Thứ Sáu, 16 tháng 7, 2021

Nhà thờ Phát Diệm phong cách Âu Á

Nhà thờ Phát Diệm phong cách Âu Á

Ai về Phát Diệm quê Ta
Thăm nhà thờ đá thánh ca dặt dìu
Tuấn Nguyễn


Từ xa, ai viếng nhà thờ Phát Diệm cũng tưởng như mình đang đến một ngôi chùa Á Đông, bên ngoài mái cong lợp ngói đỏ, bên trong cột kèo bằng gỗ chạm trổ tinh vi. Đầu thế kỷ VII, Phát Diệm đang còn là vùng đất bồi với bùn lầy cỏ sậy. Năm 1828, Nguyễn Công Trứ, một ông quan tài ba đồng thời cũng là một thi sĩ nổi tiếng, được triều đình Huế phái ra bắc với chức "Dinh Ðiền Sứ" để khai phá những vùng đất mới. Ông đã lập ra huyện Tiền Hải (Thái Bình) và huyện Kim Sơn (Ninh Bình) nay là hai huyện trù phú, xứng đáng với tên gọi núi vàng, biển bạc.

Về mặt truyền giáo, theo như Cha Alexandre de Rhodes (Cha Ðắc Lộ) kể trong cuốn "Lịch sử Vương quốc Ðàng ngoài", Ngài tới Cửa Bạng (Ba Làng, Thanh Hóa) ngày Lễ Thánh Giêsu 19-03-1627. Trên đường từ đó đi ra kinh đô Thăng Long (bây giờ là Hà Nội). Ngài đã giảng đạo tại Văn Nho gần cửa Thần Phù (nay là xứ Hảo Nho thuộc giáo phận Phát Diệm). Như vậy, có thể nói Phát Diệm là một trong những mảnh đất đầu tiên ở miền bắc mà hạt giống Tin Mừng đã được gieo xuống và bám rễ. 250 năm sau, tức là vào cuối thế kỷ thứ XIX, tại vùng Kim Sơn đã có khoảng 50.000 giáo dân. Khác chăng nhà chùa là ở nhà nhà thờ Phát Diệm, trên cao cửa Phương Đình ba tầng, một chiếc thánh giá soi mình trên mặt hồ phẳng lặng. Dễ hiểu khi biết người sáng lập chủ trì xây dựng dần dần nhà thờ là linh mục Phêrô Trần Lục, sinh năm 1825, tức Cụ Sáu, Cố Sáu (người Pháp gọi Père Six). Nguyên tên Trần Văn Triêm, Cụ là người làng Mỹ Quan, xã Hà Vinh, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, họ Đạo Ðức thuộc xứ Kẻ Dừa (nay thuộc giáo phận Thanh Hoá) trong 34 năm là chính xứ Phát Diệm. Năm 1841, Cụ đi tu, theo học tại chủng viện Vĩnh Trị và Kẻ Non (nay thuộc giáo phận Hà Nội). Cụ có trí thông minh khác thường, thạo cả chữ Hán lẫn tiếng La tinh, nên đã có thời làm giáo sư chủng viện Vĩnh Trị. Năm 1858, Cụ chịu chức Sáu (chức phó tế), năm 1860, phong chức linh mục và qua năm1863 được Bề Trên đặt trông coi mấy xứ trong Thanh Hoá. Cụ đã lo giáo dục nhân bản (qua những "Ca vè Cụ Sáu" mà ngày nay một số cụ già còn thuộc) cũng như đời sống đạo đức cho giáo dân. Ðặc biệt với một cái nhìn rất rộng, năm 1865, Cụ được đặt làm chính xứ Phát Diệm. Cụ đã có kế hoạch xây dựng khu Nhà Thờ Phát Diệm và đã tuần tự thực hiện từ năm 1875 đến khi Cụ qua đời ngày 6-7-1899. Tuy theo một đạo nước ngoài, học hỏi triêt lý, thần học Tây phương, hơn nữa trở thành linh mục, Cụ luôn giữ tâm hồn Việt Nam. Khi xây dựng nhà thờ kiến trúc hỗn hợp Âu Á, Cụ đã cho nhập tịch vào đất nước ta một tín ngưỡng khá xa lạ với đạo giáo địa phương hồi ấy. Từ đấy Cụ đã thể hiện cuộc hội nhập đạo Công giáo vào văn hóa Việt Nam và sự hòa hợp mong nâng cao tính đoàn kết với các tôn giáo khác đã sẵn có tại chỗ. 

Nhà thờ đá Phát Diệm, tức Nhà thờ chính tòa Phát Diệm không chỉ là một nhà thờ mà là một quần thể công giáo rông 22ha cống hiến kiến trúc đặc biệt được xếp hạng di tích lịch sử văn hỏa và đang ở trên đường được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Nằm cách Hà Nội 100km về phía nam, Thanh Hóa 60km về phía bắc, nhà thờ tọa lạc tại thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Lấy đường số 10 lại Phát Diệm, sau cây Cầu lợp ngói, một con Ðường Giữa trải nhựa 300m dẫn đến Khu nhà thờ. Dài 250m, rộng hơn 100m, khu nầy có cây bao bọc, gồm có Ao hồ, Phương đình, tức nhà chuông, Nhà thờ lớn xung quanh có năm thờ nhỏ, Nhà nguyện kinh thánh Rôcô (nguyên thủy Nhà nguyện kinh thánh Gioan Tiền Hô), Nhà nguyện kinh Trái Tim Chúa, Nhà nguyện kinh thánh Giuse, Nhà nguyện kinh thánh Phêrô và các hang đá, một cái bằng đá tự nhiên, ba hang đá nhân tạo. Khởi công từ 1875 đến 1898 mới hoàn thành sau hơn 20 năm công sức, công trình lớn, đẹp, độc đáo nầy tuy là nhà thờ chính tòa của giáo nhân Phát Diệm lại mô phỏng theo kiến trúc đình chùa truyền thống Việt Nam. Làm toàn bằng đá và gỗ, nhà thờ Phát Diệm có thể tự hào là nhà thờ đẹp nhất nước ta. Tất cả được bố trí trên một mặt bằng tổng thể hình chữ "Vương", không gian đóng mở theo phong cách tạo cảnh phương Ðông. Theo cách gọi của giáo dân, Ao hồ là một cái hồ hình chữ nhật khoảng 4ha, xung quanh đắp đả, do Cụ Sáu cho đào trước để lấy đất đắp cao Khu nhà thờ, sau để tạo phong cảnh hữu tình thể hiện tư duy, quan niệm của người Á đông Tiền có thủy, hậu có sơn (sơn là ba hang đá, thủy là ao hồ), ước mong cuộc sống hiện tại và tương lai sẽ diễn ra tốt đẹp, an lành. Ngoài ra những ngày mưa lầy lội, gíao đân cần ra bến đá rửa chân trước khi vào nhà thờ. Giữa hồ có tượng Chúa bằng xi măng cao 3m xây khoảng 1925, đặt trên một cái bệ trong hòn đảo nhỏ hình vuông. Bao quanh hồ, ba mặt nam, đông, tây, có bờ và tượng đá. Trên con đường phía đông dẫn đến góc đông nam có điểm nhìn toàn bô Ao hổ. Đi hướng bắc, hết Ao hồ thì có một cổng đá nhỏ Ðông Dịch trước một Cổng Ðá Ðông với ba lối vào, một trong hai cổng chính vào Khu nhà thờ. Phía sau có cổng tương đương, một lớn, một nhỏ mang tên Tây Dịch.

Ở gốc đông nam, Phương Ðình là khu vực đầu tiên trong quy hoạch kiến trúc của nhà thờ, hoàn thành năm 1899, tiêu biểu công trình cuối cùng của Cụ Sáu, có thể xem nbư là kiệt tác của toàn bộ. Đồ sộ, vững chắc, nghệ thuật kiến trúc hoàn hảo, Phương Đình là một ngôi nhà gần như vuông tương tự một đình làng chiều ngang 21m, sâu 17m, ba tầng cao 25m. Tầng dưới nhất toàn bằng đá xanh vuông, gồm có ba lòng, mỗi lòng chứa một sập đá. Sập đá lòng giữa to nhất, là một khối đá nguyên khối dài 4,20m, rộng 3,20m, dày 0,30m, tương truyền là sập rồng vua nhà Hồ (1400-1407). Nghệ thuật xây dựng Phương Ðình rất tuyệt diệu, những người thợ địa phương với kỹ nghệ thủ công đã ghép những phiến đá nặng hàng nghìn cân, mức độ chính xác rất cao. Các vòm cửa bằng đá được lắp ghép đến trình độ tinh xảo. Những chấn song đá hình cây trúc như thấy bên thành trì Angkor. Trên những vách, các phù điêu hình dung một số các vị thánh. Ở ngoài, những phù điêu tạc sự tích chúa Giêsu, từ khi Ngài vào thành Giêsusalem đến khi Thăng thiên, với những đường nét thanh thoát. Bên trong, sân lót gạch ngang, dọc, đường kiệu lát đá xanh, rộng 40cm, dài từ 40 đến 120 cm thành ra có cái vuông vức, có cái hình chữ nhật. Để thêm mát, trong sân còn có trồng một số cây nhãn sum sê phủ bóng tượng hai thánh Phaolồ và Phêrô. Qua một cầu thang hẹp dẫn lên tầng giữa, cũng bằng đá, có mái, ở đây đặt một trống cái. Trống chỉ dùng các ngày Chúa Nhật và lễ lớn cùng với chuông. Ở bốn góc tầng này là bốn tháp nhỏ có mái cong, trên đỉnh là tượng bốn vị thánh chép sách Tin Mừng : Thánh Macco ở tháp phía đông nam, Thánh Luca tây nam, Thánh Gioan đông bắc là và Thánh Mathieu tây bắc. Một cầu thang gỗ đưa lên tầng ba là tầng trên cùng, bằng gỗ, có mái, nơi đặt quả chuông lớn, đúc năm 1890, cao 1,90m, đường kính 1,10m, nặng gần 2 tấn. Một tiếng chuông vang xa nghe được cả 3 tỉnh Nam Ðịnh, Ninh Bình và Thanh Hóa. Chuông có 4 núm: Xuân, Hạ, Thu, Ðông. Trên bốn mặt có chữ La tinh ghi: "Thánh Maria, Thánh Giêsu, Thánh Gioan Baotixita năm Chúa Giáng Sinh 1890"; mặt khác ghi lời chuông: "Tôi ca tụng Chúa thật, tôi kêu gọi dân chúng, tôi tập hợp giáo sĩ, tôi khóc người qua đời, tôi đẩy lui dịch tễ, tôi điểm tô ngày lễ". Trên mặt chuông còn ghi hai dòng chữ Hán: "Thành Thái Canh Dần Tạo" (làm năm Canh Dần, thời Vua Thành Thái) và "Phát Diệm xứ công vật" (vật chung của xứ Phát Diệm). Phía sau Phương Đình có mộ cha Trần Lục  mở ra môt sân rộng lát đá đưa khách vào nhà thờ chính tòa.

Xây từ năm 1891, Nhà thờ chính với tên chính thức Nhà thờ Đức Mẹ Mân Côi, là nhà thờ chính tòa của vị Giám mục Phát Diệm. Lớn dài 74m, rộng 21m, cao 15m, nhà thờ có bốn mái và có năm lối vào dưới các vòm đá được chạm trổ. Nhìn vào kiến trúc thánh đường bên trong nhà thờ lớn thờ chúa Giêsu, có thể thấy trần nhà thờ xây cao mở rộng, nhưng ở đây những cột mảnh b(a)̀ng chất liệu bê tông quen thuộc của kiến trúc Gothich đã được thay b(a)̀ng hệ thống cột, kèo và xà mang (6 hàng cột gỗ lim -48 cột- nguyên khối, hai hàng cột giữa cao 11m, chu vi 2,35m, mỗi cột nặng khoảng 10 tấn) không kém phần vững trãi. Không gian bên trong không thoáng đãng và rộng rãi so với những nhà thờ khác nhưng lại gần gủi đối với người Việt. Khởi công xây dựng từ năm 1883, Nhà nguyện Trái tim Vô nhiễm nguyên tội Đức Mẹ nguyên thủy được gọi Nhà thờ đá vì tất cả mọi thứ ở nhà thờ này đều được làm bằng đá, từ nền, tường, cột, chấn song cửa... Phía trong được chạm nhiều bức phù điêu đẹp, đặc biệt là bức chạm tứ quý tùng, mai, cúc, trúc, tượng trưng cho thời tiết và vẻ đẹp riêng của bốn mùa trong một năm. Ðường nét khắc họa những con vật như sư tử, phượng sống động lạ thường. Ba hang đá nhân tạo nằm ở phía bắc khu nhà thờ, cách nhau khoảng 100m là những khối đá lớn nhỏ khác nhau giữ nguyên dáng vẻ tự nhiên. Trong số đó, ngoài Hang Lọ Len, Hang Bêlem nằm trong núi Sọ, Hang Lộ Ðức trong núi Lộ Đức nguyên thủy Vườn Giệtsimani là đẹp nhất. Trên các hang đá đều có các tượng lớn. Cũng còn gọi là nhà thờ đá, Nhà nguyện trái tim Đức Mẹ được xây đầu tiên trong khuôn viên quấn thể nhà thờ Phát Diệm năm 1883, nằm phía tây bắc, trước nhà khu nhà chung duy nhất xây toàn bằng đá, tường, nền, chấn song, cột, bản phù điêu, bàn thờ bởi nhưng bàn tay tuyệt xão của thợ đục, điêu khắc đá, kiến trúc sư thời bấy gìờ. Mặt tiền có tháp Đức Mẹ và hai tháp nhiều tầng ở hai bên, tháp Đức Mẹ có khắc tiếng Việt  "Trái Tim Rất Thánh Đức Bà Chẳng Hề Mắc Tội Tổ Tông Truyền Cầu Cho Chúng Tôi". Cao hơn lòng Nhà Thờ là Cung Thánh. Nền Cung Thánh lát gạch hoa, có mộ sáu vị Giám Mục đã phục vụ trong giáo phận Phát Diệm: Đức Cha Alexandre Marcou (mộ thứ 3 từ bên trái) người Pháp, Giám Mục thứ nhất của giáo phận (năm 1902), qua đời 1939; Ðức Cha Gioan B. Nguyễn Bá Tòng (mộ thứ 4), quê Sài Gòn, Giám Mục Việt Nam tiên khởi, qua đời 1949; Ðức Cha Gioan M. Phan Ðình Phùng (mộ thứ 2), quê Kiến Thái (Phát Diệm), qua đời 1944; Ðức Cha Giêsu Lê Quý Thanh (mộ thứ 6), quê Hà Nam, qua đời 1974; Ðức Cha Giuse Nguyễn Thiện Khuyến (mộ thứ 5), quê Thanh Hoá, qua đời 1981; Ðức Cha Phaolô Bùi Chu Tạo (mộ thứ 1), quê Tam Châu, Phát Diệm, qua đời 2001.

Nhà thờ Phát Diệm, một công trình kiến trúc độc đáo có một không hai ở Việt Nam. Công trình kiến trúc tuy nguy nga, tráng lệ nhưng hài hòa với cảnh vật thiên nhiên, mang đậm phong cách kiến trúc Á Ðông. Nói đến nhà thờ Phát Diệm ắt phải nhớ tới Cụ Sáu Phêrô Trần Lục. Cụ nổi tiếng là một giáo sĩ nhiệt thành, là người đã cho khởi công xây dựng nhà thờ. Tuy vậy, Cụ cũng bị mang tiếng xấu khi hỗ trợ đắc lực cho thực dân Pháp trong thời kỳ đầu người Pháp đô hộ nước ta. Cụ đã từng bị lãnh tụ chống xâm lăng Phan Ðình Phùng đè ra hỏi tội và đánh đòn công khai vì tội hống hách ức hiếp dân chúng. Mặt khác Cụ được người Pháp tặng thưởng Bắc Ðẩu Bội Tinh vì đã hỗ trợ đắc lực cho quân viễn chinh Pháp. Có công, có tội, chuyện đời thật là phức tạp, mỗi người phải tự lo cho hành động của mình, miễn là không trái với lương tâm và, nếu có thể, để lại danh tiếng cho hậu thế... Ngoài khả năng xây dựng nhà thờ, giáo dục giáo dân, giảng giải kinh kệ, Cụ Sáu còn là người biết chơi chữ như giai thoai nhà sử học Nguyễn Mạnh Quang kể lại. Cụ Trần Lục ra câu đối cho ông tuần phủ Trần Hy Tăng tức Trần Bích San, một người đỗ đạt cao, có tiếng văn hay chữ tốt trong triều đình nhà Nguyễn. Cụ Sáu nghĩ Trần Hy Tăng vốn chỉ giỏi Hán văn nên vế đối Cụ tinh nghịch viết bằng chữ nôm để gây khó khăn cho địch thủ : Ba cụ ngồi một cỗ, cụ đủ đều, cụ chẳng sợ ai! Câu đối hiểm hóc ở chỗ chử cụ có nhiều nghĩa: sợ, đểu, đủ đều được đề cập trong vế đối.. Nhưng Cụ Tuần Tăng lanh chóng đáp trả: Một đạo chẳng hai đường, đạo dẫn trộm, đạo còn nói láo! Trong vế đáp nầy, chữ đạo cũng có nhiều nghĩa: đạo lý, đường đi, dẫn, ăn trộm. Ngoài ra hai chữ cụ và đạo ghép lại với nhau thành ra cụ đạo có nghĩa linh mục công giáo! Cụ Lục tức giận, chịu thua nhưng thán phục đich thủ. Ðấu thách qua chữ nghĩa dù sao cũng lành mạnh hơn đấu khẩu hay tay chân... nhất là ở chốn trang nghiêm này.

25/12/2017
Võ Quang Yến
Theo http://chimvie3.free.fr/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Lịch sử: Chân lý và hư cấu trong Đức Thánh Trần của Trần Thanh cảnh

Lịch sử: Chân lý và hư cấu trong Đức Thánh Trần của Trần Thanh cảnh Có thể nói, với Trần Thanh Cảnh, lịch sử chỉ là cái cớ, phông nền để ô...