Thứ Năm, 16 tháng 5, 2019

Căn nhà sau cửa biển

Căn nhà sau cửa biển
Hình như ngày của Nữ đã bắt đầu từ một lúc nào đó vào cuối cơn mất ngủ, lúc nàng ra khỏi nhà ngu ngơ từng bước chân theo quán tính u hoài trên bờ dốc cát. Mắt còn nhấp nhem cơn trằn trọc, nàng bơ phờ nhìn về phương Đông. Mặt trời vẫn biệt tăm cùng bóng đảo đâu đó phía chân trời còn kín sương vây. 
Bóng từng chiếc thuyền đánh cá từ đêm khơi đơn độc quay về mong manh hiện dần trong màn hơi nước trắng lịm giúp Nữ mường tượng ra được phần nào lằn ranh của trời nước. Trong mênh mông chân trời giao thoa diệu vợi, từng cơn chớp biển vụt sáng rền rồi tan biến vào thoắt lịm tiền kiếp, sướt mướt mưa nguồn.  Đoàn tàu ngất ngư trồi dập trên triền nước tràn dâng lối vào cửa biển. Những cánh buồm tả tơi dắt díu nhau trong chập chùng sương xám bỏ lại sau lưng cơn biển động và những quầng mây gió xé tan hoang.  Ngọn gió cuồng xoay khiến Nữ phải lao đao cố giữ cho được cảm giác thăng bằng bằng cách bấm mấy ngón chân mình trên mặt cát ngấm sương đêm.  Cùng lúc nàng chợt nghe như có tiếng khóc nhỏ nhoi quanh mình, thầm thì thật gần như của chính nàng. Lúc Nữ nhận ra thì nước mắt đã mặn môi. Dòng lệ kí ức vẫn mãi khóc thầm về một buổi sớm vừa dứt bão, sương mù bay theo từng cơn gió lồng lộng nước, ngập ngụa điêu linh biết bao mảnh đời.  Nữ đã khóc với mẹ và những người đàn bà héo úa đứng chờ cha chờ chồng trên đồi cát gió trào nghiêng ngả lau.  Những bóng người mảnh mai và tiếng khóc dấp dúi vào nhau trên triền cát dẫn xuống bãi lưới bên sông. Bầy thuyền buồm xơ xác trở về bến đã đành bỏ lại con thuyền bạn nhỏ nhoi trong cơn bão biển. Lấy chồng làm biển hồn treo cột buồm... nên tiếng khóc mẹ chẳng còn ai dỗ dành.  Sau chiến tranh, con gái lớn theo chồng bỏ nước ra đi, ngôi nhà trong phố bị tiếm đoạt, người cha sa cơ dắt díu gia đình ra rẻo cát sau cửa biển để trở thành một người làm biển bất đắc dĩ. Ông nhọc nhằn mưu sinh và tưởng được yên lòng với cảm giác tự tại phiêu bồng những sớm chiều buồm căng lách mình thoát ra cửa biển. Trời chẳng chiều lòng người, giữa cơn giận dữ của biển, cha gắng dồn sức cứu được con trai rồi kiệt lực chìm chết trong biển sâu để hồn mẹ cũng vật vờ treo theo chiếc cột buồm gãy đổ nổi trôi cùng nước đại dương. Người anh trai hận biển bỏ xóm lên rừng biệt tăm. Mẹ tảo tần và khóc âm thầm những năm dài sau đó, cho tới ngày bà nằm xuống bên chồng trong bãi mộ chí hoang tím những lùm sim dại nằm kề bên xóm nhà vắng lặng xác xơ. 
Ba mươi năm. Đời trôi. Bảo khơi xa vẫn thổi ruồng qua xóm chài vào những tháng mười mờ mịt đầm sông, lều bều gỗ mục nhớ nguồn.  Nữ vẫn sống qua những tháng mười đời mình, nhẫn nhục, loanh quanh như bầy còng xe cát  phụ rẫy trí nhớ, loay hoay tìm hoài vết chân mình giữa lằn ranh mơ hồ cát sóng. Đau xót xa đến rớm nước mắt từng bước chân lên lớp sò ốc vỡ sắc nhọn trên bãi cát, thế mà vừa lìa xa nàng đã thôi thúc sôi nổi muốn được trở về, bó gối ở lại, chỉ để rồi băn khoăn tự trách lấy mình.  Nhiều lần thức giấc giữa khuya, nàng đã khóc đến ràn rụa rồi mất ngủ hồ nghi về những giọt nước mắt chưa khô trên má, bâng khuâng tự hỏi phải chăng đời mình là dòng nước mắt chảy quanh, xoay cuốn xa dần mà vẫn phải đi quanh. Từ bên bờ tiệm cận choáng ngợp hương yêu của một đầu nguồn ký ức, kỷ niệm chập chờn lóng lánh như thứ hạnh phúc u hoài cần thiết mớm sức cho nàng sống qua năm tháng, qua mùa của đời ngơ ngác thanh xuân, của hạ huyền đêm nằm nghe biển trở chớp gọi mưa nguồn, qua mùa chớm vàng thu hiu hắt đời phai. Và rất nhiều buổi sớm như sáng nay, đứng trên độn cát lắng nghe tiếng khóc mình tan theo mù sương pha gió biển mặn môi.
Nữ cúi nhìn biển sóng dưới chân mình rồi thở dài quay lưng bước xuống  phía xóm nhà hiu hắt mấy ngọn đèn chong. Như rất nhiều buổi sáng trong đời nàng đã u hoài chọn lấy lối đi rất xa để trở về nhà.
Ngược Thu Bồn lên Hòn Kẽm
Ngó lên Hòn Kẽm, Đá Dừng
Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi

Thương cha nhớ mẹ thì về

Nhược bằng thương kiểng nhớ quê thì đừng...
(Ca dao Quảng Nam)
1. Trong nhiều năm, tuổi mười ba ở lại với Nữ như dòng nhựa nguyên sinh giữ nguồn xanh cho cây đời trong buổi đông miên. Về sau này, khi đã sống cam đành với oan khổ đau thương và tuổi đời dập vùi bờ sóng thời gian, người đàn bà thương bóng mình tàn xuân vẫn mãi hàm ơn về những kỉ niệm yêu thương bẽn lẽn má môi hồng của một Nữ thuở mười ba luôn hiện tiền và sẵn lòng để nàng vịn vai đứng dậy sau mỗi lần té ngã nơi cuối đường thất vọng.
Hồi đó, ngay cả sau đám hỏi của chị, bé Nữ vẫn gân cổ cải đã gặp anh Dõng trước chị mình. Con bé còn khoe cái sẹo nhỏ ở đầu gối làm bằng chứng khi té xe đạp được ông sĩ quan hải quân tình cờ đi ngang làm lục vân tiên cứu nạn. Cho tới khi ông anh rể tương lai cười cười chuyền qua chị Nhi tấm hình cũ lúc hai người còn là sinh viên ở Huế bé Nữ mới chịu thua, tuy vẫn còn dấm dứ từng bước chân “voi” ra khỏi phòng. Hội An chớ phải Huế mô!? Ở Hội An, anh Dõng gặp em trước chớ bộ... Lần anh lái xe jeep ghé trường chở bé đi Đà Nẵng mua xe đạp mi ni, con bé hãnh diện ngồi cạnh ông quan tàu thủy trước những cặp mắt đầy thán phục thèm muốn của bầy bạn xúm quanh. Bé Nữ hả dạ le lưỡi làm mặt xấu chọc cô giáo Nhi lúc nàng bước qua cổng trường đến bên anh. Hai anh em đừng về tối, nguy hiểm lắm nghe... Đêm hôm đó, bé Nữ đứng bên cửa sổ nhìn anh chị âu yếm ngồi bên nhau dưới bóng tàng cây vú sữa lòng rạt rào niềm vui khó tả. Ánh trăng xuyên qua tàng lá lung linh đưa bé vào giấc ngủ say tràn mộng ngọt... có anh Dõng chị Nhi say đắm múc trăng vàng tắm gội cho nhau bên bờ giếng.
Nữ đã giữ lại riêng cho mình mùa xuân tuổi mười ba luôn rạng mới và đon đả như tiếng chuông chiếc xe đạp vừa ráp còn thơm tím màu sơn dựng bên giường ngủ khẻ rung như tiếng cười khúc khích trong đêm trăng chợt trở mình con gái.
Thế rồi quanh nàng mùa xuân đất nước là cơn bão khô khốc của chiến tranh tàn bại chia lìa. Đám cưới của anh Dõng chị Nhi không áo dài khăn đóng, chẳng có hoa đèn, chẳng họ nhà trai, chỉ kịp vội vàng để anh đưa chị lên tàu di tản. Buổi chiều hôm đó, qua màn lệ, lần đầu tiên Nữ nhìn thấy người anh ngổ ngáo của mình đã khóc. Hình ảnh anh Niên đứng lại dưới hiên nhà nhìn theo bóng chiếc xe jeep khuất dạng cuối phố về phía bến tàu rồi quay lưng lau vội dòng nước mắt trong vòng tay của cha mẹ đã ám ảnh Nữ suốt cuộc đời nàng. 
Những mùa xuân của đất trời héo hắt trôi qua. Cha mẹ mất ngôi nhà một đời gầy dựng vào tay người anh họ đi tập kết về “trông hộ” để khỏi bị chính quyền kiểm kê vì tội ngụy quyền. Phố tạp hóa bỗng chốc trở thành cửa hàng quốc doanh, mẹ cũng đành tay vụng về vá đan lưới cá, dẫn con theo chồng tập tành sống với nghề biển mưu sinh, gầy dựng lại gia đình.
Quay lưng về phía mặt trời, xóm chài nằm dấu mình sau độn cát vàng Xuyên Thọ núp gió khơi xa. Trên những chuyến đò chợ từ Phố ra cù lao Chàm, ghe vừa qua khỏi vàm lau sậy cuối sông Thu Bồn, mắt người đã xốn xang chạm bãi tha ma mộ chí ngổn ngang giữa những bụi xương rồng gai góc như muốn úp chồng lên xóm chài lơ thơ mấy chục mái tranh nghèo tơi tả chênh vênh trên triền cát.
Vào mùa lụt, xóm nhà e dè từng liếp cửa hé nhìn xuống đầm sông tiếp biển tràn cuộn sóng nước pha màu đất núi đỏ ngầu sau những cơn xối xả mưa nguồn. Nước từ thượng dòng Ô Lâu, Thu Bồn, Trường Giang cuồn cuộn đổ về cuốn theo từng mảng lục bình, gỗ mục, quây quần trong đầm sông trước khi bị cuốn phăng ra biển. Phía bờ Bắc cửa Đại, nước dâng tràn như muốn nhận chìm trong sóng bạc bãi lưới xóm chài Thuận Tình sướt mướt hàng tàu lá dừa rũ nặng mưa sa.
Những ngày đi học, vừa sớm tinh mơ anh em Niên Nữ đã chèo xuồng băng đầm sông qua Thuận Tình rồi đạp xe bảy tám cấy số đến trường. Tiếng vỉ sắt trên cầu Phước Trạch cót két oằn nhịp vòng xe đánh thức bầy cò trắng hốt hoảng vỗ cánh bay trắng bờ sông Đế Võng. Con đường quen những năm trước cùng bạn bè ra tắm biển Cửa Đại hay đôi lần theo anh chị ngồi xe gắn máy chạy dọc theo chân sóng ra tận căn cứ hải quân nơi anh Dõng đồn trú chỉ cách xóm chài Thuận Tình một bãi rào phòng ngự. Đường vui Cẩm An ngập tràn kỉ niệm năm nào sao bây giờ quá dài sau buổi tan trường bụng đói đạp xe trở về nhà. Thói quen nghĩ về chị Nhi anh Dõng nhất là lần được anh chở đi Đà Nẵng chơi giúp Nữ quên hẳn đường xa. Nữ nhớ mãi cảm giác ngượng ngùng lâng lâng lần đầu tiên được làm người lớn uống cà phê nghe nhạc ở quán Ngọc Anh, niềm sung sướng hãnh diện dắt chiếc xe đạp mini màu tím ra khỏi tiệm, và sự kích thích lẫn sợ sệt tốc độ lúc chiếc xe jeep chạy như bay trên quốc lộ, nhột nhạt trên khuôn mặt ngây thơ vùng tóc gió cuồng bay. Chân Nữ vẫn nhấn từng vòng quay lên chiếc xe đạp thân yêu trên con đường cũ mà anh Dõng chị Nhi thì đã cách biệt phương trời.
Vào những buổi chiều sau giờ học chờ đò về nhà, Nữ thường thơ thẩn vào khu căn cứ hải quân cũ. Sau ngày chiến tranh chấm dứt, bộ đội du kích vào tiếp quản một thời gian nhưng đã bỏ trống sau khi khuân vác hết những gì họ có thể, giờ đây chỉ còn là bãi đất hoang phế và vài lô cốt đúc xi măng cỏ dại phủ đầy. Nữ vẫn thường ngồi trên nóc lô cốt nhìn ra khơi xa nhớ anh chị chẳng có tin thơ rồi thương cha mẹ vất vả chưa quen với long long cơ cực. Nữ nhớ tới hình ảnh con tàu nhỏ cất mình phóng như bay trên sông Thu Bồn làm Nữ sợ hãi ôm rịt lấy chân anh Dõng, lần anh chở cả nhà ra thăm căn cứ để mẹ biết anh “ăn ở ra reng ngoài nớ”.
Một buổi chiều, vì tò mò Nữ dò bước vào bên trong lô cốt nhìn kiếm vu vơ. Ở một góc tối khô ráo, cô bé tìm thấy cái thùng đàn nứt mẻ của một chiếc guitar gãy nằm úp sấp dưới đống giấy báo bề bộn và mấy hộp trái cây nằm lăn lóc gần đó. Nữ thảng thốt kêu lên khi thấy một tấm hình cũ loang lổ rớt ra từ thùng đàn. Tấm hình anh Dõng chị Nhi tươi cười bên nhau chụp ngày đám hỏi, có bé Nữ làm mặt xấu lấp ló ở góc hình. Cô bé hối hả kéo ra thêm nhiều hình, thư từ bút ký, và một băng cassette còn nguyên bao nhãn. Nữ mừng rỡ chạy về phía bến đò, cuống quít gọi anh. Tối hôm đó, mẹ cười tươi lật xem từng tấm hình gia đình vào ngày vui của con gái rồi bất giác lệ rơi nhớ con nhớ rể tha phương quê người. Bà nhìn tấm hình chồng phương phi phong thái, nói với con gần mà nghe như nhắn nhủ con xa. Giấy có rách cũng phải giữ lấy lề nghe con. Ba của con bây giờ quần lũ áo lam cũng chỉ vì sa cơ thất thế mà thôi... Anh Niên thì bận rộn pha chế mấy ly trái cây, pha trò. Để con hi sinh nếm trước, ngủ một đêm sáng thức dậy không sao thì để dành cho ba đem theo ghe...
Chiếc máy cassette nhỏ hết pin vướng bụi từ lâu được Nữ mang ra lau chùi. Sống lại giữa đêm tiếng hát thì thầm lời ca nàng chưa hề biết bao giờ sao chợt nghe xao xuyến hồn con gái buổi trăng đầy...“Dòng sông nào đưa người tình đi biền biệt. Mùa thu nào cho người về thăm bến xưa. Hoàng Hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ. Về đồi sim ta nhớ người vô bờ...” (Vũ Đức Sao Biển). “Nguyệt Cầm nghe nấc từng câu... Có hàng mây trắng về đâu? Mắt chìm sâu, đêm lắng đời sâu. Nguyệt Cầm khơi mãi tình sầu. Khơi mãi nguồn đêm... Mùa trăng úa làm vỡ hồn ta...” (Cung Tiến). Nữ xếp lại những trang thư của anh Dõng chị Nhi theo thứ tự thời gian rồi chong đèn mải mê đọc cho tới khi bấc lụn. Bóng trăng tàn rụng bãi khuya nghiên chiếu qua liếp cửa gió lùa đưa Nữ vào giấc mộng miên man đầy ắp tiếng sóng kỷ niệm. Cả trùng dương xa lạ trầm kha một thời riêng ai chợt nở bung ra mới rợi biến thiên thành cánh chim chao trên đỉnh sóng làm Nữ nửa ngại ngần chối từ, nửa muốn với tay bắt nhốt vào hồn. Rất lâu như thế, Nữ đã sống vui buồn theo từng tờ thư, từng trang bút ký đến lúc nào không hay quá khứ tình yêu của họ đã thăng hoa biến nhập vào nàng thành nỗi hạnh phúc thanh tân mà nồng nàn kỷ niệm. Hạnh phúc của loài ốc mượn hồn đưa Nữ vào khu vườn mộng tưởng, đằm thắm mái hiên mưa nơi che trú tình cờ giọt nước trầm luân.
2. Nữ giật mình thức giấc. Cũng tiếng sóng biển khiến Nữ ngủ quên lúc nào không hay đã lay thức nàng dậy. Lớp lá dừa anh Niên trải lên nóc chiếc lô cốt từ hôm  trước cho em gái đã ngai ngái khô. Sống lá cộm dưới lưng nhột nhạt khiến Nữ muốn trở mình ngồi dậy nhưng trong một lúc lâu nàng vẫn biếng lười nằm im thả mình vào cơn mơ thiếp khác, mịn màng đêm buông theo ánh trăng vàng diệu vợi. Tiếng sóng miên man vỗ bờ đong đưa gợi nhớ. Con tàu ngoài khơi xa còn vọng mãi lênh đênh. Chiếc ghe giã cào buồm bươm đuối gió của cha vẫn sớm chiều lặng lẽ trở về. Những sớm mai cha con gặp nhau trên triền cát, vội vàng và mất ngủ. Câu căn dặn quen thuộc, ám ảnh như những nhịp roi hờ vẫn làm Nữ có cảm giác xuýt xoa đau như những ngày nhỏ dại. Tiếng dạ thưa chạm đôi mắt buồn thỏm sâu trong chiếc nón cời nên líu ríu cúi đầu nhìn theo những vết chân chồng chéo trên cát rồi rời xa nhau. Cha mệt mỏi bước trên triền cát về phía xóm nhà lúp xúp mồ cát bủa vây như bóng ma lạc lối mộ phần thất thểu đi quanh. Từ ngày rời khỏi ngôi nhà thân yêu cha chưa hề về lại phố. Ý nghĩ phải đứng nhìn từ bên kia đường ngôi nhà cũ đã bị tiếm đoạt khiến cha căm hận và đau đớn. Anh em Nữ thì vẫn mỗi ngày lặn lội về phố, ngang qua nhà cũ đến trường, tiếng chào của họ theo vòng bánh xe lăn qua cặp mắt thản nhiên của ông bác họ và bà vợ trẻ. Anh Niên với dáng dấp điển trai thường được mời mọc, bận rộn trong những buổi họp đoàn toán sau khi tan trường. Anh sinh hoạt hát đàn để làm vui lòng bạn bè trong lớp, nhất là các cô gái, và để được đón nhận. Niên  khấp khởi trong lòng với tình bằng hữu mới nhưng cũng thường phải nhịn nhục cúi mặt tránh nhìn tia mắt ganh tỵ âm mưu của đám học trò con cái của  những gia đình xa lạ mà quyền uy trong phố. Nữ chăm học, nàng không ngại đứng riêng một mình trong sân trường chẳng chút phiền hà mặc họ chia chác trả treo từng con điểm, tranh giành nhau chiếc khăn quàng cổ hay nơi cắm cây cờ đội toán trên bãi biển chiều. Họ biết gì về con sóng già nua mà tinh khôi vẫn miên man vỗ bờ, kiên trì giữ giúp dấu vết nàng chẳng trôi xa loãng tan trong trùng dương muối mặn. Họ biết gì về anh Dõng chị Nhi của nàng, về giấc mơ thanh tân thơm như mùi tóc gội hương chanh chùm kết bên giếng khơi sân nhà thuở mười ba. 
Những chiều anh Niên bận sinh hoạt, Nữ đạp xe qua Cẩm An dọc theo bờ nước về xóm chài một mình. Chiếc vọng canh “cứu hộ” xiêu vẹo không người, miếng cờ đỏ hình đuôi nheo bạc màu vì sương gió nằm sóng soài trên cát. Gởi xe đạp ở nhà người quen, Nữ ngồi tựa gốc dừa ăn chút cơm độn sắn khoai nàng để dành lại từ buổi trưa rồi học bài cho đến khi chạng vạng tối. Trên nóc lô cốt cũ, vài ngày anh Niên lại lót lá dừa mới cho em. Nữ nằm nghe sóng biển, hát một mình. Những bài hát của chị Nhi bây giờ đã là của riêng nàng. Lơ lửng bồng bềnh... có hàng mây trắng về đâu... mắt chìm sâu... vào vùng mộng tưởng nàng xanh ngắt dịu dàng... cho đến khi nghe tiếng huýt sáo rộn ràng và bước chân vội vã của ông anh ồn ào đánh thức Nữ ra khỏi cơn mơ. 
Gần đây anh Niên có vẽ trầm ngâm, ít nói cười. Kỳ thi tốt nghiệp phổ thông sắp đến, sau đó là thi tuyển vào đại học mà kết quả bị từ chối vào Đoàn vì lý lịch của cha càng làm anh Niên bi quan hơn về tương lai. Vài hôm trước, người bác họ đã vào tận trường tìm gặp cấm cản anh Niên về chuyện quan hệ hẹn hò với cô bạn học cùng lớp. Cha cô gái là cấp trên của người bác đã hăm dọa không “đảm bảo sinh mạng chính trị” của cậu học trò thích đàn hát. Chèo đò về nhà tối hôm đó, anh Niên hằn học khua mạnh mái dầm phân bua với em gái. 
- Thích một cô bạn học là phạm tội chính trị hay sao?
- Nếu không thì giờ này anh em mình giờ đâu cần phải chèo ghe về nhà. Cha giờ này đâu phải cực nhọc với nghề chài cực khổ hiểm nguy ngoài biển.
Nữ trầm tư trả lời Niên rồi đùa để anh bớt giận.
- Em thấy chị ấy cũng xứng danh là “người đẹp Cẩm An” đó chứ.
Người anh lơi mái dầm vài nhịp chèo.
- Ờ thì trong đám bầy hầy lớp tao, chỉ Quế là được nhất. Hiền nữa.
- Và liều nữa! Coi đồng chí bố Phó Chủ tịch Huyện như pha.

Anh em cười theo nhau quên hết phiền hà. Con đò lướt nhanh trên đầm sông lặng. Nước sông vỗ vào mạn đò, thơm rợi mùi rêu. Dáng đứng người anh cắt vào bóng triền cát nhờ nhờ xám trước mặt, vạm vỡ đến lạ lùng. Ánh đèn đêm xóm chài lung lay dưới cánh tay anh như sao xa vời. Mẹ chắc đang ngồi dưới liếp cửa chống cao cặm cụi đan lưới cho kịp chỉ tiêu. Cha phải vất vả thâu đêm bên ngoài cửa biển với lưới với chài. Anh Dõng chị Nhi giờ này đang ở đâu, làm gì? Buổi sáng. Buổi trưa? Có bóng tàu vừa băng qua trí nhớ, sóng dồn đôi dòng lụa trắng cuộn phủ bờ... Bãi hoa vàng trước nhà anh chị trong một giấc mơ cũ có lẽ đã  tàn. Mùa xuân qua lâu rồi... Bóng đêm buông phủ trên con đò khơi vơi chèo về phía căn nhà trên triền cát điêu linh nằm sau cửa biển.
Gần như cùng lúc Nữ dùng dằng thoát khỏi trạng thái tĩnh vật mênh mông cát lặng, ý niệm thời gian cũng trở mình mọc vào đêm trăng li ti chồi nhọn làm nhột nhạt cảm giác. Nữ rướn người nằm nghe lớp cảm xúc vừa lợp mới lên mái bờ tâm tưởng giao thoa vào trời đêm tiếng sóng biển rạt rào chiếm lĩnh. Giữa sóng dồn miên man chợt vẳng vọng tiếng khóc trầm úng theo nước vỗ bờ. Nữ định thần, khi lắng nghe ra âm vọng buồn bã không phải từ một cơn mơ, nàng chợt sợ hãi quay người nằm co trên đệm lá dừa mắt căng nhìn về bãi sóng. Tiếng khóc phát ra từ đôi nam nữ ôm nhau đứng dầm trong biển. Hay đúng hơn, người thanh niên đang cố gắng ôm ghì cô gái giữa vòng tay mình trong lúc nàng cố vùng vẫy nhoài người bước thoát về phía biển sâu. Hắn vớt mái tóc cô gái bập bềnh trên nước cuộn vào tay mình làm vòng dây trói buộc hai người chẳng chịu rời xa. Bóng đôi tình nhân chập chờn lúc hiện khi chìm mong manh giữa những làn sóng dữ dội xô bờ rồi cuộn rút trơ lòng bãi cát hoang phế màu trăng. Tiếng vỗ về hờn tủi trao nhau trong khoảnh khắc cuối cùng của một cuộc tình tưởng như tan vào nhịp thở vĩnh cửu của biển đông cứng thời gian.
Tiếng khóc im bặt tự lúc nào. Người con trai thả buông mái tóc cô gái trôi hờ trên sóng. Họ đứng lặng nhìn nhau qua khoảng cách đôi tay còn trong nhau bịn rịn. Chẳng còn chi cần thiết. Tiếng khóc đã chìm sâu vào biển sóng, ngôn từ tan theo muối mặn. Bỏ lại sau lưng tuổi thơ vừa chắp cánh, họ vụt lớn dìu nhau bước qua khung cửa vô hình giữa kỷ niệm hẹn thề và nồng nàn tan vỡ. Trên bãi trăng hoang mờ những vệt cát dã tràng thả về vô vọng, đôi trai gái thả tuôn cảm giác lênh láng vào nhau trong trần truồng vạm vỡ, bấu víu xót xa, dịu dàng và tàn khốc. Tất cả đã quyện nhập vào nhau. Trăng, biển, hồng hoang, và giọt lệ tinh khôi.
Nữ bừng tỉnh thẹn thùng thấy mình nằm hớ hênh dưới ánh trăng, vú thanh tân còn ấm lòng bàn tay rịt giữ cảm giác chạy rần trong từng mạch máu. Nàng cuộn người như sâu nằm tê điếng trên từng tiếng nguyệt cầm rung khơi mãi nguồn đêm.
Trong giấc mộng du Nữ lặng lẽ đi qua xóm chài về phía bến đò. Ánh trăng xuyên qua lá dừa vàng non như vườn nhà xưa trăng chiếu. Nàng có cảm giác đang bước đi trong chính giấc mơ nàng, gần gũi và rõ ràng như cơn sốt còn hâm hấp châu thân. Tiếng gàu đồng lõa động hờ thành giếng cho nước mát tuôn ướt lụa vàng dán thịt da lên áo chị Nhi hây hẩy thanh xuân trong vòng tay anh đan kín. Giấc mơ tưởng cũ vẫn mãi lạ lùng như một nơi ẩn nấp ma mị giúp Nữ sống đằm thắm với nỗi cô đơn của mình. Hay phải chăng chính nỗi niềm cô đơn đã dịu dàng xô ngã nàng vào vùng trú ẩn êm đềm của kỉ niệm.
Niên về tới bến đò lúc đêm sâu. Tấm áo ướt còn khoác vai, anh cắm cúi chèo đò không nói một lời. Đến giữa dòng, anh ngừng tay chèo để đò trôi rồi ngồi xuống bên em gái. Trăng bát ngát rơi trên đầm sông phẳng lặng vô thường. Giọng anh Niên buồn, thoảng nhẹ tiếng nhủ lòng. Tình nhân ra biển hẹn thề rồi hạnh phúc trở về nhà. Còn anh với người yêu ra biển lần đầu tiên để cùng khóc với nhau chuyện lỡ làng và ghi tạc phút trao thân vào kỉ niệm mỗi đời người.
3. Gió cát hạ hồng thổi rợn ngợp mùi muối mặn tanh như máu qua xóm nhà sau cửa biển. Từng cơn gió đổ lửa quất Niên tàn bạo khiến anh hốt hoảng lớn qua cơn thoát xác không thai vọng và cảnh giác. Có những buổi sáng Niên ngồi bó gối im lìm dưới liếp cửa lay động hiên nhà, mắt đăm chiêu về phía đầm sông lều bều gỗ mục dờ dật rong chìm mà lòng thì khô đắng đong đưa trong ám ảnh triền miên giữa mong ngóng ra đi, lãng quên gợi nhớ, giận dữ dỗ dành. Có khi là giữa khuya trở về sau lần hò hẹn cuồng say với Quế, cát trôi dài bước chân và những lùm sim dại quanh mộ chí huyễn hoặc nở bừng tím hồng hoang ký ức. Hồn rỗng phiền như đêm mênh mông lúc Niên mường tượng tới bầy còng nhẹ hẫng bãi triều xa. Anh chợt thèm được nghe tiếng còi tàu vang dài trong đêm, vang mãi trong trí tưởng, rộn rã thôi thúc ra đi, để anh không còn nghĩ tới làn tóc ướt xõa rũ rượi lên khuôn mặt Quế. Mắt nhắm nghiền đắm say, môi hả trào cơn xúc động mọng ắp đam mê. Con thú hoang liếm mép hả hê vuốt ve những giọt nước biển trên triền ngực đầy, trên vùng bóng tối khu rừng nguyên sinh dập dờn lá dựng.
Niên chẳng mấy vui ngày anh tốt nghiệp phổ thông. Anh không dám nghĩ tới kỳ thi tuyển vào đại học sắp đến và tương lai mờ mịt trước mắt. Nó đã là một phần của sự tiếm đoạt mà những người như cha con, gia đình anh phải gánh chịu. Cùng lúc với tâm trạng giận dữ tự trách về sự chấp nhận số phận của mình, Niên chợt cảm thấy nhẹ lòng khi bước ra khỏi cổng trường lần cuối. Qua rồi những buổi sinh hoạt đoàn toán, phê bình, tự kiểm, mà chung quy cũng chỉ là để cấm cản Quế Niên luyến ái hẹn hò. Sự im lặng của Niên trong các buổi họp kiểm thảo như một thách thức càng làm bầy con trai mặc cảm quê mùa thêm căm tức. Anh ngồi nhìn Quế trong lúc cô gái đọc bản tự kiểm của mình, lòng dậy nỗi bâng khuâng. Có gì khác chăng giữa giọt nước mắt này và dòng lệ thấm vai anh đêm bãi biển sóng gào. Những cặp mắt rình rập thèm muốn ghen tuông sau lùm dương phủ đầy bóng tối, trong một phút giây hả hê với quyền lực đã sáng lên hấp háy chút lòng tự đắc tội nghiệp. Niên hiểu ra, lòng chẳng buồn hơn. Nước mắt Quế đã rơi trên vai anh mặn ấm như tinh khôi nàng bịn rịn bãi lầy hạnh phúc hồn anh. Châu thổ thân em sóng cuộn là háo hức vô ích chỉ có trong rình rập xuýt xoa, trong giấc mộng tinh bơ vơ cơn giật động của bầy con trai lơ láo ngồi kia. 
Hè đến. Niên theo mẹ lên núi. Họ về thăm quê và chở sườn nhà cũ vườn ngoại về dựng lại căn nhà xiêu sau cửa biển rạc rài. Đây là lần đầu tiên Niên về thăm quê ngoại sau chiến tranh. Anh náo nức nhìn lọn sóng chẻ đôi lúc chiếc xuồng máy qua Cẩm Phô, bỏ phố ngược dòng. Trời xanh trong hây hây gió hứa hẹn cho một ngày hạ nắng. Tiếng máy đò chìm úng trong tiếng gió về lao xao mặt nước. Từng bãi sông xóm nhà xanh ngắt vườn cây dọc theo thượng dòng sông Thu Bồn nên thơ tỏa bóng, hun hút êm đềm trí nhớ. Trường Sơn chập chùng núi dựng hiện rõ dần trong tầm mắt. Mẹ chỉ tay về mấy ngọn núi gần kể cho con nghe về tháng ngày tuổi nhỏ êm đềm của mình trên vùng Núi Quế quê hương. Ngó lên Hòn Kẽm, Đá Dừng. Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi. Thương cha nhớ mẹ thì về. Nhược bằng thương kiểng nhớ quê thì đừng... (Ca dao Quảng Nam). Ngọn Đá Dừng tuy vẫn sừng sững trơ gan qua năm tháng đã bao lần đành phải bất lực không thể ngăn chận được cơn giận dữ của lũ lụt mưa nguồn tuôn tràn về đồng bằng cuốn phăng đi biết bao nhà cửa cơ ngơi và giấc mộng đời người. Ngôi nhà mẹ sinh ra và lớn lên, ông bà ngoại từng chung tay góp sức xây dựng lại sau lần sụp trôi theo làn nước thiên tai để rồi bây giờ lại bị hung hiểm tay người xiết đoạt đất vườn làm cho cửa nhà điêu đứng hoang tàn.
Mẹ khấp khởi nhìn sườn nhà xiêu vẹo được thay thế bằng những cột gỗ mít từ ngôi nhà thơ ấu già như tuổi đời bà vàng bóng thời gian. Bà vui mừng thấy cha con tươi cười bên nhau cần cù sửa dựng lại mái ấm gia đình. Tuy vẫn canh cánh bên lòng nỗi nhớ con gái con rể mờ mịt trời xa, mẹ đang sống những ngày hạnh phúc từ sau ngày gia đình tan tác phân ly ba năm về trước.
Nữ nấu nước mời cả nhà. Khuôn mặt nàng lấm tấm mồ hôi hồng lên vì lửa bếp. Nhìn bát nước chè xanh và dĩa bòn bon Đại Lộc trên cái mâm gỗ, Niên nhìn em ngạc nhiên.
- Con ni hay thiệt. Mi dấu ở đâu cả tuần lễ tới bữa ni vẫn còn.
Nữ nháy mắt nhìn anh.
- Em còn cất riêng một gói nữa. Nếu không, anh không nghĩ tới ai, nhón tới nhón lui một ngày là hết sạch.
Niên mừng rỡ theo em ra sau bếp. Quế đã tìm gặp Nữ lúc em qua Thuận Tình giao lưới cho hợp tác xã giúp mẹ sáng nay. Nữ hóm hỉnh.
- Người đẹp Cẩm An nhớ anh lắm đó. Chị nói cả tuần nay chiều nào cũng ra biển chờ mà chẳng thấy ai tới.
Buổi chiều dài theo nỗi nhớ chợt ùa đến. Niên thấp thỏm ngóng mắt về xóm lưới Thuận Tình nép mình dưới bóng dừa. Trời chưa đêm Niên đã bương bã chèo xuồng qua đầm sông đến nơi hò hẹn. Anh đứng ngồi đi lại dưới bóng lá chờ đêm như con thú chờ mồi. Niên không còn nghĩ về cô gái đã thờ ơ nhìn anh rồi đọc bản tự kiểm trong gian phòng họp sắp hàng bầy mắt cú vọ dưới tấm cờ sao. Anh chẳng thiết tha với Quế tương lai, sẽ vào đại học, tiến xa theo chói lọi đảng đoàn. Anh chỉ cần Quế hiện tại, Quế đêm nay tóc xõa môi hôn cho biển đêm dậy bừng bờ nước khát khao. Đêm lấp lửng bóng đôi trai gái miên man say trong nồng cháy men tình. Và có lẽ Quế cũng chỉ cần có thế nơi Niên. Họ khơi dậy từ nhau sự thác loạn thầm kín mà phơi mở, rồi đưa nhau tới ranh giới cuối cùng của cảm xúc mê muội - lồng lộng hương em miền châu thổ mượt mà căng ngần cồn ngực và cuồng nhiệt anh như thỏi than hồng rực cháy bỏng thịt da.
Và cứ thế, mùa hạ trôi trong hờ hững tương lai. Mỗi sáng Niên theo ghe qua Trường Giang lấy đất thịt về đắp lại nền căn nhà vừa được sửa sang. Dưới mái hiên ngay ngắn đắp cao, Niên ngồi lơ đãng ôn học cho kì thi tuyển để khỏi nghe cha mẹ quở mắng chứ lòng anh chẳng có chút kì vọng nào. 
Từng ngày chán chường chấp nhận, từng đêm quanh quẩn đam mê, Niên linh tính về đổi thay đời mình như một ám ảnh không rời, nửa ngóng trông nửa muốn chối từ. Anh nao núng đợi chờ số phận mình như đứa bé trên bãi biển đứng chờ con sóng lớn, luôn ập đến không ngờ.
Niên ngồi trên nóc lô cốt cũ, sốt ruột dõi mắt nhìn về hướng Cửa Đại. Bãi biển cuối ngày vắng ngắt không một bóng người. Mặt biển tím thẩm nhòa tận vào chân trời xa xám mơ hồ. Tiếng sóng rào rạt xô bờ những vầng bọt nước sáng trắng như lân tinh lăn cuộn rồi chìm vào bờ cát nhờ nhờ xao xác màu đêm. Tại sao Quế lại khóc? Câu hỏi quanh quẩn trong đầu và nét mặt lo âu của em gái lúc Nữ báo cho anh cuộc hẹn với Quế tối nay càng làm Niên lo lắng hơn. Anh nhỏm dậy định đi về phía bờ nước nhưng vội đứng lại khi thoáng thấy bóng người đi trên bãi biển. Thất vọng nhìn dáng đi của người đàn bà, Niên chăm chú quan sát lúc bà ta đứng lại, nhìn quanh định hướng rồi vội vã bước về phía lô cốt. Anh giật mình nép thấp người bên hông lô cốt khi nhận ra người đàn bà chính là vợ của người bác họ.
- Anh Niên có ở đây không? Tôi mang tin nhắn của cô Quế ra cho anh đây.
Bà hốt hoảng quay người nhìn Niên lúc anh vụt đứng dậy lên tiếng chào.
- Gớm cái anh này. Làm tôi giật cả mình.
Người đàn bà kéo Niên ngồi tựa vào thành lô cốt, rút từ túi áo trang giấy học trò gấp nhỏ trao cho anh, giọng ráo hoảnh.
- Trời tối thế này, không đọc được đâu. Cất đi. Tình hình là như thế này...
Tin Quế có thai bị gia đình phát hiện đến bất ngờ khiến anh rúng động bàng hoàng. Niên bối rối ngồi nghe chuyện Quế tìm bà vào buổi trưa, rồi người đàn bà dài dòng chuyện nhà, đổ tội chồng lấy nhau đã mười mấy năm vẫn đơn vắng không con. Bỗng dưng Niên cảm thấy khó chịu, tai lùng bùng chất giọng miền ngoài khó nghe của người đàn bà đang ngồi xích sát bên anh, nồng nặc mùi xà phòng thơm quốc doanh từ mái tóc uốn quăn quê mùa. Người đàn bà làm như vô tình, xoa xoa bàn tay thô ráp lên đùi anh săn chắc, miệng đon đả ngọt ngào.
- Tình hình cô Quế xem vậy chứ đâu lại vào đấy. Ngày mai hai mẹ con bà ấy sẽ vào Thành Phố HCM. Phá thai xong cô Quế vẫn kịp đi thi. Con cán bộ cấp cao, lại là chấp hành Đoàn, thế nào cũng đỗ và ở lại trong ấy đi học. Chỉ có ông bố là đang căm lắm... đau hơn hoạn cơ đấy... anh liệu đừng để ông ấy bắt được nhé. Tôi còn một tin rất nghiêm trọng khác sẽ cho anh biết để biết đường mà tính. Tôi chỉ lo cho anh thôi.
Niên bước về phía bờ nước. Đứng lặng yên hồi lâu trước biển, hơi thở Niên dần đều theo nhịp sóng. Anh hả miệng hớp sâu vào lồng phổi cơn gió đêm phiêu dạt, nỗi cô đơn đằm thắm của lãng quên và chút buồn mất mát. Trong biến thiên ấy Niên biết nỗi buồn mình rồi cũng sẽ phôi pha như một thói quen đã không còn. Lúc bước qua một thân thuyền úp sấp trên bãi, anh hít thật sâu mùi dầu chai thơm nồng ngỡ mình đang đi  qua một rừng thông vừa bị đốn ngã, nhựa trào thơm nối dòng lệ cứng pha màu hổ phách. Niên chợt hiểu ra giọt nước mắt anh rơi dưới mái hiên nhà ba năm trước trong vòng tay mẹ tơi bời phút sinh ly đang tiếp tục lăn chảy ứa trào thành dòng nước mắt của mẹ của em trên dốc cát đầu ngày âu lo chờ bóng thuyền cha vất vả buồm về. 
Người đàn bà hình như vừa tỉnh giấc sau cơn ngủ thiếp. Trăng thượng tuần mờ soi dáng nằm trễ tràng bên vách lô cốt. Bà ta kéo Niên ngồi xuống lúc anh lên tiếng hỏi về điều bà hứa sẽ nói. 
- Đừng vội, tôi đã bảo là sẽ cho anh biết cơ mà.
Niên ngồi im lặng trong đêm váng vất bóng trăng. Anh lắng nghe tiếng sóng xô bờ, chú tâm hình dung ra hàng bọt biển lăn trào trên bãi để khỏi phải nghe hơi thở dồn dập bên tai. Bàn tay người đàn bà dừng theo tiếng thở dài trên vồng ngực săn chắc của đứa con trai.
- Ông trời thật bất công. Cô Quế mang thai dễ dàng đến thế lại đi phá thai trong khi tôi trông chờ hàng chục năm trời mà một mụn con cũng không có.
Miếng trăng chiếu xiên qua nhánh lá hắt lên tóc dội thành mãng tối trên mặt người đàn bà như một vết chàm đen dấp díu lung lay.
- Bà cũng tin có trời sao?
Người đàn bà mở mắt nhìn Niên.
-Ngày mai ông bác họ của anh sẽ dẫn bộ đội trên huyện về tìm bắt anh đi nghĩa vụ quân sự đấy.
Anh nhìn chăm vào đôi mắt lá răm giữa lớp da mặt rỗ hoa đờ đẫn dật dờ. Cặp mắt riu ríu cơn thèm khát tính toan chợt trở thành ánh mắt lạnh lùng thâm hiểm của gã chồng đã tiếm đoạt cơ ngơi mẹ cha anh một đời gầy dựng. Niên uất lên như một con thú. Anh đè ngửa người đàn bà, tấm lưng trần cong vạm vỡ như dáng cọp dữ xé mồi. Người đàn bà bật tiếng kêu nấc lên trong đêm, vòng tay như rắn quấn chặt lấy cổ Niên. Tiếng rên níu theo nhịp sóng cuồn cuộn dập vào đũng thân bung nỡ dập dềnh thành tiếng gào thất thanh treo lịm trên chót môi căng cao cung bậc cuồng si. Ngọn trào chợt dềnh xa, cởi thả âm thanh hụt hẫng rớt theo tiếng than chới với. Gã con trai vụt đứng dậy, xối xả lên người đàn bà nằm tiếc rẻ toang hoang trên cát, rồi bỏ đi. Ước ao của người đàn bà giờ đây chỉ là thất vọng bầy nhầy ở ngoài bụng của mình. Con thú chán mồi đã bỏ đi.
4. Mùa hạ tàn theo màu hoa trên những cành phượng bên cầu Phước Trạch. Ngày tựu trường, không có anh cùng đạp xe đi học Nữ cảm thấy con đường như dài vô tận, chậm buồn từng vòng xe lạc lõng bơ vơ. Những trái phượng long đong trên cành ngả đậm màu xanh trở lớn theo nắng hạ mưa hồng càng gây thêm nỗi nhớ.
Anh Niên theo cha ra biển. Anh trốn ở lại nơi cha gởi gắm ngoài cù lao Chàm đã gần hai tháng vẫn chưa lần nào dám lén về thăm mẹ và em. Bạn chài hầu hết đồng cảnh với cha nên thông cảm ngó lơ những ngày ông ghé đảo để anh Niên theo ghe giúp cha kéo lưới và giữ kín chuyện anh trốn nghĩa vụ quân sự. Đọc những dòng thư dài anh viết thăm mẹ, Nữ thương anh đã có những đêm rất dài trên đảo. Lời xin lỗi phân trần của con trai giúp nguôi ngoai lòng người đàn bà nhân hậu. Bà trút nhớ thương vào việc chắt chiu chút gạo nắm bo bo, khoai sắn, cặm cụi dưa mắm gởi nuôi con.
Nữ nhớ mãi như in cái đêm định mệnh của cuộc đời anh Niên. Đang sốt ruột chờ anh, Nữ chợt hốt hoảng thấy Niên phóng chạy như bay trên dốc cát về nhà như đang bị ai săn đuổi. Nữ rụng rời không tin tai mình đang nghe anh vắn tắt câu chuyện giữa hơi thở đứt quãng vì mệt. Anh cúi đầu lầm lỳ ngồi nghe mẹ than khóc trách mắng con đã làm chuyện thiếu đạo đức với con gái nhà người, tai tiếng tới phẩm cách gia đình. Nữ sợ hãi nhìn cha vẫn ngồi im lặng trầm ngâm lúc anh Niên chợt đứng lên cãi lời, hỏi mẹ.
- Ba năm qua cha mẹ có dám nói một tiếng nào khi họ chiếm nhà, tịch biên tiệm tạp hóa? Hay chỉ âm thầm chịu đựng khổ sở một mình. Mà họ đâu có ngừng ở cái nhà cái tiệm. Họ muốn chiếm đoạt tất cả. Mẹ có biết con mụ đàn bà điêu ngoa đang ở trong nhà của mình ở Hội An muốn gì không mà mẹ bảo con phải giữ gìn đạo đức.
Người mẹ lau nước mắt nhìn con.
- Sự khác nhau giữa tốt xấu là ở đó. Chê trách họ rồi mình cũng ăn miếng trả miếng theo lối của họ thì chẳng qua cũng chỉ là cá mè một lứa.
- Con thì không tốt như mẹ được đâu.
Anh Niên hậm hực định bước vào nhà trong lúc cha quát bảo ngồi lại. Nữ hết hồn ngồi nép vào mẹ nhưng ngạc nhiên nghe cha dịu giọng ôn tồn.
- Thôi chuyện đã dĩ lỡ rồi. Mà họ cũng chẳng chấp nhận hay để yên cho mình đâu. Cha dứt khoát không để con đi nghĩa vụ chết thay cho con cái của đám người này. Coi mà vô sắp  đặt áo quần, gạo mắm chi đó rồi xuống ghe ngay. Ngủ qua đêm dưới đó rồi sáng sớm mai cha chở ra cù lao Chàm.
Mẹ lại chan hòa nước mắt, nhìn chồng dò hỏi. Cha thổi tắt ngọn đèn trên bàn, giọng ông ráo hoảnh trong ánh sáng lù mù hắt ra từ ngọn đèn nhỏ trên bàn thờ.
- Bà coi thu xếp tiền nong có bao nhiêu thì cho con để nó xoay xở khi cần. Trốn ra ngoài đó còn có cơ hội thoát thân chớ đi nghĩa vụ thì thế nào cũng chết mất thây bên Miên mà thôi.
Nữ ôm mẹ khóc ròng lúc anh Niên khoác xách lên vai chào từ giã gia đình trong nước mắt sụt sùi. Dáng anh Niên cao lớn đứng lại tần ngần hồi lâu dưới mái hiên. Anh quay nhìn cha mẹ nhìn em rồi bước vào bóng đêm.
Xa con trai, mẹ càng buồn hơn vào những đêm cha đi biển vắng nhà. Nữ học bài, tranh tay giúp mẹ đan lưới thế mà mẹ con vẫn quẩn quanh thừa thãi đêm dài. Nỗi nhớ con trai tươi rói còn rệu máu như xát thêm muối mặn lên cõi lòng mẹ già thương con gái xiêu dạt phương người bằn bặt tin thư. Đêm mất ngủ làm bơ phờ thêm dáng mẹ những sớm mai đứng trên dốc cát chờ bóng thuyền về. Mẹ chờ nhìn đôi mắt hõm sâu của cha tuy thiếu ngủ mệt nhoài còn chớp rạng lên ánh nhìn hy vọng. Mẹ chờ đọc mẫu giấy học trò nát nhàu thân thuộc dòng chữ của đứa con yêu còn sống bình an để mẹ sống thêm một ngày qua đắp đổi âu sầu. Những buổi sáng như thế, giữa trời tháng mười biển động mưa mù bóng hải đảo chập chùng xa như một vết mây chìm. Nữ đứng bên tiếng khóc thầm lặng của mẹ, nghe nước mắt mình rơi mà hỏi lòng có ai buồn hơn mẹ trên cõi đời này.
Cơn bão thổi ruồng qua cửa biển vào một ngày cuối tháng mười năm đó vẫn cuồng xoay mãi trong trí nhớ Nữ như hình ảnh chiếc cối xay gió với những nan cánh đen khổng lồ phủ chụp lên ký ức hãi hùng. Mưa bão suốt đêm, từng trận cuồng phong gào thét thổi tràn qua khu xóm nghèo. Ngoại trừ ngôi nhà Nữ vừa được cha anh gầy dựng lại còn đứng vững, hầu hết những mái nhà tranh vách nứa mong manh trong xóm đã bị gió thổi sập nằm tiêu điều trên mặt cát sũng nước. Giữa thinh lặng thê lương của sớm trời vừa dứt bão, tiếng than khóc rền rĩ nhỏ nhoi thoát ra từ bên dưới những xác nhà lay dậy sự sống bi thương mà bền bỉ rồi chợt òa vỡ theo bước chân hốt hoảng líu ríu trên triền cát. Mẹ  đùm bọc ấp ủ con trong căn nhà chập choạng xiêu đổ suốt đêm dưới cuồng phong nhưng lòng vợ thương chồng thì vẫn phơ phất ngoài kia, treo cao trên cột buồm chập chùng biển động sóng gào. Họ bồng dắt  nhau chạy về phía đồi cát nơi mẹ con Nữ đang đứng ngóng mắt về phía biển khơi chìm khuất mưa mù. Nữ quay nhìn những ánh mắt đẫm lệ bao quanh, nước mắt nàng lại tuôn rơi.
Buổi sáng mây sa vướng víu lên hàng phi lao nghiêng ngả nên ngày chẳng buồn trôi. Ngày chậm dài theo thấp thỏm đợi chờ, mòn đuối vào cuối tầm mắt ngóng tìm vẫn chỉ là mặt biển cuồng nộ và chân trời hoang vắng. Mãi đến xế chiều những con mắt đang mờ dần hi vọng chợt bùng lên khi thấy đoàn ghe ló dạng trở về. Từng bà mẹ thở ra nhẹ lòng, lật đật chạy theo con về phía bến cá chờ đón cánh buồm thương thuộc của chồng, của cha đang dập trồi tả tơi trên mỗi đợt sóng xô tràn lối vào cửa biển. Cuối cùng chỉ còn lại mẹ và Nữ trên dốc cát cùng bóng tối rơi quanh và mắt lệ mờ vô vọng bóng thuyền. Hai mẹ con thất lạc từng bước chân về phía bến sông. Những người bạn chài kiệt lực và gia đình cùng rũ rượi như nhau sau một ngày đêm quá đủ tai ương. Họ im lặng đứng nhìn người đàn bà bất hạnh lao đao bước xuống triền cát. Mẹ rủ quỵ người khóc ngất trong tay Nữ khi người bạn chài đi ghe cặp với cha báo hung tin. Điều Nữ sợ không dám nghĩ đến đang trở thành sự thật thương đau cho gia đình. Đoàn ghe chạy tránh bão, lúc về gần đến cù lao Chàm thì ghe của cha bị lật chìm, anh Niên được cứu sống nhưng toán bạn chài và cư dân trên đảo vẫn chưa tìm ra dấu vết người cha. Cả chục người lặn tìm suốt buổi chiều đến đêm qua rồi từ rạng sớm hôm nay... người bạn chài bỏ lưng câu nói, lắc đầu e dè nhìn Nữ. Ông trấn an người mẹ.
- Tụi tui về coi ngó gia đình ra sao rồi sáng sớm sẽ lựa một ghe tốt nhất ra tìm đưa anh và cháu Niên về. Chị yên tâm.
Chiều hôm sau thì cha về, trên tay anh Niên, xác cha trùm trong tấm poncho cũ. Người mẹ không khóc, bà lặng lẽ đi bên con gái, sau xác chồng. Sầu thương thẩm thấu dòng nước mắt đẫm lòng, để lại cho bà đôi mắt khô, ráo lệ vô hồn, suốt quãng đời còn lại. Anh Niên ôm mẹ một lần, vuốt tóc em thương mến một lần, rồi lầm lỳ cùng bạn chài trong xóm cắt xẻ tấm phản gỗ đóng quan tài. Cái phản gỗ mít kê nơi chái nhà nơi ông nằm nghĩ tấm lưng già sẽ bao bọc thân xác ông cát bụi đời người.
Buổi trưa lằng lặng chút nắng gió hiếm hoi giữa mùa mưa bão. Người đưa đám đã rời khu nghĩa địa từ lâu mà ba mẹ con vẫn còn ngồi lại bên mồ cha. Lớp đất thịt ở hiên nhà được san sẻ ra đây đắp lên mộ phần đằm chặt phẳng phiu. Nữ nghĩ tới hình hài cha từ đây nằm thẳng thớm yên lành dưới lòng đất rồi nghĩ tới đôi mắt hõm sâu thiếu ngủ cạn kiệt sức người sau những đêm đi biển trắng đêm khiến nàng bất giác cảm thấy lòng như được an ủi cho mình và cho người quá cố. Bà mẹ thắp nối nhang trên mộ chồng. Mẹ khấn vái mà nghe như tiếng nhủ lòng.
- Phần ông như ri là êm thắm rồi. Ba năm cơ cực đã quá đủ cho ông. Phải chi ông dẫn tui đi theo cho có đôi có bạn thì phước phần cho tui biết mấy.
Anh Niên ôm mẹ khóc ròng. Oan khổ ấm ức trong lòng tuôn tràn như suối về cái chết của người cha hy sinh đời mình cho con được sống. Buổi sáng một ngày trước bão, ông ghé cù lao đưa cho con ít sắn khoai mắm muối mẹ gởi rồi đồng ý để con theo giúp. Đến chiều nhìn sắc trời nước và gió đột ngột xoay chiều thổi mạnh, đoàn tàu ra hiệu cho nhau đồng ý chạy vào cù lao nghĩ qua đêm. Khi chạy về gần tới đảo, nhìn luồng cá chạy hiếm khi thấy được, đoàn ghe dừng lại thả lưới hy vọng đánh bắt được mẻ cá lớn ngoài chỉ tiêu để thâu hoạch riêng. Thế nhưng mây đen cuồng phong ập đến chẳng kịp tiên liệu. Sóng dữ nổi trận ba đào trồi dập ngất ngư bầy ghe nhỏ mong manh. Đoàn ngư phủ lại phải hối hả kéo lưới lên, cố gắng chạy sâu vào trong vịnh đảo kín gió. Niên tận lực kéo những thước lưới cuối cùng lên khỏi mặt biển đang trở nên trĩu nặng vì sóng dữ trong lúc người cha trì kéo cánh buồm cho kịp hướng gió. Trong bất chợt khắt khe của số phận, một nhát  cuồng phong chém phật qua thân cột buồm già nua làm cánh buồm chưa kịp nhả gió đổ rục xuống, gió kéo vật thân ghe lật ngang trong khoảnh khắc. Phần lưới bề bộn trên khoang rút cuốn vào hai chân Niên trói chặt rồi theo sức nặng của độ rơi kéo anh chới với chìm lỉm trong nước đại dương. Người cha lặn tìm con, mang hết hơi sức tàn nín thở cởi những vòng lưới trói buộc chân con. Khi đôi chân được tự do, Niên trồi lên lội tìm cha quanh xác ghe đang chìm dần vào sóng nước cuồng nộ nhưng nào thấy tăm hơi. Bạn chài chạy ghe xúm tới lặn hụp tìm kiếm cho đến khi đêm xuống lạnh căm cũng chẳng thấy xác ông đâu. Sau khi bàn bạc, toán ngư phủ dùng phao và dây lưới đánh dấu vị trí xác ghe, rồi mặc cho Niên than khóc vùng vẫy, họ dùng sức kéo anh về thuyền, chạy sâu vào trong vịnh đảo khuất gió neo trốn cơn bão dữ hoành hành suốt đêm. Thêm một buổi sáng tận lực kiếm tìm không có kết quả, đoàn ngư phủ quyết định trở về xóm chài trong lúc Niên và ngư dân trên đảo tiếp tục mò tìm xác cha. Một ngày nữa trôi qua, lòng dạ Niên càng tơi bời rối rắm thương cha và phận mình bất hạnh. Vào buổi trưa sau khi một ghe từ xóm chài trở ra nhập cuộc kiếm tìm, Niên cùng với vài ngư phủ trẻ nắm tay nhau lặn tìm lại một lần cuối bên trong xác ghe. Họ đã tìm thấy thi thể người cha nằm khuất sâu trong khoang thuyền.
Người làm nghề biển bất đắc chí đã chết vì cái nghiệp bất đắc dĩ của mình. Ông chết yên thân nhưng đã để lại mối hận biển trong lòng đứa con mà ông đã hết lòng bảo vệ bằng chính sự sống của mình. Hắn bỏ hòn đảo nhỏ ra đi, bỏ lại tình yêu vừa chớm có giấc mơ về một gia đình đầm ấm với mái nhà nơi hắn có thể nhìn ngắm mặt trời lên vào mỗi sớm mai.  
Bà mẹ vỗ về con mà nước mắt lăn thành dòng trên má.
- Cha mẹ sống để nuôi nấng bảo bọc con cái. Bây giờ thì mẹ càng biết chắc cha đã yên tâm mà nhắm mắt vì ông đã hy sinh cho con được sống.
Người con trai nhìn vào mắt mẹ định mở lời thì bà ôm con vào lòng. Mẹ biết. Nếu con quyết định hòn đảo ngoài kia không thể là nơi dung thân được vì quá đau lòng thì con cứ đi tới một nơi nào khác. Ý nguyện cuối cùng của cha là không muốn nhìn thấy con phải cầm súng chết thay cho con cái đám người đã làm gia đình mình và biết bao người khác điêu đứng. Ông đã làm tròn bổn phận của mình, chết thay con và yên thân. Còn mẹ, mẹ  có thể làm được gì cho con nơi xóm chài sau cửa biển điêu linh này? Mẹ đã quen sống với nỗi buồn nhớ thương con cái vắng xa. Con Nhi, thằng Dõng, và rồi đây là thằng Niên, con Nữ của mẹ.
Sau này, khi anh Niên đã đi xa rồi trở về ngơ ngác trầm kha, Nữ mới nghiệm ra nàng đã ngồi lại với người anh ruột của mình lần cuối cùng suốt buổi chiếu dưới mái hiên nhà sau lễ tang cha. Đó là buổi chiều nắng đẹp hiếm hoi giữa mùa gió mưa ủ dột. Anh em ngồi im lặng rất lâu, không ai muốn phá vỡ cái thinh lặng mong manh sau cùng của thời gian và nơi chốn. Mặt đầm sông rêu lặng. Hàng dừa xanh bên xóm lưới Thuận Tình lả ngọn trong nắng chiều phai. Con đường đi học ôm lòng sông Đế Võng khuất lấp sau những hàng cây xa. Tiếng vòng xe khua sầu nhạc ngựa trên cầu Phước Trạch rơi hút vào kỉ niệm. Những cánh cò trắng đang bay về đâu? Chị Nhi, anh Dõng đang ở phương trời nào? Anh Niên rồi sẽ về đâu? Những buổi tối trong căn nhà này sẽ chỉ còn lại mẹ với Nữ vào ra. Tiếng hát đồi sim hoang tím nguyệt cầm lăn dài đêm vắng. Nữ ôm mặt, nuốt dòng lệ chờ rơi. Nàng biết chỉ cần thốt lên một lời là nước mắt sẽ tuôn tràn. Có lẽ anh Niên cảm biết điều đó nên bối rối lên tiếng bâng quơ. Niên hỏi em chuyện học hành rồi cợt đùa hỏi có cô bé nào ở trường còn nhớ tới anh. Nữ mở lớn đôi mắt rưng lệ nhìn anh, lắc đầu không nói. Người anh đành nghiêm mặt ngồi xuống. Niên rút từ túi áo trang thư dài và gói giấy khá dày.
- Thư này anh viết định nhờ cha mang về cho mẹ. Nay thì lỡ dở hết rồi. Anh sẽ không bao giờ trở ra ngoài đảo nữa. Em đọc cho biết, nhưng nhớ dấu mẹ. Mẹ biết chỉ buồn thêm. Còn đây là số tiền khá lớn và hai chiếc nhẫn cưới mấy tháng trước mẹ cho anh để phòng thân. Cha mất rồi, mẹ cần số tiền này hơn. Ngày mai sau khi anh đi rồi, em hãy trao lại cho mẹ. Anh xin mẹ giữ lại một ít cho những ngày đầu ở Đà Nẵng, sau đó đi đâu về đâu anh sẽ liệu xoay. Tối nay sau khi ăn với mẹ và em bữa cơm tiễn biệt, anh sẽ mang ba lô ra mộ ngủ với cha đêm cuối cùng rồi ra đi từ đó. 
Nữ ôm anh khóc òa. Trong căn nhà chở che gia đình qua tháng ngày lận đận, hai anh em cùng khóc với nhau một lần cuối. Mẹ nấu bữa cơm ngon. Cơm trắng mà chẳng ai buồn ăn.  Mẹ giấu mặt lau dòng nước mắt lúc gói chặt nắm cơm trong lá chuối bỏ vào ba lô. Bà chẳng còn dịp nào để săn sóc cho con. Bà chỉ còn lại nhớ thương và những giọt nước mắt âm thầm rơi xuống đêm dài. Mẹ choàng lên vai con tấm poncho cũ của cha rồi bịn rịn ôm con hồi lâu. Nữ sụt sùi hé cửa cho anh lách mình bước vào đêm tối về phía những mộ phần.
Chừng khoảng nửa khuya đêm đó, đang ngủ chập chờn, Nữ giật mình thức giấc vì tiếng đập cửa quát tháo bên ngoài. Mẹ chong sáng ngọn đèn mở cửa.
- Đám tang của chồng tôi đã xong từ buổi trưa, sao bác lại đến thăm vào giờ này?
Nhìn nét mặt nghiêm trang của người đàn bà, gã bác họ của Nữ bối rối quay nhìn toán lính huyện đội ông ta dẫn theo.
- Lúc sáng tôi bận công tác không đi đám táng được. Còn bây giờ thì tôi có lệnh của huyện đến để động viên anh Niên tham gia thi hành nghĩa vụ quân sự. Tôi được báo cáo anh Niên có ở nhà, thím bảo anh ấy ra đây cho tôi tiếp xúc.
Người mẹ chỉ tay vào nhà sau.
- Làm đám ma xong là con trai tôi bỏ đi ngay. Cháu không dám ở nhà. Bác không tin thì cứ cho bộ đội của bác vào mà khám xét.
Gã cán bộ nhìn Nữ xoi bói rồi hậm hực dẫn lính huyện đội trở xuống bến đò. Nữ ôm mẹ nửa mừng nửa sợ. Tấm hình cha trên bàn thờ xa vắng vô thường trong ánh bạch lạp vàng ảo lung lay. Mẹ thắp nhang vái tạ vong linh chồng phù hộ con vừa thoát cảnh hiểm nguy mà lòng vẫn biết đời con gian nan chỉ mới bắt đầu.
Đêm trằn trọc chờ sáng, nằm nghe tiếng ho khan gầy xen giữa tiếng thở dài trở trăn của mẹ, nỗi trống trải trong lòng Nữ chợt trào dâng chiếm lĩnh. Cha anh đã ra đi. Những người đàn ông đã ra đi. Cảm giác từ đây chỉ còn mẹ và Nữ cô quạnh trong căn nhà sau cửa biển đìu hiu khiến Nữ sợ hãi vô ngần. Nàng nghĩ tới tờ thư anh Niên viết trước cơn bảo định mệnh. Nghĩ tới người yêu của anh Niên trên hải đảo, lòng thương xót vô ngần cô gái với giấc mơ đẹp đời người vừa tàn lụi đêm nay. Số phận đã đẩy đưa họ đến với nhau rồi ly biệt không ngờ. Cô giáo trẻ ngôi trường một lớp trên hòn đảo nhỏ. Gã con trai chưa kịp mộng tương lai đã sa cơ thất thế sống đời trốn chạy lưu vong. Gặp gỡ ước thề và một quê nhà mơ tưởng vừa ươm bị cơn bão oan khiên xoáy thổi tan tành như cha đã một đời hy sinh và con thuyền định mệnh tơi tả chìm sâu.
Âm thanh rền rĩ của bầy chim ăn cá bỏ đầm sông về biển lao xao buồn bay qua xóm nhà còn chìm trong sương sớm. Gió lạnh lùa lắt lay bếp lửa. Nữ thương xót nhìn mẹ gầy còm đứng dưới giàn mướp héo hon đã qua mùa trái phía ngoài cửa bếp. Mắt bà ngóng về phía nghĩa trang lo lắng bồn chồn. Chắc anh con đã đi rồi. Bà chép miệng lúc Nữ rời nhà bước lên dốc cát. Bóng đảo chìm xa khuất biển. Bóng anh Niên chèo đò đơn độc đầm sông. Hai ngả cách chia, có chăng con sóng biển nào còn kịp vào sông mà vỗ mạn thuyền. Anh Niên đã đi rồi. Những ngày thơ của Nữ đã xa rồi.
5. Mẹ qua đời vào một ngày cuối mùa hè trước giỗ đầu của cha. Căn bệnh tim ngày càng nguy kịch và nỗi thương nhớ con xa đã không giúp được mẹ nấn ná sống mà làm tròn bổn phận trước khi thanh thản theo chồng. Những ngày cuối đời, lúc tỉnh táo mẹ cầm tay Nữ kể chuyện con, chuyện rể, và tháng ngày gia đình đầm ấm trong ngôi nhà ở phố những năm về trước. Câu chuyện Nữ nghe nhiều lần đã thuộc nằm lòng, qua hơi sức tàn của mẹ nghe thất lạc mong manh như giữa một giấc chiêm bao khiến nàng ôm chầm lấy mẹ khóc ròng. Một lần mẹ đòi Nữ phải đỡ bà ra trước sân nhà. Đồi cát vọng chắn triều âm đã mấy mùa nắng cháy hạ vàng, âu sầu đông xám. Cát trải lòng im lìm qua cuộc biển dâu như hình ảnh câm nín mù lòa của thượng đế. Những đứa con của mẹ giờ này đang lưu lạc, sống chết phương nào? Từng dấu chân trên cát, khuya sớm đi về hằn sâu lối mòn định mệnh. Dấu chân nào của cha hụt hẫng thấp cao theo tiếng ho khan sau đêm biển sóng rạc rài. Dấu chân nào của đứa con lêu lổng, xác cha trên vai từng bước đoạn trường. Rồi đây sẽ chỉ còn dấu chân nhỏ nhoi đơn độc của Nữ trên cõi đời này. Mẹ nở nụ cười héo hắt khen con tốt nghiệp rồi thi đậu vào trường đào tạo giáo viên ở Hội An. Bà chép miệng thở dài.

- Anh Niên con vẫn chưa có tin tức từ nơi đày ải rừng thiêng nước độc. Ở đây một mình, đi học xa xôi quá. Con nên về nhà mình trong phố, đòi lại một phòng, ở đó đi học cho tiện. Chờ tới khi mô anh Niên con về hẵng hay.
Quắt quay với giây khắc ngắn ngủi còn sót lại, Nữ trân quí ôm mẹ muốn giữ chặt nhịp sống tàn hơi trong lồng ngực mẹ héo hon. Mẹ nhìn căn nhà mang đầy dấu vết của chồng con sau màn nước mắt, tay gầy vuốt tóc con xanh.
- Mẹ biết sức mình. Mẹ tin con có đủ nghị lực phấn đấu với đời. Thế nào cũng có ngày anh chị em lại sum họp dưới một mái nhà.
Đám tang mẹ lúc ngày vừa chớm. Bạn chài của cha vừa từ đêm khơi trở về, tóc áo còn lộng tanh mùi cá, họ lặng lẽ gánh áo quan giữa hai hàng xương rồng lối ra nghĩa trang nơi mẹ sẽ nằm cạnh cha suốt cả thiên thu. Nữ và gia đình cậu dì từ Quế Sơn bước sau quan tài khóc sụt sùi trong áo khăn sô. Đứa con gái mồ côi cha mẹ đứng bất động giữa hai hàng người thân. Mẹ nằm đó trong áo quan đóng chặt, chỉ tấc gang mà đã nghìn trùng. Chị Nhi, anh Dõng, anh Niên, các anh chị đang ở đâu? Sao lại nở bỏ em một mình ở lại. Mắt Nữ lệ mờ đăm nhìn về phía đầm sông đợi chờ một điều không thể. Nữ cảm thấy trời thật cao và mọi vật dường như bất động. Thời gian. Hơi thở. Mặt nước lặng lờ. Dì Chanh đến bên Nữ víu nhẹ vai cháu, trao cho nàng nhành bạch trang còn tươi lá. Nữ khóc òa lên lúc nhìn thấy cành hoa trắng trên nắp quan tài chìm dần dưới những nắm đất chôn kín đời người.
Buổi sáng sau ngày mở cửa mả, gia đình các cậu dì về lại Quế Sơn. Ngồi một mình trên bến đò thẫn thờ nhìn theo ghe người thân khuất dạng sau cù lao Thuận Tình, Nữ sợ đến điếng người khi cảm nhận ra mọi người đã bỏ đi và anh Niên đã thực sự không về.
Dáng anh Niên ngồi buồn dưới hiên nhà, bóng anh đơn độc chèo đò qua sông buổi sớm bỏ nhà ra đi, và hình ảnh xác xơ của anh trong trại tạm giam ở Chân Mây vì tội vượt biên mãi rõ nét trong trí nhớ Nữ.
Chẳng bao lâu sau cái Tết đầu tiên xa nhà, anh Niên phải sống lang thang ở  Đà Nẵng, thì mẹ và Nữ hay tin anh vượt biên thất bại. Nữ theo mẹ lặn lội đi xe đò qua đèo Hải Vân ra tận Lăng Cô rồi Chân Mây tìm thăm con trai. Trong cảnh hỗn loạn, nạt nộ, khóc than, chờ chực, mẹ bật khóc khi thấy công an dẫn anh Niên ra phòng thăm nuôi. Khuôn mặt anh bơ phờ, vài vết bầm tím trên gò má trông anh càng tội nghiệp. Suốt nửa giờ thăm viếng, anh Niên luôn vỗ về an ủi mẹ. Nữ trao giỏ thức ăn, áo quần, thuốc men cho người công an khám xét trong lúc mẹ thăn thỉ thăm hỏi con trai. Nhà nước đã “khoan hồng” để anh Niên thay vì bị tù tội đã được “tình nguyện” theo đoàn lao động đi thâu hoạch quế trầm cho nhà nước. Đoàn sẽ khởi hành trong vài ngày tới. Người công an hất hàm ra dấu cho anh Niên nhận giỏ quà đã khám xong, rồi chỉ tay ra cửa nói với mẹ bằng thứ âm giọng miền ngoài khó nghe.
- Bác cứ yên tâm trở về địa phương sinh hoạt cho tốt. Con trai bác nếu lao động tốt, bỏ ý định trốn theo Mỹ Ngụy thì thế nào cũng đoàn tụ với gia đình sớm thôi.
Mẹ già nước mắt lưng tròng bịn rịn từ giã con trai mắt cũng đỏ hoe. Niên thương mến nhìn em gái, cầm tay kín đáo trao cho Nữ mảnh giấy xếp nhỏ. Đó là lần cuối cùng Nữ còn nhìn thấy nét tinh anh trong mắt Niên, buổi chiều cuối cùng không lâu trước khi anh Niên của Nữ bị quăng ngược vào u mê của rừng rú. 
Lúc hai mẹ con ra khỏi trại giam thì trời đã cuối chiều, chuyến xe đò sau cùng về Đà Nẵng - Ngã Ba Đi Huế đã chạy khỏi từ lâu. Đang lo lắng tìm nơi tá túc qua đêm thì một người đàn bà trẻ hấp tấp dựng xe đạp vồn vã chào hỏi. Nữ mừng rỡ gặp được người quen ở nơi xa lạ, reo vui.
- Chị Vê ở bệnh viện Hội An, vẫn thường đến nhà mình với anh Đức ở cùng giang đoàn với anh Dõng, mẹ nhớ không?
- Mẹ nhớ chớ! Cậu Đức, cậu Toản, cậu Hoát, cậu Lương sáng nào mà không sắp hàng ở bệnh viện chờ cô Vê, cô Mai y tá thử máu cho.
- Bác nhớ đúng nhưng nhìn không ra cháu vì mới có mấy năm mà cháu đã già đi quá nhiều phải không bác? Chị Vê nhìn mẹ nói đùa rồi tỏ vẻ quan tâm. Bác có thường không, nhìn bác xanh và ốm lắm.

- Ôi thôi, già rồi ai mà không ốm. 
Chị Vê ân cần mời mẹ và Nữ về nhà, vừa đi vừa thăm hỏi chuyện nhà. Sau việc hôn nhân không thành, anh Đức buồn xin thuyên chuyển đi tàu biển. Vì tự ái, chị Vê cũng xin đổi bệnh viện ra Đà Nẵng mà không cho anh hay chị đã có thai. Sau bảy lăm, chị Vê đưa con trai về sống ở vùng đất nhỏ này cho tới bây giờ. Cháu Thiếu Anh đã hơn bốn tuổi rồi, giống anh Đức như khuôn. Nữ nhìn ánh mắt chị Vê, thương cảm bồi hồi nhớ lại những lần thấy đôi tình nhân đến nhà thăm anh chị mình.
- Giống anh Đức như vậy chắc Thiếu Anh “beau” lắm hả chị?
- Đẹp trai cho lắm chỉ thêm khổ con gái người ta thôi em ơi. Rồi chị đùa. Em được khổ chưa!?
Ngôi nhà nhỏ của mẹ con chị Vê ở cuối xóm, nghe được tiếng sóng biển. Trên tường tấm hình nhỏ đôi tình nhân chụp ngày còn ở Hội An quây quần với nhiều hình của cháu bé từ lúc nằm nôi. Cơm nước xong, bé Thiếu Anh liến thoắng dẫn đường cả nhà ra bãi biển. Nhìn chị Vê cùng con nô đùa với sóng, tiếng cười trẻ thơ rộn trong tiếng rạt rào của biển, Nữ biết chị đang sống hạnh phúc và cảm thấy vui lây. Nàng ôm tay mẹ, nhìn những ánh đèn chài chụm đầu vào nhau trên mặt biển.
Đêm biển mùa xuân gió thổi mát lạnh. Chị Vê dẫn con ngồi xuống bên mẹ. Bà  ngồi im lặng, thỉnh thoảng lại buông tiếng thở dài.
- Bác yên tâm. Ngày mai cháu vào trại giam khám bệnh sẽ mang thêm vào cho Niên thuốc sốt rét và một ít thuốc kháng sinh. Ở đây cháu được tiếng là “bác sĩ” kiêm bà mụ, cấp cứu, đủ thứ... Chị Vê cười. Chẳng còn ai ngoài O y tá “chột” ni.
Chị Vê chỉ tay về phía núi thoáng mờ trong bóng đêm.
- Túy Vân phía đó. Đi ngược lên xa nữa là Nam Đông, A Sau, A Lưới... Họ làm ăn dữ lắm. Tù vượt biên, tù tệ nạn xã hội, thay vì giam tốn cơm họ bắt “tình nguyện” đi tuốt vô trong núi xa, có khi qua tận Lào, tìm trầm đốn quế về cho mấy hợp tác xã, công ty quốc doanh. Tới khi nào đạt chỉ tiêu qui hoạch thì cho về.
Đêm hôm đó, trong căn nhà nhỏ bên bờ nước Chân Mây có thêm người mất ngủ, lăn trở thở dài. Lạ nhà không ngủ được, nửa đêm Nữ thức dậy rót nước cho mẹ thì thấy chị Vê đang đứng dưới hiên nhà nhìn trời khuya.
- Ở nhà em có nhận được tin tức chi của vợ chồng chị Nhi em chưa? Không biết họ bây giờ lưu lạc xứ nào?
Chị Vê hỏi Nữ rồi thở dài tâm sự. Gặp bác và em chiều nay lay dậy trong lòng chị cảm giác từ lâu lắm chị tưởng đã an bài. Không biết anh Đức bây giờ đang ở đâu? Định mệnh. Hạnh phúc. Khổ đau. Phải chi mà mình sống yên được với nó, cho dù vui hay buồn. Có một thời, lâu lắm rồi, chị tưởng chẳng thể nào tìm được hạnh phúc giữa nhớ thương, oan ức, khóc ròng... rứa mà thiệt lạ... trong cõi sâu thẳm nhất của khổ đau chỉ một thai động, một mấp máy môi cười đã giúp chị vượt qua tất cả, “chấp hết” và sống thương đời. Có lần trong một giấc chiêm bao chị đứng nhìn anh Đức và gia đình đang nô đùa hạnh phúc trên ngọn đồi hoa vàng rực rỡ. Tỉnh ra chị ẵm con nhìn tấm hình cũ của hai đứa mà lòng thật bình an. Tình yêu của chị về anh vẫn đằm thắm như thuở nào.  Em biết không? Chỉ là định mệnh mà thôi...
Khuya lắng sâu theo tiếng sóng rạt rào. Hai chi em đứng yên lặng hồi lâu. Hình như có tiếng Thiếu Anh cười trong giấc ngủ trẻ thơ.  Chị Vê quay nhìn hỏi Nữ rồi tự trả lời.
- Có chi khác nhau giữa sống thương đời và nghị lực, em biết không?  Đó là khi Thiếu Anh khóc hay cười, mà cu cậu thì khóc cười tùy “tình hình” nên mình luôn phải có sẵn cả hai để đối phó.
Nữ chợt nhớ ra tiếng cười “pha lê vỡ” của chị Vê vẫn như ngày xưa.
Chiếc xe đò chạy than cuối cùng rồi cũng uể oải lăn bánh về phía đèo Hải Vân. Mẹ và Nữ cùng nhoài người ra cửa xe vẫy chào. Cháu Thiếu Anh ngồi sau lưng mẹ trên xe đạp, miệng cười tay vẫy thật dễ thương.
Xe vất vả trèo lên đèo dốc ngoằn ngoèo. Nữ mải mê nhìn mây núi quên cả thời gian, xe lên đến đỉnh đèo lúc nào không hay. Nữ nhớ lại lần đầu tiên theo chị Nhi ra Huế, lòng say sưa cảm giác lâng lâng lúc nhìn mây nước quyện nhau từ chốn lưng trời. Nàng thích thú lạ kỳ tưởng mình đang đứng trên mây nhìn xuống vịnh biển mờ sương khói. Giữa tiếng gió trời nồng nàn kỷ niệm, lòng chợt tạm quên đi tiếc nhớ sầu đau để chỉ còn nghe nhịp đập của tim và tiếng lòng anh chị Dõng Nhi trao nhau qua những dòng thơ Nữ đã thuộc nằm lòng.
Tôi về ngậm ngải tìm mơ
Trầm em hương vọng cuối bờ thơ ngây
Bóng tà huy đọng mây ngàn

Đèo xa quán lú sương bàng hoàng rơi

Này em nhấc chén sầu khơi

Tóc phai màu trách chi lời phân vân

Mắt như lá mộng mây gần
Chiều heo hút núi chập chờn thanh xuân.
6. Sau ngày mẹ mất, Nữ đan lưới ở hợp tác xã thay tay mẹ trong khi chờ trường sư phạm ở Hội An khai giảng. Những người bạn buổi đổi đời của mẹ, họ vui tính và rộng lòng, giúp Nữ nguôi ngoai phần nào nỗi nhớ mẹ cha đã qua đời và anh chị vắng xa. 
Trời hay mưa vào những buổi chiều hè sót muộn này. Mưa từ biển về. Nhóm đàn bà ngồi đan lưới dưới bóng dừa xóm Thuận Tình nhốn nháo dọn dẹp lưới thúng vào dưới hàng hiên nhà hợp tác rồi ngồi ngóng mưa qua. Màn nước trắng lịm cửa biển, phủ mờ xóm chài trên đồi cát  rồi lan dần lên mặt sông. Lúc mưa rớt giọt rào rào trên mái tranh thì đầm sông ngoài kia đã mênh mông một màu trắng xóa. Có lần mưa chợt tới giữa lúc Nữ chèo ghe về nhà sau buổi làm. Một mình trong bao la mưa, chỉ còn lại con đò dập dềnh theo nước quyện vây quanh. Nàng vô cùng sợ hãi và cảm thấy đơn độc đến tuyệt lòng. Nhưng rồi bỗng dưng trong một chợt thoắt sát na, Nữ bình tĩnh lạ lùng buông xuôi tay chèo nằm nhắm mắt bất động trong lòng con đò nhỏ. Nàng hồ như nhẹ nhàng theo dòng nước, mơ màng theo mưa bay qua năm tháng, tình thâm, buồn phiền hệ lụy. Muôn vàn mưa rơi xuống châu thân nàng gõ nhịp bồi hồi, phải chăng cho lần chung cuộc trở về hay đẩy đưa Nữ thơ dại trôi xuôi vào vùng thinh sắc ảnh hình êm đềm kỉ niệm. Tiếng cười hiền của mẹ, tiếng nô đùa của anh chị trong rộn rã vườn trăng, và bóng dáng cha đứng dưới buồm căng  buổi sớm thuyền về nặng lòng cá quẩy, cuối cùng đã kéo Nữ ra khỏi giấc mê. Mưa đã tạnh tự lúc nào. Nữ vuốt mặt, trấn tĩnh, chèo đò vào bến. Triền cát ngấm mưa xa lắc ngã về nhà. Người khô rốc trong mệt lả nghi nan, nàng bấu từng bước chân mình lên cát ướt, vừa bước đi vừa khóc một mình.
Hoa sim quanh mộ phần cha mẹ dại tím buổi chiều sau cơn mưa. Khói hương bay lãng đãng trong ngày tàn. Vạt nắng xế nghiêng qua hiên nhà quạnh quẽ, mái lá im lìm. Đầm sông lặng lờ, phân vân níu lại dòng nước đang trôi xuôi ra biển. Nữ nhìn quanh cảnh sắc quen thuộc buồn thiu rồi dõi mắt ngược sông Thu về phố, lòng phân vân tháng ngày sắp tới. 
Nữ về lại nhà ở Hội An nhưng mãi sau gần hai tuần mới dọn vào phòng cũ của mình được. Buổi chiều trước ngày khai giảng, nàng theo ghe chài quen về bến chợ. Nữ hàm ơn quay chào người hàng xóm tốt bụng đã bỏ ghe xách giúp túi gạo bobo tiêu chuẩn nàng lãnh từ hợp tác xã đến nhà. Nàng tần ngần đứng lại trước cổng nhà thân yêu, cánh cửa khép hờ cũ kỹ màu sơn dưới giàn bông giấy lơ thơ hoa đỏ cuối mùa. Nữ tay xách vai mang, chân bước qua ánh mắt nhìn chẳng mấy thiện cảm của vợ chồng người bác họ. Chưa kịp trấn tĩnh cơn xúc động trở về, Nữ đã hốt hoảng hét lên khi nhìn vào căn phòng cũ của mình qua cửa sổ mở toang. Cửa ra vào bị khóa chặt, mấy tấm gỗ đóng nghiêng xéo làm đà chắn bên ngoài trông càng cáu bẩn. Gian phòng đã trở thành chuồng nuôi heo.
Nữ ngồi phệt xuống hiên nhà giữa đống áo quấn, sách vở, gạo mắm. Nước mắt ràn rụa, nàng nhìn về phía người đàn ông, căm hận đến không thể nói lên lời. Ông ngồi chò hõ kiểu nước lụt trên sân gạch. Khói thuốc mờ mịt trào ra từ cặp môi xám xịt, mấy ngón tay xương xẩu đen đúa của người cán bộ huyện đội di di mẫu thuốc tàn dưới chiếc dép lốp.
- Cô này lạc hậu quá. Tăng gia sản xuất để cải thiện mà cô không nhất trí thì là thế nào? Bảo cho mà biết nhé. Đợt thứ ba này lớn lên, bán xong là có tiền mua xe động cơ rồi đấy.
Giọng Quảng Nam pha lợ miền ngoài của người bà con tập kết càng làm Nữ chói tai, cáu giận thêm. Chẳng nói chẳng rằng, Nữ bặm môi xắn áo dùng khúc củi lớn phá sập tấm vách chắn, mở cửa lôi xềnh xệch hai chú heo con ra cột ở góc vườn. Người vợ lồng lên xỉa xói.
- Con Ngụy non chết tiệt kia. Mày khôn hồn thì xéo ra khỏi nhà bà.
Còn hiểu chút thiệt hơn khi nhìn vào ánh mắt uất hờn như tóe lửa của đứa cháu họ, người đàn ông chột dạ kéo vợ ra phía nhà trước. Suốt chiều hôm đó cho đến khi tối mịt, Nữ luôn tay xách nước giội rửa từ vách tới sàn mới chỉ bớt đi một phần sự dơ bẩn tích lũy từ mấy năm qua. Đứng bên thành giếng trong vườn đêm chớm thu rười rượi, nhìn ánh đèn dầu le lói trên bệ cửa sổ thấp thoáng sau nhành vú sữa la đà, lòng Nữ nguôi ngoai. Nàng nhắm mắt lắng nghe mình trở về với những ngày ấu thơ yên ả.
Cả tuần lễ, sau buổi học Nữ vội về nhà bỏ thì giờ tâm sức cạo chùi từng phân vuông căn phòng. Sau đó nàng đến chào thăm gia đình người bạn của cha mẹ và hỏi nhờ tìm cách mua vôi màu để quét lại căn phòng đã dọn sạch sẽ. Bà mẹ ôm Nữ vào lòng, thương cảm đứa con người bạn  vắn số của mình, chỉ mới vài tuần sau ngày mẹ mất mà đã hao gầy thấy rõ. Hai người, một già một trẻ, ngồi hàn huyên chuyện nhà quên cả thời gian. Người con lớn của bà cũng là sĩ quan hải quân. Những ngày tháng Tư năm bảy lăm, anh Mẫn đang phục vụ trên tàu biển đã theo chiến hạm đi nước ngoài từ Sài Gòn, đến nay vẫn chưa có thơ tin như anh chị Dõng Nhi của Nữ. Người con kế là sĩ quan bộ binh, hiện đang ở tù cải tạo trên vùng núi Tiên Lãnh. Cũng như mẹ của Nữ lúc sinh thời và hàng trăm ngàn bà mẹ khác trên toàn Miền Nam, từ mấy năm nay bà vẫn ngày đêm mỏi mòn trông nhớ con xa và cặm cụi bới xách cho con gần trong vòng tù tội. 
Nữ khệ nệ ôm thùng sơn lớn trên tay, háo hức rảo bước về nhà. Bà mẹ đã sốt sắng lục tìm cho nàng thùng sơn gia đình cất giữ từ lâu nhưng vẫn còn dùng được. Bà còn hứa sẽ xin cho Nữ một chân trong hợp tác xã làm đèn lồng nơi bà là xã viên.
Một buổi chiều ở trường về, Nữ thấy những mảnh rời của chiếc giường cũ được ai đó dựng ngay ngắn phía ngoài vách cửa. Nữ đã lục tìm mấy hôm nay hầu như khắp nơi trong nhà mà chẳng thấy đâu. Nàng nhìn về phía gian phòng lớn luôn đóng kín của vợ chồng người bác họ rồi tặc lưỡi lắc đầu. Họ trả lại cho mình là được rồi, hơi sức đâu mà nghĩ cho mệt. Người đàn bà trao cho Nữ một bóng điện tròn cũ sau khi nàng bằng lòng trả tiền điện mỗi tháng. Loay hoay suốt buổi chiều cho đến sập tối rồi Nữ cũng mang được giường vào phòng và ráp lại theo đúng khuôn chiều. Nàng trải chiếc chiếu mang theo từ nhà ở Xuyên Thọ lên  giường đặt ngay ngắn ở góc phòng.  Nữ nằm yên thật lâu trong mùi chiếu gối thân quen, lún sâu vào cảm giác ấm cúng trở về căn phòng tràn đầy kỷ niệm. Tiếng chuông xe đạp leng keng vào cuối giấc mơ kéo Nữ ra khỏi cơn mộng mị đầu đêm. Nàng biếng lười với tay kéo sợi dây công tắc. Ánh đèn bật lên vàng tươi căn phòng còn thơm mới mùi sơn làm Nữ bật rộ tiếng reo vui. Sợi dây gai từ bóng điện trần nhà treo dài đong đưa khiến nàng nhớ tới bầy khỉ nhỏ bằng nhựa mềm anh Dõng cho đu tòng ten trên sợi dây dù màu ô liu. Màu lân tinh ngũ sắc rạng lên mỗi lần Nữ tắt đèn phòng. Sợi dây quá khứ vui vầy hóm hỉnh đã thất lạc vắng xa. Nữ vùng dậy xếp dọn, tới lui tắm gội trong ánh sáng như nắng vàng đã thiếu vắng từ lâu.
Cuộc sống của Nữ dần ổn định theo với bận rộn ở trường và công việc ở hợp tác xã sau giờ học. Một tháng vài lần khi có giờ rảnh Nữ thường theo ghe cá về nhà, ở lại qua đêm, quét dọn thăm nom bàn thờ phần mộ mẹ cha. Nữ là đứa con chung của xóm chài sau cửa biển. Vừa thấy bóng chị Nữ trên ghe từ phố về là bầy trẻ đã líu lo chạy bừa theo dốc cát xuống bến đón nàng. Các bà mẹ xóm chài thương cô gái côi cút mà nghị lực trùm bồ cho từng con khô, con mực mỗi khi Nữ về lại phố. Đứng với họ trên dốc cát chờ ghe về vào những buổi sớm sương còn vương trên lau lách, nhìn vào từng ánh mắt vọng phu đẫm đọng đợi chờ, lòng Nữ lại rưng rưng nỗi nhớ mẹ cha anh chị. 
Tết năm đó, lần đầu tiên Nữ được về quê ngoại Quế Sơn. Nàng say sưa nhìn cảnh vật ven sông trong suốt chuyến đò ngược dòng Thu Bồn rồi hiểu ra vì sao anh Niên luôn nhắc tới cảnh quê. Những ngày đầu năm đoàn tụ với gia đình cậu dì trong lòng quê ngoại hiền hòa thân thuộc giúp Nữ quên đi phần nào cuộc sống cô quạnh của mình. Cậu Chấn hỏi chuyện học hành rồi nhìn đứa cháu mồ côi pha trò.
- Người ta học Nga văn, Hoa văn. Còn mi lại học tiếng Mỹ, đúng là còn muốn ôm chân đế quốc mà. 
Ông cười ha hả sau câu nói bông đùa. Cậu Chấn là giáo sư Pháp văn, bị “mất dạy” từ mấy năm nay, về lại quê làm ruộng, may mà không bị bắt đi cải tạo.
- Tại họ chê không ai xin thi tuyển vào lớp này, nếu không thì làm gì tới phiên con, lí lịch trích dọc trích ngang lem nhem từ trên xuống dưới từ trái qua phải... Cũng nhờ sách vở Anh văn của chị Nhi con còn cất giữ, học theo mấy năm nay nên vào lớp cũng dễ dàng. Giáo viên phó tiến sĩ dạy Anh văn của cháu tốt nghiệp tận Hà Nội nên dạy dỗ trật trúng tùy đối tượng.
Cậu Chấn vuốt tóc cháu.
- Thôi ráng đi con. Ráng mà học cho đỡ cái thân.
Chuyến đò xuôi Thu Bồn về Hội An, Nữ gói ghém theo tình thương quê ngoại cậu dì chòm xóm qua vị ngọt của mít, của bòn bon mãi còn đậm đà trong trí nhớ và một xách đầy dưa mắm sắn khoai. Nữ nghĩ tới tiếng cười của dì Chanh, cậu Chấn trên cầu Chợ Đụn, của mẹ con chị Vê trên bãi sóng Chân Mây. Tiếng cười của người sống thương đời với nghị lực sẵn lòng.
Cô gái miền Nam ở trọ trong chính ngôi nhà của mình. Nàng sống bình thản trong một thế giới riêng ngập tràn kỉ niệm, chẳng màn chi tới sự xoi bói của vợ chồng người bác họ. Từ khung cửa sổ rộng mở đến khoanh giếng khơi cuối vườn là khoảng cách an nhiên nàng tự tại bước chân, một thứ đường ranh cấm kỵ cho dù ganh tức vợ chồng gã chủ nhà biển lận cũng đành phải chấp nhận. Bếp lửa nhỏ cuối ngày bập bùng dưới hiên nhà thơm lừng mùi tôm cá ngoài tiêu chuẩn. Tiếng gàu nước lanh canh thành giếng tròn căng ánh mắt rình rập thèm muốn ghen tương. Áo mỏng mường tượng dáng xuân sung mãn bước qua vườn đêm còn đọng giọt giếng khơi làm lay động ánh trăng xuyên qua tàng cây vú sữa.
- Tướng này mắn con tợn đấy. Lấy que thọc vào cũng đẻ thôi.
Tiếng thuốc lào rít lên lúc giọng mụ đàn bà cũng rít qua kẽ răng.
- Ối giời! Cái ngữ đàn bà con gái tiểu tư sản, tắm táp mà cũng mân mê cả giờ.
Rồi như chạm phải nọc, người đàn bà the thé lên.
- Giá mà của ông cán bộ cũng được như cái que đó thì bây giờ gái già này cũng được vài mụn con với người ta... Thế mà cứ tưởng mình là “đỉnh cao”, cứ thấy nồn là mắt sáng tít lên. Rõ tội, chẳng bao giờ vào được tới thủ đô. Để cho gà đéo còn sướng hơn.
Mặc cho mụ vợ xỉa xói, người đàn ông bỏ vào nhà trong. Gã ực một ly rượu thuốc cho dễ ngủ, nằm mơ màng. Mấy chục năm trước, thời chín năm, bước vào tuổi thanh niên gã sớm bỏ làng quê Đại Lộc theo Việt Minh kháng chiến chống Pháp. Thời cuộc đẩy đưa, năm năm tư gã tập kết ra Bắc được Đảng chỉ định cho làm cán bộ một hợp tác xã nông nghiệp vùng Bùi Chu Phát Diệm nơi phần lớn giáo dân đã di cư vào Nam. Vài năm sau, Đảng bố trí cho đi B vào chiến trường miền Nam, vùng Tây Bắc Thừa Thiên. Trung đoàn của gã gần như tan rã trong vụ tổng công kích tết Mậu Thân, lần về tạm chiếm cố đô Huế hai mươi mấy ngày. Gã may mắn chỉ bị thương nhẹ theo tàn quân trở ra Bắc đóng tại một vùng hẻo lánh thuộc tỉnh Hà Nam Ninh. Không lâu sau đó, Đảng lại bố trí cho gã lập gia đình, vợ gã bây giờ. Cô gái lở thì làm hậu cần hợp tác xã ngày đó hãnh diện lấy chồng là chiến sĩ đi B về, già hơn cả giáp. Sau tháng Ba bảy lăm, người đàn ông đem vợ hồi kết về quê cũ. Toàn miến Nam là chiến lợi phẩm của người chiến thắng. Họ cũng được chia phần, ăn trên ngồi trốc. Người vợ trình độ lớp ba hiện làm trưởng một cửa hàng mậu dịch quốc doanh - tiệm tạp hóa của mẹ Nữ ngày trước.
Một đêm tối trời sắp cuối niên học đầu, sau buổi làm việc ở hợp tác xã về, Nữ mệt mỏi thiếp đi lúc nào không hay. Đang lúc ngủ say, Nữ chợt thức giấc vì sức nặng đè trĩu lên người. Mùi hôi thối từ lỗ miệng của gã cán bộ khiến nàng muốn ngạt thở. Trong một hồi lâu Nữ dùng hết sức lực xô đạp, cố gắng ghì giữ áo quần đang bị bàn tay thô bạo của gã xé toạc. Trong kinh hoàng vô vọng, máu bật vành môi, Nữ khép chặt kín đôi chân, trì kéo đến trâng cứng tê dại từng sợi cơ đường máu thần kinh. Bóng tối rớt chụp xuống, phủ trùm cơn mộng buổi thanh tân sắp rã tan tành theo từng giọt nước mắt cuối chờ lăn... Bỗng dưng Nữ cảm thấy toàn thân mình nhẹ hẫng. Gã cán bộ bật rủ ra như xác vô tri nằm phủ phục dưới chân giường. Nữ hoàn hồn bật  khóc, vơ vội bộ áo quần xếp ở góc phòng chạy ào ra phía giếng khơi cuối vườn. Từng gàu nước nối tiếp nhau dội tràn lên thân thể cô gái, gột rửa cho hết tanh hôi. Tiếng lanh canh của gàu va vào thành giếng giúp nàng dần dần lấy lại bình tĩnh. Trong bóng đêm Nữ vuốt ve thân thể mình trắng tinh. Nước đã rửa sạch hết vết dơ bất lực của gã đàn ông trên người.
Nàng lắc đầu khinh bỉ nhìn ánh đóm thuốc lào rực ngún lên phía hiên nhà nơi vợ chồng gã cán bộ đang ngồi chưởi bới nhau tục tằn. Tiếng gã phân bua sau cơn ho sặc sụa.
- Lũ Ngụy non này, chúng ăn gì mà mạnh thế. Chân thì cứ to cứng như cột đình.
Người đàn bà lên giọng chanh chua, nửa đồng lõa nửa hăm dọa ghen tương.
- Thằn lằn leo cột đình thì nó thế đấy. Hiếp dâm mà ông cán bộ cũng không đủ sức làm, còn leo lẻo thế này thế nọ, thật không biết thẹn. Làm thế chỉ tổ cho nó khinh thêm. Bà bảo cho một lần cuối nhé. Có nổi cơn thì bảo bà, bà chịu thế quen rồi. Đi linh tinh đã chẳng đến đâu lại có ngày mất cả cơ nghiệp đấy.
Nữ ngước mặt nhìn trời, hít sâu vào lồng ngực làn không khí mát lạnh của đêm. Chân bước chậm qua vườn khuya, lòng Nữ nghĩ về một cơn mơ rất cũ.
7. Từ nhà giáo viên tập thể nhìn qua bên kia con lộ, ngôi trường thấp nhoài nằm im lìm trên bãi đất bẩn màu cát pha. Sân trường lơ thơ mấy cây bàng mới lớn hiếm hoi lá. Hai bên hông trường là nơi canh tác lao động xã hội chủ nghĩa của học trò sau  giờ học, khoảng đất vụng về những vồng lang đắp không thẳng hàng, lá dây còi cọc vì thiếu nước.
Chiều cuối tuần. Học trò, giáo viên đã vội vã ra về để lại dãy lớp trống nằm trơ trọi tiêu điều trong khoảng không đứng gió buồn bã. Tất cả dường như đều bất động ngoại trừ lá cờ dựng trên cổng trường còn chút mấp máy đong đưa. Màu đỏ bạc của lá cờ phủ hờ lên bảng tên trường có lẽ được sơn kẻ bằng một người nào đó không có hoa tay. Nữ chợt nhận ra nàng đang đứng dưới một chiếc cổng tương tự, nhỏ và vụng về hơn. Ngày đầu tiên đứng từ hiên lớp nhìn về ngôi nhà trọ tập thể, màu đỏ của bảng gỗ có hàng chữ “Nhà Giáo Viên Tập Thể” treo chệch chỏi giữa hàng tre xanh mát đong đưa trông xa cách và chướng mắt. Một thứ văn hóa mới. Con người dắt xe đạp, đeo đài bán dẫn bên hông, vào ra bên dưới những chiếc cổng sơn đỏ, tự hào và yên bụng. Nữ đã tự hỏi có phải rồi đây nàng cũng sẽ vào ra dưới một chiếc cổng như thế - tay trơn và lòng buồn.
Nắng chiều thả bóng tre nghiêng nằm trên sân trước ngôi nhà lát gạch lác đác rêu đọng. Nữ bước qua sân, đứng tựa lưng vào thân cau, trầm ngâm nhìn chiếc bể cạn đã khô nước có non bộ đắp dựng công phu. Chủ nhân của hòn non bộ, ông giáo Thông, qua đời đã gần hai năm sau khi cải tạo về. Ngôi mộ xây ở cuối vườn lúc nào cũng đắp đổi khói hương. Nàng nhìn dáng lom khom nhẫn nhục của người đàn bà đang tưới rau giữa tiếng nói cười rôm rả ồn ào của nhóm giáo viên nữ đang tắm giặt quanh giếng. Nữ quay quắt nhớ tới ngôi nhà của cha mẹ ở Hội An cùng lúc với mặc cảm đồng lõa phạm tội len lén trong lòng. Nàng cũng là một trong những người đang ngang nhiên chiếm ngụ nhà của người đàn bà neo đơn kia khiến bà phải dời bàn thờ chồng xuống khu nhà ngang nhỏ bé. Bây giờ, giữa hai thân cột gỗ mít ở gian chính của nhà trên giăng ngang sợi dây kẽm máng treo bề bộn áo quần phụ nữ.
Bà giáo Thông xách giỏ rau vừa cắt, nước nhỏ rây trên sân gạch theo từng bước chân. Bà dừng lại trước mặt cô gái bà có cảm tình ngay từ ngày đầu dọn vào tổ giáo viên. Những ngày sau đó họ chẳng ngại ngần tâm sự chuyện nhà sau khi biết được cảnh đời của nhau.
- Nhìn cháu là biết lại một tuần nữa không về thăm nhà được rồi. Bốn năm tuần rồi còn chi?
Nữ phụng phịu nhìn ra con lộ thấp thoáng sau hàng tre vương bóng nắng.
- Dạ, tuần thứ năm rồi cô.
Người đàn bà tươi cười nhìn cô giáo trẻ.
- Có muốn đi chợ Hà Lam với tui không?
Mắt Nữ sáng lên.
- Dạ đi. Cháu muốn biết ngã về Bình Triều để tuần tới đón ghe Trường Giang về nhà. Ngã quốc lộ thì cháu có biết hôm đi xe đò từ Hội An về và tuần trước khi dì Chanh của cháu trên Quế Sơn gởi nhờ người quen ở bến xe cho cháu bịch mắm dưa.
Bà Thông nhìn về phía bờ giếng.
- Bịch mắm còn không? Thấy Nữ cười mím lắc đầu, bà tiếp lời. Không phải là mình ích kỷ, nhưng nếu có được chút chi riêng tư thì cháu nên giữ lấy cho mình. Bỏ ra đó họ a vô một hồi là hết sạch mà chẳng nghe được một tiếng biết ơn. Bà cười lớn. Bỏ mùng xuống, ngồi trong nớ mà ăn!
Nữ giành ôm giúp rổ trứng trong tay bà Thông lúc hai người bước ra cổng.
- Ngày mô cũng dòm chừng mới gom được chừng ni trứng.  Hai con gà mái rạ vô ổ đẻ đàng hoàng còn hai con đẻ lứa đầu thì bạ mô són đó, báo hại đi tìm muốn chết. Bà chép miệng. Rứa mà có đứa ăn chùng không chùi mép. Cách đây mấy ngày, tui thấy vỏ trứng vãi trắng trên vồng lang sau nha... Mùa mưa bão gần tới rồi, lấy trứng đổi cá khô dành dụm cho mấy ngày không chợ.
Dáng đi của bà Thông vẫn còn đọng nét những ngày thư thả cũ. Nữ nhìn bà rồi nghĩ lại cảnh đời mình. Cả hai đều đơn độc, chung nỗi buồn thương và niềm hi vọng như nhau.
Cô gái chưa qua tuổi hai mươi, cha mẹ mất sớm, anh chị vắng xa. Người góa phụ sáu mươi, chồng chết, đứa con gái độc nhất lưu lạc với chồng con phương người. Ai buồn hơn ai? Hay phải chăng hai nỗi buồn đang dựa nương nhau, sớt nhẹ đi những mối nặng lòng.  Những sớm mơi thức dậy, ngồi với bà Thông bên bếp lửa chờ nước pha trà, lòng Nữ được an ủi nhiều qua từng câu chuyện nhà hay lời khuyên bảo ân cần.
- Cháu có tin tức chi mới về cậu Niên anh cháu không?
- Dạ chưa. Mới đây cậu Chấn của cháu nhắn cho hay vẫn gắng tìm mà chưa có gì rõ ràng. Chỉ là nghe nói anh Niên đã được chuyển qua diện Thanh Niên Xung Phong, lao động đâu đó sâu tận miệt biên giới Hạ Lào. Con lo nhất là đã hơn một năm mà vẫn không một trang thư nhắn của anh ấy.
Người đàn bà an ủi cô gái.
- Chắc là không sao đâu cháu. Cậu đó thanh niên khỏe mạnh, một thân một mình không phải lo cho ai khác, lâu lắm là trong vòng một năm nữa thế nào anh cháu cũng về. Coi vậy mà thời gian qua nhanh lắm. Có điều chờ đợi thì bao giờ cũng lâu. Ông nhà tui ở tù ba năm, tội làm đảng viên Quốc Dân Đảng phản động. Tui chờ tưởng mỏi mòn, rứa mà ông cũng về. Về để rồi uất ức nhìn cảnh đời đứt tim mà chết... Rứa còn địa chỉ anh chị ở ngoại quốc, cháu đã nhận được chưa?...Tổ cha cái đồ rừng rú, không một chút văn minh giáo dục.  Thư riêng của người ta mà tự tiện giấu diếm thủ tiêu. 
Nữ nhìn bà Thông lắc đầu cười khi nghe bà lại nổi cơn tức, lên tiếng chưởi rủa chuyện vợ chồng người bác họ đã xé quăng không báo cho Nữ biết thư chị Nhi gởi về từ Mỹ.
- Đó là lí do cháu nôn nóng về Hội An mà cứ phải chôn chân ở đây. Hi vọng tuần tới về sẽ có thư.
Trên con đường vắng tới chợ Hà Lam, hai người đàn bà đi bên nhau trò chuyện quên cả đường xa. Phiền hà chưa nguôi trong lòng Nữ, chiều nay có dịp thổ lộ với người thân.
Một buổi sáng không lâu sau ngày tốt nghiệp, như thường lệ Nữ vừa đạp xe bốn năm cây số từ Thuận Tình tới hợp tác xã làm việc thì bà bạn của mẹ kín đáo cho hay tin mừng mà gia đình vẫn thấp thỏm đợi chờ từ mấy năm qua. Bà nhận được thư con trai cho biết tin tức sinh hoạt về gia đình. Anh Mẫn đã lập gia đình và có cháu trai đầu lòng. Nhận được hồi âm từ gia đình anh sẽ gởi hình giới thiệu con dâu và cháu về cho bà nội. Trong thư anh Mẫn còn cho hay đã gặp gia đình vợ chồng chị Nhi anh Dõng, đã có hai con, một trai một gái. Họ định cư cùng một tiểu bang ở miền Bắc nước Mỹ. Chị Nhi nhắn đã gởi thư vài lần về địa chỉ nhà, đợi chờ đã lâu mà vẫn chưa nhận được thư trả lời, anh chị rất lo lắng. Mừng vui dâng tràn như sóng trong lòng khiến Nữ như  muốn chạy ào ra đường, hét to lên cho mọi người cùng hay chị Nhi anh Dõng của nàng đang sống hạnh phúc ở một nơi chốn bình an.
Nỗi vui chưa kịp lắng xuống, sự âu lo không có địa chỉ của anh chị để viết thư hồi âm tràn ngập lòng Nữ suốt buổi làm. Chiều hôm đó, Nữ vội vàng ghé nhà ở Hội An. Nàng thất vọng nhìn qua cửa sổ phòng mình, mặt bàn trống trơn buồn bã. Nhà trên vắng lặng. Nữ gõ cửa phòng khách rồi bồn chồn đứng chờ dưới hiên nhà hồi lâu mới thấy người đàn bà cọt kẹt mở cửa, tóc rối bù dáng còn ngái ngủ. Bà vợ người bác họ cau có nhìn Nữ.
- Ối giời, nhà cửa hai ba nơi, đi đi về về, chả biết đâu vào đâu. Có gì thì nói, không tôi vào ngủ tiếp đây. Suốt ngày đứ đừ ở cửa hàng, vừa về đến nhà định nhắm mắt một tí thì đã có người đập cửa ầm ầm.
Nữ nén giận, từ tốn hỏi bà chuyện thư chị Nhi gởi về. Bị hỏi vặn vì chối không khéo, người đàn bà trâng tráo xỉa xói.
- Này, bà bảo cho mà biết nhé. Gia đình bà là gia đình cách mạng, không có ai liên hệ với Mỹ Ngụy cả. Thư từ Mỹ Ngụy mà đến tay bà thì vào bếp ngay.
Người đàn bà chỉ về phía bếp nấu cám heo góc vườn.
- Đấy, ra đấy bới tro lên mà đọc thư.
Cơn phẫn nộ bùng lên, Nữ kéo giật tay người đàn bà lại lúc bà ta vừa quay bước vào trong.
- Thời mấy người ở trong rừng với cái “hòm thư” đã qua rồi. Bây giờ nhà cửa có địa chỉ, tên đường số nhà, thư từ có tên người gởi người nhận, bà cũng nên học hỏi một chút văn hóa văn minh tối thiểu mà hành sử cho ra người.
Nhìn đôi mắt căm hận như tóe lửa của cô gái, người đàn bà chột dạ cố gắng hứ lên một tiếng nhỏ rồi quày quả bước vào nhà khép chặt cửa. 
Lúc dắt xe đạp qua cổng nhà, Nữ tần ngần ngoái nhìn khoảng sân dưới tàng cây vú sữa, bóng lá lắt lay trong nắng xế cuối ngày. Ngôi nhà chỉ còn trong kỉ niệm, Nữ nhủ lòng, buồn bã đạp từng vòng xe về phía làng chài xa lắc. Một mình trên đầm sông, từng mái chèo khua nước mát lạnh giúp lòng Nữ dịu lại, đằm thắm nỗi vui được trở về căn nhà  sau cửa biển, triền cát vàng rực lên trong ráng chiều.
Dãy phố chợ Hà Lam rõ dần trong tầm mắt. Nữ nhìn về phía nhà lồng chợ vắng hoe.
- Té ra từ nhà tới chợ cũng không xa mấy cô à.
- Đi cả giờ rồi. Bà giáo cười... Cô dẫn tui đi qua hết mùa hè của cô mà còn nói là không xa.
Nữ theo bà giáo Thông bước rẽ về phía chiếc cầu bắc qua đầm sen nằm dọc theo phố chợ. Cầu Hà Kiều có lẽ từ nhiều năm trước được sơn trắng, giờ chỉ còn trơ lớp xi măng rạn nứt mòn dấu thời gian. Bà giáo đứng lại bên cầu, thở dài.
- Ông nhà tui kêu gọi quyên góp bỏ công sức vô cây cầu ni nhiều lắm. Cầu xây năm năm bảy. Năm năm chín cọng sản tổ chức nông dân biểu tình làm loạn đòi chính phủ thi hành hiệp thương, bị bắn chết trên cầu mấy người. Qua năm sau, Quốc Dân Đảng chống đối chi đó với chính phủ, ông nhà tui lại bị bắt giam vô nhà lao Con Gà ngoài Đà Nẵng hết mấy tháng. Trở về, yên ổn dạy học cho tới bảy lăm. Cái ngày thằng học trò ác nhơn trói tay ông, dẫn từ nhà ra tới cây cầu này để  tụ tập đứng chờ xe chở về Chợ Được, tui bị họ đuổi không cho lại gần, chỉ biết đứng nhìn theo mà khóc hết nước mắt.  
Sen đã qua mùa. Mặt đầm lác đác vài búp sen vừa chớm ngại ngùng máu mình dưới những tàng lá xanh chen trở màu nâu. Gió thổi đùa từng cánh hoa tàn tả tơi rụng trắng hồng mặt nước. Những đài sen nhớ thuở e ấp nhụy vàng giờ trơ trọi một màu xanh đậm, cứng cỏi phơi mình trong nắng chiều.
Bà giáo Thông vuốt mặt như vừa chợt tỉnh sau một cơn mê. Bà chỉ tay về phía cái miếu nhỏ nép mình dưới cội đa già đứng lẻ loi giữa đám cỏ tranh khô vàng bên kia đầm sen.
- Gốc đa đó, năm con Thăng-Bình sáu tuổi, cả mấy tháng mùa hè trưa nào hai mẹ con cũng ngồi chờ ông nhà tôi ăn cơm. Con bé không chịu ăn ở nhà, đòi ra ăn cơm chung với cha cho được... Mình xuống dưới đó nghỉ chân, tui cho cô coi cái này hay lắm.
Nữ ngạc nhiên nhìn bà giáo thận trọng lấy từ trong ngực áo ra một bao thư khá dày đưa cho nàng.
- Cô coi đi. Thư và hình con gái tui gởi từ Mỹ về đó. Người bà con trong Sài Gòn gởi chuyền theo xe đò quen, tui mới nhận được trưa nay.
Nữ thích thú lạ lẫm nhìn ngắm mân mê từng tấm hình màu rực rỡ.  Ngôi nhà khang trang, đồi hoa vàng, khuôn mặt trẻ thơ bụ bẫm tươi vui, gia đình vợ chồng sang trọng hạnh phúc. Nghĩ tới gia đình chị Nhi anh Dõng, Nữ cảm thấy lòng mình rung lên nỗi vui òa đến không cầm giữ được. Nữ trao lại xấp hình. Tay nàng chạm nhẹ lên bàn tay gầy guộc của người mẹ. Những ngón tay run rẩy tìm nhau, níu chặt, ấm áp hàng lệ vui. 
Bà giáo Thông xách rổ trứng đứng lên, mắt nhìn xuôi về hướng con lộ.
- Cô không muốn vô chợ thì đọc sách hay đi dạo quanh đây rồi về là được rồi. Đi Bình Triều thì khi về trời tối nguy hiểm lắm. Về sơm sớm kẻo có người trông... Tui thấy cậu Tuyên có vẽ ưng cô lắm đó nghe. Lăng xăng như gà mắc đẻ... Bà nheo mắt trêu chọc cô gái rồi bước ngược lối mòn về phía cầu Hà Kiều.
Nữ cũng chẳng vừa, nói với theo.
- Dạ, cũng nhờ cô tính giúp cho. Hai giáo viên dạy tốt, gom lại mỗi tháng cũng được 26 ký nửa gạo nửa bo bo chứ đâu có ít. Rồi nếu cháu khéo nuôi giúp con heo con ảnh mới mua thì sẽ có ngày sắm được xe đạp, đài bán dẫn như người ta...
Buổi chiều yên lặng quá. Gió gợn trên mặt đầm lăn tăn từng vòng nước dần lan. Vài con cò trắng mảnh mai rón rén bước tìm mồi làm sóng sánh bóng Hà Kiều in hình trong nước. Dáng người mẹ bước trên cầu cũng lặng lẽ thân cò, nhỏ bé buồn thiu. Nữ nhớ tới mẹ cha, nhớ anh nhớ chị, nhớ tới căn nhà trên triền cát lộng gió. Đồi hoa vàng trong tấm hình ngờ ngợ như trong một giấc chiêm bao đêm nhớ về chị Nhi. Nữ không dám nghĩ tới nhưng sao trong đôi mắt nhắm nhòa lệ nàng vẫn hình dung ra sự đau đớn đến tận cùng của chị Nhi khi đọc những dòng thư đầu tiên của đứa em gái bất hạnh còn ở lại quê nhà gởi nhờ theo thư của mẹ anh Mẫn. Còn gì đau thương hơn khi từ một trùng dương cách biệt ngồi mường tượng về cảnh nhà ly tán điêu linh, mẹ cha qua đời đã hai năm mà không hề hay biết. Còn nỗi bất lực nào lớn hơn khi hiện thực khổ đau đã viết thành dòng qua những hàng chữ em mình ngồi viết trong căn nhà chị chưa hề biết. Căn nhà sau cửa biển đìu hiu. Triền cát ngấm mưa thu. Bước chân cha, người ngư dân lạc loài, xiêu đổ về nhà sau đêm biển động. Bước chân anh Niên, vai nặng xác cha, liu xiu triền cát buổi sáng biển trả người về. Mộ phần mẹ cha trên đồi sim dại, ủ rũ tiếng buồn bầy chim ăn cá bay qua đêm trời trở... Chị ơi, xin đừng tiếc rẻ về những giấc mơ của mình cho dù căn nhà của mẹ cha đã không còn. Đó là những kỷ niệm đẹp nên được giữ gìn. Khi chị em mình liên lạc được với nhau, em sẽ kể nhiều cho anh chị  biết về căn nhà sau cửa biển, nơi mẹ cha gia đình đã sống qua những tháng năm khốn khó đổi đời...
Từ sau đêm kinh hoàng tưởng lỡ đời con gái, Nữ như bị lưu đày trong chính ngôi nhà của mình. Đêm trong căn phòng cửa nẻo khóa chặt từ bên trong, giếng khơi góc vườn và bóng trăng rơi trên tàng cây vú sữa vẫn thường mang đến cho Nữ nỗi hạnh phúc dịu êm bỗng chợt như giấc mơ vụt mất mù khơi. Ngoại trừ những khi ở trường hay hợp tác xã họp hội trễ vào buổi tối phải ở lại nhà trong phố, Nữ thường ngày đạp xe, chèo đò về căn nhà sau cửa biển. Ở đó hương linh mẹ cha gần gũi, mùi gió mặn, và ánh bạc lấp loáng đầm sông vào những đêm trăng giúp tâm hồn nàng thanh thản bình yên.
Bận rộn tất bật với chuyện học hành sinh sống, ngày tháng của Nữ trôi nhanh. Ngày tốt nghiệp nàng háo hức bước ra khỏi cổng trường đào tạo giáo viên chỉ để thấy nỗi vui mình tàn lụi chóng vánh khi đứng nhìn giàn bông giấy đỏ rực lối vào ngôi nhà đã đổi chủ. Dì Chanh vuốt tóc an ủi đứa cháu gái mồ côi.
- Dì có bới thịt gà kho sả xuống cho con đó. Mình vô nhà nấu bữa cơm trắng ăn mừng cô giáo mới đi. Ăn cho con kịp xe lên quê nghỉ ngơi mấy ngày. Con gái con lứa chi mà ốm nhom...
Mùa hạ vùng cửa biển chói chang hàng phượng đỏ ngả qua Phước Trạch về phố. Thời gian này, những cuộc vượt biên bán chính thức của người Hoa ngày càng nhiều ở vùng Cửa Đại. Ngư dân Cẩm An, Thuận Tình ngoài những chuyến biển chài còn lén lút chèo đón người vượt biên để tìm thêm miếng sinh nhai. Thỉnh thoảng cũng có những cuộc vượt biên lậu được tổ chức ngay bờ biển phía ngoài dốc cát Xuyên Thọ. Cư dân xóm chài nhỏ bé dần dà bị cuốn hút vào cuộc chơi sinh tử này thường vì món tiền dễ làm tuy cũng có lần khó nuốt phải vướng vòng tù tội. Có khi tiếng rượt đuổi, tiếng súng rời rạc giữa đêm khiến Nữ thức giấc chong đèn. Nàng ngồi hồi hộp, lo âu, khích động, ước ao để rồi sáng sớm hôm sau lại lặng lẽ chèo đò, đạp xe đến hợp tác xã, cặm cụi ngồi may dán đèn lồng hay được gọi ra cửa hàng trao đổi năm ba câu tiếng Anh với du khách Đông Âu mà vốn liếng anh ngữ của họ cũng không gì mấy hơn nàng.
Một hôm, lúc Nữ đang làm việc ở hợp tác xã thì người hàng xóm đi chung ghe lưới với cha ngày trước đến tìm gặp nàng. Ông nhờ Nữ đón một người về nhà cho ở tạm, đến khuya khi có báo hiệu thì dẫn người đó lên đầu con dốc cát, hoàn thành công việc sẽ được trả một món tiền khá hậu. Khi nghe Nữ nhận lời, người hàng xóm cho biết thêm người đó sẽ là tài công của chuyến ghe nên cần phải được an toàn đưa ra tới bãi. Sau khi kín đáo chỉ cho Nữ người đàn ông đứng bên kia đường và chờ cho hai người nhận diện nhau xong, ông căn dặn thêm Nữ khi hết việc ở hợp tác xã cứ bình tĩnh đạp xe về Thuận Tình như thường ngày. Người tài công sẽ theo Nữ xuống đò để nàng đưa về nhà.  
Công việc tiến hành như đã dự tính. Nữ chèo xuồng về đến bến đò lúc trời đã nhá nhem tối. Nàng nghe tim mình đập thình thịch theo từng bước chân hấp tấp trên lối cát về nhà.
Người đàn ông cặm cụi bước theo sau không một tiếng động. Khi Nữ chậm bước để rẽ vào nhà, nàng nghe có tiếng nói nhỏ bên tai trong lúc người đàn ông vẫn tiếp tục đi thẳng về phía trước.
- Cô vào nhà, chờ một lúc rồi mở cửa sau cho tôi.
Nữ run lẩy bẩy mở cửa nhà. Nàng thắp đèn, thắp nhang trên bàn thờ cha mẹ. Ánh sáng và hình ảnh cha mẹ giúp nàng lấy lại bình tĩnh. Nữ xuống nhà dưới, vo gạo, nhóm bếp nấu cơm, đun nước. Nàng chờ nước vừa reo thì mở hé liếp cửa bếp rồi vội vàng ngồi thụp xuống trước bếp lửa, tim đập liên hồi. Có tiếng người đàn ông lách mình vào nhà. Ông khép chặt liếp cửa rồi cũng ngồi thấp xuống bên Nữ như muốn giấu đi phần nào vóc dáng của mình.
- Chào cô. Cám ơn cô đã giúp.
Nữ nghiêng nhìn khẻ gật đầu chào. Người đàn ông chưa ngoài ba mươi, cao lớn phong trần. Suốt buổi tối hai người không trò chuyện gì hơn ngoài những câu đối thoại cần thiết.
Lúc cơm chín, Nữ dọn cho mình ở nhà trên như thường ngày và mang cơm vào phòng cũ của cha mẹ nơi người khách nằm nghĩ qua buổi tối trong đó. Nàng mở tập sách Anh ngữ của chị Nhi cố gắng học để giữ bình tĩnh mà chẳng còn chút tâm trí nào. Cuối cùng nàng phải mở cassette ngồi nghe lại băng nhạc của anh Dõng chị Nhi.  Tiếng hát thì thầm quyện vào đêm, xao xuyến chơi vơi giúp Nữ quên phần nào hoàn cảnh rối động quanh mình…
”Dòng sông nào đưa người tình đi biền biệt. Mùa thu nào cho người về thăm bến xưa. Hoàng Hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ. Về đồi sim ta nhớ người vô bơ...” (Vũ Đức Sao Biển).
“Nguyệt Cầm nghe nấc từng câu... Có hàng mây trắng về đâu? Mắt chìm sâu, đêm lắng đời sâu. Nguyệt Cầm khơi mãi tình sầu. Khơi mãi nguồn đêm ...Mùa trăng úa làm vỡ hồn ta...” (Cung Tiến). 
Có tiếng người khách lạ trở mình, rồi tiếng anh vọng ra từ cửa phòng.
- Cảm ơn cô cho nghe nhạc hay quá. Đã bốn năm rồi tôi mới được dịp nghe lại.
Đêm chậm trôi trong chờ đợi rợn người. Nữ giật thót mình lúc người hàng xóm đến báo hiệu an toàn để dẫn người ra bãi. Người khách lạ thắp nhang khấn vái bàn thờ cha mẹ Nữ rồi thổi tắt ngọn đèn bàn, hé cửa nghe ngóng động tĩnh. Anh thì thào nói vào tai Nữ.
- Cô cứ bình tĩnh đi trước. Nếu có việc gì xảy ra cho tôi phía sau cô dứt khoát đừng quay lại, cứ coi như là cô không hay biết gì về tôi cả. Cảm ơn cô nhiều lắm.
Đoạn đường từ nhà lên đỉnh dốc Nữ đã đi lại hàng trăm lần thế mà khuya hôm đó nàng líu ríu bước chân trên triền cát muốn khuỵu ngã nhiều lần. Nữ mừng quýnh khi nhìn thấy rặng phi lao hiện rõ dần trên đỉnh dốc. Người khách lạ kéo tay Nữ chạy núp vào một đám phi lao dày. Hai người ngồi yên, định thần một hồi lâu thì bắt đầu thấy nhiều bóng người túa chạy xuống dốc cát về phía bờ biển. Khi nhận ra người hàng xóm đang đứng nhìn quanh tìm kiếm, Nữ bấm tay người khách chỉ cho anh thấy. Người khách bảo Nữ ngồi chờ  rồi rời chỗ nấp. Họ trao đổi hồi lâu, lúc Nữ bắt đầu sốt ruột thì cũng là lúc người khách đi ngược về phía mình. Anh ngồi xuống bên Nữ.
- Tôi biết cô sẽ ngạc nhiên khi nghe điều này nhưng tôi mong cô lắng nghe và quyết định ngay. Chúng ta không có nhiều thì giờ. Nếu cô muốn ra đi thì theo tôi xuống ghe ngay. Người hàng xóm của cô nói người chị của cô đã ra đi năm bảy lăm. Nếu ra ngoài được thế nào cô cũng sum họp được với chị của mình.
Nữ nghe mà cảm thấy toàn thân như mất đi trọng lực văng bật lên cao cùng nỗi ước mơ thầm kín nhất bừng dậy như từ một giấc chiêm bao. Cùng lúc, hình ảnh cha mẹ, anh Niên, gia đình, kỷ niệm cũng cuồng xoay những vòng sáng chao đảo trong đầu. Nữ nghe nước mắt mình rơi và môi bật lời từ chối.
- Không. Em chưa thể đi được. Cầu mong ông đi bình an, nhưng nếu có gì trở ngại ông cứ chạy thẳng về chỗ này. Em sẽ giúp ông tìm chỗ trốn.
Người khách lạ siết chặt tay Nữ rồi vội vã chạy xuống bờ dốc vụt biến vào bóng đêm. Nàng nằm im co quắp, hai tay vòng ôm đầu trong nỗi sợ hãi đến tận cùng. Nữ sợ cho mình, cho đoàn người không quen dưới kia. Hình như Nữ đã thiếp đi cho đến khi mùi cát ẩm quen thuộc đánh thức nàng dậy. Cùng lúc với đôi tay víu chặt vốc cát ẩm nàng nghe có tiếng sóng thì thầm như một hiện hữu bình an. Hay chỉ là một cơn mơ? Nàng ngơ ngác giữa lằn ranh thức ngủ mơ hồ. Ý niệm thời gian bềnh bồng như đêm đang tràn vây, nhòa nhạt ánh sao xa.
Tiếng súng nổ, tiếng người quát tháo, kêu khóc kéo Nữ rớt ra khỏi trạng thái ẩn dụ lưng chừng mê tỉnh. Bỗng dưng nàng cảm thấy tỉnh táo lạ thường. Nữ ngồi dậy căng mắt nhìn về phía bờ biển chập chờn ánh đèn pin loáng thoáng quét dọc dài theo bờ nước. Đoàn người trốn chạy trong lúc hốt hoảng đa số đã chạy tản dọc theo bờ biển. Giây phút chờ đợi căng thẳng dài muốn hụt hơi. Cuối cùng bóng người khách lạ hiện rõ dần trong tầm mắt. Anh hào hển chạy về phía Nữ, áo quần ướt sũng.
Trong canh khuya xóm chài trở thành những đụn bóng tối im lìm mà hỗn độn vây quẩn nhau trong màu trắng nhờ nhờ của cát. Người đàn ông đứng chống tay trên đầu gối nhìn xuống triền dốc loáng loáng vài bóng người đang chạy về phía xóm nhà.
- Họ đi khơi khơi theo đường mòn như rứa dễ bị công an tóm quá... Mình nên tiếp tục chạy theo hàng phi lao này cho tới khi qua khỏi xóm nhà. Lúc đó nếu không động tĩnh gì thì xuống dốc vào nhà qua ngõ sau, an toàn hơn.
Nữ mệt đừ thả người theo đà dốc bương chạy qua những lùm sim dại mọc rải rác trên triền cát sau lưng xóm chài. Người đàn ông vẫn bám sát nàng như bóng suốt đoạn đường qua rừng phi lao đồi dốc cho đến khi về tới giàn mướp sau nhà. Vừa kịp lách mình qua liếp cửa bếp là nàng ngồi khuỵu xuống lưng tựa vách bếp thở dốc. Trong bóng tối Nữ nghe lẫn trong hơi thở mình là hơi thở người đàn ông. Rất gần. Đêm bên ngoài vẫn im lặng bao trùm xóm chài. Đêm như dừng lại choáng đặc. Nữ ngồi như thế hồi lâu lắng nghe hơi thở mình dịu lại hoàn hồn. Bỗng chợt ý nghĩ nàng và người đàn ông đang ngồi bên nhau trong bóng đêm khiến Nữ thẹn thùng không dám cử động. Khuya thanh vắng, gian bếp thoảng hương muối mặn từ áo quần sủng ướt của người khách lạ.
Có tiếng người khách đứng dậy bước về phía vách nhà, rồi tiếng anh nói nhỏ.
- Chắc công an bận rộn dưới bãi, không vào xóm xét nhà đâu.
Nữ sờ soạng ở chạng bếp thắp đèn. Ánh đèn hột vịt ám khói vàng lu soi lờ mờ gian bếp.
- Để em tìm cho ông bộ áo quần khô.
Người khách lạ theo Nữ lên gian phòng giữa nơi anh nghĩ lúc đầu đêm. Lục soạn hồi lâu, Nữ trao cho anh hai bộ áo quần cũ.
- Áo quần ông ướt cả rồi. Đây là áo quần cũ của hai người anh, ông thử bộ nào vừa thì cứ dùng tạm.
Người khách nhìn bộ áo quần kaki màu tím trên tay, ngạc nhiên hỏi dồn.
- Đây là quân phục của sĩ quan Hải Quân miền Nam trước bảy lăm mà. Không lẽ...?
- Dạ, đây là quân phục của người anh rể để lại. Anh Dõng chồng chị Nhi em.
Người khách cố nén khích động, ngẩn mặt cười rạng rỡ rồi thân mật hỏi cô gái.
- Thục Nữ phải không? Dõng, chị Thục Nhi của em, và anh có thời học chung ở Huế. Sau đó anh và Dõng cùng vào Hải Quân rồi tốt nghiệp ở Mỹ về một lần.
Nữ cảm động gặp được bạn cũ của anh chị.
- Lâu lắm mới có người gọi tên cúng cơm của mình. Nghe mà ngờ ngợ.
- Anh là Tuân. Vậy là anh chị Dõng Nhi của em đã đi năm bảy lăm? Lần cuối gặp hai người ở Lộng Ngọc, dịp anh từ Căn Cứ Cửa Việt vào Đà Nẵng công tác.
Nữ vui như một  người xa nhà quá lâu được trở về, bắt gặp lại mình và kỷ niệm thân vui trên đường xưa lối cũ. Nàng muốn được sống với niềm vui trở về cho dù là khoảnh khắc. Nữ  tìm cho mình y trang ngày trước rồi lách mình ra ngoài trời khuya. Trong bóng đêm ôm choàng da thịt, từng dòng nước rúng sâu chân tóc trổ gai lên đồi vú săn cứng rồi lăn xuống dần mát lạnh châu thân trôi hết phiền hà.
Tuân ngồi ở nhà trên lơ đãng nhìn trang sách mở trên bàn. Dưới ánh đèn khêu tỏ, Nữ hồn nhiên đứng giữa phòng hong chải mái tóc ướt với những ngón tay của mình.
- Cô giáo Anh Văn ni dễ thương ghê! Còn đẹp hơn cả chị Nhi của cô bé ngày trước nữa.
Nữ ngồi xuống bàn đối diện với người bạn của anh rể mình, không vừa.
- Bây giờ thì con bé lọ lem này mới tin anh là sĩ quan Hải quân thứ thiệt, không phải tài công “dổm”. Theo những gì em còn nhớ được từ mấy năm trước chị Nhi phải đối phó với anh Dõng thì các anh đúng vẫn là “chứng nào tật ấy” chưa cải tạo được chi hết. Chị Nhi gọi là “mấy ông xạo xự”. Anh không biết chứ mối đi ăn Chè Cồn của em hồi đó là từ các anh Lương, anh Đức, anh Hoát, anh Chánh mà ra.
Tuân trầm ngâm.
- Không biết bây giờ tụi nó ở đâu? Thằng Chánh thì chết rồi... Cũng lạ, con người có những gặp gỡ mà chúng ta không thể không tin vào số phận. Đầu hôm, lúc ngồi trên đò chờ em chèo qua cái đầm sông hiu hắt này, anh nghĩ về Chánh mà chẳng hề mảy may nghĩ tới hay ước ao sự gặp gỡ tuyệt vời này. Nơi chốn. Thời gian. Trùng ngộ. Thân phận con người mở ra và hạnh phúc hay khổ đau choàng đến không ngơ...
Rồi mắt anh Tuân chợt sáng lên nhìn Nữ, cười tinh quái.
- Nhưng anh phải thú thật là cũng có giây phút ngồi nhìn cô chèo đò từ phía sau mà lòng thầm mong sao cho nước đừng trôi, thời gian ngừng trôi, và đầm sông thì rộng mênh mông không bờ bến. Tất cả đều lênh đênh nên tự do cũng không còn cần thiết nữa.
Nữ xấu hổ khẻ lên tay của anh Tuân trên bàn.
- Cái anh này lại “xạo xự” nữa rồi.
Đêm trở mình về sáng. Hai người ngồi kể cho nhau nghe chuyện nhà mấy năm qua.
Anh Tuân sinh ra lớn lên ở Đà Nẵng. Đứa con một cứng đầu, ham hố phiêu lưu, lính thú giang hồ loanh quanh, tù tội núi rừng xa tuốt trong Nam rồi cũng khăn gói trở về với thành phố vịnh biển thân yêu của mình. Bốn năm trước, tháng Ba Đà Nẵng mất, anh Tuân theo đơn vị di tản từ Cửa Việt vào Vũng Tàu rồi kẹt lại ở Sài Gòn. Anh bị đi tập trung cải tạo ở các vùng núi rừng Tây Ninh, Long Khánh, Phước Long mới được thả về lại nhà hơn tháng mà đã đôi lần tìm đường thoát thân.
- Không sao! Thời buổi này, lý lịch trích ngang sĩ quan Hải quân Ngụy rất đắt giá. Mà anh lại được quới nhân phò trợ. Hai tuần trước, lần đầu ra quân ở Thanh Bồ thất bại. Đêm nay tuy chạy có cờ nhưng quới nhân phò trợ là một thục nữ nên anh thấy mình vẫn còn tốt số chán.
- Cầu mong cho anh lần tới thành công, nếu không, chắc anh phải cõng quới nhân trên lưng mà chạy. Không phải yểu điệu thục nữ mà bé bự một trăm kí cho đáng đời cái thân nhiều chuyện của anh.
Nỗi niềm tâm sự dài hơn đêm, họ vui buồn trò chuyện bên nhau quên cả thời gian cho đến khi bầy chim ngủ nhờ trên nghĩa trang thức giấc xao xác bay về biển thả tiếng kêu buồn qua xóm chài còn say giấc im lìm. Sương mai lan kín mặt sông. Xóm lưới Thuận Tình bên kia bờ đầm chìm trong một màu trắng đục, lơ lửng nóc hàng dừa rủ lá đợi ngày lên. Nữ đứng nhìn theo bóng anh Tuân đạp xe trên lối mòn nhấp nhô dừa nước sim dại, lòng bâng khuâng về nỗi mất mát mơ hồ. Lơ đãng chèo con đò nhỏ qua sông, Nữ nhắm mắt thả lòng trôi, lắng nghe nhịp đập tim mình hòa theo tiếng thì thầm của biển. Nàng ngư nữ chưa một lần ra khơi với niềm khôn nguôi vô vọng dã tràng, nửa muốn tìm lại nửa muốn chối từ hình ảnh một hải đảo mù khơi trong trầm tích lạc loài của trùng dương muối mặn. 
Những ngày hè còn lại, Nữ thường đứng nhìn quần áo phơi buồn sân nhà ngập nắng mà nhớ thẫn thờ lần gặp gỡ tình cờ. Tấm áo đêm trùng ngộ đẫm hương muối mặn giờ đây được xếp ngay ngắn trong ngăn tủ như một kỷ niệm trân quí. Lòng thiếu nữ trải trang phơi áo cho người rồi hát một mình buổi sáng hoàng hạc bay quạnh quẽ đồi sim...
Buổi chiều lắng sâu. Nước hồ sen lung linh mây chiều đang ngã dần qua màu tím đậm. Nữ giật mình bừng tỉnh giấc mơ ngày. Mùa hè đã qua lâu rồi, Nữ nhủ lòng, lật mở trang đầu tập sách Anh văn của chị Nhi. Dòng chữ thân quen và câu thơ Nữ thuộc nằm lòng càng gợi thêm nỗi nhớ. Màu hoang đảo từ đây em sẽ ngó. Cát xa bờ tơ chỉ rối chiêm bao (Bùi Giáng).
Nữ bước qua cầu, một mình trên con đường vắng ngắt, tiếng bước chân đều đều nghe cũng buồn. Nàng về lại nhà tập thể lúc bà giáo Thông đang e gà vô chuồng. Bà lo lắng nhìn cô gái.
- Bộ cô đi tới Bình Triều hay răng mà giờ ni mới về. Tui bắt đầu lo lo trong bụng rồi đó.
Nữ giải thích rồi nhìn về phía giếng nơi Tuyên và mấy cô giáo đang lúm xúm đứng ngồi.
Bà giáo Thông hóm hỉnh.
- Giấc mơ mua xe đạp của hai người bị xì hơi rồi. Con heo con của cậu Tuyên biếng ăn mấy hôm nay. Họ đang làm thịt chia nhau.
Trông thấy Nữ đang bước qua sân gạch về phía bờ giếng, Tuyên đứng lên mừng rỡ.
- May quá! Tuyên có hỏi bác Giáo, sợ Nữ đi tới Bình Triều định mượn xe đạp đi tìm.
Hai bàn tay bê bết máu, Tuyên chỉ vào xác con heo nhỏ hơn bắp vế người bị cắt cổ nằm sóng soài bên lưng bát máu chưa kịp đông .
- Con heo bị bệnh, biếng ăn đã mấy ngày. Mấy cô giáo bàn nên làm thịt trước khi chết mới có máu làm tiết canh và không bị mất thịt. Họ đề nghị đổi tiêu chuẩn đường sữa tháng này. Chút nữa mình gọi Nữ ăn cháo huyết nghe.
Nữ lắc đầu thoái thác vì nhức đầu, bỏ vào nhà. Gian phòng lờ mờ chút ánh đèn từ nhà ngang hắt vào qua khuôn cửa nhỏ. Bà giáo Thông trong áo dài lam đang trịnh trọng thắp nhang khấn vái. Nữ khép cửa sổ, ngồi im trong bóng tối. Những người đã ra đi, anh Dõng chị Nhi đang có đời sống hạnh phúc riêng cho mình. Người nhất quyết ra đi như anh Tuân, tương lai của họ là chuyến tàu sắp tới. Nàng nghĩ tới Tuyên, người thanh niên có nụ cười hiền, sống loay hoay yên phận với dự tính nhỏ nhoi vừa bị chết yểu tối nay. Nữ nhớ anh Niên đang sống trong rừng sâu núi thẳm. Người anh sống sôi nổi hết mình luôn muốn làm vui lòng bầu bạn quanh mình. Tội nghiệp cho Tuyên. Tội nghiệp anh Niên. Tội nghiệp cho mình.  Nước mắt Nữ trào ra.
8. Nữ chợt tỉnh giấc chiêm bao. Có tiếng chim bay về biển nghe quen thuộc như giấc mơ nàng còn dầm dề cơn hạnh phúc bơ vơ. Nữ biếng lười nằm nán lại với nàng, với người đàn bà trong cơn mơ chờ đợi người tình trên đồi cát đẫm sương. Trong với víu của cảm giác, góc xiên quen thuộc của tia nắng đầu ngày chiếu qua vách nhà mang đến cho nàng sự ấm áp trở về, nỗi vui được bao quanh bởi bao điều thân thuộc, kỷ niệm thiết tha. Cạnh đó, tất cả chỉ là cuộc sống trôi qua, bấp bênh phiền hà...
Nữ bỏ dạy về lại nhà. Nàng đã cố gắng không để ý tới sự bủn xỉn, nhỏ nhen, cân đo đong đếm của những con người phải thường trực mưu cầu trong một xã hội bao cấp chụp giựt. Chỉ tội nghiệp cho họ. Nhưng nàng không thể chịu đựng sự kiêu hãnh bán khai trâng tráo của nhóm người thiếu khả năng văn hóa lại có trách nhiệm dạy dỗ giáo dục thế hệ tương lai - những đứa bé đến trường với khăn vải đỏ quàng lên đôi vai gầy guộc thiếu ăn. Những buổi hội họp kiểm thảo trễ nải chẳng liên quan chi tới việc dạy học. Nhóm giáo viên ngồi quanh trên sân gạch trước nhà để tiết kiệm dầu thắp. Nữ ngồi lơ đãng nghe ý kiến, phê bình, thi đua, khẩu hiệu lả tả chìm trong tiếng kinh tụng trầm đều của bà Giáo Thông hay có khi nàng im lìm lay đùa với bóng mình trên sân vào những đêm trăng. Có lần Nữ bị kiểm điểm với lý do thiếu tinh thần tập thể vì ngồi họp trên chiếc đòn gỗ chứ không ngồi chò hõ trên sân như các giáo viên khác. Nữ bật cười nhìn Tuyên khổ sở, nhấp nhỏm trong dáng ngồi kiểu nước lụt, hai bắp vế ép sát bụng, cánh tay gác lên đầu gối đong đưa. Bóng người gãy đổ lên sân gạch như bầy khỉ ốm ngồi quanh. Nàng lấy câu chuyện đùa của cậu Chấn, đem ra phát biểu ở buổi họp.
- Vào thời thực dân đế quốc, địa chủ bắt tá điền ngồi chò hõ vào những bữa ăn để họ ăn ít mà mau no cho bớt tốn gạo. Ngày này đất nước đã thống nhất, chính sách cải cách ruộng đất của Cách Mạng đã diệt sạch hết bọn điền chủ bóc lột, bản thân tôi cảm thấy được giải phóng khi ngồi ghế, đồng thời sung sướng khi bụng mình không bị chính hai cái bắp vế kẹp lại.
Tổ giáo viên ngơ ngác nhìn nhau, chỉ có Tuyên mỉm cười nhìn nàng, lắc đầu chào thua.
Lần sau cùng bị kiểm điểm đã đưa đến việc nàng xin nghĩ dạy sau một niên khóa ở Thăng Bình. Sau khi xin phép mà không được hiệu trưởng chấp thuận, Nữ đã nhờ Tuyên dạy thế rồi tự ý bỏ lớp một tuần theo bà bạn của mẹ vào Sài Gòn nhận quà chị Nhi gởi về từ Mỹ. Chủ trì buổi họp là một cán bộ giáo dục trên huyện về, cỡ tuổi anh Niên. Anh ta nhìn Nữ chăm chú nhưng nàng tỏ vẻ như không hay biết. Nàng ngẩng mặt nhìn lên phía trên tấm cờ đỏ loáng thoáng hàng chữ đề cao lao động học tập. Trên khoảng vách trần ố vàng loang lổ, con thằn lằn bám cong dáng như chữ S ngần ngừ chưa biết tiến thoái về đâu. Nhóm giáo viên trường ngồi đưa mắt nhìn nhau lúc người hiệu trưởng gay gắt phê bình Nữ và đọc đề nghị kỷ luật. Nữ bình thản ngồi nghe tiếng lời ganh tỵ, nhỏ nhen, phê bình tố tụng mỗi giáo viên lần lượt vang lên như một dĩa hát cũ, mũi kim cùn đùi rời rạc xoay trên những  rãnh mòn âm thanh ù lỳ bất biến.  Mớ chữ tàn dư Mỹ Ngụy, ôm chân đế quốc, trí thức tiểu tư sản, khắc phục, sửa sai...lặp lại tới lui như một bài vè dở tệ. Bài hát quen của đám nhạc công tồi nín lại lúc Tuyên chợt đứng lên. Người thanh niên rụt rè không có mặt trong phòng họp hôm đó. Nữ cảm kích lắng nghe Tuyên phân trần cho nàng rồi xúc động nhận ra tấm lòng người thanh niên đang phơi trải.
Người cán bộ chủ trì dài dòng lên tiếng. Bài hát cũ được lặp lại với cường điệu cao, nhưng lời đúc kết buổi họp đã khiến hầu như mọi người trong phòng họp không ít ngạc nhiên.
- Khả năng dạy tốt của đồng chí Nữ được đánh giá cao. Phòng giáo dục huyện sẽ đề nghị phân công trường lớp thích hợp cho đồng chí vào niên khóa tới. Trong thời gian hè, đồng chí Nữ sẽ được bố trí cơ hội phấn đấu trong các lớp bồi dưỡng đạo đức cách mạng.
Giáo viên lục tục bước ra khỏi phòng họp. Người cán bộ tươi cười  ra hiệu cho Nữ ngồi lại.
- Cô Nữ có nhận ra tôi không?
Nữ gật đầu lúc người cán bộ kéo ghế ngồi gần.
- Mấy năm trước, lúc gần thi phổ thông tôi có theo Niên ra nhà cô ở  Xuyên Thọ một lần. Chuyện lúc nãy cô không phải lo lắng gì. Tôi sẽ bố trí cô về trường sở gần Hội An, thích hợp với môn dạy của cô hơn.
Cô gái định mở lời nhưng rồi im lặng không nói.
- Anh Niên cô bây giờ đang ở đâu? Người cán bộ nháy mắt cười. Mỹ, Tây, hay Úc?
Nữ đắn đo hồi lâu rồi vắn tắt kể chuyện nhà. Người thanh niên nhìn đăm đắm vào đôi mắt cô gái khiến nàng rụt rè lãng nhìn ra phía cửa lớp vương bụi nắng.
- À ra là vậy. Niên là người bạn vui tánh thời trung học. Hắn thân mật vỗ vỗ lên tay Nữ. Tôi sẽ nhờ vài người bạn trên tỉnh đoàn tìm giúp. Khi nào có tin, tôi tìm cô ở đâu để cho biết đây?
Nữ vui mừng với hi vọng mới về anh Niên, dí dỏm trả lời.
- Phố Hội chỉ ngang dọc vài đường như lòng bàn tay, ông cán bộ chỉ cần đi một vòng là tìm ra ngay. Nhất là những nơi treo nhiều đèn lồng. 
Mùa hè lại đến. Những ngày sót lại của niên học, Nữ đến lớp lòng nao buồn về ngôi trường đầu tiên trong đời đi dạy. Nàng thương cho đám học trò nhỏ khi nghĩ tới khả năng của những giáo viên Nữ có dịp tiếp xúc và biết khá nhiều về họ. Tuyên lắng nghe, lắc đầu cười buồn.
- Tuyên chỉ mong làm hết khả năng bổn phận của mình để an lòng và được an thân. Có phải mình đã tham lam khi muốn cả hai? Giữ cho được đôi bàn tay sạch, thiệt là quá khó giữa mùa gặt ác này.  Sống với thú biết làm sao đây?
Nữ khẻ đập lên vai bạn, nói đùa.
- Không sao! Thỉnh thoảng tay có vấy chút máu heo con thì không sao.
Mắt Tuyên nhìn buồn hơn.
- Tuyên vẫn băn khoăn mãi trong lòng từ hôm đó. Biết Nữ không vui lòng. Cả mình cũng vậy. Chẳng qua là mong được an thân với họ. Niên học tới không có Nữ ở đây, sinh hoạt chắc khó khăn hơn.
Cô gái nhìn theo Tuyên cúi đầu bước chậm qua sân gạch. Buổi chiều thả nghiêng bóng hàng cau gầy guộc lên mặt đất. Dáng Tuyên đứng dưới chiếc cổng chào rất buồn. 
Bên bờ giếng bà Giáo Thông ngồi rửa khoai lang để xắt phơi khô. Bầy gà con sau một hồi xúm quẩn quanh bà tìm không ra cái ăn thất vọng líu ríu bỏ đi theo tiếng kêu tục tục rất kham của gà mẹ. Bà Giáo ngày thường vốn ít nói nay càng đăm chiêu hơn. Bà đưa cho Nữ củ khoai Chợ Được vàng ửng vừa gọt sạch.
- Cô cắn thử một miếng đi. Ngọt ngay à. Khoai này xắt lát, phơi vài nắng, nhai trong miệng ngọt tươm như mật. Con Thăng Bình tui hồi đó, mấy buổi tối trời lạnh, con bé ngồi học bài đâu không thấy mà chỉ một hồi là rổ khoai khô đã lưng một nửa. Bà ngưng tay, nhìn về phía nhà trên, chép miệng thở dài. Sang năm lại thêm một con Hà Nam Ninh khăn gói vô nữa chắc tui giao luôn cái nhà cho họ, bỏ đi khuất cho đỡ gai con mắt.
Nữ thoa thoa lên lưng gầy người mẹ. Hai người đàn bà ngồi bên nhau yên lặng.
- Giờ này bên đó là buổi sáng phải không cô giáo?
- Dạ, chắc năm sáu giờ sáng.
- Tui chờ giấy báo về đi lãnh quà con Bình gởi. Trông sao tụi nó gởi kèm thiệt nhiều hình về coi cho đỡ nhớ. Thiệt khó mà hình dung cái xứ sở đó. Lái xe sáu bảy chục cây số mỗi sáng đi làm, chiều lái về. Còn xa hơn  từ đây chạy tuốt ra Huế. Chắc hai vợ chồng nó phải lui cui dậy từ hồi hai ba giờ sáng mới cụ bị cho kịp mà đi làm. Chợ búa nghe nói cũng phải đi cả giờ mới tới. Hai ba tuần đi chợ một lần thì lấy gì mà ăn trong nhà...
Bà mẹ thương con cháu, giọt nước mắt lăn xuống buổi chiều rất chậm.
Những ngày đầu về lại nhà Nữ ra vào bâng khuâng nhớ ngôi trường nghèo, nhớ khoảng sân gạch đọng rêu mảnh mai bóng hàng cau, và mùi nhang khói quyện trong tiếng kinh tụng trầm đều mỗi đầu đêm.  Nữ đứng tựa cửa bếp nhìn bầy gà con bà Giáo Thông tặng nàng giờ đây thiếu mẹ chạy lẩn quẩn chiêm chiếp quanh lu nước. Nàng xúc động nhớ lại hình ảnh bà Giáo te te xách giỏ gà đi trước, Nữ phụ Tuyên cắm cúi đẩy chiếc xe đạp mượn thồ cái rương lớn của nàng theo sau. Bóng hai người đứng trên bến đò Bình Triều xa dần theo từng tay vẫy.
Nữ trở về với cuộc sống quen, quanh cạnh người thân thuộc ở hợp tác xã làm đèn lồng và những lớp dạy tiếng Anh cho trẻ em trong phố. Chuyến đò dọc trở ra cửa biển vào những cuối ngày. Nữ ngồi yên lặng giữa đám người tất tả, lắng nghe tóc mình váng vất bay trong gió. Nàng nhắm mắt mường tượng đoàn tàu của anh Dõng, anh Tuân chẻ sóng lao mình trên dòng sông nước cuộn. Mường tượng bước chân cơ khổ mẹ cha bơ phờ bờ dốc cát vàng loang nắng. Xem hoài không chán hình ảnh gia đình chị Nhi hạnh phúc tươi vui trong những tấm hình màu rực rỡ. Nữ thuộc nằm lòng những tờ thư anh chị gởi hết nhớ thương về em gái. Chị nhắn sẽ tiếp tục gởi nhiều quà về để nhờ cậu dì xuống xây lăng mộ mẹ cha, trang trải việc tìm kiếm anh Niên và giúp cô em gái côi cút khỏi phải lo chuyện áo cơm.
Người cán bộ bạn học của Niên đã vài lần ghé hợp tác xã với vài tin tức mơ hồ. Mới đây anh ta còn mở lời mời Nữ đi thăm chơi Đà Nẵng. Nữ đã khéo lời thoái thác, nàng có cảm tưởng anh ta chỉ lấy cớ để có dịp gần gũi chuyện trò lợi dụng. Ý nghĩ  khiến Nữ lo lắng nhưng việc kiếm tìm tông tích của anh đã hơn hai năm biệt tăm quan trọng hơn nhiều. Nữ vẫn chưa tiết lộ với người cán bộ quyết định không trở lại trường vào niên  khóa tới của mình. Sự giao thiệp với người đàn ông này không hiểu sao càng khiến nàng băn khoăn và thương nhớ Tuân hơn. Không biết giờ này anh đang ở đâu. Phải chi anh Niên thành công trong chuyến vượt biên hay vẫn bình an ở nhà thì có lẽ giờ này Tuân và nàng đang bên nhau, cho dù hạnh phúc hay lận đận ở một nơi nào đó.
Một buổi chiều sau buổi làm ở hợp tác xã, Nữ đang đứng ở bến đò chờ ghe thì một thằng bé đến gần rụt rè trao cho nàng hộp giấy nhỏ. Của chú kia nhờ em đưa cho cô. Cậu ta chỉ vấp vúng được câu nói ngắn rồi vùng chạy biến. Trong hộp là vài cassette nhạc cũ và trang thư ngắn. Nữ nhìn tên người viết, vội vàng đọc thư, mắt ngời vui. Suốt chuyến đò dọc, nàng nâng niu cái hộp giấy trên tay như một bảo vật.  
Cơm nước xong mà trời chỉ mới vừa sập tối. Người chi mà ác. Còn cả một đêm dài. Nữ chợt thẹn thùng rạo rực với ý nghĩ của mình lúc nhìn bầu trời mùa hè vào đêm thấp thoáng sao xa. Trong bóng tối của giàn mướp sai lá, Nữ cởi bỏ quần áo nhẹ nhàng rưới từng gáo nước lên thân trần. Cảm giác mát lạnh, chậm mà rạt rào trôi xuống chan hòa rồi tan thấm vào nỗi sung sướng không ngờ. Tiếng nhạc vọng nhẹ từ chiếc máy cassette đặt cạnh liếp cửa bếp xao xuyến mơ hồ. Những bài hát Nữ chưa hề nghe qua, ray rứt bồi hồi tiếng tình nhân thầm thì vương vấn từng bước chân tìm kiếm quay về... Ta đi ngóng trông em, trong bóng đêm dài tan. Ngàn tơ vàng chìm lắng, mơ dáng ai về, trong ánh trăng vàng. Như gió đi tìm hướng, như chim nhớ mùa, khát khao tình xưa. Ta níu xin thời gian, đừng cho phai úa, kiếp duyên tình mộng mơ... Ta thiếp đi vì đêm tàn rồi. Bên khúc sông lạnh riêng mình ngồi. Ôm cánh hoa đọng ngát hương môi. Xa vắng cho lòng nhớ xa xôi... (Đợi chờ - Phạm Đình Chương). Tiếng hát ma mị trổi cao mà khắc khoải theo tiếng tây ban cầm bứt rứt chập chùng… Màn đêm mở huyệt sâu. Mộng đầu xin dài lâu. Một vì sao lạ rơi, nghe hồn tê tái trên dòng hương khói bay. Ái ân ơi đừng phụ lòng ta. Nhớ thương sâu xin gởi người xa. Khóc nhau trong cuộc đời. Giấc mơ xưa khăn phủ vành sô. Có yêu nhau ngọt ngào tìm nhau. Chết bên nhau thật là hồn nhiên!... (Dạ khúc cho tình nhân - Lê Uyên Phương).
Nữ thức ngủ chập chờn chờ đợi. Rồi đêm cũng cạn dần theo nửa khuya về sáng. Cô gái đi về phía rặng phi lao trên đỉnh dốc cát. Người đàn ông đã chờ ở đó từ lâu. Ngồi bên nhau trong bóng tối hoang vắng vây quanh, họ thầm thì kể chuyện vui buồn, thành công, thất bại đến với đời mình suốt một năm xa cách.
Đêm chở che và nỗi nhớ ngất trời nên ngôn từ rớt lặng không hay. Còn lại những nụ hôn dài đến tận cùng hơi thở và vòng tay trườn quấn vào nhau cho nhục cảm lên khơi. Cô gái nằm rướn người trên cát, thân sóng dập dồn. Những vì sao nhấp nhô trên trần vai rắn chắc của Tuân phủ lên khuôn mặt nàng rực hồng cơn hạnh phúc trào dâng. Anh thì thầm những lời làm mắt cô gái ríu lại. Tinh sương ngày chưa kịp lên đã vội  buông màn đêm nguyệt tận. Đêm chật ních không gian, choàng kín đôi thân trai gái ghì xiết nhau trong chiếc kén đam mê chẳng một thoát âm. Đêm mơn man vạt cỏ bồng e ấp nguyên xuân, bãi bờ  thân xác lồng lộng triều dâng đầm đìa cơn xúc động. Bao mường tượng nhớ nhung của một thời thiếu nữ yêu người quẩy níu sâu ngập vào nhau, khít rịt, tràn đầy. Môi căng trào âm thanh thuở hồng hoang. Mắt nhắm. Gió thì thào tiếng phi lao. Tiếng thời gian.
Sương tan... Người đàn bà trở mình trên ân cần trao thân. Bóng người đàn ông chèo đò qua đầm sông xa vời vợi. Đồi cát lan dần theo hoang liêu, quạnh quẽ bờ phi lao. Cơ hồ tiếng gọi từ một nơi rất xa nghe như tiếng gió mùa thổi lộng nỗi hoài mong. Như tiếng thời gian đi mất, chìm xa, bảng lảng bóng con tàu trôi trên dòng sông dậy thì vọng hao tiếng sóng. 
Người đàn bà trở về nhà, thẹn thùng bước chân qua giấc mơ và nỗi hạnh phúc của sóng lang thang, xa xôi mà vẫn mãi rạt rào. Hạnh phúc rướn dài qua năm tháng đời người, qua từng bước mộng du ấm ướt vào những sớm mai. Niềm hạnh phúc mong manh mà cần thiết như cảm giác khẽ khàng của cát trôi dài dưới lòng chân đã lay nàng thức dậy. Gió nồng nàn hương muối. Tiếng chim bay lưng trời. Bầy ghe cá đêm khơi trở về. Tiếng người lao xao bến sông. Buổi sáng nở ra thật thà như thân cá bạc còn quẫy mình trong thúng. Nữ vịn tay lên mạn thuyền thô nhám nghĩ về những con cá bị mắc câu vướng lưới ngoài khơi xa giữa đêm trắng lòng ngư phủ. Nàng nghĩ về bầy cá nhỏ quanh quẩn đầm sông mà tội nghiệp cho hạnh phúc nhỏ nhoi tưởng vọng của mình.
Nữ nhớ thương mà biết chẳng thể nào trông. Tuân từ giã nàng đi tuốt xuống vùng sông nước hẻo lánh Cà Mau tiếp tục tìm đường vượt biên. Hơn hai tháng sau ngày Tuân đi Nữ mới nhận được thư anh cùng lúc với giấy báo lãnh quà của chị Nhi. Mừng vui lẫn lộn Nữ rớt nước mắt đọc trang thư khéo viết để qua mắt đám công an bưu chính. Tuân đang sống bình an nơi vùng kinh tế mới ở U Minh Hạ. Nơi xuồng chạy vài giờ trên sông Trẹm mới ra tới chợ có trạm bưu chính nên thơ chẳng đề địa chỉ người gởi. Nữ nhắm mắt mường tượng. Ít ra Tuân đã cho nàng một địa danh nơi chốn để nhớ thương về. Sông Trẹm. Sông Thu. Khoảng cách giữa những dòng sông cũng dài như nỗi nhớ. Thời gian. Chia lìa. Dòng nước lung lay soi bóng người và mịt mờ đâu đó một cửa biển cuối dòng sông nặng lòng châu thổ.
Người đàn bà trao thư thương hại nhìn Nữ lau nước mắt.
- Thư ai vậy cháu? Gia đình bên đó bình yên chớ?
- Dạ thư của anh Tuân, đang ở Cà Mau. Anh ấy vẫn bình an. Nhưng cháu làm răng mà biết được chuyện chi đã xảy ra từ ngày thư viết tới giờ?
Người đàn bà kéo Nữ ngồi xuống bên mình.
- Cầu mong sao cho cậu ấy ra đi trót lọt bình an. Chẳng biết sao hơn. Trời kêu ai nấy dạ.
Bà chìa tấm giấy báo lãnh quà của mình cho Nữ xem. 
- Cháu coi đây. Hai bác cháu mình lại có dịp đi nhận quà một lần. Rất may là mình không phải vô Sài Gòn nữa. Họ bắt đầu cho lãnh ở Đà Nẵng rồi. 
Hai người ra bến xe từ rạng sớm, thế mà chiếc xe đò ì ạch mãi đoạn đường ba mươi cây số hết gần buổi sáng mới ra tới Đà Nẵng. Thùng quà anh chị gởi cho Nữ chỉ khiêm nhường chiếc máy cassette, một máy chụp hình lạ mắt, vài chiếc quần bò, một số thuốc tây, kẹo bánh, lá thư chị Nhi viết và rất nhiều hình ảnh gởi kèm. Người kiểm soát không hào hứng gì mấy với thùng quà nhỏ bé, hắn hất tay ra hiệu cho nàng.
- Sắp hết vào thùng, khuân ra nhanh ngoài kia đóng thuế, chừa chỗ cho người khác vào.
Tối hôm đó Nữ ở lại nhà người bạn của mẹ trong phố. Mọi người quây quần xuýt xoa bên thùng quà lớn vợ chồng anh Mẫn gởi về cho mẹ và gia đình. Từng tấm hình màu rực rỡ chuyền tay nhau trầm trồ khen ngợi. Về lại phòng, Nữ táy máy với chiếc cassette một lúc rồi lạ lẫm ngắm nghía hồi lâu chiếc máy chụp hình lấy liền nàng chưa hề thấy bao giờ. Nàng thích thú lật xem từng tấm hình gia đình. Vui tươi bên chồng con, chị Nhi ngày càng đẹp hơn. Nữ bật cười lúc đọc mấy chữ phân bua của anh Dõng viết về khuôn mặt “bệ vệ” của mình. Hai đứa cháu thì lớn nhanh như thổi. Thằng Bờm với mái tóc bờm dựng đứng kháu khỉnh như một chú ngựa con đang nô đùa với bé Phương trong một công viên có nhiều trẻ con bản xứ tóc óng ánh vàng tơ.
Nữ đọc đi đọc lại bức thư, cố gắng hiểu cho ra mấy câu nhắn tối nghĩa của chị Nhi... “Cháu Bờm rất thích kẹo cao su, em nhớ trao hết cho cháu”. “Thuốc sửa trị bệnh bao tử, em nhớ nhắc mẹ uống cho hết thì mới có công hiệu”. Nữ chăm chú nhìn những bịch kẹo cao su và mấy chai thuốc trên bàn. Cháu Bờm ở bên đó lấy đâu mà trao? Mẹ thì đã qua đời... Nữ mừng rỡ reo lên. Nàng náo nức làm công việc người đi tìm kho tàng. Từng miếng kẹo cao su bọc giấy bạc thơm phức mùi bạc hà được bóc ra. Thuốc sữa đổ hết ra ly chỉ còn vỏ nhựa nhẹ tênh chờ bị cắt đáy. Chú tâm “đào bới” kho tàng cả giờ mới xong. Xấp tiền đô la vuốt thẳng thớm trên tay, Nữ sảng khoái tự thưởng cho mình thỏi kẹo ngát thơm mùi quế. Nàng làm nhẩm bài tính nhân trong đầu rồi giật mình. Con số quá lớn khiến Nữ bồn chồn lo lắng về những việc phải làm sắp tới. Về thăm quê, nhờ cậu Chấn xuống trông coi việc xây lăng mộ cha mẹ cho kịp trước mùa mưa bão. Chuyến đi xa tìm đưa anh Niên về lại nhà. Nữ tự nhủ phải dồn hết nỗ lực tìm cho ra người anh thất lạc.
Buổi tối qua lúc nào không hay. Nữ đứng một mình trong khoảng sáng mờ bên lan can hiên gác nhìn xuống con phố đêm vắng lặng. Dãy mái phố rêu phong giờ đây là những mảng đen lớn nhỏ không đều chồm chống vào nhau thành chuỗi kỷ hà nhấp nhô gãy đọng bóng tối. Nữ nhìn theo người mẹ trẻ dẫn con quảy gánh hàng rong về nhà sau một ngày dài vất vả. Bóng hai mẹ con quấn quít bên nhau đi qua dãy nhà cửa đóng im lìm rồi khuất sau khúc đường quanh cuối phố. Bước chân trẻ thơ và tiếng cười hồn nhiên còn vẳng vọng lòng đêm. Nữ nghĩ tới mẹ con chị Vê trên bãi sóng Chân Mây và tiếng cười hạnh phúc của họ quyện trong tiếng rạt rào của biển như đang văng vẳng đâu đây. Chấp hết và sống thương đời... Lòng nàng chợt tần ngần tiếc rẻ về một mong ước trễ tràng. Từng ngày hạ hanh hao trôi qua phả hết nồng nàn vào mùa tình héo trái tương tư. Còn lại bước chân mộng du và đêm mường tượng bao la. Còn lại cát lạnh bờ lưng và những vì sao bất động xa xăm. Còn lại Nữ ngơ ngác buồn.
Vài cánh dơi chấp choáng bay vào khoảng bóng tối mái nhà bên kia đường. Nữ chợt ước ao phải chi giờ phút này nàng đang ngồi trên đò dọc theo dòng sông đêm trở ra cửa biển. Trở về nằm lại trong căn nhà của mình. Nằm lắng nghe tiếng đêm chờ tinh mơ tới, lãng đãng tiếng bầy chim bay bỏ đầm sông.
9. Trời chưa muốn sáng. Không gian còn sũng hơi nước từ cơn mưa hạ về qua lúc cuối đêm. Người đàn bà thức giấc vì tiếng mưa rì rào trên mái tranh rồi không ngủ lại được. Chị nằm trong căn nhà lạ lắng nghe tiếng nước giọt chạm vào máng tôn lanh canh đều đặn đâu đó phía ngoài hiên. Mưa tạnh rồi tiếng chim từng đàn bay. Âm thanh quang quác bay ruồng trên mái nhà rồi nhỏ dần mất hút nghe buồn buồn. Chưa kịp trở mình trên chút im vắng vừa có được, tiếng bầy chim khác lại xao xác bay qua. Chim gì mà lạ quá, chị thầm nghĩ, hình như chỉ bay theo một đường từ phía sông ra biển. Chị chưa hề nghe tiếng chim bay đàn vào buổi sáng bao giờ. Những ngày ở Nông Sơn, chị còn quá nhỏ chẳng còn sót gì trong trí nhớ, mơ hồ họa chăng tiếng chim tu hú kêu bầy trong đám mía còi dọc theo bến đò Cà Tang. Tháng năm lưu lạc theo chồng xuống tận miệt dinh điền Đồng Tháp tràm đước mênh mông riết rồi quen với hình ảnh từng đàn le le trên cánh đồng năng nước nổi. Hồi đó chị nhìn chim bầy mà thương chúng sao quá lẻ loi trong lướt thướt ráng chiều. Thương mình sao lẻ loi giữa đất Sài Gòn hồi ba mẹ con hẩm hiu với nhau sau khi chồng chị qua đời. Sau ngày giải phóng, mẹ con phải bỏ trống căn nhà nghèo nàn cuối xóm bên bến đò Thủ Thiêm lên vùng Bình Dương đi kinh tế mới theo lệnh của nhà nước. Những buổi trưa trong căn chòi gió luồn vách thưa, tiếng chim cu rúc trong bụi chuối xơ xác mấy tàu lá khô vàng nghe mà buồn nhão cả ruột.
Người đàn bà khoát mùng ngồi tư lự. Những vệt sáng mờ len qua vách nhà làm nhạt dần bóng tối trong phòng. Giờ này có lẽ thằng Lai con Lụa đã thức dậy cụ bị lên rẫy. Chị gạt nước mắt nhớ con, với tay quấn chiếc khăn rằng lên đầu rồi làm dấu thánh giá âm thầm đọc kinh cầu nguyện. Tiếng kinh đều đều theo nhịp đập trái tim đọng thành tràng giọt vô thanh lặng rớt vào hồn giúp người đàn bà lấy được chút lòng bình thản. Chị xuống giường sẹ bước ra gian trước lờn vờn trong ánh sáng tỏa ra từ cái đèn hột vịt đặt trên bàn thờ. Tấm hình đôi vợ chồng đặt bên bài vị rờn rợn vắng xa. Chị đứng nhìn sững vào đôi mắt hiền từ mà nghiêm nghị của người anh họ. Hơn bốn mươi năm suốt cuộc đời luân lạc của chị thoắt hiện trở về. Từ đầu nguồn sông Thu hắt hiu ghềnh Đá Bát bên bến Cà Tang nước cuộn, chị đã nổi trôi qua biết bao dòng sông bến nước để rồi một chiều tình cờ thấy mình trở về đứng lạc loài nơi cuối dòng sông thơ ấu.
Cha chết năm chị lên mười vào giữa thời chín năm kháng chiến. Cả đoàn dân công tải đạn ra mặt trận bị máy bay Pháp rượt bắn. Xác cha đứt mất chân nằm trong cái hòm gỗ sung xộc xệch được hàng xóm trong đoàn gánh chạy từ Trung Phước về bến đò trên chiếc võng đan dây dừa. Cha yên phần ông, mộ đắp trên ghềnh Đá Bát ấm áp khói hương. Chị thế cha giúp mẹ chèo đò đưa dân làng qua về bến sông kiếm sống. Hai mẹ con chèo chống rồi cũng qua những ngày sông Thu mùa lũ, ghe tròng trành quay như lá giữa dòng.
Kháng chiến thắng lợi. Đất nước chia hai. Có điều phần được chia của kháng chiến nằm ở bên kia bờ sông Bến Hải tuốt phía ngoài Cửa Việt, Đông Hà. Người dân khốn khổ qua chín năm sống tiêu thổ chui rúc nay lại được dỗ dành chuyện ai đi tập kết, ai ở lại nằm vùng.
Cô gái đưa đò tuổi vừa mười sáu hây hấy xuân thì lọt vào cặp mắt toan tính của các mẹ các chị trong hội Phụ Nữ xã và kế hoạch lâu dài của cách mạng. Thế là sau vài lần họp hành thuyết phục, duyên phận chị được định đoạt. Anh bộ đội người Đại Lộc về đóng chốt ở khu chiến Nông Sơn, hơn cả giáp tuổi, đã trở thành chồng của chị. Người thanh niên ít nói rụt rè giúp vợ chèo đò mấy tuần lễ trước ngày tập kết. Rồi đi.
Bộ đội ra Bắc. Không còn cán bộ Phụ Nữ họp hành kiểm thảo, không biểu tình, hết vót chông đào hầm, hết dân công tải đạn... thôn xóm vắng buồn như bến sông hẩm hiu con đò neo vắng khách. Những người đàn bà ở lại, không chồng mà tay xách nách mang. Nhiều người bụng đã lùm lùm thai nghén. Trong đó có nhiều cô gái còn bẽn lẽn dáng tân hôn, vụng về bước đầu làm mẹ. Những câu nói ngon ngọt dỗ dành trong các buổi họp phụ nữ trước đây trở thành niềm hy vọng cho những người đàn bà chờ chồng. Tập kết chỉ là tạm thời thôi vì hai năm sau sẽ có bầu cử, hiệp thương. Bộ đội đi rồi bộ đội sẽ về. Và như thế xóm làng rớt vào cảnh hồi hộp đợi chờ.
Ngày quốc gia tiếp thu mà ai nấy đều lo sợ vì nhiễm tuyên truyền rồi cũng lặng lẽ đến. Không thực dân đế quốc, không lê dương hãm hiếp, chẳng máy bay cà nông, chẳng súng ngắn súng dài. Chỉ lá cờ vàng ba sọc đỏ lặng lẽ bay trước sân ủy ban. Chừng như đã qua lâu lắm rồi cái ngày những người cán bộ cách mạng bước khỏi bong tàu Ba Lan, lạ lẫm từng bước chân dép lốp Bình Trị Thiên trên bến tàu ở Vinh hay Hải Phòng rồi biến mất âm thầm trong lòng miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Cũng ông hương kiểm, ông tổng, ông lý trưởng trước hồi chín năm sống sót qua những đêm đấu tố địa chủ việt gian, nay là thân hào nhân sĩ, là xã trưởng, ấp trưởng. Cũng anh du kích hôm nào nay là nghĩa quân dân vệ, bận rộn vào ra không mục đích qua khoảng sân trước ủy ban lầy lội những ngày mưa. Cụ Diệm thì vẫn anh minh và lùn, duy chỉ cô em dâu thì ngày càng ngoa ngoắt hơn.
Nước sông Thu Bồn vẫn đêm ngày cuồn cuộn chảy qua bến Cà Tang. Cô gái vẫn giúp mẹ chèo đò. Dáng dấp nàng thon gọn xuân xanh trong lúc bụng chửa những người đàn bà có chồng tập kết ngày càng phểnh ra. Nàng chẳng hề hé môi cho ai biết về những ngày hôn phối của mình. Cô gái chẳng buồn nhớ và cũng chẳng tiếc rẻ chi sự vồ vập nửa vời hằng đêm của người thanh niên. Chỉ còn lại sự trở lăn lạ lẫm giữa đêm, một mình nhớ lại từng xúc động chảy ròng trên vùng hạ lưu phong kín mép bờ. Còn lại nỗi phiền bực bị mang tiếng có chồng đi tập kết, nhiều tối phải chiếu gối đến trụ sở ấp mà ngủ trong tiếng muỗi vo ve, sàm sỡ ánh đèn pin của toán dân vệ và lời ghen tương than thở của đám đàn bà bụng bầu vượt mặt.
Những đứa con được sinh ra, lớn lên âm thầm như bóng trong nỗi đợi chờ, hy vọng một đoàn viên. Tình cảm gia đình, lòng thương yêu chồng con của người đàn bà Việt Nam đã xốc đứng họ dậy, dắt díu đứa con hiệp thương nay đã biết chạy biết đi đòi tìm cha. Đúng như kế hoạch cách mạng đã đề ra bốn năm năm về trước. Một số cán bộ nằm vùng lác đác lộ diện hay tập kết lén lút trở về. Những nấm mộ chôn vũ khí được bới lên. Chiến tranh lại tiếp diễn trên đất nước đã quá nhiều đau thương bom đạn.
Mùa lũ năm đó người mẹ chết. Buổi chiều tang thương trên đầu sông Thu, con gái không kịp cứu được mẹ lúc chiếc đò lật úp giữa dòng nước xoáy. Mai táng mẹ bên cha nơi mộ phần lặng lẽ đầu ghềnh, cô gái bỏ đò bỏ bến xuống Hội An tìm sống.
Nơi đây vợ chồng người anh họ cho cô về ở làm việc nhà và giúp săn sóc đứa con thứ hai của họ vừa chập chững biết đi. Cô gái thích cuộc sống mới, không mấy bận rộn nhọc nhằn  lại có đồng ra đồng vào nhờ nơi ăn chốn ở đã được chu toàn. Người anh họ là công chức ở thị xã, ông nghiêm nghị mà nhân từ. Người vợ dễ mến tuy bận rộn với cửa hàng tạp hóa bên phố chợ vẫn thu vén việc nhà và săn sóc con nhỏ. Bé Nhi ngoan hiền đang học tiểu học và cu Niên bụ bẫm mau lớn hơn những bé cùng tháng tuổi.
Hội An là một phố nhỏ nhưng đối với cô gái chèo đò từ vùng núi quê heo hút thì dãy phố cổ ngoằn ngoèo thâm thấp từng gian nhà mái ngói âm dương rêu đọng đã có một sức thu hút kỳ lạ. Giữa giấc trưa trong sân nhà bốn bề tường vây tĩnh mịch, chiếc phong linh treo dưới vòm cổng lặng câm chờ gió như bóng lá im lìm trên mặt đất. Qua mấy ô tròn trên cánh cổng nhìn thông ra phố, nhịp ngói mái nhà xiên xiên nối tiếp nhau địu vời từng vạt nắng xuống lòng đường phố xuôi dài như dãi sóng vàng quánh bất tận. Phía ngoài đó là cuộc sống. Là định mệnh đang chờ. Lòng cô gái náo nức muốn xô rộng cánh cửa bước ra.
Giữa đám đông người một đêm hội thả đèn họ đã tìm ra nhau. Hai tia mắt chạm nhìn rồi quay mặt, trốn tìm mà đã thuộc về nhau chẳng chịu bứt rời. Ở một đầu là cô gái không thướt tha, dáng vóc tảo tần, khuôn mặt còn son mà đôi mắt sớm buồn. Phía kia là anh lính dáng người đen đúa rắn rỏi, nét mặt thô chai sạm với tia mắt thu hút dữ dội của một con thú dữ săn mồi. Định mệnh đã khiến cô gái nhìn sâu vào đôi mắt đó.
Nhiều năm sau này, những lúc chị hồi tưởng về Hội An là nhớ về tháng ngày sôi nổi, thật sống với khát vọng yêu đương rực lòng cô gái đôi mươi. Quá khứ hằn lên trí nhớ những vết sướt cào tưởng còn tươm máu từ ngón tay sắc nhọn đam mê bấu lên da thịt. Những đêm hẹn hò trong góc vắng dưới chân Chùa Cầu hay trong bóng tối hiên đình Cẩm Phô là những lần thân xác tan nhập vào nhau chật cứng sỗ sàng. Anh lính ôm người yêu thì thầm kể chuyện nhà với giọng nói miền ngoài xa xôi lạ lùng. Chuyện anh sắp mãn quân dịch muốn đưa cô gái về nhà tuốt tận trong Nam. Cô gái rướn nhận ngón tay thô tháp mân mê lên bờ ngực vun mềm rồi mơn động không ngừng trong thân thể nàng. Lịm người trong cảm giác trơn tuột, cô gái ghì siết vòng tay thêm chặt lên bờ lưng cuồn cuộn, môi hả trào bật cắn khoảng vai sạm nắng đượm mặn mồ hôi và máu rướm. Sức nóng cuồn cuộn của con gió thô cứng sần sùi từng cơn ruồng rật vào hang động làm chảy tan đầm đìa phún thạch. Bờ vai chắc nịch không ngừng nhấp nhô và nước sông Hoài dập dềnh xuống lên theo cơn gió thốc.
Cô gái biết ra mình có thai gần như cùng lúc tin người yêu được mãn quân dịch về lại quê nhà. Tuổi trẻ có những dại khờ của nó. Thay vì nói thật cho vợ chồng người anh chị bà con biết để lo việc cưới xin rồi chính thức theo chồng, cô gái bỏ nhà trốn theo người yêu.
Gia đình chồng gốc người Nùng di cư từ miền Bắc vào Nam sau ngày đất nước chia đôi. Cả họ đạo theo vị cha sở định cư sinh sống tại một khu dinh điền trong Đồng Tháp Mười. Vợ chồng sống yên ấm trong căn nhà nhỏ ở đầu con kinh Xáng thẳng tắp chảy ra Đồng Tiến. Lần đầu tiên trong đời, chị được sống trong ngôi nhà của riêng mình, hạnh phúc đơn sơ. Anh làm ruộng, chăm nuôi bầy vịt đẻ, và làm trưởng cái đồn dân vệ vỏn vẹn nửa tiểu đội dân quân đóng bên bờ kinh Ngang. Từ nhà người vợ có thể nhìn thấy lá cờ vàng quốc gia chấp chới bay trên nóc đồn. Cờ treo lên sào tre lủng lẳng sợi dây ăng-ten của chiếc máy truyền tin, phương tiện liên lạc duy nhất với đồn chính ở khu Hai và các đồn khác trong vùng, chỉ huy bởi một ông thiếu úy già Hòa Hảo đồng hóa say sưa tối ngày.
Những ngày chồng lùa vịt vô đồng ăn lúa sót sau mùa gặt, chị nôn nao chờ mặt trời chưa kịp lửng trưa đã chống xuồng bới cơm cho anh. Rạ mới giòn thơm là nệm chiếu ấm êm trong cái chòi vịt giữa cánh đồng vắng ngắt. Vợ chồng trần truồng giữa trời nước. Ái ân. Cảm giác hạnh phúc nhất là thói quen của nhau sau mỗi lần thỏa mãn. Anh ngắm nhìn vợ đẫy đà bước xuống dòng kinh, chị đưa tay bới tóc cao rồi quay lại đón mời. Lùm điên điển lung linh trên triền nước trong nắng gió hây hây đồng nội. Chị đứng trâng nhìn chồng chắc nịch tồng ngồng xốc khỏi rơm rạ bước về phía chị. Họ trầm mình vào dòng nước mát hân hoan.
Cuộc sống gia đình êm đềm trôi theo từng mùa nước lớn ròng. Chị sinh thằng Lai rồi con bé Lụa. Cánh đồng vẫn bao la vắng ngắt, nhất là vào buổi trưa. Bầy vịt đẻ vẫn xúm xít bên đám ruộng nước mãn mùa, có khi chúng ngưng rỉa tìm nghiêng đầu hồi lâu nhìn đàn vịt trời đang sải cánh bay. Cánh đồng bất tận biết đâu phương hướng mà về.
Chị ở yên với gia đình chồng con chẳng để ý chi tới tình hình đất nước ngày càng chộn rộn. Anh em ông Diệm bị đảo chánh, chết bất đắc kì tử. Chiến tranh ngày càng lan rộng. Chồng chị phải vô đồn ngủ thường hơn. Rồi tai họa chụp xuống gia đình. Một bữa trưa chống xuồng mang cơm vô chòi vịt cho chồng thì thấy anh nằm hấp hối trong đống rơm. Lưỡi mã tấu ngập sâu vào bụng, máu thấm ướt loang chiếc áo trây di. Bản án cách mạng trừng trị tên trưởng đồn tay sai mỹ ngụy cũng bê bết máu. Chị hốt hoảng khóc ròng lúc anh gượng tỉnh dặn dò trăng trối. Chị cuống quít đẩy chồng máu me ra tới kinh Xáng rồi theo xuồng máy mới nửa đường tới bến đò An Long thì anh qua đời.
Chị nuốt đau thương chôn cất chồng. Buổi sáng sau ngày mở cửa mả, chị dắt con đến khu Hai gặp người trưởng đồn. Ông Thiếu Úy già giật mình tỉnh rượu. Chiếc xuồng máy chở ba mẹ con phóng thẳng ra Chợ Mới cho kịp chuyến xe qua bắc Năng Gù về Sài Gòn. Qua màn nước cuộn chị thoáng thấy ông Thiếu Úy đang hối hả tập họp lính dẫn vào đồn kinh Ngang. Trên đầu chị bầy le le bay tan tác giữa khoang trời mang mang châu thổ.
Người đàn bà thắp nhang đứng vái lạy trước bàn thờ. Chị kính cẩn nhìn vầng hương khói lung linh trước bài vị hồi lâu rồi thở dài mở hé liếp cửa lách mình ra đứng trước sân nhà. Chiếc thau nhôm cũ đầy nước mưa đọng nằm chênh vênh cuối hiên. Thủ phạm của tiếng lanh canh suốt đêm. Chị thầm nghĩ. Hơi nước còn đọng kín mặt sông và khoảng cửa biển đâu đó ở cuối dãi cát cũng mờ chìm trong sương. Bỏ lại phía sau màn sương trắng đục bầy chim chấp chới bay về biển trong khi xóm nhà còn biếng lười ngủ nướng trong buổi  sớm cuối hè. 
Cửa biển hiện dần trong sương tan thấp thoáng vài cánh buồm về bến. Người đàn bà cố mường tượng hình ảnh người anh họ đứng trên thuyền cá vất vả vào ra cửa biển những sớm hôm và dáng ông mệt mỏi bước qua dốc cát về nhà. Cùng lúc, bóng dáng nghiêm trang phong thái của ông bước qua cổng nhà vào những buổi trưa hơn hai mươi năm trước từ trong trí nhớ ập đến chiếm lĩnh, tràn lan vuốt mặt. Chị bâng khuâng nghĩ tới vợ chồng người bà con tốt bụng đã qua đời mà bàng hoàng thương đứa cháu gái phải sống đơn độc trong căn nhà sau cửa biển bất trắc cảnh đời. Tội nghiệp cho lớp tuổi trẻ phải sống lầm lũi xác xơ. Thằng Lai, thằng Niên, con Nữ, con Lụa... Sóng gió biển dâu chẳng chừa một ai. Và cả những tình cờ gặp gỡ trên đường đời cũng trở thành định mệnh trớ trêu.
Sau hơn hai năm cam khổ trên vùng kinh tế mới, cuộc sống của chị và con Lụa càng bi đát hơn lúc thằng Lai bị bắt đi bộ đội làm nghĩa vụ quốc tế ở Miên. Ngày đứa con trai bỏ lại một phần bàn tay trên chiến trường giải ngũ trở về chị mừng như sống lại mà Lai thì chỉ hàng ngày câm lặng cày cuốc, sống bơ phờ xa cách trong một thế giới riêng rất buồn.
Nhiều tháng sau, trong một cơn say Lai đã kể cho mẹ và em nghe đoạn đời máu me khốc liệt của mình. Chặng đường địa ngục mà sự lựa chọn chỉ còn là nỗi tuyệt vọng và tình thâm bằng hữu.
Nghĩa vụ quốc tế của bộ đội Việt Nam lan dần về phía biên giới Campuchia Thái Lan với những cuộc truy quét lính Khmer Đỏ lủi trốn qua những cánh rừng rậm dần về phía sông Mekong. Hi vọng của một số bộ đội Sài Gòn bị bắt đi nghĩa vụ trên đất Miên cũng lớn dần khi vệt quanh co như con rắn xanh trên bản đồ ngày một gần hơn. Lai và người bạn đồng đội trong một tổ tam tam được giao công tác đi kích trong khu rừng gần bờ sông cũng thuộc trong lớp thanh niên này. Dòng sông biên giới giữa hai quốc gia đã bao lần chảy qua giấc mơ họ cũng chính là lằn ranh giữa sự sống và chết. Qua sông về hướng tương lai là động lực duy nhất giúp họ chịu đựng gian nguy, bệnh tật, chết chóc. Nhiều người trong số họ đã bỏ cuộc, qui hàng số phận lúc mắt chưa thấy được ánh nắng lấp lánh nhảy múa trên dòng sông chảy xiết.
Người bạn chống súng đứng nhìn khúc sông ngầu đục phù sa, rời rã lục bình. Anh quay nhìn định nói điều gì đó nhưng vội nghiêm nét mặt khi thấy Lai quắt mắt về phía người tổ trưởng đang lúi húi đào hố cá nhân. Như rất nhiều tổ tam tam khác trong quân đội CSVN, người bộ đội miền Bắc là tổ trưởng chỉ huy hai tổ viên gốc miền Nam. Họ thường là đảng viên hay người đã kiên định tư tưởng.
Một lúc lâu sau, lợi dụng lúc tổ trưởng không để ý, người bạn lại gần Lai nói vừa đủ nghe.
- Ba ngày kích ở vùng này tụi lính Pol Pot thế nào cũng đi qua. Chuẩn bị sẵn sàng. Lợi dụng lúc nổ súng, thấy tình hình thuận tiện là mình bỏ chạy ra bờ sông, lội qua bên kia ngay. Cứ chạy theo tao. Nhớ quàng theo lương khô trong bọc ni lông.
Phiên gác cuối đêm chậm chạp trôi qua trong mệt lả, chập chờn thức ngủ. Lai ngồi trong hố cá nhân nhầy nhụa sình, mí mắt nhấp nhem sụp nhướng, tai mơ hồ tiếng côn trùng và những hạt mưa len lẩy qua nhánh lá ngụy trang cắm trên nón cối. Cuối cùng Lai rơi vào cơn mơ nhập nhòa những vòng nước vầng lan và tiếng nước quẩy nhịp chèo khua. Con đò mẹ chèo tần tảo kiếm sống bên bến Thủ Thiêm lật chìm và bóng mẹ cuốn theo. Tay mẹ gầy trên dòng nước cuộn, câm sặc âm thanh, chới với chìm sâu. Lai giật mình tỉnh giấc. Dòng sông xa xa, lờn vờn lá rừng xanh. Một đêm vừa qua, thấp thom tiếc rẻ. Đêm định mệnh sắp tới, hụt hẫng đợi chờ. Lai nhớ mẹ vô ngần.
Ngày thứ ba. Vạt nắng cuối ngày còn đọng nhấp nhô trên sông mà cánh rừng bờ Miên đã nhá nhem mặt người. Toán lính Pol Pot di chuyển qua vùng kích vào lúc chẳng ai dự tính. Bất ngờ ập đến cho cả hai phía. Lai chỉ kịp nhìn thấy lùm cây phía đường mòn chợt lay động, mặt người thấp thoáng, và những tia đạn đạo đan chéo nhau cùng một lúc.
Người tổ trưởng và ba trong số bốn tên lính Miên gục chết ngay sau loạt đạn đầu. Người bạn của Lai ném lựu đạn về phía tiếng rên la. Tiếng nổ chát chúa vang lên thanh toán trận chiến trong tích tắc. Khu rừng im lặng rợn người.
Người bạn lục soát xác lính Miên. Anh vội vã chạy ngược về phía Lai, vai ba lô, tay súng.
- Lẹ lên. Chạy theo tao xuống bờ sông. Tụi đại đội nghe tiếng súng xuống tiếp ứng bây giờ. 
Người bạn hối hả nói rồi sửng sốt khi nghe Lai từ chối.
- Đ.M. Mầy có khùng không? Ở lại chỉ từ chết tới chết mà thôi. Chỉ cần lội qua sông. Trại tỵ nạn Liên Hiệp Quốc không xa đâu.
Đầu óc tỉnh táo lạ thường, Lai nói với người bạn đồng đội đang bối rối đứng nhìn.
- Muốn tao sống thì ráng bắn cho chính xác.
Anh lấy dãi băng cứu thương quấn nhiều lớp thật chặt một phần bàn tay phải rồi cầm súng đứng nép sát thân cây như trong tư thế chiến đấu. Hai ngón tay ở ngoài lớp vải băng cong cong run rẩy. Lai nghiến răng nhắm mắt chờ tiếng đạn nổ. Im lặng. Có tiếng nấc nghẹn của người bạn cố kềm giữ xúc động.
- Đ.M. Bắn lẹ lên. Tụi nó sắp tới rồi.
Tiếng nổ chát chúa cùng lúc với cảm giác bàn tay bị nhấc lên đau xé, khẩu AK rớt thịch xuống đất. Lai ôm cánh tay buốt nhói ngồi dựa lưng vào gốc cây. Người bạn nhào tới ôm Lai, vừa khóc vừa luống cuống băng lại bàn tay mất hai ngón bê bết máu. Lai vỗ vai bạn rồi đẩy hắn ra.
- Mầy chạy đi. Phải tự tay tao băng bó mới được. Mày đã bị tụi lính Pol Pot bắt đi rồi... Chạy lẹ đi.
Người bạn chạy mất hút vào bóng đêm. Lai nghiến răng chịu đau, ngồi băng lại vết thương của mình. Đêm ập xuống bủa vây. Anh nhắm mắt định thần, cố gắng giữ lòng trấn tĩnh nghĩ về người bạn giây phút này có lẽ đang lội qua sông. Anh khấp khởi mừng phía bờ sông vẫn vắng lặng. Đêm bao la rờn rợn tiếng rừng. Hơi thở mệt rã từng cơn kéo anh rớt chìm vào trạng thái chập chờn nửa thức nửa mê. Đêm nhẹ tênh. Lai thấy mình trở về nhà. Đám mây bềnh bồng trôi trắng lòng sông. Giọt mồ hôi lấp lánh trán mẹ. Tiếng đứa em cười...
Sau buổi chiều ba mẹ con ngồi khóc với nhau, u uẩn trong lòng được giãi bày, Lai sống yêu đời hơn. Anh càng mừng rỡ hay tin người bạn đã bình an trốn thoát đang sống trong trại tỵ nạn chờ định cư. Họ sống nghèo, đầu tắt mặt tối mà sum họp bên nhau, cho tới một ngày tưởng may mắn tình cờ nào hay hệ lụy trổ mầm.
Trong lúc tham quan hợp tác xã bán nông phẩm thâu hoạch cho thành phố, một cán bộ kinh tế đã chú ý tới người đàn bà xã viên tuy nói giọng Nam nhưng vẫn không giấu được gốc gác Quảng Nam của mình. Sau khi hỏi ý kiến con và được hứa hẹn mỗi tháng đôi lần về thăm nhà vào dịp cuối tuần, người đàn bà đồng ý về thành phố giữ con cho vợ chồng người thanh niên cán bộ. Chị mến ngay đứa bé trai vừa lên hai liến thoắng hiếu động. Mẹ của cháu bé vẫn còn ở đại học, tính tình kín đáo tốt bụng và nhất là giọng quê Quảng Nam đầy gợi nhớ. Tuy có nhiều cảm tình với người mẹ trẻ, chị vẫn giữ ý không tâm sự gì ngoài tháng ngày sống ở Nông Sơn đưa đò trên bến Cà Tang của mình. Vợ chồng người cán bộ thì không hề mảy may nói tới quá khứ của họ. Mỗi lần nghĩ lại câu chuyện vào buổi tối trước ngày người vú nuôi thôi việc về quê, chị vẫn nhớ rõ ánh mắt không mấy thiện cảm của bà khi nói về người cha.
- Tui nuôi thằng cu Hia từ hồi mới đầy tháng mà chưa hề thấy ổng ẵm thằng nhỏ lần nào.
Rồi bà nhỏ giọng, mắt dòm chừng ra nhà trước.
- Chỉ là chuyện mua bán mà thôi. Ổng chịu lấy cô Quế để được làm cán bộ, còn cô Quế và gia đình khỏi bị tai tiếng, kiểm điểm. Nghe nói cha mẹ cổ là cán bộ gộc ngoài Quảng Nam. Khi hay tin con có bầu với bạn trai học cùng lớp lại thuộc gia đình ngụy quyền, họ đã cấp kì đưa con gái vào Sài Gòn tính là phá thai rồi ở luôn trong này học Đại học. Ngặt vì cô Quế có bệnh máu loãng, thai phá rất nguy hiểm nên họ phải đổi kế hoạch, gấp rút mua chồng cho con để kịp thời ém nhẹm mọi việc.
Những buổi sáng trong căn nhà quét dọn tươm tất, ngồi nhìn bé Hia lẫm đẫm chơi đùa trong khoảnh sân nắng, lòng chị  không nguôi nhớ về hai mươi năm trước. 
Mỗi người có một cảnh đời riêng. Chị thở dài thầm nghĩ lúc bồng Hia vào lòng mà nhớ tới bé Niên nằm đói sửa trong nôi ngày chị trốn nhà bắt đầu cuộc đời lưu lạc.
Thấm thoát mà đã hơn một năm từ ngày chị bắt đầu chăm sóc bé Hia. Người mẹ cũng vừa tốt nghiệp đại học. Ngày Quế yêu cầu chị theo gia đình ra Hội An để tiếp tục chăm sóc bé Hia một đôi tháng đầu trong lúc họ chưa ổn định chuyện nhà, chị mừng quýnh nhận lời. Đã từ lâu chị vẫn mơ một ngày về lại Phố Cổ, thăm gia đình người anh họ để nói lời tạ lỗi. Chị mơ một lần về đứng bên bến đò Cà Tang thăm dòng nước cũ, thắp nguyện mẹ cha trên ghềnh Đá Bát chút vòng hương khói muộn màng.
Người đàn bà ngần ngừ đứng trước cổng nhà cũ. Giàn bông giấy xơ xác phủ trên hai cánh cửa rỉ sét khép kín. Lòng chị run run xúc động xen lẫn mặc cảm phạm tội vẫn đeo đuổi ám ảnh từ ngày chị mở cánh cửa lần cuối bỏ nhà đi. Chỉ cần lòn tay qua cái ô tròn nhỏ, kéo chốt sắt lên, ẩy vai vào cánh cửa là chị trở về. Chị nhủ lòng mà tay cứ mãi do dự không làm được động tác cuối cùng ấy. Đang lúc bấn bíu với mối xúc động ngập lòng thì cánh cửa cót két mở. Một người đàn ông luống tuổi trong cánh áo bộ đội bạc màu bất thần xuất hiện. Cảm xúc nôn nóng trở về kéo tuột chị qua cổng, bước thẳng về phía giữa vườn. Tàng cây vú sữa già nua che kín cả khoảng sân gạch cũ vương vãi rác bẩn. Mái hiên nhà rêu phong nặng oằn lên dãy vách tường vôi vỡ, ám khói. Chị chùn chân ngơ ngác nhìn cảnh nhà hoang liêu.
- Ơ cái nhà chị kia!? Chị là ai, đi tìm người nào mà dáo dác thế?
Người đàn bà lên tiếng trả lời trong lúc mắt vẫn nhìn quanh cảnh cũ. Hình ảnh quá khứ lớp lớp kéo về như lục bình trôi trên chặng sông đời. Khu nhà trên là phòng vợ chồng người anh, phòng cháu Thục Nhi và bé Niên có chiếc nôi đặt bên cửa sổ. Căn nhà ngang nơi chị sống những ngày êm đềm mà sôi nổi thời con gái tuổi hai mươi. Giếng khơi cuối vườn, chiếc gàu dây lanh canh thành giếng một lần tắm đêm ngượng ngùng bờ thân con gái dưới bóng trăng khuya. Hơn hai mươi năm, một nửa đời chị trầm luân.
Ngọn gió trưa thổi lơi qua vườn loang lổ bóng nắng. Người đàn bà đứng nhìn vào gian phòng cũ của mình qua cửa sổ mở toang. Ai đó sống ở đây có lẽ không về thường xuyên. Căn phòng trơ trọi chiếc giường gỗ chiếu gối xếp ngay ngắn và cái bàn học trống trơn sau cửa sổ. Chị chợt có cảm giác gây gây khó chịu phả vào gáy không hiểu vì hơi gió nóng cuối hè hay cái âm giọng khó nghe khan khản đều đều đeo bám sau lưng như từ một quá khứ khác, rình rập âm hiểm. Cảnh nhà vợ chồng người anh họ từ sau ngày giải phóng trải ra trước mắt chị tang tóc phân ly. Người đàn bà bật khóc. Chị tháo chiếc khăn rằn trên đầu lau nước mắt, quay nhìn gã cán bộ đã tiếm đoạt cơ ngơi một đời gầy dựng của anh mình.
- Ông không cần phải đặt điều phân bua. Căn chòi của mẹ con tui ở bến đò Thủ Thiêm còn bị lấy huống chi cái cơ ngơi này. Tui chỉ muốn biết hai đứa cháu côi cút của tui hiện giờ ở đâu...
Người đàn bà ngưng bặt lúc gã cán bộ trố mắt nhìn sững mái tóc buông xõa lên khuôn mặt hằn vết khổ thời gian. Bến sông xưa chìm trong quá vãng tối tăm chợt hối hả cuộn dòng, thoắt hiện hình ảnh cô gái đưa đò trên bến Cà Tang ngập ngừng ký ức. Người đàn ông run giọng.
- Có phải chị đấy không?
Người đàn bà gật đầu. Chị cũng vừa nhận diện ra người thanh niên gần ba mươi năm trước đã bất ngờ tạt bước qua đời mình như một cơn bóng đè thất lạc nửa vời. Chị bàng hoàng. Khuôn mặt rụt rè khờ khạo trong buổi tiệc cưới râm ran khẩu hiệu, tập kết hiệp thương. Đêm bên chồng bất lực, cô gái nằm nghe tiếng sông trôi, thở dài con nước lửng. Sự gán ép thô bạo mưu toan tuy chẳng tì vết gì đến cô gái miền Nam tràn đầy sinh lực đã làm rớt giọt lệ oan khổ bị mang tiếng là gái có chồng tập kết.
Chị nhìn cặp môi dày thâm tái run run trên khuôn mặt gã cán bộ già còn xanh mét vết Trường sơn mà lòng nghẹn trào cơn giận khi nghĩ tới hoàn cảnh bi thương tan nát của gia đình người anh.
Người đàn ông thì mừng khấp khởi. Trí nhớ gạn lọc đưa ông trở về những ngày hạnh phúc ngắn ngủi trên đầu sông Thu Bồn. Giữa mớ hình ảnh hỗn độn của buổi tiễn đưa người tập kết xuống đò dọc về Hội An nổi bật lên bóng dáng cô gái đứng lại trên bến sông đã gieo vào lòng gã đàn ông chút hi vọng mong manh. Nhiều năm qua, sau những cơn say hay cãi vã thô tục với người vợ ngày càng đanh đá, ông thường mơ màng về một cuộc trùng phùng có vợ hiền con ngoan để che dấu mặc cảm bất lực của mình. Vậy mà giờ đây khi gặp lại, người đàn ông sợ sệt tới đắng lòng. Ông sợ chút hi vọng cuối cùng rồi cũng chẳng cầm giữ được. Ông ấp úng.
- Thế mình có gì với nhau không sau ngày tôi ra Bắc?
Người đàn bà cất tiếng cười lớn, vặn hỏi lại.
- Có hay không, ông tự biết lấy, tại sao lại phải hỏi tui? Vậy ông được mấy mặt con với vợ ngoài Bắc? Trong này, tui lấy chồng, sống hạnh phúc, có con. Chồng tốt giống, tui mắn con. Có thêm vài đứa là chuyện dễ dàng  nếu cách mạng mấy ông không rình ám sát chồng tui.
Hy vọng cuối cùng rã tan theo tiếng cười của người đàn bà xoáy động vào tim, đau nhức gấp bội lần tiếng chưởi rủa chanh chua của vợ. Người đàn ông ôm đầu ngồi bệt xuống sân gạch.
Người đàn bà quấn lại chiếc khăn rằn lên đầu, ngồi xuống thềm hiên nhà. Khuôn vải miền Nam ôm giữ mái tóc dài, chở che mưa nắng như một thói quen không rời giúp lòng chị bình an trở lại. Chị dịu giọng.
- Cũng may. Dù sao anh với tui cũng là bà con làng nước. Ngày đó nếu mà có gì với nhau thiệt là muối mặt với họ hàng.
Ánh mắt của gã cán bộ khựng lại trên khuôn mặt người phụ nữ miền Nam đoan hậu lúc chạm phải tia mắt nhìn thẳng thắn của bà. Ông ta cố nén xúc động hất hàm về phía căn phòng trống.
- Mộ anh chị ấy ở gần nhà mới ngoài cửa biển. Con gái út tên Nữ là giáo viên, nghỉ hè đang làm lồng đèn ở hợp tác xã ngoài phố. Thỉnh thoảng mới về đây ở lại qua đêm thôi. Ối giời, cô Nhi bên Mỹ cứ gởi tiền về nườm nượp, xây lăng đắp mộ chả thiếu thứ gì. Cậu Niên thì vượt biên bị bắt, sau đó được cách mạng khoan hồng cho đi lao động với thanh niên xung. Chắc cũng sắp về thôi.
Chị ngồi loay hoay nôn nóng nghĩ tới hai đứa cháu côi cút. Hình ảnh bé Niên nằm say ngủ trong nôi hai mươi mấy năm trước buổi sáng chị bỏ nhà đi từ trong trí nhớ hiện lên dằn vặt, rõ ràng.
- Về thăm Hội An lần này chị ở đâu?
Câu trả lời khiến người cán bộ ngạc nhiên đứng bật dậy, hỏi dồn.
- Thế à!? Chị trông con cho cô Quế cả hơn năm nay à!? Con trai cô ấy lên ba rồi à? Thế thì tốt thôi. Gia đình cô Quế mới về hôm qua hèn nào mấy ngày trước tôi đến nhà đồng chí chủ tịch huyện báo cáo công tác mà chẳng nghe nói gì sất.
Mãi tiếp tục câu chuyện họ vô tình không hay biết bà vợ của người cán bộ đang nén ghen tương anh ách trong lòng đứng rình lén nghe đối thoại giữa hai người. Bà ta còn ngạc nhiên hơn cả chồng về chuyện đứa con trai của Quế nhưng không bị sự xúc động làm mụ đi đầu óc tính toán của mình. Người vợ vừa chộp được cơ hội quí giá ngoài sức tưởng tượng để tâng công như bà ta đã làm bốn năm về trước.
Tiếng cót két của cánh cửa khiến hai người quay nhìn ra cổng. Người vợ đang hấp tấp dắt xe đạp qua cổng phải quay lại vì câu hỏi của chồng.
- Nhà  chị định đi đâu thế!?
Cơn ghen vừa tìm được chỗ trào.
- Đi đâu thì mặc xác bố bà.  Đứng đây mà nghe vợ chồng cũ chúng mày ỉ eo à!
Người vợ lồng lên, rồi khuất mình sau cánh cửa đóng sầm. Người đàn bà cũng đứng dậy chào gã cán bộ.
- Thôi, tui cũng chào anh tui về.
Chị sửa lại chéo khăn, cười cợt.
- Ở đây rồi không khéo bà nhỏ dẫn công an khu vực vô bắt ghen bà lớn thì phiền lắm.
Cánh cổng khép lại sau lưng. Người đàn bà đứng dưới vòm bông giấy lặng nhìn con phố liêu xiêu dãy mái nhà rêu đọng. Hơn hai mươi năm mà tưởng như mới hôm qua. Chị thở dài dõi mắt như thấy bóng mình hai mươi tuổi bước qua từng buổi phố trưa, dãy hiên nhà thấp xuống im lìm và những vạt nắng màu vàng nghệ nằm rớt lặng mặt đường. Phố vẫn cũ như ngày xưa mà người về thì già nua, thất lạc từng bước muộn phiền.
Tiếng liếp cửa chống kẽo kẹt khiến người đàn bà giật mình trở về với thực tại. Cô cháu gái bước xuống hiên nhà, mau mắn hỏi chào.
- O Đà dậy sớm rứa? Tại lạ chỗ hay vì hai o cháu mình đêm qua nói chuyện nhà tới khuya bị quá giấc ngủ?
- Cả đời người bốn năm chục tuổi đầu thiếu chi chuyện để mà nhớ cháu. Đang lúc nhớ con, rồi nghĩ thương thằng cu Hia cha con thất lạc không biết nhau thì bầy chim bay qua ồn quá. Thức dậy thắp nhang cho cha mẹ cháu rồi ra đây đứng. Sông nước làm o nhớ tới bến đò Cà Tang thời con gái.
- Đồng hồ báo thức của cháu đó o. Bầy chìm ăn cá sáng nào cũng rầm rĩ bay từ đầm sông ra biển. Riết rồi quen. Những đêm ở lại phố, sáng ra cháu lại thấy nhớ cái tiếng  quang quác buồn buồn đó.
 Cô gái mỉm cười tinh quái nhìn người bà con trong chiếc khăn rằn.
- Chiều qua lúc O vừa bước vô hợp tác xã, cháu cứ nghĩ là mẹ chiến sĩ miền Nam thành đồng ra mua lồng đèn đem về Bến Tre bán. May mà bà bạn của mẹ cháu vẫn còn nhận ra O.
O Đà cũng cười lớn.
- O thì nhận ra cháu ngay dù ngày rời Hội An cháu vẫn còn nằm trong bụng mẹ. Hai chị em Nhi Nữ giống nhau như hai giọt nước.
Người đàn bà vuốt tóc đứa cháu gái côi cút, giọng khản lại vì xúc động.
- Hai mươi mấy năm dài dồn lại một ngày với quá nhiều chuyện thương cảm oái oăm diễn ra cùng một lúc làm O muốn ngột thở. Bất ngờ gặp lại người chồng cũ tập kết mà O không hề nghĩ tới suốt đời mình, trong lòng càng hận vì chính vợ chồng ông ta đã  tiếm đoạt cơ ngơi và tiếp tay làm tan nát gia đình cháu. O định bụng đi nhanh về nhà để kịp chăm sóc cu Hia rồi chiều ra hợp tác xã tìm thăm cháu. Bước vô ngỏ nhà cô Quế, chưa kịp ngạc nhiên khi thoáng thấy vợ ông ta đang hấp tấp đạp xe ra về thì đã thấy Quế bồng cháu Hia đứng chờ trước hiên, nét mặt đầy kích động âu lo. Mắt rưng rưng xúc động, Quế không nói lí do, chỉ đưa cho O một số tiền khá lớn rồi bảo phải ra Đà Nẵng ngay để chờ sáng mai về Sài Gòn sớm. Quế còn dặn dò không được để chồng cô ta thấy mặt. O khóc, dành bồng cu Hia xin cho tắm rửa cháu một lần cuối trước khi khăn gói rời nhà. Cu Hia vẫn ngây thơ nghịch nước trong lúc O cứ sụt sùi vì không còn dịp để chăm sóc nâng niu đứa bé kháu khỉnh dễ thương mà tự nhiên O vẫn thương với mối cảm tình đặc biệt mơ hồ từ hơn một năm qua. Cho đến khi gặp cháu ở hợp tác xã, rồi o cháu trò chuyện suốt đêm qua, hiểu ra O lại càng thương hoàn cảnh oan trái thương đau của cha con Niên.
Nữ cầm chặt tay o Đà nói qua hàng nước mắt.
- Có O ở lại giúp đi tìm anh Niên cháu mừng ghê.
Hình ảnh bé Niên đói sữa trong nôi buổi sáng O Đà bỏ nhà ra đi hiện ra rõ ràng  trong trí tưởng, người đàn bà lau nước mắt cho đứa cháu gái, ân cần khuyến khích.
- O cháu mình sẽ tìm ra Niên. Anh em cháu sẽ gặp lại nhau. Cu Hia sẽ gặp lại cha nó. Ông Trời đã xui khiến cho O được chăm sóc cu Hia hơn một năm qua thì chẳng thể nào lại làm ngơ không cho cha con sum họp đoàn viên.
Nữ mỉm cười nhìn o Đà tin tưởng gật đầu.
- Rứa thì “đồng chí cố vấn vĩ đại” bảo cháu phải làm thế nào đây để ông cán bộ phòng giáo dục chịu cho biết tin tức về anh Niên đây? Anh này ngày trước là bạn học với anh Niên. Anh ta có cảm tình với cháu hay chỉ muốn lợi dụng thì chưa biết được nhưng cháu biết anh ta đang tìm cách xin cháu về trường gần Hội An nhưng vẫn lửng lơ chuyện cho cháu biết đích xác nơi sinh hoạt của anh Niên. Anh ta đã nhiều lần mời cháu đi chơi chỗ này chỗ nọ nhưng cháu đều khéo léo từ chối. Điều anh ta chưa biết là cháu đã quyết định không muốn tiếp tục làm giáo viên nữa nhưng phân vân chưa biết phải mở lời như thế nào để khỏi bị ảnh hưởng tới việc tìm kiếm anh Niên. Anh Dõng chị Nhi lần nào gởi quà tiền về đều dặn dò chú tâm lo cho anh Niên và khỏi phải lo nghĩ chuyện sinh kế.
O Đà nắm tay Nữ đi vào nhà.
- Mình sẽ bàn thêm “kế hoạch hành quân” trong lúc nấu nướng sửa soạn đi cúng mộ. Có điều, cứ cho là người này có cảm tình với cháu nhưng bằng thủ đoạn treo trả như rứa trong lúc lại là bạn học với Niên thì rõ ràng anh ta không phải là người tốt. O nghĩ cách tốt nhất là cứ rõ ràng sòng phẳng. Chủ động hẹn mời anh ta tới một nơi nào đó, Đà Nẵng chẳng hạn, cho anh ta biết ý định của cháu đi tìm Niên sẽ tốn nhiều thời gian không thể tiếp tục việc dạy được đồng thời hỏi tin tức chính xác về Niên và giấy đi đường tới đó tốn kém bao nhiêu. Đồng tiền khéo dùng sẽ khiến anh ta được việc cho mình.
Buổi sáng hôm đó hai o cháu khóc cười cùng nhau bên mộ người thân. Từ khu nghĩa trang nhìn xuống đầm sông, sương đã tan, mặt nước long lanh nhảy múa dưới ánh mặt trời đang lên. O Đà nghĩ tới chuyến trở về đong đầy định mệnh, xoay kín vòng tròn thời gian suốt cuộc đời người. Những ngày sắp tới, chuyến đò dọc sẽ đưa O từ tận cuối dòng sông Thu ngược bến Cà Tang. O về thăm mộ phần cha mẹ, thăm lại bến đất quê hương và làm lành với những trách cứ vẫn nặng lòng mình bao năm qua... Nhìn sim dại hoang tím vùng cát trắng nghĩa trang, O Đà chợt tự hỏi có phải trên bến đò Cà Tang cũng có hoa sim. Hay là hoa đỗ quyên đỏ? Có tiếng reo của Nữ gọi O Đà quay lại cùng lúc với ánh chớp lóe lên. Hình chụp lấy liền đó O. Cháu sẽ gởi qua chị Nhi để xem chị có nhận ra O không? Hình như tiếng chim tu hú kêu bầy trong đám mía còi dọc bến sông vẫn còn cô quạnh trong trí nhớ.
Phan Thái Yên
Theo http://www.bienkhoi.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Trần Bảo Định, cây bút đặc sắc trong dòng văn học sinh thái Không tính 6 tập thơ “thù tạc” bày tỏ ân nghĩa với quê hương, ba...