Thứ Tư, 14 tháng 7, 2021

Âm nhạc của một thời - Phần 1

Âm nhạc của một thời - Phần 1

Giới thiệu

Âm Nhạc của Một Thời là tác phẩm làm nên tên tuổi Lê Hữu, một Lê Hữu có đôi mắt tinh tế, sắc bén, nhìn thấu suốt đến từng chi tiết nhỏ nhất trong bất cứ vấn đề gì mà ông có hứng thú bàn tới. Người đọc Lê Hữu sẽ không ai không ít nhất một lần ngạc nhiên với sự phân tích của ông ở một đề tài mà mình tưởng chừng đã quá quen thuộc, đã từng nghe, nói, viết đến từ lâu. Sau sự ra đời của sách giấy Âm Nhạc của Một Thời do nhà xuất bản Giờ Ra Chơi ấn hành năm 2011 tại Hoa Kỳ, Lê Hữu đã gởi tới độc giả tác phẩm thứ hai của mình Ngôn Ngữ Ngậm Ngùi dưới hình thức sách điện tử do Tủ Sách T.Vấn & Bạn Hữu thực hiện năm 2016. Do tính cách thời sự của đề tài (ngôn ngữ Việt trong và ngoài nước) và sự nhận định phóng khoáng vượt lên trên mọi “taboo” chính trị, nên tác phẩm thứ hai của Lê Hữu được mọi thành phần độc giả chú ý, nhất là độc giả ở trong nước (nhờ vào hình thức xuất bản điện tử qua mạng lưới phát hành miễn phí của Tủ Sách T.Vấn & Bạn Hữu).Hiện nay, ở trong nước, xuất hiện nhiều phong trào ‘tôn vinh” nền âm nhạc của miền Nam trước biến cố 1975, điển hình qua các cuộc thi ca nhạc của các đài truyền hình tạo nên một làn sóng người người hát nhạc cũ miền Nam, nhà nhà nghe nhạc cũ miền Nam. Hát công khai, nghe công khai, trên truyền hình, trong các phòng trà ca nhạc, kể cả những bài chưa được hệ thống kiểm duyệt nhà nước cho phép (hát). Thiết tưởng, việc phổ biến một tác phẩm như quyển Âm Nhạc của Một Thời của Lê Hữu nói về âm nhạc của miền Nam trước 1975 đến với công chúng ở trong nước là một việc làm hữu ích và cần thiết, không chỉ cho nền âm nhạc đang được nói đến mà còn cho công chúng thưởng ngoạn được biết thêm về những bài hát mà mình đang yêu thích.
Tủ Sách T.Vấn & Bạn Hữu, với quan niệm rằng mọi tác phẩm văn hóa có giá trị cần được phổ biến ở nhiều nơi, nhiều lúc khác nhau để mọi thành phần độc giả đều có cơ hội tiếp cận tác phẩm, hân hạnh được nhà văn Lê Hữu cho phép tái bản tác phẩm Âm Nhạc Của Một Thời qua hình thức sách điện tử, để tác phẩm có thể dễ dàng đến với độc giả trong nước (cũng như ngoài nước), đáp ứng nhu cầu tìm hiểu âm nhạc miền Nam đang “nóng bỏng” hiện nay.
Xin trân trọng giới thiệu Âm Nhạc Của Một Thời.
Tủ Sách T.Vấn & Bạn Hữu
“The history of a people is found in its songs.” ~ George Jellinek
Lời nói đầu 
(Ấn bản sách giấy - Giờ Ra Chơi 2011) 
Âm nhạc, từ bao giờ, đã trở nên thân thiết với cuộc sống và làm giàu thêm đời sống tinh thần của con người. 
Nội dung sách này là những mảng nhỏ trong bức tranh lớn nhiều màu sắc của nền tân nhạc Việt ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Nhạc Việt thời ấy còn là di sản văn hóa quý giá của người Việt. 
Ít bài trong sách này đã phổ biến trên báo chí (có hiệu đính ít chi tiết) và nhận được nhiều chia sẻ, góp ý của quý độc giả. Trong khuôn khổ giới hạn của cuốn sách, người viết khó trình bày cho thật đầy đủ về mọi hoạt động về âm nhạc, nghệ thuật. Các nhận định trong sách có tính cách cá nhân và chủ quan nên không tránh được những sai sót, mong quý độc giả vui lòng lượng thứ. 
Xin thành thật cám ơn quý thân hữu đã hỗ trợ việc ấn hành và giới thiệu sách này đến người đọc yêu âm nhạc. 
Trân trọng, 
Tựa 

PHẠM XUÂN ĐÀI 
Lê Hữu và Một Thời Âm Nhạc
Viết nhận định về âm nhạc là việc khó vì dùng ngôn ngữ viết để nói về thế giới âm thanh. Những nhà viết tiểu thuyết, với ngôn ngữ nghệ thuật, thì dễ dàng hơn, có thể chuyển đạt đến người đọc những đặc tính âm thanh mà mình muốn diễn tả, ví dụ Nguyễn Du tả tiếng đàn của Kiều. 
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài 
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa 
Tả như thế là tuyệt khéo, gợi được một cách sinh động sự liên tưởng và hình dung của người đọc về tiếng đàn của kẻ tài hoa. Người đọc tưởng là thưởng thức bài đàn của Kiều, kỳ thực là thưởng thức tài văn chương của Tố Như. Mỗi người hình dung câu văn theo chủ quan của mình, từ đó “nghe” tiếng đàn trổi lên một cách riêng trong tâm trí của mình. Đây là phạm vi của nghệ thuật và tài năng của nhà văn. 
Khi viết quyển Âm Nhạc Của Một Thời, tác giả Lê Hữu không nhằm mô tả kiểu đó. Vì ông viết biên khảo chứ không phải tiểu thuyết. Ông có sẵn một kho tư liệu, đó là những bản nhạc Việt Nam đã được sáng tác trong “một thời”, dưới dạng ký âm và lời ca được in trên giấy và cả dạng âm thanh (có khi cả hình ảnh trình diễn) của tiếng hát và của nhạc cụ, từ các công cụ điện tử là băng, đĩa. Với vốn tư liệu sẵn có của riêng ông và chung của xã hội, ông viết về âm nhạc của một thời với giả thiết rằng người đọc ông cũng đã nghe những bản nhạc mà ông nói đến - hoặc chưa nghe mà muốn nghe thì có thể tìm một cách dễ dàng. Vì thế ông gần như bỏ qua việc diễn tả giai điệu của bài nhạc, mà chỉ chú trọng phân tích về ca từ. Và trong một số trường hợp, khảo sát kỹ lưỡng người nhạc sĩ sáng tác. 
Chữ “một thời” mà tác giả dùng trong nhan đề cuốn sách không được tác giả định nghĩa là thời nào, nhưng có thể hiểu theo hai cách. Một, đó là cuộc đời của tác giả; hai, suốt lịch sử của nền tân nhạc Việt Nam. Cách nào cũng được, vì thực ra lịch sử của nền tân nhạc Việt Nam cũng không dài hơn tuổi đời của tác giả là bao. “Một thời” chỉ là một cách nói, hoặc từ chủ quan của tác giả, hoặc có thể từ khách quan của lịch sử, để nghiên cứu về một số nhạc sĩ và nhạc phẩm mà tác giả quan tâm. 
Nền tân nhạc Việt Nam, tức là âm nhạc theo phương pháp Tây phương, khác với nền nhạc cổ truyền của dân tộc, hiện nay rất phong phú, nhưng có một lịch sử chưa dài. Nhạc sĩ Phạm Duy, năm nay ngoài 90, là một trong những người sáng tác trong thời kỳ đầu tiên, vậy tuổi nền tân nhạc của chúng ta tới bây giờ cũng chỉ mới hơn bảy mươi. Nhưng phải công nhận nó trưởng thành rất nhanh, phần lớn nhờ vào biến chuyển thời cuộc của thời gian thập niên 1940 tạo ra cảm hứng mạnh cho sáng tác lẫn nhu cầu lớn về ca hát: chiến tranh thế giới thứ hai với triển vọng vận động thoát ách nô lệ của Pháp, cách mạng tháng tám 1945, cuộc kháng chiến chống Pháp, rồi tiếp theo là chiến tranh Nam Bắc khốc liệt kéo theo những biến chuyển lớn lao khác... Những biến cố lớn trong một xã hội đương nhiên tác động đến tinh thần con người, và từ đó nảy ra những tác phẩm nghệ thuật về đủ mọi loại tâm thức của thời đại. Chúng ta hãnh diện đến nay có một gia tài âm nhạc Việt Nam nói chung đồ sộ và nhiều dáng vẻ. 
Nhưng Lê Hữu không viết nhạc sử. Ông chỉ viết về một số nhạc sĩ mà ông chọn lựa, ông tạo một thế giới riêng cho mỗi người theo những gì mà âm nhạc của họ gây cảm hứng hoặc suy nghĩ nơi ông. Một số ít chương ông viết về các đề tài riêng biệt liên quan đến âm nhạc mà ông thấy cần đề cập tới. Tác giả lớn lên và trưởng thành trong khí hậu nghệ thuật của miền Nam thời đất nước chia cắt, vì thế ta không lạ trong bảy nhạc sĩ được chọn để viết chỉ có một (tuy về hình thức là hai) Đoàn Chuẩn - Từ Linh thuộc về miền Bắc, còn lại: Nguyễn Hiền, Y Vân, Tuấn Khanh, Nguyễn Văn Đông, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn đều cư ngụ tại miền Nam. Nhưng Đoàn Chuẩn-Từ Linh tuy người thì ở Bắc, nhưng sự nghiệp tinh thần thì lại “sống” tại miền Nam, vì thời 1954 - 1975 nhạc của ông bị cấm ở miền Bắc trong khi tại miền Nam lại rất được ưa chuộng. Ngoài các chương viết về từng tác giả, có ba chương viết riêng theo chủ đề: “Hình tượng người lính qua dòng nhạc Việt”, “Hà Nội, một thoáng dư âm”, “Nhật Trường, hát về những giấc mơ”, và một bài phỏng vấn trong Phụ lục: “Nhạc phổ thơ, thơ phổ nhạc”. 
Có thể nói cuốn sách này được viết dựa trên tình yêu âm nhạc. Có yêu thích mới nghe nhạc, có nghe mới cảm, và từ đó mới nhận định về nhạc sĩ này, bài hát kia. Từ cái nền tảng tình cảm ấy, tác giả phát triển các bài viết của mình tiến tới cung cách của một nhà nghiên cứu về ca khúc, vì những điều tác giả trình bày không thuần túy là duy cảm, mà đã dựa trên vô số tài liệu, từ các nhạc phẩm in trên giấy đến mỗi bản nhạc được trình bày bởi nhiều giọng hát khác nhau, từ tiểu sử của nhạc sĩ đến những chuyện bên lề - những giai thoại - trong đời sáng tác của người ấy, từ tình hình xã hội chính trị trong đó một bản nhạc ra đời cho đến những dư luận báo chí đương thời hoặc sau này về các tác giả và tác phẩm... Sự hiểu biết của tác giả về thế giới âm nhạc Việt Nam, đặc biệt là miền Nam, rất rộng và sâu, tác giả lại là người kỹ lưỡng, sẵn sàng đặt dưới kính hiển vi soi mói một tiếng hát sai của ca sĩ, hoặc một chữ in sai của nhà xuất bản. Những ưu điểm ấy cho chúng ta một niềm tin cậy về mặt tài liệu mà tác giả trưng dẫn trong sách, dù đó là văn bản ca từ hay cuộc đời và giai thoại của giới nghệ sĩ. 
Khó khăn lớn nhất của Lê Hữu trong việc biên soạn Âm Nhạc Của Một Thời, và cũng là khó khăn chung cho những người viết nhận định về ca khúc, là chỉ dùng chữ nghĩa để diễn đạt những gì thuộc thế giới âm thanh. Nếu đây là những bài dẫn giải âm nhạc trên đài phát thanh hay truyền hình thì có lẽ vấn đề sẽ đơn giản hơn nhiều, bởi lẽ thay vì trích dẫn các câu hát bằng chữ trên giấy, chúng ta sẽ được nghe trực tiếp âm thanh. Đó là âm nhạc. Với ngôn ngữ viết người ta có thể phần nào tạo nhạc tính trong văn thơ nhưng đó vẫn không phải là âm nhạc. Những câu hát mà tác giả trích dẫn trong suốt cuốn sách này, chỉ thực sự gây hiệu quả khi người đọc hình dung ngay trong đầu âm điệu của câu hát ấy. Nếu người đọc không biết bài hát mà tác giả đang đề cập? Thì chỉ là đọc một số câu chữ xơ cứng, văn không ra văn, thơ không ra thơ, lắm khi cũng mượt mà nhưng có khi lại quá… bình thường. Nhưng nếu biết âm điệu của nó thì lập tức một thế giới khác sẽ hiện ra trong đầu và cả tâm hồn người xem, và hiệu quả của luận cứ của tác giả sẽ đến tức thì. Dĩ nhiên đi đôi với việc trích dẫn là lời dẫn giải của tác giả, nhưng dù tài hoa cách mấy cũng không thể hoàn toàn thay thế âm nhạc đích thực cho thưởng ngoạn. 
Nhưng khó khăn đó chỉ là một trở ngại tự nó không thể ngăn cản việc viết về âm nhạc. Trái lại những tác phẩm phê bình nhận định về nhạc sĩ nhạc phẩm vẫn được viết, và nhờ đó, âm nhạc vẫn được hiểu, được cảm, có khi còn ngấm sâu hơn là được dẫn giải với phương tiện âm thanh. Xem ra trong học thuật, phương tiện âm thanh, ngay cả trong lãnh vực âm nhạc, hãy còn mong manh theo ý nghĩa của câu tục ngữ ngày xưa: “Nói bay, viết còn”...
Mỗi một nhạc sĩ sáng tác là một thế giới mênh mông, muốn hiểu họ, cảm họ, phải lặn lội sâu vào cuộc đời và tác phẩm của họ, thậm chí phải len vào những ngõ ngách bí hiểm ít ai biết. Từ trước tới giờ, về âm nhạc Việt Nam, không mấy ai chịu khó như Lê Hữu trong công việc này. Nội một việc phải nghe hết và nghe đi nghe lại các nhạc phẩm của một tác giả thì đã là một kỳ công, vì hầu như chẳng ai khám phá được gì nếu chỉ thưởng thức hời hợt theo lối cưỡi ngựa xem hoa. Từ niềm rung cảm của chính mình do bản nhạc đem lại, tác giả mới dần dò ra từng đặc điểm của người sáng tác, rồi sắp xếp, phân loại, không những là từng bài hát, mà có khi là từng cảm hứng lẻ loi nhưng đặc thù nằm rải rác trong nhiều nhạc bản để từ đó dựng nên một chủ đề sáng tác. Không phải tự nhiên mà có được một bài “Nỗi buồn sông nước trong nhạc chiều Phạm Duy”. Trong khối nhạc phẩm đồ sộ của nhạc sĩ lớn này, Lê Hữu phải thoạt tiên nghe những bản nhạc về sông gặp rải rác đó đây, và phát giác ra những giai điệu và lời ca gây buồn khi Phạm Duy viết về sông nước. Và có lẽ phải qua một quá trình lâu dài nữa mới nhận ra vai trò của buổi chiều, và từ đó thấy ra tính chất quyết định cho cả một chủ đề: nỗi buồn - sông nước – buổi chiều. Phải viết làm sao cho người đọc cảm ứng theo mình, cũng tức là theo nhạc sĩ, cái buồn trong khung cảnh chiều rơi, bên dòng sông. Khi sáng tác, không mấy nghệ sĩ định trước chủ đề mà chỉ viết theo cảm hứng, nhưng họ trở thành lớn lao khi tạo ra một nghệ phẩm tác động sâu sắc vào trái tim của mọi người; và khi người nghiên cứu khoanh vùng được các đặc sắc của tác phẩm để đặt để cho nó một chủ đề, người ấy cũng đạt được một lớn lao không kém, với tư cách là người hiểu nhiều, cảm sâu và thông ngôn cho các bí ẩn của tài năng sáng tạo ấy đến người khác. 
Theo cung cách như vậy, Lê Hữu đã đến với một số nhạc sĩ, và làm công việc trung gian tạo cảm thông và hiểu biết giữa giới sáng tác và người thưởng ngoạn. Một công việc đòi hỏi năng lực thẩm định nghệ thuật mẫn nhuệ, sức làm việc bền bỉ và sự thận trọng. Cũng đòi hỏi phải có thật nhiều tài liệu - bằng cả chữ viết và âm thanh. Lê Hữu đã chứng tỏ mình có đầy đủ các đức tính để làm công việc này, mà ưu điểm lớn nhất là lòng yêu nhạc ít ai bì kịp. Không có tình yêu ấy thì tất nhiên không thể có tác phẩm này. 
Little Saigon 10 tháng Tư, 2011 
Phạm Xuân Đài 
Hình tượng người lính qua dòng nhạc Việt 
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh 
(“Tây tiến”, thơ Quang Dũng)  
Xa nhìn thấp thoáng trong mây 
muôn bóng quân Nam chập chùng (1) 
Câu hát ấy, từ bao năm nay vẫn cứ theo tôi, theo tôi mãi. 
Câu chuyện bắt đầu từ những ngày xa xưa, thuở tôi còn là cậu học trò nhỏ vừa bước vào năm học đầu tiên của một trường trung học ở thành phố cao nguyên có cái biệt danh nghe buồn buồn là “Buồn-muôn-thuở”. Cậu học trò ấy, vào mỗi sáng thứ Hai, cùng chúng bạn đứng xếp hàng ngay ngắn trước sân cờ, nao nức chờ đợi phút giây được tham dự vào nghi thức thượng kỳ đầu tuần trong bầu không khí thật trang nghiêm giữa sân trường thuở ấy. 
“Đứng thẳng người,” thầy tôi dặn, “ngực ưỡn ra, miệng hát lớn, mắt hướng về lá quốc kỳ cho tới khi bài quốc ca chấm dứt.” Tôi đã làm theo đúng lời thầy, mắt dõi theo lá cờ từ từ, từ từ được kéo lên, nhẹ bay trong gió. Lá cờ màu vàng tươi phất phới bay trong nắng sớm giữa bầu trời lồng lộng, có từng cụm mây trắng lững lờ... Bỗng nhiên, trong một thoáng, câu hát ấy - không phải câu hát trong bài quốc ca - nghe vẳng lên trong đầu tôi. 
Xa nhìn thấp thoáng trong mây 
muôn bóng quân Nam chập chùng… 
Cùng lúc, tôi như nhìn thấy, thoáng ẩn thoáng hiện trong những cụm mây nơi phía chân trời mờ xa, “chập chùng” những đoàn quân đang tiến bước. 
Tôi không thể biết chắc những gì tôi nghe thấy và trông thấy ấy, là tiếng nhạc ở trong đầu, là “bóng mây ảo giác”, hay là những bài hùng ca, những bài học lịch sử mà chúng tôi học được từ những người thầy đã in hằn trong tâm trí, khiến mỗi lần dõi mắt trông theo lá cờ vàng phất phới trong nắng trong gió là mỗi lần câu hát ấy lại vẳng lên và đoàn quân ấy lại thấp thoáng trong mây. 
Chúng tôi trông đợi những sáng thứ Hai, trông đợi những phút được đắm mình vào không khí đầy vẻ cuốn hút của buổi lễ thượng kỳ. Không khí ấy, với tôi, như mang một vẻ gì thiêng liêng, như nhuốm một vẻ gì bi tráng của những trang sử Việt hào hùng, của những chiến công thần kỳ và của những nợ máu xương chồng chất. Trong những phút ấy, lòng tôi bỗng dâng lên những cảm xúc thật kỳ lạ, vừa là niềm ngưỡng phục, vừa là nỗi tự hào, vừa ngùn ngụt hào khí trong máu trong tim cậu học trò ở tuổi vừa lớn, hòa cùng tiếng nhạc trầm hùng như giục giã những bước chân đi tới. 
Công dân ơi mau hiến thân dưới cờ!... 
Những năm học nối tiếp theo nhau, và ngày tháng trôi đi bình lặng. Thế rồi, những năm tháng êm đềm vụt biến mất, cơn bão tàn khốc của lịch sử đã cuốn phăng đi tất cả, cuốn phăng đi biết bao nhiêu là số phận. Không còn nữa lá cờ vàng phất phới giữa bầu trời lồng lộng, không còn nữa những đoàn quân thấp tho ng trong mây, không còn nữa ngôi trường chúng tôi yêu quý. Chúng tôi tan tác như bầy chim hoảng loạn. 
Thế nhưng câu hát ấy, bài hát ấy và những bài hát về người lính, về những “đoàn quân ra đi”, từ bao năm nay vẫn cứ theo tôi, mãi mãi không rời. 
I. Hành trình của người lính 
Đây đoàn quân ra đi nhịp nhàng 
mang theo thiên hùng ca/ thắm tươi trời Nam bốn phương 
Ta anh hùng muôn quân phá tan cường binh 
chí tang bồng đem theo khắp nơi tung hoành 
Những câu hát “hào khí ngút trời” ấy ở trong bài “Lục quân Việt Nam” (1950) của Văn Giảng và Hương Việt. Những đoàn quân ra đi, những thiên hùng ca, những anh hùng xông pha trận mạc ph tan cường binh và khắp nơi tung hoành… đã làm dậy lên bầu máu nóng hừng hực và lòng yêu nước nồng nàn của bao thanh niên thuở ấy, những muốn đem tài trai phụng sự tổ quốc và vẫy vùng ngang dọc cho thỏa chí tang bồng 
1. “Từng đoàn người trai đi viết sử xanh” (2) 
Mai ra đi không chút vấn vương 
chiến trường kia tranh đấu 
Là tài trai chí bốn phương/ một lòng quyết lên đường. 
Tiến bước lên Chiến đấu cho 
đất Việt bừng sáng muôn đời 
(“Quanh lửa hồng”, Nguyễn Thiện Tơ và Văn Khôi) 
“Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt/ xếp bút nghiên theo việc đao cung”.(3). Người trai ra đi với lời thề sắt son ghi trên báng súng. Màu áo chiến binh thay cho màu áo học trò. 
Xếp áo thư sinh vui bước đăng trình 
mười sáu tròn trăng 
Ghi trên báng súng lời thề chinh nhân 
tám hướng thành gần... 
(“Mười sáu trăng tròn”, Trần Thiện Thanh) 
Phút tiễn đưa chỉ có ánh mắt vời vợi trông theo của mẹ già như trao gửi nỗi niềm tin yêu. 
Nhớ lúc lên đường đưa tiễn chân tôi 
thương lên khóe mắt mẹ nhắn đôi lời, 
“Diệt thù lập công cho xứng tài trai 
sắt son ghi lòng chớ phai” 
(“Biệt kinh kỳ”, Minh Kỳ và Hoài Linh) 
“Hành trang giã từ” chàng trai mang theo luôn có lời dặn dò, nhắn nhủ thiết tha của người mẹ hiền yêu dấu. 
Ra đi một sáng tinh sương 
Mẹ ơi, con vẫn nhớ lời me khuyên, 
“Con ơi, tình nước sâu hơn 
hẹn ngày chiến thắng con về vinh quang” 
(“Ai về quê tôi”, Tiến Đạt). 
Những bà mẹ Việt Nam đều giống nhau. Lòng thương con vô bờ nhưng tình nước sâu hơn, mẹ giấu đi nỗi bịn rịn và giọt lệ tiễn đưa để đứa con yêu thong dong lên đường. 
“Chàng trai đất Việt” trong câu hát của Thanh Châu được “minh họa” rõ nét là chàng “thanh niên Quốc Gia”, ra đi vì lý tưởng Quốc Gia. 
Hôm ấy tay cầm tay trong thiết tha 
anh là thanh niên Quốc Gia/ lên đường vui xa quê nhà 
(“Dặn dò”, Thanh Châu) 
Những chàng trai trẻ đã hiến dâng cả tuổi thanh xuân, cả những tháng năm tươi đẹp nhất của đời mình cho tình yêu đất nước. Những chàng trai trong tim thì sôi máu/ khóe mắt có trăng sao (“Kỷ niệm”, Phạm Duy), đi dưới một “rừng cờ phấp phới”, một bầu “trời Việt mênh mang”. Một đoàn người trai hiên ngang 
đeo trên vai nợ máu xương 
vui ra đi không buồn nhớ thương 
Một rừng cờ phấp phới 
một mầu vàng chiêu dương 
và một nền vinh quang bằng máu 
Một trời Việt yêu dấu/ một trời Việt mênh mang 
giục đoàn người lên đường hiên ngang 
(“Khởi hành”, Phạm Duy) 
Những đoàn người nối tiếp những đoàn người, mang tổ quốc trên vai, mang tình yêu nước trong tim, hàng hàng lớp lớp theo nhau lên đường theo tiếng gọi của non sông. 
Người đi giúp núi sông 
hàng hàng lớp lớp chưa về/ hàng hàng nối tiếp câu thề 
giành lấy quê hương 
(“Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp”, Nguyễn Văn Đông) 
Tiếng gọi giục giã, nao nức… 
Em không nghe ngoài kia 
trời đông đã lên rồi 
bao lớp người đi 
(“Hành trang giã từ”, Trường Sa) 
“Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”, ngưỡng cửa đầu tiên các chàng trai phải vượt qua là những rèn luyện và thử thách của “đoạn đường chiến binh” nơi các quân trường để trở thành người lính thực thụ. 
Đây tiếng ca vang nơi quân trường đầy hào hùng 
Vai sát vai/ ta thi tài trong tình quân ngũ 
Anh em ơi Anh em ơi 
Đem sức trai nêu chí hùng/ lưu tiếng ngàn thu 
Cố lên! Cố lên! Dù nhọc nhằn 
đem mồ hôi pha máu hồng/ viết thành sử xanh 
(“Thao trường vang tiếng gọi”, Trầm Tử Thiêng) 
Như những mũi tên bắn đi bốn phương tám hướng trong ngày lễ ra trường, những chàng trai đất Việt “lên đường nhập ngũ tòng quân” vừa là đứng lên đáp lời sông núi, vừa để thỏa chí tang bồng hồ thỉ, vẫy vùng ngang dọc. 
Vì thương nước thương dân, thương quê hương mịt mờ khói lửa, thương những kiếp người lầm than, những người trai hôm nay vào chiến dịch, nguyện thề dâng cả đời trai với sa trường. Những nắm tay xiết chặt, những bước chân đi tới, những ánh mắt rạng ngời. 
Thương dân nghèo ruộng hoang cỏ cháy 
thấy nỗi xót xa của kiếp đọa đày/ Anh đi 
Hành trang của người lính trong nhạc Phạm Đình Chương là lòng yêu nước thương dân, là nòng súng nhân đạo cứu người lầm than. Hành trang ấy là chính nghĩa, là lý tưởng của người lính miền Nam, là đối nghịch với sắt máu, với bạo tàn. 
Dẫu biết rằng “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”, người lính chiến trên những tuyến đầu lửa đạn vẫn không hề nao núng lòng. 
Không quên lời xưa đã ước thề 
dâng cả đời trai với sa trường 
Nam nhi cổ lai chinh chiến hề 
nào ai ngại gì vì gió sương 
(“Anh đi chiến dịch”, Phạm Đình Chương) 
Nhạc điệu rộn ràng và hùng tráng như một khúc quân hành. 
2. “Anh đi mai về chiến thắng” 
Người lính vẫn miệt mài đi, với lý tưởng phụng sự đất nước, với tinh thần quyết chiến quyết thắng cho một ngày hòa bình về trên quê hương. 
Anh đi xây chiến thắng/ dưới màu cờ quật cường 
cho loài người hòa bình 
(“Dặn dò”, Thanh Châu) 
Anh đi mai về chiến thắng 
khi súng quân thù thôi vang trên non sông 
Tươi thắm màu cờ vui reo trên kinh thành 
(“Anh đi mai về”, Hoàng Nguyên) 
Những đoàn quân trùng trùng tiến bước, “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. 
Quân ra đi không luyến tiếc đời 
Vui xa xôi xin nhớ phút về 
đem vinh quang tô thắm nước nhà 
Giờ đây đoàn quân cứ tiến! 
(“Khởi hành”, Phạm Duy) 
Câu nhạc kết thúc với hai nốt nhạc cuối rướn cao đột ngột, mạnh mẽ, như bước chân dồn dập xốc tới... Những trái tim bừng bừng cảm xúc, những dòng máu sục sôi khí thế đã khơi nguồn nhạc hứng cho người nhạc sĩ để viết nên những bài hùng ca đẹp nhất và “hùng” nhất làm nức lòng chiến sĩ. 
Ngày bao hùng binh tiến lên 
bờ cõi vang lừng câu “Quyết chiến” 
Bước oai nghiêm theo tiếng súng đi tung hoành 
Quân Việt Nam đi hồn non nước xây thành 
Đi là đi chiến đấu Đi là đi chiến thắng! 
Đi là mang linh hồn non sông 
(“Xuất quân”, Phạm Duy) 
“Xuất quân” của Phạm Duy là tiếng trống thúc quân dập dồn hòa cùng nhịp bước quân hành. 
“Thúc quân” của Văn Giảng và Hương Việt là điệu kèn xung trận, là lời thúc giục bao trai tráng lên đường diệt tan giống tham tàn. 
Nhìn trong hơi gió thoảng/ bóng quân Nam lướt đi 
Thề cùng diệt tan giống tham tàn thúc quân vùng lên! 
Nơi đây đất nước đang hiến bao đấng anh linh 
Xương trắng xây thành/ cố tâm đền núi sông ơn nhà 
“Chí làm trai dặm nghìn da ngựa/ gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”, (3) người lính chiến vào sinh ra tử, luôn cận kề những bất trắc hiểm nguy, tuy không da ngựa bọc thây nhưng cũng lắm khi đi không ai tìm xác rơi như những người hùng không tên tuổi. 
Dù thân này tan tành gói da ngựa cũng cam 
Thề trọn niềm trung thành với sơn hà nước Nam 
(“Việt Nam minh châu trời đông”, Hùng Lân) 
Người lính can trường xông pha trận mạc với tinh thần quyết chiến và quyết thắng, với khí thế “đánh một trận, sạch không kình ngạc/ đánh hai trận, tan tác chim muông” (4) làm khiếp đảm giặc thù. 
Tiếng súng ta như mưa/ khiến thù gục đầu
dường như vẫn còn nghe (“Bài ca chiến thắng”, Minh Duy) 
Như người lính chiến ôm súng mơ ngày về quang vinh trong nhạc Phạm Đình Chương, ngày vui chiến thắng, ngày thanh bình về trên quê hương là nỗi khát khao của cả một dân tộc trong một đất nước chiến tranh ròng rã bao năm. 
Ngày mai ngày vui chiến thắng 
đón anh về nắng vàng gieo nơi nơi 
Ðàn bé đùa nô trước thềm 
Mẹ già vui/ thôi hết khóc chia phôi 
(“Gửi người giới tuyến”, Nhật Lệ) 
Những đoàn quân ra đi năm nào với niềm tin tất thắng, nay trở về ca khúc khải hoàn trong vinh quang chiến thắng. 
Thủ đô ơi, thủ đô Đoàn quân ta đã về đây 
Sau bao nhiêu ngày luôn ước mơ 
ngày chiến thắng quay về chốn xưa 
“Bài ca chiến thắng” của Minh Duy là một trong những bài hùng ca đẹp nhất làm dậy lên niềm tự hào về một quân lực đi là đi chiến đấu! đi là đi chiến thắng! 
Thủ đô ơi, thủ đô Đoàn quân ta đã về đây 
Tiếng reo vang, vang dậy một trời 
Lớp, lớp tinh kỳ bay trong gió 
Vòng hoa chiến thắng mà người dân hậu phương choàng vào cổ những người lính vừa trở về từ chiến trường lửa đạn là vòng hoa của tình quân dân thắm thiết, của lòng cảm phục, biết ơn và tin cậy. 
Kìa đoàn quân chiến thắng trở về với xóm làng 
thành công còn ghi dấu đầu súng 
Những tấm gương kiêu hùng/ phất phới vui trong lòng 
Bầu trời thủ đô đón mừng 
(“Bài ca chiến thắng”, Minh Duy) 
Còn nỗi mừng vui nào lớn hơn, còn nỗi xúc động nào lớn hơn được trông thấy lại lá cờ thân yêu bay lồng lộng giữa bầu trời tổ quốc, trên thành phố quê ta vừa chiếm lại đêm qua bằng máu. Lá cờ thấm máu đào còn tươi rói của những người lính kiêu hùng vừa ngã xuống đêm qua. 
Cờ bay! Cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu 
vừa chiếm lại đêm qua bằng máu 
Cờ bay! Cờ bay tung trời ta về với quê hương 
từng ngóng đợi quân ta tiến về 
(“Cờ ta bay trên Quảng Trị thân yêu”, Lê Kim Hoa) 
Những người lính quả cảm dựng lại ngọn cờ vàng trên những thành quách tan hoang sau trận chiến khốc liệt giành lại từng tấc đất quê hương là một trong những cảnh tượng bi hùng nhất của những trang sử Việt. 
“Lòng ta như thành này 
Vinh quang trong tan nát!”
Câu thơ của Cao Tiêu là cảm xúc thực lòng của người lính trong những phút lặng nhìn ngọn cờ chiến thắng tung bay giữa hoang tàn đổ nát, khi chiến trận vừa kết thúc. 
Vui bên nhau mắt lệ nghẹn ngào 
quỳ hôn đất thân yêu 
Quảng Trị ơi, chào quê hương giải phóng 
(“Cờ ta bay trên Quảng Trị thân yêu”, Lê Kim Hoa) 
Những hy sinh gian khổ, những máu xương người lính đổ ra nơi tiền tuyến để giữ yên bờ cõi và mang về cuộc sống yên lành, ấm êm cho hậu phuơng vẫn luôn được người đời khắc ghi. 
Anh về thủ đô biết bao là vui 
đã để lại đây mến thương đầy vơi 
Người dân nước Việt ghi ơn các anh 
đã hy sinh vì giống nòi 
(“Anh về thủ đô”, Y Vân) 
Chiến thắng nào, vinh quang nào cũng phải trả giá. Cái giá đắt nhất người lính chiến phải trả là máu xương, là xác thân mình. Có xác phơi thây chiến địa, dưới chiến hào hay trên bờ tường. Có xác nằm lại trên đồi cao hay dưới vực sâu, bên khe suối hay cạnh bìa rừng. Có xác của người chiến sĩ vô danh, máu thấm vào lòng đất mẹ, thịt xương rã mục lẫn vào cỏ cây hoa lá. Làm sao kể hết được những hy sinh đền nợ nước của những anh hùng liệt sĩ sống anh dũng, chết hiên ngang, “nhẹ xem tính mệnh như mầu cỏ cây”. (3) 
Ngày nào phơi xác nhớ không! 
Thây rơi mênh mông trên khắp phố phường 
Thân ôm tường/ đầu gục đâu 
Ai trên đường/ người nhuộm máu 
Thây rơi trong đêm khuya lấp chiến hào 
(“Khởi hành”, Phạm Duy) 
Biết bao người lính đi không hẹn ngày về, đi không về lại nữa. iết bao người lính đã để lại một phần thân thể mình trên khắp các mặt trận để đổi lấy những chiến công rạng ngời. 
Chàng về/ chàng về nay đã cụt tay 
Máu đào đã nhuốm trên thây bao nhiêu quân thù 
(“Nhớ người thương binh”, Phạm Duy) 
Người lính miền Nam đã chiến đấu can trường và hy sinh anh dũng để gìn giữ từng tấc đất cha ông để lại và bảo vệ vùng trời, vùng biển quê hương, cho dù máu xương có hòa lẫn vào lòng đất mẹ, cho dù xác thân có vùi sâu dưới lòng biển cả hay tan biến vào không gian. 
Chiều nao/ thương ôi rụng cánh đại bàng! 
Chiều nao huy hoàng/ bụi vàng bay khắp không gian 
(“Huyền sử ca một người mang tên Quốc”, Phạm Duy) 
Biết bao nhiêu khúc hát về người lính, biết bao nhiêu khúc nhạc hào hùng (chưa kể những khúc quân hành, những bài hùng ca, chiến đấu ca của các quân binh chủng) ngợi ca tinh thần chiến đấu và hy sinh cao cả của người lính chiến một lòng vì nước vì dân trong kho tàng âm nhạc Việt. 
II. Bản trường ca về người lính 
“Nhạc lính”, như cách gọi ở miền Nam Việt Nam từ những năm đầu thập niên 1960’s, được hiểu là những bài nhạc nói về người lính và đời lính, hoặc về những nỗi niềm, những tâm tình của người lính. Nhạc lính đã đi vào đời sống của người dân trong một đất nước chiến tranh triền miên, trong đó người lính trở thành hình ảnh thật quen thuộc trong mắt, và trong lòng mọi người. 
1. Phác họa về người lính 
Anh là người lính chiến 
Áo bạc mầu đấu tranh 
(“Tình quê hương”, Ðan Thọ và Phan Lạc Tuyên) 
Câu hát ấy là một trong những nét ký họa hình ảnh người lính trong số bao nhiêu người lính thời chiến tranh ta vẫn gặp đâu đó trên khắp các nẻo đường đất nước. 
Tôi lại gặp anh/ người trai nơi chiến tuyến 
súng trên vai bước về qua đường phố 
(“Trăng tàn trên hè phố”, Phạm Thế Mỹ) 
Người trai nơi chiến tuyến ấy, một chiều nào trên bước đường hành quân, gh qua một thôn làng miền Trung. Làng quê nghèo xơ xác, nhưng ấm áp tình người. Một vạt nắng vàng, một bóng trăng lung linh, chút tình cảm vấn vương, xao xuyến. 
Anh về qua xóm nhỏ/ Em chờ dưới bóng dừa 
Nắng chiều lên mái tóc/ Tình quê hương đơn sơ 
Tình quê hương đơn sơ như hạnh phúc thật đơn sơ, thật êm đềm làm ấm lòng người lính chiến. 
Anh sẽ là anh đàn em nhỏ 
là con của mẹ giữ quê hương 
(“Tình quê hương”, Ðan Thọ và Phan Lạc Tuyên) 
Là con của mẹ giữ quê hương, có hình tượng nào gần gũi hơn, thân thiết hơn! Từ những mẹ già đến những em thơ, từ thành thị đến thôn quê, chàng lính chiến luôn luôn là hình ảnh thân quen, luôn luôn được nhắc đến với những tình cảm trìu mến, thương yêu và tin cậy. Người lính có thể là người chồng, người cha, người con, người anh, người em, người bạn, người tình…, những người đang nắm chắc tay súng giữ yên bờ cõi, đem yên vui về cho làng xóm ruộng vườn, cho người người được hít thở không khí tự do, cho nhà nhà được đêm đêm tròn giấc ngủ. 
Bờ tre quê hương tay súng anh gìn giữ 
(“Trăng tàn trên hè phố”, Phạm Thế Mỹ) 
Những đêm “trăng treo đầu súng”, những đêm trăng di hành thay cho những đêm trăng hò hẹn của những chuyện “tình thư sinh”. 
Những đêm mười sáu trăng tròn 
vượt con đường mòn đi giữ làng thôn 
(“Mười sáu trăng tròn”, Trần Thiện Thanh) 
Tình quân dân thắm thiết qua những ánh mắt trao gửi, tin yêu, dõi theo bước chân của đoàn quân ra đi. 
Bao em tôi đôi mắt sáng ngời 
trông say sưa quân dồn bước tiến 
Tóc bạc trắng đây là những me tôi 
lòng già buồn vui nhìn toán quân xa vời 
(“Đoàn quân đi”, Việt Lang) 
Cảm xúc lòng già buồn vui là cảm xúc nao nao của lòng thương mến và nỗi tự hào về đàn con yêu hiến dâng đời mình cho tình yêu tổ quốc. Trong trái tim mơ mộng của những cô gái đương xuân thuở ấy là hình ảnh chàng lính chiến phong sương với nhịp bước oai h ng chàng tiến trong tim em… 
Chiến sĩ của lòng em đắm đuối ước mơ 
ngoài chiến trường xa dãi nắng dầm mưa 
Nhịp bước oai hùng chàng tiến trong tim em 
trong khi vang ca say theo chiến thắng 
(“Chiến sĩ của lòng em”, Trịnh Văn Ngân) 
Bài hát một thời rất được yêu chuộng qua những giọng Tâm Vấn, Thái Thanh, Thúy Nga... (nhớ lối nhấn giọng ở hai nốt nhạc “đắm đuối” của Thúy Nga trong câu hát Chiến sĩ của lòng em đắm đuối ước mơ, nghe rất là… đắm đuối). 
Những câu hát về nỗi lòng các cô gái là “người yêu của lính” thuở ấy vẫn có những nhịp bước “oai hùng” như thế… 
Chiều nay quân xuôi qua thôn vắng 
có cô em ngây thơ dừng gót hồng 
nhìn theo anh binh tươi trong nắng/ bước đi oai hùng 
(“Mơ người lính chiến”, Mai Sơn) 
Anh/ nơi biên thùy xa/ vắng muôn màu hoa 
Không hề nao núng lòng/ oai hùng nơi chiến trường 
(“Tôi nhớ tên anh”, Hoàng Thi Thơ) 
Vẫn có những khí phách “hiên ngang” như thế… 
Lòng em say vì nhớ đến chàng 
đang hiên ngang tung hoành trong khói súng
(“Chàng đi theo nước”, Hiếu Nghĩa) 
Khi nước nhà phút ngả nghiêng 
em mơ người trai anh dũng 
mang thân thế hiến giang san chí quật cường hiên ngang 
(“Chiến sĩ của lòng em”, Trịnh Văn Ngân) 
Tôi đi tìm anh/ người lính quá hiên ngang 
cầm súng giữ giang san xây Cộng Hòa 
(“Tìm anh”, Hoàng Thi Thơ) 
Người lính quá hiên ngang trong những câu hát ấy được “minh họa” rõ nét là người lính Cộng Hòa trên khắp nẻo đường đất nước. Tôi đã “đi tìm” và… “tôi đã gặp”: 
Tôi đã gặp anh/ người anh quá hiên ngang 
đi xây cuộc đời/ vì lứa tuổi đôi mươi. 
Biên cương xa xôi/ anh vì yêu sông núi 
đem vinh quang gieo ngàn nơi 
(“Tôi đã gặp”, Lê Dinh và Minh Kỳ) 
Không chỉ “oai hùng”, “hiên ngang”, người “chiến sĩ của lòng em” ngày ấy còn đượm những nét “phong trần”, “phong sương” của mưa rừng gió núi, của nắng sớm sương chiều và những gian truân đời lính. Ngắm em thơ ngập ngừng 
nhìn người lính chiến phong trần 
niềm thương dâng lên mầu mắt 
(“Chim trời chưa mỏi cánh”, Đào Duy) 
Chợt thấy lòng lưu luyến/ và tâm hồn xao xuyến 
Trông anh trai phong sương/ em thấy mà thương 
(“Đò chiều”, Trúc Phương) 
Những đoàn quân ra đi trong tiếng nhạc hùng tráng, rộn rã, thúc giục, và những “khăn hồng” tiễn đưa. 
Ra biên cương Ra biên cương 
Thiết tha lòng gái/ hôm nay nâng khăn hồng 
đưa chân anh hùng ngàn phương 
(“Ðường ra biên ải”, Phạm Duy) 
“Ðường ra biên ải” có thể xem là bài hát đầu tiên về những “em gái hậu phương” tiễn đưa những anh trai tiền tuyến nô nức lên đường. Ðoàn quân đi giữa sóng mến thương 
Xuân về mùa thắm 
Tôi thấy những nàng khăn hồng lệ thắm 
(“Đoàn quân đi”, Việt Lang) 
Người ở lại vui trong nỗi đợi chờ, cầu mong người lính chiến lập nhiều chiến công oai hùng, với giấc mơ mùa xuân nào thanh bình chàng trở về chốn cũ, nơi lệ thắm khăn hồng tiễn đưa. 
Rồi xuân đến dưới gốc mai xưa 
nơi lệ thắm khăn hồng tiễn đưa 
Em chào đón chàng về vinh quang 
bên chàng say đắm một trời xuân thanh bình. 
Em chúc cho chàng lập chiến công oai hùng 
Vang vang lời chiến thắng muôn thu 
danh chàng lừng lẫy núi sông 
(“Chàng đi theo nước”, Hiếu Nghĩa) 
Người ra đi không hẹn ngày về, không vướng bận tình thê nhi. Người ở lại vẫn một niềm son sắt thủy chung. 
Anh ơi, anh cứ đi/ mai về, em vẫn đợi 
Anh cứ đi/ anh cứ đi giết thù
không vấn vương/ không luyến thương 
(“Lời người ở lại”, Hoàng Nguyên) 
“Anh đi em ở lại nhà/ Vườn dâu em hái, mẹ già em thương”. Nỗi lòng người chinh phụ thuở xưa và những “cánh hoa thời loạn” đời nay không khác nhau bao nhiêu. 
Thương người gió lạnh đường xa 
khuê phòng em đan áo 
Thương đời bé bỏng miền quê/ anh giữ yên biên thùy 
(“Tình chàng ý thiếp”, Y Vân) 
Phía sau những chiến tích vẻ vang của người lính luôn có bàn tay góp sức của những người thân yêu, những người hy sinh hạnh phúc riêng tư, gánh chịu mọi thiệt thòi, chấp nhận mọi mất mát, rủi ro và chia sớt những nhọc nhằn của người lính trong cuộc chiến đấu cam go chống kẻ thù xâm lược. 
2. Nỗi niềm người lính 
Tôi là lính/ âm thầm tôi nghĩ thế thôi 
(“Lính nghĩ gì?”, Hoài Linh) 
Câu hát ấy cho thấy người lính vẫn có những nỗi niềm, những tâm sự đầy vơi trong những lúc “bạn cùng cây súng”. 
Những nỗi niềm ấy đọc thấy qua những dòng thư viết từ chiến trường gửi về người mẹ hiền yêu dấu nơi chốn xa quê nhà, hẹn ngày về bên mẹ khi non nước yên vui, khi quê hương không còn bóng giặc thù. 
Mẹ ơi thôi đừng khóc nữa 
cho lòng già nặng sầu thương 
Con đi say tình viễn xứ/ đâu có quên niềm cố hương 
Thương ngóng về quê cũ/ gót thù xéo thảm thê 
Bầy trai thầm rơi lệ/ súng gươm hẹn mai về 
(“Lá thư gửi mẹ”, Nguyễn Hiền và Thái Thủy) 
Hay trong những câu hát bày tỏ nỗi thương quê nhớ mẹ của người lính xa nhà. 
Đây những chiều hành quân/ Xóm nghèo dừng chân 
nhớ thương mẹ già nơi quê nhà xa xôi lắm 
(“Chiều biên khu”, Tuấn Khanh và Châu Ngân) 
Nhớ thương là vậy, thế nhưng… “Mẹ thà coi như chiếc lá bay” (7) khi quê hương còn tiếng súng, khi những đồng đội còn đón xuân ngoài chiến trường. Mẹ thương con xin đợi ngày mai, câu hát réo rắt cất lên mỗi lần Tết đến xuân về, qua giọng chứa chan tình cảm của Duy Khánh làm chảy nước mắt những bà mẹ già ngày ngày tựa cửa ngóng tin con. 
Con biết không về mẹ chờ em trông 
nhưng nếu con về bạn bè thương mong 
Bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường 
không lẽ riêng mình êm ấm 
Mẹ thương con xin đợi ngày mai 
(“Xuân này con không về”, Trịnh Lâm Ngân) 
Những nỗi niềm ấy cũng gửi gấm trong lá thư kể chuyện đời lính gửi về người em nho nhỏ quê nhà… 
Đã cách xa bao năm/ sống cuộc đời quân nhân 
súng bên mình nay mai rày đây đó 
Chiến đấu ngăn quân thù 
vì anh xót thương khi quê hương lầm than 
(“Lá thư người chiến sĩ”, Phạm Đình Chương) 

Cuộc đời quân nhân là cuộc chiến đấu gian nan, là những cuộc hành quân lội suối băng rừng, là những đoạn đường chiến binh người lính đã vượt qua và những trăn trở về một quê hương rách nát vì chiến tranh. 
Tôi thường đi đó đây/ bùn đen in dấu giày 
Đêm đêm nằm đường ngăn bước thù 
Áo nhà binh thương lính/ lính thương quê 
vì đời mà đi (“Trên bốn vùng chiến thuật”, Trúc Phương) 
Những nỗi niềm ấy cũng là chuyện “buồn vui đời lính” của những lần về ph p, những chuyến về thăm nhà. 
Ngồi bên lửa bếp gia đình êm ấm 
lặng nghe anh kể cuộc đời buồn vui 
(“Chiều biên khu”, Tuấn Khanh và Châu Ngân) 
Chuyện đời lính kể mãi kể hoài không hết, từ những mẩu chuyện chiến trường đến nỗi nhớ thương quê nhà canh cánh bên lòng. 
Ngày trở về trong bếp vui/ anh nói chuyện nghe 
chuyện đời chiến sĩ/ sống say mê 
đường xa lắm khi nương hồn về quê 
(“Ngày trở về”, Phạm Duy) 
Những nỗi niềm ấy cũng là lời giải bày với người vợ hiền đầu gối tay ấp hay với người tình gắn bó thương yêu về những hoài bão và lý tưởng của người trai thời chiến. 
Nếu biết người đi vì sông núi 
Cách chia này cho hạnh phúc mai sau 
chắc em không buồn vì người đi cho lý tưởng 
(“Kể chuyện trong đêm”, Hoàng Trang) 
Chiến tranh là cách ngăn, chia lìa. Chút niềm riêng đành gác lại, vì tình nước sâu hơn tình lứa đôi. 
Đời dâng cho núi sông 
Lòng này thách với tang bồng 
đừng làm má thắm phai hồng/ buồn lắm em ơi 
(“Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp”, Nguyễn Văn Đông) 
Khi quê hương còn mịt mù khói súng, còn tơi bời lửa đạn thì mơ chi chuyện lứa đôi. 
Nếu hiểu rằng/ anh đi vì lũ giặc tham tàn 
thì em ơi, em chớ sầu thương chi 
Em thấy chăng khói súng của giặc thù 
còn mịt mùng và còn che khuất mờ 
(“Anh đi mai về”, Hoàng Nguyên) 
Lời hát, nhạc điệu nghe réo rắt, gợi nhớ tiếng hát đôi song ca Ngọc Cẩm - Nguyễn Hữu Thiết quấn quyện vào nhau thật ngọt ngào, thật thiết tha của một mùa nào chinh chiến. 
Những lời vỗ về, nhắn nhủ ân cần, và hẹn một ngày về không xa. 
Em ơi, anh đi vì nước non mình đợi chờ 
Muôn quân đang reo/ lửa khói tung ngập mầu cờ 
Thân trai ra đi nợ nước đôi vai gánh nặng 
Buồn chi cách xa/ vì ngày vui sẽ không xa 
(“Buồn chi em ơi”, Lam Phương) 
Những thoáng hạnh phúc hiếm hoi bên người mình thương yêu. 
Đừng buồn khi xa nhau em nhé! 
Thăm em đôi ngày rồi anh đi 
(“Hoa xoan bên thềm cũ”, Tuấn Khanh) 
Những phút “tâm tình bên nhau” thật ngắn ngủi, và chia tay vội vã. 
Nụ cười đầu môi anh khẽ nói 
“Về thăm em chiều nay thôi 
sông hồ mai sớm lại đi” 
(“Chiều mưa anh về”, Trần Thiện Thanh) 
Con đường đấu tranh gian khổ còn dài, người lính chiến, những chàng trai ôm mộng hải hồ, bạn cùng sương gió, dừng chân phút giây thôi rồi lại lên đường, lại miệt mài đi trên những dặm sơn khê, trên khắp các nẻo đường đất nước để mang về mùa xuân mới cho quê hương. 
3. Giấc mơ người lính 
Ai nói với em lính không sầu nhớ 
không có trái tim đắm say mộng mơ 
(“Ai nói với em”, Minh Kỳ và Huy Cường) 
Câu hát quen thuộc vẫn nghe trên các làn sóng phát thanh ở miền Nam một thời nào, cho thấy hình ảnh “cổ điển” của những người lính lạnh lùng vung gươm ra sa trường (“Chiến sĩ Việt Nam”, Văn Cao) đã… lỗi thời. Thay vào đó là hình ảnh gần gũi, thân quen, đẹp và đôi lúc pha những nét… “lãng mạn đời lính”. 
Anh như ngàn gió/ ham ngược xuôi theo đường mây 
Tóc tơi bời lộng gió bốn phương 
(“Mấy dặm sơn khê”, Nguyễn Văn Đông) 
Trên “mấy dặm sơn khê”, trên bốn vùng chiến thuật, nơi đâu cũng in hằn dấu chân người lính. Cuộc đời lính chiến và những năm dài chinh chiến điêu linh đã khiến cho những lứa đôi yêu nhau phải… người ở một phương nhớ một phương. 
Em biết chăng đời lính/ nắng sớm với sương chiều 
Gió rừng rồi mưa núi/ đã làm anh vui nhiều 
(“Niềm tin”, Anh Linh và Nhất Tuấn) 
“Chí lớn chưa về bàn tay không” (5) thì sá gì chút tình riêng. Người trai ra đi mang trong tim hoài bão thiết tha phụng sự đất nước, nối chí người xưa để mang về một vận hội mới cho quê hương. 
Còn đây đêm cuối cùng 
nhìn em muốn nói chuyện người Kinh Kha 
ngại khơi nước mắt nhạt nhòa môi em 
(“Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp”, Nguyễn Văn Đông) 
Những “em gái hậu phương”, như những đóa hồng bên những hầm hố và hàng rào kẽm gai, vẫn mong được bàn tay người trai hùng đem tưới vun trong vườn. 
Xin anh che chở/ tấm đời nhỏ bé hậu phương 
như câu chuyện tình “Người h ng và giai nhân” 
Những cánh hoa hồng/ bên hàng rào kẽm hầm chông 
vẫn mong bàn tay người đem tưới vun trong vườn 
(“Cánh hoa thời loạn”, Y Vân) 
Chàng lính chiến vui say đời quân ngũ ngoài chiến trường xa vẫn có những phút thả hồn theo mây gió, trăng sao tìm về bên người mình yêu. 
Bao tháng ngày phong sương đường xa 
vui chiến trường quên áo hào hoa 
Tôi sẽ về tìm em/ khi trời lấp lánh sao đêm 
và gió trăng theo từng bước chân êm 
(“Tôi sẽ về thăm em”, Hoàng Nguyên) 
Nét “lãng mạn đời lính” còn theo bước chân người lính trên những dặm đường hành quân. 
Ngày hành quân/ anh đi về cánh rừng thưa 
thấy sắc hoa tươi nên mơ màu áo năm xưa 
(“Màu kỷ niệm”, Phạm Đình Chương) 
Hay trên những tiền đồn heo hút miền địa đầu giới tuyến. 
Anh ở đồn biên giới/ thương về một khung trời 
(“Niềm tin”, Anh Linh và Nhất Tuấn) 
Khung trời nào đây, nếu không phải là thành phố ấy, thành phố cao nguyên đầy mây trắng và sương mù. Câu hát làm nhớ câu thơ của “người lính” Vũ Thành. 
“Nơi em về có gì vui 
Nơi anh đồn trú suốt đời mây bay” 
“Suốt đời mây bay” nên quên cả ngày tháng, quên cả bốn mùa, cho đến lúc trông thấy những nụ mai vàng mới nở nơi bìa rừng mới biết rằng… mùa xuân đang về. 
Đồn anh đóng ven rừng mai 
Nếu mai không nở/ anh đâu biết xuân về hay chưa 
(“Đồn vắng chiều xuân”, Trần Thiện Thanh) 
Giữa đêm giao mùa, giữa phiên gác đêm, giữa tiếng súng xa vang rền, người lính mơ về những ngày xuân êm đềm. 
Xác hoa tàn rơi trên báng súng 
ngỡ rằng pháo tung bay/ ngờ đâu hoa lá rơi 
(“Phiên gác đêm xuân”, Nguyễn Văn Đông) 
Rồi đây, khi m a dứt chiến chinh/ gió dâng khúc đàn thanh bình, (6) là khi người chiến binh “giã từ vũ khí”, tìm về bên người yêu dấu để tay trong tay đi xây lại chuyện tình và nối lại những giấc mơ chưa tròn. Nếu một mai khi hòa bình 
anh sẽ trở về như giấc mơ 
cho từng ngón tay đan lại ái ân ngọt mềm 
Từng đêm không còn tiếng súng 
Ngủ đi em/ ngủ cho yên 
(“Lời cho người yêu nhỏ”, Trần Thiện Thanh) 
Anh sẽ trở về như giấc mơ, câu hát thật là đẹp! Giấc mơ ấy cũng thật là đẹp. Đêm không còn tiếng súng, quê mình thôi hết chiến tranh, giấc mơ ấy không chỉ riêng của người lính mà của triệu triệu người Việt, của cả một dân tộc khao khát tự do, mơ ước thanh bình sau bao năm dài dằng dặc quê hương chìm ngập trong khói lửa chiến tranh. 
Mai đây núi sông yên vui 
anh xong nhiệm vụ người trai 
sẽ sống với em cuộc đời 
hạnh phúc trong gió tự do muôn nơi 
Em yêu, đợi chờ em ơi... 
(“Lá thư người chiến sĩ”, Phạm Đình Chương) 
Em yêu, đợi chờ em ơi ... Câu hát ấy, lời nhắn nhủ ấy nghe thiết tha đến chạnh lòng! Như người mẹ già ngày ngày tựa cửa ngóng tin con, “người chinh phụ” đời nay vẫn năm chờ tháng đợi mỏi mòn. 
Người lính vẫn hẹn một ngày về, người vợ hiền ở miền quê xa xôi - như bao người vợ hiền thuở ấy - vẫn cứ đợi chờ, đợi chờ mãi trong giấc mơ ngày nào người lính trở về. 
4. Màu cờ còn tươi, tình yêu còn thắm 
Lòng yêu nước thương dân, tinh thần hy sinh gian khổ và chiến đấu anh dũng vì lý tưởng tự do và sự sống còn của đất nước trong những hoàn cảnh nghiệt ngã nhất, là những nét chính khắc họa nên hình tượng người lính Việt Nam Cộng Hòa. 
Chiến tranh đã đi qua nhưng những khúc hát về người lính quả cảm từng cầm súng chiến đấu dưới màu cờ tổ quốc để bảo vệ từng tấc đất quê hương, mỗi lần nghe lại vẫn nghe dậy lên niềm kiêu hãnh, nỗi tự hào về một thiên anh hùng ca của dân tộc. 
Những lời ca tiếng nhạc ấy, “bản trường ca về người lính” ấy, hơn lúc nào hết trỗi dậy trong tôi vào một ngày thật khó quên, ngày tôi được gặp lại lá cờ tôi yêu, gặp lại những người lính năm xưa “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. 
Những người lính năm xưa ấy, một số đã lìa đời, một số tóc đã điểm sương hay đã bạc trắng mái đầu, tôi vẫn gặp đâu đó, vẫn sống lặng lẽ đâu đó quanh đây trong buổi hoàng hôn của đời người.  
Những người lính “một thời ngang dọc” ấy, những người lính “nợ nước vai mang” ấy, từng phụng sự cho những lý tưởng cao đẹp, từng trải những vinh quang và nhục nhằn của một thời kỳ bi tráng nhất trong lịch sử dân tộc. 
Những người lính ấy hẳn phải có trái tim rất lớn. 
Sau những vẻ mặt lặng yên, tưởng như bình thản ấy, là những tơi bời của lửa đạn đã im tiếng, là những giông bão của lịch sử đã lắng chìm. Những người lính cũ tôi gặp lại hôm nay, lòng vẫn hướng về quê hương tội tình, vẫn nhớ về những “mảnh đất chiến trường xưa” của một thời binh lửa, vẫn ngậm ngùi một nỗi tiếc thương những đồng đội đi mãi không về. 
Hơn bao giờ hết, tôi nhận rõ một điều, những người cựu chiến binh ấy, những “người lính già” ấy “không bao giờ chết, họ chỉ nhạt mờ đi thôi”. Những người lính dũng cảm của một quân lực dũng cảm vẫn đang sống và còn sống mãi trong tâm tưởng người đời, như ngọn lửa vĩnh cửu vẫn tỏa sáng trên những đài tưởng niệm chiến sĩ anh hùng, như ngọn cờ màu vàng tươi vẫn bay ngờm ngợp trong nắng, trong gió giữa trời tự do. 
Lá cờ phơi phới như mang theo niềm tin yêu mới.
Tôi hiểu được vì sao tôi vẫn gặp những người cựu chiến binh ấy trong những lễ chào quốc kỳ. Tình yêu của họ dành cho lá cờ ấy vẫn còn nguyên vẹn, vẫn không hề nhạt phai. 
Ngước mắt trông theo lá cờ ấy, tôi vẫn còn trông thấy muôn bóng quân Nam chập chùng, vẫn còn trông thấy thấp thoáng trong mây những anh hùng tử sĩ, những chiến sĩ vô danh. 
Ngước mắt trông theo lá cờ ấy, tôi vẫn còn trông thấy tình yêu của biết bao người, những người tôi thương tôi yêu và tôi ngưỡng phục. Những người đã dám sống và dám chết cho màu cờ ấy. Những người đã nằm xuống để giữ cho tình yêu ấy còn nguyên vẹn màu cờ. 
Tình yêu ấy không mất đi, như lá cờ ấy không mất đi. Tình yêu ấy còn sống mãi, như lá cờ ấy còn sống mãi, còn bay bay mãi trong nắng sớm, trong gió chiều. 
Ôi những đoàn quân ra đi, ôi bao chiến sĩ hiên ngang đã hiến thân dưới cờ để giữ cho màu cờ ấy còn tươi mãi, cho tình yêu ấy còn thắm mãi. 
Những trang sử Việt đời đời còn ghi mãi những chiến tích vẻ vang, những chiến công lừng lẫy một thời của biết bao người lính đã chiến đấu can trường, đã hiến dâng đời mình và cả máu xương mình cho tình yêu đất nước. 
Nguồn sử xanh âm thầm vẫn sống 
Bao mối thương vang động trong lòng (7) 
Chú thích: 
(1) Lục quân Việt Nam, nhạc Văn Giảng và Hương Việt 
(2) Nếu một mai anh biệt kinh kỳ, nhạc Minh Kỳ và Hoài Linh 
(3) Chinh phụ ngâm khúc, Ðặng Trần Côn/ Ðoàn Thị Ðiểm 
(4) Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi 
(5) Tống biệt hành, thơ Thâm Tâm 
(6) Tạ từ, nhạc Tô Vũ 
(7) Hòn vọng phu III (Người chinh phu về), nhạc Lê Thương.
Đoàn Chuẩn - Từ Linh, một mùa nào lãng mạn 
Mộng nữa cũng là không... 
(“Tà áo xanh”, Đoàn Chuẩn - Từ Linh) 
Tôi thực tình không rõ là “mầu xanh ái ân” trong câu hát Có mầu nào không phai như mầu xanh ái ân... của Đoàn Chuẩn Từ Linh (ĐC-TL) có đúng là không hề phôi phai cùng năm tháng; thế nhưng, tôi biết chắc một điều là hình ảnh tà áo màu xanh thắm cùng những nét nhạc trữ tình ấy thật khó mà phai mờ trong tâm tưởng của rất nhiều người. Tôi cũng không rõ là cảnh trí mùa thu đất ắc đã quyến rũ ĐC-TL đến đâu để viết nên câu hát Mùa thu quyến rũ anh rồi; thế nhưng, tôi biết một điều khá rõ ràng là những bản tình ca mùa thu thật êm dịu của hai chàng nghệ sĩ đa tình ấy đã thực sự quyến rũ biết chừng nào những người yêu nhạc của hơn một thế hệ. 
Tuổi trẻ tôi ngày ấy, cho dù chỉ ở vào lứa tuổi mới biết yêu thôi, cũng đã từng có những phút giây để lòng mình lắng xuống, thả hồn vào thế giới âm nhạc lãng đãng của những sáng mong chờ mùa thu, của những phong thư ngào ngạt hương, của những xác pháo bên thềm tản mác bay và những mối tình dở dang hẹn chờ nhau đến kiếp nào... 
Hai chàng nghệ sĩ, một mối tình thu 
Đoàn Chuẩn hay Từ Linh, Từ Linh hay Đoàn Chuẩn, ai là người thực sự đã viết nên những khúc nhạc tình làm rung động trái tim người nghe ấy? Hai người cùng viết chung hay chỉ một người viết (người kia chỉ đứng tên cho vui vậy)? ài nào viết chung, bài nào viết riêng? Bài nào của người này mà không phải của người kia? Tại sao cũng bài nhạc ấy, khi thì ghi tên người này, khi lại ghi tên người khác? Người này viết nhạc, người kia viết lời, có phải vậy?... Những câu hỏi không có lời giải đáp hoặc có những lời giải đáp không giống nhau (của những người tự nhận quen biết tác giả hoặc am hiểu chuyện ấy). Trong số những nhạc phẩm của ĐC-TL được các nhà phát hành nhạc Tinh Hoa và An Phú in lại ở miền Nam trước năm 1975, hai cái tên này có khi được tách riêng, chẳng hạn “Tà áo xanh”, “Lá thư”, “Lá đổ muôn chiều” được ghi là của Từ Linh, “Chuyển bến” được ghi là của Đoàn Chuẩn. Không rõ các nhà phát hành ấy đã dựa trên những căn cứ nào để đánh rơi một trong hai cái tên, và chứng cứ ấy liệu có xác thực (?). Trong bài trả lời phỏng vấn đăng trên một tờ báo ở trong nước (Tuổi Trẻ Chủ Nhật, tháng 10/1995), nhạc sĩ Đoàn Chuẩn cho biết là ông đã ký tên ĐC-TL cho bài nhạc đầu tiên của ông. (Từ Linh là em một người bạn khá thân của ông Đoàn Chuẩn. Ông rất quý mến cậu em này và xem như bạn vậy). Bài nhạc ấy và cái tên ấy được nhiều người yêu thích, và thế là từ đấy về sau ông cứ ký tên chung như vậy cho những bài nhạc tiếp theo. 
Tôi cũng được trông thấy ông Đoàn Chuẩn trong một băng ghi hình (năm 1997), và người ta cũng hỏi ông những câu hỏi nhiều người muốn biết. Tiếc rằng ông không thể trả lời được. Giọng nói của ông khi ấy chỉ còn là những lời thều thào một cách khó khăn, và chân trái ông bị liệt vì chứng áp huyết cao (bà vợ ông cho biết như vậy). Người trả lời thay cho ông là bà vợ yêu quý, có khuôn mặt và dáng vẻ phúc hậu, cho biết là “Tất cả những bài nhạc ông Chuẩn làm, thường là ông và chú Từ Linh vẫn có trao đổi với nhau”, mà không giải thích rõ “trao đổi” nghĩa là sao (bàn soạn, góp ý, nhận xét phê bình, khen chê hay dở, đề nghị thêm bớt, sửa đổi, hay còn có nghĩa gì khác...?). Chữ dùng của người miền ắc đôi lúc không dễ hiểu. Về “nhân vật” Từ Linh (ngoài vài tấm ảnh đen trắng mờ mờ chụp chung với Đoàn Chuẩn thuở cả hai còn phong độ, đến nay vẫn cứ là dấu hỏi lớn), bà Đoàn Chuẩn cũng không cung cấp thêm được tin tức mới mẻ nào, ngoài việc cho biết hai chàng nghệ sĩ này là đôi bạn tri kỷ, vẫn thường hàn huyên tâm sự rất là tương đắc, có khi hàng giờ không biết mệt, và “Ngày chú Từ Linh mất, ông Chuẩn có ở cạnh giường cho đến lúc chú ấy đi...” 
Có vẻ bà Đoàn Chuẩn cũng không biết gì nhiều lắm về sự nghiệp sáng tác của ông chồng mình nên chỉ tiết lộ qua loa một vài điều (mà nhiều người cũng đã biết), chẳng hạn ông Đoàn Chuẩn rất là say mê âm nhạc, lúc nào cũng kè kè cây đàn bên cạnh, và “Tình nghệ sĩ” là sáng tác đầu tay từ thuở ông còn cắp sách đến trường. à cũng thú nhận là “Không để ý lắm đến những bài nhạc ông Chuẩn làm”, và mãi đến năm 1987, khi nhạc Đoàn Chuẩn được cho phổ biến lại ở trong nước, bà mới có cơ hội được... thưởng thức đầy đủ những bài nhạc ấy. 
Vậy thì Đoàn Chuẩn hay Từ Linh, biết ai là ai đây? Cứ theo như lời nhạc sĩ Đoàn Chuẩn được ghi lại trong bài phỏng vấn ấy (nếu được ghi lại trung thực) và các câu trả lời của bà Đoàn Chuẩn (không được rõ ràng, đầy đủ lắm) thì có vẻ như là Đoàn Chuẩn (tên đầu trong cái tên gh p chung ấy), chứ không phải Từ Linh, nhiều phần là tác giả, là nhân vật chính đã viết nên những tình khúc nổi tiếng được nhiều người yêu nhạc biết đến dưới cái tên “Đoàn Chuẩn-Từ Linh”. Ông Từ Linh là người có “trao đổi”, có “tham gia” đôi chút vào việc biên soạn những tình khúc ấy... Từ Linh lại qua đời trước Đoàn Chuẩn (năm 1987, nghe đâu vì bệnh ung thư cổ). Người chết thì chịu không thể lên tiếng gì được, nên mãi đến nay người ta vẫn chẳng biết gì nhiều về ông, ngay cả chuyện ông có phải là nhạc sĩ, có biết soạn nhạc hay không, hoặc chỉ biết thưởng thức và bình phẩm về âm nhạc, đặc biệt là âm nhạc của ông bạn Đoàn Chuẩn, nghĩa là chỉ khiêm tốn đóng vai Chung Tử Kỳ mà thôi. Thực hư thế nào, chẳng ai biết được. 
Buồn thay và cũng trớ trêu thay, năm ông lìa đời cũng là năm những nhạc phẩm của ĐC-TL được ký giấy phép cho phổ biến lại ở trong nước, vì thế không chắc là ông có đã dịp nào để nghe được những bài nhạc mà nếu ông không dự phần vào việc sáng tác thì cũng ít nhiều liên hệ. Ít ra thì Đoàn Chuẩn cũng may mắn hơn ông chút đỉnh (dù khá muộn màng) là “thân bại” nhưng “danh chưa liệt”, vào những năm tháng cuối đời còn được người đời đến gõ cửa xin phỏng vấn ít câu. Còn Từ Linh, vì ít có ai biết rõ về ông, cũng chẳng ai kịp phỏng vấn, hỏi han gì đến ông như là Đoàn Chuẩn nên ông không có được cơ hội nào để bộc lộ. Ông chỉ như chiếc bóng mờ nhạt bên cạnh Đoàn Chuẩn. Ngay đến những tin tức về năm tháng ông Từ Linh từ biệt cõi đời này cũng khá mơ hồ và không được đồng nhất, tin thì nói ông mất năm 1987, tin khác lại nói ông mất năm... 1992 (chênh lệch đến năm năm chứ ít sao!). Thành thử, ông Từ Linh này đến với cuộc đời thật âm thầm, mà ra khỏi cuộc đời cũng thật lặng lẽ, không ai biết chẳng ai hay!... Về những tin khác, chẳng hạn Từ Linh di cư vào Nam năm 1954 cũng chỉ là “nghe vậy thì biết vậy”, và nếu đúng như thế thì chắc phải có lý do gì đó mới khiến ông im hơi lặng tiếng kỹ như vậy, không muốn cho người đời biết mặt biết tên. Ông quả là con người nghệ sĩ có lai lịch rất mù mờ và đạt thành tích khá cao về mai danh ẩn tích. 
Đoàn Chuẩn hay Từ Linh, Từ Linh hay Đoàn Chuẩn, ai tài hoa hơn ai? Nếu chỉ căn cứ vào những tấm ảnh hai chàng chụp chung với nhau thời còn trai trẻ thì Đoàn công tử có nhiều phần đẹp trai hơn, nhưng chàng nào trông cũng có vẻ “nghệ sĩ đa tình” cả. Phong lưu hơn, chắc phải là Đoàn Chuẩn, vì chàng là công tử con nhà giàu. Thân mẫu chàng, góa phụ từ thời còn xuân sắc, một tay gây dựng cơ đồ, tạo được sản nghiệp lớn là hãng nước mắm “Vạn Vân” nức tiếng thời ấy (nghe chẳng có chút gì… văn nghệ và lãng mạn cả), vẫn được truyền tụng trong câu “nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét”. Một trong những bài nhạc đầu tay của Đoàn Chuẩn, “Ánh trăng mùa thu” (nghe được qua giọng hát Thái Thanh), đã dành nguyên trang bìa sau của bản nhạc (1953) để quảng cáo hãng nước mắm Vạn Vân. 

Chàng nghệ sĩ Đoàn Chuẩn được nuông chiều hết mực và ăn xài rộng rãi, thả giàn. Một trong những cái thú chơi của chàng thời đó là sưu tập... xe hơi, một mình chàng có đến sáu bảy chiếc ô-tô mới toanh. Theo nhạc sĩ Phạm Duy cho biết, “đã vài lần được trông thấy công tử họ Đoàn lái chiếc xe Ford mui trần kiểu Fr gatte mầu trắng đi học đàn...” Cả ắc kỳ thuở ấy chỉ có được hai chiếc bóng loáng thì chàng và ngài thủ hiến chia nhau mỗi người một chiếc, và chàng cũng lấy làm tự hào về điều đó lắm. (Chắc là chàng cũng ít nhiều tiếc nhớ thời vàng son ấy nên trong “Đường về Việt Bắc” mới có câu Tiếc đời gấm hoa ta đành quên). Chàng được nuôi cho ăn học đàng hoàng, không rõ có học tới nơi tới chốn, chỉ biết là môn học mà chàng say mê nhất là âm nhạc, và chàng cũng sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ như vĩ cầm, tây ban cầm và hạ uy cầm. (Một trong những người thầy có uy tín của chàng là nhạc sĩ Nguyễn Thiện Tơ, tác giả “Giáo đường im bóng”). Vừa đẹp trai, vừa con nhà giàu, lại vừa tài hoa lẫn phong lưu rất mực như vậy, chắc hẳn cánh bướm đa tình là chàng đã phải mặc sức mà đ a vui trên muôn hoa, bên những bông hồng đẹp xinh của Hà thành hay thành phố Cảng, chứ đâu có lý nào chàng lại than thở Thuyền tình không bến đỗ, người ơi và thở than Đời sao buồn chi mấy cố nhân ơi, nghe mà thảm sầu!... 
Sự nghiệp sáng tác âm nhạc của ĐC-TL cũng khá khiêm tốn, được đâu khoảng chục bài nhạc, từ năm 1948 đến 1956, kể từ bài đầu tiên được trình làng là “Tình nghệ sĩ”, nhưng cũng đủ để lại những dấu ấn đậm nét và được người đời mãi nhắc tên. Có người còn kể thêm ra một danh sách cũng đến gần chục bài nữa, gọi là những sáng tác của Đoàn Chuẩn chưa hề được phổ biến, không rõ có đúng vậy và cũng chẳng biết đâu mà kiểm chứng. Thực ra ai cũng biết, điều đáng nói đâu có phải là ở số lượng, một chục hay mấy chục bài được viết ra, mà là những bài nhạc nào đã đến được và ở lại được trong lòng người yêu nhạc. 
Tất nhiên, như hầu hết những nhạc sĩ sáng tác khác, không phải tất cả những bài nhạc ĐC-TL viết ra đều hay, đều là “tuyệt phẩm” như nhiều người vẫn gọi... Ở những bài như “Cánh hoa duyên kiếp”, “Gửi người em gái miền Nam” (1)…, ta thấy nhạc điệu và lời hát cũng đã kém hay so với những bài trước đó. Điều rõ ràng là, sau ngày nhạc sĩ Đoàn Chuẩn qua đời, người ta vẫn hay làm công việc giới thiệu lại những tình khúc gọi là “tiêu biểu” của hai ông, được hiểu là những bài hay nhất, được nhiều người yêu chuộng nhất, những bài kể trên ít được nhắc đến... Ngoài những bài nhạc được phổ biến từ trước, những bài khác nữa nếu có, cũng ít người biết đến, ít được giới yêu nhạc chú tâm và tán thưởng. Tôi có được nghe qua ít bài nhạc được giới thiệu là sáng tác của Đoàn Chuẩn những năm về sau này, qua giọng hát của vài ca sĩ tên tuổi, nhưng vẫn không nghe ra được cái xao xuyến, không bắt gặp được cái rung động “đoàn chuẩn-từ linh” như mỗi lần nghe lại những bài quen thuộc trước đó. Trong số những “tuyệt phẩm” ấy, có bài cả nhạc lẫn lời nghe qua thấy tầm thường, không thấy “Đoàn Chuẩn” đâu cũng chẳng thấy “Từ Linh” nào trong đó cả, tựa như những mặt hàng sản xuất được dán vào cái nhãn hiệu nhiều người ưa chuộng, nhưng người tiêu dùng vẫn cảm thấy không đúng là mặt hàng mình yêu thích. Lại có những bài không rõ xuất xứ và người tìm ra nó có lẽ đã đánh rơi đâu mất cái tựa, nên phải gán cho nó cái tên khác, “Vĩnh biệt” hay “Xin vĩnh biệt” gì đó (ngụ ý đây là nhạc phẩm cuối cùng của nhạc sĩ trước khi nhắm mắt xuôi tay). Sau đấy chắc thấy không ổn (bài hát được “phát hiện” là sáng tác năm 1953, còn quá sớm để… “vĩnh biệt”), bèn đổi ra cái tựa khác là “Bài ca bị xé ” cho có vẻ… gay cấn, ly kỳ. Rồi sau đấy chắc nghe hơi… kỳ kỳ bèn đổi ra là “Vàng phai mấy lá” cho có vẻ... Trịnh Công Sơn hơn (cũng từa tựa, gần gần với “Vàng phai trước ngõ” hoặc “Chiếc lá thu phai” của nhạc sĩ họ Trịnh), trong lúc ai cũng hiểu là thuở ấy làm gì có cái lối đặt tựa kiểu “hoa vàng mấy độ”, “tóc xanh mấy mùa”... như thế. Nội dung bài hát vay mượn câu chuyện tình éo le ngang trái trong truyền thuyết xa xưa để giải bày nỗi niềm (vốn là sở trường của Phạm Duy, Văn Cao hơn là ĐC-TL)... Có vẻ như là những bài nhạc ra đời những năm về sau này chỉ với tên Đoàn Chuẩn không thôi (mà không có Từ Linh bên cạnh) không phải là những bài nhạc hay như những bài phổ biến từng được nhiều người yêu thích. 
Trở lại với cái tên ấy, Đoàn Chuẩn hay Từ Linh, Từ Linh hay Đoàn Chuẩn, hai tên hay một tên, thiết nghĩ cũng đâu có gì phải hoài công tìm hiểu, vì chính người viết ra cái tên ấy cũng chẳng hề bận tâm, cũng chẳng xem chuyện gì là quan trọng. Cứ xem như một cái tên cũng được vậy, có sao đâu. Hai tên đã như một tên gọi đầy tình thương mến và ngưỡng mộ đối với người yêu nhạc. Người đời vẫn cứ nói “Bài hát ấy là của Đoàn Chuẩn-Từ Linh”, chứ không nói “... là của Đoàn Chuẩn và Từ Linh”. Tác giả của những bản tình ca đó đã muốn ghép chung hai cái tên ấy thành một, vậy thì ta cũng nên tôn trọng, cũng nên hiểu như vậy mà xếp hai cái tên ấy nằm kề bên nhau, gần lại với nhau. Hơn thế nữa, một khi đã xem mối tình nghệ sĩ chỉ như giấc mơ thôi và đã từng có những lúc quay lưng lạnh lùng mà đi luyến tiếc thêm chi, thì có sá gì một cái tên mà hai chàng chẳng gửi gió cho mây ngàn bay... (Những giai thoại về hai chàng nghệ sĩ này có khá nhiều, chẳng biết đâu là hư là thực, chẳng biết đâu mà kiểm chứng, và phạm vi bài này cũng không có ý định tìm hiểu tính cách xác thực của những giai thoại ấy. Sau cùng có lẽ nên nói như nhạc sĩ Phạm Duy, “Trừ phi chính Đoàn Chuẩn viết ra những lời phủ nhận, Từ Linh vẫn không phải là người được ghép tên vào ca khúc”). 
Kể ra trong lịch sử âm nhạc và trong số những nhạc sĩ tên tuổi của chúng ta, thật hiếm thấy có đôi nhạc sĩ nào gắn bó với nhau thân thiết và tri kỷ đến như vậy. Khi cùng gắn bó với mùa thu, với những mối tình dang dở, hai chàng cũng đồng thời gắn bó với nhau; khi cùng yêu một màu áo, cùng yêu một cung đàn, hai chàng cũng cùng chung một mối tình. 
“Mùa thu quyến rũ anh rồi!” 
Cuốn video tape ca nhạc ấy cũng chẳng có gì đặc biệt lắm, thế nhưng có một đoạn phim ngắn không tới một phút, giới thiệu một trong những tình khúc của ĐC-TL, cứ làm tôi nhớ mãi. Một người ngồi trong căn phòng mờ mờ tối, chậm chạp đứng dậy, chậm chạp bước những bước nặng nhọc về phía cửa, chậm chạp đặt nhẹ bàn tay lên nắm cửa. Cánh cửa từ từ mở ra, chút ánh sáng lùa vào. Một vòm trời, một chiếc lá rơi. Không gian ấy không rõ là buổi sáng hay buổi chiều. Người đàn ông đứng quay lưng, không nhìn rõ mặt. Người ấy là ông Đoàn Chuẩn. ài hát được giới thiệu là “Gửi gió cho mây ngàn bay”. 
Với bao tà áo xanh, đây mùa thu... 
Câu nhạc đầu nghe như bàn tay kéo nhẹ tấm màn cửa mở ra khung trời bát ngát màu xanh, bát ngát mùa thu. Mùa thu của ĐC-TL. 
Trước và sau ĐC-TL cũng đã có nhiều nhạc sĩ viết về mùa thu, và có nhiều ca khúc khá hay về mùa thu nữa, thế nhưng mùa thu trong nhạc ĐC-TL vẫn như có khí hậu riêng, không gian riêng, khiến người nghe nhận ra những khác biệt. Mùa thu ấy không chỉ thật đẹp, thật quyến rũ, mà còn là mùa thu của những chuyện tình yêu một sớm/ nhớ nhau bao mùa thu... 
Thực ra, đâu phải chỉ có mùa thu, trong nhạc ĐC-TL ta nghe cả bốn mùa. Qua những lời nhạc trữ tình, ta như nghe được những đổi thay của thời tiết, của khí hậu từng mùa. Những mùa màng của đất trời, hay mùa màng của tình yêu, hay mùa màng của đời người. Thế nhưng nhiều nhất vẫn cứ là mùa thu. Hầu như không có bài nhạc nào của hai chàng nghệ sĩ ấy lại không bàng bạc ít nhiều tình thu, ý thu, lại không phảng phất chút hương thu dịu nhẹ. Có khi là cụm mây lững lờ trôi về cuối trời, là cơn mưa làm rụng lá vàng, là cánh hoa tàn tạ trong đêm tối, hay nỗi tiếc nhớ những mùa thu không trở lại... 
Có rất nhiều lá vàng trong mùa thu của ĐC-TL, và lá vàng rơi không làm sao đếm hết.
Lá vàng từng cánh rơi, từng cánh (“Gửi gió cho mây ngàn bay”) 
Mưa rơi làm rụng lá vàng (“Thu quyến rũ”) 
Thôi thế từ nay như lá vàng bay... 
Lá thu còn lại đôi ba cánh (“Lá đổ muôn chiều”) 
Lá thu lìa cành nhớ hoa ngàn xưa (“Tình nghệ sĩ”) 
Những chiếc lá lìa cành mà hai chàng gọi là những cánh đời mong manh hay là nước mắt người đi. Trên những dòng nhạc ấy, chỉ thấy những hoa rơi, lá rơi, và những chuyện tình buồn vời vợi... 
Mùa thu có đẹp nhưng sao nghe cứ man mác buồn! Thực ra đâu có riêng gì mùa thu, mùa nào trong nhạc ĐC-TL cũng có vẻ buồn cả. (Mùa xuân mà lá vẫn bay..., vẫn hoa mai rơi từng cánh trên đường... thì đâu có vui gì!). 
Nhưng tại sao lại là mùa thu? Có phải vì mọi chuyện khởi đầu từ mùa thu... 
Ta quen nhau mùa thu/ ta thương nhau mùa đông 
ta yêu nhau mùa xuân (“Tà áo xanh”) 
Nhớ tới mùa thu năm xưa 
gửi nhau phong thư ngào ngạt hương (“Lá thư”) 
Và kết thúc cũng vào mùa thu… 
Để mùa thu lá vàng khóc tình ta (“Vàng phai mấy lá”) 
Nhưng một sớm mùa thu/ khép giữa trời tím ngắt 
nàng đi gót hài xanh (“Gửi người em gái miền Nam”) 
Chuyện tình mùa thu để lại nhiều hối tiếc. 
Thu nay vì đâu tiếc nhiều 
Thu nay vì đâu nhớ nhiều (“Thu quyến rũ”) 
Mùa thu ĐC-TL đẹp như bài thơ. Có khi chỉ trong một bài nhạc, “Cánh hoa duyên kiếp” chẳng hạn, ta nhặt ra được những câu thơ viết về mùa thu thật là đẹp, tưởng như hai chàng nhạc sĩ bỗng nhiên nổi hứng, bỏ nhạc quay sang làm thơ vậy. 
Yêu một sớm/ nhớ nhau bao mùa thu...
Tình em như mây trong mùa thu bay rợp lối... 
Trong hương thu màu tím buồn (cũng tựa như “màu thời gian tím ngát” trong thơ Đoàn Phú Tứ). 
Mùa thu ĐC-TL đẹp như tranh vẽ. Có khi chỉ là những nét chấm phá. Hàng cây đứng hững hờ 
Lá vàng từng cánh rơi từng cánh 
(“Gửi gió cho mây ngàn bay”) 
Có khi là cảnh trí đầy mầu sắc, bầu trời trong xanh, bướm hoa và chim chóc. 
Và cánh chim ngập ngừng không muốn bay... (như sợ làm “vỡ” mùa thu) 
Trời đất kia ngả mầu xanh lơ 
Đàn bướm kia đùa vui trên muôn hoa 
bên những bông hồng đẹp xinh 
(“Thu quyến rũ”) 
Làm sao có thể vẽ được bức tranh sinh động ấy, làm sao có thể bắt được những rung động của thiên nhiên ấy nếu không có một trái tim thật là nhạy cảm. Người nghe tưởng nghe được cả tiếng thở nhẹ của mùa thu, tưởng thấy được cả không gian lắng đọng của đất trời vào thu, tưởng chạm tay vào được cả vạt áo dài lướt thướt của mùa thu, và như ngất ngây trong khoảnh khắc dìu thế nhân dần vào chốn thiên thai ấy. 
Nàng thu của ĐC-TL mang vẻ đẹp tự nhiên, không trang hồng điểm phấn, không tô vẽ màu mè, như thể trời cho thế nào thì cứ bày ra như vậy. Nàng thu ĐC-TL mang vẻ đẹp đơn sơ, nhưng cũng thật mơ màng và tình tứ, quyến rũ và mời mọc. 
Những chữ “thế nhân”, “trần gian”, “đường trần”, “tình trần”, hoặc “người đời”, “nhạc đời”... vẫn hay được ĐC-TL đưa vào trong lời nhạc như thể hiện ước muốn kéo lại gần hơn những giấc mơ xa vời và hoang tưởng của con người. ộng nữa cũng là không..., câu ấy đâu phải hai chàng chỉ nói với chính mình mà còn muốn nhắn nhủ với “người đời”. Nhà phê bình Đặng Tiến đã làm một sự so sánh khá thú vị, “Đoàn Chuẩn-Từ Linh đã đưa Thiên Thai về đây với thu trần gian, trong khi Văn Cao phải lên tận cõi Đào Nguyên.” 
Tôi vẫn cho rằng “Thu quyến rũ” là một trong những bài hát hay nhất nói về mùa thu. Những nốt nhạc mềm mại rót xuống ở cuối câu hát Mùa thu quyến rũ anh rồi! nghe như chiếc lá vàng lìa cành nhẹ rơi trong không gian tĩnh lặng của mùa thu. 
“Thu quyến rũ” phải được nghe bằng giọng nam chứ giọng nữ thì ít thấy... quyến rũ, nhất là khi lời nhạc bị đổi thành Em mong chờ mùa thu hoặc a thu quyến rũ em rồi thì không thấy... mùa thu ĐC-TL ở đâu cả! Cũng chẳng có gì là sai quấy, chỉ có điều trước giờ người ta vẫn nghe ĐC-TL là nghe Anh mong chờ mùa thu hoặc Mùa thu quyến rũ anh rồi Hơn thế nữa, Tà áo xanh nào về với giấc mơ ở đây nhất định không phải là tà áo xanh của… chàng về trong giấc mơ của nàng, vậy thì “Mầu áo xanh là mầu em trót yêu” nghe cũng hơi... sường sượng. (Dù sao vẫn còn khá hơn là Khi nào anh đến với em, xin đừng quên chiếc áo xanh...!). 
Nghe nhạc ĐC-TL là nghe mùa thu kể chuyện tình, là nghe những lời tự tình ngọt ngào hay buồn bã của những người yêu nhau và xa nhau. Những chuyện tình như mang theo cả khí hậu của mùa thu ấy, đẹp và buồn. 
Mùa thu trong nhạc ĐC-TL không có cái buồn ủ rũ, ảo não của cây hắt hiu ngừng trôi.../ mưa giăng mù lê thê... như “Giọt mưa thu” của Đặng Thế Phong, cũng không có cái buồn se sắt, rã rượi của Năm tháng qua dần mùa thu chết bao lần... như “Buồn tàn thu” của Văn Cao, cũng không có cái buồn tái tê, sướt mướt của Nước mắt mùa thu khóc cho cuộc tình... như “Nước mắt mùa thu”, hoặc mùa thu đã chết/ đã chết rồi/ em nhớ cho... như “Mùa thu chết” của Phạm Duy... Mùa thu ĐC-TL có buồn nhưng chỉ là cái buồn phảng phất, nhẹ nhàng như chìm lắng trong mơ, như được bao phủ trong màn sương lãng đãng, đượm chút thi vị ngọt ngào trong từng cánh lá thu màu vàng úa và trong hương thu màu tím buồn. Mùa thu ấy có vẻ gần với cái buồn mênh mang trong “Thu vàng” của Cung Tiến hay cái buồn mơ màng trong “Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư hơn. 
Mùa thu ĐC-TL mang vẻ “cổ điển”, nhưng là cái vẻ cổ điển muôn đời muôn thuở của thiên nhiên, của đất trời, của hàng cây khô trụi lá, của cụm mây thu lờ lững, của bóng trăng thu mơ màng..., tất cả đều nhuốm một vẻ buồn man mác khi “mùa thu buông áo xuống phương này”. (2) 
Mùa thu ĐC-TL là mùa thu trần gian, là thu của bốn mùa, là thu của những chuyện tình, và chắc chắn không giống, không phải là mùa thu “cách mạng” như những chuyển hướng sáng tác của không ít những nhạc sĩ ở cùng thời để cố gắng bắt kịp những đổi thay hay đáp ứng những yêu cầu của tình thế. Tất cả những thứ đó không vào được trong mùa thu và trong dòng nhạc của ĐC-TL. 
Mặc cho những biến động, những xoay vần của thời cuộc, mặc cho bao nhiêu là vật đổi sao dời, bao nhiêu là tang thương dâu bể, đất trời vẫn cứ bốn mùa, mùa thu của ĐC-TL vẫn cứ ở lại, và cũng chính vì thế, chính điều này đã khiến mọi người yêu thêm những dòng nhạc, yêu thêm những “mùa thu đoàn chuẩn-từ linh”. 
“Mầu áo xanh là mầu anh trót yêu” 
Nếu gọi Hoàng Trọng là “nhạc sĩ của mầu tím”, thì chắc chắn danh hiệu… “nhạc sĩ của mầu xanh” phải thuộc về tay ĐC-TL chứ không thể là ai khác. Có lẽ cái tên ấy nghe không được hay lắm nên chưa thấy có ai gọi như vậy, nhưng dù sao vẫn cứ đúng hơn là ghép tên hai chàng nghệ sĩ này với mùa thu, vì không có mùa thu này ta còn mùa thu khác, không có ĐC-TL ta vẫn có những nhạc sĩ khác viết về mùa thu, chứ còn mầu xanh thì hầu như trước sau chỉ có hai chàng là tỏ ra nâng niu và gắn bó thiết tha hơn cả. 
Thực ra, không hẳn là hai chàng chỉ sử dụng có một màu xanh để vẽ lên những nét nhạc tình, những màu sắc khác như mầu tím chẳng hạn, vẫn có đấy chứ. Nhưng trên hết và nhiều nhất, vẫn cứ là mầu áo xanh. 
Hầu như ĐC-TL không bỏ lỡ dịp nào để đưa mầu áo xanh mà hai chàng “trót yêu” vào trong những lời nhạc của mình. 
Hẹn một ngày nao 
khi màu xanh lên tà áo (“Cánh hoa duyên kiếp”) 
Với bao tà áo xanh 
đây mùa thu (“Gửi gió cho mây ngàn bay”) 
Gửi thêm ánh trăng mầu xanh lá thư..., rồi lại 
Gửi thêm lá thư mầu xanh ái ân (“Lá thư”) 
(Chỉ gửi đi toàn một mầu xanh) 
Tà áo xanh nào về với giấc mơ (“Thu quyến rũ”) 
(“Giấc mơ xanh”, có thể gọi vậy) 
Nhưng một sớm mùa thu/ khép giữa trời tím ngắt 
nàng đi gót hài xanh… (Gửi người em gái miền Nam) 
(Phải là gót hài “xanh” chứ không chịu màu gì khác) 
Khi cần tô đậm thêm cho mầu xanh ấy thì hai chàng gọi là “mầu xanh ái ân”: 
Có mầu nào không phai 
như mầu xanh ái ân (“Tà áo xanh”) 
(Chẳng biết đúng, sai! Nói vậy chắc phải vậy) 
Có rất nhiều, rất nhiều màu xanh như thế trong lời nhạc ĐC-TL. 
Thử nghe lại “Tà áo xanh” (có tên khác là “Dang dở”), bài hát tiêu biểu trong số những bài tiêu biểu. Gọi là “tiêu biểu” vì được nhiều người hát nhiều người nghe, vì cái tựa có “mầu xanh” của bài hát, và vì cả bài hát ấy là câu chuyện tình được kể lại một cách trọn vẹn nhất. 
Tôi vẫn cho rằng câu hát mở đầu trong những bài nhạc của ĐC-TL luôn luôn là một trong những câu hay nhất, dẫn đưa người nghe vào thế giới âm thanh ĐC-TL, như bước vào cánh rừng thu ngập xác lá vàng. Ở “Tà áo xanh”, khởi đầu là gió. Gió từ muôn hướng. Một mảnh hồn đầy gió. 
Gió bay từ muôn phía/ tới đây ngập hồn anh... 
Gió ấy chắc phải lạnh nhiều, kể từ lúc anh ra đi lạnh gi tâm hồn... Gió mang lời dẫn nhập câu chuyện tình được kể lại, gió cũng đưa tình lên chơi vơi, đưa thuyền anh một lá ra khơi... (Hình ảnh con thuyền có vẻ được ĐC-TL đặc biệt ưa chuộng, dùng đi dùng lại nhiều lần. Khi thì Thuyền cắm tay sào tự cuối thu, lúc thì Thuyền tình không bến đỗ, người ơi! lúc thì Thuyền đã sang bờ/ đường về không lối. Có lúc lại ví von Tình anh một con thuyền bé/ chìm sâu đại dương một đêm nổi sóng. Lại có cả một bài hát nói về con thuyền nữa, như Thuyền anh mai ra đi rời bến... trong “Chuyển bến”. Lại có bài hát chở theo một lúc đến mấy con thuyền, khi thì Người em nhỏ bé ngồi trong thuyền hoa, lúc thì Thuyền phiêu lãng từ nay không bến đỗ, lúc thì Thuyền rời xa bến vắng, người ơi! trong “Lá đổ muôn chiều”. Có rất nhiều thuyền bè lờ lững, nổi trôi trên dòng nhạc ĐC-TL). 
Đêm đêm ngồi chờ sáng mơ ai... 
Phải yêu say đắm lắm, thiết tha lắm mới trải qua bao đêm thức trắng để chỉ ngồi chờ sáng và mơ tưởng đến một bóng hình, dẫu biết rằng người mơ không đến bao giờ. 
Ta quen nhau mùa thu/ ta thương nhau m a đông 
Ta yêu nhau mùa xuân/ để rồi tàn theo mùa xuân 
Liệu có là “bốn mùa yêu nhau”, hay chỉ là những mùa màng của tình yêu? 
Người về lặng lẽ sao đành 
Lời trách cứ hay là tiếng thở dài? 
Anh còn nhớ em nói rằng.../ Em còn nhớ anh nói rằng... 
Đâu phải chỉ là những lời thề hẹn chót lưỡi đầu môi hay lời tình tự ngọt ngào của một mùa ái ân, mà còn là nỗi niềm trăn trở vì những câu hỏi vì sao và… vì sao. 
Sao mùa xuân lá vẫn rơi? Sao mùa xuân đến không vui? 
Có hoa nào không tàn? Có tình nào không phai?... 
Những câu hỏi và câu hỏi không có lời giải đáp. 
Khi nào em đến với anh/ xin đừng quên chiếc áo xanh... 
Làm sao mà quên được, làm sao mà khước từ cho được lời dặn dò ân cần, thiết tha đến vậy! 
Rồi chiều nao/ xác pháo bên thềm tản mác bay... 
Câu nhạc chuyển đoạn ở chỗ này thật khéo, thật đẹp. (Các nhạc sĩ thời ấy vẫn hay sử dụng những câu nhạc chuyển tiếp như vậy. Anh Việt trong “Thơ ngây” chẳng hạn, Rồi một hôm/ có chàng trai trẻ đến nơi này... Hoặc, cũng ĐC-TL trong “Gửi người em gái miền Nam”, Rồi ngày thống nhất đến rất nhanh không ai ngờ...). Như cuốn tự truyện vừa lật sang một chương khác, như cuốn phim, vở kịch vừa chuyển sang một cảnh khác, màn khác, mở ra khung cảnh mới, không gian mới, dẫn đến kết thúc câu chuyện tình dở dang. Tôi yêu hai chữ “tản mác” trong câu hát ấy, tưởng trông thấy được xác pháo đỏ tươi, vật vờ, nhẹ cuốn theo làn gió đùa. Chuyện tình ấy, xác pháo ấy rồi “cuốn theo chiều gió”. Hai người đã hai lối đi.
Em đi trong xác pháo 
anh đi không ngước mắt... 
Hình ảnh anh chàng thất tình, cúi đầu cúi mặt, lầm lũi bước đi trong ngày cưới của người yêu mới tội nghiệp làm sao, mới thương tâm biết chừng nào! Chỉ là xác pháo, chỉ là những bước đi câm lặng, không nói gì đến tình cảm vui, buồn, nhưng vẫn làm gợn lên nỗi xúc động, vẫn khiến người nghe phải mủi lòng. (Hình ảnh Em đi trong xác pháo còn được nhiều nhạc sĩ lặp lại về sau này).

Thôi đành em... 
Câu hát như bị tắc nghẹn, như muốn nói điều gì đó nhưng lại… thôi, và đổi thành tiếng thở dài thật nhẹ. 
Hoa tàn/ tình tan theo không gian... 
Vẫn cứ chậm rãi, những nốt nhạc được đẩy nhẹ từ thấp lên cao. Tôi yêu nét bay bổng ở những nốt Do cao trong câu nhạc cuối. Những nốt ngân thảng thốt, rời rạc, và tan loãng trong không, nghe như những mảnh tình tan tác cũng theo hư không mà đi. (3) Một trong những câu hát đẹp nhất và “đoàn chuẩn-từ linh” nhất. 
Câu chuyện tình kể lại khá đầy đủ, trọn vẹn, kết thúc bằng một đám cưới mùa xuân, có hoa mai rơi từng cánh, có xác pháo bên thềm, có Em đi trong xác pháo, có Anh đi không ngước mắt, có tiếng thở dài Thôi đành... em ..., nghĩa là có nhiều “kịch tính”, nhiều hình ảnh sắc nét đan chéo vào nhau, như bày ra trước mắt, như rọi thẳng vào tim người nghe, dễ tạo những cảm xúc mạnh mẽ. Tại sao lại là “tà áo xanh”? Tà áo xanh nào về với giấc mơ... Tà áo xanh chỉ có trong giấc mơ thôi sao? 
Tại sao lại là mầu xanh ái ân? Gửi thêm lá thư mầu xanh ái ân... Sao không phải là màu xanh thắm, xanh ngắt, xanh mướt hay xanh biếc...? Mầu xanh ái ân ấy biết có là thực hay mơ? Và mối tình nghệ sĩ nữa, cũng chỉ như giấc mơ thôi sao? 
“Tà áo xanh”, cũng như các bài nhạc khác của ĐC-TL, thường có chung nhịp điệu chậm và buồn, thích hợp với những lời kể lể, tình tự. Hầu hết các bài nhạc được viết ở nhịp 4/4 bằng những cung bậc và giai điệu thật mềm mại, bằng những nốt nhạc rót xuống thật dịu dàng như vuốt ve mơn trớn, thật ngọt ngào như lời thì thầm rót mật vào tai, thật nhẹ nhàng như lời gió rì rào, thật chậm rãi như lá vàng từng cánh rơi từng cánh, và thật thong thả như bước chân ai lững thững dạo trên những lối đi mùa thu. 
Đâu phải chỉ có ở “Tà áo xanh” thôi, mầu áo xanh còn ẩn hiện chập chờn nơi này nơi khác. 
“Gửi gió cho mây ngàn bay” chẳng hạn. 
Với bao tà áo xanh đây mùa thu... 
“Thu quyến rũ” chẳng hạn. 
Mầu áo xanh là mầu anh trót yêu... 
Sao lại “trót”? “Trót” yêu nghĩa là sao? “Trót” như một định mệnh, không làm sao tháo gỡ, không cách chi cởi bỏ được. Định mệnh nào đã buộc chặt người viết câu hát ấy với mầu xanh kia? Mùa thu quyến rũ hay mầu áo xanh quyến rũ? Trót yêu mầu xanh, hay trót yêu mùa thu, hay trót yêu “người mơ”? Nhưng sao người mơ lại không đến bao giờ?... 
Như vậy thì tình yêu đưa vào trong bài hát ấy sau cùng chỉ còn lại một mầu xanh ái ân đó thôi. 
Như vậy thì tất cả lời thơ ý nhạc trong những tình khúc ĐC-TL sau cùng chỉ nằm gọn lại trong câu hát Có mầu nào không phai/ như mầu xanh ái ân. 
Tìm đẹp trong nét bút Đoàn Chuẩn-Từ Linh 
“Đập cổ kính ra tìm lấy bóng 
Xếp tàn y lại để dành hơi” 
Khi đặt bút viết câu hát Dòng đời trôi đã về chiều/ mà lòng mến còn nhiều/ đập gương xưa tìm bóng (“Gửi gió cho mây ngàn bay”), tôi đoán chừng hai chàng ĐC-TL đã có ý mượn ý thơ trên của ông vua Tự Đức (lòng tưởng tiếc, nỗi nhớ quay quắt người ái phi đã lìa trần) để bày tỏ nỗi nhớ nhung da diết về một bóng hình đã xa khuất. Chỉ là đập gương xưa tìm bóng, chứ không nói Lòng cuồng điên vì nhớ... (“Hoài cảm”, Cung Tiến), hoặc Chợt từng bước em là từng mũi đinh cuồng điên (“Tưởng rằng đã quên”, Trịnh Công Sơn) như ta vẫn nghe, vẫn đọc ở những người viết nhạc sau này. 
Ta còn thấy rải rác những câu hát viết theo lối ví von như thế, chẳng hạn thuyền đã sang bờ, thuyền cắm tay sào tự cuối thu, gửi bướm đa tình về hoa… 
Đêm đêm nhìn cây trút lá/ lòng thấy rộn ràng ngỡ bóng ai về... Câu hát ấy nghe ra cũng từa tựa… Giọt sương khuya rụng xuống lá/ như chân ai lần về... (“Nguyệt ca”, Trịnh Công Sơn), chỉ có khác chút đỉnh là “Thu quyến rũ” được viết ra tính đến nay cũng trên… năm mươi năm chứ không phải là mới đây. Thử làm một sự so sánh nho nhỏ để thấy rằng người đời sau thật không dễ gì qua mặt được những người đi trước, và có những cái thoạt nghe tưởng như mới kỳ thực chẳng mới chút nào. 
Đôi lúc tôi tự hỏi làm sao mà ngày ấy người ta lại viết được những câu hát như là… 
Yêu một sớm, nhớ nhau bao mùa thu 
(“Cánh hoa duyên kiếp”), hay là: 
Nhớ nhau từ làn môi, đôi mắt 
Nhớ nhau đành tìm trong tiếng hát 
(“Lá đổ muôn chiều”), hay là: 
Nhớ nhau đành tìm trong ánh sao 
(“Lá thư”), và nhất là: 
Nhớ nhau từng phút, yêu từng giây... 
(“Đường về Việt Bắc”) 
Không chỉ là những câu, mà cả đến những chữ dùng trong câu cũng thật thú vị, như là chữ “ngập ngừng” (như đã nói ở trên) chẳng hạn: 
Và cánh chim ngập ngừng không muốn bay 
(“Thu quyến rũ”) 
“Ngập ngừng” như sợ rằng chỉ cái đập cánh nhẹ thôi cũng làm “vỡ” mùa thu, làm hỏng bức tranh thu tuyệt diệu và khoảng không gian lắng đọng tuyệt vời của mùa thu. 
Nhớ phút ngập ngừng lòng giấy viết rằng 
“Chờ đến kiếp nào”
(“Lá thư”) 
Những phút “ngập ngừng” ấy là những phút xao động của tình yêu. Hay là chữ “hững hờ” chẳng hạn: 
Hoa lá tàn/ hàng cây đứng hững hờ 
(“Gửi gió cho mây ngàn bay”) 
Tại sao lại “đứng hững hờ”? Nghe có vẻ... hờ hững quá, dửng dưng quá. Hàng cây đứng “hững hờ” hay mùa thu đó “hững hờ”? Cái “hững hờ” ấy, những nốt nhạc xuống giọng lửng lơ ấy, nghe mới có vẻ mùa thu làm sao! 
Những “ái ân” và “ân ái” có thấy rải rác đâu đó trong thơ và nhạc thuở trước, chẳng hạn Ta sẽ là vợ chồng/ sẽ yêu nhau mãi mãi/ sẽ xe sợi chỉ hồng/ sẽ hát câu ân ái... (“Hôn nhau lần cuối”, Nguyễn Bính), hoặc Trời hết một mùa đông/ gió bên thềm thổi mãi/ qua rồi mùa ân ái... (“Một mùa đông”, Lưu Trọng Lư), hoặc ột chiều ái ân/ say hồn ta bao lần... (“Bóng chiều xưa”, Dương Thiệu Tước), thế nhưng quả tình là chưa có nơi đâu “ái ân”, “ân ái” lại được mùa cho bằng ở những câu nhạc tình ĐC-TL: 
Gửi thêm lá thư mầu xanh ái ân/ về đôi mắt như hồ thu 
(“Gửi gió cho mây ngàn bay”) 
Có mầu nào không phai/ như mầu xanh ái ân 
(“Tà áo xanh”) 
Bóng anh phai dần ái ân tàn theo 
(“Tình nghệ sĩ”) 
Anh quay về đây đốt tờ thư/ quên đi niềm ân ái ngàn xưa 
Ái ân theo tháng năm tàn 
ái ân theo tháng năm vàng... 
Còn đâu ân ái chăng người xưa 
(“Lá thư”) 
Tôi không rõ là những “ái ân”, “ân ái” nở rộ trong những dòng thơ dòng nhạc đó có khác gì nhiều lắm những câu, chữ ấy hiểu theo nghĩa bây giờ, nhưng chắc là phải tình tứ hơn, thơ mộng hơn. Những câu ân ái chắc phải hiểu là những lời tình tự êm ái ngọt ngào nhất, những chiều ái ân từng làm say hồn ta bao lần chắc phải hiểu là những thời khắc yêu đương đắm say, nồng nàn nhất. 
Tương tự, chữ “lả lơi” trong những câu hát dưới đây chắc không có nghĩa “Xem trong âu yếm có chiều lả lơi” như cụ Nguyễn Du tả cảnh Kim Trọng “lả lơi” với Thúy Kiều, mà nghe vừa có vẻ “lả lướt, bay bướm”, lại vừa chan chứa những tình ý yêu đương: 
Nâng phím tơ lên mấy cung lả lơi 
(“Tình nghệ sĩ”) 
Khăn san bay lả lơi trên vai ai 
(“Gửi người em gái miền Nam”) 
Nét bút đa tình lả lơi 
(“Lá thư”) 
Đã “lả lơi” lại còn “đa tình” nữa thì chịu gì nổi hai chàng nghệ sĩ... đa tình ấy: 
Gửi bướm đa tình về hoa 
(“Gửi gió cho mây ngàn bay”) 
Anh mơ trong nét bút đa tình sao 
(“Tà áo xanh”) 
Đến những câu như là Nhớ nhau đành tìm trong tiếng hát/ Đời vắng em rồi vui với ai (“Lá đổ muôn chiều”) lại nghe sao mà thiết tha quá chừng! Nếu không phải là câu hát, câu trên chắc phải là câu thơ. Nếu là câu thơ, câu thơ ấy ngẫu nhiên đã chảy xuôi cùng một dòng với câu thơ Vũ Hoàng Chương. 
“Em ơi lửa tắt, bình khô rượu 
Đời vắng em rồi say với ai” 
(“Đời vắng em rồi”) 
Có khác chăng là men rượu với men tình. Có tình nào không say?... hai chàng đã chẳng nói vậy sao! Tìm vui trong tiếng hát hay tìm quên trong ch n rượu cũng chỉ là đi tìm những lãng quên thôi. 
Có rất nhiều câu hát chan chứa những tình cảm yêu đương đắm say như vậy trong lời nhạc ĐC-TL.
Tình đầu trong gió mùa, người y ê... u... ơi 
(“Lá thư”) 
Những nốt luyến láy uốn lượn kéo dài ở chữ “yêu” nghe như lời nhắn nhủ thiết tha và nhớ nhung da diết. 
Trong “Lá thư”, có một câu tôi rất thích, Anh quay về đây đốt tờ thư/ quên đi niềm ân ái ngàn xưa... Hành động đốt tờ thư là hành động thể hiện sự dứt khoát, là muốn đoạn tuyệt, muốn quên hết. Thế nhưng khi lòng đã thực sự muốn quên, muốn dứt khoát thì sao không đi dài đi thẳng, sao không lạnh lùng mà đi/ luyến tiếc thêm chi (“Tà áo xanh”) để khỏi “bận lòng chi nữa lúc chia phôi” mà lại còn quay về đây làm chi nữa? Phải đốt hết, phải thiêu hủy cho bằng hết những phong thư ngào ngạt hương ấy mới quên đi được sao? Tương tự, đã nói rằng Nhưng thôi tiếc mà chi/ chim rồi bay/ anh rồi đi... (“Gửi gió cho mây ngàn bay”) nhưng sao vẫn cứ Thấy hối tiếc nhiều/ thuyền đã sang bờ..., vẫn còn lời trách cứ nhẹ nhàng Người về lặng lẽ sao đành ... (“Tà áo xanh”). Nói quên mà thật khó quên, nói không hối tiếc mà còn nhiều hối tiếc, có phải đấy là tâm trạng dùng dằng, là những giằng xé giày vò của bao kẻ trót vướng vào lưới tình và là những hệ lụy của tình yêu ở bất cứ thời nào.
Những tình khúc ĐC-TL, về giai điệu, tuy mượt mà nhưng khá đơn giản, không có những chỗ luyến láy lả lướt quá, không có những biến khúc, biến tấu khi lên khi xuống, lúc nhanh lúc chậm, không có những nốt nhạc lên cao hoặc xuống thấp quá, hoặc đòi người hát phải có những hơi ngân thật khỏe thật dài. Tất cả chỉ là nâng phím tơ lên mấy cung lả lơi, lại có vẻ là những bài bản dễ hát, ai hát cũng được, tuy không phải là ai hát cũng hay được. Khác với những tình khúc của những nhạc sĩ tên tuổi thường gắn liền với những ca sĩ tên tuổi, tôi chưa hề nghe nói giọng hát nào là đặc biệt thích hợp với nhạc tình ĐC-TL. Mỗi người có thể yêu thích những giọng ca khác nhau, có thể nghe được ĐC-TL bằng giọng ca này mà không phải giọng ca khác. “Thu quyến rũ”, với tôi, trước giờ vẫn chưa có ai hát qua được Ngọc Long (cũng là người hát hay nhất “Ngày về” của Hoàng Giác). “Gửi gió cho mây ngàn bay”, mỗi lần nghe là mỗi lần nhớ những giọng hát Tôn Thất Niệm, Lệ Thanh một mùa nào. “Tà áo xanh” nghe được cả với giọng nữ cao Thái Thanh và giọng nam trầm Anh Ngọc, Sĩ Phú. “Đường về Việt ắc” thích hợp với các giọng nam Duy Trác, Tôn Thất Niệm. Có thể kể thêm những Ngọc ảo, Mộc Lan, Tâm Vấn, Mai Hương, Quỳnh Giao, Xuân Thu (giọng từa tựa Lệ Thanh)... ở một đôi bài ĐC-TL (và còn những ca sĩ nào khác nữa tôi chưa được nghe qua...). Các bài “Chuyển bến”, “Thu quyến rũ” có vẻ thích hợp với giọng nam hơn là giọng nữ. Giọng nam phải là giọng trầm, giọng nữ phải mềm mại, tự nhiên. 
Những lối thay đổi tùy tiện lời nhạc và cả nhạc điệu, bằng cách chế biến, thay đổi nhịp điệu nhanh chậm, uốn éo lời ca giọng hát, hoặc hát hoặc ít câu bài này chuyển sang ít câu bài kia theo lối “liên khúc”... đôi lúc vẫn thấy trong cách trình diễn của vài ca sĩ. Tất cả những kiểu “tự biên tự diễn” ấy đều không thích hợp và không diễn tả được tình cảm bài nhạc khiến người nghe không mấy hứng thú hoặc rung cảm, nếu không muốn nói là có đôi chút khó chịu vì không còn nhận ra được nét nhạc ĐC-TL. 
Sánh đôi cùng giai điệu mượt mà trong những tình khúc ĐC-TL là những câu hát thật tự nhiên, không chút bóng bẩy, cầu kỳ, không ẩn chứa những “triết lý” cao xa, mơ hồ, mà chỉ là những ý tưởng gần gụi, dễ dàng nhận biết, hiểu thấu. Những ý tưởng thoạt nghe tưởng như cũ kỹ, nhưng lúc nào cũng mới và được lặp đi lặp lại mãi về sau này. ộng nữa cũng là không... Thế thôi. Hoặc những quy luật bất biến, muôn đời của cuộc sống, như Có hoa nào không tàn/ có tình nào không phai... Lời nhạc chỉ đơn giản là vậy, không gọt giũa trau chuốt, không làm duyên làm dáng, chỉ như những chuyện trò thân mật, những tâm tình vụn vặt giữa hai người bạn, giữa đôi tình nhân, nhưng lại đi thẳng vào trái tim người nghe. Sao lại như vậy được? Cũng dễ hiểu thôi, những lời lẽ ấy có bình thường nhưng không tầm thường chút nào; mà ngược lại, nói như nhà phê bình Đặng Tiến, đấy là tiếng nói được “phát ngôn trên tư cách nghệ sĩ, đưa tác phẩm nghệ thuật đến một quần chúng nghệ thuật, trên những tiêu chuẩn thẩm mỹ”. Cái đẹp trong lời nhạc ĐC-TL không chỉ ở tính sáng tạo nghệ thuật mà còn ở cách thể hiện. Nghe một bài nào khác, “Cánh hoa duyên kiếp” chẳng hạn, ta bắt được những câu hát thật là đẹp. 
Đêm hôm nay chợt nhớ tới nơi xa 
lúc anh về nhặt mấy cánh hoa 
Kèm vào thư/ lá thư xanh mầu yêu 
Cánh hoa duyên kiếp này/ tìm em trong ý thu... 
Đêm hôm nay ngồi dưới ánh trăng thu 
viết tơ lòng gửi tới cho nhau 
Rồi ngày mai/ nhắn mây đưa tờ thư tới em 
Đôi mắt sầu/ kèm theo bao ý thơ... 
Tình em như mây trong mùa thu bay rợp lối 
Rồi tan trong chiều vắng/ khi gió mang về thành mưa... 
Những câu hát giàu hình ảnh và ý tưởng đẹp như thế có thể gặp rải rác ở bất cứ tình khúc nào của ĐC-TL. 
Người thưởng ngoạn khó tính một chút vẫn có thể tìm ra được những hạn chế trong nét đẹp ấy. Những ý tưởng trùng lắp hay những câu, chữ lặp đi lặp lại ở bài này bài kia (những xác pháo bên thềm, nét bút đa tình, dệt mấy cung đàn, lòng thấy rộn ràng... chẳng hạn). Có khi không phải chỉ là vài chữ mà gần trọn câu nhạc vừa ở bài này lại vừa ở bài kia (như Nâng phím tơ lên mấy cung lả lơi... vừa ở “Tình nghệ sĩ” vừa ở “Đường về Việt Bắc”), có lẽ vì nghệ sĩ vẫn hay có những phút... lơ đãng. 
Những ví dụ kể trên không có nhiều, ngược lại, đôi lúc nghe nhạc ĐC-TL, ta gặp được những bất ngờ thú vị, chẳng hạn đang giữa những nét nhạc lâng lâng ít nhiều chịu ảnh hưởng dòng thi ca lãng mạn Pháp, bỗng lạc ở đâu vào những câu lục bát ngọt ngào ca dao hoặc phảng phất làn điệu dân ca, thoạt nghe tưởng như “tân cổ giao duyên” vậy. Người đi trong dạ sao đành 
Đường quên lối cũ ân tình nghĩa xưa 
(“Gửi người em gái miền Nam”) 
Vậy mà nghe vẫn cứ thuận chiều, vẫn cứ xuôi chèo mát mái, chẳng có chút gì ngượng ngập, sượng sùng. Những pha trộn, kết hợp ấy mới thật tài tình. 
Về việc đánh giá, xếp hạng những tình khúc của ĐC-TL, thật khó mà nói được bài nào là hay nhất, hoặc bài nào hay hơn bài nào. Kẻ yêu bài này, người thích bài kia, hoặc cho là mỗi bài mỗi vẻ.
Các nhà nghiên cứu, tìm hiểu lịch sử tân nhạc Việt vẫn cho rằng những tình khúc ĐC-TL là tiêu biểu cho dòng nhạc lãng mạn tiền chiến. (Hai chữ “tiền chiến” lâu nay không còn được hiểu theo nghĩa... tiền chiến nữa mà dường như chỉ được gọi như vậy cho... tiện. Cây cột mốc “tiền chiến” có khuynh hướng bị đẩy lui mãi về phía sau, đến mức hầu như tất cả các văn nghệ sĩ ở lại miền ắc sau ngày di cư đều mặc nhiên hóa thành các “văn nghệ sĩ tiền chiến” cả). Nói “tiêu biểu”, không hẳn vì hai chàng ĐC-TL đã đặt những bước chân tiên phong mở đầu cho khuynh hướng lãng mạn ấy, cũng không hẳn vì những tình khúc ấy là hay nhất, đẹp nhất, được yêu chuộng nhất, hoặc sống lâu nhất (so với những tình khúc của Văn Cao, Phạm Duy, Tô Vũ, Doãn Mẫn, Hoàng Quý, Hoàng Giác...), mà vì đấy là những bản tình ca đằm thắm nhất, trữ tình nhất, lãng mạn nhất, tất nhiên. Chưa kể, thêm một cái nhất nữa (đáng gọi là tiêu biểu), hai chàng nghệ sĩ này trước sau chỉ yêu có nhạc tình và chỉ viết có nhạc tình, nói như nhạc sĩ Y Vân, chỉ chuyên có một việc là “đem nhạc tình ghi tràn đầy cung điệu buồn”. (4) Trước và sau, ĐC-TL vẫn cứ thủy chung với nhạc tình, “chuyển bến” thì có đấy nhưng không có những “chuyển hướng” sáng tác để những người yêu nhạc của hai chàng phải hụt hẫng, thất vọng. 
Nếu nói âm nhạc là nguồn an ủi, vỗ về, tìm đến âm nhạc là tìm đến những phút giây quên lãng, những người yêu nhạc ĐC-TL còn yêu thêm cái chất men lãng mạn, còn yêu thêm cái phong vị trữ tình, nhẹ nhàng mà ngất ngây quyện trong từng nét nhạc. 
Nội dung các bài hát của ĐC-TL thường là những hối tiếc không nguôi về chuyện tình cách chia, dang dở, những chuyện tình mà những người yêu nhau đã không đến được với nhau, đã không đi chung được một đường. Những chuyện tình thường có chung một không gian mùa thu, một khí hậu cũng mùa thu, một đoạn kết đẹp và buồn. Không có ở nơi đâu bằng trong những tình khúc ĐC-TL, ta thấy rõ quả là... “tình chỉ đẹp khi còn dang dở”. 
Sự nghiệp âm nhạc của ĐC-TL cũng chẳng may mắn gì hơn số phận những chuyện tình của hai chàng, nghĩa là cũng... dang dở, vì nguồn nhạc hứng đã phải tắt lịm ngay giữa thời kỳ sung mãn nhất của người nghệ sĩ sáng tạo. Tiếc thay! Nếu không, những gì hai chàng nghệ sĩ tài hoa ấy để lại cho đời chắc chắn không phải chỉ lác đác những bản tình ca mà người đời còn hát đi hát lại, còn nghe mãi nghe hoài. 
Nhưng có lẽ chính vì sự nghiệp “dang dở” ấy mà cái tên ĐC-TL quen thuộc ấy, những bản tình ca mùa thu ấy, những nét nhạc trữ tình ấy, đã luôn luôn là những gì đẹp nhất và còn ở lại mãi trong lòng người. 
Mùa thu cuối cùng của Đoàn Chuẩn 
Chiều nào áo tím nhiều quá 
lòng thấy rộn ràng nhớ người 
(“Đường về Việt Bắc”) 
Giọng hát Duy Trác dìu dặt cất lên trong một chiều cuối năm và trong tiết trời se se lạnh làm khơi dậy những xao xuyến bâng khuâng, đánh thức những nhớ thương dịu dàng. 
Những nốt láy mềm mại, nhẹ nhàng ở chữ “nhớ” cũng vẽ lên một nét nhạc đẹp. 
Giữa những dòng kẻ nhạc tưởng rằng chỉ thấp thoáng có một mầu xanh đó thôi, bỗng nhiên lạc ở đâu vào một mầu áo tím. Áo tím chập chờn như cánh bướm. Mầu tím ấy có là mầu của nhớ nhung, tưởng tiếc? 
Mùa thu đã qua từ bao giờ. Thu tàn, nhưng đông vẫn chưa sang. Mùa thu ở đây có đẹp, nhưng ngắn ngủi. 
Nhủ lòng thôi hết những mùa thu 
Người viết nên câu nhạc (hay câu thơ) buồn bã ấy cũng vừa mới lìa đời. Như chiếc lá thu lìa cành. 
Tất cả những ai từng có một thời đã hát, đã nghe ĐC-TL đều ít nhiều tỏ lòng tưởng tiếc đến ông, người từng viết nên những nét nhạc bay bướm bằng nét bút đa tình lả lơi. Người nhạc sĩ tài hoa ấy, chàng nghệ sĩ đa tình ấy đã vĩnh viễn xa lìa những mùa thu trần gian và biết bao người từng yêu nhạc ĐC-TL. 
Đoàn Chuẩn, ông thực sự là “người tình của mùa thu”. Ông đã yêu mùa thu biết chừng nào. Cùng với Từ Linh, người bạn đường nghệ sĩ, ông đã không để lại gì nhiều lắm cho đời. Chỉ lác đác dăm bản tình ca mùa thu. Chừng đó thôi, đâu có gì nhiều, nhưng cũng đủ làm lay động những trái tim, làm ngát hương cho cuộc sống và làm đẹp thêm cho những mối tình (dẫu “vẹn câu thề” hay “dở dang”). Cùng với mùa thu ấy, cùng với cây đàn ấy, ông đã “nâng phím tơ lên” để dệt cho đời những khúc nhạc tình chan chứa thương yêu. Trước sau Đoàn Chuẩn vẫn chỉ nhận mình là tay soạn nhạc “tài tử”, chỉ để vui chơi thôi chứ không phải chuyên nghiệp. Thế nhưng chính cái phong cách nghệ sĩ ấy, chính những nét nhạc lãng đãng ấy lại như có sức hút làm mê hoặc lòng người. Những mùa “Thu quyến rũ”, những “Lá thư” màu xanh, những chuyện tình “Dang dở”..., đấy là những tâm sự, là nỗi lòng của ông trải lên dòng nhạc ấy, và rất nhiều người sau đấy tìm gặp tâm sự của chính mình hay mượn dòng nhạc của ông để gửi gấm nỗi niềm tâm sự. Như vậy làm sao mà không thấy lòng lắng xuống khi nghe những bản tình ca êm dịu ấy.
“Cuộc sống của Đoàn Chuẩn chỉ có một mục đích là làm nên những bản tình ca. Anh sáng tác không nhiều, nhưng bài ca nào cũng say đắm, lãng mạn và thành thực. Con người lãng tử ấy đã để lại cho đời những ca khúc bất hủ,” một người bạn của Đoàn Chuẩn, nhạc sĩ Tô Vũ, đã nói về ông như vậy. Trong lời nhận xét về những bản tình ca ấy, có hai chữ tôi cho là đúng hơn cả, không phải “say đắm” hay “lãng mạn”, mà là “thành thực”. (Những nhận xét ấy cũng “thành thực” nữa). Nói đúng hơn, Đoàn Chuẩn, ông đã say đắm, đã lãng mạn một cách thành thực khi viết nên những bản tình ca ấy. Chính là ở sự thành thực, chứ không phải điều gì khác đã dẫn người nghe lại gần dòng nhạc của ông, để nghe những lời ông nói. Yêu một sớm/ nhớ nhau bao m a thu (“Cánh hoa duyên kiếp”) hay là Nhớ nhau từng phút/ yêu từng giây... (“Đường về Việt Bắc”), đấy không phải là những lời tình “say đắm, lãng mạn và thành thực” quá hay sao! Còn lời tỏ bày nào thành thực hơn thế nữa!... Chỉ những cảm xúc, những rung động thành thực mới truyền được cảm xúc, rung động tới người thưởng ngoạn. Những cảm xúc giả dễ nhận biết và khó mà đánh lừa được ai. 
Đoàn Chuẩn, chàng phiêu lãng ôm đàn tới giữa đời (5) ấy, đã từng yêu thiết tha, say đắm, từng có những năm sống sôi nổi, từng có những sáng nao nức mong chờ mùa thu, từng có những chiều dõi mắt nhìn mây bay về đâu cuối trời, từng có những đêm ngồi chờ sáng mơ ai... Và chàng cũng đã viết bao nhiêu là lá thư xanh màu yêu, bao nhiêu là phong thư ngào ngạt hương, và rồi đã đốt, đốt hết, đốt sạch để không còn lại dấu vết gì (nhưng tình vẫn không cháy được!). Và chàng cũng đã dệt bao nhiêu là cung đàn yêu, đã gửi bao nhiêu là bướm đa tình về hoa. Và rồi hoa tàn, tình cũng tan theo không gian, nhạc cũng bay theo không gian. Sau cùng, chàng chẳng còn lại chút gì. 
Đoàn Chuẩn, “con người lãng tử ấy”, nói như Tô Vũ, trong những năm tháng cuối đời, thế nào lại chẳng có những lần hồi tưởng, lại chẳng có những phút nhớ tới mùa thu năm nao/ mình anh lênh đênh rừng cùng sông..., những phút nhớ tới ngày nào cùng bước đến cầu..., những phút muốn quay về chốn xưa để ngồi lại bên cầu, để nhìn xuống dòng sông êm đềm xuôi chảy, để soi tìm lại những đời người, những chuyện tình đã cũ... 
Trở lại với bài phỏng vấn ở trong nước, khi được hỏi, “Sao ông không sáng tác thêm nữa mà chỉ chừng ấy bài rồi thôi?”, Đoàn Chuẩn chỉ trả lời đại khái “đã cạn tình cạn ý, có làm thêm nữa cũng chẳng hay ho gì”. Câu trả lời ấy tôi cho là đúng mà không đúng. Anh chàng (hay cô nàng) phỏng vấn ấy cũng chỉ hỏi để mà hỏi (trong lúc đã thừa hiểu vì sao), và người được phỏng vấn cũng chỉ trả lời như thế cho... qua chuyện. Có điều gì không thật trong câu hỏi lẫn câu trả lời. Ở một nơi mà mọi người đều có vẻ như đang đóng kịch, những cái tưởng như thật ấy lại là những cái giả, và dường như mọi người đã quen rồi những kiểu cách ấy. Nhạc tình là muôn thuở, lại là “Tình nghệ sĩ” nữa, làm sao mà cạn nổi! (Tôi hình dung nét mặt của ông khi phải trả lời câu ấy, chắc phải vừa trầm ngâm, vừa lộ vẻ... chán đời). Ai cũng hiểu rằng trong khí thế hừng hực “cách mạng” buổi ấy mà vẫn thản nhiên nâng phím tơ lên mấy cung lả lơi, vẫn nhất định chỉ yêu có một màu xanh ái ân đó thôi (vì đã “trót yêu” rồi) chứ không phải màu mè nào khác, vẫn nhất định chỉ yêu có một mùa thu trần gian đó thôi chứ không phải mùa thu nào khác, thì chỉ có... tự mình làm khổ mình thôi. 
Một câu hỏi khác cũng “thật mà giả” như thế, nhưng lại nhận được câu trả lời khá thú vị. Khi được hỏi, “Ông vẫn nói là ‘thấy hối tiếc nhiều...’ trong những lời nhạc, vậy thì điều gì làm ông hối tiếc nhất trong đời?”, Đoàn Chuẩn trả lời rằng (không rõ thật hay đùa), ông chỉ tiếc có một điều là, suốt đời ông chỉ yêu cái đẹp, vậy mà những cô ca sĩ hát nhạc của ông, tuy hát có hay, nhưng lại chẳng có cô nào... đẹp cả! Người phỏng vấn bèn hỏi tiếp, “Thế thì ca sĩ nào, theo ông, hát nhạc ĐC-TL hay nhất?” Ông kể ra được vài tên tuổi ca sĩ ở trong nước. Về điều mà ông tỏ ra hối tiếc ấy, tôi mong là ông chỉ nói đùa cho vui vậy, nhưng nếu ông nói thật, dù không muốn làm một sự so sánh, tôi thực sự lấy làm “hối tiếc” cho ông là ông đã không được nghe (và được thấy) những ca sĩ ở miền Nam ngày trước hát nhạc ĐC-TL. Nếu có, chắc là ông sẽ rút lại câu nói ấy, hoặc ít ra cũng không đến nỗi phải thất vọng nhiều lắm. 
Nhưng thôi, tiếc mà chi... Ông đã chẳng nói vậy sao? 
Câu hỏi sau cùng, khá hơn một chút và dù sao cũng còn là một “câu hỏi”, tuy nhận được câu trả lời khá ngậm ngùi. Đấy là câu hỏi về những giấc mơ. 
Đoàn Chuẩn, ông đã từng có, từng nói về những giấc mơ. Ông đã mơ mộng biết chừng nào, tâm hồn ông tràn đầy những ước mơ, cho dù những ước mơ và những hối tiếc luôn đến cùng một lúc. 

Tà áo xanh nào về với giấc mơ... 
Người mơ không đến bao giờ 
(“Thu quyến rũ”) 
“Ông ước mơ điều gì trong những ngày còn lại ở thế gian này?” người phỏng vấn đặt câu hỏi. Sau một phút im lặng (như đã im lặng như thế suốt bao năm), ông khẽ lắc đầu, nói chẳng còn ước mơ, mơ ước chi cả, hay nếu có, chỉ là cuộc hành trình êm ả, chỉ là “được ra đi thanh thản, nhẹ nhàng”... Ít ra có lẽ đây là giấc mơ sau cùng ông đã thực hiện được. Từ đầu năm 2000, do đứt mạch máu não, ông đã rơi vào trạng thái chập chờn khi mê khi tỉnh. Ông nằm đó, bất động trên giường bệnh, mắt nhắm nghiền như đang ngủ say, như đang chìm đắm trong giấc mộng dài, cho đến lúc lặng lẽ ra đi... 
Cái chết của Đoàn Chuẩn gần đây thực sự không gây xúc động nhiều lắm, không để lại tiếc thương nhiều lắm đối với những người yêu nhạc của ông, để gọi là một mất mát lớn, vì sau này hầu như ông đã ngưng sáng tác (đối với công chúng, người nghệ sĩ không tiếp tục sáng tạo thêm được nữa xem như đã “chết” theo nghĩa nào đó), nhưng có làm người ta tưởng nhớ đến ông và muốn tìm nghe lại ĐC-TL. 
“Hoa tàn, nhạc bay theo không gian…” 
Khi cho chạy lại cuốn video tape ca nhạc ấy, tôi thấy Đoàn Chuẩn vẫn còn ngồi đó, vẫn còn điếu thuốc trên tay ông. Hầu như lúc nào trên tay ông cũng là điếu thuốc (tựa như Văn Cao, lúc nào cũng ly rượu trên tay). Ông đốt thuốc liên tục, thả khói mơ màng. Khói thuốc mơ màng và ánh mắt ông cũng mơ màng. Ông nghĩ ngợi gì, hay chẳng nghĩ ngợi gì. 
Trông ông giống như người đợi chờ mà không đợi chờ điều gì cả, hay như người ngồi đợi hoài những giấc mơ không đến bao giờ. Ông sống lặng lẽ như một cái bóng, và cử động cũng chậm chạp, nhẹ nhàng như một cái bóng, không nói không năng, khuôn mặt không thấy có nụ cười, không biểu lộ nét vui hay buồn. 
Tôi thấy Đoàn Chuẩn vẫn còn ngồi đó, vẫn còn ánh mắt mơ màng, vẫn còn đăm đăm nhìn ra khoảng sân trước nhà. Ông nhìn ngắm hay tìm kiếm gì vậy? Đêm đêm nhìn cây trút lá/ lòng thấy rộn ràng/ ngỡ bóng ai về... Những phút sướng vui rộn ràng ấy chắc cũng chẳng kéo dài được bao lâu, chắc cũng chỉ là những phút giây hạnh phúc ngắn ngủi... Nhưng ông cũng đã bằng lòng, và cũng đã tận hưởng những giây phút ấy. Hơn thế nữa, tôi cho là ông cũng đã san sẻ với chúng ta, những người nghe nhạc của ông, chút hạnh phúc như gió thoảng qua ấy. Hạnh phúc như gió thoảng, có phải đấy là những phút giây chìm đắm trong thế giới lãng đãng của âm thanh, những phút giây thả hồn theo tiếng nhạc bềnh bồng và giọng hát dịu dàng cất lên giữa khoảng không gian thật yên tĩnh, thật lắng đọng, trong tiết trời se se lạnh của một ngày chớm thu. 
Với bao tà áo xanh, đây mùa thu... 
Tôi chắc là không có lúc nào người nghe nhạc cảm thấy thèm một hơi thuốc, một ngụm café nóng hơn là lúc ấy. 
Nghe nhạc ĐC-TL đôi lúc có được những khoảnh khắc hạnh phúc như thế, cũng tựa như những phút giây lòng thấy rộn ràng của người đã viết nên những tình khúc ấy. Còn mong gì hơn thế nữa! Cám ơn ĐC-TL, cám ơn những khoảnh khắc hạnh phúc ấy. 
Mùa thu đã qua từ bao giờ. Thu tàn, nhưng đông vẫn chưa sang... Những cánh hoa hướng dương đã tàn tạ trong đêm tối. Những chiếc lá thu còn lại đôi ba cánh rồi cũng sẽ lìa cành. 
Nhủ lòng thôi hết những mùa thu... 
Câu hát ấy nghe như tiếng thở dài thật nhẹ, như bước chân ai thật khẽ vừa lặng lẽ rời bỏ chốn này, như tiếng động thật nhẹ nhàng của chiếc lá cuối cùng vừa rụng xuống trong một ngày tàn thu. 
Hình ảnh sau cùng về Đoàn Chuẩn tôi còn giữ được, và giữ được mãi về sau này, là những ngón tay kẹp điếu thuốc của ông và những cử chỉ thật nhẹ nhàng, thật thong thả, gạt tàn thuốc vào chiếc gạt tàn trên mặt bàn. Trong lúc bà vợ ông nói và nói, để trả lời các câu hỏi, ông ngồi lặng thinh, dõi mắt theo làn khói thuốc (như thể những chuyện ấy chẳng có chút gì liên quan tới ông). Đôi mắt vẫn như chìm đắm trong một thế giới nào khác. 
Thật khó mà biết được một người ngồi lặng im với dáng điệu và cử chỉ như thế, với nét mặt không biểu lộ cảm xúc nào như thế, đang nghĩ gì trong đầu. Thế nhưng không hiểu sao, ánh mắt mơ màng ấy và ngón tay trỏ g g trên chiếc gạt tàn ấy theo một nhịp thật chậm rãi, thật đều đặn ấy vẫn cho tôi cảm tưởng rằng ông đang chăm chú lắng nghe những nốt nhạc. Những nốt nhạc thật xa xăm mà cũng thật gần gũi, những nốt nhạc từng có một thời cùng với ông, và người bạn đường nghệ sĩ của ông, đi suốt chặng đường dài tuổi trẻ. Những nốt nhạc bềnh bồng dắt đưa ông về thăm lại những cây cỏ xanh tươi trên con đường trí nhớ, cho ông tìm gặp lại những mùa thu xa vắng, những tà áo màu xanh thắm bay lượn chập chờn, và cũng rót xuống cho ông, chàng nghệ sĩ đa tình một thuở, những yêu thương đằm thắm nhất của một mùa nào lãng mạn. 
Chú thích:
(1) Các nhạc phẩm “Gửi người em gái miền Nam” và “Đường về Việt Bắc” của ĐC-TL, khi ấn hành tại miền Nam trước năm 1975, đổi tên thành “Gửi người em gái” và “Đường về miền Bắc” 
(2) Thơ Vũ Thành 
(3) Ảo ảnh, nhạc Y Vân 
(4) Thúy đã đi rồi, nhạc Y Vân và Nguyễn Long
(5) Tà áo Văn Quân, nhạc Phạm Duy Nhượng 
NGUYỄN HIỀN, NHẠC, THƠ TRÀN MUÔN LỐI 
Anh cho em mùa xuân
nhạc, thơ tràn muôn lối
(Nguyễn Hiền và Kim Tuấn)
“Hôm ấy là ngày mùng 5 Tết năm 1962, tôi đến sở làm trong lúc đất trời vẫn còn hương vị Tết. Một người bạn rủ ra ngoài ăn sáng, lúc trở về, thấy trên bàn giấy có một tập thơ mỏng, tôi bèn lật qua xem thử thì gặp bài thơ năm chữ ‘Nụ hoa vàng ngày xuân’. Ðọc qua thấy hay hay và đang lúc trong lòng còn hưng phấn với không khí xuân tràn trề, tôi nảy ra ý định phổ nhạc bài thơ ấy. Giấy nhạc không có sẵn, tôi phải kẻ khuôn nhạc bằng tay, và chỉ độ một vài tiếng là xong bài nhạc. Xong, tôi cất vào ngăn kéo bàn làm việc. 
Sáng hôm sau có anh chàng trẻ tuổi đến tìm tôi, tự giới thiệu tên mình và cho biết, ‘Hôm qua em có đến tìm anh để biếu anh tập thơ bốn mươi bài, nhưng không gặp được anh.’ Tôi nói, ‘Hóa ra anh là tác giả bài thơ xuân ấy! Tôi vừa mới phổ nhạc bài thơ của anh xong.’ Anh ta ngạc nhiên và rất vui khi tôi lấy bài nhạc trong ngăn kéo ra và… hát cho anh ta nghe. Tôi lấy câu đầu của bài thơ đặt tên cho bài nhạc, ‘Anh cho em mùa xuân’...” 
Người kể câu chuyện trên là nhạc sĩ Nguyễn Hiền. “Anh chàng trẻ tuổi” trong câu chuyện ấy là nhà thơ Kim Tuấn. 
Câu chuyện từng được nhạc sĩ Nguyễn Hiền kể không ít lần ở nơi này nơi khác, với người này người khác, những người muốn biết bài nhạc “Anh cho em mùa xuân” được ra đời như thế nào. 
Sau mỗi lần kể ấy ông đều kết luận, “Chuyện gì cũng có cái ‘duyên’ trong cuộc đời này.” Ông nói vậy và ông tin như vậy. Ông đã tin như vậy trong suốt cuộc đời mình. 
Trăng quê người, trăng quê mình 
Cái “duyên” mà nhạc sĩ Nguyễn Hiền nói đến trong câu chuyện ấy là gì, nếu không phải là mối duyên cho ông “gặp” được bài thơ ấy và tác giả bài thơ ấy. 
Nếu không có mối duyên ấy thì “Nụ hoa vàng ngày xuân” dẫu có là bài thơ hay vẫn chỉ là bài thơ nằm im lìm trong những trang thơ. 
Nếu không có mối duyên ấy thì sẽ không có “Anh cho em mùa xuân”, một trong những bài nhạc xuân hay nhất của người Việt. 
Nếu không có mối duyên ấy thì chàng trai trẻ trong câu chuyện trên, tác giả “Nụ hoa vàng ngày xuân”, chắc sẽ không được nhiều nhạc sĩ tìm đến thơ chàng để phổ nhạc (để mong có thêm được một “Anh cho em mùa xuân” khác). 
Thế nhưng, “Anh cho em mùa xuân” có thực sự là một trong những bài nhạc xuân hay nhất? Hầu như trước giờ chúng ta chưa từng làm công việc tuyển chọn những bài hay nhất trong số những bài nhạc xuân; thế nhưng, ở trong nước thì đã có làm. Tết Ðinh Hợi năm kia, báo chí trong nước (Tuổi Trẻ Online, 10/2/2007) đã tổ chức một cuộc thi gọi là “ ình chọn ca khúc Xuân hay nhất”. Cách bình chọn: độc giả chọn ra ca khúc mình yêu thích nhất trong một danh sách... đã được chọn sẵn gồm 22 bài nhạc xuân. Ba bài có số phiếu bình chọn cao nhất sẽ đạt danh hiệu “Những Ca Khúc Xuân Hay Nhất”. Trong danh sách ấy có 8 bài của các nhạc sĩ ở miền Nam trước năm 1975 (tất nhiên là không có những bài chưa được phép phổ biến ở trong nước). Ðiều thú vị, kết quả cuộc bình chọn: ca khúc đứng đầu trong số ba “ca khúc Xuân hay nhất” là “Anh cho em mùa xuân” của Nguyễn Hiền, một nhạc sĩ của miền Nam, sống ở nước ngoài, và đã qua đời. (Hai ca khúc xếp hạng nhì và ba thuộc về các nhạc sĩ ở trong nước). 
Trước đó, “Anh cho em mùa xuân” cũng từng góp mặt trong “Tuyển Tập Những Ca Khúc Hay Nhất Về Mùa Xuân” phát hành ở trong nước (nxb ũi Cà au, 12/2004). 
Người Việt ở ngoài nước hát “Anh cho em mùa xuân”, người Việt ở trong nước cũng hát “Anh cho em mùa xuân” (và còn bình chọn là “Ca Khúc Xuân Hay Nhất”). 
Không chỉ là một trong những bài nhạc xuân hay nhất, “Anh cho em mùa xuân” còn là một trong những bài nhạc phổ thơ hay nhất. 
Khi làm công việc “lấy thơ ghép nhạc”, nhạc sĩ Nguyễn Hiền đã không đổi một chữ nào trong ba đoạn thơ đầu của “Nụ hoa vàng ngày xuân” (từ câu thơ đầu cho đến câu “Mùa xuân này tất cả/ lộc non vừa trẩy lá...”). Ông nhớ lại, “Thật là hứng thú khi tôi lấy ba câu thơ đầu, ‘Anh cho em mùa xuân/ nụ hoa vàng mới nở/ chiều đông nào nhung nhớ’... phổ thành một câu nhạc, thấy đi rất ‘ngọt’ nên cứ thế mà phát triển bài thơ thành ca khúc.” Ðiều gì khiến ông phổ nhạc rất “ngọt”, rất nhanh bài thơ ấy? Có phải vì ông “bắt” được “tình thơ ý nhạc”? Có phải vì ông tìm thấy “trong thơ có nhạc” và ông chỉ làm công việc ghi xuống những note, những ký hiệu âm thanh trên những dòng kẻ nhạc. Công việc có vẻ đơn giản ấy (không phải là ai cũng làm được) đã chắp cho thơ “đôi cánh nhạc”. Nhiều người viết nhạc chỉ mong phổ được một bài thơ như ông, không chút gượng p, đi rất “ngọt”, đi rất ngon trớn, rất tự nhiên, như nguồn nhạc hứng dâng trào, như nhạc và thơ chảy tràn như suối... 
“Anh cho em mùa xuân” được nhà xuất bản Tinh Hoa ấn hành lần đầu, được ca sĩ Lệ Thanh trình bày lần đầu qua dĩa nhựa và làn sóng đài phát thanh Saigon, và cũng gắn liền tên tuổi cô vào “cái thuở ban đầu” của bài nhạc ấy. Tuy nhiên, nhà thơ Kim Tuấn–trong một bài trả lời phỏng vấn trong nước (báo Thanh Niên, 22/01/2006)–cho biết là ông “chịu” Hà Thanh hát bài ấy nhất, và muốn được gửi đến ca sĩ ấy một lời cám ơn... muộn màng. 
Trở lại chuyện “mối duyên trong cuộc đời này”, nói như nhạc sĩ Nguyễn Hiền, tôi chắc nhiều người cũng tin như ông vậy. Nếu không có cái “duyên” ấy thì dẫu có đi hết cuộc đời mình cũng chẳng ai gặp được ai, hay nếu có gặp, có “đụng” phải nhau thì cũng lại dạt ra, mỗi người một hướng, mỗi người một dòng chảy, cũng tựa như những anh chàng, những cô nàng vớ vẩn mà ta có lần gặp gỡ phất phơ đâu đó trong đời này, nói dăm ba câu chuyện nắng mưa rồi chia tay đường ai nấy đi, và chẳng bao giờ còn gặp lại lần thứ hai. 
Không phải chỉ “duyên” thôi, tôi chắc nhạc sĩ Nguyễn Hiền còn tin cả vào... “duyên số”, hay “duyên kiếp”, hay “duyên tơ” nữa. Nếu không có mối duyên tơ ấy, làm sao có được cuộc hạnh ngộ hơn năm mươi năm về trước giữa chàng nghệ sĩ tài hoa và cô cháu gái xinh đẹp của nhà thơ Tú Mỡ (khiến lòng nàng phải xao xuyến, khiến lòng chàng phải bâng khuâng “trăm năm biết có duyên gì hay không?”). Nếu không có mối duyên tơ ấy, làm sao có được “ngày lễ vàng” kỷ niệm 50 năm nên vợ thành chồng. 
Trong một lần tiếp xúc với nhạc sĩ Nguyễn Hiền, tôi được nghe ông nói thêm một chút về điều mà ông gọi là “cái ‘duyên’ trong cuộc đời này”. “Đúng vào ngày đó giờ đó,” ông nói, “gặp người nào đó ở nơi nào đó, một quán ăn, quán nước chẳng hạn, không phải là chuyện tình cờ, ngẫu nhiên như ta tưởng mà mọi việc đều có bàn tay của ai đó sắp đặt. Đấy là bàn tay của định mệnh, hay là ‘định mệnh đã an bài’.” Những chuyện như thế từng xảy đến trong cuộc đời tôi, và tôi thực sự tin vào điều ông nói. Tôi cũng muốn thêm rằng: thứ nhất, những mối duyên kỳ ngộ ấy có khi dẫn chúng ta đến một lối rẽ khác trong cuộc đời; thứ hai, đôi lúc có những con người, tuy chỉ gặp một lần thoáng qua trong đời - chẳng biết có phải duyên hay không duyên - cũng làm ta nhớ mãi nhớ hoài. Những con người đặc biệt. Cái “đặc biệt” ấy có thể là một vẻ đẹp thu hút, một nhân cách đáng quý, một câu nói hàm xúc, một hành xử ý nghĩa… Nhạc sĩ Nguyễn Hiền, tôi vẫn cho rằng ông là một trong những người “đặc biệt” như thế. 
Lần tiếp xúc duy nhất ấy kéo dài không quá... ba mươi phút nên chắc khó có thể gọi là “cái duyên” như ông nói, nhưng khá thú vị và cũng cho tôi thấy được phần nào tính cách con người ông; hơn thế nữa, còn gieo vào lòng tôi những cảm xúc sâu đậm. Tôi gặp ông trong một tiệc cưới ở nhà hàng Dalat Bistro, đường Brookhurst, Nam CA vào một đêm hè cuối tháng 7/2004. Ông đứng lên từ một bàn tiệc, cúi chào mọi người khi nghe giới thiệu tên mình trong số “khách đặc biệt”. Một “khách đặc biệt” khác tôi nhớ được là ca sĩ Ngọc Minh, chị hát một bài gì đó tặng cho đôi tân hôn... Vào lúc nào đó gần cuối bữa tiệc, đầu óc váng vất vì có uống chút rượu, tôi đứng dậy, bước ra cửa tìm chút thoáng gió bên ngoài. Trước mặt tôi là khoảng parking rộng. Một bóng người đứng ở góc khuất. Người ấy quay lại, mỉm cười khi nhìn thấy tôi. Khi bước lại gần, tôi nhận ra ông, nhạc sĩ Nguyễn Hiền. Ông đứng đó một mình, hút thuốc (ông tưởng tôi cùng “phe” hút thuốc với ông chắc). “Anh nói được lắm,” ông ngó tôi, nói, “ngắn gọn, ý nghĩa.” Khi ấy tôi mới hiểu ra nụ cười của ông. Ông nhận ra tôi, người đại diện hai họ có “đôi lời phát biểu” cùng khách mời trong tiệc cưới. Tôi nói cám ơn ông (ông không biết những lời ấy tôi gần như... thuộc lòng vì từng nói đi nói lại nhiều lần) và hân hạnh được biết ông. Ông tỏ vẻ ngạc nhiên khi biết tôi từ nơi xa đến để làm chủ hôn cho đứa cháu sống một thân một mình ở đây... Sau ít câu thăm hỏi xã giao, trong lúc ông lặng yên nhìn ánh trăng trên ngọn cây, tôi nhắc đến câu hát Trăng sáng soi liếp dừa trong bài “Anh cho em mùa xuân” của ông. Tôi cũng “tán” thêm là tôi rất thích những câu hát mang theo hình ảnh hàng dừa, liếp dừa, như là: 
Đêm trăng ướt lá dừa 
(“Tình quê hương”, Ðan Thọ và Phan Lạc Tuyên) 
Hàng dừa nghiêng thương nhớ 
(“Thuở ban đầu”, Phạm Ðình Chương) 
Chiều xưa/ gió êm lay nhẹ liếp dừa 
(“Bóng người đi”, Văn Phụng) 
Gió mang mùa xuân tới/ hôn liếp dừa lên hương 
(“Mộng ban đầu”, Hoàng Trọng và Hồ Đình Phương) 
“Còn nữa,” ông dụi tắt điếu thuốc. “Mắt xanh là bóng dừa hoang dại, Phạm Ðình Chương phổ thơ Ðinh Hùng.” 
“Hàng dừa mang hình ảnh rất... quê hương Việt Nam,” tôi nói. 
“Hàng cau’ thì đúng hơn, theo tôi.” 
Câu nói của ông làm tôi… “khựng” lại trong giây phút. 
“Trăng sáng soi liếp dừa và Trăng lên bằng ngọn cau,”(1) ông nói. “Hai trăng đều trăng cả, trăng nào ‘quê hương’ hơn?” 
Tôi phải chịu là ông nói đúng. “Trăng nào ‘quê hương’ hơn?”… Tôi chỉ nghĩ đến vẻ đẹp của những hàng dừa, liếp dừa, bóng dừa..., trong lúc ông luôn cất giấu trong đáy tim hình bóng quê nhà. Ngọn cau, hàng cau, hoa cau, hương cau…, đấy mới là quê hương. Nhạc sĩ Nguyễn Hiền, ngay lúc ấy tôi nhận ra nơi ông một điều, ông yêu quê hương hơn tôi và hơn rất nhiều người khác. Ông yêu quê hương theo cách của ông. 
Tôi cũng ngước nhìn trời. Trăng chưa thật tròn, nhưng thật sáng. Vầng trăng như vừa xa xôi lại vừa gần gụi. Đêm bỗng trở nên yên tĩnh. Trong lòng tôi khi ấy bỗng dâng lên một cảm xúc thật kỳ lạ. Tôi có cảm giác tựa hồ đã lâu lắm, có khi là từ ngày đến Mỹ, lần đầu tiên tôi mới nhìn thấy lại bầu trời và ánh trăng, và thấy trăng sáng đến như vậy. Bầu trời ấy vẫn có hằng đêm, vầng trăng ấy còn theo tôi mãi, vậy mà bấy lâu tôi nào có để ý, cứ tưởng rằng phải đi về một nơi chốn nào xa xôi lắm mới mong tìm gặp. 
Bầu trời nào cũng chỉ một bầu trời, vầng trăng nào cũng chỉ một vầng trăng, vậy mà con người nghệ sĩ tôi mới gặp lần đầu ấy, nhìn trăng viễn xứ phương này lại mơ về bóng trăng soi phương nào. 
Ông rút điếu thuốc khác, chìa gói thuốc về phía tôi. Tôi nói đã lâu tôi không hút lại, nhưng nếu ông mời tôi xin hút với ông một điếu cho vui. Trong những câu hát, câu thơ về “hàng cau” ông kể ra sau đó, tôi nhớ đại khái... Thương về mái tranh nghèo bên hàng cau (“Nhớ bến Ðà giang”, Văn Phụng và Chiêu Tranh) và... Bóng tre ru bên mấy hàng cau, đồng quê mơ màng (“Làng tôi”, Chung Quân). Nhất thời tôi không nhớ được bài nào, câu nào để góp chuyện với ông, thế nhưng khi nghe ông đọc câu thơ Hàn Mặc Tử, “Sao anh không về chơi thôn Vỹ/ Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên”, tôi buột miệng nói tôi biết một bài hát cũng nói đến “hàng cau” mà tôi rất thích, có thể là ông quên, vì đã lâu lắm rồi.
“Bài gì?” ông hỏi. 
“Người em nhỏ’ của... Nguyễn Hiền,” tôi trả lời, hát khe khẽ, 
“Ngày tôi đi 
vàng nắng nghiêng nghiêng một hàng cau 
Mai ta về quê cũ 
gửi lời về thương nhau” 
“Làm sao mà quên được,” ông nói, sau vài giây im lặng, hạ thấp giọng, như người nói một mình. 
Tôi hiểu. Không ai quên được mối tình đầu. Bài nhạc đầu tay ấy (của chàng trai 18 tuổi ấy), cũng tựa như mối tình đầu trong âm nhạc của Nguyễn Hiền. 
Tôi nhớ đã nói với ông, không phải chỉ riêng ông mà rất nhiều người, trong số ấy có tôi, khó mà quên được “Người em nhỏ” (ông phổ từ thơ một người bạn văn nghệ, Nguyễn Thiệu Giang). Đã nhiều năm, nhiều năm trôi qua, mỗi lần nghe lại câu hát ngày xưa ấy, những cảm xúc ở trong tôi vẫn còn nguyên vẹn, như ở “thuở ban đầu” của bài hát qua giọng hát ấm áp của Ngọc Long. 
Chiều nay buồn viễn xứ 
nhớ người em gái xưa 
Tôi thấy phương trời cũ 
giăng giăng một hàng mưa 
Và giờ đây, trong cuộc sống nổi trôi nơi xứ lạ quê người, tôi chắc không ai nghe câu hát ấy mà không khỏi chạnh lòng. Trong một thoáng, tôi hiểu được vì sao lâu nay tôi, và rất nhiều người, vẫn yêu thích nhạc của ông. Thật dễ hiểu, trong những bài nhạc ấy tình yêu đôi lứa quyện lấy tình yêu quê hương, đất nước. 
Có một khoảng yên lặng giữa chúng tôi lúc ấy. Sau đó, có vẻ như không muốn nói thêm về bài hát cũ ấy, ông trở lại chuyện “hàng dừa, hàng cau” và nhắc đến câu hát trong bài “Lá thư gửi mẹ”, ông phổ từ bài thơ năm chữ của Thái Thủy. 
Con về tầm đẹp lứa/ Mẹ cười vun khóm dâu 
Mái tranh chiều vươn khói/ Vườn thơm ngát hương cau 
Những chuyện trò giữa ông và tôi là những câu chuyện lan man, không đầu không đuôi, nhảy lung tung từ chuyện này sang chuyện nọ và... không chuyện gì ra chuyện gì. Qua lối nói chuyện của ông và qua những lời ông nói, tôi có cảm giác ông rất thành thực; và hơn thế nữa, rất thẳng thắn, theo cái nghĩa chuyện gì biết thì ông nói biết, chuyện gì không biết thì ông nói không biết. Tôi cũng để ý ông có lối nói chuyện thật chậm rãi, thật từ tốn, với một giọng trầm trầm. Ông cũng tỏ ra chăm chú lắng nghe người đối thoại. Thật không dễ gì đoán biết được một người biết chế ngự những cảm xúc như ông đang nghĩ gì trong đầu. Ở nơi ông như toát ra một phong thái điềm tĩnh, một dáng vẻ trầm mặc của người đang chìm đắm trong suy tưởng. 
Tôi rất “chịu” những bài phổ thơ năm chữ của ông, tôi nhớ đã nói với ông như vậy. Có một lúc, nhắc đến bài “Anh cho em mùa xuân”, tôi hỏi ông về một “giai thoại” tôi nghe được từ... trước năm 1975: có đúng là ông đã đổi một chữ trong câu thơ của Kim Tuấn, câu “Trong nắng vàng ban mai” thành ra “Rung nắng vàng ban mai”, khiến tác giả bài thơ phải “khẩu phục, tâm phục”(?). Ông mỉm cười, trả lời “Đúng mà không đúng”, và giải thích: đúng là ông đã đổi ra thành Rung nắng vàng ban mai thật, nhưng câu thơ Kim Tuấn là “Nắng vàng trên ngọn cây” chứ không phải “Trong nắng vàng ban mai”. Tôi nói dù đúng, sai thế nào tôi cũng rất thán phục tài dùng chữ của ông, vì thật khó mà tìm ra được chữ nào hay hơn chữ “rung” để đi với “xao xuyến” trong câu hát ấy. 
Bài thơ còn xao xuyến 
rung nắng vàng ban mai 
Chữ “rung” ấy nghe mới “xao xuyến”, và mới “thơ” làm sao! 
Chữ “rung” ấy được ông sử dụng không phải chỉ một lần. 
Tìm đâu bàn tay che mái tóc huyền rung tơ mềm 
“Trong bản nhạc ‘Tìm đâu’ ấn hành lần đầu,” tôi nói, “chữ ‘rung’ đã bị in nhầm là ‘nung’.” 
“Đúng thế,” ông tỏ ra ngạc nhiên tôi còn nhớ được chi tiết ấy. “Cũng may là ca sĩ đã... tự điều chỉnh.” 
Ông rút điếu thuốc khác. Tôi để ý thấy ông đốt thuốc hai lần trong câu chuyện. 
“Trong bài ‘Anh cho em mùa xuân’ có một câu tôi thích nhất,” tôi nói, và ngừng một chút…, chờ ông hỏi “Câu nào?” Thế nhưng ông chưa kịp hỏi và tôi chưa kịp nói thêm thì người nào đó từ trong nhà hàng bước ra tìm tôi, nói có người cần gặp... Tôi xin lỗi ông, nói rất tiếc phải tạm ngưng câu chuyện. Ông nói chờ một chút, và lấy từ trong ví ra tấm business card trao cho tôi, nói lúc nào tiện gọi phone nói chuyện cho vui. Tôi trở vào. Lúc cánh cửa vừa khép lại, tôi quay nhìn, thấy ông vẫn đứng đó, lặng lẽ như một cái bóng. Chắc ông muốn hút cho xong điếu thuốc, tôi nghĩ. Và đấy là hình ảnh sau cùng tôi còn giữ được về ông. Tấm danh thiếp, gần như đấy là “kỷ vật” duy nhất tôi còn giữ được của ông, trên đó tôi đọc thấy hàng chữ: 
Hien Nguyen 
Cultural Arts Commissioner 
Tôi tưởng như một ông Hiền Nguyễn nào khác, không phải là nhạc sĩ Nguyễn Hiền của “Anh cho em mùa xuân”, không phải là nhạc sĩ Nguyễn Hiền đứng cạnh tôi giữa đêm trăng ấy. 
“Bầy chim lùa vạt nắng” 
Đúng ra, tôi còn cuộc tiếp xúc khác với ông sau lần gặp ấy. Tôi gọi phone đến ông vào một chiều cuối tuần để “nói chuyện cho vui” như lời ông dặn (và nhận ra bốn con số cuối của số phone ông, 1496, trùng với số phone nhà của tôi). Tiếc một điều, lần tiếp xúc này lại còn ngắn hơn cả lần trước vì chỉ kéo dài có... một vài phút. Ông nhận ngay ra giọng tôi khi tôi chưa kịp nói tên mình. Nghe giọng ông có vẻ vui. Sau ít câu thăm hỏi, tôi hỏi ông có bận gì vào lúc ấy không, ông nói đang sửa soạn đi dự... đám cưới. (Lại đám cưới, tôi chắc ông phải mất khá nhiều thì giờ cho những đám cưới vào cuối tuần vì những mối giao tiếp bạn bè, công việc). Tuy vậy, ông cũng nói được với tôi dăm ba câu cho đến lúc tôi xin gác máy để ông đi công chuyện. Ông nói sẽ gọi lại tôi sau và có chuyện vui vui muốn kể tôi nghe. Tôi không đoán ra được chuyện gì. Ít hôm sau ông gọi lại cho tôi thật và chỉ để lại... số phone của ông trên caller ID, vì tôi vắng nhà.
Sau đó ít lâu tôi “thấy” ông xuất hiện trên sân khấu Paris By Night (trong chương trình ca nhạc mang tên một nhạc phẩm quen thuộc của ông, “Hoa bướm ngày xưa”), trả lời ít câu hỏi nhiều người muốn biết từ người dẫn chương trình, và đệm đàn cho ca sĩ Lệ Thu hát “Mái tóc dạ hương” - một bài ông phổ thơ Đinh Hùng - đưa người nghe về lại một mùa nào “hoa bướm ngày xưa”. 
Một trong những bài nhạc tiêu biểu của Nguyễn Hiền được giới thiệu trong chương trình ấy là “Anh cho em mùa xuân”. Giọng hát, cách thể hiện của cô ca sĩ trẻ và giàn nhạc làm tôi thêm nhớ cái “thuở ban đầu” của bài nhạc ấy. Ít nhất đã có hai thế hệ hát “Anh cho em mùa xuân”. Các ca sĩ và ban nhạc của thế hệ thứ hai (ở trong và ngoài nước) có khuynh hướng thay đổi tiết tấu của bài nhạc ấy bằng nhịp điệu nhanh, mạnh, sôi nổi, như muốn làm rộn ràng hơn không khí mùa xuân.
Việc “cải biên” này cũng… tốt thôi, và cũng phù hợp với “phong cách trình diễn” trẻ trung, sống động hiện đại, tuy rằng bài nhạc, với âm giai La trưởng và nhịp điệu Tango Habanera dìu dặt, cũng đủ để mang về mùa xuân (mà không cần phải “đánh nhanh, đánh mạnh” bằng điệu nhạc kích động để... mừng đón xuân về). Việc thay đổi tiết tấu và cách trình diễn ấy có phần nào đánh mất khí hậu của bài hát là vẻ lắng đọng của đất trời vừa mới sang xuân, pha lẫn chút thi vị ngọt ngào của bài thơ còn xao xuyến, thể hiện qua từng lời thơ và từng nốt láy mềm mại ở cuối những câu nhạc. 
Mùa xuân của “Anh cho em mùa xuân” là xuân của đất trời phút giao mùa, là xuân mới của lộc non vừa trẩy lá, là vẻ e ấp của nụ hoa vàng mới nở. Trong cái nắng sớm của ngày đầu xuân có chút se se lạnh của chiều cuối đông còn rớt lại, có chút vấn vương của chiều đông nào nhung nhớ, có chút hơi hướng của đông tàn, xuân mới vừa sang. 
Đôi lúc việc thay đổi hoặc hát sai lời nhạc cũng làm giảm phần nào cái đẹp và độ truyền cảm của bài nhạc gửi đến người nghe. 
Đường lao xao lá đầy/ Chân bước mòn vỉa phố 
Mắt buồn vin ngọn cây 
(Không phải là “Mắt buồn nhìn ngọn cây” hay “Mắt buồn vương ngọn cây”) 
Chữ “vin” ấy nghe rất “mới” và rất thơ. Những chữ “lao xao” và “mòn” ấy nghe cũng rất thơ. 
Hai câu hát trong bài được ca sĩ… hát sai nhiều nhất: 
Đất mẹ gầy có lúa 
Đồng ta xanh mấy mùa 
Câu thứ nhất, Đất mẹ gầy có lúa, là ước mơ đơn sơ của tác giả bài thơ gửi về quê mẹ Hà Tĩnh (vùng “đất cày lên sỏi đá”), được nhiều ca sĩ đổi thành Đất mẹ gầy cỏ lúa, hoặc Đất mẹ gầy cỏ úa, hoặc Đất mẹ... đầy cỏ lúa! 

Câu thứ hai, Đồng ta xanh mấy mùa, ước mơ khác của nhà thơ, được nhiều ca sĩ đổi thành Đồng xa xanh mấy mùa, hoặc... Đồng xanh xa mấy mùa! 
“Trong bài ‘Anh cho em mùa xuân’ có một câu tôi thích nhất,” tôi nhớ đã nói với nhạc sĩ Nguyễn Hiền như vậy. Có thể là ông cũng muốn nghe, muốn biết, nhưng tôi lại chưa có dịp nào (nay thì không còn dịp nào) để bộc lộ với ông. 
Bầy chim lùa vạt nắng 
trong khói chiều chơi vơi 
Bầy chim lùa vạt nắng, câu hát tôi thích nhất trong bài hát ấy. “Lùa vạt nắng”, tôi chưa nghe ai nói thế bao giờ. Chữ “lùa” ấy rất mới, rất đẹp, rất thơ. Làm sao mà ông lại có thể nghĩ ra được cái chữ tài tình đến như vậy? Làm sao mà ông lại dùng chữ ấy chứ không phải là chữ nào khác? (Bầy chim đùa vạt nắng chẳng hạn, như thế cũng là hay, nhưng không thể hay bằng “... lùa vạt nắng”). Ngày ấy chưa ai viết những lời như thế trong thơ, trong nhạc. Mãi về sau này ta mới nghe Lùa nắng cho buồn vào tóc em (“Nắng thủy tinh”, Trịnh Công Sơn). 
Điều thú vị, câu ấy không phải là câu thơ Kim Tuấn trong “Nụ hoa vàng ngày xuân”, mà là thơ... Nguyễn Hiền. 
“Con chim mừng ríu rít” trong bài thơ được ông đổi ra thành Bầy chim lùa vạt nắng, để tương ứng với những nốt nhạc thấp cao, trầm bổng, vừa giữ được ý thơ (vẫn “nghe” được tiếng chim “ríu rít” mừng vui), vừa “thơ” hơn và giàu hình ảnh hơn. 
Tôi yêu câu thơ “Mắt buồn vin ngọn cây” của Kim Tuấn và tôi yêu câu hát Bầy chim lùa vạt nắng của Nguyễn Hiền. Câu thơ ấy rất “Kim Tuấn”, câu hát ấy rất “Nguyễn Hiền”. Tôi cũng yêu lối sử dụng những động từ “vin” và “lùa” trong kho tàng tiếng Việt ấy. 
Nhạc chan hòa đây đó, câu hát ấy không thấy trong thơ Kim Tuấn. Hơn thế nữa, Nhạc, thơ tràn muôn lối, câu hát cuối của bài hát ấy cũng không thấy trong thơ Kim Tuấn. Trong bài thơ “Nụ hoa vàng ngày xuân” không có câu nào nói đến “nhạc” cả. Vậy thì những câu ấy ở đâu ra, nếu không phải là… thơ của Nguyễn Hiền. Trong nhạc có thơ, trong thơ có nhạc. Nhạc quyện vào thơ, thơ quấn lấy nhạc. Nhạc thơ, thơ nhạc đã hòa làm một. 
Anh cho em mùa xuân/ Nhạc, thơ tràn muôn lối... 
Câu kết ở phần coda ấy là một “biệt lệ” (hiếm khi được sử dụng trong nhạc thuật của ông) trong số những bài nhạc vẫn được ông soạn theo khuôn mẫu “cổ điển” với cấu trúc khá cân phương. Những chuỗi nốt nhạc rải đều và nốt ngân cuối rướn cao như bay lên cùng mùa xuân và tan loãng trong không, vẽ nên một nét nhạc đẹp. Cái hay của phần coda ấy là cái hay của một kết thúc đẹp, tròn đầy, gói trọn tình ý của bài nhạc. 
Việc ông không thay đổi câu, chữ nào suốt khổ thơ đầu của “Nụ hoa vàng ngày xuân” làm nhớ tới những bài thơ ngũ ngôn khác từng được các nhạc sĩ khác phổ thành ca khúc cũng rất là “ngọt”. Hoặc, giữ nguyên vẹn bài thơ, như “Tiếng thu”, nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ bài thơ cùng tên của Lưu Trọng Lư. Hoặc, chỉ đổi có... một chữ trong toàn bài thơ, như “Chiều”, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước phổ từ “Màu cây trong khói” của Hồ Dzếnh (chỉ đổi câu thơ cuối “Khói xanh bay lên cây” thành “Khói huyền bay lên cây”). 
Sau câu thơ “Lộc non vừa trẩy lá”, những câu nào không giữ nguyên được thì nhạc sĩ Nguyễn Hiền bèn thay đổi chút ít, trong lúc vẫn giữ ý chính của câu thơ. Lạ một điều, những câu ông đổi nghe rất thơ, và có phần... thơ hơn cả bài thơ. Chẳng hạn: 
“Con chim mừng ríu rít” đổi thành Bầy chim lùa vạt nắng 
“Ngoài đê diều thẳng cánh” đổi thành Ngoài đê diều căng gió 
“Câu hát hò vẳng đưa” đổi thành Thoảng câu hò đôi lứa 
“Trẻ đùa vui nơi nơi” đổi thành Trẻ nô đùa khắp trời 
“Nắng vàng trên ngọn cây” đổi thành Rung nắng vàng ban mai 
Người nhạc sĩ đã “làm mới” thơ, đã làm thơ “thơ” thêm một lần nữa. Tâm hồn nhạc sĩ Nguyễn Hiền vốn nhạy bén với thơ, dễ bắt được những tần số rung động của thơ. Ông đã “nâng” thơ lên, đã chắp cho thơ “đôi cánh nhạc”, đã tặng thêm cho bài thơ một đời sống khác. Ngôn ngữ nhạc quyện lấy ngôn ngữ thơ, khiến thơ bay lên, nhạc cũng bay lên. “Nụ hoa vàng ngày xuân” đã bước ra khỏi những trang thơ để hóa thành một trong những bài nhạc xuân hay nhất. 
Nếu được phép “bình chọn ca khúc Xuân hay nhất” cho riêng mình, “Anh cho em mùa xuân” chắc chắn là một trong vài bài nhạc xuân tôi yêu nhất và luôn muốn được nghe đi nghe lại. Sau bao mùa tang thương dâu bể, sau bao nhiêu vật đổi sao dời, bài nhạc xuân ấy nghe vẫn cứ “mới”, như mùa xuân vẫn “mới”, như những “nụ hoa vàng” vẫn nở trong nắng “mới” của một ngày đầu xuân. 
Sau “Anh cho em mùa xuân”, ta còn có thêm những bài phổ thơ Kim Tuấn khác của các nhạc sĩ khác, như “Những bước chân âm thầm” của Y Vân, “Khi tôi về” của Phạm Duy, “Ta ở trời Tây, nhớ trời Đông” của Phạm Ðình Chương, “Khi xa Saigon” của Lê Uyên Phương... và không ít những ca khúc khác của các nhạc sĩ trong và ngoài nước. Hai ca khúc phổ biến nhất trong số ấy vẫn là “Anh cho em mùa xuân” của Nguyễn Hiền và “Những bước chân âm thầm” của Y Vân (phổ từ bài thơ “Kỷ niệm” của Kim Tuấn). 
Tôi yêu thuở ban đầu của “Anh cho em mùa xuân”, như yêu tiếng hát mềm mại và nũng nịu của Lệ Thanh, như yêu những nốt nhạc luyến láy của chiều đông nào nhung nhớ, của ngoài đê diều căng gió/ thoảng câu hò đôi lứa Tôi cũng yêu thuở ban đầu của “Những bước chân âm thầm”, như yêu những tiếng hát trầm ấm của Mai Trường-Trần Ngọc-Hồng Phúc (và của Ban hợp ca Thăng Long sau này), như yêu vẻ trầm mặc của những rặng thông già lặng câm, như yêu những mối tình nở muộn và những ngọn đèn thắp mờ bóng đêm. (Làm như có sự gần gũi nào đó giữa hai bài thơ, giữa hai bài nhạc, giữa chân bước mòn vỉa phố và từng bước, từng bước thầm...). Đó là những tiếng hát của một mùa kỷ niệm. Đó là thời kỳ của những tiếng hát thực sự là những tiếng hát, chưa có những phô diễn kỹ thuật và cũng chưa có những hòa âm phối khí tân kỳ. 
Ðến nay thì cả Y Vân, Kim Tuấn và Nguyễn Hiền đều lần lượt đã ra người thiên cổ (và cả Phạm Đình Chương, Lê Uyên Phương... nữa cũng đã ra người thiên cổ), thế nhưng những khúc nhạc đẹp tựa bài thơ ấy sẽ còn đọng lại mãi trong lòng người. 
“Nhớ nhau khi mây vương vương mầu tím...” 
Không phải chỉ những ca khúc phổ thơ của Nguyễn Hiền mới là những ca khúc “đẹp tựa bài thơ”. Có thể nói, những người yêu cái đẹp cũng sẽ dễ dàng yêu những khúc nhạc êm êm, lâng lâng, yêu những khúc hát êm đềm, ngọt ngào và đầy thi vị của người nhạc sĩ ấy. Những khúc hát đẹp và buồn như một nỗi tiếc thương... 
Về một hình bóng đã xa khuất, những ngày vui qua mau. 
Chiều tím không gian mênh mang niềm nhớ 
mây bay năm xưa còn đó/ đâu tìm người hẹn hò
(“Ngàn năm mây bay”) 
Tìm đâu bàn tay che mái tóc huyền rung tơ mềm 
Tìm đâu muôn màu hoa nắng lung linh/ vương chân êm 
(“Tìm đâu”) 
Nơi ấy bao ngày xanh qua/ hồn thơ mơ màng quá 
yêu những khung trời hoa bướm/ với nắng tơ vàng êm 
(“Hoa bướm ngày xưa”) 
Về một sân trường kỷ niệm và một mùa nào lãng mạn. 
Mùa thu ánh trăng dõi bên thềm... 
nắng loang trên sân trường một mùa nào 
(“Từ giã thơ ngây”) 
Thuở ấy không gian chìm lắng trong mơ 
tà áo em xanh/ mầu mắt ngây thơ... 
Tôi đi trong mơ/ tìm bóng dáng yêu kiều 
mùa thu lá rơi bên đường thật nhiều 
(“Tiếng hát học trò”) 
Về một “quê hương khuất bóng hoàng hôn” và những mùa xuân thanh bình một thuở. 
Cho nhớ thương về quê xưa/ mùa xuân không còn nữa 
muôn cánh hoa đào phai úa/ lối cũ rơi hững hờ 
(“Hoa bướm ngày xưa”) 
Âm nhạc Nguyễn Hiền, nói như ca sĩ Quỳnh Giao, “là sự mời gọi trở về một không gian đã tắt, một thời gian đã lặng”. (Màu tím bên thềm năm mới, báo Người Việt, 27/12/2005). Nghe nhạc Nguyễn Hiền là nghe những lắng đọng, là đắm chìm trong một ký ức xa vời, là tìm về những đường xưa lối không quên. Cám ơn ông, cám ơn người nhạc sĩ đã dạo lên những khúc nhạc êm đềm để giữ cho những giấc mơ ngọt ngào của chúng ta không bao giờ tắt hẳn. 
Có lẽ vì nét nhạc lâng lâng gợi nỗi tiếc nhớ mênh mang ấy, những bài của Nguyễn Hiền thường được các giọng nữ thể hiện nhiều hơn (mặc dầu ở vài bài, giọng nam khá phù hợp). Chẳng hạn, “Lá thư gửi mẹ” với Thái Thanh, Khánh Ngọc, Mỹ Thể, Lệ Thanh, Thái Hiền; “Mái tóc dạ hương” (phổ thơ Đinh Hùng, tựa ban đầu là “Những phố không đèn”) với Hồng Vân, Lệ Thu, Thanh Lan, Ý Lan; “Anh cho em mùa xuân” với Lệ Thanh, Hà Thanh, Khánh Ly, Lệ Thu; “Từ giã thơ ngây” với Thanh Thúy, Hà Thanh, Xuân Thu, Hoàng Oanh; “Ngàn năm mây bay” với Kim Tước, Mai Hương, Khánh Hà; “Người em nhỏ” với Lệ Thanh, Mỹ Thể, Mai Hương; “Tiếng hát học trò” với Lệ Thanh, Thanh Lan, Hoàng Oanh; “Hoa bướm ngày xưa” với Trúc Mai, Lệ Thu; “Thầm ước” với Thái Thanh, Hoàng Oanh; “Tìm đâu” với Lệ Thanh, Mai Hương; “Em là vì sao sáng” với Hoàng Oanh, Hà Thanh; “Lá rơi bên thềm” với Kim Tước, Mỹ Thể; “Hương thề” (phổ thơ Hoàng Ngọc Liên) với Thanh Thúy; “Hai mươi câu của tuổi trẻ” (phổ thơ Song Hồ) với Lệ Thu; “Tiếng sáo diều” với Quỳnh Giao; “Ý nhạc chiều” với Kim Tước; “Gửi một cánh chim” với Mai Hương…
Trong số những sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Hiền, ngoài những bài phổ thơ, có những bài đến từ nguồn cảm hứng qua các tiểu thuyết hoặc phim ảnh trong nước thời ấy, như “ uồn ga nhỏ” (từ một truyện cùng tên của Thanh Nam) hoặc “Ngàn năm mây bay”, “Tiếng hát học trò” (từ các tiểu thuyết cùng tên của Văn Quang, được các đạo diễn Thái Thúc Nha và Hoàng Anh Tuấn thực hiện thành phim). 
Đôi lúc ông cũng viết nhạc chung với những người bạn nhạc sĩ (như “Buồn ga nhỏ”, “Đã mấy thu rồi”, “Từ giã thơ ngây”, “Tiếng hát học trò” viết chung với Minh Kỳ; “Hoa đào năm trước” viết chung với Lê Dinh; “Về đây anh” viết chung với Nhật ằng; “Về bến xưa” viết chung với Thiện Huấn; “Tình trăng nước” viết chung với Y Vân; “Bước chân dĩ vãng” viết chung với Lan Đài…). Có khi ông viết nhạc, bạn ông viết lời (như những bài “Hoa bướm ngày xưa” và “Thanh bình ca”, lời của Thanh Nam); có khi ông viết lời, bạn ông viết nhạc (như những bài “Lá rơi bên thềm” và “Màu tím hoàng hôn”, nhạc của Lê Trọng Nguyễn). 
Những người từng quen biết hoặc có dịp gần gũi với nhạc sĩ Nguyễn Hiền, khi nhắc đến ông, đều bộc lộ sự cảm mến, quý trọng con người nghệ sĩ tài hoa với kiến thức sâu rộng về âm nhạc đông và tây phương, thể hiện qua mẫu người mực thước, trầm tĩnh và khiêm tốn; đồng thời, cũng tỏ lòng ngưỡng phục về những cống hiến của ông đối với các hoạt động văn hóa, nghệ thuật làm nổi bật bản sắc của dân tộc, mang lại niềm tự hào cho cộng đồng người Việt. 
“Gặp gỡ để chia phôi 
cuộc đời như gió thoảng 
còn chút tình trong tôi…” 
Quả đúng là “cuộc đời như gió thoảng”, như câu thơ nhạc sĩ Nguyễn Hiền viết gửi người bạn thiết, nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn (tác giả “Nắng chiều”, “Sao đêm”, “Bến giang đầu”, “Chiều bên giáo đường”…), một năm sau ngày bạn ông lặng lẽ “rời bỏ cõi thế để an nghỉ trên đỉnh bình yên”. (2) Ông gọi bạn mình là “một nghệ sĩ tài ba khiêm tốn rất mực”. (2) Cái danh hiệu ông gán cho người bạn đã khuất, nay có đem… gán cho ông chắc cũng không sai chút nào. 
Nay thì cả ông và nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đều đã như những cánh lá rơi bên thềm nhà vắng. Những chiếc lá dẫu đã lìa cành, những người nhạc sĩ dẫu đã ngừng viết nhạc, thế nhưng những khúc nhạc ấy, những khúc nhạc làm cuộc sống thêm ý nghĩa, vẫn luôn được yêu thích, vẫn được hát lên ở trong nước ngoài nước, ở mọi nơi mọi chốn. Nhạc sĩ Nguyễn Hiền, cho đến cả những phút cuối đời, những phút chênh vênh giữa hai bờ tử sinh, những phút chạm tay vào lằn ranh sống chết, vẫn bày tỏ nỗi niềm trăn trở và ước mơ về một vận hội mới về trên quê hương. Ngọn nến leo lét tưởng chừng sắp tắt ấy trong giây phút cuối vẫn còn lóe sáng một niềm tin. 
Tin nhạc sĩ Nguyễn Hiền bị ung thư phổi nặng khá bất ngờ đối với tôi và nhiều người, và cả… chính ông, vì trước đấy, hầu như không có dấu hiệu xấu nào cho sức khỏe của ông. Ông qua đời chỉ ít tuần sau khi nhận được tin xấu ấy, vì bệnh trạng đã ở vào thời kỳ “hết thuốc chữa”. 
Tôi nhớ, vào một buổi tối, sau ngày ông mất, lúc đang ngồi ở bàn computer tôi bỗng nghe một giọng hát cất lên. Chiều tím không gian mênh mang niềm nhớ... Một bài của Nguyễn Hiền. Người ta đang cho phát thanh lại một bài nhạc cũ của ông. Tôi ngồi yên lặng một lúc, lắng nghe... Bỗng dưng tôi cảm thấy thèm hết sức một hơi thuốc. Tôi vẫn để gói thuốc lá trong ngăn kéo bàn làm việc, lâu lâu kéo một điếu khi bè bạn đến chơi. Có khi tôi quên bẵng đi, khá lâu không đụng tới. 
Tôi khẽ mở cửa sau, bước ra ngoài. Trời gây gây lạnh. Đêm tối yên lặng quá. Tôi nhớ, đó là một đêm cuối năm. Tiếng hát vẫn như quấn lấy chân tôi. Nhớ nhau khi mây vương vương mầu tím Tôi đốt một điếu thuốc, đứng nhìn thật lâu vào khoảng không. Cứ mỗi lần hay tin một người quen nào đó vừa mới qua đời, tôi lại có cảm giác thật hụt hẫng như vừa bước hụt vào khoảng không, và nhận rõ được cái vô nghĩa mênh mông đến tột cùng của cuộc sống, của kiếp người. Liệu có nghĩa gì, khi ai đó tạt ngang qua cuộc đời này, rồi bất ngờ… biến mất khỏi mặt đất này! Trong bỗng chốc tôi thấy rõ, cuộc sống… không là gì cả. Cuộc sống nhẹ tênh, như bóng mây qua, như… ngàn năm mây bay, mây vẫn bay. 
Bỗng dưng tôi nhớ lại một đêm nào, tôi cũng mở cánh cửa, cũng bước ra ngoài, và tôi... gặp ông. Tôi quăng điếu thuốc sau khi bập bập vài hơi, chẳng thấy ngon lành gì cả, và cảm thấy thiếu thiếu một cái gì... Tôi ngước nhìn trời đêm, và gặp ánh trăng. Trăng chưa tròn, nhưng thật sáng, và trông thật gần. “Trăng nào ‘quê hương’ hơn?” tôi nhớ câu ông hỏi tôi. Tôi đã không trả lời dù biết câu trả lời. 
Tôi dõi mắt hướng về một ngôi sao xa nhất, khi ẩn khi hiện trên nền trời đen thẫm, trông xa vẫn thấy lấp lánh như có một linh hồn. Tôi không biết giờ này ông ở đâu, nhưng tôi tin rằng linh hồn ông - như cụm mây lững lờ - đã bay về lại quê hương cũ, về lại nơi chốn có những thửa ruộng, có những mảnh vườn thơm ngát hương cau, có những chiều ngoài đê diều căng gió, có những đêm trăng sÁng soi liếp dừa, có những bầy chim lùa vạt nắng và có những mùa thu lá rơi bên đường thật nhiều... 
Tiếng hát vẫn như quấn lấy chân tôi. Ngàn kiếp mây bay không phai niềm nhớ Tôi bước chậm trở vào, tiếng hát như cũng theo sau. Mây bay năm xưa còn đó/ đâu tìm người hẹn hò 
Bài hát ấy, “Ngàn năm mây bay” của Nguyễn Hiền, nói như nhà văn ích Huyền, “là nỗi buồn thật đẹp, thật nhẹ nhàng, thật mênh mang như bức tranh thủy mạc...” (3) Tại sao lại Ngàn kiếp mây bay không phai niềm nhớ mà không phải là “ngàn năm mây bay” như cái tựa của bài hát ấy?... 
Tôi hiểu, ông đã đổi một chữ trong câu hát cho tương ứng với nốt nhạc trầm bổng. Tôi tự hỏi và tự trả lời. Như ông đã đổi ít câu, ít chữ khi phổ nhạc bài thơ “Nụ hoa vàng ngày xuân”. 
“Anh cho em tất cả 
Tình yêu non nước này 
Bài thơ còn xao xuyến 
Nắng vàng trên ngọn cây” 
Bài thơ đã làm ông “xao xuyến”. Bài thơ ông đọc thấy tình yêu đôi lứa quyện lấy tình yêu quê hương, đất nước. Tôi hiểu được vì sao ông đã chọn bài thơ xuân ấy để phổ nhạc. 
Người viết bài hát ấy đã đi xa, thế nhưng bài hát ấy, sau bao nhiêu năm, vẫn còn ở lại, vẫn có một sức sống, vẫn không bao giờ cũ. Như ngàn năm mây vẫn bay, như đất trời vẫn bốn mùa, như những lứa đôi vẫn yêu nhau, như những nụ hoa vàng vẫn nở khi đất trời vừa mới sang xuân. Và cuộc sống nhờ thế, nhờ có những bài xuân ca như thế, cũng sẽ đẹp thêm lên một chút. 
“Anh cho em mùa xuân”, bài nhạc xuân rất xuân, và rất thơ.
Chú thích:
(1) Kỷ niệm, nhạc Phạm Duy 
(2) Vài nét về nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, Nguyễn Hiền (lời giới thiệu Tuyển Tập Nhạc Lê Trọng Nguyễn, 6/2005) 
(3) Ngàn năm mây bay, Bích Huyền (Câu chuyện thơ nhạc, đài “Tiếng nói Hoa Kỳ”, 22/7/2006). 
10/4/2011
Lê Hữu 
Theo https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Lịch sử: Chân lý và hư cấu trong Đức Thánh Trần của Trần Thanh cảnh

Lịch sử: Chân lý và hư cấu trong Đức Thánh Trần của Trần Thanh cảnh Có thể nói, với Trần Thanh Cảnh, lịch sử chỉ là cái cớ, phông nền để ô...