Thứ Ba, 23 tháng 11, 2021

Cuộc chơi 1

Cuộc chơi 1

Bé Bé

Tóc vàng hoe lưa thưa như râu ngô, người mập bệu, tay chân ngùng ngoằng.

Nhưng bù vào nước da trắng ngần, lúm đồng tiền trên má nó tươi quá sức. Mỗi lần nó cười, những tia nắng lại hiện sau mắt nó chấp chới.

Nó không biết nói gì cả, ngoài hai câu "đẹp quá" và "em không thích" cùng dáng đi lũn cũn. Ai cũng bảo nó là đứa không tình cảm.

Hai chị em tôi sống trên căn gác xép hẹp như chuồng chim câu, có hai cửa sổ khoét tròn trông thẳng lên trời. Những hôm trời mưa ba phải lấy nilon phủ kín lại. Hai cửa sổ giống hệt hai cái ống nhòm: Mây trắng và sao đủng đỉnh đi qua, thi thoảng lại ghé vào đùa chơi với nó. Nó nằm ườn trên giường phơi cái bụng chang bang. Nó đập hai bàn tay vào nhau và cười rúc rích. Tôi ngồi ở bàn học, rối tinh rối mù vì những bài tập toán hắc búa, quay sang cáu: "Bé, để yên cho tao làm bài". Nó vẫn cười, mà cười rất to. Nó bảo "đẹp quá" nghe tức không chịu được. Tôi hét "Bé, để yên cho tao học". Nó im bặt, lồm cồm bò dậy và lủi vào góc nhà nhìn tôi sợ hãi. Tôi học bài đến khuya quay lại đã thấy nó ngoẹo đầu ngủ, xung quanh vung vãi những thứ đồ chơi bằng những bìa xanh đỏ cắt méo mó. Tôi đánh thức nó dậy "Bé, đi ngủ". Nó răm rắp vâng lời, không hề tự ái vì chuyện lúc nãy. Nó hiền như bụt, chẳng biết giận ai bao giờ. Nhiều lúc nghĩ, tôi thấy nó tồi tội và hối vì mình đã nặng lời. Tôi vuốt má nộ: "Ngủ đi Bé". Nó nhìn tôi trân trân: "Em không thích". "Thích thiết gì. Ngủ đi". Tôi lại đâm cáu và quay lưng ngủ mất.

Ở nhà ai cũng không thích nó, dù nó hiền và dễ bảo. Khách đến nhà ba mẹ chỉ giới thiệu tôi - một đứa con gái thông minh; xinh xắn lúc nào cũng vênh váo vì mình luôn đứng nhất lớp. Ba mẹ hay bỏ quên nó trên gác xép. Nó mặc quần áo cũ của tôi thành quen. Một lần mẹ mua cho nó cái quần mới, nó chối đây đẩy: "Em không thích, em không thích". Mẹ chán. Từ đấy chẳng phải mua sắm gì cho nó nữa. Ba mẹ tập trung tất cả vào tôi, niềm tự hào, mầm non xanh tươi của ba mẹ, biến tôi thành bà hoàng con không hơn không kém.

Thương nó nhất nhà là bà ngoại. Bà mới ở quê ra mà nó với bà đã quấn quýt nhau lạ. Bà già yếu, cũng tướng đi lũn cũn như nó. Từ lúc có bà lúc nào nó cũng cười, nụ cười ngớ ngẩn và da thịt săn chắc lại. Bà rẽ tóc, tết cho nó hai bím con con như hai con sâu. Bà dạy nó chơi ô quan, đánh chuyền. Cái gì nó học cũng mau. Chỉ nói thì vẫn bập bẹ hai câu "Đẹp lắm" và "Em không thích". Mỗi lần ai cáu gì nó, bà lại bênh chằm chặp: "Nó ốm đau biết gì mà la mắng nó, tội nghiệp". Ba mẹ tỏ vẻ quan tâm đến nó nhiều hơn. Tôi đâm ghét nó, giận lây luôn cả bà. Từ xưa tới giờ lúc nào tôi cũng quen nghĩ chỉ có tôi là duy nhất trong nhà này. Tôi chỉ muốn nó đi khuất mắt cho xong.

Tôi đi học về thấy bàn học bừa bộn, hộp bút màu của tôi biến mất. Ở góc nhà, nó đang lúi húi dưới đất. Tôi lại gần, tá hỏa. Màu của tôi vứt lung tung, có cây lại bị gãy ruột. Tờ giấy nó vẽ, nhăng nhít màu. Tôi tức phát khóc. Tôi phát vào tay nó một cái đau điếng: "Bé, sao mày phá của tao?". Nó ngơ ngác một giây rồi khóc ré lên như còi xe cứu hỏa. Tôi hét: "Cho mày đáng đời". Bà lật đật chạy lên hốt hoảng: "Sao con ăn hiếp em hoài vậy? Nó có biết gì đâu!". "Ai bảo nó phá màu của con" - Tôi gân cổ cãi. Bà ôm nó vào lòng xuýt xoa: "Nín đi bà thương, nín bà thương. Chị mày chẳng biết gì hết. Em đang vẽ lại đi đánh em nhỉ, nhỉ!". Tôi làu nhàu: "Có bà chẳng biết gì hết thì có. Bà đi mà mang nó về quê ở". Bà nghiêm mặt: "Con vừa nói gì?". Tôi chối: "Con có nói chi đâu. Bà bảo nó lần sau đừng có hòng mà đụng vô đồ con". Tôi thò tay nhéo lén nó một cái đáng đời. Nó đau lại nhành miệing khóc. Bà lắc đầu, khe khẽ thở dài và dắt nó xuống nhà. Một lát đã nghe tiếng nó léo nhéo dưới nhà: "Đẹp quá, đẹp quá!".

Tôi đòi mẹ cho nó xuống ở với bà dưới tầng trệt. Nhưng chưa kịp làm gì bà đã phải về quê trông dì Út sinh em bé. Bà đi từ tờ mờ sáng, sau khi dặn dò kỹ lưỡng tôi phải thương yêu và đùm bọc nó. Tôi vâng dạ, trong bụng khấp khỏi mừng vì từ giờ tôi lại trở thành nhân vật trung tâm của cả nhà.

Nó trở dậy, lũn cũn đi khắp nhà tìm bà. Tôi tội nghiệp: "Bà đi rồi Bé ơi". Nó lẩn vẩn đi ra đi vào ở phòng bà đến chóng mặt. Nó lười không chịu ăn cơm, nước mắt dấp dính trên mặt, luôn mồm "Em không thích, em không thích". Mẹ cho gì nó cũng bảo "Em không thích" phát sốt ruột. Tôi dụ nó chơi chuyền, nó vẫn khóc. Tỉ tê, ỉ ôi đến bực mình. Đang đêm nó giật mình dậy, đưa tay sờ mặt tôi và khóc. Nó đòi bà.

Mấy ngày liền nó chẳng chịu ăn uống gì, nằm sót li bì trên giường. Ba mẹ đưa nó đi bệnh viện về, bảo "Em ốm nặng lắm. Phải chiều em nghe cưng" và chuyển nó xuống phòng bà đế tiện chăm sóc. Tôi nằm một mình trên gác xép không nghe tiếng nó cười cũng buồn, quờ tay sang bên cạnh trống không cũng thấy buồn muốn khóc. Nhà vắng vẻ hẳn vì không có nó đi lũn cũn lục lạo mọi ngõ ngách căn nhà. Tôi chìa cho nó cái kẹo "Bé ăn nhá". Nó lắc đầu. Chìa cho nó con búp bê tôi vẫn giấu kín trong tủ quần áo: "Bé chơi nhá". Nó lắc đầu. Chìa cho nó hộp màu yêu quý mà nó thích, cũng lắc đầu. Nó chẳng chịu gì hết. Nước mắt âng ậng trên hai con mắt cách xa nhau. Nó lắp bắp: "Bà ơi, bà ơi". Đó là câu thứ ba duy nhất mà nó có thể nói được kể từ khi nó biết nói tới nay, nghe thương không sao chịu nổi.

Mẹ lặng nhìn nó và bật khóc. Ba cũng vội quay đi khịt mũi, hai giọt nước mắt to tướng lăn tròn trên má. Nó lại gọi "Bà ơi" và cười, chìa những cái răng nhỏ xíu như răng chuột. Hai mắt nó nhắm nghiền.

Tôi trèo lên gác, nằm lên chỗ nó hay nằm và nhìn qua ô cửa sổ. Trời trong veo. Những con sao lấp lánh nháy mắt nhìn tôi giễu cợt. Một lát chúng bay đi. Tiếp theo lại hằng hà sa số những vì sao khác chạy đến, thò đầu vào ô cửa cười với tôi. Tôi nghe thấy tiếng vỗ tay của bé Bé, thấy nó cười giòn giã "Đẹp quá, đẹp quá". Những tia nắng tươi đẹp hiện ra sau mắt nó lấp lóa.

Tôi với tay nhặt xấp báo. Tờ giấy nó vẽ nhăng nhít từ bữa trước kẹp ở giữa hay vèo xuống đất. Nhìn mãi một lúc tôi mới nhận ra đó là cả một bầu trời sao lấp lánh, thế giới xinh đẹp và thần kỳ hằng đêm của bé.

Tôi thầm bảo với những vì sao, nếu nhớ nếu thương em tôi thì hãy giúp em tôi khỏi bệnh.

Tôi nhớ tiếng cười của em Bé tôi lắm. Nếu em khỏe mạnh lại, tôi sẵn sàng nhường hết tất cả cho em Bé thương yêu của tôi.

Trung Thu

Chúng ta thì ở mãi đây...".

Mấy ngày liền trời mưa như giông bão. Bầu trời xám mọng nước. Những cành cây khô bị gió cuốn rào rào trong vườn. Lá úa ngập trong đất quyện vào mùi mưa gợi lên một thứ hương vị ẩm mốc và xưa cũ. Thi thoảng lại có tiếng một con ếch ộp kêu trời thảm não.

Nhìn lên lịch đã trôi qua ngày rằm Trung Thu. Sang ngày mười sáu âm trăng tròn nhất. Nhưng mưa vẫn mịt mù, dìm trăng vào tận đáy dòng sông trắng xóa. Nhân dựng xe trước cổng, lùm xùm đi vô nhà. Tôi đùa "Ai thế?". Nhân tỏ vẻ phật ý "Có thật là không nhận ra không?". "Thật - Tôi cười xòa - Vì Nhân mặc vầy bé như hột bắp. Không nhận ra được". Nhân cũng nhe hàm răng trắng bóc ra cười, cởi áo mưa treo lên cửa sổ. Nhân hỏi "Đêm nay mình đón gì bây giờ?". "Đón trăng", "Ở đâu cơ?". "Ngốc ơi, rồi sẽ có". Tôi nghiêng người "Mời quý vị, giờ này, phút này...". Chúng tôi leo lên gác. Căn gác gỗ rít nhẹ vài tiếng. Tưởng như mấy bức tranh treo trên tường rung lên bần bật, chỉ chực rơi xuống. Căn phòng tối mờ trong ánh đèn vàng mẵc cao trên mái. Tôi đề nghị "Châu đốt đèn cầy nha. Một, hai, ba hay nhiều nữa?". "Nhiều chứ".

Đèn sáng lên soi rõ gương mặt hiền như con gái với đôi mắt ướt to tròn, ngược hẳn với mái tóc bù xù bụi bặm, vẻ rất thanh thản và bình yên.

Tôi cắt bánh, bày đầy trên dĩa. Nhân bảo "Đừng cắt. Ngán lắm!". Tôi phụng phịu "Thì cũng phải ăn cho có vẻ Trung Thu. Châu chẳng còn gì cả". "Thế Châu hát đi", "Ừ, vậy cũng được". Tôi e hèm giọng "Tết Trung Thu, rước đèn đi chơi...". Nhân nhăn mặt "Hát bài trữ tình kia. Trời mưa vầy hát bài vui chẳng ra sao cả". "Vậy thì nghe băng nhé". Tiếng máy quay lè xè hòa với mưa buồn bã. Bài hát kể về đôi bạn thân thiết ngày xưa kia. Sau nhiều năm gặp lại, tất cả đều không có gì thay đổi. Bầu trời vẫn xanh, mặt đất vẫn nở đầy hoa, hai người vẫn xinh đẹp và trẻ trung. Chỉ có một điều đã khác. Ngày mai cô ấy đi lấy chồng. Và tình yêu bay qua như một cánh chim. Một giọt nước lạnh buốt rơi vào người làm tôi giật mình. Thế giới một vài giây như ngừng hẳn lại. Một nỗi buồn êm dịu len vào phòng, đậu lên trán tôi và ở đó lặng lẽ. Nhân tắt nhạc, úp mở "Cho Châu cái này nè". Nó chìa cho tôi chiếc đèn kéo quân làm bằng giấy bóng kiếng xanh đỏ. Những dòng người cứ thế chạy vòng tròn như chơi trò đuổi bắt. Một cuộc chơi không có điểm dừng để kết thúc. Nhân dò xét "Đẹp không? Nhân làm mấy ngày mới xong". "Đẹp chứ - Tôi đập nhẹ vào tay Nhân - Châu thích lắm. Nó làm Châu nhớ lại ngày xưa với Út Cưng". Nước mắt tôi chỉ chực trào ra. Nhân bảo "Thôi đừng nghĩ gì nữa. Út cũng có sống lại đâu". Nhân kéo ghế ra ngồi bên cửa sổ, với tay lấy cây đàn violon. Nhạc réo rắt vang lên. Nó hỏi "Có nghe thấy tiếng gì không?". "Tiếng chim hót trong vườn vào buổi sớm mai". "Thế còn đây?". "Một cánh đồng. Nhưng bây giờ đã là đêm rồi. Bao nhiêu vì sao rơi xuống dòng sông, lanh canh, lanh canh... Tại sao lại lanh canh như thế nhỉ?". "Tiếng chuông của đêm Giáng Sinh. Chỉ là những bông tuyết rơi xuống đất thôi". "Đến chỗ này, chắc một cô gái sẽ hiện ra. Bà Chúa Tuyết phải không?". "Không, là Châu đây. Châu đang đi giữa những đồng hoa". Tôi im lặng, đưa mắt mơ màng. Nhân ngồi chỗ này đánh đàn, hợp với ô cửa trông ra bốn bề mây gió và cây cối đẹp như một bức tranh. Trên cái nền đen thẫm của những bó lá cây mướt rượt, một khoảng trống lớn màu xám bạc từ từ chuyển sang tím nhụt. Đã ngớt mưa rồi. Nhưng gió vẫn thổi hun hút, đập lá vào mái nhà sàn sạt. Tiếng côn trùng nỉ non như những tiếng thì thầm từ đưđi sâu lòng đất dậy lên. Tôi kêu lên "Nhân ơi". Nhân ngừng đàn, ngơ ngác nhìn tôi "Gì cơ?". "Có nghe đất nói chuyện không?". "Không". "Đó, mẹ Châu bảo, người ta chết rồi là chưa hết. Nhất là người thương yêu nhất của mình, lúc nào cũng muốn về bên mình trò chuyện". Nhân hát xì hơi, so vai vì lạnh. Tôi khuyên "Thôi đóng cửa vô đi".

Mảng trời bị khép lại. Những đám mây u uẩn biến mất. Những tán cây đẫm nước như những người trọc đầu biến mất. Những cây đèn cầy vẫn tiếp tục cháy bừng sưởi ấm căn phòng. "Uổng quá - Nhân nhẩm đếm - Ba mùa Trung Thu rồi không có trăng. Tụi mình quen nhau cũng đã ba năm rồi Châu nhỉ?". "Ờ, ba năm mà tưởng như lâu lắm -Tôi sửa lại mây cọng cỏ khô trên kệ sách - Có muốn ngắm trăng thật không? Nhắm mắt lại Châu đếm đến mười mới mở mắt ra nha". Tôi đi vòng sau lưng Nhân, lấy cuộn tranh treo lên bệ cửa sổ. Khi tấm tranh được bung ra, tôi cảm giác cả căn phòng như bừng sáng. Một vầng trăng tròn lơ lửng trên cao, hiền dịu như một cái bánh thánh bằng bạc màu xanh biếc. Vây xung quanh vô vàn sao. Chúng mọc thành từng đám hay rẽ ra thành những cúc áo óng ánh đính trên áo trời đen thầm. Dường như sâu thẳm trong đó có những nàng tiên vừa bay vừa hát, hương tỏa ra thơm lừng. Nhân mở mắt, reo khe khẽ "Ôi, trăng". Tôi cười "Ừ, trăng đấy. Nhân nhớ gì không: tôi thả thuyền giấy rồi nhìn lên trời...". Tôi cắn mạnh một miếng bánh, thấy nó ngọt lừ tận cần cổ. Tôi nhăn mặt. Nhân cười to "Bảo mà. Ăn ngán lắm mà còn ham".

Hai đứa im lặng, như trôi đi trên bầu trời ấm áp đầy trăng sao. Ngoài kia mưa lại đổ xuống sầm sộp. Nhân thì thào "Trời mưa. Con vịt chui vào hang. Con kiến chui vào tổ. Chúng ta thì ờ đây mãi đây, chỉ có cây khô kia đứng ngoài mưa chịu rét". Xong quay sang tôi "Hay không?". "Văn xuôi hay văn vần - Tôi cười phá lên - Còn thơ thì không thể được rồi". Hai đứa lại bò lăn ra cười. Căn phòng bé tị kia như muốn vỡ ra vì vui vẻ và hạnh phúc.

Mười giờ bốn lăm phút. Tôi tiễn Nhân ra cổng. Tôi bảo "Mưa to về coi chừng. Thật tiếc là đêm nay không có trăng sao thật". Nhân nhìn tôi lom lom không nói gì, cắm cúi đi. Mãi sau mới quay lại, nắm tay tôi "Châu biết không, mình đã có hai vì sao rồi cần gì đến sao khác nữa", "Ở đâu?". Nhân trèo lên xe, thò mặt trắng bóc qua tấm áo mưa bùng nhùng "Ở mắt của Châu đó" và phóng xe đi để tôi đứng lại ngẩn ngơ.

Nhưng đấy đã là Trung Thu của một năm về trước. Đêm Trung Thu này căn phòng chật ních tiếng cười của bà con bạn bè tới chia tay gia đình. Cánh cửa mở rộng cho mây gió và cây cối ùa vào mát lạnh. Chiếc đèn kéo quân và cây violon đã được đóng gói cẩn thận để mang đi. Căn phòng trống trơn, bỗng nhiên thấy rộng ra mãi. Tôi lẻn chui ra một góc, thắp vài cây đèn cầy. Nhân vẫn chưa tới. Đêm Trung Thu đầu tiên không có mưa gió nhưng nhạt và lạnh. Tiếng chân bước huỳnh huỵch, tiếng cười nói lao xao như trong phiên chợ. Tôi gục đầu lên gối mơ màng ngủ. Trong giấc mơ tôi cảm giác có ai đó đang đến gần mình, vuốt nhẹ lên mái tóc thầm thì "...Chúng ta thì ở đây mãi đây. Chỉ có cây khô kia đứng ngoài mưa chịu rét". Tôi mở choàng mắt "Nhân". Mẹ nhìn tôi âu yếm "Dậy đi bé. Đến giờ mình đi rồi". "Nhân chưa tới hả mẹ?". "Chưa, mẹ chưa thấy". Tôi lui hui xách đồ phụ mẹ ra xe. Tôi nhìn căn nhà lần cuối cùng, thấy cổ họng nghẹn lại. Khu vườn bao mùa lá hoa đi qua. Căn nhà bao mùa gió bão đi qua dần trôi tuột về sau.

Sân bay đông nghẹt người. Tôi nhận ra đám bạn cùng lớp. Tụi nó cầm tay tôi dặn dò "Đi vui nhé. Viết thư cho tụi này nhe". Tôi gật đầu, trong bụng nghĩ "Viết thư thì chắc rồi. Chứ vui thì không đâu". Mẹ lại gần "Chuẩn bị vô con". Tôi nhấp nhổm. Ôi, Nhân ơi, chỉ vài giây nữa thôi là tụi mình xa nhau. Chẳng lẽ không gặp mặt nhau được nữa sao? Thôi Châu đi đây. Nhân ở lại mạnh khỏe. Châu đi đây.

Tôi lách người qua đám đông vào phòng đợi. Không gặp mặt nhau rồi. Thôi chào bạn thân yêu.

"Châu".

Tôi quay lại. Nhân đứng sững trước mặt, mồ hôi bết đầy trán, tay bối rối cầm gói quà. Tôi sung sướng "Châu tưởng Nhân không tới rồi!". Tôi ôm chầm lấy Nhân. Mặt hai đứa ướt đẫm. Nhân dúi vào tay tôi gói quà và đẩy vai tôi "Châu đi nhé. Sẽ không quên chứ". "Không quên , không quên...".

Tôi mở gói quà. Một tờ giấy nhỏ bay ra, chữ viết nắn nót "Chúng ta thì ở đây mãi đây. Chỉ có cây khô kia...". Tôi mở băng cassette. Giọng Nhân vang lên ấm áp "Châu còn nhớ không, Nhân thật yêu những vầng trăng bé con yêu thương của tuổi thơ. Châu biết không, Châu cũng là một vầng trăng bé con như thế...". Nhân hát, tiếng hát tha thiết như chứa bao nhiêu kỷ niệm về một vùng trời ngày xưa "... Em về đâu... nơi quê nhà thương nhớ người biền biệt phương xa... xa bạn xa bè, xa quê hương... xa cả người thương...". Để mặc cho những dòng nước mắt chảy ràn rụa, tôi áp mặt vào thành cửa sổ máy bay. Phía dưới kia, một vầng trăng no tròn của đêm rằm đang nhô cao sau dãy núi tím ngát. Hẳn bây giờ Nhân cũng đang ngắm nhìn ánh trăng tươi đẹp ấy. Nhân thấy không, vầng trăng yêu thương sẽ mãi của chúng mình, sẽ mãi đi theo chúng mình. Vậy thì chúng mình đâu có xa nhau phải không Nhân?

Sinh Nhật

Sài Gòn chuyển lạnh. Cái lạnh mảnh và dịu như một sợi tơ vắt ngang qua thành phố, mỗi lần có nắng lại rung rinh vàng óng. Buổi sáng ngủ dậy thấy trời xám hơn và dày đặc mây. Mặt trời lên cao cũng chỉ tròn nhỏ như một cái bánh thánh trắng sữa. Hàng cây xanh rét mướt trên hè phố đầy bụi. Nhân chở tôi đi học, xe phóng vù vù, cổ áo kéo tận miệng. Lâu lâu Nhân quay lại lúng búng "Châu lạnh không? Ngồi sát vào cho ấm". "Không lạnh đâu - Tôi hắt xì hơi một cái thật mạnh, thọc sâu tay vào túi áo. Hay mình cúp học...". "Không được. Sáng nay mình thi - Châu cũng thi mà". "Vẽ vời thôi sợ gì". Tôi im lặng. Nhân sợ tôi phật ý hạ giọng "Để tối đi. Tối đi là đúng điệu nhất". "Tại sao?". "Rõ ngớ ngẩn. Noel chứ sao". Tôi à lên. Noel! Lại thêm một mùa Noel nữa rồi mà tôi quên mất.

Hôm nay là sinh nhật anh. Anh bảo "Đó là ngày Chúa sinh". Tôi cười "Thế anh có thánh thiện như Chúa không?". "Không đâu bé ạ. Anh vuốt nhẹ má tôi - Anh sinh cùng ngày nhưng không cùng giờ. Anh trần tục kinh khủng". Tôi nhún vai "Em không tin thế".

Quả thật trên đời này tôi không tin gì hết. Kiểu như khi ba mẹ đặt đơn ly dị trước mặt tôi, thật lạnh lùng. Tôi không tin. Tôi bỏ sang nhà bà nội. Độ khoảng bốn, năm ngày thì quay về. Nhìn căn nhà lạnh lẽo tôi không khóc, không âu sầu rầu rĩ như những đứa bạn tôi khi bố mẹ chia tay. Vì tôi không tin khi người ta có một gia đình hạnh phúc như thế, người ta sẽ chối bỏ nó được. Đến ngày thằng bạn thân của tôi tuyên bố nó yêu chị tôi, hơn tôi ba tuổi rưỡi và hơn nó hai tuổi mười lăm ngày, tôi cũng không tin. Tôi đi lang thang trên đường, tấp vào quán cà phê có giàn bông giấy rực rỡ. Nó đến trễ hẹn, mặt tràn đây hạnh phúc "Mình vừa chở chị Châu ra ngoại thành. Vui lắm". Tôi cười khẩy, nhìn, những bông hoa sau một hồi xoay mòng mòng giữa không khí cũng phải đậu xuống đất một cách mệt mỏi. Tôi không tin với khoảng cách tuổi tác như thế người ta có thể yêu nhau được. Rồi cũng chỉ như những bông giấy mỏng tang kia.

Sau những chuyện ấy, anh kết luận tôi còn trẻ con lắm!

Buổi tối anh chở tôi ra Thanh Đa. Đêm Noel ở đây vắng hơn ngày thường. Gió sông thổi vào cuồn cuộn đưa những vì sao trôi dạt ra xa. Ngọn nến phải thắp đến lần thứ mười ba mới chịu đứng yên sau khi anh và tôi quyết định xoay lưng chắn hướng gió lùa. Anh hỏi "Sướng không?". Tôi cười "Sướng hơn là đi lũ lượt, chen lấn trong thành phố đầy bụi và người". Chúng tôi cụng ly "Chúc mừng sinh nhật", "Chúc mừng Chúa Giáng sinh". Chúng tôi ăn rất ít. Tôi cảm giác cái chuyện ăn uống này làm giảm vẻ lãng mạn của buổi tối tươi đẹp đi. Anh báo "Anh có cái này tặng em hay lắm". Anh lôi trong túi ra sáu, bảy hộp giấy. Anh thắp nến và thả chúng xuống sông. Tôi rợn da gà vì đẹp quá. Những quầng sáng lung linh trôi từ từ, hắt xuống sông một màu lam bạc nhàn nhạt, mất hút về chân cầu. Ở đó ngoài rác rến còn có những vầng cỏ non tơ, có nước sông mát lành và tự do không vướng bận. "Thà một chút huy hoàng rồi chợt tắt, anh nhỉ?". "Cái gì cơ? - Anh cau mày khó hiểu - Anh muốn nhiều phút chứ không phải một phút đâu bé ạ". Anh cười, răng trắng bóc. Dưới ánh đèn vàng, mặt anh đẹp và dịu dàng kỳ lạ. Anh xòe tay áp lên má tôi, kêu thảng thốt "Ôi, anh thương em quá". Tôi rụt người sung sướng. "Em cũng vậy. Em cũng thế anh ạ".

Chúng tôi về nhà. Căn phòng của anh bề bộn giấy tờ. Bó cỏ lau cắm trên cửa sổ bám bụi. Mỗi khi có gió thổi qua lại bung ra những bông cỏ nhỏ li ti. Con mèo đất nằm ngủ ngon lành trên bàn. Anh bật nhạc. Bài hát kể về tình yêu của hai người trẻ tuổi. Nhưng kết thúc bao giờ cũng ngang trái vì họ còn quá non nớt trong cuộc đời. Lời bài hát buồn không sao chịu nổi. "Bông hoa anh tặng em đã héo khô từ lâu trên con đường không còn ai qua lại. Vì sao cũng không còn tỏa sáng trong mắt hai người yêu nhau. Chúng ta lớn lên và trở thành bạn nhưng tình yêu như thoáng mây...".

Tôi đề nghị "Anh mở quà ra xem". Anh nhìn bức tranh của tôi, bật cười "Ngộ quá". "Không giống à?" "Giống nhưng ngộ quá". Bức tranh tôi vẽ anh đang ngủ, cây đàn đặt một bên. Mặt anh hạnh phúc, trán cau lại nhưng miệng cười tươi như hoa. Tất cả trôi bồng bềnh trong màu sương lạnh. Sâu thẳm phía sau nổ tung những đóa hoa vàng tí tẹo. Anh bay như một con chim, lên cao lên cao. Tôi thì thầm "Anh đang bay đấy". "Nhưng cũng phải có chỗ đậu chứ - Một cành cây chẳng hạn". "Vớ vẩn. Anh sẽ bay lên cao mãi".

Tôi dựa lưng vào tường, nhắm chặt mắt. Tôi thấy mình cũng là con chim nhỏ bay bên cạnh anh thật bình yên.

Một tuần sau chúng tôi gặp lại nhau. Anh đàn cho tôi nghe một bản nhạc ngắn, như nốt trầm giữa cuộc sống ồn ào ngoài kia. Anh nói giọng nhẹ bổng "Ngày kia anh sẽ ra Hà Nội làm việc". "Lâu không?". "Anh muốn sống ở ngoài đấy. Vì ở đó có nhiều công việc phù hợp với anh. Còn ở đây chết đói mất". "Vậy còn em. Em chẳng là gì à?". Tôi âm thầm thét lên nhưng sau cùng tôi chậm rãi "Tốt thôi, nếu như anh thấy điều đó là cần thiết hơn em". Nước mắt tôi rơm rớm. Nhưng anh không nghe thấy. Anh bảo "Anh sẽ mang bức tranh của em đi".

Tôi âu yếm xoa lên khung tranh. Miệng anh cười tươi như hoa thật vô tư. Anh bay như một con chim lên cao, lên cao mãi. Tôi nghẹn giọng "Anh cho em xin lại. Nó sẽ không giúp gì được cho anh đâu". Anh không trả lời. Có nghĩa là anh đồng ý. Anh đã bay quá cao, vượt khỏi tầm nhìn của tôi. Còn tôi chỉ là một con chim nhỏ, quả là cần phải có một cành cây để đậu xuống, anh không phải là người trần tục.

Tôi ngồi trong lớp, vẽ về những giấc mơ thần tiên của tuổi thơ. Mùi sơn dầu nồng nàn. Những mảng màu chao nghiêng trên mặt. Hân bước vào, ngạc nhiên "Chưa về à?". Tôi giật mình "Chưa, chưa thấy Nhân lên. Trễ rồi phải không?". "Chắc Nhân kẹt xe. Đường phố giờ đông nghẹt". Hân lại gần cửa sổ, dòm ra ngoài thảng thốt "Ôi Châu ơi đẹp quá!". Tôi nhìn xuống đường phố tràn ngập ánh đèn xe, đến cuối đường toe ra các ngã rẽ như bó hoa bằng vàng khối khổng lồ cắm trong lọ đêm mênh mông. Phía cuối trời một màu hồng ngát lan tỏa, từ từ buông xuống thành phố tấm màn nhung mịn màng. Hân quay sang hỏi "Đêm Noel không đi chơi hả Châu?". "Ngày này năm trước thì có - Ngực tôi nhói đau - Nhưng giờ thì không. Chỗ nào người cũng lúc nhúc. Chán lắm". Hân cười. "Hân thì khoái chỗ đông người. Nhưng bài chưa vẽ xong, đành chịu".

Hân bật nhạc. Lại bài chúng ta lớn lên và thành bạn. Nhưng tình yêu như thoáng mây... Tôi cáu "Tắt đi". Hân ngơ ngác "Hay thế mà". "Không thích chớ sao". Thấy mình cáu vô lý tôi chữa thẹn "Buồn quá, Hân ạ". Hân tắt nhạc, không vẽ mà nhìn tôi chăm chú. Một lát Hân bảo "Châu vẽ đẹp thật". "Thường thôi", tôi cắm cúi trộn màu. "Hân rất thích cách đi màu của Châu". Tiếng Hân như gió thoảng "Và mến Châu". Tôi trét lên một mảng màu đỏ rực vào chỗ đáng lẽ là màu xanh, thấy lòng gợn lên như sóng rồi phẳng lặng trở lại "Hân biết không. Châu có người bạn trai - Tôi không ngẩng đầu lên. Một giọt nước mắt nhỏ xuống palette - nhưng anh ấy đang ở xa. Xa Châu lắm". Tiếng Hân thở dài. Hân thì thầm "Người ấy thật hạnh phúc Châu ạ".

Tôi lắc đầu. Người ta ai lại từ chối hạnh phúc bao giờ. Lạ thật, giờ này Nhân vẫn chưa chịu lên. Thời gian trôi vùn vụt. Một vầng trăng no tròn đã nhô cao sau song cửa lớp. Nó trắng bạch như cái bánh sữa.

Tôi rùn vai, lại hắt xì hơi. Hân đoán mò "Chắc có người nhắc Châu". Tôi cười. Chợt nhớ hôm nay là sinh nhật anh. Noel là sinh nhật anh mà tôi quên gởi lời chúc mừng. Sáng mai có lẽ vào buổi tinh sương tôi phải ra bưu điện gửi thiệp cho anh, phải nắn nót ghi vào đấy lời chúc tụng và cuối cùng là câu "Chờ thư anh" như lần trước.

Tôi ngồi nhìn Hân trầm ngâm bên bức tranh vẽ đang dở, tự nhiên thấy mình là con chim nhỏ bay nhẹ nhàng trên bầu trời đầy sao.

Ngày cuối

Mưa dầm dề từ trưa đến tối mịt. Bầu trời phủ trắng nước kéo theo hơi lạnh, mùi đất ẩm mốc từ các khe tường bốc lên ngồn ngộn. Tôi rụt vai lại vì lạnh, ngó sang thấy Lẫm nhìn tôi cười cười, chỉ vào đồng hồ. Tôi nhìn lên bảng, thầy giáo vẫn say sưa giảng bài, cặp kính dày cộp nhúc nhích từng đợt trên sống mũi. Nhật khều tôi: "Ôi chán nhỉ. Tao muốn cúp học quá đi mất". Tôi e hèm: "Còn có hơn nửa tiếng nữa. Bữa học cuối rồi. Ráng đi!". Nhật nằm soài ra bàn, tóc phủ lòa xòa trên tập vẽ rất vô lo. Lẫm lại cười với tôi, không biết có ý gì.

Tan học, trời đã tạnh mưa hẳn. Chỉ còn vài giọt nước rơi lộp bộp trên mái tôn nhô ra khỏi hành lang. Dưới sân xác phượng rụng hắt lên màu đỏ úa cùng với vô số lá vàng cây khô. Trường vắng tanh làm không khí càng thêm tịch mịch. Lẫm dắt xe đi bên cạnh, mớ tóc loăn xoăn chỉ chực nhảy bổ ra khỏi chiếc mũ két đen rất ngổ ngáo. Lẫm hỏi: "Nhi với Nhật có nhớ gì không?". Tôi ngơ ngác: "Nhớ gì cơ?". "Một buổi chiều thế này. Một khung cảnh thế này - Lẫm gợi lại - Ba đứa tụi mình cùng dắt xe về thế này. Đã cách ba năm rồi". "À phải - Nhật reo lên - Là hồi tụi mình luyện thi chung đó, Nhi nhớ không?". "Nhớ rồi - Tôi hùa theo - Lớp của thầy Kệ già khó tính kinh khủng. Còn tụi mình hồi đó lười biếng nhất hạng". Lẫm đùa: "Là chỉ có Nhi thôi. Toàn phải mượn tập người ta chép lại bài". Tôi đỏ mặt, tự nhiên thần người. Thấy nhớ lớp học thêm năm nào quá. Thấy thời gian sao trôi qua thật nhanh.

Lớp học vừa chẵn chục để chia đều cho sáu cái bàn gỗ xập xệ. Lẫm ngồi với Nhật. Tôi ngồi cùng bàn với con bé hay cột nhổng chiếc nơ đỏ sau gáy vẻ rất mọt sách. Từ đó nhìn sang một ô cửa lớn đầy mây và gió. Những cành phượng lớn đâm ngang dọc ngoài khung cửa tạo nên những hình lập thể kỳ dị. Điều quan trọng hơn, nó trông sang bàn của Quân. Cái anh chàng bảnh trai, to cao như tài tử điện ảnh, lại già dặn hơn Lẫm, lúc nào cũng cặp kè cái headphone bên hông.

Quân hơn tụi tôi hai tuổi, học trễ một năm và thi rớt một năm. Nhưng xem ra cậu ta có vẻ nhủng nhẳng chẳng buồn học hành gì. Bù lại khi tán gẫu với tụi con trai trong lớp, anh có những câu triết lý về đời đầy kinh nghiệm và thông minh. Riêng về khoản ấy, Quân làm tôi phục và mến. Tôi luôn luôn tìm mọi cách để trở thành trung tâm điểm trong lớp, để thu hút cái nhìn vốn rất thờ ơ của Quân với lớp.

Thầy Kệ dạy toán nhưng rất sính văn thơ. Thầy có thể bỏ hàng giờ ngồi đọc cho chúng tôi, những đứa nhãi ranh nghe những bài thơ tình từ cổ chí kim, từ nước ngoài đến trong nước mà không chán. Hình như thầy bắt gập ở tôi những tình cảm đồng điệu nên rất cưng tôi. Mỗi lần làm xong một bài thơ, thầy lại đọc riêng cho tôi nghe, vào những lúc nghỉ tiết, với vẻ say mê lạ thường. Những nếp nhăn giãn ra nhường chỗ cho một vầng nắng lung linh xuất hiện trên nét mặt. Thầy bớt già nua hẳn đi. Được một lúc thầy hỏi: "Sao con?" - "Thơ hay ạ - Tôi gãi mũi tinh quái - Nhưng câu kết hơi gượng ép ạ". Thầy trầm ngâm bảo: "Con tinh ý lắm. Thế nên thầy mới không làm nhà thơ được".

Những ngón tay gầy guộc của thầy nhịp nhẹ lên mặt bàn: "Con ráng lên. Con sẽ thi đậu mà đậu rất cao". Tôi tò mò: "Thế còn anh Quân ạ?". Thầy dừng lại nhìn tôi một thoáng rồi chậm rãi lắc đầu: "Nó hỏng rồi".

Tôi hỏi Nhật: "Có hỏng không?". "Gì?". Nhật ngạc nhiên: "Thi đại học ấy". Nhật đăm đăm: "Mày với Lẫm thì không. Tao mới lo". "Là tao hỏi Quân ấy". "Thằng đó ấy à, hỏng là chắc". Nhật kéo tay tôi: "Lẫm buồn kìa". Quay sang thấy Lẫm lầm lũi dắt xe bên cạnh, mắt bơ bơ, tôi hỏi khẽ: "Lẫm sao thế Nhật?". "Nó quý mày. Mày lại nhắc hoài đến lão Quân". Nó bẹo má tôi: "Con ngốc nghếch. Lão Quân có gì đâu". Tôi cười gượng: "Tao cũng có gì đâu" và trèo lên xe đạp phăm phăm. Trong bụng vẫn ậm ạch tức không biết tại sao mọi người lại coi thường Quân đến thế.

Buổi học cuối trên lớp học thêm mây kéo vần vũ. Được một lúc mưa như giông bão. Những cành phượng khô gãy lắc rắc. Một chốc sân trường đã phủ kín xác phượng và lá úa, đẩy vào lớp cái mùi chua ngái của cánh phượng.

Giờ nghỉ giải lao, tôi leo tót ra trước, sợ thầy giữ lại nghe đọc thơ. Quân đứng dựa tường, nhìn ra sân. Tôi bám vào thành lan can, thấy gió luồn vào người như muốn nhấc bổng tôi đi mất. Tôi gợi chuyện: "Anh Quân thích mưa không?". "Không" - Quân lắc đầu và lại im lặng. "Anh định thi mấy trường nhỉ?" - Tôi dò dẫm. "Một hai gì đó" - Quân không quay lại nhìn tôi. "Còn em thi ba - Tôi xởi lởi - Mình cứ chọn thi nhiều trường cho chắc ăn. Đằng nào cũng chỉ có ba môn Toán, Lý, Hóa". Tôi ngừng bặt vì cảm giác mình quá nhiều lời. Còn Quân vẫn tỉnh queo, không vẻ gì muốn bắt chuyện. Không sao, con trai phải lạnh lùng như thế mới ra dáng.

Con bé cột chiếc nơ đỏ nhổng sau gáy đi ngang qua, liếc chúng tôi vẻ dò xét. Quân hấp tấp gọi: "Hiền ơi, đợi Quân một chút". Con bé đứng lại, tay thọc vào túi quần, đuôi tóc phất phơ qua lại bực dọc. Như sực nhớ điều gì, Quân quay lại tôi: "Quên mất, bạn tên là gì nhỉ?". Tôi sượng người. Giống như có ai dúi tôi ngã một cái đau điếng. Tôi chậm rãi: "Tôi không tên là gì cả". Quân nhìn tôi khó hiểu và nhún vai bất cần, quày quả bước đến chỗ con bé mọt sách. Con bé càu nhàu gì đó và Quân dang tay phân bua. Bọn họ đi khuất dần sau hành lang.

Tôi mới sực nhớ mỗi buổi học Quân đều quay xuống bàn tôi. Nhưng không phải Quân nhìn tôi và cười với tôi như tôi tưởng. Chao ôi, tôi thật ngốc nghếch.

Tôi chạy vào lớp, nằm gục xuống bàn. Thầy Kệ lại gần, tay vẫn gõ nhịp nhẹ lên mặt bàn: "Có chuyện gì ghê gớm đâu con. Ngày xưa đi học thầy cũng từng để ý đến một cô gái. Thầy làm thơ tặng không biết bao nhiêu bài. Nhưng cô ấy thật vô tình. Và năm tháng thì trôi qua. Lại thêm vài lần thất bại, dằn vặt đau khổ nữa. Nhưng có sao đâu. Tình cảm thời học trò bồng bột, dễ thay đổi, dễ quên lắm. Mà ai rồi cũng phải trải qua những chuyện như thế cả". Tôi không tin lắm vào lời thầy. Chuyện tình cảm làm sao dễ quên đến thế được. Tôi muốn khóc nhưng không rặn ra được giọt nước mắt nào, chỉ tấm tức khó chịu. Chỉ đến khi thấy vỗ nhẹ vào vai tôi, tôi mới thấy nguôi ngoai và bình tĩnh hẳn.

Nhật gọi giật: "Mày sao thế Nhi?". Tôi cười lảng: "Có sao đâu. Tao đang nhớ đến thầy Kệ. Tụi mình tệ thật. Học thầy xong là biến mất tăm". "Hay giờ tụi mình đến thăm thầy nha" - Lẫm đề nghị. Nhật hốt hoảng: "Để bữa khác đi, hôm nay Nhật kẹt". "Chuyện hôm nay chớ để ngày mai Nhật ơi". Nhật nhăn nhó. Lẫm an ủi: "Thì cứ về đi. Tụi này gửi lời giùm cho". Đến lúc ấy Nhật mới bớt băn khoăn.

Lẫm chở tôi vòng vèo qua mấy con đường đầy cây vắng hoe người. Nước mưa từ những tán lá vẫn liên tục rớt xuống, thấm vào người lạnh buốt. Lẫm hỏi: "Nhớ nhà thầy không?". Tôi cúi gằm mặt xuống: "Nhi đến bao giờ đâu mà nhớ". "Lẫm cũng chỉ mới tới một lần. Lâu rồi nhưng chắc không quên được. Nhà có giàn tigôn màu hồng".

Lẫm thông báo "Đến rồi" và nhảy xuống xe. Cánh cổng sắt màu xanh loang lổ đóng im. Lẫm nhấn mạnh chuông. Một bà già ra mở cửa. Chỉ thoáng nhìn qua cũng biết bà là người đẹp và hiền hậu. Tôi nghĩ thầm, không biết đây đã phải là lần rung động cuối cùng trong cuộc đời thầy Kệ hay không.

Bà mỉm miệng cười: "Các cháu tìm ai?". "Dạ tụi con đến thăm thầy Kệ". Bà kéo rộng cửa: "Mấy cháu vô nhà chơi". Bà lom khom dẫn chúng tôi đi qua một mảnh đất lớn, vài bông quỳnh nở từ đêm qua giờ héo rũ. Quang cảnh thật bình yên.

Bà thắp ngọn đèn dầu vì trời mưa cúp điện. Một thứ ánh sáng vàng nhại tỏa lan khắp phòng. Lẫm nhấp nhỏm: "Thầy Kệ đi vắng rồi ạ?". "Không - Bà chậm chạp vặn to ngọn đèn - Thầy đang ốm nặng. Ông nhà tôi già rồi, lục phủ ngũ tạng tiêu tán hết". Bà đưa chúng tôi vào phòng thầy. Căn phòng nhỏ mờ mịt ánh đèn cây, tỏa mùi hương trầm xưa cũ.

Tôi không muốn khóc nhưng nước mắt rơi lã chã. Tóc thầy bạc trắng, da bủng beo. Gương mặt thầy đã biến dạng đi rất nhiều. Mọi thứ đều trở nên méo mó và sưng húp. Lẫm hỏi: "Thầy nhớ tụi con không?". Thầy thều thào: "Chỉ có mấy con quên chứ thầy thì nhớ. Nhi này, Lẫm này. Các con học giỏi không?". Tôi không trả lời được, chỉ gật đầu. Bà xen vào: "À ra cô Nhi đây. Ông nhà tôi nhắc đến cô hoài. Hôm nay mới thấy cô lại chơi". Tôi thấy tê tê ở mặt. Thầy lại bảo: "Thầy biết tin Nhi đậu cao nhưng không biết nhà để đến chúc mừng, xin lỗi con nhé".

Tôi muốn nói với thầy những tình cảm thời học trò bồng bột và trẻ con dễ qua đi, nhưng tình cảm thầy trò tôi chẳng thể nào quên được.

Nhưng sau cùng tôi chỉ nắm được bàn tay thấy ấm áp và độ lượng, nghẹn ngào: "Tụi con phải xin lỗi thầy mới đúng, thầy ạ. Đã ba năm rồi".

Giá rét

Tôi xuống tàu. Trời rét cắt da cắt thịt. Mưa phùn phủ lên tóc, lên áo một lớp ám ướt và trắng mịn như rây bột. Răng tôi va lập cập vì chưa quen lạnh, lại chỉ phong phanh chiếc áo khoác mỏng tanh.

Bóng những người cùng khoang tàu đã khuất hẳn sau cửa nhà ga. Tôi nhìn đồng hồ. Hai giờ kém năm. Tàu đến chậm gần hai tiếng thế này, chắc bạn tôi đã bỏ về hết. Tôi tức phát khóc, loay hoay nhìn đống đồ bề bộn một cách tuyệt vọng. Tôi nhớ năm trước, cả lũ ra đón tôi, cười đùa vang sân ga, rồi lại rồng rắn đưa tôi về nhà trọ.

Mưa vẫn lây rây và lạnh buốt. Tôi gập người ráng kéo chiếc vali vào sát mái hiên. Lúc ngẩng lên thấy một cô gái quấn chiếc khăn len trắng, chỉ hở đôi mắt trong veo và hàng lông mi dày cộp, hai tay thọc sâu trong chiếc áo len sặc sỡ. "Chào em - Tiếng chị khàn khàn, vẳng qua lớp khăn len như nói từ xa lại - Em là bạn của Kiên phải không?". "A! Chị Nhiên - Tôi reo lên hồ hởi - Sao chị lại ra đây?". "Kiên nhờ chị ra đón em. Chúng mình đi thôi". Chúng tôi khệ nệ tha vác đồ đi. Ra đến cổng tôi vẫn cố lục lọi trong đám đông hình dáng quen thuộc của Nhữ nhưng vô vọng.

Chị cởi khăn quàng cho tôi như quàng cho em bé. Lúc này tôi mới nhận ra chị rất đẹp. Môi bậu, miệng tươi trên làn da trắng mịn màng. Một kiểu gương mặt của Đức Mẹ Đồng Trinh. Đẹp nhưng thật buồn. "Em ở đây, chị lấy xe". Chị đập khẽ vào vai tôi. "Nghĩ gì thế?". "Dạ không - Tôi cười - Em chỉ thấy chị xinh quá". "Ôi cô bé này!". Chị khe khẽ lắc đầu, quay lưng bước đi.

"Ê!". Tôi quay phắt lại. Nhữ nhăn răng nhìn tôi cười: "Giận chưa vậy?". "Còn phải hỏi. Bắt người ta đợi muốn chết - Tôi phụng phịu - Thôi tha cho lần này đó". Nhữ thôi cười bước xuống ôm chầm lấy tôi "Ôi, nhớ bạn quá. Hơn một năm rồi còn gì. Xin lỗi nhé". Chị dắt xe ra hỏi: "Bạn em à?". "Dạ, bạn thân". "May quá - Chị vui vẻ - Nếu không hai chị em mình làm sao chở hết đồ".

Tôi ngồi vắt vẻo sau lưng Nhữ. Một năm, Hà Nội chẳng khác bao nhiêu. Đường vẫn vàng hoe và đầy cây. Đây đó lại lộp độp nhổng lên những ngôi nhà cao tầng bé như hộp diêm. Nhữ bảo: "Ngồi sát vào cho ấm", mắt ngóng về phía trước "Chị đó là ai vậy? Xinh nhỉ". "Bạn của anh Kiên". Tôi trả lời. Tự nhiên thấy nhớ anh, nhớ nhà ghê quá. Mới chỉ trôi qua hai ngày trên tàu mà thấy lâu như mấy tháng. Nhữ nắm tay tôi: "Lại nhớ nhà à?". Tôi gượng cười: "Không, nhớ anh Kiên". "Vậy thì khác". Nhữ lấm nhấm câu gì đó và im lặng suốt quãng đường còn lại.

Tôi về ở nhờ nhà Nhữ, trong căn phòng bé tí rò rỉ hơi lạnh với em gái Nhữ. Cô bé học năm II Nhạc viện đi biền biệt. Thỉnh thoảng lại kéo về đám bạn hát ồn ĩ cả nhà. Nhữ ở trên gác xép, trông xuống khu phố bày bán quần áo lạnh, tấp nập như hội chợ.

Tôi tỉnh dậy, thấy nhà vắng hoe. Ráng hết sức tôi mới vùng ra khỏi chăn, lò dò ra cửa . Đường phố xám xịt một màu của những chiếc áo lạnh. Chẳng bù trong thành phố, mỗi hôm lạnh, đường phố lại như một vườn hoa rực rỡ. Tôi khoác thêm áo ấm, ngồi thừ mặt. Một lúc mới nhìn thấy tờ giấy trên bàn, chữ Nhữ rất tháu "Ngủ dậy có bánh dầy trong chạn. Nhữ đi học. Chị Nhiên đến nhưng sợ Châu mệt, hẹn lát nữa quay lại. Muốn đi chơi cứ khóa cửa ngoài. Mẹ Nhữ về quê rồi". Tôi chẳng thấy đói chút nào. Tôi lui hui soạn đồ, lôi ra một đống thư từ của anh và ba mẹ nhờ chuyển, bày đầy ra giường.

Có tiếng gõ cửa lộc cộc. Chị thò đâu vào, cười "Bé đã dậy chưa?". "Chị Nhiên. Mời chị vào đây. Nhữ đi vắng em ở nhà một mình buồn quá". Chiều nay chị khoác thêm áo dạ màu nâu lù xù trông to tướng. Mặt vẫn xinh nhưng da tái đi vì lạnh. Chị đập đập hai tay vào nhau: "Lạnh thế này bé chịu nổi không?", "Được chứ. Năm ngoái em ra vào dịp Tết còn lạnh gấp mấy thế này". Tôi giở xấp thư: "Anh Kiên gửi hình ra cho chị đây". "Thích thế. Cho chị xin". Chị nhìn vẩn vơ ra ngoài cửa rồi bảo: "Để chị xem cái nào". Chị lần giở từng bức hình, miệng chúm chím cười. Tôi lặng lẽ quan sát chị. Trong lời kể của anh, chị lúc nào cũng dịu dàng, thùy mị và chững chạc. Những đức tính mà chưa bao giờ tôi có được. Cũng chưa bao giờ tôi muốn có. Vì như thế tôi lại trở thành một tôi khác.

Chị giơ cao một bức hình lên trước mặt. Tôi tò mò nhìn dòng chữ ghi phía sau "Thương yêu và nhớ em nhiều". Tôi cảm thấy chóng mặt, đất chòng chành dưới chân. Có lẽ vì trời lạnh quá. Gió ở ngoài thổi vào lạnh quá. Chưa bao giờ anh nói với tôi một câu như thế cả. Tôi đưa tay lên dụi mắt. Mắt vẫn khô rang. Chị đã lật ra mặt sau. Mắt chị chớp chớp. Chị nhìn tôi một thoáng rất nhanh. Tôi giả không để ý, vẫn thao thao nói rằng; Sài Gòn bây giờ nóng lắm. Nắng cháy cả da. Đường đầy xe, người và hàng quán. Tôi giả không biết gì nhưng tim tôi đau nhói. Tay tôi bám vào thành ghế tê cóng.

"Phải không em?". Tôi giật mình: "Sao cơ chị?". "Anh Kiên làm ở công ty mới có tốt không em?". Tôi đau đớn nghĩ, chị biết hết mà, còn hỏi tôi làm gì nữa. Nhưng sau cùng chỉ bảo: "Được chị ạ". Tôi ráng nhoành miệng ra cười, thấy mình như một con rối - "Anh Kiên hay kể cho em nghe về chị. Anh Kiên quý chị lắm". Một giọt nước nhỏ xuống tay tôi lạnh buốt "Anh ấy lúc nào cũng chê em ngang bướng và thiếu nữ tính". Chị cười hiền lành: "Anh ấy cũng kể cho chị nghe về em". Im lặng một lúc, chị rủ "Chị chỏ em đi chơi Hà Nội nhé". "Dạ thôi, Nhữ về chở em đi cũng được. Em vẫn còn hơi mệt". Chị đứng dậy, bỏ xấp hình vào túi, thong thả: "Chừng muốn đi đâu em gọi điện cho chị số này. - Chị vuốt nhẹ tóc tôi - Thôi chị về để em nghỉ". "Vâng chị về".

Tôi dụi đầu vào chăn, nước mắt thi nhau chảy ra như suối. Tôi thấy mình bị bỏ rơi. Cô đơn và đau khổ. Mọi thứ vỡ tan dìm tôi xuống cái hang đen ngòm đầy mệt mỏi.

Nhữ đánh thức tôi dậy, dúi vào tay tôi chiếc áo ấm dày sụ, kéo tôi ra đường: "Nào, muốn đi xe hay đi bộ?". "Đi bộ. Ở Hà Nội phải đi bộ mới thú". Chúng tôi lững thững đi qua những con phố nhỏ. Những cây bàng mùa đông trụi hết lá, đan vào nhau trên những mái phố mốc đen vì thời gian và giá rét. Nhữ dắt tôi vào một quán phỏ, giọng kẻ cả: "Quán này ra dáng Hà Nội nhất đấy". Tôi cười: "Quan trọng là gu ăn như thế nào. Mình đang ăn kiêng". "Sự béo à?" - Nhữ hốt hoảng. "Không, kiêng ăn đồ dở". Nhữ bật cười: "Thế thì yên chí". Tôi nhìn quanh. Quán thấp bé, tăm tối và hơi bẩn. Những bộ bàn ghế bằng gỗ cũng thấp tè, có vẻ cũ kỹ dưới ánh đèn vàng mắc trên ô cửa sổ. Mọi người cắm cúi ăn. Tiếng húp nước soàm soạp, hơi ấm phả ra khắp quán. Tôi ăn một miếng thấy nóng ran cả người "Ngon. Nhưng giá có thêm chút đường thì tuyệt". "Để thành chè à?". Nhữ chế giễu. Dạo vào Nam, Nhữ không ăn được gì ngoài hàng quán. Cứ bảo người ta sao nấu cái gì cũng ngọt ngọt lợ lợ chẳng ra sao hết.

Lòng vòng một lúc đã mỏi chân. Nhữ hỏi: "Giờ thích gì nào?". "Uống chè chén. Lâu lắm rồi không ngồi mấy quán cóc ở Hà Nội". Gió vẫn rin rít thổi qua đầu. Bà già lùm xùm trong mớ khăn len, móm mém: "Cô ở trong kia ra à? Trong ấy chắc ấm lắm". Tôi vâng dạ. Trong bụng nghĩ, với tình trạng của tôi thế này, ở đâu cũng lạnh lẽo cả. Chất đắng của chè làm tôi tỉnh táo lại. Tôi kéo tay Nhữ: "Thôi về". Đi ngang qua các gallery tôi nhìn vào. Vô số tranh chân dung thiếu nữ lớn bé treo đầy trên tường. Cái vui, cái buồn, cái thờ ơ, cái tuyệt vọng... Có gương mặt nào là của tôi lúc này? Nhữ hỏi: "Gì thế?". "Không - tôi chối - Chỉ buồn".

Chúng tôi trèo lên gác xép. Nhữ thắp thêm mấy cây đèn cầy để sưởi ấm. Tôi đề nghị: "Lâu lắm rồi không nghe Nhữ hát". Tôi ngồi cuộn tròn trong chăn, thấy cảnh êm ấm thế này mà chưa bao giờ có được với anh.

Nhưng còn anh với chị Nhiên, chắc chắn là đã có nhiều đêm tuyệt diệu bên những quán cóc, bên những hàng cây cuối thu trụi lá.

Nhữ bỏ đàn, thọc chân vào chăn, đầu hơi gục xuống để mớ tóc bồng phủ lòa xòa xuống mắt. "Nhữ ơi. Nhữ báo mình với anh Kiên hợp nhau không?". "Vớ vẩn. Hai người phải tự biết chứ". "Còn chị Nhiên". "Mình nói thật - Nhữ xoắn hai bàn tay vào nhau - Anh Kiên với chị Nhiên hợp nhau hơn. Từ trước đến giờ mình chỉ thấy anh Kiên xem Châu như em gái".

Như em gái. Chỉ như em gái. Tại sao chưa hao giờ tôi nhận ra điều đó. Trong khi Nhữ ở xa tôi hàng ngàn cây số. "Tại sao anh Kiên không nói với mình điều đó". "Châu trẻ con và cứng đầu lắm. Châu chẳng chịu nhận ra đâu là tình yêu, đâu là tình bạn. Nhưng đến lúc nào đó người ta cũng phải nhận ra sự thật".

Nhữ nhìn sâu vào mắt tôi: "Có chuyện gì thế?". Tôi kể cho Nhữ nghe, rằng tôi buồn, buồn lắm. Chưa bao giờ anh Kiên nói với tôi một lời như thế. Anh Kiên, chị Nhiên đều tốt với tôi. Nhưng họ chỉ cho tôi là con rối ngốc nghếch. Thật khó mà chịu đựng nổi.

"Rồi sẽ qua hết thôi". Nhữ lại cầm đàn. Ngoài kia gió thổi như có mưa rào. Em gái Nhữ về, hát ầm ĩ dưới nhà. Nhữ bảo: "Nó lúc nào cũng vô tư". "Mình cũng muốn vô tư như thế" - Tôi chua chát. Tôi nhớ ngày sinh nhật anh tặng tôi một bó cúc trắng. Tôi phơi khô và cất kỹ trong tủ. Với tôi chẳng có gì dễ dàng trôi qua được.

Toi nhìn qua ô cửa nhỏ. Trời mờ mịt mây. Những cành cây đâm ngang dọc rạch bầu trời thành những đường kỷ hà ngộ nghĩnh. Chú mèo đất ngồi trên kệ sách nheo mắt cười chế giễu. Nước mắt tôi lại chảy nhòe trên má.

Nhữ quay lại hoảng hốt: "Châu khóc à - Nhữ vụng về đưa tay lau nước mắt cho tôi - thôi nín đi. Ra đây thực tế một vài tháng là mọi chuyện sẽ qua đi. Quanh Châu còn có bao nhiêu người yêu thương".

Cái siết tay mạnh mẽ của Nhữ làm lòng tôi ấm lại. Chao ôi, tôi quả là cô bé ngốc nghếch, tôi toan chạy đi tìm những gì mơ hồ mà quên rằng ngay cạnh mình đang có biết bao nhiêu điều kỳ diệu. Tôi se sẽ mỉm cười. Ngoài kia giá rét mà trong căn phòng này, nắng như vỡ òa ra trên những ngọn nến lung linh thắp quanh ô cửa nhỏ.

Mùa chim

Nhà có cửa thật lớn trông ra bốn bề cây trái um tùm. Nhắm mắt lại tôi vẫn hình dung ra vị trí của từng cây một. Phía dưới cửa sổ là cả một vườn hông màu trắng đục như sữa. Loe loe một vài nụ thầm lại như máu bầm. Chếch sang phái một chút là bốn cây hàng xếp hàng dọc theo thứ tự lớn bé. Theo lời ba kể, mỗi lần mẹ sanh, ba và ông lại hì hục trồng những cây bàng này. Bây giờ ông đã mất. Út Nhiên, em kế tôi cũng không còn ở với chúng tôi từ năm bảy tuổi nhưng cây bàng vẫn tiếp tục lớn, có phần chen lấn cả ba cây còn lại.

Sâu vào giữa một cây mít lớn đứng chen chân trong đám nhãn chiu chít quả. Cây mít bị điếc, trồng hơn sáu năm nhưng chưa một lần ra trái. Chỉ tới khoảng tháng năm âm lịch nó mới bắt đầu đơm bông vài lần một cách bất thường rồi rụng. Mấy lần ba định chặt nhưng mẹ ngăn lại. Mẹ bảo "Ông ngoại thích nó. Chặt nó đi ông quên mất đường về". Ba cười, chê mẹ lẩn thẩn nhưng không bao giờ đụng đến nó nữa.

Vườn đến mùa trái cây chim kéo về rầm rập. Từ sớm đến tối chúng làm tổ, cãi nhau câm cảu. Mẹ sợ chim phá trái cây, cầm sào ra đuổi. Một lúc yên ắng đã lại thấy chúng ồn ào trên đầu. Buổi chiều về lá tươi, trái non rụng ngập lối đi, chen dây với những cành cây khô mốc.

Chị Hoài dẫn đám bạn thành phố về. Anh con trai ở chung với anh Hinh. Ba chị Nhàn, Thu, Nguyệt nằm dồn chung trên chiếc giường lớn của chị em tôi. Tôi chuyển sang năm chiếc đi-văng đối diện, chật chội đến nỗi chỉ cần cử động nhẹ là rơi tòm xuống đất. Nhưng những bà chị yêu quý của tôi không hề biết đến điều đó. Họ cười ghẹo nhau, vặt nhau ầm ầm trên giường vẻ rất vô tư, giữa bầu không khí đầu hè oi bức.

Tôi là một đứa bé cô độc và buồn bã. Mẹ nhận ra điều đó lừ khi em Nhiên mất đi. Mẹ lo lắng, vì cho đó là điều báo trước của sự bất hạnh. Tôi sợ ồn ĩ nên sự có mặt của bọn họ làm tôi khó chịu. Nằm quay lưng ra ngoài úp mặt vào vỏ gối oi oi mùi mồ hôi, tôi chỉ muốn họ biến quách đi hết.

Tối nay không ai đi chơi. Mưa đổ trắng xóa qua ô cửa sổ. Tiếng cành cây gãy khô khốc. Tiếng trái rụng lộp bộp xuống vườn nặng trịch. Cúp điện. Chị Hoài thắp ngọn đèn hột vịt để lên kệ sách. Một chút ánh sáng màu vàng tỏa ra khắp phòng đậm mùi cũ xưa. Cả bọn chị Hoài ngả bài, đầm, già tíu tít. Chị Hoài hỏi: "Chơi ăn gì?". Anh con trai cười tủm tỉm "Hun". Mày chị dúm vào nhau cười. Chị Hoài kêu ré lên "Không. Hổng chơi vậy. Búng tai thôi nhá". Một lát có điện lại. Quạt bên phòng anh Hinh quay vù vù. Chị Nhàn nhận xét "Trời lạnh vầy mà ổng bật quạt được hay thiệt". Chị Hoài đùa "Ông hâm đó" vẻ rất thành thực. Tôi khó chịu nhưng chỉ im lặng. Không ai chịu mở đèn! Gió lùa qua cửa làm ngọn đèn chao nhẹ. Anh con trai phủi chân đứng dậy. Chị Hoài nhỏ nhẹ "Lam đi đâu vậy?". "Văn nghệ một chút". Anh với tay lấy cây đàn, trèo lên bệ cửa sổ. Gió làm tóc anh búng ra như đội chiếc nón có vành lớn. Anh hát một bài hát Pháp, mắt mơ màng nhìn chị Hoài đang mải chia bài. Tôi không hiểu gì hết nhưng thấy buồn thắt cả lòng. Chị Hoài cắt ngang "Thôi ông ơi, nghe oải quá". Chị Thu với tay bật cassette. Một luồng nhạc ầm ĩ vang lên. Tôi bỏ sang phòng anh Hinh. Anh Hinh đã ngủ, đầu ngoẹo sang một bên, giấy bay tung khắp phòng. Tôi nhủ thầm, nếu là tôi, tôi sẽ yêu cầu anh hát lại, dù có thể ngay cả bản thân anh cũng không hiểu lời bài hát.

Tôi áp sát mặt vào cửa kính. Mưa đã tạnh. Những vòm lá đen thẫm nhấp nhô như những quả đồi trọc. Sao lờ đờ xuất hiện con mờ con tỏ. Phòng bên cạnh có tiếng đóng cửa, tiếng lào xào. À họ đi chơi. Bóng họ in mờ mờ trên cỏ, vắt qua những hàng cây rồi khuất sau hàng rào quét vôi trắng. Thật thanh thản và vui tươi.

Anh Hinh nhỏm dậy ngơ ngác: "Bé chưa ngủ à?" và chép miệng "Trời mưa vầy ngủ sướng quá". Xong, lại nhắm mắt ngủ tiếp. Tôi rời ô cửa trở về phòng mình. Khắp nơi vang tiếng côn trùng. Tự nhiên tôi nhớ em Nhiên quay quắt. Tôi biết là Nhiên sẽ không bao giờ trở lại nhưng tôi vẫn chờ đợi.

Sáng sớm bạn chị Hoài chạy hết ra vườn tập thể dục. Chị Hoài ngồi phụ mẹ đồ xôi, tóc đen nhánh xòa ngang vai. Mẹ hỏi dò "Con với thằng Lam thế nào?". "Là thế nào ạ?". "Má thấy nó mến con". Chị cười "Nhưng con của má còn trẻ con lắm". "Cha bố cô - Mẹ xỉ ngón tay lên trán chị - Con gái trong nhà như quả bom nổ chậm. Má chỉ lo con đi học xa...". Chị lại cười, dụi đầu vào lòng mẹ nũng nịu. Tôi ngồi bên cạnh, mặt thần ra. Người lớn thật khó hiểu, khi có người để ý thì lại vờ như chả có chút tình cảm nào.

Tôi ra vườn. Anh Lam đang gẩy đàn bài hát cũ. Tôi ngồi ngắm anh say sưa. "Anh có hiểu gì không?". "Có chứ. Bài hát kể về một cậu bé mơ ước làm người lớn". Anh gục đầu, mái tóc xoăn rũ xuống như một bức tượng rất đẹp tôi đã thấy ở đâu đó trong sách báo. "Nhưng khi lớn lên, những cuộc tình vô vọng, cái đói và nỗi sợ hãi luôn luồn khiến cậu muốn trở về thời bé thơ". Tôi có cảm giác một giọt nước vừa từ mắt anh rơi xuống tay. Tôi thấy buồn phiên. Rõ ràng chị Hoài chỉ muốn anh là hạn.

Chim kêu xao xác. Tôi mân mê một vỏ cây ẩm nước, hỏi khẽ: "Tại sao lại có những cuộc tình vô vọng hả anh?". "Bé còn nhóc lắm - Anh nheo mắt - Lớn lên đi Bé sẽ hiểu".

Tôi vùng chạy vào nhà. Suốt một giấc ngủ dài tôi chỉ toàn nằm mơ thấy mình là người lớn. Sau đó nhiều đêm, kể cả khi chị Hoài và đám bạn về lại thành phố, tôi vẫn nằm mơ mình thành người lớn. Tôi thấy nhớ sự ồn ào vô tư của họ. Nhớ người con trai yêu chị tôi, ngồi lặng lẽ giữa vườn và hát bài tình ca buồn. Lại thầm liếc sao mình không là người lớn từ lúc ấy.

Chị Hoài lấy chồng, về ở hẳn trên thành phố. Một anh chàng không tóc xoăn, không biết hát nhưng cuối cùng vẫn là anh rể tôi. Anh Hinh cũng chuyển lên thành phố, lâu mới về nhà một lần. Tôi vào đại học, tập trở thành người lớn. Nhà chỉ còn ba mẹ, vắng hoe giữa mênh mông cây và cỏ.

Năm tháng trôi qua, tôi cảm thấy mình đã thật sự là người lớn. Một buổi chiều, khi cả nhà quần tụ đông đủ, ba bảo: "Ba má định bán vườn về ở với Hoài. Ba má già rồi không trông nổi vườn tược nữa". Chị Hoài cười vui: "Thì con đã bảo từ sớm mà. Vườn nhà mình để có lợi lộc gì đâu". Anh Hinh cau mày: "Giá đất đang xuống, nhưng đất mình lại đang ở vào khu quy hoạch. Chẳng mất giá bao nhiêu".

Tôi nhìn ra vườn. Mới hơn một năm đã khác. Cây cối xác xơ. Những cành bàng cong queo nâng nâng những chiếc lá khô còn lại. Vườn hồng trơ gốc, cỏ dại mọc ken dày. Đã đến mùa hè từ lâu mà chưa có một con chim nào về lại vườn nhão nhoét.

Mẹ ho sù sụ trong chiếc áo ấm dày, hỏi "Ý Bé thế nào?". Tôi bảo "Con không thích". Tôi chỉ mấy cây bàng: "Người ta sẽ chặt nó đi à?". "Không, mẹ không biết". Mọi người im lặng. Nhưng tôi hiểu là khu vườn chắc chắn sẽ được bán đi. Những cây này sẽ bị nhổ khỏi đất. Một vài tháng nữa quay trở lại, nó đã trở thành khu nhà đồ sộ và hiện đại của các chuyên gia nước ngoài, cho xí nghiệp nước ngọt bên cạnh. Cùng lắm người ta sẽ chỉ giữ lại những cây sứ Thái Lan, chịu đựng được nóng và cát bụi.

Tôi nằm lên chiếc đi-văng cũ, dúi mặt vào đống gối ẩm mùi mồ hôi. Và hệt như ngày xưa, tôi nghe thấy tiếng trái đêm rụng trong vườn, tiếng mưa rả rích xen với tiếng côn trùng nỉ non. Một buổi tối cúp điện, những người bạn chị Hoài ngả bài chơi trên chiếc giường rộng trong ánh đèn vàng ấm áp. Một chàng trai đẹp như những bức tượng Hy Lạp xa xưa, ngồi tựa gốc cây và hát "... puis il a grandi... Au fond de son coeur, il revoyait son enfance, rêvait d’autre fois..." (Rồi cậu bé ấy đã trở thành người lớn... Tận sâu trong đáy trái tim, cậu bé muốn quay trở về thời thơ ấu, mơ về thời xa xưa...) trong tiếng chim hồn nhiên và thanh bình của buổi sớm mai.

Cuộc chơi

Mến tặng...

Vài ngày nữa cuộc chơi SV vòng hai bắt đầu.

Bên ngoài cửa sổ trắng xóa mưa. Một con chim đâm sầm vào cửa kính, kêu thảng thốt. Cây cối oằn người một cách mỏi mệt. Trong căn phòng này, dưới những cây quạt lờ đờ quay này, chúng tôi cũng đang mỏi mệt. Chỉ có tiếng nhạc là rộn rã. Đến một lúc thì chùng xuống, trở nên rề rà bất tận.

Tôi bảo "Thôi tập nào". Mọi người nhấc mình ra khỏi ghế một cách chậm chạp. Lỡ lên lưng cọp rồi, tiến thoái lưỡng nan. Hò dô, mỗi người góp một công. Con thuyền tròng trành rời bến. Gió vẫn thổi. Mưa vẫn rơi. Vài giọt mồ hôi nhỏ xuống đất mặn chát.

Tôi nhìn lên sân khấu, nơi những người bạn tôi đang tập làm diễn viên. Không gian rộng mãi ra, hai tấm phông đưa qua lại. Những dòng người chuyển động chậm rãi. Tất cả tạo nên một không khí âm u, tĩnh lặng.

N. hỏi "Thế này đã được chưa? Sao chị thấy khó quá" - Tôi thử làm động tác, cũng hơi ngượng vì nghĩ mình làm tư thế này trông ngớ ngẩn lắm - "Thế, đầu gục xuống, lưng thả lỏng ra. Vậy là được rồi". Lại đề nghị "Mọi người tập lại lần nữa nào". Tôi đã sợ những cái mặt thân yêu ấy sẽ nhăn lại. Nhưng không, họ vẫn vui vẻ. Những diễn viên nghiệp dư ấy vẫn vui vẻ vì một cái gì đó rất chung của mọi người.

Một vài người đi xuống uống nước. Lưng áo ướt đẫm mồ hôi. Rồi không ai bảo ai họ lại quay về sàn tập. Thời gian vẫn đều đặn trôi qua.

Mưa ngày càng to. Nghỉ giải lao, mọi người tụ lại tán gẫu. Cũng chỉ quay quanh SV. Mọi người bàn luận, chê bai, khen chỗ này, lược chỗ kia. T. rủ rẻ "Coi bói bài không?". Cả lũ cười "Thi chống mê tín lại đi mê tín. Ai đời lạ thế". "Là coi chơi thôi chứ có tin đâu mà sợ. Phải coi mới biết được tâm trạng của người đi coi bói thế nào mà diễn đạt chớ". Mặt T vếch lên, vẻ rất cụ già triết lý.

Không khí của chiến thắng lần trước vẫn chưa tắt hẳn, dù đã phai nhạt ít nhiều.

L. thấp thỏm "Mình có chiến thắng lần nữa không?". "Sao biết được - Tôi nhăn mũi - Chẳng lẽ phải như T. thật, giở bài ra bói một quẻ. Tập tành kiểu này, nghi lắm". Tôi đãi giọng. Mọi người cười ồ. T. bảo "Thôi lên tập tiếp. Thở than ích gì".

Nhiều lúc tôi muốn buông tay quá. Thấy mệt mỏi quá. Nhưng những người bạn lại đến kéo tôi dậy và cùng tôi bước lên sàn tập. Tôi lại bảo "Ừ, phải rồi. Đi thế" hoặc "Ô không, chưa được đâu. Làm ơn làm lại giùm tôi". Tôi cảm giác các bạn tôi lớn lên, tôi lớn lên. Lớn lên trong việc nhận xét mình một cách nghiêm khắc hơn.

Tôi không hình dung được các diễn viên chuyên nghiệp tập như thế nào. Chỉ thấy với những người bạn, thật khó khăn. Tiền bồi dưỡng ít, lại mất giờ nghỉ buổi trưa. Họ được gì? Ngoài niềm vui đến với SV như đến cuộc chơi, mà ở đó trách nhiệm đè nặng hơn tất cả. Chỉ sợ tuột dốc...

Chúng tôi ngồi trên ghế bố, trông ra bờ sông đầy trăng. Gió hiu hiu thổi, đẩy những vì sao ra xa chúng tôi mãi. Tôi khẽ thở dài "Ôi, em mệt quá". "Em sao thế?". Anh hỏi mà không quay lại. Tôi cười "SV ấy mà. Nó ám ảnh em suốt". Anh tỏ vẻ khó chịu "Ôi ba cái trò trẻ con". "Em có lớn gì đâu - Tôi tự ái - Trẻ con thích chơi trò trẻ con". Nhưng trong bụng nghĩ "Chẳng trẻ con chút nào". Anh nhún vai, định nói một câu gì đó. Tôi chặn ngang "Em thích thì em làm thôi".

Chúng tôi im lặng. Mỗi khi bất đồng ý kiến tôi thích im lặng như thế.

Sau cùng anh là người lên tiếng trước "Trưa mai anh mời một người bạn đến ăn cơm. Em đến nhé". "Tiếc quá - Tôi ngập ngừng - Mai em bận tập". "Tùy em thôi".

Chúng tôi lại im lặng, vở diễn tập quay vòng vòng trong đầu. Tôi thở dài. Nghĩ đến bài vở còn dở dang đầy trên lớp mà thở dài.

Mưa đã bắt đầu ngớt. Lớp diễn cuối cùng mọi người có vẻ hăng lên. Hoa chân múa tay nhặng xị. Nhạc phát ồn ào. Giọng người như gào lên mới át được tiếng nhạc. H. hỏi "Lo gì nhất?". "Cái gì cũng lo". "Là thế nào?". "Tập kiểu này thì lo. Nhưng có niềm tin thì không lo".

À, ra vậy. Cái niềm tin ấy cũng to tát lớn lao, cũng đáng quý lắm đấy chứ. Nào thì đành thắp niềm tin trong mỗi người.

Đồng hồ chỉ mười lăm giờ ba mươi. Đến giờ học rồi. Những gương mặt mệt phờ từ từ tiến lại gần. T. nhoành miệng cười "Được không chị ?". "Hôm nay thế là tạm được" và không quên nhắn "Nhé, ngày mai lên tập nhé". Mọi người ồn ào "Ừ, tất nhiên rồi".

Bóng "diễn viên" cuối cùng khuất sau cửa kính. Còn lại một nhóm nhỏ, những cái "đinh" của phong trào tiếp tục thảo luận. Tôi thẫn mặt, giờ này chắc anh đang ăn uống vui vẻ lắm ở nhà. Còn tôi... H. quay sang "Em sao thế?".

Ngày thi đến rồi, gần kế rồi. Đạo cụ, phục trang, kịch bản phim chưa tập xong, phông màn, ánh sáng... Nhẩm đếm thấy thời gian trôi qua mà rùng mình.

Cuối cùng mọi người tản đi về các lớp, sau khi bỏ thòng lại một câu "Thôi để mai tính tiếp. Còn nhiều thứ bây giờ phải lo. Học này, đi làm này".

Tôi cũng nhủ "ngày mai". Lại ồn ã cười nói, lại thở dài, lại an ủi nhau bằng câu muôn năm cũ "Ai chiến thắng không hề chiến bại. Ai nên khôn không khốn đôi lần?".

Mà thời gian thì vẫn trôi qua. Còn chúng tôi thì vẫn mãi phải diễn tập và lớn lên trên sân khấu cuộc đời ngoài kia.

Bến đợi chồng

Quán nằm chỗ bến sông, dựng bằng tấm tranh ẩm mốc. Sau lưng là con đường nhỏ dẫn đến làng um tùm cây dại. Trước mặt là con sông lớn không thấy bờ, nước lăn tăn như bạc vụn. Những hôm thuyền rời bến, nước lên một tí rồi lắng lại, trong leo lẻo, thấy từng viên sỏi nhỏ óng ánh dưới đáy nước. Trên bờ những cây gỗ mục nằm chất đống, chen lấn giữa đám cỏ gà cao nhồng.

Chủ nhân của quán cũng nhỏ bé và cô độc hơn giữa mênh mông trời đất. Nhiên có đôi mắt một mí buồn rượi, da thịt trắng xanh như bước ra từ liêu trai. Mái tóc dài để xõa che khuất gương mặt tròn và nụ cười buồn nhưng đầy quyến rũ. Một buổi chiều thu dọn bàn ghế xong ra ngồi tựa cửa, tranh thủ thêu những chiếc khăn lụa nhỏ có hình con chim bay liệng bên nhau để kịp kịp xuống chợ bán, Nhiên đẹp như tranh Tố Nữ. Nắng vàng cuối chiều trườn nhẹ trên bờ cỏ, hắt lên má Nhiên màu hồng ấm áp. Nhiên cất tiếng hát "Ôi chàng ơi, chim có bạn có bầy, thuyền có bến có sông mà sao lại để em năm canh gối chiếc khăn đơn đợi chàng...". Tiếng hát kéo dài qua những rặng cây ướt đẫm nước, rồi lan ra trước khi rơi xuống con sòng đang chuyển dần sang màu xám sẫm.

Khách của quán đa phần là dân thuyền chài da nâu bóng như hun đồng, tóc bám bụi từng mảng lớn, vô tư và ồn ã. Thảng hoặc mới có người trên phố huyện ghé qua vì tiếng đồn cô chủ quán xinh đẹp, quán có vẻ gì rất xưa cũ hơn là dừng chân uống nước. Họ đến từng người một nhưng ngồi lẫn trong dám dân chài, trầm ngâm nhìn Nhiên hay thì thào bàn tán nhỏ to. Mắt họ vẩn mây đục. Họ nhấp môi vài chén nước thấy đắng cay, tay chân rã rời mà không ngỏ được một lời nào. Họ đến rồi đi như lá bay, tuần tự, lũ lượt không để lại dấu ấn gì, cũng không trách móc gì. Nhưng xem một bức tranh, nó đẹp quá nhưng không thể nào là của riêng mình được. Vậy thì ngắm nghía được đã thỏa thích rồi.

Còn Nhiên, càng ngày càng thấy buồn, thấy quán thêm lạnh lẽo. Mỗi lúc nhìn vợ con của những người thuyền chài ra đón chồng, lòng Nhiên lại chùng xuống. Có gì đâm nhoi nhói trong tim, ứa lên mắt những giọt nước trong suốt.

Tôi bảo "Nhiên ơi, lấy chồng đi cho nó đỡ cô quạnh". Nhiên cười buồn bã "Lấy ai bây giờ. Bọn họ tầm thường lắm". Những ngón tay Nhiên đan vào nhau mảnh dẻ và bắt đâu ửng đỏ. "Họ có yêu mình đâu, chỉ toàn yêu vẻ ngoài của mình thôi". Tóc Nhiên xõa dài xuống bờ vui tròn lẳn. "Hồng nhan truân chuyên lắm Nhiên ạ!". Nhiên cũng nhủ, ừ hông nhan lúc nào phận cũng bạc.

° ° °

Người đó cọc cạch đi trên chiếc xe đạp rỉ sét, bàn đạp cứ rên lên ken két, sau lưng chằng buộc một hộp đồ lớn, đi từ hướng thị trấn về. Đến chỗ quán của Nhiên thì dừng lại, ngó quanh vài giây rồi chậm rãi bước vào. Hôm ấy trời lạnh, quán vắng khách. Người khách quỳ xuống bên bếp lửa. Ánh vàng hắt lên mặt anh lộ rõ đôi mắt sáng, vầng trán phẳng như tạc bằng đá và đôi môi mím chặt cương nghị, cả người anh toát lên vẻ mạnh mẽ lẫn yếu đuối giữa những đường nét đối chọi nhau trên gương mặt. Anh quay lại bảo "Chị làm ơn, cho tôi chén chè nóng". Anh không giật mình, không sững sờ, thậm chí không để ý đến vẻ đẹp của Nhiên. Điều đó làm Nhiên xúc động. Cô đặt trước mặt anh ấm chè và vài phong bánh, nhỏ nhẹ "Anh về làng chơi?". "Không, tôi không có người quen ở đây. Tôi đến vẽ bên sông này. Chị biết ở đây có ai cho thuê nhà?". "Tôi không biết - Nhiên ngập ngừng - Thôi anh cứ ở tạm quán tôi. Bến sông ngay dưới kia, anh tha hồ vẽ". "Được thế thì tốt quá". Anh bước thẳng xuống bến, không một lời cám ơn. Nhiên không thấy buồn, thấy giận, chỉ cảm giác người mình chòng chành, từng đợt sóng nhẹ nhàng trào lên trong lòng. Nhiên bước ra cửa, mắt dõi xa xa. Bóng anh in nghiêng trên nền trời xám bạc, một lát đã lẫn vào làn sương mỏng tỏa lên từ mặt nước. Một vì sao đột nhiên vụt sáng cuối chân trời rồi cũng bay đi mất hút.

Buổi tối anh dặn dò kỹ lưỡng "Chị Nhiên ạ, sáng mai nhớ gọi tôi dậy sớm. Tôi chỉ có vài ngày ở đây, phải vẽ bằng được bình minh trên bên sông. Nó đẹp lắm phải không chị?". "Tôi thì thấy đẹp nhưng ở đây ai cũng bảo thường". Nhiên quay lại thấy anh đã ngoẹo đầu ngủ ngon lành.

Nhiên nằm im lặng, lòng xôn xang không ngủ được. Nhiên bước ra ngoài. Đêm lạnh. Bến sông mờ mịt tối, in những bóng thuyền lờ nhờ như những chiếc lá khô nổi lênh phênh trên mặt nước. Tiếng gió rền rĩ như tiếng thở than của những người đàn bà. Nhiên hỏi "Các chị buồn ư? Hãy về đây nói chuyện với em. Đêm nay em khó ngủ quá". Nhiên gục mặt vào hai bàn tay, lòng tự nhiên bâng khuâng.

Mặt trời đã lên cao. Sương đã tan và những con thuyền đã rời bến. Nhiên nhìn anh ngủ, không muốn đánh thức dậy. Cô lặng lẽ làm mọi việc, gắng không thấy tiếng động. Nhiên cảm thấy thương anh kỳ lạ.

Khoảng mười giờ anh bừng tỉnh, hốt hoảng nhảy xuống giường. "Đã sáng rồi hả chị?". Nhiên cười "Đã trưa rồi". Anh vò đâu bứt lai "Trời ơi sao chị không gọi tôi. Thật là...". Nhiên phân trần "Em thấy tội anh quá - Giọng Nhiên hơi nghẹn lại vì tự ái - Em xin lỗi". Anh xua tay "Thôi không sao, không sao!". Anh xách đồ nghề ra bến sông, ở suốt dưới đó đến tối mịt. Anh luôn miệng nhắc "Tôi chỉ có vài ngày làm việc ở đây, sợ không kịp mất". Vô tình anh làm Nhiên sợ hãi thời gian.

Một buổi sớm thức giấc, Nhiên thấy đầu giường mình đầy hoa dại. Những bông hoa cánh mỏng tang phớt màu mật ong óng mượt. Vài giọt sương còn đậu trên cánh hoa, lóng lánh như ngọc. Nhiên hớt hải chạy ra bến sông "Anh ơi...". Tiếng cô lạc vào trong gió. Gió lùa vào người cô lạnh buốt. Nhiên rũ xuống. Mặt sóng cuộn tung lên như muốn dìm Nhiên xuống mãi.

"Nhiên!". Nhiên ngẩng phắt dậy. Anh đứng trước mặt nhìn Nhiên cười hiền lành, hai gỗ má tái nhợt vì lạnh. Nhiên ào đến anh, bật khóc "Em tưởng anh đi rồi. Em nghĩ là anh đã đi rồi". "Anh làm sao đi được - Anh vuốt tóc Nhiên, dìu cô về nhà - Anh còn phải vẽ em nữa kia mà". "Em ư?". "Phải, bé yêu". Anh đặt Nhiên nằm xuống giường, hôn cô âu yếm. Sóng trong người Nhiên trào lên cuồn cuộn rồi sôi chảy êm ái. Đến một lúc nó tan ra ngọt lừ. Nhiên thiếp đi, miệng nở nụ cười sung sướng.

Mấy ngày sau quán vẫn mở nhưng tự nhiên không ai đến. Bến nước thành ra buồn tênh. Nhiên ngồi cho anh vẽ đắm chìm trong niềm hạnh phúc bất ngờ mình đang có trong tay, mắt đẫm nước. Nắng như tấm voan bằng vàng phủ lên tóc Nhiên, lên người Nhiên, chạy thành một đường viền trên ô cửa mở rộng. Anh luôn miệng xuýt xoa "Chao ôi, Nhiên ơi, đẹp quá đi mất. Em này, bến sông này, còn gì hơn nữa". Bức tranh hoàn thành của buổi chiêu cuối thu. Mưa phùn giăng kín ô cửa. Nhiên nhìn mình trong tranh, thốt lên ngạc nhiên "Em đẹp thế này sao?". "Còn hơn thế nữa, nhưng anh không tả hết được. Thật khó lòng mà tả hết được em". Nhiên xâu hổ, dụi đầu vào ngực anh. Tiếng anh thầm thì "Một tháng rồi Nhiên nhỉ? Vậy mà anh chẳng muốn đi đâu hết".

Nhiên tỉnh dậy, nhìn quanh không thấy anh. Nhiên nghĩ chắc anh lại ra bến sông vẽ nên dọn hàng xong mới ra gọi anh. Nhiên gọi mãi không thấy anh trả lời. Cô chạy dọc bến sông. Mưa bay tới tấp vào mặt. Bến sông lặng ngắt. Cây cỏ dúi vào nhau ướt sũng. Nhiên ráng gượng đứng lên quay về nhà. Cô hiểu thế là anh đã đi thật rồi. Đã đi xa khỏi cô thật rồi, không một lời từ biệt. Đáng lẽ thì không nên thế. Nếu anh phải đi cũng nên nói với cô một lời... Nhiên đưa tay vuốt khuôn mặt đẫm nước mưa và nước mắt.

Nhiên lặng lẽ ngôi xuống giường. Dưới gối có một tờ giấy nhỏ, chữ viết vội vàng "Nhiên yêu quý, rồi cũng phải đến ngày hôm nay. Anh rất yêu em nhưng công việc của anh bắt anh phải đi. Em thông cảm cho anh. Hãy chờ anh nhé, bé yêu. Hôn em!".

Nhiên gục xuống. Cô không khóc. Chỉ thấy mắt bỏng rát. Nước mắt chảy ngược hết vào trong như muối xát. Nhiên không còn khóc nữa.

Thời gian thấm thoát trôi qua. Những lùm cỏ dại bên sông ngày càng um tùm lút mất tầm mắt nhìn về bến. Đến mùa xuân, hoa dại lại nở vàng óng như những cánh bướm. Quán lại đông khách. Dân chài lẫn với đám người thị trấn lại đến uống nước vì trong quán có cô chủ xinh đẹp như thần tiên. Nhất là sau dạo mùa đông, nét đẹp ấy càng đằm lại, hanh hao như sương khói, như thể lúc nào cũng chực tan biến mất.

Chiều khách vãn dần. Cô chủ quán lại ra ngồi tựa cửa, mắt dõi nhìn xuống bến sông, tay âu yếm xoa bụng. Tôi giục "Sao không lấy chồng đi cho đỡ cô quạnh?". Cô cười vô tư lự "Mình phải đợi anh ấy về". Cô cúi xuống tiếp tục cặm cụi thêu những con chim nhỏ trên khăn lụa kịp buổi chợ ngày mai, và hát "Ôi chàng ơi, chim có bạn có bầy, thuyền có bên có sông mà sao lại để em năm canh gối chiếc chăn đơn đợi chàng...".

Cũng dạo ấy, trên những tờ báo lớn đều có đưa tin "Lần đầu tiên Việt Nam đoạt giải thưởng lớn mỹ thuật quốc tế". Bức tranh "Bến đợi chồng" được đánh giá rất cao về mặt nghệ thuật ánh sáng, đường nét hài hòa chắt lọc. Màu sắc lung linh. Nhìn vào người ta có thể tìm thấy những cảm xúc về tình yêu hạnh phúc đã từng một lần trôi qua đời mà ít người nắm bắt được. Bên cạnh tấm ảnh chụp tác giả bức tranh tươi cười đứng bên người vợ tương lai, con một họa sĩ lão thành, tiếng tăm là bức tranh "Bến đợi chồng". Cô gái ngồi tựa cửa, thấy thoáng phía xa con sông rắc bạc vụn. Những chiếc thuyền đánh cá nâu sẫm nằm phơi lưng lên trời chen những đám gỗ mục và cỏ gà. Nắng viền đường diềm lên ô cửa, thả tấm voan trùm khắp người cô. Tác giả của một bài viết về bức tranh "Bến đợi chồng" kết luận "Đôi mắt của cô ấy đẫm nước, lúc nào cũng thâm thì ‘Em ở đây, em đang đợi anh ở đây...’. Thật hạnh phúc cho người đàn ông nào được cô ấy yêu thương và chờ đợi".
Nguyễn Thị Châu Giang
Theo https://vietmessenger.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Thi ca bình dân Việt Nam 1

  NGUYỄN-TẤN LONG – PHAN CANH Thi ca bình dân Việt Nam 1 Đêm đêm đốt đỉnh hương trầm Khói lên nghi ngúc âm thầm nhớ quê. ( Ca...