngạt thở. Trong một hồi lâu Nữ dùng hết sức lực xô đạp, cố gắng ghì giữ áo quần đang bị bàn tay thô bạo của gã xé toạc. Trong kinh hoàng vô vọng, máu bật vành môi, Nữ khép chặt kín đôi chân, trì kéo đến trâng cứng tê dại từng sợi cơ đường máu thần kinh. Bóng tối rớt chụp xuống, phủ trùm cơn mộng buổi thanh tân sắp rã tan tành theo từng giọt nước mắt cuối chờ lăn... Bỗng dưng Nữ cảm thấy toàn thân mình nhẹ hẫng. Gã cán bộ bật rủ ra như xác vô tri nằm phủ phục dưới chân giường. Nữ hoàn hồn bật khóc, vơ vội bộ áo quần xếp ở góc phòng chạy ào ra phía giếng khơi cuối vườn. Từng gàu nước nối tiếp nhau dội tràn lên thân thể cô gái, gột rửa cho hết tanh hôi. Tiếng lanh canh của gàu va vào thành giếng giúp nàng dần dần lấy lại bình tĩnh. Trong bóng đêm Nữ vuốt ve thân thể mình trắng tinh. Nước đã rửa sạch hết vết dơ bất lực của gã đàn ông trên người.
Nàng lắc đầu khinh bỉ nhìn ánh đóm thuốc lào rực ngún lên phía hiên nhà nơi vợ chồng gã cán bộ đang ngồi chưởi bới nhau tục tằn. Tiếng gã phân bua sau cơn ho sặc sụa.
- Lũ Ngụy non này, chúng ăn gì mà mạnh thế. Chân thì cứ to cứng như cột đình.
Người đàn bà lên giọng chanh chua, nửa đồng lõa nửa hăm dọa ghen tương.
- Thằn lằn leo cột đình thì nó thế đấy. Hiếp dâm mà ông cán bộ cũng không đủ sức làm, còn leo lẻo thế này thế nọ, thật không biết thẹn. Làm thế chỉ tổ cho nó khinh thêm. Bà bảo cho một lần cuối nhé. Có nổi cơn thì bảo bà, bà chịu thế quen rồi. Đi linh tinh đã chẳng đến đâu lại có ngày mất cả cơ nghiệp đấy.
Nữ ngước mặt nhìn trời, hít sâu vào lồng ngực làn không khí mát lạnh của đêm. Chân bước chậm qua vườn khuya, lòng Nữ nghĩ về một cơn mơ rất cũ.
7. Từ nhà giáo viên tập thể nhìn qua bên kia con lộ, ngôi trường thấp nhoài nằm im lìm trên bãi đất bẩn màu cát pha. Sân trường lơ thơ mấy cây bàng mới lớn hiếm hoi lá. Hai bên hông trường là nơi canh tác lao động xã hội chủ nghĩa của học trò sau giờ học, khoảng đất vụng về những vồng lang đắp không thẳng hàng, lá dây còi cọc vì thiếu nước.
Chiều cuối tuần. Học trò, giáo viên đã vội vã ra về để lại dãy lớp trống nằm trơ trọi tiêu điều trong khoảng không đứng gió buồn bã. Tất cả dường như đều bất động ngoại trừ lá cờ dựng trên cổng trường còn chút mấp máy đong đưa. Màu đỏ bạc của lá cờ phủ hờ lên bảng tên trường có lẽ được sơn kẻ bằng một người nào đó không có hoa tay. Nữ chợt nhận ra nàng đang đứng dưới một chiếc cổng tương tự, nhỏ và vụng về hơn. Ngày đầu tiên đứng từ hiên lớp nhìn về ngôi nhà trọ tập thể, màu đỏ của bảng gỗ có hàng chữ “Nhà Giáo Viên Tập Thể” treo chệch chỏi giữa hàng tre xanh mát đong đưa trông xa cách và chướng mắt. Một thứ văn hóa mới. Con người dắt xe đạp, đeo đài bán dẫn bên hông, vào ra bên dưới những chiếc cổng sơn đỏ, tự hào và yên bụng. Nữ đã tự hỏi có phải rồi đây nàng cũng sẽ vào ra dưới một chiếc cổng như thế - tay trơn và lòng buồn.
Nắng chiều thả bóng tre nghiêng nằm trên sân trước ngôi nhà lát gạch lác đác rêu đọng. Nữ bước qua sân, đứng tựa lưng vào thân cau, trầm ngâm nhìn chiếc bể cạn đã khô nước có non bộ đắp dựng công phu. Chủ nhân của hòn non bộ, ông giáo Thông, qua đời đã gần hai năm sau khi cải tạo về. Ngôi mộ xây ở cuối vườn lúc nào cũng đắp đổi khói hương. Nàng nhìn dáng lom khom nhẫn nhục của người đàn bà đang tưới rau giữa tiếng nói cười rôm rả ồn ào của nhóm giáo viên nữ đang tắm giặt quanh giếng. Nữ quay quắt nhớ tới ngôi nhà của cha mẹ ở Hội An cùng lúc với mặc cảm đồng lõa phạm tội len lén trong lòng. Nàng cũng là một trong những người đang ngang nhiên chiếm ngụ nhà của người đàn bà neo đơn kia khiến bà phải dời bàn thờ chồng xuống khu nhà ngang nhỏ bé. Bây giờ, giữa hai thân cột gỗ mít ở gian chính của nhà trên giăng ngang sợi dây kẽm máng treo bề bộn áo quần phụ nữ.
Bà giáo Thông xách giỏ rau vừa cắt, nước nhỏ rây trên sân gạch theo từng bước chân. Bà dừng lại trước mặt cô gái bà có cảm tình ngay từ ngày đầu dọn vào tổ giáo viên. Những ngày sau đó họ chẳng ngại ngần tâm sự chuyện nhà sau khi biết được cảnh đời của nhau.
- Nhìn cháu là biết lại một tuần nữa không về thăm nhà được rồi. Bốn năm tuần rồi còn chi?
Nữ phụng phịu nhìn ra con lộ thấp thoáng sau hàng tre vương bóng nắng.
- Dạ, tuần thứ năm rồi cô.
Người đàn bà tươi cười nhìn cô giáo trẻ.
- Có muốn đi chợ Hà Lam với tui không?
Mắt Nữ sáng lên.
- Dạ đi. Cháu muốn biết ngã về Bình Triều để tuần tới đón ghe Trường Giang về nhà. Ngã quốc lộ thì cháu có biết hôm đi xe đò từ Hội An về và tuần trước khi dì Chanh của cháu trên Quế Sơn gởi nhờ người quen ở bến xe cho cháu bịch mắm dưa.
Bà Thông nhìn về phía bờ giếng.
- Bịch mắm còn không? Thấy Nữ cười mím lắc đầu, bà tiếp lời. Không phải là mình ích kỷ, nhưng nếu có được chút chi riêng tư thì cháu nên giữ lấy cho mình. Bỏ ra đó họ a vô một hồi là hết sạch mà chẳng nghe được một tiếng biết ơn. Bà cười lớn. Bỏ mùng xuống, ngồi trong nớ mà ăn!
Nữ giành ôm giúp rổ trứng trong tay bà Thông lúc hai người bước ra cổng.
- Ngày mô cũng dòm chừng mới gom được chừng ni trứng. Hai con gà mái rạ vô ổ đẻ đàng hoàng còn hai con đẻ lứa đầu thì bạ mô són đó, báo hại đi tìm muốn chết. Bà chép miệng. Rứa mà có đứa ăn chùng không chùi mép. Cách đây mấy ngày, tui thấy vỏ trứng vãi trắng trên vồng lang sau nha... Mùa mưa bão gần tới rồi, lấy trứng đổi cá khô dành dụm cho mấy ngày không chợ.
Dáng đi của bà Thông vẫn còn đọng nét những ngày thư thả cũ. Nữ nhìn bà rồi nghĩ lại cảnh đời mình. Cả hai đều đơn độc, chung nỗi buồn thương và niềm hi vọng như nhau.
Cô gái chưa qua tuổi hai mươi, cha mẹ mất sớm, anh chị vắng xa. Người góa phụ sáu mươi, chồng chết, đứa con gái độc nhất lưu lạc với chồng con phương người. Ai buồn hơn ai? Hay phải chăng hai nỗi buồn đang dựa nương nhau, sớt nhẹ đi những mối nặng lòng. Những sớm mơi thức dậy, ngồi với bà Thông bên bếp lửa chờ nước pha trà, lòng Nữ được an ủi nhiều qua từng câu chuyện nhà hay lời khuyên bảo ân cần.
- Cháu có tin tức chi mới về cậu Niên anh cháu không?
- Dạ chưa. Mới đây cậu Chấn của cháu nhắn cho hay vẫn gắng tìm mà chưa có gì rõ ràng. Chỉ là nghe nói anh Niên đã được chuyển qua diện Thanh Niên Xung Phong, lao động đâu đó sâu tận miệt biên giới Hạ Lào. Con lo nhất là đã hơn một năm mà vẫn không một trang thư nhắn của anh ấy.
Người đàn bà an ủi cô gái.
- Chắc là không sao đâu cháu. Cậu đó thanh niên khỏe mạnh, một thân một mình không phải lo cho ai khác, lâu lắm là trong vòng một năm nữa thế nào anh cháu cũng về. Coi vậy mà thời gian qua nhanh lắm. Có điều chờ đợi thì bao giờ cũng lâu. Ông nhà tui ở tù ba năm, tội làm đảng viên Quốc Dân Đảng phản động. Tui chờ tưởng mỏi mòn, rứa mà ông cũng về. Về để rồi uất ức nhìn cảnh đời đứt tim mà chết... Rứa còn địa chỉ anh chị ở ngoại quốc, cháu đã nhận được chưa?...Tổ cha cái đồ rừng rú, không một chút văn minh giáo dục. Thư riêng của người ta mà tự tiện giấu diếm thủ tiêu.
Nữ nhìn bà Thông lắc đầu cười khi nghe bà lại nổi cơn tức, lên tiếng chưởi rủa chuyện vợ chồng người bác họ đã xé quăng không báo cho Nữ biết thư chị Nhi gởi về từ Mỹ.
- Đó là lí do cháu nôn nóng về Hội An mà cứ phải chôn chân ở đây. Hi vọng tuần tới về sẽ có thư.
Trên con đường vắng tới chợ Hà Lam, hai người đàn bà đi bên nhau trò chuyện quên cả đường xa. Phiền hà chưa nguôi trong lòng Nữ, chiều nay có dịp thổ lộ với người thân.
Một buổi sáng không lâu sau ngày tốt nghiệp, như thường lệ Nữ vừa đạp xe bốn năm cây số từ Thuận Tình tới hợp tác xã làm việc thì bà bạn của mẹ kín đáo cho hay tin mừng mà gia đình vẫn thấp thỏm đợi chờ từ mấy năm qua. Bà nhận được thư con trai cho biết tin tức sinh hoạt về gia đình. Anh Mẫn đã lập gia đình và có cháu trai đầu lòng. Nhận được hồi âm từ gia đình anh sẽ gởi hình giới thiệu con dâu và cháu về cho bà nội. Trong thư anh Mẫn còn cho hay đã gặp gia đình vợ chồng chị Nhi anh Dõng, đã có hai con, một trai một gái. Họ định cư cùng một tiểu bang ở miền Bắc nước Mỹ. Chị Nhi nhắn đã gởi thư vài lần về địa chỉ nhà, đợi chờ đã lâu mà vẫn chưa nhận được thư trả lời, anh chị rất lo lắng. Mừng vui dâng tràn như sóng trong lòng khiến Nữ như muốn chạy ào ra đường, hét to lên cho mọi người cùng hay chị Nhi anh Dõng của nàng đang sống hạnh phúc ở một nơi chốn bình an.
Nỗi vui chưa kịp lắng xuống, sự âu lo không có địa chỉ của anh chị để viết thư hồi âm tràn ngập lòng Nữ suốt buổi làm. Chiều hôm đó, Nữ vội vàng ghé nhà ở Hội An. Nàng thất vọng nhìn qua cửa sổ phòng mình, mặt bàn trống trơn buồn bã. Nhà trên vắng lặng. Nữ gõ cửa phòng khách rồi bồn chồn đứng chờ dưới hiên nhà hồi lâu mới thấy người đàn bà cọt kẹt mở cửa, tóc rối bù dáng còn ngái ngủ. Bà vợ người bác họ cau có nhìn Nữ.
- Ối giời, nhà cửa hai ba nơi, đi đi về về, chả biết đâu vào đâu. Có gì thì nói, không tôi vào ngủ tiếp đây. Suốt ngày đứ đừ ở cửa hàng, vừa về đến nhà định nhắm mắt một tí thì đã có người đập cửa ầm ầm.
Nữ nén giận, từ tốn hỏi bà chuyện thư chị Nhi gởi về. Bị hỏi vặn vì chối không khéo, người đàn bà trâng tráo xỉa xói.
Người đàn bà chỉ về phía bếp nấu cám heo góc vườn.
- Đấy, ra đấy bới tro lên mà đọc thư.
Cơn phẫn nộ bùng lên, Nữ kéo giật tay người đàn bà lại lúc bà ta vừa quay bước vào trong.
- Thời mấy người ở trong rừng với cái “hòm thư” đã qua rồi. Bây giờ nhà cửa có địa chỉ, tên đường số nhà, thư từ có tên người gởi người nhận, bà cũng nên học hỏi một chút văn hóa văn minh tối thiểu mà hành sử cho ra người.
Nhìn đôi mắt căm hận như tóe lửa của cô gái, người đàn bà chột dạ cố gắng hứ lên một tiếng nhỏ rồi quày quả bước vào nhà khép chặt cửa.
Lúc dắt xe đạp qua cổng nhà, Nữ tần ngần ngoái nhìn khoảng sân dưới tàng cây vú sữa, bóng lá lắt lay trong nắng xế cuối ngày. Ngôi nhà chỉ còn trong kỉ niệm, Nữ nhủ lòng, buồn bã đạp từng vòng xe về phía làng chài xa lắc. Một mình trên đầm sông, từng mái chèo khua nước mát lạnh giúp lòng Nữ dịu lại, đằm thắm nỗi vui được trở về căn nhà sau cửa biển, triền cát vàng rực lên trong ráng chiều.
Dãy phố chợ Hà Lam rõ dần trong tầm mắt. Nữ nhìn về phía nhà lồng chợ vắng hoe.
- Té ra từ nhà tới chợ cũng không xa mấy cô à.
- Đi cả giờ rồi. Bà giáo cười... Cô dẫn tui đi qua hết mùa hè của cô mà còn nói là không xa.
Nữ theo bà giáo Thông bước rẽ về phía chiếc cầu bắc qua đầm sen nằm dọc theo phố chợ. Cầu Hà Kiều có lẽ từ nhiều năm trước được sơn trắng, giờ chỉ còn trơ lớp xi măng rạn nứt mòn dấu thời gian. Bà giáo đứng lại bên cầu, thở dài.
- Ông nhà tui kêu gọi quyên góp bỏ công sức vô cây cầu ni nhiều lắm. Cầu xây năm năm bảy. Năm năm chín cọng sản tổ chức nông dân biểu tình làm loạn đòi chính phủ thi hành hiệp thương, bị bắn chết trên cầu mấy người. Qua năm sau, Quốc Dân Đảng chống đối chi đó với chính phủ, ông nhà tui lại bị bắt giam vô nhà lao Con Gà ngoài Đà Nẵng hết mấy tháng. Trở về, yên ổn dạy học cho tới bảy lăm. Cái ngày thằng học trò ác nhơn trói tay ông, dẫn từ nhà ra tới cây cầu này để tụ tập đứng chờ xe chở về Chợ Được, tui bị họ đuổi không cho lại gần, chỉ biết đứng nhìn theo mà khóc hết nước mắt.
Sen đã qua mùa. Mặt đầm lác đác vài búp sen vừa chớm ngại ngùng máu mình dưới những tàng lá xanh chen trở màu nâu. Gió thổi đùa từng cánh hoa tàn tả tơi rụng trắng hồng mặt nước. Những đài sen nhớ thuở e ấp nhụy vàng giờ trơ trọi một màu xanh đậm, cứng cỏi phơi mình trong nắng chiều.
Bà giáo Thông vuốt mặt như vừa chợt tỉnh sau một cơn mê. Bà chỉ tay về phía cái miếu nhỏ nép mình dưới cội đa già đứng lẻ loi giữa đám cỏ tranh khô vàng bên kia đầm sen.
- Gốc đa đó, năm con Thăng-Bình sáu tuổi, cả mấy tháng mùa hè trưa nào hai mẹ con cũng ngồi chờ ông nhà tôi ăn cơm. Con bé không chịu ăn ở nhà, đòi ra ăn cơm chung với cha cho được... Mình xuống dưới đó nghỉ chân, tui cho cô coi cái này hay lắm.
Nữ ngạc nhiên nhìn bà giáo thận trọng lấy từ trong ngực áo ra một bao thư khá dày đưa cho nàng.
- Cô coi đi. Thư và hình con gái tui gởi từ Mỹ về đó. Người bà con trong Sài Gòn gởi chuyền theo xe đò quen, tui mới nhận được trưa nay.
Nữ thích thú lạ lẫm nhìn ngắm mân mê từng tấm hình màu rực rỡ. Ngôi nhà khang trang, đồi hoa vàng, khuôn mặt trẻ thơ bụ bẫm tươi vui, gia đình vợ chồng sang trọng hạnh phúc. Nghĩ tới gia đình chị Nhi anh Dõng, Nữ cảm thấy lòng mình rung lên nỗi vui òa đến không cầm giữ được. Nữ trao lại xấp hình. Tay nàng chạm nhẹ lên bàn tay gầy guộc của người mẹ. Những ngón tay run rẩy tìm nhau, níu chặt, ấm áp hàng lệ vui.
Bà giáo Thông xách rổ trứng đứng lên, mắt nhìn xuôi về hướng con lộ.
- Cô không muốn vô chợ thì đọc sách hay đi dạo quanh đây rồi về là được rồi. Đi Bình Triều thì khi về trời tối nguy hiểm lắm. Về sơm sớm kẻo có người trông... Tui thấy cậu Tuyên có vẽ ưng cô lắm đó nghe. Lăng xăng như gà mắc đẻ... Bà nheo mắt trêu chọc cô gái rồi bước ngược lối mòn về phía cầu Hà Kiều.
Nữ cũng chẳng vừa, nói với theo.
- Dạ, cũng nhờ cô tính giúp cho. Hai giáo viên dạy tốt, gom lại mỗi tháng cũng được 26 ký nửa gạo nửa bo bo chứ đâu có ít. Rồi nếu cháu khéo nuôi giúp con heo con ảnh mới mua thì sẽ có ngày sắm được xe đạp, đài bán dẫn như người ta...
Buổi chiều yên lặng quá. Gió gợn trên mặt đầm lăn tăn từng vòng nước dần lan. Vài con cò trắng mảnh mai rón rén bước tìm mồi làm sóng sánh bóng Hà Kiều in hình trong nước. Dáng người mẹ bước trên cầu cũng lặng lẽ thân cò, nhỏ bé buồn thiu. Nữ nhớ tới mẹ cha, nhớ anh nhớ chị, nhớ tới căn nhà trên triền cát lộng gió. Đồi hoa vàng trong tấm hình ngờ ngợ như trong một giấc chiêm bao đêm nhớ về chị Nhi. Nữ không dám nghĩ tới nhưng sao trong đôi mắt nhắm nhòa lệ nàng vẫn hình dung ra sự đau đớn đến tận cùng của chị Nhi khi đọc những dòng thư đầu tiên của đứa em gái bất hạnh còn ở lại quê nhà gởi nhờ theo thư của mẹ anh Mẫn. Còn gì đau thương hơn khi từ một trùng dương cách biệt ngồi mường tượng về cảnh nhà ly tán điêu linh, mẹ cha qua đời đã hai năm mà không hề hay biết. Còn nỗi bất lực nào lớn hơn khi hiện thực khổ đau đã viết thành dòng qua những hàng chữ em mình ngồi viết trong căn nhà chị chưa hề biết. Căn nhà sau cửa biển đìu hiu. Triền cát ngấm mưa thu. Bước chân cha, người ngư dân lạc loài, xiêu đổ về nhà sau đêm biển động. Bước chân anh Niên, vai nặng xác cha, liu xiu triền cát buổi sáng biển trả người về. Mộ phần mẹ cha trên đồi sim dại, ủ rũ tiếng buồn bầy chim ăn cá bay qua đêm trời trở... Chị ơi, xin đừng tiếc rẻ về những giấc mơ của mình cho dù căn nhà của mẹ cha đã không còn. Đó là những kỷ niệm đẹp nên được giữ gìn. Khi chị em mình liên lạc được với nhau, em sẽ kể nhiều cho anh chị biết về căn nhà sau cửa biển, nơi mẹ cha gia đình đã sống qua những tháng năm khốn khó đổi đời...
Từ sau đêm kinh hoàng tưởng lỡ đời con gái, Nữ như bị lưu đày trong chính ngôi nhà của mình. Đêm trong căn phòng cửa nẻo khóa chặt từ bên trong, giếng khơi góc vườn và bóng trăng rơi trên tàng cây vú sữa vẫn thường mang đến cho Nữ nỗi hạnh phúc dịu êm bỗng chợt như giấc mơ vụt mất mù khơi. Ngoại trừ những khi ở trường hay hợp tác xã họp hội trễ vào buổi tối phải ở lại nhà trong phố, Nữ thường ngày đạp xe, chèo đò về căn nhà sau cửa biển. Ở đó hương linh mẹ cha gần gũi, mùi gió mặn, và ánh bạc lấp loáng đầm sông vào những đêm trăng giúp tâm hồn nàng thanh thản bình yên.
Bận rộn tất bật với chuyện học hành sinh sống, ngày tháng của Nữ trôi nhanh. Ngày tốt nghiệp nàng háo hức bước ra khỏi cổng trường đào tạo giáo viên chỉ để thấy nỗi vui mình tàn lụi chóng vánh khi đứng nhìn giàn bông giấy đỏ rực lối vào ngôi nhà đã đổi chủ. Dì Chanh vuốt tóc an ủi đứa cháu gái mồ côi.
- Dì có bới thịt gà kho sả xuống cho con đó. Mình vô nhà nấu bữa cơm trắng ăn mừng cô giáo mới đi. Ăn cho con kịp xe lên quê nghỉ ngơi mấy ngày. Con gái con lứa chi mà ốm nhom...
Mùa hạ vùng cửa biển chói chang hàng phượng đỏ ngả qua Phước Trạch về phố. Thời gian này, những cuộc vượt biên bán chính thức của người Hoa ngày càng nhiều ở vùng Cửa Đại. Ngư dân Cẩm An, Thuận Tình ngoài những chuyến biển chài còn lén lút chèo đón người vượt biên để tìm thêm miếng sinh nhai. Thỉnh thoảng cũng có những cuộc vượt biên lậu được tổ chức ngay bờ biển phía ngoài dốc cát Xuyên Thọ. Cư dân xóm chài nhỏ bé dần dà bị cuốn hút vào cuộc chơi sinh tử này thường vì món tiền dễ làm tuy cũng có lần khó nuốt phải vướng vòng tù tội. Có khi tiếng rượt đuổi, tiếng súng rời rạc giữa đêm khiến Nữ thức giấc chong đèn. Nàng ngồi hồi hộp, lo âu, khích động, ước ao để rồi sáng sớm hôm sau lại lặng lẽ chèo đò, đạp xe đến hợp tác xã, cặm cụi ngồi may dán đèn lồng hay được gọi ra cửa hàng trao đổi năm ba câu tiếng Anh với du khách Đông Âu mà vốn liếng anh ngữ của họ cũng không gì mấy hơn nàng.
Một hôm, lúc Nữ đang làm việc ở hợp tác xã thì người hàng xóm đi chung ghe lưới với cha ngày trước đến tìm gặp nàng. Ông nhờ Nữ đón một người về nhà cho ở tạm, đến khuya khi có báo hiệu thì dẫn người đó lên đầu con dốc cát, hoàn thành công việc sẽ được trả một món tiền khá hậu. Khi nghe Nữ nhận lời, người hàng xóm cho biết thêm người đó sẽ là tài công của chuyến ghe nên cần phải được an toàn đưa ra tới bãi. Sau khi kín đáo chỉ cho Nữ người đàn ông đứng bên kia đường và chờ cho hai người nhận diện nhau xong, ông căn dặn thêm Nữ khi hết việc ở hợp tác xã cứ bình tĩnh đạp xe về Thuận Tình như thường ngày. Người tài công sẽ theo Nữ xuống đò để nàng đưa về nhà.
Công việc tiến hành như đã dự tính. Nữ chèo xuồng về đến bến đò lúc trời đã nhá nhem tối. Nàng nghe tim mình đập thình thịch theo từng bước chân hấp tấp trên lối cát về nhà.
Người đàn ông cặm cụi bước theo sau không một tiếng động. Khi Nữ chậm bước để rẽ vào nhà, nàng nghe có tiếng nói nhỏ bên tai trong lúc người đàn ông vẫn tiếp tục đi thẳng về phía trước.
- Cô vào nhà, chờ một lúc rồi mở cửa sau cho tôi.
Nữ run lẩy bẩy mở cửa nhà. Nàng thắp đèn, thắp nhang trên bàn thờ cha mẹ. Ánh sáng và hình ảnh cha mẹ giúp nàng lấy lại bình tĩnh. Nữ xuống nhà dưới, vo gạo, nhóm bếp nấu cơm, đun nước. Nàng chờ nước vừa reo thì mở hé liếp cửa bếp rồi vội vàng ngồi thụp xuống trước bếp lửa, tim đập liên hồi. Có tiếng người đàn ông lách mình vào nhà. Ông khép chặt liếp cửa rồi cũng ngồi thấp xuống bên Nữ như muốn giấu đi phần nào vóc dáng của mình.
- Chào cô. Cám ơn cô đã giúp.
Nữ nghiêng nhìn khẻ gật đầu chào. Người đàn ông chưa ngoài ba mươi, cao lớn phong trần. Suốt buổi tối hai người không trò chuyện gì hơn ngoài những câu đối thoại cần thiết.
Lúc cơm chín, Nữ dọn cho mình ở nhà trên như thường ngày và mang cơm vào phòng cũ của cha mẹ nơi người khách nằm nghĩ qua buổi tối trong đó. Nàng mở tập sách Anh ngữ của chị Nhi cố gắng học để giữ bình tĩnh mà chẳng còn chút tâm trí nào. Cuối cùng nàng phải mở cassette ngồi nghe lại băng nhạc của anh Dõng chị Nhi. Tiếng hát thì thầm quyện vào đêm, xao xuyến chơi vơi giúp Nữ quên phần nào hoàn cảnh rối động quanh mình…
”Dòng sông nào đưa người tình đi biền biệt. Mùa thu nào cho người về thăm bến xưa. Hoàng Hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ. Về đồi sim ta nhớ người vô bơ...” (Vũ Đức Sao Biển).
“Nguyệt Cầm nghe nấc từng câu... Có hàng mây trắng về đâu? Mắt chìm sâu, đêm lắng đời sâu. Nguyệt Cầm khơi mãi tình sầu. Khơi mãi nguồn đêm ...Mùa trăng úa làm vỡ hồn ta...” (Cung Tiến).
Có tiếng người khách lạ trở mình, rồi tiếng anh vọng ra từ cửa phòng.
- Cảm ơn cô cho nghe nhạc hay quá. Đã bốn năm rồi tôi mới được dịp nghe lại.
Đêm chậm trôi trong chờ đợi rợn người. Nữ giật thót mình lúc người hàng xóm đến báo hiệu an toàn để dẫn người ra bãi. Người khách lạ thắp nhang khấn vái bàn thờ cha mẹ Nữ rồi thổi tắt ngọn đèn bàn, hé cửa nghe ngóng động tĩnh. Anh thì thào nói vào tai Nữ.
- Cô cứ bình tĩnh đi trước. Nếu có việc gì xảy ra cho tôi phía sau cô dứt khoát đừng quay lại, cứ coi như là cô không hay biết gì về tôi cả. Cảm ơn cô nhiều lắm.
Đoạn đường từ nhà lên đỉnh dốc Nữ đã đi lại hàng trăm lần thế mà khuya hôm đó nàng líu ríu bước chân trên triền cát muốn khuỵu ngã nhiều lần. Nữ mừng quýnh khi nhìn thấy rặng phi lao hiện rõ dần trên đỉnh dốc. Người khách lạ kéo tay Nữ chạy núp vào một đám phi lao dày. Hai người ngồi yên, định thần một hồi lâu thì bắt đầu thấy nhiều bóng người túa chạy xuống dốc cát về phía bờ biển. Khi nhận ra người hàng xóm đang đứng nhìn quanh tìm kiếm, Nữ bấm tay người khách chỉ cho anh thấy. Người khách bảo Nữ ngồi chờ rồi rời chỗ nấp. Họ trao đổi hồi lâu, lúc Nữ bắt đầu sốt ruột thì cũng là lúc người khách đi ngược về phía mình. Anh ngồi xuống bên Nữ.
- Tôi biết cô sẽ ngạc nhiên khi nghe điều này nhưng tôi mong cô lắng nghe và quyết định ngay. Chúng ta không có nhiều thì giờ. Nếu cô muốn ra đi thì theo tôi xuống ghe ngay. Người hàng xóm của cô nói người chị của cô đã ra đi năm bảy lăm. Nếu ra ngoài được thế nào cô cũng sum họp được với chị của mình.
Nữ nghe mà cảm thấy toàn thân như mất đi trọng lực văng bật lên cao cùng nỗi ước mơ thầm kín nhất bừng dậy như từ một giấc chiêm bao. Cùng lúc, hình ảnh cha mẹ, anh Niên, gia đình, kỷ niệm cũng cuồng xoay những vòng sáng chao đảo trong đầu. Nữ nghe nước mắt mình rơi và môi bật lời từ chối.
- Không. Em chưa thể đi được. Cầu mong ông đi bình an, nhưng nếu có gì trở ngại ông cứ chạy thẳng về chỗ này. Em sẽ giúp ông tìm chỗ trốn.
Người khách lạ siết chặt tay Nữ rồi vội vã chạy xuống bờ dốc vụt biến vào bóng đêm. Nàng nằm im co quắp, hai tay vòng ôm đầu trong nỗi sợ hãi đến tận cùng. Nữ sợ cho mình, cho đoàn người không quen dưới kia. Hình như Nữ đã thiếp đi cho đến khi mùi cát ẩm quen thuộc đánh thức nàng dậy. Cùng lúc với đôi tay víu chặt vốc cát ẩm nàng nghe có tiếng sóng thì thầm như một hiện hữu bình an. Hay chỉ là một cơn mơ? Nàng ngơ ngác giữa lằn ranh thức ngủ mơ hồ. Ý niệm thời gian bềnh bồng như đêm đang tràn vây, nhòa nhạt ánh sao xa.
Tiếng súng nổ, tiếng người quát tháo, kêu khóc kéo Nữ rớt ra khỏi trạng thái ẩn dụ lưng chừng mê tỉnh. Bỗng dưng nàng cảm thấy tỉnh táo lạ thường. Nữ ngồi dậy căng mắt nhìn về phía bờ biển chập chờn ánh đèn pin loáng thoáng quét dọc dài theo bờ nước. Đoàn người trốn chạy trong lúc hốt hoảng đa số đã chạy tản dọc theo bờ biển. Giây phút chờ đợi căng thẳng dài muốn hụt hơi. Cuối cùng bóng người khách lạ hiện rõ dần trong tầm mắt. Anh hào hển chạy về phía Nữ, áo quần ướt sũng.
Trong canh khuya xóm chài trở thành những đụn bóng tối im lìm mà hỗn độn vây quẩn nhau trong màu trắng nhờ nhờ của cát. Người đàn ông đứng chống tay trên đầu gối nhìn xuống triền dốc loáng loáng vài bóng người đang chạy về phía xóm nhà.
- Họ đi khơi khơi theo đường mòn như rứa dễ bị công an tóm quá... Mình nên tiếp tục chạy theo hàng phi lao này cho tới khi qua khỏi xóm nhà. Lúc đó nếu không động tĩnh gì thì xuống dốc vào nhà qua ngõ sau, an toàn hơn.
Nữ mệt đừ thả người theo đà dốc bương chạy qua những lùm sim dại mọc rải rác trên triền cát sau lưng xóm chài. Người đàn ông vẫn bám sát nàng như bóng suốt đoạn đường qua rừng phi lao đồi dốc cho đến khi về tới giàn mướp sau nhà. Vừa kịp lách mình qua liếp cửa bếp là nàng ngồi khuỵu xuống lưng tựa vách bếp thở dốc. Trong bóng tối Nữ nghe lẫn trong hơi thở mình là hơi thở người đàn ông. Rất gần. Đêm bên ngoài vẫn im lặng bao trùm xóm chài. Đêm như dừng lại choáng đặc. Nữ ngồi như thế hồi lâu lắng nghe hơi thở mình dịu lại hoàn hồn. Bỗng chợt ý nghĩ nàng và người đàn ông đang ngồi bên nhau trong bóng đêm khiến Nữ thẹn thùng không dám cử động. Khuya thanh vắng, gian bếp thoảng hương muối mặn từ áo quần sủng ướt của người khách lạ.
Có tiếng người khách đứng dậy bước về phía vách nhà, rồi tiếng anh nói nhỏ.
- Chắc công an bận rộn dưới bãi, không vào xóm xét nhà đâu.
Nữ sờ soạng ở chạng bếp thắp đèn. Ánh đèn hột vịt ám khói vàng lu soi lờ mờ gian bếp.
- Để em tìm cho ông bộ áo quần khô.
Người khách lạ theo Nữ lên gian phòng giữa nơi anh nghĩ lúc đầu đêm. Lục soạn hồi lâu, Nữ trao cho anh hai bộ áo quần cũ.
- Áo quần ông ướt cả rồi. Đây là áo quần cũ của hai người anh, ông thử bộ nào vừa thì cứ dùng tạm.
Người khách nhìn bộ áo quần kaki màu tím trên tay, ngạc nhiên hỏi dồn.
- Đây là quân phục của sĩ quan Hải Quân miền Nam trước bảy lăm mà. Không lẽ...?
- Dạ, đây là quân phục của người anh rể để lại. Anh Dõng chồng chị Nhi em.
Người khách cố nén khích động, ngẩn mặt cười rạng rỡ rồi thân mật hỏi cô gái.
- Thục Nữ phải không? Dõng, chị Thục Nhi của em, và anh có thời học chung ở Huế. Sau đó anh và Dõng cùng vào Hải Quân rồi tốt nghiệp ở Mỹ về một lần.
Nữ cảm động gặp được bạn cũ của anh chị.
- Lâu lắm mới có người gọi tên cúng cơm của mình. Nghe mà ngờ ngợ.
- Anh là Tuân. Vậy là anh chị Dõng Nhi của em đã đi năm bảy lăm? Lần cuối gặp hai người ở Lộng Ngọc, dịp anh từ Căn Cứ Cửa Việt vào Đà Nẵng công tác.
Nữ vui như một người xa nhà quá lâu được trở về, bắt gặp lại mình và kỷ niệm thân vui trên đường xưa lối cũ. Nàng muốn được sống với niềm vui trở về cho dù là khoảnh khắc. Nữ tìm cho mình y trang ngày trước rồi lách mình ra ngoài trời khuya. Trong bóng đêm ôm choàng da thịt, từng dòng nước rúng sâu chân tóc trổ gai lên đồi vú săn cứng rồi lăn xuống dần mát lạnh châu thân trôi hết phiền hà.
Tuân ngồi ở nhà trên lơ đãng nhìn trang sách mở trên bàn. Dưới ánh đèn khêu tỏ, Nữ hồn nhiên đứng giữa phòng hong chải mái tóc ướt với những ngón tay của mình.
- Cô giáo Anh Văn ni dễ thương ghê! Còn đẹp hơn cả chị Nhi của cô bé ngày trước nữa.
Nữ ngồi xuống bàn đối diện với người bạn của anh rể mình, không vừa.
- Bây giờ thì con bé lọ lem này mới tin anh là sĩ quan Hải quân thứ thiệt, không phải tài công “dổm”. Theo những gì em còn nhớ được từ mấy năm trước chị Nhi phải đối phó với anh Dõng thì các anh đúng vẫn là “chứng nào tật ấy” chưa cải tạo được chi hết. Chị Nhi gọi là “mấy ông xạo xự”. Anh không biết chứ mối đi ăn Chè Cồn của em hồi đó là từ các anh Lương, anh Đức, anh Hoát, anh Chánh mà ra.
Tuân trầm ngâm.
- Không biết bây giờ tụi nó ở đâu? Thằng Chánh thì chết rồi... Cũng lạ, con người có những gặp gỡ mà chúng ta không thể không tin vào số phận. Đầu hôm, lúc ngồi trên đò chờ em chèo qua cái đầm sông hiu hắt này, anh nghĩ về Chánh mà chẳng hề mảy may nghĩ tới hay ước ao sự gặp gỡ tuyệt vời này. Nơi chốn. Thời gian. Trùng ngộ. Thân phận con người mở ra và hạnh phúc hay khổ đau choàng đến không ngơ...
Rồi mắt anh Tuân chợt sáng lên nhìn Nữ, cười tinh quái.
- Nhưng anh phải thú thật là cũng có giây phút ngồi nhìn cô chèo đò từ phía sau mà lòng thầm mong sao cho nước đừng trôi, thời gian ngừng trôi, và đầm sông thì rộng mênh mông không bờ bến. Tất cả đều lênh đênh nên tự do cũng không còn cần thiết nữa.
Nữ xấu hổ khẻ lên tay của anh Tuân trên bàn.
- Cái anh này lại “xạo xự” nữa rồi.
Đêm trở mình về sáng. Hai người ngồi kể cho nhau nghe chuyện nhà mấy năm qua.
Anh Tuân sinh ra lớn lên ở Đà Nẵng. Đứa con một cứng đầu, ham hố phiêu lưu, lính thú giang hồ loanh quanh, tù tội núi rừng xa tuốt trong Nam rồi cũng khăn gói trở về với thành phố vịnh biển thân yêu của mình. Bốn năm trước, tháng Ba Đà Nẵng mất, anh Tuân theo đơn vị di tản từ Cửa Việt vào Vũng Tàu rồi kẹt lại ở Sài Gòn. Anh bị đi tập trung cải tạo ở các vùng núi rừng Tây Ninh, Long Khánh, Phước Long mới được thả về lại nhà hơn tháng mà đã đôi lần tìm đường thoát thân.
- Không sao! Thời buổi này, lý lịch trích ngang sĩ quan Hải quân Ngụy rất đắt giá. Mà anh lại được quới nhân phò trợ. Hai tuần trước, lần đầu ra quân ở Thanh Bồ thất bại. Đêm nay tuy chạy có cờ nhưng quới nhân phò trợ là một thục nữ nên anh thấy mình vẫn còn tốt số chán.
- Cầu mong cho anh lần tới thành công, nếu không, chắc anh phải cõng quới nhân trên lưng mà chạy. Không phải yểu điệu thục nữ mà bé bự một trăm kí cho đáng đời cái thân nhiều chuyện của anh.
Nỗi niềm tâm sự dài hơn đêm, họ vui buồn trò chuyện bên nhau quên cả thời gian cho đến khi bầy chim ngủ nhờ trên nghĩa trang thức giấc xao xác bay về biển thả tiếng kêu buồn qua xóm chài còn say giấc im lìm. Sương mai lan kín mặt sông. Xóm lưới Thuận Tình bên kia bờ đầm chìm trong một màu trắng đục, lơ lửng nóc hàng dừa rủ lá đợi ngày lên. Nữ đứng nhìn theo bóng anh Tuân đạp xe trên lối mòn nhấp nhô dừa nước sim dại, lòng bâng khuâng về nỗi mất mát mơ hồ. Lơ đãng chèo con đò nhỏ qua sông, Nữ nhắm mắt thả lòng trôi, lắng nghe nhịp đập tim mình hòa theo tiếng thì thầm của biển. Nàng ngư nữ chưa một lần ra khơi với niềm khôn nguôi vô vọng dã tràng, nửa muốn tìm lại nửa muốn chối từ hình ảnh một hải đảo mù khơi trong trầm tích lạc loài của trùng dương muối mặn.
Những ngày hè còn lại, Nữ thường đứng nhìn quần áo phơi buồn sân nhà ngập nắng mà nhớ thẫn thờ lần gặp gỡ tình cờ. Tấm áo đêm trùng ngộ đẫm hương muối mặn giờ đây được xếp ngay ngắn trong ngăn tủ như một kỷ niệm trân quí. Lòng thiếu nữ trải trang phơi áo cho người rồi hát một mình buổi sáng hoàng hạc bay quạnh quẽ đồi sim...
Buổi chiều lắng sâu. Nước hồ sen lung linh mây chiều đang ngã dần qua màu tím đậm. Nữ giật mình bừng tỉnh giấc mơ ngày. Mùa hè đã qua lâu rồi, Nữ nhủ lòng, lật mở trang đầu tập sách Anh văn của chị Nhi. Dòng chữ thân quen và câu thơ Nữ thuộc nằm lòng càng gợi thêm nỗi nhớ. Màu hoang đảo từ đây em sẽ ngó. Cát xa bờ tơ chỉ rối chiêm bao (Bùi Giáng).
Nữ bước qua cầu, một mình trên con đường vắng ngắt, tiếng bước chân đều đều nghe cũng buồn. Nàng về lại nhà tập thể lúc bà giáo Thông đang e gà vô chuồng. Bà lo lắng nhìn cô gái.
- Bộ cô đi tới Bình Triều hay răng mà giờ ni mới về. Tui bắt đầu lo lo trong bụng rồi đó.
Nữ giải thích rồi nhìn về phía giếng nơi Tuyên và mấy cô giáo đang lúm xúm đứng ngồi.
Bà giáo Thông hóm hỉnh.
- Giấc mơ mua xe đạp của hai người bị xì hơi rồi. Con heo con của cậu Tuyên biếng ăn mấy hôm nay. Họ đang làm thịt chia nhau.
Trông thấy Nữ đang bước qua sân gạch về phía bờ giếng, Tuyên đứng lên mừng rỡ.
- May quá! Tuyên có hỏi bác Giáo, sợ Nữ đi tới Bình Triều định mượn xe đạp đi tìm.
Hai bàn tay bê bết máu, Tuyên chỉ vào xác con heo nhỏ hơn bắp vế người bị cắt cổ nằm sóng soài bên lưng bát máu chưa kịp đông .
- Con heo bị bệnh, biếng ăn đã mấy ngày. Mấy cô giáo bàn nên làm thịt trước khi chết mới có máu làm tiết canh và không bị mất thịt. Họ đề nghị đổi tiêu chuẩn đường sữa tháng này. Chút nữa mình gọi Nữ ăn cháo huyết nghe.
Nữ lắc đầu thoái thác vì nhức đầu, bỏ vào nhà. Gian phòng lờ mờ chút ánh đèn từ nhà ngang hắt vào qua khuôn cửa nhỏ. Bà giáo Thông trong áo dài lam đang trịnh trọng thắp nhang khấn vái. Nữ khép cửa sổ, ngồi im trong bóng tối. Những người đã ra đi, anh Dõng chị Nhi đang có đời sống hạnh phúc riêng cho mình. Người nhất quyết ra đi như anh Tuân, tương lai của họ là chuyến tàu sắp tới. Nàng nghĩ tới Tuyên, người thanh niên có nụ cười hiền, sống loay hoay yên phận với dự tính nhỏ nhoi vừa bị chết yểu tối nay. Nữ nhớ anh Niên đang sống trong rừng sâu núi thẳm. Người anh sống sôi nổi hết mình luôn muốn làm vui lòng bầu bạn quanh mình. Tội nghiệp cho Tuyên. Tội nghiệp anh Niên. Tội nghiệp cho mình. Nước mắt Nữ trào ra.
8. Nữ chợt tỉnh giấc chiêm bao. Có tiếng chim bay về biển nghe quen thuộc như giấc mơ nàng còn dầm dề cơn hạnh phúc bơ vơ. Nữ biếng lười nằm nán lại với nàng, với người đàn bà trong cơn mơ chờ đợi người tình trên đồi cát đẫm sương. Trong với víu của cảm giác, góc xiên quen thuộc của tia nắng đầu ngày chiếu qua vách nhà mang đến cho nàng sự ấm áp trở về, nỗi vui được bao quanh bởi bao điều thân thuộc, kỷ niệm thiết tha. Cạnh đó, tất cả chỉ là cuộc sống trôi qua, bấp bênh phiền hà...
Nữ bỏ dạy về lại nhà. Nàng đã cố gắng không để ý tới sự bủn xỉn, nhỏ nhen, cân đo đong đếm của những con người phải thường trực mưu cầu trong một xã hội bao cấp chụp giựt. Chỉ tội nghiệp cho họ. Nhưng nàng không thể chịu đựng sự kiêu hãnh bán khai trâng tráo của nhóm người thiếu khả năng văn hóa lại có trách nhiệm dạy dỗ giáo dục thế hệ tương lai - những đứa bé đến trường với khăn vải đỏ quàng lên đôi vai gầy guộc thiếu ăn. Những buổi hội họp kiểm thảo trễ nải chẳng liên quan chi tới việc dạy học. Nhóm giáo viên ngồi quanh trên sân gạch trước nhà để tiết kiệm dầu thắp. Nữ ngồi lơ đãng nghe ý kiến, phê bình, thi đua, khẩu hiệu lả tả chìm trong tiếng kinh tụng trầm đều của bà Giáo Thông hay có khi nàng im lìm lay đùa với bóng mình trên sân vào những đêm trăng. Có lần Nữ bị kiểm điểm với lý do thiếu tinh thần tập thể vì ngồi họp trên chiếc đòn gỗ chứ không ngồi chò hõ trên sân như các giáo viên khác. Nữ bật cười nhìn Tuyên khổ sở, nhấp nhỏm trong dáng ngồi kiểu nước lụt, hai bắp vế ép sát bụng, cánh tay gác lên đầu gối đong đưa. Bóng người gãy đổ lên sân gạch như bầy khỉ ốm ngồi quanh. Nàng lấy câu chuyện đùa của cậu Chấn, đem ra phát biểu ở buổi họp.
- Vào thời thực dân đế quốc, địa chủ bắt tá điền ngồi chò hõ vào những bữa ăn để họ ăn ít mà mau no cho bớt tốn gạo. Ngày này đất nước đã thống nhất, chính sách cải cách ruộng đất của Cách Mạng đã diệt sạch hết bọn điền chủ bóc lột, bản thân tôi cảm thấy được giải phóng khi ngồi ghế, đồng thời sung sướng khi bụng mình không bị chính hai cái bắp vế kẹp lại.
Tổ giáo viên ngơ ngác nhìn nhau, chỉ có Tuyên mỉm cười nhìn nàng, lắc đầu chào thua.
Lần sau cùng bị kiểm điểm đã đưa đến việc nàng xin nghĩ dạy sau một niên khóa ở Thăng Bình. Sau khi xin phép mà không được hiệu trưởng chấp thuận, Nữ đã nhờ Tuyên dạy thế rồi tự ý bỏ lớp một tuần theo bà bạn của mẹ vào Sài Gòn nhận quà chị Nhi gởi về từ Mỹ. Chủ trì buổi họp là một cán bộ giáo dục trên huyện về, cỡ tuổi anh Niên. Anh ta nhìn Nữ chăm chú nhưng nàng tỏ vẻ như không hay biết. Nàng ngẩng mặt nhìn lên phía trên tấm cờ đỏ loáng thoáng hàng chữ đề cao lao động học tập. Trên khoảng vách trần ố vàng loang lổ, con thằn lằn bám cong dáng như chữ S ngần ngừ chưa biết tiến thoái về đâu. Nhóm giáo viên trường ngồi đưa mắt nhìn nhau lúc người hiệu trưởng gay gắt phê bình Nữ và đọc đề nghị kỷ luật. Nữ bình thản ngồi nghe tiếng lời ganh tỵ, nhỏ nhen, phê bình tố tụng mỗi giáo viên lần lượt vang lên như một dĩa hát cũ, mũi kim cùn đùi rời rạc xoay trên những rãnh mòn âm thanh ù lỳ bất biến. Mớ chữ tàn dư Mỹ Ngụy, ôm chân đế quốc, trí thức tiểu tư sản, khắc phục, sửa sai...lặp lại tới lui như một bài vè dở tệ. Bài hát quen của đám nhạc công tồi nín lại lúc Tuyên chợt đứng lên. Người thanh niên rụt rè không có mặt trong phòng họp hôm đó. Nữ cảm kích lắng nghe Tuyên phân trần cho nàng rồi xúc động nhận ra tấm lòng người thanh niên đang phơi trải.
Người cán bộ chủ trì dài dòng lên tiếng. Bài hát cũ được lặp lại với cường điệu cao, nhưng lời đúc kết buổi họp đã khiến hầu như mọi người trong phòng họp không ít ngạc nhiên.
- Khả năng dạy tốt của đồng chí Nữ được đánh giá cao. Phòng giáo dục huyện sẽ đề nghị phân công trường lớp thích hợp cho đồng chí vào niên khóa tới. Trong thời gian hè, đồng chí Nữ sẽ được bố trí cơ hội phấn đấu trong các lớp bồi dưỡng đạo đức cách mạng.
Giáo viên lục tục bước ra khỏi phòng họp. Người cán bộ tươi cười ra hiệu cho Nữ ngồi lại.
- Cô Nữ có nhận ra tôi không?
Nữ gật đầu lúc người cán bộ kéo ghế ngồi gần.
- Mấy năm trước, lúc gần thi phổ thông tôi có theo Niên ra nhà cô ở Xuyên Thọ một lần. Chuyện lúc nãy cô không phải lo lắng gì. Tôi sẽ bố trí cô về trường sở gần Hội An, thích hợp với môn dạy của cô hơn.
Cô gái định mở lời nhưng rồi im lặng không nói.
Nữ đắn đo hồi lâu rồi vắn tắt kể chuyện nhà. Người thanh niên nhìn đăm đắm vào đôi mắt cô gái khiến nàng rụt rè lãng nhìn ra phía cửa lớp vương bụi nắng.
- À ra là vậy. Niên là người bạn vui tánh thời trung học. Hắn thân mật vỗ vỗ lên tay Nữ. Tôi sẽ nhờ vài người bạn trên tỉnh đoàn tìm giúp. Khi nào có tin, tôi tìm cô ở đâu để cho biết đây?
Nữ vui mừng với hi vọng mới về anh Niên, dí dỏm trả lời.
- Phố Hội chỉ ngang dọc vài đường như lòng bàn tay, ông cán bộ chỉ cần đi một vòng là tìm ra ngay. Nhất là những nơi treo nhiều đèn lồng.
Mùa hè lại đến. Những ngày sót lại của niên học, Nữ đến lớp lòng nao buồn về ngôi trường đầu tiên trong đời đi dạy. Nàng thương cho đám học trò nhỏ khi nghĩ tới khả năng của những giáo viên Nữ có dịp tiếp xúc và biết khá nhiều về họ. Tuyên lắng nghe, lắc đầu cười buồn.
- Tuyên chỉ mong làm hết khả năng bổn phận của mình để an lòng và được an thân. Có phải mình đã tham lam khi muốn cả hai? Giữ cho được đôi bàn tay sạch, thiệt là quá khó giữa mùa gặt ác này. Sống với thú biết làm sao đây?
Nữ khẻ đập lên vai bạn, nói đùa.
- Không sao! Thỉnh thoảng tay có vấy chút máu heo con thì không sao.
Mắt Tuyên nhìn buồn hơn.
- Tuyên vẫn băn khoăn mãi trong lòng từ hôm đó. Biết Nữ không vui lòng. Cả mình cũng vậy. Chẳng qua là mong được an thân với họ. Niên học tới không có Nữ ở đây, sinh hoạt chắc khó khăn hơn.
Cô gái nhìn theo Tuyên cúi đầu bước chậm qua sân gạch. Buổi chiều thả nghiêng bóng hàng cau gầy guộc lên mặt đất. Dáng Tuyên đứng dưới chiếc cổng chào rất buồn.
Bên bờ giếng bà Giáo Thông ngồi rửa khoai lang để xắt phơi khô. Bầy gà con sau một hồi xúm quẩn quanh bà tìm không ra cái ăn thất vọng líu ríu bỏ đi theo tiếng kêu tục tục rất kham của gà mẹ. Bà Giáo ngày thường vốn ít nói nay càng đăm chiêu hơn. Bà đưa cho Nữ củ khoai Chợ Được vàng ửng vừa gọt sạch.
- Cô cắn thử một miếng đi. Ngọt ngay à. Khoai này xắt lát, phơi vài nắng, nhai trong miệng ngọt tươm như mật. Con Thăng Bình tui hồi đó, mấy buổi tối trời lạnh, con bé ngồi học bài đâu không thấy mà chỉ một hồi là rổ khoai khô đã lưng một nửa. Bà ngưng tay, nhìn về phía nhà trên, chép miệng thở dài. Sang năm lại thêm một con Hà Nam Ninh khăn gói vô nữa chắc tui giao luôn cái nhà cho họ, bỏ đi khuất cho đỡ gai con mắt.
Nữ thoa thoa lên lưng gầy người mẹ. Hai người đàn bà ngồi bên nhau yên lặng.
- Giờ này bên đó là buổi sáng phải không cô giáo?
- Dạ, chắc năm sáu giờ sáng.
- Tui chờ giấy báo về đi lãnh quà con Bình gởi. Trông sao tụi nó gởi kèm thiệt nhiều hình về coi cho đỡ nhớ. Thiệt khó mà hình dung cái xứ sở đó. Lái xe sáu bảy chục cây số mỗi sáng đi làm, chiều lái về. Còn xa hơn từ đây chạy tuốt ra Huế. Chắc hai vợ chồng nó phải lui cui dậy từ hồi hai ba giờ sáng mới cụ bị cho kịp mà đi làm. Chợ búa nghe nói cũng phải đi cả giờ mới tới. Hai ba tuần đi chợ một lần thì lấy gì mà ăn trong nhà...
Bà mẹ thương con cháu, giọt nước mắt lăn xuống buổi chiều rất chậm.
Những ngày đầu về lại nhà Nữ ra vào bâng khuâng nhớ ngôi trường nghèo, nhớ khoảng sân gạch đọng rêu mảnh mai bóng hàng cau, và mùi nhang khói quyện trong tiếng kinh tụng trầm đều mỗi đầu đêm. Nữ đứng tựa cửa bếp nhìn bầy gà con bà Giáo Thông tặng nàng giờ đây thiếu mẹ chạy lẩn quẩn chiêm chiếp quanh lu nước. Nàng xúc động nhớ lại hình ảnh bà Giáo te te xách giỏ gà đi trước, Nữ phụ Tuyên cắm cúi đẩy chiếc xe đạp mượn thồ cái rương lớn của nàng theo sau. Bóng hai người đứng trên bến đò Bình Triều xa dần theo từng tay vẫy.
Nữ trở về với cuộc sống quen, quanh cạnh người thân thuộc ở hợp tác xã làm đèn lồng và những lớp dạy tiếng Anh cho trẻ em trong phố. Chuyến đò dọc trở ra cửa biển vào những cuối ngày. Nữ ngồi yên lặng giữa đám người tất tả, lắng nghe tóc mình váng vất bay trong gió. Nàng nhắm mắt mường tượng đoàn tàu của anh Dõng, anh Tuân chẻ sóng lao mình trên dòng sông nước cuộn. Mường tượng bước chân cơ khổ mẹ cha bơ phờ bờ dốc cát vàng loang nắng. Xem hoài không chán hình ảnh gia đình chị Nhi hạnh phúc tươi vui trong những tấm hình màu rực rỡ. Nữ thuộc nằm lòng những tờ thư anh chị gởi hết nhớ thương về em gái. Chị nhắn sẽ tiếp tục gởi nhiều quà về để nhờ cậu dì xuống xây lăng mộ mẹ cha, trang trải việc tìm kiếm anh Niên và giúp cô em gái côi cút khỏi phải lo chuyện áo cơm.
Người cán bộ bạn học của Niên đã vài lần ghé hợp tác xã với vài tin tức mơ hồ. Mới đây anh ta còn mở lời mời Nữ đi thăm chơi Đà Nẵng. Nữ đã khéo lời thoái thác, nàng có cảm tưởng anh ta chỉ lấy cớ để có dịp gần gũi chuyện trò lợi dụng. Ý nghĩ khiến Nữ lo lắng nhưng việc kiếm tìm tông tích của anh đã hơn hai năm biệt tăm quan trọng hơn nhiều. Nữ vẫn chưa tiết lộ với người cán bộ quyết định không trở lại trường vào niên khóa tới của mình. Sự giao thiệp với người đàn ông này không hiểu sao càng khiến nàng băn khoăn và thương nhớ Tuân hơn. Không biết giờ này anh đang ở đâu. Phải chi anh Niên thành công trong chuyến vượt biên hay vẫn bình an ở nhà thì có lẽ giờ này Tuân và nàng đang bên nhau, cho dù hạnh phúc hay lận đận ở một nơi nào đó.
Một buổi chiều sau buổi làm ở hợp tác xã, Nữ đang đứng ở bến đò chờ ghe thì một thằng bé đến gần rụt rè trao cho nàng hộp giấy nhỏ. Của chú kia nhờ em đưa cho cô. Cậu ta chỉ vấp vúng được câu nói ngắn rồi vùng chạy biến. Trong hộp là vài cassette nhạc cũ và trang thư ngắn. Nữ nhìn tên người viết, vội vàng đọc thư, mắt ngời vui. Suốt chuyến đò dọc, nàng nâng niu cái hộp giấy trên tay như một bảo vật.
Cơm nước xong mà trời chỉ mới vừa sập tối. Người chi mà ác. Còn cả một đêm dài. Nữ chợt thẹn thùng rạo rực với ý nghĩ của mình lúc nhìn bầu trời mùa hè vào đêm thấp thoáng sao xa. Trong bóng tối của giàn mướp sai lá, Nữ cởi bỏ quần áo nhẹ nhàng rưới từng gáo nước lên thân trần. Cảm giác mát lạnh, chậm mà rạt rào trôi xuống chan hòa rồi tan thấm vào nỗi sung sướng không ngờ. Tiếng nhạc vọng nhẹ từ chiếc máy cassette đặt cạnh liếp cửa bếp xao xuyến mơ hồ. Những bài hát Nữ chưa hề nghe qua, ray rứt bồi hồi tiếng tình nhân thầm thì vương vấn từng bước chân tìm kiếm quay về... Ta đi ngóng trông em, trong bóng đêm dài tan. Ngàn tơ vàng chìm lắng, mơ dáng ai về, trong ánh trăng vàng. Như gió đi tìm hướng, như chim nhớ mùa, khát khao tình xưa. Ta níu xin thời gian, đừng cho phai úa, kiếp duyên tình mộng mơ... Ta thiếp đi vì đêm tàn rồi. Bên khúc sông lạnh riêng mình ngồi. Ôm cánh hoa đọng ngát hương môi. Xa vắng cho lòng nhớ xa xôi... (Đợi chờ - Phạm Đình Chương). Tiếng hát ma mị trổi cao mà khắc khoải theo tiếng tây ban cầm bứt rứt chập chùng… Màn đêm mở huyệt sâu. Mộng đầu xin dài lâu. Một vì sao lạ rơi, nghe hồn tê tái trên dòng hương khói bay. Ái ân ơi đừng phụ lòng ta. Nhớ thương sâu xin gởi người xa. Khóc nhau trong cuộc đời. Giấc mơ xưa khăn phủ vành sô. Có yêu nhau ngọt ngào tìm nhau. Chết bên nhau thật là hồn nhiên!... (Dạ khúc cho tình nhân - Lê Uyên Phương).
Nữ thức ngủ chập chờn chờ đợi. Rồi đêm cũng cạn dần theo nửa khuya về sáng. Cô gái đi về phía rặng phi lao trên đỉnh dốc cát. Người đàn ông đã chờ ở đó từ lâu. Ngồi bên nhau trong bóng tối hoang vắng vây quanh, họ thầm thì kể chuyện vui buồn, thành công, thất bại đến với đời mình suốt một năm xa cách.
Đêm chở che và nỗi nhớ ngất trời nên ngôn từ rớt lặng không hay. Còn lại những nụ hôn dài đến tận cùng hơi thở và vòng tay trườn quấn vào nhau cho nhục cảm lên khơi. Cô gái nằm rướn người trên cát, thân sóng dập dồn. Những vì sao nhấp nhô trên trần vai rắn chắc của Tuân phủ lên khuôn mặt nàng rực hồng cơn hạnh phúc trào dâng. Anh thì thầm những lời làm mắt cô gái ríu lại. Tinh sương ngày chưa kịp lên đã vội buông màn đêm nguyệt tận. Đêm chật ních không gian, choàng kín đôi thân trai gái ghì xiết nhau trong chiếc kén đam mê chẳng một thoát âm. Đêm mơn man vạt cỏ bồng e ấp nguyên xuân, bãi bờ thân xác lồng lộng triều dâng đầm đìa cơn xúc động. Bao mường tượng nhớ nhung của một thời thiếu nữ yêu người quẩy níu sâu ngập vào nhau, khít rịt, tràn đầy. Môi căng trào âm thanh thuở hồng hoang. Mắt nhắm. Gió thì thào tiếng phi lao. Tiếng thời gian.
Sương tan... Người đàn bà trở mình trên ân cần trao thân. Bóng người đàn ông chèo đò qua đầm sông xa vời vợi. Đồi cát lan dần theo hoang liêu, quạnh quẽ bờ phi lao. Cơ hồ tiếng gọi từ một nơi rất xa nghe như tiếng gió mùa thổi lộng nỗi hoài mong. Như tiếng thời gian đi mất, chìm xa, bảng lảng bóng con tàu trôi trên dòng sông dậy thì vọng hao tiếng sóng.
Người đàn bà trở về nhà, thẹn thùng bước chân qua giấc mơ và nỗi hạnh phúc của sóng lang thang, xa xôi mà vẫn mãi rạt rào. Hạnh phúc rướn dài qua năm tháng đời người, qua từng bước mộng du ấm ướt vào những sớm mai. Niềm hạnh phúc mong manh mà cần thiết như cảm giác khẽ khàng của cát trôi dài dưới lòng chân đã lay nàng thức dậy. Gió nồng nàn hương muối. Tiếng chim bay lưng trời. Bầy ghe cá đêm khơi trở về. Tiếng người lao xao bến sông. Buổi sáng nở ra thật thà như thân cá bạc còn quẫy mình trong thúng. Nữ vịn tay lên mạn thuyền thô nhám nghĩ về những con cá bị mắc câu vướng lưới ngoài khơi xa giữa đêm trắng lòng ngư phủ. Nàng nghĩ về bầy cá nhỏ quanh quẩn đầm sông mà tội nghiệp cho hạnh phúc nhỏ nhoi tưởng vọng của mình.
Nữ nhớ thương mà biết chẳng thể nào trông. Tuân từ giã nàng đi tuốt xuống vùng sông nước hẻo lánh Cà Mau tiếp tục tìm đường vượt biên. Hơn hai tháng sau ngày Tuân đi Nữ mới nhận được thư anh cùng lúc với giấy báo lãnh quà của chị Nhi. Mừng vui lẫn lộn Nữ rớt nước mắt đọc trang thư khéo viết để qua mắt đám công an bưu chính. Tuân đang sống bình an nơi vùng kinh tế mới ở U Minh Hạ. Nơi xuồng chạy vài giờ trên sông Trẹm mới ra tới chợ có trạm bưu chính nên thơ chẳng đề địa chỉ người gởi. Nữ nhắm mắt mường tượng. Ít ra Tuân đã cho nàng một địa danh nơi chốn để nhớ thương về. Sông Trẹm. Sông Thu. Khoảng cách giữa những dòng sông cũng dài như nỗi nhớ. Thời gian. Chia lìa. Dòng nước lung lay soi bóng người và mịt mờ đâu đó một cửa biển cuối dòng sông nặng lòng châu thổ.
Người đàn bà trao thư thương hại nhìn Nữ lau nước mắt.
- Thư ai vậy cháu? Gia đình bên đó bình yên chớ?
- Dạ thư của anh Tuân, đang ở Cà Mau. Anh ấy vẫn bình an. Nhưng cháu làm răng mà biết được chuyện chi đã xảy ra từ ngày thư viết tới giờ?
Người đàn bà kéo Nữ ngồi xuống bên mình.
- Cầu mong sao cho cậu ấy ra đi trót lọt bình an. Chẳng biết sao hơn. Trời kêu ai nấy dạ.
Bà chìa tấm giấy báo lãnh quà của mình cho Nữ xem.
- Cháu coi đây. Hai bác cháu mình lại có dịp đi nhận quà một lần. Rất may là mình không phải vô Sài Gòn nữa. Họ bắt đầu cho lãnh ở Đà Nẵng rồi.
Hai người ra bến xe từ rạng sớm, thế mà chiếc xe đò ì ạch mãi đoạn đường ba mươi cây số hết gần buổi sáng mới ra tới Đà Nẵng. Thùng quà anh chị gởi cho Nữ chỉ khiêm nhường chiếc máy cassette, một máy chụp hình lạ mắt, vài chiếc quần bò, một số thuốc tây, kẹo bánh, lá thư chị Nhi viết và rất nhiều hình ảnh gởi kèm. Người kiểm soát không hào hứng gì mấy với thùng quà nhỏ bé, hắn hất tay ra hiệu cho nàng.
- Sắp hết vào thùng, khuân ra nhanh ngoài kia đóng thuế, chừa chỗ cho người khác vào.
Tối hôm đó Nữ ở lại nhà người bạn của mẹ trong phố. Mọi người quây quần xuýt xoa bên thùng quà lớn vợ chồng anh Mẫn gởi về cho mẹ và gia đình. Từng tấm hình màu rực rỡ chuyền tay nhau trầm trồ khen ngợi. Về lại phòng, Nữ táy máy với chiếc cassette một lúc rồi lạ lẫm ngắm nghía hồi lâu chiếc máy chụp hình lấy liền nàng chưa hề thấy bao giờ. Nàng thích thú lật xem từng tấm hình gia đình. Vui tươi bên chồng con, chị Nhi ngày càng đẹp hơn. Nữ bật cười lúc đọc mấy chữ phân bua của anh Dõng viết về khuôn mặt “bệ vệ” của mình. Hai đứa cháu thì lớn nhanh như thổi. Thằng Bờm với mái tóc bờm dựng đứng kháu khỉnh như một chú ngựa con đang nô đùa với bé Phương trong một công viên có nhiều trẻ con bản xứ tóc óng ánh vàng tơ.
Nữ đọc đi đọc lại bức thư, cố gắng hiểu cho ra mấy câu nhắn tối nghĩa của chị Nhi... “Cháu Bờm rất thích kẹo cao su, em nhớ trao hết cho cháu”. “Thuốc sửa trị bệnh bao tử, em nhớ nhắc mẹ uống cho hết thì mới có công hiệu”. Nữ chăm chú nhìn những bịch kẹo cao su và mấy chai thuốc trên bàn. Cháu Bờm ở bên đó lấy đâu mà trao? Mẹ thì đã qua đời... Nữ mừng rỡ reo lên. Nàng náo nức làm công việc người đi tìm kho tàng. Từng miếng kẹo cao su bọc giấy bạc thơm phức mùi bạc hà được bóc ra. Thuốc sữa đổ hết ra ly chỉ còn vỏ nhựa nhẹ tênh chờ bị cắt đáy. Chú tâm “đào bới” kho tàng cả giờ mới xong. Xấp tiền đô la vuốt thẳng thớm trên tay, Nữ sảng khoái tự thưởng cho mình thỏi kẹo ngát thơm mùi quế. Nàng làm nhẩm bài tính nhân trong đầu rồi giật mình. Con số quá lớn khiến Nữ bồn chồn lo lắng về những việc phải làm sắp tới. Về thăm quê, nhờ cậu Chấn xuống trông coi việc xây lăng mộ cha mẹ cho kịp trước mùa mưa bão. Chuyến đi xa tìm đưa anh Niên về lại nhà. Nữ tự nhủ phải dồn hết nỗ lực tìm cho ra người anh thất lạc.
Buổi tối qua lúc nào không hay. Nữ đứng một mình trong khoảng sáng mờ bên lan can hiên gác nhìn xuống con phố đêm vắng lặng. Dãy mái phố rêu phong giờ đây là những mảng đen lớn nhỏ không đều chồm chống vào nhau thành chuỗi kỷ hà nhấp nhô gãy đọng bóng tối. Nữ nhìn theo người mẹ trẻ dẫn con quảy gánh hàng rong về nhà sau một ngày dài vất vả. Bóng hai mẹ con quấn quít bên nhau đi qua dãy nhà cửa đóng im lìm rồi khuất sau khúc đường quanh cuối phố. Bước chân trẻ thơ và tiếng cười hồn nhiên còn vẳng vọng lòng đêm. Nữ nghĩ tới mẹ con chị Vê trên bãi sóng Chân Mây và tiếng cười hạnh phúc của họ quyện trong tiếng rạt rào của biển như đang văng vẳng đâu đây. Chấp hết và sống thương đời... Lòng nàng chợt tần ngần tiếc rẻ về một mong ước trễ tràng. Từng ngày hạ hanh hao trôi qua phả hết nồng nàn vào mùa tình héo trái tương tư. Còn lại bước chân mộng du và đêm mường tượng bao la. Còn lại cát lạnh bờ lưng và những vì sao bất động xa xăm. Còn lại Nữ ngơ ngác buồn.
Vài cánh dơi chấp choáng bay vào khoảng bóng tối mái nhà bên kia đường. Nữ chợt ước ao phải chi giờ phút này nàng đang ngồi trên đò dọc theo dòng sông đêm trở ra cửa biển. Trở về nằm lại trong căn nhà của mình. Nằm lắng nghe tiếng đêm chờ tinh mơ tới, lãng đãng tiếng bầy chim bay bỏ đầm sông.
9. Trời chưa muốn sáng. Không gian còn sũng hơi nước từ cơn mưa hạ về qua lúc cuối đêm. Người đàn bà thức giấc vì tiếng mưa rì rào trên mái tranh rồi không ngủ lại được. Chị nằm trong căn nhà lạ lắng nghe tiếng nước giọt chạm vào máng tôn lanh canh đều đặn đâu đó phía ngoài hiên. Mưa tạnh rồi tiếng chim từng đàn bay. Âm thanh quang quác bay ruồng trên mái nhà rồi nhỏ dần mất hút nghe buồn buồn. Chưa kịp trở mình trên chút im vắng vừa có được, tiếng bầy chim khác lại xao xác bay qua. Chim gì mà lạ quá, chị thầm nghĩ, hình như chỉ bay theo một đường từ phía sông ra biển. Chị chưa hề nghe tiếng chim bay đàn vào buổi sáng bao giờ. Những ngày ở Nông Sơn, chị còn quá nhỏ chẳng còn sót gì trong trí nhớ, mơ hồ họa chăng tiếng chim tu hú kêu bầy trong đám mía còi dọc theo bến đò Cà Tang. Tháng năm lưu lạc theo chồng xuống tận miệt dinh điền Đồng Tháp tràm đước mênh mông riết rồi quen với hình ảnh từng đàn le le trên cánh đồng năng nước nổi. Hồi đó chị nhìn chim bầy mà thương chúng sao quá lẻ loi trong lướt thướt ráng chiều. Thương mình sao lẻ loi giữa đất Sài Gòn hồi ba mẹ con hẩm hiu với nhau sau khi chồng chị qua đời. Sau ngày giải phóng, mẹ con phải bỏ trống căn nhà nghèo nàn cuối xóm bên bến đò Thủ Thiêm lên vùng Bình Dương đi kinh tế mới theo lệnh của nhà nước. Những buổi trưa trong căn chòi gió luồn vách thưa, tiếng chim cu rúc trong bụi chuối xơ xác mấy tàu lá khô vàng nghe mà buồn nhão cả ruột.
Người đàn bà khoát mùng ngồi tư lự. Những vệt sáng mờ len qua vách nhà làm nhạt dần bóng tối trong phòng. Giờ này có lẽ thằng Lai con Lụa đã thức dậy cụ bị lên rẫy. Chị gạt nước mắt nhớ con, với tay quấn chiếc khăn rằng lên đầu rồi làm dấu thánh giá âm thầm đọc kinh cầu nguyện. Tiếng kinh đều đều theo nhịp đập trái tim đọng thành tràng giọt vô thanh lặng rớt vào hồn giúp người đàn bà lấy được chút lòng bình thản. Chị xuống giường sẹ bước ra gian trước lờn vờn trong ánh sáng tỏa ra từ cái đèn hột vịt đặt trên bàn thờ. Tấm hình đôi vợ chồng đặt bên bài vị rờn rợn vắng xa. Chị đứng nhìn sững vào đôi mắt hiền từ mà nghiêm nghị của người anh họ. Hơn bốn mươi năm suốt cuộc đời luân lạc của chị thoắt hiện trở về. Từ đầu nguồn sông Thu hắt hiu ghềnh Đá Bát bên bến Cà Tang nước cuộn, chị đã nổi trôi qua biết bao dòng sông bến nước để rồi một chiều tình cờ thấy mình trở về đứng lạc loài nơi cuối dòng sông thơ ấu.
Cha chết năm chị lên mười vào giữa thời chín năm kháng chiến. Cả đoàn dân công tải đạn ra mặt trận bị máy bay Pháp rượt bắn. Xác cha đứt mất chân nằm trong cái hòm gỗ sung xộc xệch được hàng xóm trong đoàn gánh chạy từ Trung Phước về bến đò trên chiếc võng đan dây dừa. Cha yên phần ông, mộ đắp trên ghềnh Đá Bát ấm áp khói hương. Chị thế cha giúp mẹ chèo đò đưa dân làng qua về bến sông kiếm sống. Hai mẹ con chèo chống rồi cũng qua những ngày sông Thu mùa lũ, ghe tròng trành quay như lá giữa dòng.
Kháng chiến thắng lợi. Đất nước chia hai. Có điều phần được chia của kháng chiến nằm ở bên kia bờ sông Bến Hải tuốt phía ngoài Cửa Việt, Đông Hà. Người dân khốn khổ qua chín năm sống tiêu thổ chui rúc nay lại được dỗ dành chuyện ai đi tập kết, ai ở lại nằm vùng.
Cô gái đưa đò tuổi vừa mười sáu hây hấy xuân thì lọt vào cặp mắt toan tính của các mẹ các chị trong hội Phụ Nữ xã và kế hoạch lâu dài của cách mạng. Thế là sau vài lần họp hành thuyết phục, duyên phận chị được định đoạt. Anh bộ đội người Đại Lộc về đóng chốt ở khu chiến Nông Sơn, hơn cả giáp tuổi, đã trở thành chồng của chị. Người thanh niên ít nói rụt rè giúp vợ chèo đò mấy tuần lễ trước ngày tập kết. Rồi đi.
Bộ đội ra Bắc. Không còn cán bộ Phụ Nữ họp hành kiểm thảo, không biểu tình, hết vót chông đào hầm, hết dân công tải đạn... thôn xóm vắng buồn như bến sông hẩm hiu con đò neo vắng khách. Những người đàn bà ở lại, không chồng mà tay xách nách mang. Nhiều người bụng đã lùm lùm thai nghén. Trong đó có nhiều cô gái còn bẽn lẽn dáng tân hôn, vụng về bước đầu làm mẹ. Những câu nói ngon ngọt dỗ dành trong các buổi họp phụ nữ trước đây trở thành niềm hy vọng cho những người đàn bà chờ chồng. Tập kết chỉ là tạm thời thôi vì hai năm sau sẽ có bầu cử, hiệp thương. Bộ đội đi rồi bộ đội sẽ về. Và như thế xóm làng rớt vào cảnh hồi hộp đợi chờ.
Ngày quốc gia tiếp thu mà ai nấy đều lo sợ vì nhiễm tuyên truyền rồi cũng lặng lẽ đến. Không thực dân đế quốc, không lê dương hãm hiếp, chẳng máy bay cà nông, chẳng súng ngắn súng dài. Chỉ lá cờ vàng ba sọc đỏ lặng lẽ bay trước sân ủy ban. Chừng như đã qua lâu lắm rồi cái ngày những người cán bộ cách mạng bước khỏi bong tàu Ba Lan, lạ lẫm từng bước chân dép lốp Bình Trị Thiên trên bến tàu ở Vinh hay Hải Phòng rồi biến mất âm thầm trong lòng miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Cũng ông hương kiểm, ông tổng, ông lý trưởng trước hồi chín năm sống sót qua những đêm đấu tố địa chủ việt gian, nay là thân hào nhân sĩ, là xã trưởng, ấp trưởng. Cũng anh du kích hôm nào nay là nghĩa quân dân vệ, bận rộn vào ra không mục đích qua khoảng sân trước ủy ban lầy lội những ngày mưa. Cụ Diệm thì vẫn anh minh và lùn, duy chỉ cô em dâu thì ngày càng ngoa ngoắt hơn.
Nước sông Thu Bồn vẫn đêm ngày cuồn cuộn chảy qua bến Cà Tang. Cô gái vẫn giúp mẹ chèo đò. Dáng dấp nàng thon gọn xuân xanh trong lúc bụng chửa những người đàn bà có chồng tập kết ngày càng phểnh ra. Nàng chẳng hề hé môi cho ai biết về những ngày hôn phối của mình. Cô gái chẳng buồn nhớ và cũng chẳng tiếc rẻ chi sự vồ vập nửa vời hằng đêm của người thanh niên. Chỉ còn lại sự trở lăn lạ lẫm giữa đêm, một mình nhớ lại từng xúc động chảy ròng trên vùng hạ lưu phong kín mép bờ. Còn lại nỗi phiền bực bị mang tiếng có chồng đi tập kết, nhiều tối phải chiếu gối đến trụ sở ấp mà ngủ trong tiếng muỗi vo ve, sàm sỡ ánh đèn pin của toán dân vệ và lời ghen tương than thở của đám đàn bà bụng bầu vượt mặt.
Những đứa con được sinh ra, lớn lên âm thầm như bóng trong nỗi đợi chờ, hy vọng một đoàn viên. Tình cảm gia đình, lòng thương yêu chồng con của người đàn bà Việt Nam đã xốc đứng họ dậy, dắt díu đứa con hiệp thương nay đã biết chạy biết đi đòi tìm cha. Đúng như kế hoạch cách mạng đã đề ra bốn năm năm về trước. Một số cán bộ nằm vùng lác đác lộ diện hay tập kết lén lút trở về. Những nấm mộ chôn vũ khí được bới lên. Chiến tranh lại tiếp diễn trên đất nước đã quá nhiều đau thương bom đạn.
Nơi đây vợ chồng người anh họ cho cô về ở làm việc nhà và giúp săn sóc đứa con thứ hai của họ vừa chập chững biết đi. Cô gái thích cuộc sống mới, không mấy bận rộn nhọc nhằn lại có đồng ra đồng vào nhờ nơi ăn chốn ở đã được chu toàn. Người anh họ là công chức ở thị xã, ông nghiêm nghị mà nhân từ. Người vợ dễ mến tuy bận rộn với cửa hàng tạp hóa bên phố chợ vẫn thu vén việc nhà và săn sóc con nhỏ. Bé Nhi ngoan hiền đang học tiểu học và cu Niên bụ bẫm mau lớn hơn những bé cùng tháng tuổi.
Hội An là một phố nhỏ nhưng đối với cô gái chèo đò từ vùng núi quê heo hút thì dãy phố cổ ngoằn ngoèo thâm thấp từng gian nhà mái ngói âm dương rêu đọng đã có một sức thu hút kỳ lạ. Giữa giấc trưa trong sân nhà bốn bề tường vây tĩnh mịch, chiếc phong linh treo dưới vòm cổng lặng câm chờ gió như bóng lá im lìm trên mặt đất. Qua mấy ô tròn trên cánh cổng nhìn thông ra phố, nhịp ngói mái nhà xiên xiên nối tiếp nhau địu vời từng vạt nắng xuống lòng đường phố xuôi dài như dãi sóng vàng quánh bất tận. Phía ngoài đó là cuộc sống. Là định mệnh đang chờ. Lòng cô gái náo nức muốn xô rộng cánh cửa bước ra.
Giữa đám đông người một đêm hội thả đèn họ đã tìm ra nhau. Hai tia mắt chạm nhìn rồi quay mặt, trốn tìm mà đã thuộc về nhau chẳng chịu bứt rời. Ở một đầu là cô gái không thướt tha, dáng vóc tảo tần, khuôn mặt còn son mà đôi mắt sớm buồn. Phía kia là anh lính dáng người đen đúa rắn rỏi, nét mặt thô chai sạm với tia mắt thu hút dữ dội của một con thú dữ săn mồi. Định mệnh đã khiến cô gái nhìn sâu vào đôi mắt đó.
Nhiều năm sau này, những lúc chị hồi tưởng về Hội An là nhớ về tháng ngày sôi nổi, thật sống với khát vọng yêu đương rực lòng cô gái đôi mươi. Quá khứ hằn lên trí nhớ những vết sướt cào tưởng còn tươm máu từ ngón tay sắc nhọn đam mê bấu lên da thịt. Những đêm hẹn hò trong góc vắng dưới chân Chùa Cầu hay trong bóng tối hiên đình Cẩm Phô là những lần thân xác tan nhập vào nhau chật cứng sỗ sàng. Anh lính ôm người yêu thì thầm kể chuyện nhà với giọng nói miền ngoài xa xôi lạ lùng. Chuyện anh sắp mãn quân dịch muốn đưa cô gái về nhà tuốt tận trong Nam. Cô gái rướn nhận ngón tay thô tháp mân mê lên bờ ngực vun mềm rồi mơn động không ngừng trong thân thể nàng. Lịm người trong cảm giác trơn tuột, cô gái ghì siết vòng tay thêm chặt lên bờ lưng cuồn cuộn, môi hả trào bật cắn khoảng vai sạm nắng đượm mặn mồ hôi và máu rướm. Sức nóng cuồn cuộn của con gió thô cứng sần sùi từng cơn ruồng rật vào hang động làm chảy tan đầm đìa phún thạch. Bờ vai chắc nịch không ngừng nhấp nhô và nước sông Hoài dập dềnh xuống lên theo cơn gió thốc.
Cô gái biết ra mình có thai gần như cùng lúc tin người yêu được mãn quân dịch về lại quê nhà. Tuổi trẻ có những dại khờ của nó. Thay vì nói thật cho vợ chồng người anh chị bà con biết để lo việc cưới xin rồi chính thức theo chồng, cô gái bỏ nhà trốn theo người yêu.
Gia đình chồng gốc người Nùng di cư từ miền Bắc vào Nam sau ngày đất nước chia đôi. Cả họ đạo theo vị cha sở định cư sinh sống tại một khu dinh điền trong Đồng Tháp Mười. Vợ chồng sống yên ấm trong căn nhà nhỏ ở đầu con kinh Xáng thẳng tắp chảy ra Đồng Tiến. Lần đầu tiên trong đời, chị được sống trong ngôi nhà của riêng mình, hạnh phúc đơn sơ. Anh làm ruộng, chăm nuôi bầy vịt đẻ, và làm trưởng cái đồn dân vệ vỏn vẹn nửa tiểu đội dân quân đóng bên bờ kinh Ngang. Từ nhà người vợ có thể nhìn thấy lá cờ vàng quốc gia chấp chới bay trên nóc đồn. Cờ treo lên sào tre lủng lẳng sợi dây ăng-ten của chiếc máy truyền tin, phương tiện liên lạc duy nhất với đồn chính ở khu Hai và các đồn khác trong vùng, chỉ huy bởi một ông thiếu úy già Hòa Hảo đồng hóa say sưa tối ngày.
Những ngày chồng lùa vịt vô đồng ăn lúa sót sau mùa gặt, chị nôn nao chờ mặt trời chưa kịp lửng trưa đã chống xuồng bới cơm cho anh. Rạ mới giòn thơm là nệm chiếu ấm êm trong cái chòi vịt giữa cánh đồng vắng ngắt. Vợ chồng trần truồng giữa trời nước. Ái ân. Cảm giác hạnh phúc nhất là thói quen của nhau sau mỗi lần thỏa mãn. Anh ngắm nhìn vợ đẫy đà bước xuống dòng kinh, chị đưa tay bới tóc cao rồi quay lại đón mời. Lùm điên điển lung linh trên triền nước trong nắng gió hây hây đồng nội. Chị đứng trâng nhìn chồng chắc nịch tồng ngồng xốc khỏi rơm rạ bước về phía chị. Họ trầm mình vào dòng nước mát hân hoan.
Cuộc sống gia đình êm đềm trôi theo từng mùa nước lớn ròng. Chị sinh thằng Lai rồi con bé Lụa. Cánh đồng vẫn bao la vắng ngắt, nhất là vào buổi trưa. Bầy vịt đẻ vẫn xúm xít bên đám ruộng nước mãn mùa, có khi chúng ngưng rỉa tìm nghiêng đầu hồi lâu nhìn đàn vịt trời đang sải cánh bay. Cánh đồng bất tận biết đâu phương hướng mà về.
Chị ở yên với gia đình chồng con chẳng để ý chi tới tình hình đất nước ngày càng chộn rộn. Anh em ông Diệm bị đảo chánh, chết bất đắc kì tử. Chiến tranh ngày càng lan rộng. Chồng chị phải vô đồn ngủ thường hơn. Rồi tai họa chụp xuống gia đình. Một bữa trưa chống xuồng mang cơm vô chòi vịt cho chồng thì thấy anh nằm hấp hối trong đống rơm. Lưỡi mã tấu ngập sâu vào bụng, máu thấm ướt loang chiếc áo trây di. Bản án cách mạng trừng trị tên trưởng đồn tay sai mỹ ngụy cũng bê bết máu. Chị hốt hoảng khóc ròng lúc anh gượng tỉnh dặn dò trăng trối. Chị cuống quít đẩy chồng máu me ra tới kinh Xáng rồi theo xuồng máy mới nửa đường tới bến đò An Long thì anh qua đời.
Chị nuốt đau thương chôn cất chồng. Buổi sáng sau ngày mở cửa mả, chị dắt con đến khu Hai gặp người trưởng đồn. Ông Thiếu Úy già giật mình tỉnh rượu. Chiếc xuồng máy chở ba mẹ con phóng thẳng ra Chợ Mới cho kịp chuyến xe qua bắc Năng Gù về Sài Gòn. Qua màn nước cuộn chị thoáng thấy ông Thiếu Úy đang hối hả tập họp lính dẫn vào đồn kinh Ngang. Trên đầu chị bầy le le bay tan tác giữa khoang trời mang mang châu thổ.
Người đàn bà thắp nhang đứng vái lạy trước bàn thờ. Chị kính cẩn nhìn vầng hương khói lung linh trước bài vị hồi lâu rồi thở dài mở hé liếp cửa lách mình ra đứng trước sân nhà. Chiếc thau nhôm cũ đầy nước mưa đọng nằm chênh vênh cuối hiên. Thủ phạm của tiếng lanh canh suốt đêm. Chị thầm nghĩ. Hơi nước còn đọng kín mặt sông và khoảng cửa biển đâu đó ở cuối dãi cát cũng mờ chìm trong sương. Bỏ lại phía sau màn sương trắng đục bầy chim chấp chới bay về biển trong khi xóm nhà còn biếng lười ngủ nướng trong buổi sớm cuối hè.
Cửa biển hiện dần trong sương tan thấp thoáng vài cánh buồm về bến. Người đàn bà cố mường tượng hình ảnh người anh họ đứng trên thuyền cá vất vả vào ra cửa biển những sớm hôm và dáng ông mệt mỏi bước qua dốc cát về nhà. Cùng lúc, bóng dáng nghiêm trang phong thái của ông bước qua cổng nhà vào những buổi trưa hơn hai mươi năm trước từ trong trí nhớ ập đến chiếm lĩnh, tràn lan vuốt mặt. Chị bâng khuâng nghĩ tới vợ chồng người bà con tốt bụng đã qua đời mà bàng hoàng thương đứa cháu gái phải sống đơn độc trong căn nhà sau cửa biển bất trắc cảnh đời. Tội nghiệp cho lớp tuổi trẻ phải sống lầm lũi xác xơ. Thằng Lai, thằng Niên, con Nữ, con Lụa... Sóng gió biển dâu chẳng chừa một ai. Và cả những tình cờ gặp gỡ trên đường đời cũng trở thành định mệnh trớ trêu.
Sau hơn hai năm cam khổ trên vùng kinh tế mới, cuộc sống của chị và con Lụa càng bi đát hơn lúc thằng Lai bị bắt đi bộ đội làm nghĩa vụ quốc tế ở Miên. Ngày đứa con trai bỏ lại một phần bàn tay trên chiến trường giải ngũ trở về chị mừng như sống lại mà Lai thì chỉ hàng ngày câm lặng cày cuốc, sống bơ phờ xa cách trong một thế giới riêng rất buồn.
Nhiều tháng sau, trong một cơn say Lai đã kể cho mẹ và em nghe đoạn đời máu me khốc liệt của mình. Chặng đường địa ngục mà sự lựa chọn chỉ còn là nỗi tuyệt vọng và tình thâm bằng hữu.
Nghĩa vụ quốc tế của bộ đội Việt Nam lan dần về phía biên giới Campuchia Thái Lan với những cuộc truy quét lính Khmer Đỏ lủi trốn qua những cánh rừng rậm dần về phía sông Mekong. Hi vọng của một số bộ đội Sài Gòn bị bắt đi nghĩa vụ trên đất Miên cũng lớn dần khi vệt quanh co như con rắn xanh trên bản đồ ngày một gần hơn. Lai và người bạn đồng đội trong một tổ tam tam được giao công tác đi kích trong khu rừng gần bờ sông cũng thuộc trong lớp thanh niên này. Dòng sông biên giới giữa hai quốc gia đã bao lần chảy qua giấc mơ họ cũng chính là lằn ranh giữa sự sống và chết. Qua sông về hướng tương lai là động lực duy nhất giúp họ chịu đựng gian nguy, bệnh tật, chết chóc. Nhiều người trong số họ đã bỏ cuộc, qui hàng số phận lúc mắt chưa thấy được ánh nắng lấp lánh nhảy múa trên dòng sông chảy xiết.
Người bạn chống súng đứng nhìn khúc sông ngầu đục phù sa, rời rã lục bình. Anh quay nhìn định nói điều gì đó nhưng vội nghiêm nét mặt khi thấy Lai quắt mắt về phía người tổ trưởng đang lúi húi đào hố cá nhân. Như rất nhiều tổ tam tam khác trong quân đội CSVN, người bộ đội miền Bắc là tổ trưởng chỉ huy hai tổ viên gốc miền Nam. Họ thường là đảng viên hay người đã kiên định tư tưởng.
Một lúc lâu sau, lợi dụng lúc tổ trưởng không để ý, người bạn lại gần Lai nói vừa đủ nghe.
- Ba ngày kích ở vùng này tụi lính Pol Pot thế nào cũng đi qua. Chuẩn bị sẵn sàng. Lợi dụng lúc nổ súng, thấy tình hình thuận tiện là mình bỏ chạy ra bờ sông, lội qua bên kia ngay. Cứ chạy theo tao. Nhớ quàng theo lương khô trong bọc ni lông.
Phiên gác cuối đêm chậm chạp trôi qua trong mệt lả, chập chờn thức ngủ. Lai ngồi trong hố cá nhân nhầy nhụa sình, mí mắt nhấp nhem sụp nhướng, tai mơ hồ tiếng côn trùng và những hạt mưa len lẩy qua nhánh lá ngụy trang cắm trên nón cối. Cuối cùng Lai rơi vào cơn mơ nhập nhòa những vòng nước vầng lan và tiếng nước quẩy nhịp chèo khua. Con đò mẹ chèo tần tảo kiếm sống bên bến Thủ Thiêm lật chìm và bóng mẹ cuốn theo. Tay mẹ gầy trên dòng nước cuộn, câm sặc âm thanh, chới với chìm sâu. Lai giật mình tỉnh giấc. Dòng sông xa xa, lờn vờn lá rừng xanh. Một đêm vừa qua, thấp thom tiếc rẻ. Đêm định mệnh sắp tới, hụt hẫng đợi chờ. Lai nhớ mẹ vô ngần.
Ngày thứ ba. Vạt nắng cuối ngày còn đọng nhấp nhô trên sông mà cánh rừng bờ Miên đã nhá nhem mặt người. Toán lính Pol Pot di chuyển qua vùng kích vào lúc chẳng ai dự tính. Bất ngờ ập đến cho cả hai phía. Lai chỉ kịp nhìn thấy lùm cây phía đường mòn chợt lay động, mặt người thấp thoáng, và những tia đạn đạo đan chéo nhau cùng một lúc.
Người tổ trưởng và ba trong số bốn tên lính Miên gục chết ngay sau loạt đạn đầu. Người bạn của Lai ném lựu đạn về phía tiếng rên la. Tiếng nổ chát chúa vang lên thanh toán trận chiến trong tích tắc. Khu rừng im lặng rợn người.
Người bạn lục soát xác lính Miên. Anh vội vã chạy ngược về phía Lai, vai ba lô, tay súng.
- Lẹ lên. Chạy theo tao xuống bờ sông. Tụi đại đội nghe tiếng súng xuống tiếp ứng bây giờ.
Người bạn hối hả nói rồi sửng sốt khi nghe Lai từ chối.
- Đ.M. Mầy có khùng không? Ở lại chỉ từ chết tới chết mà thôi. Chỉ cần lội qua sông. Trại tỵ nạn Liên Hiệp Quốc không xa đâu.
Đầu óc tỉnh táo lạ thường, Lai nói với người bạn đồng đội đang bối rối đứng nhìn.
- Muốn tao sống thì ráng bắn cho chính xác.
Anh lấy dãi băng cứu thương quấn nhiều lớp thật chặt một phần bàn tay phải rồi cầm súng đứng nép sát thân cây như trong tư thế chiến đấu. Hai ngón tay ở ngoài lớp vải băng cong cong run rẩy. Lai nghiến răng nhắm mắt chờ tiếng đạn nổ. Im lặng. Có tiếng nấc nghẹn của người bạn cố kềm giữ xúc động.
- Đ.M. Bắn lẹ lên. Tụi nó sắp tới rồi.
Tiếng nổ chát chúa cùng lúc với cảm giác bàn tay bị nhấc lên đau xé, khẩu AK rớt thịch xuống đất. Lai ôm cánh tay buốt nhói ngồi dựa lưng vào gốc cây. Người bạn nhào tới ôm Lai, vừa khóc vừa luống cuống băng lại bàn tay mất hai ngón bê bết máu. Lai vỗ vai bạn rồi đẩy hắn ra.
- Mầy chạy đi. Phải tự tay tao băng bó mới được. Mày đã bị tụi lính Pol Pot bắt đi rồi... Chạy lẹ đi.
Người bạn chạy mất hút vào bóng đêm. Lai nghiến răng chịu đau, ngồi băng lại vết thương của mình. Đêm ập xuống bủa vây. Anh nhắm mắt định thần, cố gắng giữ lòng trấn tĩnh nghĩ về người bạn giây phút này có lẽ đang lội qua sông. Anh khấp khởi mừng phía bờ sông vẫn vắng lặng. Đêm bao la rờn rợn tiếng rừng. Hơi thở mệt rã từng cơn kéo anh rớt chìm vào trạng thái chập chờn nửa thức nửa mê. Đêm nhẹ tênh. Lai thấy mình trở về nhà. Đám mây bềnh bồng trôi trắng lòng sông. Giọt mồ hôi lấp lánh trán mẹ. Tiếng đứa em cười...
Sau buổi chiều ba mẹ con ngồi khóc với nhau, u uẩn trong lòng được giãi bày, Lai sống yêu đời hơn. Anh càng mừng rỡ hay tin người bạn đã bình an trốn thoát đang sống trong trại tỵ nạn chờ định cư. Họ sống nghèo, đầu tắt mặt tối mà sum họp bên nhau, cho tới một ngày tưởng may mắn tình cờ nào hay hệ lụy trổ mầm.
Trong lúc tham quan hợp tác xã bán nông phẩm thâu hoạch cho thành phố, một cán bộ kinh tế đã chú ý tới người đàn bà xã viên tuy nói giọng Nam nhưng vẫn không giấu được gốc gác Quảng Nam của mình. Sau khi hỏi ý kiến con và được hứa hẹn mỗi tháng đôi lần về thăm nhà vào dịp cuối tuần, người đàn bà đồng ý về thành phố giữ con cho vợ chồng người thanh niên cán bộ. Chị mến ngay đứa bé trai vừa lên hai liến thoắng hiếu động. Mẹ của cháu bé vẫn còn ở đại học, tính tình kín đáo tốt bụng và nhất là giọng quê Quảng Nam đầy gợi nhớ. Tuy có nhiều cảm tình với người mẹ trẻ, chị vẫn giữ ý không tâm sự gì ngoài tháng ngày sống ở Nông Sơn đưa đò trên bến Cà Tang của mình. Vợ chồng người cán bộ thì không hề mảy may nói tới quá khứ của họ. Mỗi lần nghĩ lại câu chuyện vào buổi tối trước ngày người vú nuôi thôi việc về quê, chị vẫn nhớ rõ ánh mắt không mấy thiện cảm của bà khi nói về người cha.
- Tui nuôi thằng cu Hia từ hồi mới đầy tháng mà chưa hề thấy ổng ẵm thằng nhỏ lần nào.
Rồi bà nhỏ giọng, mắt dòm chừng ra nhà trước.
- Chỉ là chuyện mua bán mà thôi. Ổng chịu lấy cô Quế để được làm cán bộ, còn cô Quế và gia đình khỏi bị tai tiếng, kiểm điểm. Nghe nói cha mẹ cổ là cán bộ gộc ngoài Quảng Nam. Khi hay tin con có bầu với bạn trai học cùng lớp lại thuộc gia đình ngụy quyền, họ đã cấp kì đưa con gái vào Sài Gòn tính là phá thai rồi ở luôn trong này học Đại học. Ngặt vì cô Quế có bệnh máu loãng, thai phá rất nguy hiểm nên họ phải đổi kế hoạch, gấp rút mua chồng cho con để kịp thời ém nhẹm mọi việc.
Những buổi sáng trong căn nhà quét dọn tươm tất, ngồi nhìn bé Hia lẫm đẫm chơi đùa trong khoảnh sân nắng, lòng chị không nguôi nhớ về hai mươi năm trước.
Mỗi người có một cảnh đời riêng. Chị thở dài thầm nghĩ lúc bồng Hia vào lòng mà nhớ tới bé Niên nằm đói sửa trong nôi ngày chị trốn nhà bắt đầu cuộc đời lưu lạc.
Thấm thoát mà đã hơn một năm từ ngày chị bắt đầu chăm sóc bé Hia. Người mẹ cũng vừa tốt nghiệp đại học. Ngày Quế yêu cầu chị theo gia đình ra Hội An để tiếp tục chăm sóc bé Hia một đôi tháng đầu trong lúc họ chưa ổn định chuyện nhà, chị mừng quýnh nhận lời. Đã từ lâu chị vẫn mơ một ngày về lại Phố Cổ, thăm gia đình người anh họ để nói lời tạ lỗi. Chị mơ một lần về đứng bên bến đò Cà Tang thăm dòng nước cũ, thắp nguyện mẹ cha trên ghềnh Đá Bát chút vòng hương khói muộn màng.
Người đàn bà ngần ngừ đứng trước cổng nhà cũ. Giàn bông giấy xơ xác phủ trên hai cánh cửa rỉ sét khép kín. Lòng chị run run xúc động xen lẫn mặc cảm phạm tội vẫn đeo đuổi ám ảnh từ ngày chị mở cánh cửa lần cuối bỏ nhà đi. Chỉ cần lòn tay qua cái ô tròn nhỏ, kéo chốt sắt lên, ẩy vai vào cánh cửa là chị trở về. Chị nhủ lòng mà tay cứ mãi do dự không làm được động tác cuối cùng ấy. Đang lúc bấn bíu với mối xúc động ngập lòng thì cánh cửa cót két mở. Một người đàn ông luống tuổi trong cánh áo bộ đội bạc màu bất thần xuất hiện. Cảm xúc nôn nóng trở về kéo tuột chị qua cổng, bước thẳng về phía giữa vườn. Tàng cây vú sữa già nua che kín cả khoảng sân gạch cũ vương vãi rác bẩn. Mái hiên nhà rêu phong nặng oằn lên dãy vách tường vôi vỡ, ám khói. Chị chùn chân ngơ ngác nhìn cảnh nhà hoang liêu.
- Ơ cái nhà chị kia!? Chị là ai, đi tìm người nào mà dáo dác thế?
Người đàn bà lên tiếng trả lời trong lúc mắt vẫn nhìn quanh cảnh cũ. Hình ảnh quá khứ lớp lớp kéo về như lục bình trôi trên chặng sông đời. Khu nhà trên là phòng vợ chồng người anh, phòng cháu Thục Nhi và bé Niên có chiếc nôi đặt bên cửa sổ. Căn nhà ngang nơi chị sống những ngày êm đềm mà sôi nổi thời con gái tuổi hai mươi. Giếng khơi cuối vườn, chiếc gàu dây lanh canh thành giếng một lần tắm đêm ngượng ngùng bờ thân con gái dưới bóng trăng khuya. Hơn hai mươi năm, một nửa đời chị trầm luân.
Ngọn gió trưa thổi lơi qua vườn loang lổ bóng nắng. Người đàn bà đứng nhìn vào gian phòng cũ của mình qua cửa sổ mở toang. Ai đó sống ở đây có lẽ không về thường xuyên. Căn phòng trơ trọi chiếc giường gỗ chiếu gối xếp ngay ngắn và cái bàn học trống trơn sau cửa sổ. Chị chợt có cảm giác gây gây khó chịu phả vào gáy không hiểu vì hơi gió nóng cuối hè hay cái âm giọng khó nghe khan khản đều đều đeo bám sau lưng như từ một quá khứ khác, rình rập âm hiểm. Cảnh nhà vợ chồng người anh họ từ sau ngày giải phóng trải ra trước mắt chị tang tóc phân ly. Người đàn bà bật khóc. Chị tháo chiếc khăn rằn trên đầu lau nước mắt, quay nhìn gã cán bộ đã tiếm đoạt cơ ngơi một đời gầy dựng của anh mình.
- Ông không cần phải đặt điều phân bua. Căn chòi của mẹ con tui ở bến đò Thủ Thiêm còn bị lấy huống chi cái cơ ngơi này. Tui chỉ muốn biết hai đứa cháu côi cút của tui hiện giờ ở đâu...
Người đàn bà ngưng bặt lúc gã cán bộ trố mắt nhìn sững mái tóc buông xõa lên khuôn mặt hằn vết khổ thời gian. Bến sông xưa chìm trong quá vãng tối tăm chợt hối hả cuộn dòng, thoắt hiện hình ảnh cô gái đưa đò trên bến Cà Tang ngập ngừng ký ức. Người đàn ông run giọng.
- Có phải chị đấy không?
Người đàn bà gật đầu. Chị cũng vừa nhận diện ra người thanh niên gần ba mươi năm trước đã bất ngờ tạt bước qua đời mình như một cơn bóng đè thất lạc nửa vời. Chị bàng hoàng. Khuôn mặt rụt rè khờ khạo trong buổi tiệc cưới râm ran khẩu hiệu, tập kết hiệp thương. Đêm bên chồng bất lực, cô gái nằm nghe tiếng sông trôi, thở dài con nước lửng. Sự gán ép thô bạo mưu toan tuy chẳng tì vết gì đến cô gái miền Nam tràn đầy sinh lực đã làm rớt giọt lệ oan khổ bị mang tiếng là gái có chồng tập kết.
Chị nhìn cặp môi dày thâm tái run run trên khuôn mặt gã cán bộ già còn xanh mét vết Trường sơn mà lòng nghẹn trào cơn giận khi nghĩ tới hoàn cảnh bi thương tan nát của gia đình người anh.
Người đàn ông thì mừng khấp khởi. Trí nhớ gạn lọc đưa ông trở về những ngày hạnh phúc ngắn ngủi trên đầu sông Thu Bồn. Giữa mớ hình ảnh hỗn độn của buổi tiễn đưa người tập kết xuống đò dọc về Hội An nổi bật lên bóng dáng cô gái đứng lại trên bến sông đã gieo vào lòng gã đàn ông chút hi vọng mong manh. Nhiều năm qua, sau những cơn say hay cãi vã thô tục với người vợ ngày càng đanh đá, ông thường mơ màng về một cuộc trùng phùng có vợ hiền con ngoan để che dấu mặc cảm bất lực của mình. Vậy mà giờ đây khi gặp lại, người đàn ông sợ sệt tới đắng lòng. Ông sợ chút hi vọng cuối cùng rồi cũng chẳng cầm giữ được. Ông ấp úng.
- Thế mình có gì với nhau không sau ngày tôi ra Bắc?
Người đàn bà cất tiếng cười lớn, vặn hỏi lại.
- Có hay không, ông tự biết lấy, tại sao lại phải hỏi tui? Vậy ông được mấy mặt con với vợ ngoài Bắc? Trong này, tui lấy chồng, sống hạnh phúc, có con. Chồng tốt giống, tui mắn con. Có thêm vài đứa là chuyện dễ dàng nếu cách mạng mấy ông không rình ám sát chồng tui.
Hy vọng cuối cùng rã tan theo tiếng cười của người đàn bà xoáy động vào tim, đau nhức gấp bội lần tiếng chưởi rủa chanh chua của vợ. Người đàn ông ôm đầu ngồi bệt xuống sân gạch.
Người đàn bà quấn lại chiếc khăn rằn lên đầu, ngồi xuống thềm hiên nhà. Khuôn vải miền Nam ôm giữ mái tóc dài, chở che mưa nắng như một thói quen không rời giúp lòng chị bình an trở lại. Chị dịu giọng.
Ánh mắt của gã cán bộ khựng lại trên khuôn mặt người phụ nữ miền Nam đoan hậu lúc chạm phải tia mắt nhìn thẳng thắn của bà. Ông ta cố nén xúc động hất hàm về phía căn phòng trống.
- Mộ anh chị ấy ở gần nhà mới ngoài cửa biển. Con gái út tên Nữ là giáo viên, nghỉ hè đang làm lồng đèn ở hợp tác xã ngoài phố. Thỉnh thoảng mới về đây ở lại qua đêm thôi. Ối giời, cô Nhi bên Mỹ cứ gởi tiền về nườm nượp, xây lăng đắp mộ chả thiếu thứ gì. Cậu Niên thì vượt biên bị bắt, sau đó được cách mạng khoan hồng cho đi lao động với thanh niên xung. Chắc cũng sắp về thôi.
Chị ngồi loay hoay nôn nóng nghĩ tới hai đứa cháu côi cút. Hình ảnh bé Niên nằm say ngủ trong nôi hai mươi mấy năm trước buổi sáng chị bỏ nhà đi từ trong trí nhớ hiện lên dằn vặt, rõ ràng.
- Về thăm Hội An lần này chị ở đâu?
Câu trả lời khiến người cán bộ ngạc nhiên đứng bật dậy, hỏi dồn.
- Thế à!? Chị trông con cho cô Quế cả hơn năm nay à!? Con trai cô ấy lên ba rồi à? Thế thì tốt thôi. Gia đình cô Quế mới về hôm qua hèn nào mấy ngày trước tôi đến nhà đồng chí chủ tịch huyện báo cáo công tác mà chẳng nghe nói gì sất.
Mãi tiếp tục câu chuyện họ vô tình không hay biết bà vợ của người cán bộ đang nén ghen tương anh ách trong lòng đứng rình lén nghe đối thoại giữa hai người. Bà ta còn ngạc nhiên hơn cả chồng về chuyện đứa con trai của Quế nhưng không bị sự xúc động làm mụ đi đầu óc tính toán của mình. Người vợ vừa chộp được cơ hội quí giá ngoài sức tưởng tượng để tâng công như bà ta đã làm bốn năm về trước.
Tiếng cót két của cánh cửa khiến hai người quay nhìn ra cổng. Người vợ đang hấp tấp dắt xe đạp qua cổng phải quay lại vì câu hỏi của chồng.
- Nhà chị định đi đâu thế!?
Cơn ghen vừa tìm được chỗ trào.
- Đi đâu thì mặc xác bố bà. Đứng đây mà nghe vợ chồng cũ chúng mày ỉ eo à!
Người vợ lồng lên, rồi khuất mình sau cánh cửa đóng sầm. Người đàn bà cũng đứng dậy chào gã cán bộ.
- Thôi, tui cũng chào anh tui về.
Chị sửa lại chéo khăn, cười cợt.
- Ở đây rồi không khéo bà nhỏ dẫn công an khu vực vô bắt ghen bà lớn thì phiền lắm.
Cánh cổng khép lại sau lưng. Người đàn bà đứng dưới vòm bông giấy lặng nhìn con phố liêu xiêu dãy mái nhà rêu đọng. Hơn hai mươi năm mà tưởng như mới hôm qua. Chị thở dài dõi mắt như thấy bóng mình hai mươi tuổi bước qua từng buổi phố trưa, dãy hiên nhà thấp xuống im lìm và những vạt nắng màu vàng nghệ nằm rớt lặng mặt đường. Phố vẫn cũ như ngày xưa mà người về thì già nua, thất lạc từng bước muộn phiền.
Tiếng liếp cửa chống kẽo kẹt khiến người đàn bà giật mình trở về với thực tại. Cô cháu gái bước xuống hiên nhà, mau mắn hỏi chào.
- O Đà dậy sớm rứa? Tại lạ chỗ hay vì hai o cháu mình đêm qua nói chuyện nhà tới khuya bị quá giấc ngủ?
- Cả đời người bốn năm chục tuổi đầu thiếu chi chuyện để mà nhớ cháu. Đang lúc nhớ con, rồi nghĩ thương thằng cu Hia cha con thất lạc không biết nhau thì bầy chim bay qua ồn quá. Thức dậy thắp nhang cho cha mẹ cháu rồi ra đây đứng. Sông nước làm o nhớ tới bến đò Cà Tang thời con gái.
- Đồng hồ báo thức của cháu đó o. Bầy chìm ăn cá sáng nào cũng rầm rĩ bay từ đầm sông ra biển. Riết rồi quen. Những đêm ở lại phố, sáng ra cháu lại thấy nhớ cái tiếng quang quác buồn buồn đó.
Cô gái mỉm cười tinh quái nhìn người bà con trong chiếc khăn rằn.
- Chiều qua lúc O vừa bước vô hợp tác xã, cháu cứ nghĩ là mẹ chiến sĩ miền Nam thành đồng ra mua lồng đèn đem về Bến Tre bán. May mà bà bạn của mẹ cháu vẫn còn nhận ra O.
O Đà cũng cười lớn.
- O thì nhận ra cháu ngay dù ngày rời Hội An cháu vẫn còn nằm trong bụng mẹ. Hai chị em Nhi Nữ giống nhau như hai giọt nước.
Người đàn bà vuốt tóc đứa cháu gái côi cút, giọng khản lại vì xúc động.
- Hai mươi mấy năm dài dồn lại một ngày với quá nhiều chuyện thương cảm oái oăm diễn ra cùng một lúc làm O muốn ngột thở. Bất ngờ gặp lại người chồng cũ tập kết mà O không hề nghĩ tới suốt đời mình, trong lòng càng hận vì chính vợ chồng ông ta đã tiếm đoạt cơ ngơi và tiếp tay làm tan nát gia đình cháu. O định bụng đi nhanh về nhà để kịp chăm sóc cu Hia rồi chiều ra hợp tác xã tìm thăm cháu. Bước vô ngỏ nhà cô Quế, chưa kịp ngạc nhiên khi thoáng thấy vợ ông ta đang hấp tấp đạp xe ra về thì đã thấy Quế bồng cháu Hia đứng chờ trước hiên, nét mặt đầy kích động âu lo. Mắt rưng rưng xúc động, Quế không nói lí do, chỉ đưa cho O một số tiền khá lớn rồi bảo phải ra Đà Nẵng ngay để chờ sáng mai về Sài Gòn sớm. Quế còn dặn dò không được để chồng cô ta thấy mặt. O khóc, dành bồng cu Hia xin cho tắm rửa cháu một lần cuối trước khi khăn gói rời nhà. Cu Hia vẫn ngây thơ nghịch nước trong lúc O cứ sụt sùi vì không còn dịp để chăm sóc nâng niu đứa bé kháu khỉnh dễ thương mà tự nhiên O vẫn thương với mối cảm tình đặc biệt mơ hồ từ hơn một năm qua. Cho đến khi gặp cháu ở hợp tác xã, rồi o cháu trò chuyện suốt đêm qua, hiểu ra O lại càng thương hoàn cảnh oan trái thương đau của cha con Niên.
Nữ cầm chặt tay o Đà nói qua hàng nước mắt.
- Có O ở lại giúp đi tìm anh Niên cháu mừng ghê.
Hình ảnh bé Niên đói sữa trong nôi buổi sáng O Đà bỏ nhà ra đi hiện ra rõ ràng trong trí tưởng, người đàn bà lau nước mắt cho đứa cháu gái, ân cần khuyến khích.
- O cháu mình sẽ tìm ra Niên. Anh em cháu sẽ gặp lại nhau. Cu Hia sẽ gặp lại cha nó. Ông Trời đã xui khiến cho O được chăm sóc cu Hia hơn một năm qua thì chẳng thể nào lại làm ngơ không cho cha con sum họp đoàn viên.
Nữ mỉm cười nhìn o Đà tin tưởng gật đầu.
- Rứa thì “đồng chí cố vấn vĩ đại” bảo cháu phải làm thế nào đây để ông cán bộ phòng giáo dục chịu cho biết tin tức về anh Niên đây? Anh này ngày trước là bạn học với anh Niên. Anh ta có cảm tình với cháu hay chỉ muốn lợi dụng thì chưa biết được nhưng cháu biết anh ta đang tìm cách xin cháu về trường gần Hội An nhưng vẫn lửng lơ chuyện cho cháu biết đích xác nơi sinh hoạt của anh Niên. Anh ta đã nhiều lần mời cháu đi chơi chỗ này chỗ nọ nhưng cháu đều khéo léo từ chối. Điều anh ta chưa biết là cháu đã quyết định không muốn tiếp tục làm giáo viên nữa nhưng phân vân chưa biết phải mở lời như thế nào để khỏi bị ảnh hưởng tới việc tìm kiếm anh Niên. Anh Dõng chị Nhi lần nào gởi quà tiền về đều dặn dò chú tâm lo cho anh Niên và khỏi phải lo nghĩ chuyện sinh kế.
O Đà nắm tay Nữ đi vào nhà.
- Mình sẽ bàn thêm “kế hoạch hành quân” trong lúc nấu nướng sửa soạn đi cúng mộ. Có điều, cứ cho là người này có cảm tình với cháu nhưng bằng thủ đoạn treo trả như rứa trong lúc lại là bạn học với Niên thì rõ ràng anh ta không phải là người tốt. O nghĩ cách tốt nhất là cứ rõ ràng sòng phẳng. Chủ động hẹn mời anh ta tới một nơi nào đó, Đà Nẵng chẳng hạn, cho anh ta biết ý định của cháu đi tìm Niên sẽ tốn nhiều thời gian không thể tiếp tục việc dạy được đồng thời hỏi tin tức chính xác về Niên và giấy đi đường tới đó tốn kém bao nhiêu. Đồng tiền khéo dùng sẽ khiến anh ta được việc cho mình.
Buổi sáng hôm đó hai o cháu khóc cười cùng nhau bên mộ người thân. Từ khu nghĩa trang nhìn xuống đầm sông, sương đã tan, mặt nước long lanh nhảy múa dưới ánh mặt trời đang lên. O Đà nghĩ tới chuyến trở về đong đầy định mệnh, xoay kín vòng tròn thời gian suốt cuộc đời người. Những ngày sắp tới, chuyến đò dọc sẽ đưa O từ tận cuối dòng sông Thu ngược bến Cà Tang. O về thăm mộ phần cha mẹ, thăm lại bến đất quê hương và làm lành với những trách cứ vẫn nặng lòng mình bao năm qua... Nhìn sim dại hoang tím vùng cát trắng nghĩa trang, O Đà chợt tự hỏi có phải trên bến đò Cà Tang cũng có hoa sim. Hay là hoa đỗ quyên đỏ? Có tiếng reo của Nữ gọi O Đà quay lại cùng lúc với ánh chớp lóe lên. Hình chụp lấy liền đó O. Cháu sẽ gởi qua chị Nhi để xem chị có nhận ra O không? Hình như tiếng chim tu hú kêu bầy trong đám mía còi dọc bến sông vẫn còn cô quạnh trong trí nhớ.























Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét