Thứ Tư, 15 tháng 5, 2019

Nửa đêm sực tỉnh 2

Nửa đêm sực tỉnh 2
Chương X
MỘT ÁNH SAO VẪY GỌI
Gian nan mày cứ quật ta đi! Khi vào đời có cái nhìn trong sáng, thì lúc ra đời sẽ lại nhìn đời với cái nhìn trong sáng ấy. Một cái nhìn chẳng bao giờ chết được. Đêm ấy không có trăng chỉ có sao thôi, ông già cầm lái hát tuồng xong, lại ngồi im nhìn những đợt sóng dưới những sao trời. Ôi! Một cơn gió mênh mông phả vào mắt ta, hồn thơ ta như đôi cánh chim được cất cao, nhưng lúc ấy quên hết mọi sự đời. Ngồi trên chiếc ghe bầu này, ta không thể nào nghĩ ta đang nghĩ gì và đi tìm cái gì.
Dưới trời sao, ta một nhà thơ ngồi cạnh một ông già, có lẽ hai tâm hồn ấy già trẻ bên nhau cũng như đôi cánh của một con chim giang hồ. Trong túi ta lúc này có lẽ không đủ cái rỏng rẻng trả công cho một chuyến “quá giang”. Giá ai cho ta mười lần, trăm lần hơn ta có, cũng không đổi được chiếc áo ta đang mặc. Cho ta thêm một gian nhà rộng, mấy sào ruộng với một số lợi tức thu tô hàng năm, ta đã chắc đâu có một tổ ấm hay một chỗ đứng của trời đất mà ta chưa có được.
Có phải tôi muốn tìm biết cái ngôi sao nào chiếu vào số mệnh của tôi chăng?
Ngôi sao ấy đâu phải lẫn vào ngàn ngôi sao trên trời hay nó đang ở trong lòng tôi chiếu ra!
Là một nhà thơ, từ bao giờ, tôi đã mang trong mình một khát vọng, một khát vọng không bao giờ thỏa mãn…
Một cái gì như ảo ảnh nhiều màu sắc chập chờn mãi trước mắt tôi… Nhất là những khi đau buồn bị dày xát về một điều gì; hay khi túng thiếu phải đối phó với cuộc sống. Nhớ khi dật dờ giữa cái sống cái chết, trong đầu lại hiện ra những giấc mơ đẹp tuyệt vời.
Sau một thời kỳ dài đời tôi đã xảy ra quá nhiều điều đau đớn, tưởng như mình rũ được thân xác, đêm nay giữa biển cả ngàn sao, tôi nghĩ đến Mừng. Cái bóng đẹp đã qua. Mừng lại hiện ra trong giấc mơ của tôi. Một cuốn phim về Mừng chiếu ra trước mắt tôi, bắt đầu từ cái bóng của người con gái lướt một vòng cung. Nếu kể từ ngày tôi bị giải hồi nguyên quán, tôi ghé Huế, tôi có một lần được gặp Mừng. Lúc ấy vào buổi sáng, tôi đi từ Bến Ngự đi lên còn Mừng ở trên dốc Bến Ngự đi xuống. Mừng không đi xe mà đi bộ. Tôi thấy Mừng chạy lại: “Ôi chú” mặc dù ngạc nhiên vì sự có mặt của tôi quá bất ngờ, Mừng cũng không giấu được chút vui mừng khi gặp lại người chú.
Mừng có gầy hơn so với lúc gặp ở làng. Nhưng vẫn là cô gái không son phấn ấy.
− Chú lên cháu đấy chứ, chỉ có mạ cháu ở nhà thôi. Thôi đi luôn với cháu!
Mừng mạnh dạn kéo tay tôi đi. Tôi cũng chả nói đi đâu, miễn là vẫn đi bên Mừng, Mừng đi đâu tôi cũng đi theo.
Chúng tôi lên An Cựu và dừng lại trước một ngôi nhà không lớn lắm nhưng xinh đẹp, có bồn hoa vừa mới trồng. Mừng thản nhiên nói với tôi:
− Nhà chị cháu đấy!
“Chị cháu” cũng như “chú cháu” không rõ thân sơ thế nào, người nghe muốn hiểu sao thì hiểu!
Một người hầu đưa chúng tôi vào phòng khách khá sang trọng rồi nói: “Xin lỗi cô đang tắm dở”.
Mừng rất tự nhiên và giới thiệu với tôi:
− Biệt thự này là của cô Thượng, cụ Thượng vừa làm tặng cho cô hầu của mình.
Chồng cô là cụ Tôn Thất Quảng, thượng thư bộ Lễ. Sau khi “năm cụ khi không rớt cái ình”, cụ Thượng thư bộ Lễ này là một trong năm cụ thay thế những cụ bị rớt. Ngon nhất là bộ Lại rơi vào tay cụ Thái Văn Toản nổi tiếng về người vợ đẹp hơn là bản thân mình. Nhà báo, nhà văn Phạm Quỳnh từ Hà Nội vào nhậm chức Thượng thư giáo dục. Bộ Lễ có lẽ là bộ lành nhất. Nhưng Mừng lên đây làm gì? Mừng cười nói với “chú”: “Cháu có việc!”. Dẫu Mừng chẳng nói ra, tôi cũng có thể đoán được. Mấy ông bà con ở Thừa Lưu, Nước Ngọt có tiền có ruộng muốn mua chút danh tước gì đây để ăn trên ngồi trốc ở làng… Muốn có được một chút “cửu bát”, “võ giai” hay “văn giai” cũng phải mất đứt vài trăm bạc! Người cháu gái ngây thơ của tôi đáp lại lời tôi, cũng không che được chút ngượng ngùng:
− Cháu đã nhờ một lần rồi, cũng trôi cả. Nhà chẳng ai chịu làm phải đến tay cháu thôi.
Lúc bấy giờ Mừng đã dạy đàn cho Hảo, con gái Phạm Quỳnh. Vào ra các nơi dinh thự, Mừng cũng đã quen rồi.
Giọng nói của Mừng có vẻ buồn buồn. Tôi cũng biết rằng: sau khi bố mất, gia đình gặp nhiều khó khăn hơn. Tôi không muốn nhìn thẳng vào mắt Mừng để tỏ rằng: chuyện gì đã đến với nhà Mừng, tôi cũng quan tâm. Giữa lúc này thì cô Thượng từ trong buồng trong bước ra, tóc ướt còn buông dài… không già lắm, như tôi nghĩ, chân bước nhẹ nhàng… ít nhiều có dáng “một cô hầu lớn”, lưng vẫn rất thẳng. Gặp Mừng, dáng vẻ của cô xuề xòa, thân quen, cái vẻ quan chỉ mới tập, giọng nói vẫn chưa sạch vẻ quê. Chúng tôi được giữ lại ăn cơm. Bữa cơm rất Huế. Là vợ hầu của một cụ lớn, ít ra mỗi tuần cụ cũng về đây mấy lần, nên món ăn cũng phải hợp với khẩu vị một vị đại thần. Trưa hai người kéo nhau vào buồng trong. Tôi ngồi ngoài, chỉ nghe tiếng cười đùa… Tội nghiệp, sau khi miền Nam giải phóng, chúng tôi vẫn tìm được nơi cô Thượng ở, nơi ở vẫn đơn sơ và không thấy chút “hầu non, vợ nít” trên gương mặt, trong dáng vẻ của cô, không phải vì cô đã có tuổi.
(Cô Thượng kể lại cho chúng tôi nghe những đoạn đời gian truân của mình sau cách mạng: “Làm sao mà chị không theo cách mạng được em? Còn chút vàng trên tay cũng bán hết để nuôi bộ đội”. Chị cũng có đứa con hi sinh cho cách mạng! Mừng ôm lấy cô Thượng, cả hai dàn dụa nước mắt)
Sau bữa cơm trưa ấy, chúng tôi lại kéo nhau về. Hai chú cháu đi bên nhau, cứ im lặng bước đi. Thật ra những điều gì xảy ra cho người này, người nọ đều biết… đều có người kể lại cho biết. Tôi có đứa cháu ruột học trường Khải Định, cũng ở nhà Mừng, biết được điều gì đều kể tôi nghe.
Tôi biết có lần một đám công chức bắn tin muốn đến dạm hỏi Mừng. Mẹ Mừng hỏi ý Mừng, để rồi thưa lại với người ông nội ở ngoài Trường Súng. Mừng chả ra đùa chả ra thật thưa với mẹ: “Con lớn rồi, ông ưng người nào, con lấy người ấy”. Mừng bằng một giọng tuồng rất ngoan ngoãn nói tiếp: “Ông bảo cháu nhảy vào lửa cháu cũng nhảy”.
Hôm ấy lúc lên dốc Bến Ngự, sắp chia tay nhau, sực nhớ đến câu nói rất ngộ của Mừng, tôi nhắc đùa một câu: “Biết ý ông rồi, có gì đừng quên chú nghe”. Mừng quay lại đáp luôn “Không quên chú đâu”. Mừng tươi  như hoa.
Buổi sáng thăm nhà cô Thượng chỉ có ý nghĩ làm cho hai tâm hồn chất phác, thật thà gần nhau thêm một bước nữa. Và có điều gì làm cho tôi thương Mừng, chính là chuyện người con gái ăn nói có duyên cứ phải bắt mình làm những việc đau đớn: chạy chọt từng chút chức tước để vẫn giữ nếp nhà lúc sa sút. Mặc dầu ở thời ấy, xã hội ấy, những việc làm như thế là việc quá bình thường. Thuở ấy ai cũng đút, ai cũng ăn, nhưng động đến hai chữ ấy như động đến tên cúng cơm của cha mẹ, coi chừng…
Tính từ cái buổi ăn cơm ở biệt thự cụ lớn, từ cái buổi gặp kỳ quặc ấy, đến hôm nay, tôi từ xứ Quảng ra tìm Mừng, dễ thường đã gần hai năm rồi. Hai năm mỗi người đi một đường chẳng nghĩ đến nhau. Chẳng hiểu thời gian ấy là ngắn hay dài, mau hay chậm. Nhưng hôm nay, như tỉnh khỏi một cơn đau, có lúc như nóng ruột nóng gan, tôi muốn đến với Mừng.
Trước khi đến với Mừng, có người vừa quen tôi, vừa quen Mừng, cũng đã cho tôi biết “Mừng vẫn thế”. Vẫn thế, nghĩa là thư vẫn vất vào xe mà Mừng vẫn một mình ngồi trên xe vẫn không son phấn như xưa. Người ta còn kể một chuyện rất cụ thể: Một hôm (lúc ấy lính Thiên Hoàng đã đến sống chung với lính Pê-tanh),[a] Mừng đang đi trên đường phố, một người đeo gươm “võ sĩ đạo” đi thẳng tới bên Mừng, cầm lấy bàn tay Mừng. Mừng cứ để yên, hai mắt nhìn thẳng vào đôi mắt hắn. Có lẽ hắn thấy ớn lạnh, lặng lẽ tự ý rút tay về. Tôi không tin có chuyện ấy nhưng nếu có tôi cũng chẳng ngạc nhiên.
Từ dưới đò lên, tôi qua nhà chụp ảnh Tôn Thất Dung liếc qua cái ảnh “bốn cô” (tôi thường nói với tôi như thế) rồi chạy qua sáu nhịp Tràng Tiền, tôi đi lại con đường thuở học sinh tôi thường đi. Tôi lên dốc Bến Ngự qua chùa Linh Quang. Nhìn đồng hồ, giờ này hẳn Mừng chưa đi chợ. Vắng lặng không một bóng người. Bước vào nhà, tôi chào người mẹ một tiếng rất to: “Chào chị” bởi vì tôi tin rằng lúc nào người mẹ cũng ở nhà. Người mẹ thấy tôi mừng quá, ngồi dậy tiếp chuyện tôi. Hỏi trăm thứ chuyện, chuyện chưa biết, kể cả chuyện biết rồi. Hỏi đâu tôi thưa đấy. Tôi nghe chăm chú, tôi thưa kính cẩn. Nhưng lâu lâu tôi lại ngẩng nhìn ra phía ngõ. Bà buột miệng nói: “Cháu Mừng đi chợ sắp về”. Có thể bà nói một cách vô tình, nhưng câu nói vô tình đó thiếu một đường làm tôi đổ mồ hôi hột. Tôi hoảng sợ cái gì vậy? Thật tình tôi cũng chẳng rõ, tôi đến gặp Mừng chờ Mừng chẳng vì một mục đích cụ thể.
Tôi rất bực bội với mình, và để tỏ ra mình “cứng cáp” đột ngột tôi đứng lên xin về. Bà giữ mãi, tôi cũng đòi về, hẹn một lúc khác sẽ lên thăm.
Tôi còn cứng cáp hơn nữa: “Chị, chị nói với Mừng tôi có lên”. Nhưng cái câu tôi định hỏi về chuyện chồng con của Mừng, tôi quên phứt không hỏi. Tôi chưa bao giờ thấy đường từ nhà Mừng đến chùa Linh Quang, bước chân của tôi sao mà rề rà, chậm rãi đến thế. Tôi biết Mừng đi chợ Bến Ngự, không đi đường cái mà đi đường tắt trong lối xóm, qua một cái giếng xây. Tôi vừa đặt chân vào đường tắt thì một cái bóng hiện ra trước mặt. Mừng đi chợ đã về. Mừng ở trước mặt tôi, Mừng mặc một chiếc áo thô đen. Trên cổ vẫn ánh một vòng vàng, đôi tai một chút xanh xanh. Tất cả những màu sắc như tôn lên cả con người. Gặp lại Mừng tôi vui như một đứa trẻ, còn Mừng khi gặp tôi, như có vẻ ngượng ngùng. Tôi nghĩ: Vắng tôi, ít ra vài lần Mừng đã đón tôi trong giấc mơ.
Tôi chưa bao giờ thấy Mừng đẹp như thế. Tôi không chịu được giây phút kéo dài, không nói một điều gì ngoài sự bâng quơ, ngụy trang, những con mắt nhìn nhau mà không cúi xuống. Mừng không có ý đợi tôi cùng đi. Tôi cũng chả muốn theo Mừng về nhà, cái khoảng cách ấy dầu đã vượt qua, vẫn giữ không cho vượt qua. Mừng chào tôi về. Tôi ngồi lại bên giếng. “Ôi, cái giếng trong đầu làng” mà tôi đã nghĩ tới nhiều lần, đã ngân lên trong tâm hồn như một lời thơ.
Tôi muốn ngồi lại trên tảng đá bên giếng, tôi muốn ngồi lại cho đến chiều, đến tối. Đến khi những ngôi sao trên trời đã xuất hiện và trong đêm soi mình vào tận đáy giếng trong. Tôi bắt đầu hiểu thế nào là cái long lanh của tâm hồn, của tình yêu, của cái đẹp giữa trần gian. Cái long lanh của những ngôi sao trời!
Và tôi đã hiểu thế nào là “con người thơ” trong tôi, tôi đã làm bao nhiêu thơ trong đời tôi, nhưng có được bao câu thơ đã nói lên cái long lanh và cái run rẩy của tâm hồn tôi? Muốn gọi gì thì gọi, tôi không thể phủ nhận, đó là một cành hoa hạnh phúc mà con người muốn đưa tay vươn tới.
Và từ cái buổi gặp lại ấy tôi đã có ấn tượng trong những giấc mơ trên biển cả, dưới ngàn sao − những sự thật trong mơ đó từng bước một, thành hiện thực giữa đời.
“Giếng Mây” − cái “đụng chạm” thiêng liêng ấy, lắm lúc với tôi như một điều tiền định, cả cái bài thơ Buổi chiều mơ  như đã thành một dây buộc!
Kỳ hoặc! Kỳ diệu! Cái sợi chỉ với cái lỗ kim nói trong kinh Phật… sẽ gặp nhau. Cái cuộc hành trình của kim chỉ dưới đáy đại dương đã có vẻ như sẽ thể hiện trên những đầu ngón tay của chúng tôi!
Không biết tự lúc nào, trong túi tôi đã có một tấm ảnh nửa hình của Mừng, lúc một mình, chùng lén tôi ngắm soi.
Chương XI
TAY TRONG TAY
Hôm ấy Phạm Quỳnh đi nói chuyện ở Di Luân về vấn đề “Phục hưng đất nước”, ông đội khăn xếp và mặc áo dài đen có đeo một bài ngà. Ông nói bằng tiếng Pháp. Đám trí thức ở Huế tới nghe khá đông, tôi ngồi cạnh một anh bạn, anh ta rỉ tai tôi: “Có người đi hỏi rồi, cậu biết chưa?”. Tôi hỏi lại: “Chuyện gì?”.
− Cậu còn vờ hỏi nữa.
Thật ra tôi đã hỏi vờ. Người bạn của tôi cũng là thầy dạy học, nhà ở dốc Bến Ngự. Tôi cũng biết, anh ta là một trong những người vứt thư vào xe Mừng, những khi anh đi dạy về, trên đường thường để mắt xem chờ…
Quả tình việc có người đi hỏi Mừng, tôi cũng đã biết, nhưng cụ thể là ai? Chính anh bạn hôm ấy đã thuật lại cho tôi, tôi mới hay rõ tên họ, nghề nghiệp, chức tước của người đi dạm. Anh còn nói rõ ngày, giờ bên nhà trai đi hỏi, không ra vẻ hậm hực cũng không ra vẻ vui mừng ngạc nhiên.
− Đến nhà cháu cậu, nhà gái đã đòi tiền dạm hỏi, cụ thể là 500 đồng Đông Dương, món tiền cũng lớn đấy chứ nhỉ!
Và với một giọng chua xót mỉa mai;
− May mà tớ không lọt vào mắt xanh của Mừng.
Giọng nói của anh như đượm chút đau xót.
Nhìn lên cái khăn đen áo dài của diễn giả, lủng lẳng cái bài ngà với những điệu bộ đường hoàng, lại nói thứ tiếng Pháp cao sang thao thao bất tuyệt, bất giác tôi muốn phì cười…
Đã mấy tháng rồi, không ai nghe thấy tiếng bánh xe sắt của người nghệ sĩ già. Cũng có người nói, người nghệ sĩ tuổi cao ngày một yếu đi…
Có lần ông ốm suýt ra đi. Có thể gia đình cũng muốn chấp nhận nhanh đám hỏi cho ông yên lòng.
Mặc dầu suốt buổi cụ Phạm Quỳnh nói, tôi cũng không rõ cái vấn đề chủ yếu cụ muốn nói là gì. Nhưng tôi vẫn ngồi cho đến lúc cuộc nói chuyện kết thúc, tôi vẫn cùng với cử tọa vỗ tay, rồi cùng mọi người ra về.
Một mình tôi đứng lại bên lan can cầu Trường Tiền, như muốn phanh ngực đón hết ngọn gió mát từ dưới sông lên.
Việc Mừng là một việc đương nhiên, tôi không thể viện một cớ gì mà buồn. Nhưng sự thật đứng một lúc bên cầu, tôi thấy lòng nao nao. Tôi định sáng hôm sau lên thăm Mừng. Nhưng lên ngay có vẻ không tiện, phải đợi một tuần sau tôi mới lên được.
Từ khi tôi trở về Huế, anh Hoài Thanh có mở với tôi một lớp giảng quốc văn ở hội Quảng Tri. Anh Hoài Thanh giảng Kiều, tôi giảng Chinh phụ ngâm. Hai người giảng để kiếm chút tiền cho tôi tiêu hàng ngày. Tôi cũng phải có thời giờ chuẩn bị “tử tế”, − Hoài Thanh nhắc tôi như vậy.
Một tuần sau, vào một buổi chiều, tôi lên nhà Mừng. Tôi bước vào, người mẹ  như tìm dò một điều gì trên gương mặt tôi, trong từng điệu bộ của tôi. Và vui vẻ báo lại tin vui của Mừng cho tôi nghe:
− Chú mừng cho cháu đi!
Tôi không đóng kịch được. Thật ra tâm trạng tôi lúc bấy giờ rất phức tạp. Buồn thì cũng buồn… nhưng không phải là không vui. Tuổi xuân của Mừng ngày một qua đi. Tôi cũng như ông trời, không thể giam tuổi hoa của một người con gái. Tôi linh tính rằng “Mừng vẫn có ở nhà”, tôi có nghe một tiếng ho nhè nhẹ:
− Chú mừng cho cháu một bài thơ đi!
Tôi đáp một cách bình tĩnh lạ thường:
− Hôm nào cháu về nhà chồng?
− Làm thơ trước sợ thiu đi phải không chú?
Thơ mà cũng thiu hở trời! Mừng muốn lấy cái bướng bỉnh ngổ ngáo che cái tâm trạng thật của mình. Nhưng có bao giờ Mừng biết che đậy là gì. Tôi cũng muốn Mừng đi lấy chồng. Thật sự Mừng cũng có cái vui một tấm chồng. Mừng phải được hưởng một đêm tân hôn, một đêm động phòng, những gối nệm trắng tinh, những ngọn nến xếp từng hàng.
Cái đỉnh cao hạnh phúc đó, Mừng cũng phải được hưởng như mọi người. Huống nữa là một người đẹp như Mừng.
Vâng, không phải để cất trong tráp một bông hồng nở kín rồi tan đi trong bóng tối. Một bông hoa phải được ngắt, cầm trên tay, phải được có người ngắm ở trên đời. Mừng phải có được một người yêu mình… phải thuộc về một người trẻ trung, trong trắng nào đó. Tôi chưa thấy ai giản dị như Mừng. Mừng chấp nhận một cách giản dị, một chân lý giản dị như thế. Đương nhiên Mừng không thể đưa tay gánh lấy một thứ nợ đời nào.
Tôi đã qua một đời vợ, tôi lại có hai đứa con. Mừng phải được ai yêu và yêu ai đó… Tôi, cũng phải chịu một niềm vui với Mừng, cái cách suy nghĩ đó của tôi, cũng là lẽ thường tình. Nhưng tôi vẫn sợ Mừng chấp nhận cái chân lý giản đơn ấy: Mừng cũng như mọi kẻ trên trần gian, vui có được một tấm chồng.
Tôi tin rằng, Mừng vốn không ưa cái xa xôi, lãng mạn. Để coi! Rồi Mừng cũng sẽ sống như thế đấy, như mọi người… Cái thứ hạnh phúc đơn sơ sẽ đến với Mừng. Điều ấy cũng giản dị như là làm một điều gì yên lòng mẹ, thỏa mãn chút ước mong của người ông.
Tôi hỏi người mẹ:
− Đến bao giờ thì chị cho cưới?
Người mẹ vui thực sự:
− Tùy Mừng, muốn hôm nay là hôm nay, muốn ngày mai là ngày mai.
Mừng nhẹ nhàng cãi lại:
− Sao lại tùy con… tùy ở ông, con đã thưa với mẹ nhiều. − Mừng vẫn nói cái giọng rất thản nhiên ấy… Nói xong Mừng đưa đưa hai chân.
Bỗng khắp nơi trong xóm, tiếng người kêu ơi ới: “Máy bay, máy bay” lẫn với tiếng chó sủa, tiếng gà cục cục, tiếng heo sau chuồng.
Những con người nãy giờ không thấy bóng, giờ chạy qua sân.
Mẹ Mừng cũng từ lúc nào dắt một cháu gái xuống hào trong vườn… Mừng nhìn tôi:
− Chú xuống hầm đi chú!
Tôi nhìn thẳng vào mắt Mừng: “Ủa còn Mừng”… Mừng mỉm cười: “Nhật cũng không sợ, sợ chi Mỹ”. Tiếng bom, tiếng liên thanh đã nổ như gần bên xóm. Tôi kéo tay Mừng: “Xuống đi”. Mừng đáp một câu gọn: “Không”.
Mừng dứt tay tôi ra và nhìn chòng chòng vào mắt tôi. Tôi nhớ đến hai câu thơ tôi làm khi đứng tựa lan can trên cầu trong cái đêm nhận được tin nàng đã nhận đám hỏi… Cái đêm ông Phạm Quỳnh khăn đen áo dài như nhà nho, thao thao nói tiếng Pháp:
Ta thương cỏ, ngùi thương phận cỏ
Nguyện ngày mai là gió bên đường
Nguyện ngày mai chứ không phải kiếp này là ngọn gió thổi trên ngọn cỏ đau thương. Không biết từ lúc nào tôi lấy trộm được một tấm ảnh của Mừng, phía trái tấm ảnh tôi đã chép lại hai câu thơ đó.
Phức tạp, lãng mạn chính là Mừng. − Tôi nghĩ bụng thế, từ trên trời, tôi chẳng còn nghe tiếng máy bay nữa. Bàn tay của Mừng đã từ lúc nào ở trong bàn tay tôi. Tôi ngắm tay Mừng nằm thu trong tay tôi. Mừng chẳng rút ra và tôi cũng để vậy… Tôi nhớ lại cái đụng chạm thánh thần của ngón chân Mừng với ngón chân tôi, đêm trong một con thuyền. Cái đụng chạm diệu kỳ không thể có được mà tôi đã ví với điều đã nói trong kinh Phật. Sự gặp gỡ diệu kỳ của một sợi chỉ với một mũi kim qua cuộc hành trình dưới đáy đại dương!
Điều diệu kỳ ấy xảy ra một lần trong số phận của chúng tôi. Nay một lần nữa, không tìm, không kiếm, không trôi, không giạt, không chạy, không bay mà cứ đến với nhau. Sao lại thế này? Đâu phải là chuyện trong hai người chúng tôi đã muốn! Không phải ý thức, không phải thịt da, không phải số mệnh. Chả lẽ tôi ngẩng lên cảm tạ người lái máy bay ở trên chín tầng mây ư?
Đột ngột, Mừng nhẹ nhàng rút tay mình ra khỏi tay tôi… “Không, không thể được”. Tôi biết Mừng rất yêu mẹ, không bao giờ lỗi một lời hứa với mẹ, nhất là khi không còn cha. Mừng chỉ còn có một mình mẹ ở trên đời… Mà người mẹ hiền từ ấy, có bao giờ dám làm ngược lại sự đời? “Không, không bao giờ”. Nhưng tôi vẫn bình tĩnh đưa tay vào túi rút ra cái ví, có tấm ảnh và hai câu thơ đưa cho Mừng…
Máy bay Mỹ đã bay xa. Người mẹ cùng đứa cháu từ dưới hầm đã lên gần chúng tôi mà chúng tôi chẳng dè chừng. Không rõ bà từ hầm lên lúc nào và bà có dịp thấy động tác nào của chúng tôi không?
Bà gần như mất cả vẻ bình tĩnh vốn là đặc tính của người mẹ, kêu lên:
− Mừng, con này liều thật.
Liều, có nghĩa là máy bay đến không sợ, cũng có nghĩa là dám ngồi với nhau thế đấy ư? Tôi thấy rõ cái tức tối của bà có sự ngờ vực…
Mừng đáp lại chẳng luống cuống chút nào:
− Con sợ cóc nhái đụng dưới chân, chứ quân ấy bay trên trời con không biết sợ… Mạ nờ.
Một tên sĩ quan Nhật loạng choạng bước vào. Mặt hắn đỏ gay.
Máy bay bay rồi, chắc hắn đi kiểm soát trận địa… Hắn chả chào hỏi, gác súng vào giường rồi ngả lưng xuống giường, lấy khăn che mặt. Lúc này mặt trận phương Tây đã thay đổi rồi. Tụi lính Nhật đã linh tính được sự thất bại không tránh khỏi của quân phiệt Nhật. Thừa lúc tên Nhật vào, Mừng kéo tay tôi đi ra. Mẹ hỏi “Đi đâu”. Mừng bình tĩnh như không: “Con ra chùa Thiên Minh” và nói với tôi: “Cháu dẫn chú ra thăm mộ Phạm Hầu”. Giọng Mừng đường hoàng chưa!
Phạm Hầu là con một ông quan to trong triều, cụ Phạm Liệu cha anh đậu đại khoa, là một ngũ phụng ở đất Quảng. Anh là một họa sĩ nhỏ hơn tôi độ 7 - 8 tuổi. Tôi ở chung một nhà với anh ở Hà Nội. Anh lành lắm, chỉ nhìn mà ít nói… chỉ biết thương yêu, nhường nhịn giúp ích cho đời, đúng là một con nai nhỏ của tôi. Trong con nai thu của tôi, không chỉ có cái ngơ ngác của tôi mà thôi. Trong tập thơ Tiếng thu  của tôi, anh có một bức tranh nai, nét vẽ sơ sài, dại dột, thật thà, và nó trở thành thật thà, dại dột hơn khi tôi đặt những bức tranh ấy bên những bức tranh già dặn có tính Picasso của Nguyễn Đỗ Cung, người minh họa chính cho tập thơ tôi. Anh Hầu còn dại khờ, đáng yêu hơn cả thơ và tranh của anh. Tứ thơ anh động mạnh là bay mất. Tình thương của anh nhẹ nhàng kín đáo lắm, không để ý không thấy, dễ tưởng như phơn phớt vô tình. Anh ở bên tôi lâu ngày, lúc anh đi nơi khác lâu ngày tôi mới cảm thấy được sự trống rỗng anh để lại bên tôi. Nhưng nhẹ nhàng chúng tôi vẫn từ biệt nhau, mỗi người mỗi đường.
Dễ thường anh không biết tôi ở đâu, mà tôi cũng chẳng biết bao giờ tiếp được dòng thơ của anh. Sau này có một lần tôi gặp người đàn bà nấu cơm tháng cho chúng tôi, bà cho hay anh đã về Huế. Mãi đến hôm nay trong buổi chiều phức tạp có máy bay Mỹ bắn phá, tôi mới nghe Mừng nhắc đến tên người em nhỏ của tôi.
Chúng tôi đi qua chùa Linh Quang xuống dốc Bến Ngự, rồi đến cổng có bậc tam cấp gạch cao. Chúng tôi đi thẳng vào vườn, quanh vườn một lúc rồi bước đến một ngôi mộ nhỏ. Tôi đọc tên người quá cố, ngày sinh, ngày mất. Mừng cho tôi biết đó là vườn của cụ Thượng Phạm.
Mừng là bạn của người em gái Phạm Hầu. Qua người em gái đó, Mừng mới biết Hầu đã mất năm ngoái Hà Nội, thi thể của Hầu đã chở xe lửa về đây. Có thể ý nguyện của Hầu muốn chôn ở đất này chăng? Khi ở chung với Hầu ngoài Hà Nội, có lần tôi đã nói với Hầu về người cháu gái “họ xa” của tôi ở Huế.
Qua lời nói của tôi, không biết Hầu đã hình dung về cô gái Huế ra làm sao. Theo lời em gái Hầu nói lại thì Hầu đã biết tên người con gái Bến Ngự và tìm ra chỗ ở của Mừng. Một lần xe Mừng lên dốc, Hầu đã nhìn rõ người trên xe. Có lẽ chẳng phải một lần, gương mặt của Mừng đối với Hầu đã thân quen. Hầu cũng như bao người khác đã chú ý đến Mừng, đã yêu Mừng. Ngày một ngày hai thấm từng nét người yêu vào hồn mình. Hình ảnh thấm sâu đã thành sự sống.
Rồi bao nhiêu chuyện người ta thêu dệt quanh đời Mừng, sợi ngang, sợi dọc lầm lẫn. Người ta đồn rằng: Mừng đã có một đứa con riêng, và một hôm gặp Mừng ẵm đứa bé trên tay. Chuyện người chị Mừng, người ta lắp qua cho Mừng… Hầu tưởng như đó là một sự đau thương. Càng chân thành, càng nhức nhối nỗi đau của người đã trở thành nỗi đau trên da thịt mình, trong tâm hồn mình. Để cho vơi nỗi đau, Hầu tránh mọi con đường ngày thường qua lại, Hầu tránh Bến Ngự, Hầu tránh cả Huế, không ở với gia đình nữa. Hầu ra Hà Nội, Hầu ở một gác ba phố Săng-om, trên gác nhỏ, la liệt những bức tranh phác họa, tranh vật lẫn tranh người.
Người bạn gái của Mừng không cho Mừng biết nguyên do cái chết của Hầu, cả cách kết liễu đời mình. Đến hôm thi hài Hầu về đến ga Huế, người ta mới tin cho Mừng để Mừng ra đón. Mừng chưa bao giờ thật sự đối mặt với Hầu. Những gì Hầu đã vẽ và viết về Mừng, Mừng không hề biết đó là một người đã vẽ, đã viết, đã mơ về Mừng…
Mừng đi quanh vườn, ngắt một bông hồng đưa cho tôi… tôi để trên tay nhìn một giây lâu rồi trao cho Mừng. Mừng rút một cuốn sách nhỏ từ trong túi, giở ra giữa một tờ giấy trắng tinh không chữ rồi ép mạnh và lại bỏ vào túi áo. Tôi hỏi bâng quơ: “Mừng giữ một vần thơ nào của Hầu?”. Mừng đáp gọn với cả một sự nhấn mạnh: “Không, không”. Nhìn thẳng vào mắt tôi, một giọt nước mắt bật ra khỏi mi mắt Mừng. Tôi hiểu: “Không là không”. Cái kỷ niệm hôm nay, Mừng đã ép giữa trang sách… Nhưng Mừng sẽ không chệch con đường số mệnh.
Nỗi đau đã nghiền nát giữa hàm răng, nỗi đau chứ đâu phải số mệnh.
Tôi không dũng cảm bằng Mừng… và từ đây tôi không bao giờ có ý lay chuyển cái quyết tâm của Mừng.
Không phải chỉ bàn tay đặt giữa lòng bàn tay. Ngày hôm nay, những giọt nước mắt của Mừng đã rơi vào giữa đời tôi. Những ngày chúng tôi đã đuổi theo bóng ngôi sao của tôi và đỉnh trời tôi đã gặp: còn điều gì đáng gọi là nghi ngờ? Văn chương ruổi dong thoải mái. Cuộc sống lại nghìn lần sống phức tạp hơn thế nhiều.
Khi đứa cháu tôi khẳng định cái điều người ông đang chờ chết gọi Mừng đến bên mình hỏi Mừng một lần nữa:  Ông sắp ra đi, cháu yêu của ông có nghe lời ông không? Và Mừng đã ngoan ngoãn đáp lời ông: “Ông bảo cháu nhảy xuống đống lửa cháu cũng nhảy”. Đâu phải Mừng dối ông. Những giọt nước mắt của chiều nay, và cánh hoa Mừng ép kỹ vào trang giấy trắng. Mừng đã tránh cái nhìn của tôi. Mừng vốn là người chẳng thích gì, chẳng chịu nổi: cái cảnh tầm thường “đường ngang, sợi dọc”. Mừng từng ngâm câu“Thương nữ bất tri vong quốc hận…”   lại hay đuổi bắt cái mộng khác thường ấy.
Và ai yêu mẹ bằng người con gái hiếu thảo ấy? Chỉ vì một chút vui lòng mẹ, Mừng sẽ chẳng từ… Còn tôi… hồn tôi dong ruổi giữa trời mà tôi có thể bỏ tầng mây, chúi đầu vào một ngõ hẹp rối rắm.
Phượng hoàng với gà què thường sống lẫn trong một con người. Tôi chỉ nhớ hôm ấy, tôi từ chùa Thiên Minh tiễn Mừng đến ngõ nhà Mừng. Ngõ đã cài rồi, mà những ngón tay, thông qua hai thanh gỗ hở vẫn níu lấy nhau, níu mãi lấy nhau cho đến khi không còn níu lấy nhau được nữa.
Giữa, khi nào con chim đang đi và khi nào con chim đã cất cánh rồi, có một ranh giới thật lung linh kỳ diệu…
Chương XII
TÓC HUYỀN HƯƠNG BAY
Thuốc phiện là gì?
Khi đọc sử thế giới, tôi cũng biết có một cuộc chiến tranh thuốc phiện ở cuối thế kỷ XIX. Bọn buôn người Anh bắt người Trung Hoa phải xài cái thuốc độc này, chúng chở từ Ấn Độ qua. Cản đường chúng, chúng dùng sức mạnh của súng để mở đường.
Nhưng vua quan Trung Hoa đã không cản đường chúng lại, đã cho con cháu mình rước bàn đèn về nhà. Từ Trung Quốc, thuốc phiện lấn đường qua An Nam.
Tôi lớn lên đã thấy nhà tôi rước bàn đèn. Ông chú tôi, một vị Thượng thư, từ kinh đô Huế rước về. Thầy tôi về già cũng đốt sáng “tội ác” này trước mắt chúng tôi.
Tôi viết tập truyện ngắn Người Sơn nhân, cụ Phan Khôi cho tôi là người viết truyện ngắn giỏi nhất, từ Hoàng Ngọc Phách đến Tự Lực văn đoàn không ai hơn tôi. Tôi đâu phải như thế! Tôi biết rõ sự kém cỏi của tôi. Người Sơn nhân của tôi là một sự bế tắc dày đặc của tâm hồn tôi, nhưng tôi không bao giờ rẫy ơn cụ Phan Khôi người thật lòng đề cao tôi.
Tôi được vào Sài Gòn gặp cụ Phan Khôi. Cụ cho tôi đi thăm “Đại Thế Giới”: đập đầu khỉ, xơi món óc khỉ, rồi sà vào một tiệm hút, tôi không nhớ rõ đường nào… một thế giới âm u ánh sáng.
Cụ Phan giới thiệu tôi với những vị khách quý, nhà báo, nhà học giả nổi tiếng lúc bấy giờ như Đào Trinh Nhật, Bùi Thế Mỹ… Tôi có thể nói, nghiệp vận của tôi mở đầu ở Huế, ở Ngân Sơn (Quảng Bình) và chủ yếu lớn lên ở Hà Nội, nơi tôi đã tiếp xúc với những nhà văn, nhà thơ lớn tuổi như Tản Đà, Nhượng Tống và những người hơn tôi 5 - 7 tuổi hay cùng lứa tuổi của tôi, hay kém tuổi tôi đôi chút. Người đàn anh của tôi như Tản Đà, hay ngang tuổi tôi như Vũ Hoàng Chương, đều là hai người say lớn. Một người lấy rượu làm niềm an ủi, một người làm bạn với nàng tiên nâu (một cách nói đẹp đẽ lúc bấy giờ). Cái say của hai vị đã để lại dấu ấn sâu trong cuộc sống, trong thơ văn.
Những Thế Lữ, Lan Khai, Vũ Trọng Phụng,… đã chấp nhận cái say thứ hai này một cách thoải mái.
Có hôm trong tiệm hút, Lê Văn Trương chỉ cho tôi hai người đàn anh thật sự của tôi, mũ kéo sụp xuống, cổ áo “pac-đơ-xuy” kéo lên bước vào: Khái Hưng và Nhất Linh… những người lúc bấy giờ có những cuốn tiểu thuyết đẹp lòng tôi. Họ cũng như tất cả chúng tôi sao? Sao họ lại có thể khác chúng tôi được, có thể họ không sống cuộc sống “thất thường” của chúng tôi, thì họ cũng sống theo kiểu thất thưởng của họ. Văn nghệ sĩ lúc bấy giờ, từng nhóm nhỏ thích sống với ai thì sống với người ấy. Có nhóm Trương Tửu, Nguyễn Vỹ. Có nhóm Thế Lữ, Đoàn Phú Tứ; có nhóm bút già nhiều tinh ma sống với nhau, có những nhóm trẻ trong vắt mà được phong cho là nhóm “mới trắng” như nhóm Xuân Diệu, Huy Cận; ngây ngô chưa biết đời là gì ở Quy Nhơn có nhóm Chế Lan Viên…
Khi tôi ở Hà Nội thì cặp kè với Lê Tràng Kiều, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Xuân Huy, hoặc ở chung nhà với Vũ Hoàng Chương ở phố Hội Vũ. Tiêu tiêu chung, áo mặc chung. Ở Huế, tôi không thể rời Hoài Thanh. Đúng là đêm với Nguyễn Tuân hay với người nào đó, mà ngày nhất thiết là phải ở bên cạnh Hoài Thanh. Hoài Thanh không bao giờ biết đến “xóm chị em” nhưng chuyện văn chương, chuyện chính trị, chuyện đời thì tôi không thể nào không khăng khít với Hoài Thanh.
Có nhà văn nào đã tự nguyện vứt mình ra ngoài lề xã hội mà không say! Say để tỏ thái độ bất mãn đối với đời, kiêu ngạo đối với loài hống hách, để xù lông nhím ngay giữa cuộc đời và như có người nói… để lấy cái hứng lớn cho thơ văn. Khi mới vào nghề văn, tôi cũng có lần uống rượu, nhưng uống xong  tôi chỉ say nằm rồi ngủ thiếp đi, mặc cho ai đó vạch lên trán vài vạch vôi cho tôi sớm tỉnh. Say có nghĩa là ngủ thì có ý nghĩa gì! Có lần vì nể, tôi ngồi hầu rượu Tản Đà từ 9 giờ sáng đến 15 giờ chiều. Khi Tản Đà đứng dậy múa kiếm thì tôi đã rút lui không kiếu lỗi.
Còn tại sao … cả một lớp nhà văn, nhà thơ lúc bấy giờ một số lớn đi theo vết nàng tiên nâu?
Mỗi chúng tôi đều khó quên cái kỷ niệm thú vị hay đắng cay lần đầu tiên đến với nàng tiên nâu. Một chút màu nâu thấm vào phổi vào máu đã đưa lại cho hồn mình một khoái cảm mơ màng như thế nào và đưa lại cho xác mình một sức mạnh về chân tay như thế nào, khó mà quên được. Những ngày ấy có bao giờ nghĩ đến tên quỷ sứ dữ dội núp sau vạt áo của nàng, một ngày nào đó sẽ tác oai tác quái!
Sau cái buổi chia ly đầy ảm đảm với Mừng, nếu không trở lại với Hoài Thanh thì tôi lại tìm đến những người bạn của mình trong những giờ trác táng.
Ở Huế lúc bấy giờ có những chuyện làm cho dư luận trí thức xôn xao, đó là sự xuất hiện của một ả đào nổi tiếng, một ả đào từ Cổ Đạm Nghệ Tĩnh vào đất vua và mở một cửa hàng. Nhan sắc và tiếng hát của nàng đã có tiếng vang trong dư luận và cuốn hút những khách ngũ lăng trẻ hay đã về già.
Trong sổ hồng của ả, có những bài thơ hay thư từ của những ông hoàng… những ông quan lớn và những khách văn thơ.
Lại trong thành phố, những kẻ trác táng “cao cấp” đôi khi đã rời những bàn đèn nhà … tìm đến một vài tiệm hút cao cấp rất thanh lịch, để nhìn những bàn tay gọt táo, hay tiêm những điếm phù dung.
Bạn bè tôi đã dẫn tôi đến một nơi ăn chơi như thế, dưới cầu Đông Ba. Tôi đã gặp ở đây những ông khách nước ngoài, những ông Phủ, ông Huyện, ông Phán, ông Thông, chủ nhà in lớn, những ông thầu khoán kếch xù… và ở đây tôi ngồi viết những bài thơ.
Và ở đây một người đàn bà cùng lứa tuổi tôi, ăn mặc sang trọng, trên tay mấy chiếc nhẫn một lúc. Khi bà ấy biết rằng tôi là một nhà thơ, ngay từ phút đầu bà có cái nhìn khác, dầu qua câu chuyện tôi có thể biết bà chưa đọc bài thơ nào của tôi. Một người không đẹp, không xấu, không trẻ, không già. Nhưng khi gặp một nhà thơ, là nhận thấy niềm kiêu hãnh.
Trong đám người đến tiệm, bà không quen một kẻ giầu sang nào, mà chỉ muốn gần tôi. Có người nói với tôi về lý lịch phức tạp của bà. Tôi không muốn tìm hiểu… tìm hiểu để làm gì?
Bà mời tôi về một cái buồng sang trọng của bà. Cam táo không lúc nào là không có trên bàn và thuốc phiện thì lúc nào cũng thừa mứa. Có người lại nói bà là người giầu mới của thời Nhật. Những người cháu gái của bà ở Vinh vào thăm đều có vẻ sang trọng. Qua câu chuyện của họ, tôi biết họ quen thân với đám quyền thế ở tỉnh (Vinh). Mùa cam Xã Đoài, một chuyến tàu lửa chở hàng chục giỏ. Vừa để bán, để ăn, để biếu. Bà tha thiết mời tôi về nhà, mấy tháng gần gụi, quen biết, tôi thấy ở bà cái gốc gác nghèo nàn và dáng điệu của một “trưởng giả học làm sang”. Bà đã điều tra rõ về gia đình tôi, về cuộc sống hàng ngày của tôi. Bà cho tôi biết: nếu tôi ở lại với bà thì một đời sung túc, an nhàn được đảm bảo. Bà biết tôi đã có hai đứa con. Một đêm khi mọi người đã ngủ, tôi thấy bà đặt giữa trời một mâm cúng thịnh soạn. Bà khấn lầm rầm, vái lia lịa, hương đàn sáng rực một góc sân. Tự nhiên tôi thấy sợ về một điều gì đó. Nhưng sống bên một người như thế tôi không có điều gì lo nghĩ. Tôi chỉ nằm đọc sách và kháo chuyện với vài người bạn. Bà đối xử với tôi cũng có thể nói là chu đáo. Một cuộc sống như thế này chả phải là điều những người bạn nhỏ Đảnh và Xuân đã từng mong ước cho tôi sao? Khi ở Vĩnh Điện, họ muốn giới thiệu cho tôi người con gái hồng hào, chủ nhân của một hàng thịt đó sao? Mấy em nhỏ của tôi, muốn tôi có một cuộc sống ổn định.
Một cuộc sống như thế sẽ rũ cho tôi mọi điều lo âu, nhưng đó đâu phải là kiểu sống của một nhà văn… một cuộc sống không hề đến trong giấc mơ của tôi, trong giấc mơ của tuổi trẻ tôi.
Thuở nhỏ, như trên tôi đã nói, có lần tôi với người cháu cùng tuổi, liền ba tháng tự nguyện ăn cơm với muối… đâu phải rồi một ngày có cuộc sống ấm no giàu sang… Tôi có bao giờ mơ đời tôi sẽ có những bàn tay giàu sang, cuốn từng sợi tóc của tôi.
Tôi sẵn sàng đi vào gió bụi, nghĩ rằng một người như tôi gió bụi sẽ không buông tha sự giàu sang hay những đêm ngày hành lạc của tôi ở đây, ở đó, trong buồng thơm hay trên sông nước đều là tạm bợ. Vì thế trong nhiều ngày tôi và Hoài Thanh đọc sách, nói chuyện văn chương. Rồi tôi lại đi tìm những bạn Phong, Quế, hai bạn trác táng của tôi. Chúng tôi thuê một chiếc đò theo dòng sông Hương, lướt qua trên bóng hoàng thành, lắng nghe đâu đây tiếng ca, tiếng đàn cất lên. Người chủ đò của chúng tôi làm những bữa cơm rất Huế, ở trên thuyền mà có được một bát canh cá phác lác, một đĩa rau muống chấm nước tôm kho đánh. Ngày sống ở trên đó, tôi thấy như mình có được đôi cánh chim nhạn chim én đập giữa trời.
Đò thường đậu ở nhịp giữa cầu Tràng Tiền. Lúc đứng tựa trên cầu tôi gọi tên chị lái, lập tức không chị thì anh lái liền có mặt. Chỗ đò đậu thì chỉ có tôi và vài người biết thôi. Cả bà ấy… tuy có ngờ tôi xuống đò, nhưng không biết chỗ nào. Thật lòng, tôi không muốn nói câu gì làm cho bà ấy phải lo sợ. Tôi đến dễ dàng, mà ra đi cũng nhẹ nhàng. Đó là quy luật xê dịch của tôi… Về chuyện tôi ở đò hay ẩn mình ở một phòng kín nào, tôi không hề cho ai biết hết.
Nhưng giá có ai hỏi thì có thể tôi không giấu. Chả bao giờ Mừng muốn tìm hiểu chút gì về kiểu sống của tôi lúc bấy giờ. Nhưng mỗi lần từ phố xuống đò, tôi vẫn nhìn trước nhìn sau. Đã mấy tháng rồi, tôi tập sống như không có Mừng ở trên đời. Nhưng đôi khi tôi cũng muốn ai mách cho tôi: Mừng đã trải qua những gì; những gì đã xảy ra với Mừng. Tôi vẫn tin rằng: “Lễ cưới đó chưa xảy ra”… người ông vẫn chưa vĩnh viễn “ra đi” cũng chưa đến giờ hấp hối. Nếu có sự này, hẳn sẽ có cái “cưới chạy tang”.
Thỉnh thoảng bị nháy mắt, tôi lo đó là điềm Mừng về nhà chồng… hoặc có điều xảy ra cho hai con tôi chăng: hoặc Trường Cửi có chuyện khác thường đến với Mừng. Thường ngày tôi vẫn tin giữa những con người có một sự “thần giao cách cảm”. Nhưng mà chuyện gì ngoài chuyện đám cưới của Mừng? Không có điều gì khác xảy ra được… tôi tin như vậy, nhưng mỗi khi xuống đò, lên đò tôi vẫn nhìn quanh nhìn quẩn. Giá lúc này xe Mừng dừng lại đây bất ngờ…!
Tôi vẫn đi qua xưởng ảnh của anh Tôn Thất Dung, ngắm qua, liếc qua tấm ảnh “bốn cô” bốn chiếc vòng vàng, bốn cặp kính râm, bốn chiếc nón nghiêng nghiêng. Không, ảnh không bao giờ thay người được. Có phép gì, nơi đây xuất hiện Mừng bằng thịt bằng da. Không có người nào khác mang tên người nào khác. Một lần tôi vừa lên đò, thì người cháu ruột học trường Quốc học, chạy lại ôm lấy tôi kêu lên sung sướng: “Chú! Chú! Chú! Trên nhà ai cũng mong chú, nhưng không biết chú ở đâu”. Như có ma quỷ núp rình đâu đó ghé tai rỉ với tôi: “Chị Mừng không hiểu có việc gì, mấy hôm nay muốn hỏi tin chú, chị ấy nóng ruột lắm”. Tôi tự bảo: “Hèn chi mình thấy cháy ruột”. Liên (tên người cháu ruột của tôi) nói thêm: cả bác gái cũng hỏi tên chú. Tôi hỏi lại: “Bác gái?”. Liên gật đầu: “Bác ấy nói đã lâu chú Lư đi đâu, không thấy lên”.
Tôi nghĩ: “Người mẹ ấy đã ngờ vực chúng tôi bây giờ đã nhắc đến tên tôi ư?”. Ông Chủ Văn còn khỏe. Đêm đêm, tiếng xe sắt vẫn lách cách, ông thăm mộ bác trai rồi về, − Liên kể tiếp.
Tôi cũng yên tâm hỏi lấn:
− Chị vẫn dạy đàn?
− Không dạy nữa, chị đi buôn lụa với chị Hương… chị vừa đi một chuyến đầu vào Quảng Nam Đà Nẵng. Chị bảo cháu còn đi đâu nữa… thôi chú lên nhà thăm chị một chút, thăm chị ấy một chút thôi.
 Một chút thôi, nghĩ lại tôi cũng rất sợ. Tôi nhớ mãi câu thơ của Kiều: “Ngó ý tơ lòng”. Một câu thơ đẹp, đầy chân lý, nhưng bây giờ tôi lại sợ nó. Trong khi tôi chần chừ chưa lên nhà được, thì một hôm, từ trên cầu một tiếng người phụ nữ gọi xuống, gọi đúng tên chị lái đò. Giọng người quen. Tôi nhìn lên: Mừng! Mừng thịt da chứ không phải ai khác. Tôi bảo ghé đò, đoạn tôi chạy lên, tôi vẫn nhìn trước sau đề phòng mọi thứ cẩn thận. Mặt Mừng tái xanh có lẽ là vì Mừng đã gọi đúng tên người lái đò, và quả không ai khác, chính tôi đã nghe tiếng gọi và bước lên với Mừng. Tôi nói: “Mừng xuống đò”. Mừng lắc đầu. Tôi nói thêm: “Dưới đó chẳng có ai đâu”. Mừng mỉm cười: “Có ai thì sao? Em không xuống đâu”. Lần đầu tiên Mừng xưng em với tôi: “Em không xuống đâu, em chỉ nói với anh vài câu thôi, về ngay kẻo mạ chờ”. Dưới mé đầu cầu, Mừng cho tôi biết là Mừng vừa đi Kỳ Lam về: “Em đã gặp chúng nó, chúng nó vẫn khỏe”. Nhưng Mừng nói thêm: “Không thể để Hải, Nguyệt ở lại đấy được. Không thể được. Hôm nào gặp lại, em sẽ bàn kỹ với anh”. “Không thể để Hải, Nguyệt ở lâu đó được.” − Mừng nhắc lại thêm và từ biệt tôi, đi một thôi không ngoảnh lại. Có thật là Mừng đã đi Quảng Nam Đà Nẵng, đi buôn chuyến vải lụa đầu tiên! Tiền đâu? Có thể là một phần trong 500 đồng bạc Đông Dương, tiền “ăn hỏi” của bản thân mình. Đã chắc đâu Mừng đã đi buôn trên xe lửa một mình? Mà chắc gì Mừng đi buôn thật… mục đích chính có thể là đi thăm Hải, Nguyệt hai đứa con tôi ở Kỳ Lam, nơi nhà anh ruột tôi, cách Đà Nẵng không đầy 20 cây số.
Những vấn đề của bản thân tôi, tôi không nghĩ tới thì Mừng lại hết sức băn khoăn… Làm sao Mừng lại kêu đúng tên chị lái đò tôi thuê? Mừng như rình núp đâu đó, chuyện gì về tôi Mừng đều biết cả. Giữa một trưa hè, tôi lên thăm Mừng. Cả nhà nhất là mấy đứa cháu, thấy tôi reo mừng cả lên.
Nói chuyện với tôi xong chúng nó đi học, mẹ Mừng chưa ngủ dậy, đứa cháu nào làm ồn, Mừng ra dấu bảo chúng nói khẽ, con Thúy hay khóc Mừng ẵm xuống nhà dưới trao đồ chơi cho Thúy, Thúy chơi một mình. Mừng trở lại bên tôi. Tôi giục Mừng kể lại chuyến đi buôn của Mừng. Chuyện Mừng gặp hai đứa con tôi. Mừng chỉ nói nhỏ với tôi: “Ngày mai… em đi Quy Lai, em sẽ nói chuyện tất cả cho anh nghe. Đúng 4 giờ chiều, em lại gọi anh ở chỗ hôm nọ, anh nhớ nghe”. Mừng không nói thêm gì nữa và đứng dậy đi ra sân sau… tôi nhìn thấy Mừng lúi húi một mình, chùi một chậu sành… rồi mang vào buồng tắm… đi đến bên tôi nói nhỏ một câu để cho tôi nghe thấy: “Em sửa soạn cả rồi, anh vào tắm đi”. Tôi sửng sốt nhìn Mừng. Mừng giục thêm: “Vào đi”. Tôi chỉ còn một cách vâng lệnh Mừng. Mỗi gàu nước xối lên đầu làm tôi rùng mình. Bên ngoài Mừng vẫn đi đi lại lại, chuyển thêm cho tôi từng gàu nước.
Tôi nuốn khóc lên được, lau xong mình, tôi trở ra với Mừng… có phải đây mới thật là tình yêu ở đời! Mừng đâu phải lấy quyền uy, sắc đẹp để bắt một nhà thơ quỳ gối. Mừng không phải đặt mình vào trung tâm vũ trụ, bắt một cành hoa, một ngọn cỏ cũng phải cúi phục mình. Tình yêu thương chả có nghĩa gì khác với hai chữ: “vì người” tất cả “vì người mình yêu, tất cả!”.
Không phải thân mình tôi tắm gội … mà cả tâm hồn tôi, cả cuộc đời tôi được dội mát. Hồi ấy tôi chưa đọc truyện Người thầy đầu tiên  của Aitmatov,[a] tôi không nghĩ rằng: đời tôi, Mừng đã biết hết từ chân tơ, kẽ tóc. Mừng đâu phải như ông thầy học bắt người học trò đầy bụi bậm, đầy đau khổ phải trút cả vào dòng suối trong xanh.
Tôi chỉ biết Mừng săn sóc tôi, thân tôi, đời tôi như từng bộ phận máu thịt của Mừng… “Mình” có lẽ tiếng ấy sau này đã được Mừng dùng đầu tiên và mãi mãi mỗi khi gọi tôi. Nắng đã xế chiều. Chúng tôi ngồi bên nhau… không nói, bỗng như giật mình nhớ đến mẹ. Mẹ đang đi gõ từng trái mít, xem có quả nào bán được, sẽ hái mang cho Mừng xuống chợ. “Mạ ơi, mai con đi Quy Lai, không đi chợ được. Hãy để ngày kia, ngày mốt con về mạ sẽ hái…”
Người mẹ chẳng nói gì đi lên vườn. Mừng nói với tôi: “Mạ đang đi lên thăm mộ ba đấy, ngày nào chả thế”. Mừng chạy vào nhà xách cây đàn tranh ra ngồi so dây và nói với tôi: “Mại thích đàn bài “phú lục” cho nghe”. Người mẹ bước tới nhìn tôi ngồi bên Mừng: “Con đàn đi cho chú nghe”. Mừng vặn dây xong, vút lên mấy tiếng đàn dạo. Mỗi tiếng đàn dạo qua trước khi vào bản nhạc chính, tôi tưởng như trời vừa thổi qua một cơn gió tươi mát lạ lùng.
Anh Nguyễn Chí Thanh cũng như anh Tố Hữu thường nói với tôi: “Đàn của Mừng rất lạc quan, rất tươi”. Nhưng Mừng không bao giờ cho mình là một nghệ sĩ và có tâm hồn nghệ sĩ. Mừng không chuyên tâm nhiều vào nghề nghiệp. Nhưng chiều hôm ấy, khi Mừng đánh lên bài “phú lục”, tôi thấy bâng khuâng lạ lùng, mặc dù tôi chẳng sành âm nhạc dân tộc lắm.
Mừng đàn xong lúc nào tôi không biết… tôi cứ ngồi thẫn thờ ra mãi. Mẹ của Mừng vốn thích bản nhạc này, nên cứ ngồi lặng đi, bà nói, chẳng biết nói với ai: “Hôm qua lại thấy ba về”. Tôi chỉ qua tiếng đàn mà nghĩ bâng quơ đến điều này điều nọ. Tôi chỉ muốn khóc lên một tiếng. Nhưng vì sao tôi lại muốn khóc? Có phải qua bài “phú lục” này, Mừng lại nhắn thêm một lời từ biệt với tôi? Thôi hãy đợi đến ngày mai… ngày mai, trên con thuyền đi Quy Lai, một làng cách Huế chừng 15 cây số, Mừng sẽ báo hiệu cho tôi về những điều hệ trọng về đời của Mừng. Mừng theo tôi ra đến ngõ. Tôi gieo từng bước đi nặng trĩu mà trên đầu như cả một trời trĩu đè xuống. “Ngày mai, 4 giờ đúng hẹn nhé”. Tiếng Mừng dễ thương và như đầy hạnh phúc. Rõ ràng là một tiếng hẹn của tình yêu. Tôi quan trọng hóa mọi điều chăng? Đâu phải là chuyện ngày mai, tôi sẽ nghe một lời tuyên án trước tòa.
Chương XIII
ĐÊM QUY LAI
Rất đúng hẹn Mừng đến với tôi. Mừng quả có xách theo một xấp vải để bán cho nhà một người quen ở Quy Lai. Nhưng đâu phải vì việc đó mà Mừng có mặt với tôi, hôm nay trên chiếc tàu kín mui này.
Thuyền chúng tôi đã giữa con sông, buồm căng băng theo một luồng gió thuận, trời đang vào hoàng hôn. Những ánh nắng đang tắt dần, lại những ngôi sao đầu tiên bắt đầu xuất hiện trong vòm trời. Giờ này là giờ những người con trai và các cô gái tụ nhau sau một ngày vất vả. Họ gặp những ngôi sao để nói chuyện với sao… tâm sự với những ngôi sao…
Những ngôi sao xa xôi như bay song song với con thuyền của chúng tôi.
Mừng ngồi trên mạn thuyền, trước ngọn gió, những vòng tóc Mừng thường đưa tay uốn tròn trên trán, trên đôi má cũng tung bay. Tôi dựa vào mũi thuyền đứng ngắm Mừng, dưới tia sáng cuối cùng của mặt trời sắp tụt hoàn toàn sau núi. Kỳ diệu, bây giờ trên gương mặt Mừng chỉ còn những nét hớn hở, vui tươi trong mắt, qua giọng nói.
Còn sao nữa? Chẳng phải là Mừng hôm nay đến với tôi trong con thuyền này, lòng Mừng đầy hạnh phúc? Và cũng chỉ mang lại cho tôi một niềm hạnh phúc…
Nỗi đau của Mừng như đã trút đi đâu hết rồi, có lẽ đã trôi theo những giọt nước mắt. Lúc này ở đầu mũi thuyền, chỉ có một cô lái đò… và trong khoang thuyền chỉ có tôi với Mừng…
Mừng đã kể lại cho tôi, cái chuyến đi ngụy trang dưới một chuyến đi buôn vải lụa ở Quảng Nam. Mừng đã đến nhà anh chị tôi ở Kỳ Lam. Khi Mừng đến, chúng nó đang ăn cơm. Chúng nó không chỉ có Hải và em gái nó là Nguyệt, con bé có con mắt lành đầy lo nghĩ giữa tuổi lên 6… mà còn Nhiệm, con một người anh khác của tôi, bằng độ tuổi Hải, cũng được mang gửi đến ở đó.
Khi Mừng đến, ba đứa nhỏ cùng ngồi một mâm. Còn hai đứa con trai của người anh có lẽ đã ăn rồi với cha mẹ… Mừng kể:
− Trời sắp tối em nhìn kỹ xem mâm cơm có những gì… sáng hôm sau, em thấy áo chúng chỗ rách chưa vá… Nhiệm và Hải đã bắt đầu làm những việc nặng….
Mừng không nói gì nữa, chỉ ôm mặt khóc… Tôi nói với Mừng:
− Không nên trách ai… tội ở anh cả. Em có biết trong lúc đó anh đang làm gì không?
Mừng đáp gọn:
− Sao em không biết?
Thì ra cả cách sống của tôi, Mừng đã biết hết cả rồi… Ở với ai, lên đò xuống đò Mừng đều biết cả.
Tôi nghĩ đến cái hôm giữa trưa, Mừng múc từng gàu nước chuyển vào chậu cho tôi tắm. Tôi giật mình… tôi cứ nói chẳng khác nào một cái máy:
− Tại anh cả!
Mừng mỉm cười, đau xót đáp gọn:
− Tại anh, còn đời anh phải làm gì nữa… anh làm thơ, văn cho đời, thế con chưa đủ sao?
Tôi nhớ sau này, có lần Mừng nói với tôi: “Thơ anh, không phải bài nào em cũng thích. Nhưng anh làm thơ là để cho đời… Lần đầu tiên em gặp anh… em nhìn vào đôi mắt anh, em nghĩ: đời anh tuy có đôi khi phá phách, nhưng bàn chân anh không đạp lên ngọn cỏ, anh không giết nổi một con kiến dưới tay.
Thật tình trong lúc tôi đau xót tôi không muốn Mừng nói như thế… Nhưng Mừng nhìn vào đôi mắt tôi và nói tiếp:
− Anh muốn làm gì, đi đâu tùy anh… em hiểu và không một lời trách móc… nhưng khi anh thuộc về em… tất nhiên Hải, Nguyệt không thể như thế được và cả anh nữa… không thể như thế mãi được.
Và như sợ tôi hiểu lầm, Mừng nói như khẳng định:
− Em cũng sẽ đi vài chuyến buôn ở Đà Nẵng nữa. Nhưng mà ai biết được sẽ thế nào? Anh có tin vào số mệnh không?
− Sao lại không tin?
− Cho nên hôm nay, chỉ biết hôm nay. Em đã nói dối mạ để được đi với anh.
Với một động tác nhanh gọn, dứt khoát, Mừng lau khô những giọt nước mắt trên má Mừng và cả trên mi tôi. Mừng đỡ tôi dậy và kéo tay tôi ra:
− Ra ngoài một chút anh.
Mừng nhìn đồng hồ:
− Mấy giờ rồi em?
− Bảy giờ ba phút.
Chúng tôi ra ngoài mũi thuyền. Mừng ngồi, tôi đứng ngắm Mừng. Thì ra từ lúc nào, gió đã thổi… và chị lái đã căng buồm lên. Gió không lớn nhưng buồm vẫn căng.
Thế đấy, chúng tôi cùng ra nhìn sao trời. Hết đứng ngắm, tôi lại đến ngồi bên Mừng. Những chiếc vòng tóc uốn tròn của Mừng đã bay trên mặt tôi.
Từng đám sao như thể chạy trên đầu tôi và dưới chân tôi nước sông Hương gợn sóng, tôi lại đến ngồi bên Mừng; Mừng cầm tay tôi nhắc tôi:
− Vào khoang đi thôi. Gió lạnh rồi.
Tôi vâng theo lời Mừng như một đứa trẻ… tôi dìu Mừng vào khoang thuyền…
Đêm đó là đêm 19/1/1944, cái đêm mà tôi gọi là đêm động phòng của chúng tôi. Của hai con người yêu nhau mà chẳng bao giờ biết những cái gọi là “lễ hỏi”, “lễ cưới”  ở trên đời.
Đêm ấy gió cứ thổi. Thuyền cứ trôi. Chúng tôi không cần biết thuyền ngược lên Tuần hay xuôi tới Cửa Thuận.
Nếu tình yêu có đỉnh cao, thì đây là đêm thiên thai của chúng tôi. Tất cả những nỗi đau buồn của chúng tôi đã rũ hết… cả một thể xác trong một thể xác, cả một tâm hồn trong một tâm hồn. Sáng dậy, chị lái đò bảo chúng tôi:
− Quy Lai đây rồi.
Quy Lai có nghĩa là thiên đường hay địa ngục, − chúng tôi không cần hỏi.
Đến Quy Lai, Mừng xách xấp vải lên bến. Chị lái đò cùng đi với Mừng.
Tôi ngồi lại một mình trong thuyền. Mặt trời đã lên cao. Kỳ diệu, tôi nhìn lên phía chênh chếch đối diện với mặt trời… một mặt trăng bạc phếch… một mảnh trăng khá tròn nhưng không ánh sáng.
Có thể trong đêm hạnh phúc của chúng tôi… vầng trăng đã đi một vòng trên trời mệt lả mà chúng tôi không hề biết. Cuộc hành trình của vầng trăng vất vả, lao đao, nhưng bây giờ về đây sao quá duyên dáng dễ thương…
Một lúc sau, Mừng trở về, xấp vải đã bán rồi. Chị lái đò đã xách từ chợ về một cái giỏ khá đầy.
Mừng nói với chị lái: “Xong việc rồi đấy, giờ ghé vào bến nào tùy chị… Chúng ta lo bữa cơm sáng…”
Thong thả, nhởn nhơ, từ từ, miễn là chúng tôi trong ngày hôm nay về đến Huế.
Không nhớ là bến nào, chúng tôi đã ghé ăn bữa cơm. Những món ăn Huế, những món ăn tôi đã quen từ bàn tay Mừng làm ra.
Chúng tôi mời mọc mãi, chị lái đò vẫn không ngồi với chúng tôi, như cố để chúng tôi hưởng cái hạnh phúc riêng. Đường về không gặp gió… thuyền cứ nhởn nhơ… càng nhởn nhơ, Mừng càng thích. Khi thì Mừng đưa chân hắt nước vào tôi, khi thì đưa tay vốc từng vốc nước để cho nhỏ từng giọt trên đầu tôi.
Mừng trẻ lạ lùng, và tôi là một nhà thơ, có bao giờ tôi lại chẳng trẻ? Cả những khi đau khổ lút người, tôi vẫn hồn nhiên như một đứa trẻ con. Hình như những bài thơ buồn của tôi, Mừng không thích lắm. Những bài thơ Mừng thích là những bài thơ nào vậy? Tôi nhớ có lần Mừng đã nói thẳng với tôi: “Thơ anh không phải lúc nào cũng là anh”. Tôi hiểu: Mừng thích tôi hơn thơ tôi nhiều… Thuở ấy, Mừng đối với tôi quá độ lượng chăng? Dù mái chèo có nhởn nhơ đến đâu, đến trưa thuyền của chúng tôi cũng về đến Huế. “Gần tối tối em về nhà cũng được”. Mừng nói liều lĩnh như thế… liều lĩnh đến mức, Mừng muốn đi với tôi giữa phố đông người. Chúng tôi qua cửa Thượng Tứ đến hồ Tịnh Tâm, chúng tôi cầm tay nhau đi dưới những hàng cây cao, có những đứa trẻ trêu chúng tôi, mặc chúng…
Chao ôi… những tiếng chim kêu ở Tịnh Tâm! Hồ của các đời vua xưa để lại, không còn sửa sang nhiều. Nhưng những con chim quen với tiếng im lặng của các triều đại đã qua, mỗi khi ném ra một tiếng kêu, thật là tiếng vàng tiếng ngọc. Mỗi khi tôi muốn tìm ở Mừng một chút vương giả, một chút Hoàng gia, nhưng tôi chỉ thấy một nét mộc mạc dân quê. Và trái lại khi tôi muốn tìm ở Mừng một chút dân giã quê mùa thì tôi lại vấn vương một vẻ hào hoa, quý phái. Có lần tôi nói: “Đàn Mừng chả vương giả”, Mừng nói: “Em là cô gái Chiêm Thành”. Có một lần tôi đã làm thơ về Mừng:
Em là chim ý nhi
Vơ vẩn dưới gốc thùy
Vấn vương tình nghệ sĩ
Ngần ngại lúc chia ly
Em chở một hồn đầy
Khối hận người Chiêm quốc
Lặng thinh và u uất
Hay đâu cơ sự này?
Dám nghĩ chuyện đâu đâu
Nhìn nhau sầu cách sầu
Tay rời tay lại nắm
Lòng đau quặn thêm đau.
Nhưng sau này Mừng có đọc tới bài thơ đó, Mừng bảo đâu phải là mình trong thơ. Biết thế nào mà chiều được. Bảo rằng đau này chỉ có thế ư? Ừ, dỗi vậy thôi. Mà bảo rằng tươi, hẳn nàng cũng không chịu.
Trong thơ, quả thực tôi có nói đến cái đau thương sâu lắng, cái uất ức Chiêm nữ… Nếu thơ là người, người là thơ, thì hà tất phải có thơ. Mừng như có lúc đã bước thực vào trong cái thế giới “không thơ” của tôi. Trái lại, tôi đã lầm khi nghĩ rằng: Mừng là một người con gái lãng mạn, “Chà, được đi nước này nước nọ, mỗi nước được gặp một nhà thơ”. Mừng quả có nói như thế thật. Tôi không nhớ đích thực là tôi có phảng phất nghĩ đến Mừng khi làm bài thơ Vầng giai nhân!  Bài thơ này không có trong tập Tiếng thu, nhưng, tôi đã nói với Tố Hữu, đó là bài thơ tôi thích nhất. Trong lúc đó, Tố Hữu gặp tôi thì hay đọc lại: Bên thành con chim non…, Thanh Đạm cũng vậy, thích Con chim non bên thành, Lưu Trọng Văn hay đùa nghịch hình như lại thích bài Mưa, mưa mãi  và Còn chi nữa. Liệu Mừng có thích được bài Vầng giai nhân này không?
Lúc này tôi đi lang thang nhiều nơi mà không định đâu cả. Trên đất nước nô lệ, người với ngựa cùng say bước:
Ước gì ta có ngựa say
Con sông bên ấy, bên này của ta
Ta say ngựa cũng la đà
Trời cao xuống thấp núi xa lại gần
Ta say ngựa cũng tần ngần
Trên lưng ta “quẩy” một vầng giai nhân…
Lúc tôi mười mấy tuổi, ở Đồng Hới, cô giáo Bùi Thị Trâm dắt vài đứa học trò chúng tôi ra động cát bên cầu Mụ Kê, cô kể về cái giận vong quốc. Lớn lên, tôi đã từng ở nhà cụ Phan Bội Châu và nằm một nhà với cụ Võ Liêm Sơn… Nhưng những ngày tháng này lòng tôi đã chết hết mọi giấc mơ tráng sĩ… Trong lúc đó, khi tôi gặp Mừng, Mừng hay ngâm hai câu thơ:
Thương nữ bất tri vong quốc hận
Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa…
Cô gái trong thơ không quên được cái hận mất nước. Mừng lúc này cũng rất hào hứng với nỗi đau này. Còn như trên lưng ta quẩy một vầng giai nhân, tôi đắc ý bao nhiêu thì Mừng vô tâm bấy nhiêu…
Mừng không muốn hiểu hai chữ “giai nhân” chăng… mấy lần tôi đọc Mừng nghe bài thơ này, nhưng Mừng rất hững hờ… Trong buổi chiều Tịnh Tâm này, lại ước mơ: giá có cách gì cột Mừng theo ta sau lưng ngựa. Không muốn rời Mừng nữa. Không muốn rời Mừng được nữa trong chuyến đi quá đầy đặn, chan chứa yêu thương này, chúng tôi đi đến bên hồ, giữa hồ có một cái lều đã sụp nát, chiếc cầu gỗ đi ra cũng gập ghềnh mất hết tay vịn rồi.
Mừng vụt đứng dậy, tôi không kịp gọi lại. Mừng ra giữa cầu ngắt một đóa hoa sen trắng đầu mùa, Mừng đặt vào tay tôi, tôi cúi xuống hôn cánh hoa, rồi đưa lại cho Mừng, Mừng cũng cúi xuống hôn da diết cánh hoa, rồi lại đưa trả lại trên tay tôi…
Ôi... những chiếc hôn da diết tưởng chừng như làm rách nát cánh hoa. Và những cánh hoa rách nát như bay tan tác dưới một trận gió nào…
Đâu phải thế! Hồ Tịnh Tâm vẫn im ắng lạ thường. Tôi muốn kêu lên: Có ai sung sướng hạnh phúc như chúng tôi không? Tôi muốn thách thức với từng cơn gió thời gian...
Như chỗ không người, chúng tôi ra cửa Thượng Tứ lại xuống đò. Đò chở Mừng về đến tận bến Trường Súng để Mừng lên trước, đi con đường gần nhà nhất. Tôi bảo Mừng “Sửa lại tóc tai”. Mừng cười “Cứ để thế”. Khi Mừng lên bờ, tôi nhắc lại câu nữa: “Từ nay, thuyền không đậu ở giữa cầu nữa, mà sẽ đậu ở bên Tòa Khâm nhớ nghe…”.
Tôi trở vể đò được ba ngày rồi… Tôi đọc sách… và dày vò với ý nghĩ làm sao mà đưa sớm hai đứa con tôi ra với tôi… và với cuộc đời, tôi nghĩ phải cắt bớt dần những mối liên hệ…
Ngày thứ ba, vào buổi chiều, tôi nghe có tiếng gọi. Liên đứa cháu tôi, người liên lạc của tôi đã đến. Liên đưa cho tôi một phong bì rồi chạy luôn, dường như không muốn tôi hỏi thêm điều gì nữa…
Đây là bức thư ngắn của Mừng:
“Anh!
Em về nhà hơn sáu giờ, mạ chỉ nhắc em ăn cơm đi… một đêm em ngủ đầy đủ… không mơ và thức giấc nửa chừng… sáng hôm sau em dậy trưa… em mặc áo xách rổ định ra chợ mua con cá gì nấu canh cho mạ. Ra đến giữa sân mạ gọi lại: Mừng vào đây tao hỏi. Một buổi chiều, một ngày, một đêm mày đi với ai, mày đi những đâu… Đừng nói nữa tao biết cả rồi. Dưới nhà “anh ấy” cũng biết cả rồi, khỏi phải nói. Mày đi với “chú mày”, mày đi giữa phố có thèm tránh ai đâu… Từ lúc nào mạ chuẩn bị một thanh củi. Cứ thế mạ phang vào em, bên hông bên trái, bên hông bên phải. Em nói: mạ cứ đánh đi… em lỳ lắm nhưng em cũng biết tránh. Giá không biết tránh thì em cũng bị gãy mấy cái xương sườn. Nếu không thì giờ này, có lẽ em đang nằm bệnh viện. Mạ giựt tóc em, bứt từng khuy áo em… giựt cả vòng ngọc em đeo nơi cổ. Những hạt ngọc văng ra tung tóe. Em lượm từng hạt. Em cố nén từng giọt nước mắt. Em ngước lên vách, nơi có treo tấm ảnh em chụp từ năm 17 tuổi đó. Người ta muốn xóa em khỏi nhà chăng? Em đứng lên không nổi… loạng choạng đi vào giường em, không biết người mẹ mà em thương nhất đời đó, đánh cho hả nư hả giận bây giờ nằm đâu rồi? Những vết thương trên mình em tím bầm, cựa một cái là nhức nhối, không phải vết thương rên xiết trên mình em mà cả trên mình anh đó. Nỗi đau của em của anh sẽ tăng lên gấp trăm nghìn lần. Hãy dũng cảm lên như em… Và bây giờ nằm trên giường nhớ anh, nước mắt không thèm nén để mặc nó tuôn ra như một trận mưa.
Em khóc với anh, em chỉ khóc với anh thôi, em không có gì hối hận về chuyến đi Quy Lai… Em đã trách nỗi đau hối hận của Thúy Kiều đối với Kim Trọng. Không bao giờ phải hối. “Biết thân biết đến lạc loài, nhụy đào thà bẻ cho người tình chung”. Em đã dâng cả hồn em xác em cho anh. Giờ đây em bị giam như kẻ có tội. Trận đòn của mạ đó, không thể chuyển nổi lòng em. Mạ sẽ hỏi cung em nhiều lần, sẽ còn truy em đến cùng, trong lúc này anh không được lên thăm em. Lên đò, xuống đò anh phải cẩn thận nhé. Thư từ tin tức sẽ qua Liên. Liên không hiểu gì những việc chúng ta làm. Nhưng Liên là người tốt, rất yêu thương chúng ta. Tin được…
Anh đừng đi đâu, giữ gìn sức khỏe.”
Tôi đọc xong bức thư nguệch ngoạc của Mừng, tôi như điên lên… Giá như tôi có một cái súng trên tay, tôi sẽ nhắm mắt bắn bất kỳ vào đâu. Tôi biết rõ đây là cuộc chiến đấu giữa những người yêu nhau. Chính vì thế, trận đấu càng đáng sợ. Tôi không ngờ tôi cảm thấy đau quặn đến thế. Tôi muốn băng lên với Mừng, đến tận phòng giam của Mừng….
Đọc đến đây, chắc những người bạn trẻ của tôi sau một hai thế hệ hay bốn năm thế hệ sẽ sửng sốt đến buồn cười. Cánh hoa đẹp trước mắt các bạn, thích là các bạn đưa tay hái. Nhưng hỡi ôi! Những ngày tháng của chúng tôi, chúng tôi đã đi tới một cái cầm tay, một cái hôn, một đêm dài hạnh phúc như thế đấy… Còn tôi, một “nhà thơ” nghĩa là một người tự do trong tư tưởng, cũng không nghĩ được gì để cứu thoát được mình, tôi thường tự phong là người có khí cốt giang hồ… Có đêm trời mưa bão… tôi với Nguyễn Tuân rủ nhau thuê xe đi, đi đâu thật cũng không rõ. Bão lớn chúng tôi cứ đi, trời tối như mực, cột điện đổ, dây điện giăng đầy… Chúng tôi cứ đi giữa phố phường Hà Nội. Lại có lần chúng tôi đi từ Thanh Hóa vào Quỳnh Lưu để cà khịa với bọn quan lại ăn thịt người. Thế mà mấy hôm rồi, tôi như bị cột ở trong chiếc đò. Đọc sách không nổi, làm thơ cầm bút lên, vất bút xuống… Có hôm đến cầu Bến Ngự rồi trở lại với chiếc đò thuê. Tôi chẳng dám đến gần Mừng. Chiếc đò cũng bị xích lại dưới chân tôi. Tôi cũng đã mấy lần vào tù… Nhưng chưa bao giờ biết có cái từ này. Rõ ràng tôi nát ruột bào gan nhưng quả tình tôi là một kẻ bất lực… Tôi chỉ biết ngồi chờ Mừng đối phó, chờ Mừng hành động. Tôi bị gạt ra ngoài vùng lo toan, mưu kế của Mừng. Tôi tin rằng: Trước bao sự dọa dẫm hay dọa nạt của người mẹ, Mừng chẳng đầu hàng… Đau đớn nhiều, Mừng càng gắn bó với tôi, chung thủy với tôi…
Qua dòng thơ ngắn Mừng mới viết cho tôi, viết trong lúc gấp gáp (vẫn do Liên vội vàng chuyển cho tôi), đại thể Mừng cho biết: Mừng vẫn ở nhà, không đi đâu, vẫn bình thường và nhắc tôi cũng đừng đi đâu và giữ gìn sức khỏe. Thế thôi…
Chương XIV
SAU TRẬN PHỦ ĐẦU
Chỉ sau này, Mừng kể lại tỉ mỉ tôi mới hiểu rõ: sau trận phủ đòn “phủ đầu”, người mẹ không uy hiếp nổi Mừng… Nhưng từ đây Mừng đã qua cuộc thử thách ghê gớm, luôn luôn căng thẳng… Mừng đã phải đặt lại chữ “Hiếu”… nhìn mẹ với cặp mắt khác nhiều trước đây.
Có thể tình yêu của Mừng đối với một người như tôi, bà mẹ không sao hiểu được, cho nên trước sau Mừng không động tới, không phân bua, không giải thích…
Nhưng một người mẹ hiền như người mẹ của Mừng lại có thể phang bất kể vào thể xác con: nếu không may đánh vào chỗ hiểm, Mừng tử thương đời sẽ nghĩ thế nào?
Có thật hoàn toàn vì hạnh phúc của con hay vì những lý do khác: chẳng hạn vì quyền lợi gia đình mà bà bắt Mừng hy sinh… Cũng có thể vì một danh giá hão, hay vì những lời tiếng này nọ chăng? Thật tình chúng tôi đau đớn nhiều hơn giận.
Mừng rất gan, đi ra đi vào không nhìn mẹ, không chào hỏi ai hết. Ăn được Mừng vẫn gắng ăn, ngủ được cố gắng ngủ, tuyệt đối không dọa dẫm ai hết.
Sau này Mừng nói với tôi: “Em thèm ra thăm vườn quá như những ngày nào, em muốn đi gõ vào những quả mít, tưới nước vào những gốc tiêu… Nhưng em vẫn phải tự nén mình, cũng là để tỏ một thái độ với cả nhà, trước hết là với mạ.”
Cuối cùng không phải Mừng mà là người mẹ đã thỏa hiệp trước, có thể vừa vì thương con thật, cũng khéo léo dùng thủ đoạn kéo con trở về. Bà đã đấu dịu dỗ dành Mừng. Tuy rằng đến lúc này Mừng vẫn không phản đối lễ cưới…
Đôi khi trong đầu óc Mừng muốn tìm cách hoãn lễ cưới lại ít lâu.
Cũng chỉ vì nỗi đau trên da thịt và trong tâm hồn mình, Mừng sợ tôi bơ vơ, không chống nổi cuộc đời. Có lúc Mừng như dao động. Ngay trong gia đình mình, bên này, bên nọ, cũng đã có những nanh vuốt chĩa ra. Có lúc Mừng phải kêu lên từ trong gan ruột: “Xa em anh sống làm sao được! Không phải chỉ hai con, bỏ rách đói, mà ngay anh, một người thật thà như anh, làm sao sống nổi với đời!”.
Vì thế khi mẹ dỗ dành, thuyết phục, Mừng chỉ nghe và khóc thôi, không hề cãi lại, không hề phản đối. Cách đối phó của Mừng ít nhiều đã có kết quả. Có lúc người mẹ tưởng như con đã biết ăn năn, biết tội.
Mừng tuy có hứa với bà là tìm cách xa tôi, nhưng bà không tin lắm. Bà chỉ muốn tin rằng: Mừng đã ăn phải bùa ngải của tôi, − ít ra cũng là bùa ngải văn chương. Bà bắt Mừng phải đến thề ở đền “Quan thánh Trần”. Thánh Trần đây là Trần Hưng Đạo, vị tướng nổi danh đã hiển thánh. Ngài đã đánh tan họa giặc Nguyên-Mông, làm cho bọn giặc dữ phải khiếp sợ. Ngài muốn "vật ai chẳng được". Khắp trần gian ai cũng nói đến uy linh của ngài.
Đền ngài ở mãi An Cựu. Mừng phải sửa soạn đi theo mẹ, đến tận đền ngài. Đến đó, mẹ bảo làm gì Mừng sẽ làm nấy, Mừng không phải lo sợ. Đã lâu bị giam không ra khỏi nhà, nay Mừng lấy gương ra soi, thấy mặt mình xanh quá, không ngăn được nước mắt. Nhỡ ra đường gặp tôi, cũng tội nghiệp. Mừng vẫn mặc cái áo thô đen mà tôi rất thích. Lần này Mừng không đeo chiếc kiềng vàng mà xâu chắc chuỗi hạt ngọc xanh. Mừng sẽ đến trước ông Thánh Trần với cái chuỗi hạt ngọc xanh ấy, bị mẹ bứt. Hỏi có lời thề nào bứt nổi cái vòng hạt đã được xâu lại một cách chắc chắn đó?
Khi bước tới trước ban thờ đức Thánh Trần, khói hương nghi ngút, Mừng cũng hơi kinh sợ. Mừng đứng bên mẹ, mỗi người cầm một thẻ hương vái trước bàn thờ, vừa vái vừa khấn. Như đã hứa trước, Mừng khấn theo. Mẹ nói gì, Mừng lặp lại như thế. − “Mạ bắt em phải thề là tôn trọng lễ hỏi, phải chịu cưới xin. Mạ đọ tên người chồng, em đọc theo, nhưng khi mạ bắt em thề bỏ anh, nói xấu anh, bôi nhọ anh, em tức quá muốn khóc lên. Nhưng em nghĩ, thề trên môi thôi, chứ phải tự lòng mình đâu mà sợ. Khi nói xấu anh, có lúc em toan phì cười. Nhưng đức Thánh Trần là một ông Thánh, một người yêu dân yêu nước sao mà đùa được. Em vẫn nghiêm túc, khấn từng câu, khấn từng câu như mạ. Nhưng đến khi mạ đi xa rồi, em còn dừng lại khấn thầm thêm  một câu nữa, khấn xong, mạ hỏi: “Con còn khấn thêm điều gì với ngài?”  Em nhanh trí nói dối là em khấn thêm xin ngài phù hộ cho mạ được bình an vui khỏe. Thật ra đâu có như vậy. Lúc bấy giờ, em nghĩ đến Đức Thánh đang nghĩ sai về mình; em khấn thêm với ngài là bị mạ con bắt ép, con phải nghe theo, chứ thật ra đây không phải lòng con. Em trước sau vẫn yêu anh… xin ngài phù hộ cho! Thật là một buổi thề vất vả, làm em đổ mồ hôi hột, nhưng nhờ đó, mạ thật lòng tin ở em”.
Đúng là như vậy, cũng nhờ mấy lời thề đó mà Mừng lấy lại được tự do hơn. Mừng đã được hái từng quả mít chín trong vườn, đem ra chợ bán. Mừng vui vì mỗi ngày Mừng được múc nước tưới cây, gõ từng quả mít như xưa. Nhất là khi Mừng được phép trả lời từng bức thư của người chồng chưa cưới ở Vinh gửi về. Mừng đã đọc cho mạ nghe một bức thư của “chồng”… Trong đó có nói chuyện hoãn ngày về nghỉ phép.
Không phải được buông lỏng hẳn. Nhưng Mừng đã được đi buôn vài chuyến ở Quảng Nam, Đà Nẵng. Tuy lần nào cũng có người anh chị em chú bác đi cùng. Có phải Mừng nhân những chuyến đi buôn mà tới gặp hai con tôi ở Kỳ Lam hay cũng có thể là những chuyến đi buôn thật sự để có lãi. Mừng kiếm tiền để làm gì, tôi cũng không được biết. Một tháng rồi, kể từ một chuyến buôn của Mừng, tôi có gặp Mừng ở Đà Nẵng, đến giờ Mừng không gặp tôi, không viết thư cho tôi. Mãi đến một hôm, tôi không ở thuyền nữa mà ở nhà một người bạn dạy học. Liên ra tìm tôi và đưa tôi một bức thư ngắn:
“Ngày… Em đi chuyến tàu Huế − Tourane. Một chuyến đi quan trọng. Em đi từ ga Huế. Anh lên ga xép An Cựu, nếu nhỡ tàu, anh tìm em ở chỗ cũ Đà Nẵng. Trả lời ngay.”
Tôi viết nhanh hai chữ: “Đồng ý ”  đưa cho Liên.
“Một chuyến đi quan trọng”, tôi có thể đoán được… vì như trên đã tiết lộ, trước đó một tháng tôi đã vào Đà Nẵng…
Lần ấy, cùng đi với Mừng có chị Hương, người dâu nhà họ Lưu, vốn không hề phản đối sự liên hệ tình cảm giữa chúng tôi.
Mừng để chị Hương ở lại giữ hàng ở khách sạn. Chúng tôi kéo nhau ra bãi biển. Tôi nhớ đêm ấy trăng sáng lạ lùng. Chúng tôi ra ngồi dưới một rặng thông. Gió từ biển thổi vào từng cơn nhè nhẹ đều đều, nhưng hơi lạnh, có lẽ vì sương rơi nhiều…
Lần ấy là lần thứ nhất, từ chuyến đi Quy Lai, chúng tôi mới lại được gặp nhau. Không tính bao nhiêu ngày, bao nhiêu đêm đã xa cách. Nhưng cả hai đứa đều có ấn tượng là đã xa nhau hàng năm mới lại được gặp nhau. Đánh giá tình yêu thế nào cho đúng…?
Tình yêu cũng phải tính bằng ngày tháng. Nhưng những ngày tháng của người yêu nhau không thể đếm được ngắn dài.
Một ngày Quy Lai quá ngắn vì đầy hạnh phúc. Những ngày tháng sau Quy Lai đã dài lại càng dài hơn, vì chúng tôi chờ mong, chúng tôi trông đợi, chúng tôi nhớ thương…
Biển mà yên lặng thì chẳng khác nào một chiếc khăn lụa nhỏ, một chiếc khăn trùm đầu. Nhưng khi biển đập bờ, biển kêu lên, mới thấy biển cao cả đang đến với mình. Đột nhiên tôi hỏi Mừng:
− Ngày nào, tháng nào anh ấy về làm lễ cưới?
Mừng ôm hôn tôi rồi đáp trong nước mắt:
− Anh ơi, không, không. Không bao giờ còn có ngày ấy nữa.
Đã mấy lần đời tôi, tôi nghe Mừng nhấn từng tiếng: “Không”. Tôi biết đấy là sự thật, là định mệnh nhưng tôi vẫn cứ hỏi:
− Không có việc cưới xin ấy nữa sao?
Mừng cười:
− Không lẽ ta mang cái định mệnh ra đùa với nhau sao?
Thật ra, có lúc tôi cũng nghĩ ngợi như Mừng là làm sao mình cứ phải cam chịu một bề? Nhưng tôi vẫn cứ như đợi Mừng một sự quyết định. Có số mệnh nào ngoài Mừng?
Sau khi kể cho tôi nghe những gì đã xảy ra… những ngày giày vò mà Mừng đã chịu đựng. Mừng giải thích cái lẽ vì sao hôm nay Mừng phải xóa cái lễ cưới giả tạo của mình, phải quyết định lại cái chiều hướng của đời mình. Tất cả xuất phát từ một cách nghĩ rất đơn sơ và giản dị, chẳng khác nào ngày lạnh mặc áo gì, trời hè thì chọn màu áo gì…
Chung quy cũng vì mấy lẽ:
− Anh ấy cũng là người lành. Mình không yêu được cũng làm khổ đời người ta.
Đời một người con gái đã mất mát hy sinh, đau xót đến mức ấy, bao nhiêu nước mắt đã đổ ra. Không lẽ chỉ để làm vui lòng người mẹ mà hãm hại cả một đời mình!
Có một lẽ nữa mà Mừng không thể nói ra được, nhưng chính là cái cho Mừng dũng cảm để tự quyết định lấy đời mình: tình thương, tình thương từ trong lòng, tình thương suốt một đời! “Đã thương anh không lẽ em ra đi để mặc anh khổ một mình?”.
Qua cái thử thách lớn vừa rồi, biết tôi hơn, hiểu tôi hơn, Mừng đã thấy rõ cái lẽ từ đây không thể không chia với tôi một số phận…
Đêm ấy trăng sáng lạ lùng, chính là vì đêm ấy Mừng vui thật sự.
Mừng đi dưới hàng thông, vịn từ cành thông này lại vịn cành thông khác. Cái hình tượng ấy, đến nay đã hơn bốn chục năm rồi, tôi vẫn không quên… Có lúc chúng tôi đuổi nhau, như hai đứa trẻ mới yêu nhau lần đầu, không phải chúng tôi chỉ có nỗi đau thương đè nặng mặc dù chúng tôi chưa thật “sổ lồng”.
Nhưng phải đợi đến chuyến đi "quan trọng" này, chúng tôi mới hoàn toàn đầy đủ thuộc về nhau. Đúng như lời Mừng đã dặn, tôi tới ga xép An Cựu, vừa bước lên đã thấy Mừng chờ ở tam cấp va-gông tầu. Hôm ấy Mừng vẫn mặc cái áo vải đen thô mà Mừng hay mặc. Cùng đi với Mừng có người anh chú bác của Mừng, thật ra chuyến đi nào của Mừng cũng có người áp theo, để giữ gìn Mừng. Mẹ Mừng tuy có “nới dây” với Mừng đôi chút, nhưng không hề buông hẳn.
Đến Đà Nẵng, Mừng trao cho người anh họ một phong thư nhờ chuyển lại cho người mẹ. Người anh đoán biết cả sự tình, có khi vùng vằng hung dữ, có khi kêu than, đỏ cả mắt lên. Cuối cùng anh kêu lên một câu: “Chuyến này thím sẽ giết tôi thôi”. Chúng tôi rất thương anh, nhưng cũng đành phải chia tay anh thôi. Từ đây, chim đã sổ lồng, “cánh liền cánh” cùng bay như lời thơ xưa thường nói. Vâng chúng tôi suốt đời không hề biết đến lễ cưới là gì, nhưng chúng tôi đã có một đêm “động phòng” Quy Lai, tưng bừng hơn trăm ngọn nến. Từ nay, đã đành, chúng tôi chẳng rời nhau nửa bước, nhưng trong cái đêm dài đen tối hôm qua, không phải lúc nào chúng tôi cũng thấy rõ mặt đường. Trời Phật trên cao không biết có hết lòng phù trợ chúng tôi?
Bỏ nhà ra đi, chúng tôi có cái hạnh phúc được sống bên nhau, chia nhau nỗi vui, nỗi buồn, nỗi lo… Bước đầu chúng tôi phải tạm thời để cho hai đứa nhỏ sống nhờ nơi anh chị chúng tôi. Mừng mang theo được một ít tiền và đồ nữ trang. Chúng tôi phải bán dần để sống qua ngày.
Chúng tôi tìm qua sông Hàn, một nơi xa kín để tránh gặp nhiều người, nhất là những người quen. Gia đình Mừng sau khi mất Mừng hẳn là không cam chịu cho chúng tôi muốn làm gì thì làm, sống tự do theo ý muốn của mình. Lại đám hỏi đã tổ chức đàng hoàng, họ có thể dựa vào pháp luật lúc bấy giờ, làm rầy chúng tôi. Thậm chí hai bên nhà trai và nhà gái có thể thỏa hiệp với nhau để đồng tình bắt Mừng về và kiện tôi.
Thật là chẳng làm cách mạng mà chúng tôi cứ phải trốn tránh, sống bí mật.
Chương XV
NGHÌN NẾN ĐỐT LÊN
Ngoài một ít vốn buôn và một ít đồ nữ trang của Mừng, chúng tôi chỉ còn lại hai thân xác, hai linh hồn cặp kè nhau!
Cặp kè bên nhau như đôi chim vừa ra khỏi tổ. Chúng tôi biết rằng: người ta có thể đang đuổi bắt chúng tôi. Chúng tôi đang cố gắng giấu, có khi chúng tôi có đi mà không định nơi đến. Chúng tôi cũng cố gắng tránh những nơi tôi đã ở, nhất là những nơi tôi đã nhiều lần qua lại, những nơi tôi có bạn bè và những nơi tôi từng dạy học. Cả chỗ hai con tôi đang gửi, chúng tôi đi như những vị khách du lạnh lùng. Một buổi chiều, từ một làng cát chúng tôi xuất hiện giữa phố Hội An, với những tâm trạng lạ lùng, nhưng chúng tôi bề ngoài từ cái áo mặc trên mình đến dáng đi, vẻ nhìn, cách hỏi… muốn lẫn vào đám người qua lại, như những hạt gạo trong một sàng gạo, không con mắt người ngoài nào có thể phân biệt được và gắp riêng ra trên hai ngón tay.
Đến trước nhà Thương Chính, từ xa tôi thấy một xe ngựa đi tới, có lẽ là chiếc xe quen thuộc trước đây, khi tôi còn đang đi dạy học ở trường Viên Minh… Chiếc xe mà tôi thường ngồi để đến Cửa Đại, nơi nghỉ mát chủ nhật của dân phố.
Hai chúng tôi cùng nhảy lên xe. Đường Cửa Đại gồ ghề, vó ngựa cọc cạch. Hai đầu chúng tôi bên nhau, đung đưa lắc lư. Tôi sực nhớ đến ước mơ của tôi đã thể hiện trong câu thơ:
Trên lưng ta quẩy một vầng giai nhân
Quẩy vầng giai nhân trên lưng ngựa, như quẩy một vầng trăng… Say sưa, la đà, gập ghềnh: không phải chỉ trên một mảnh đất nô lệ mà thật ra trong một vũ trụ bập bềnh.
“Anh Bẩy!” Tôi nhớ ra tên anh rồi, anh Bẩy chủ nhân chiếc xe ngựa đường Hội An −Cửa Đại. Một anh “nghệ sĩ thổ mộ” mà có lần Nguyễn Tuân đã gọi như thế! Anh quay nhìn chúng tôi, có vẻ sửng sốt, sao trên xe anh, giữa những chị buôn cá lại có tôi, một nhà thơ mà anh cũng có biết. Anh nhìn Mừng ngồi bên tôi ra vẻ hiểu biết tất cả. Anh tắc tắc cái lưỡi và quất một đường roi rất tài hoa, như anh muốn đưa xe vào một cơn bão vậy. Rừng thông tươi mát. Những cây thông vút thẳng lên trời. Cát vẫn trắng mênh mông. Biển vào thu vẫn xanh một màu. Vài ngôi nhà tranh vẫn còn đóng cửa.
Vắng lặng không một bóng người. Trời vẫn chưa tối hẳn.
Xe dừng lại. Tôi chạy vào “trong xóm” hỏi nhà cụ Điền, người quen cũ, mua một ít gạo, ít dầu, một ít tôm khô. Chết chửa! Mùa hè hình như qua rồi, qua lâu rồi. Chúng tôi làm nên một bữa cơm giang hồ, và dưới vài ánh sao đầu tiên, chúng tôi cùng ăn chung một đũa, một thìa, một bát. Và đêm ấy ra tận bãi biển dưới trời sao lung linh chúng tôi nằm nghe tiếng nhạc sóng. Trên đệm gối “thiên nhiên” chúng tôi đã sống bên nhau thật “một trăm phần trăm” mà cũng ảo “một trăm phần trăm”.
Những lời nói của chúng tôi đêm ấy, như những lời ân ái xa xôi trao đưa giữa hai bờ sóng nước. Khi tỉnh giấc, tưởng như có những ngôi sao trên trời xuống… quây quần bên chúng tôi, có tiếng cười rúc rích.
Sáng hôm sau, mở mắt ra, ôi mênh mông là biển, im ắng lạ thường. Bầu trời như một cô gái, trải trên biển xanh cả một tấm “drap” rộng lớn, óng ánh vàng… Ánh sáng sau một đêm đen đi đâu vắng, trở lại nhanh nhẹn hơn, tươi cười hơn, hỏi chào vui vẻ hơn.
Tôi nói với Mừng: “Kìa em trông!”. Tôi nghĩ sâu trong lòng mình: “Không trời không biển làm gì có tình yêu”. Đúng vậy, tình yêu của chúng tôi lúc bấy giờ đi trên những sông ngòi, giữa trời biển. Nhưng rồi đôi khi nghĩ đến điều: ngày ngày chúng tôi sẽ ăn gì, ngủ ở đâu, chúng tôi thoáng bồn chồn, lo sợ. Vẫn tin rằng: mọi điều đã có đất trời lo xếp, trang trải cho.
Và để cho an tâm hơn, vì chúng tôi biết rằng còn có người đang theo dõi dấu chân chúng tôi, chúng tôi quyết định sang ở bên kia sông Hàn, thuê một gian nhà trống ở với nhau. Chỉ khi nào cần mua sắm gì quan trọng lắm chúng tôi mới khóa nhà qua sông và dắt nhau đi trên các đường phố Đà Nẵng. Coi như chẳng có gì cần kíp, chúng tôi cứ ở rịt trong cái gian nhà âm u kia đốt lên ngọn lửa lòng với nhau.
Chưa bao giờ một trang sách mở ra, chúng tôi cùng nghiêng ngả đọc với nhau mà thú vị đến thế. Không phải một câu thơ hay, mà cả một câu văn dở ẹc cũng làm chúng tôi vui… Nhưng cũng có lúc tôi cảm thấy cuộc đời như “vô sự”… có lúc rồi đến chán mất. Không chán nhau thì cũng có thể chán cả cuộc đời. Tôi có một ý nghĩ vỗ về: lúc nào chán hay không thể sống như thế được nữa, tôi sẽ đi tìm anh Kính ở Duy Xuyên. Tôi lại xin dạy một lớp nào đó ở trường tư thục tiểu học của anh. Tôi có lương tháng, Mừng sẽ đi học kéo tơ (làng này là một làng dệt lụa nổi tiếng). Nếu yên được, dần dà sẽ mang hai đứa con về. Cái triển vọng này làm cho Mừng vui hẳn lên. Bây giờ sống sao cũng được, miễn sao cuối cùng sẽ có những ngày như thế. Chúng tôi có một mái che, một bếp lửa. Chúng tôi sẽ có những người bạn tốt.
Thật ra những ngày “vô định” đó ở bên kia sông Hàn, nếu tôi cứ y nguyên kể lại những sự việc thì hồi tưởng của tôi cũng không tẻ nhạt lắm đâu! Cứ như thế kể lại những buổi nhịn đói, những chuyện đùa nhau rơi nước mắt, những lúc chạy khắp xóm đi bắt “bọ vừng” rồi cứ phải hui suông, không xin được một chút dầu rán.
Tiền dành dụm đã cạn hết, lần thứ nhất Mừng quyết định bỏ đồ trang sức ra khỏi thịt da, đem đi cầm cố, rồi bán đoạn bán đứt. Có khi bán được giá mà khóc, có khi bán như cho mà lòng lại vui. Sợ ló mặt nhiều lần, chúng tôi đã nhờ một người bạn quen bán hộ. Bạn đi thẳng, tiền chẳng về. Cả vòng chuỗi ngọc, cái chuỗi ngọc đầy nước mắt của Mừng cũng đã ra đi. Chúng tôi tiễn nó với một nụ cười mỉa mai.
Người bạn tin cậy đã đánh lừa chúng tôi, gặp mặt giữa đường, chúng tôi cũng không gọi tên, chỉ biết nhìn theo. Tình yêu của chúng tôi cũng có lúc đờ đẫn ngu xuẩn. Có lúc khờ dại như những đứa trẻ. Nhưng cũng chẳng một lần bực mình gây gổ.
Kỳ diệu! Có dại khờ mà vẫn trong sáng, vẫn chẳng hề chán nhau. Ra đến sông mòn mỏi chờ. Đã thấy bóng người ở trên thuyền, thuyền đã ra giữa vời mà thuyền như đứng lại. Chúng tôi không sao chịu nổi sự xa rời nhau, dầu trong là giây phút. Những lúc trời mưa rỉ rả, nằm đếm từng giọt mưa, những lúc đó thấy trời đất quá đầy đủ: Muốn có gì là được nấy, tay sờ đâu cũng động tới hạnh phúc của mình.
Làm thơ làm gì?
Những giọt mưa rả rích đã đưa lại cho tôi một tâm trạng hạnh phúc; cả những kẻ đã đánh lừa chúng tôi, hình như chúng nó cũng góp phần hạnh phúc cho chúng tôi.
Cái ống tháng ngày cứ cuộn rồi lại tháo ra, nhẹ nhàng bên chúng tôi mà chúng tôi không tự biết. Bởi vì tôi không thể nào quên được câu thơ Baudelaire nổi tiếng, học từ ngày còn ngồi trên ghế trung học:
“Tant l’ écheveáu du temps lentement se dévide”. (1) Làm sao mà chuyển dịch cho được cái nhịp điệu dư ba âm hưởng ấy?!
Vâng cái ống thời gian cuộn lại từ lúc nào, nay lại cứ tháo ra. Thời gian như một con chim từ rừng lặng bay ra không một tiếng đập. Có thể hồn chúng tôi đã lặng thầm chết đi trong một nhịp điệu vô hình đó.
Đâu phải cuộc sống đã mất hết độ nồng? Hay vì chút vàng trên mình đã bay sạch? Không, những con mắt của chúng tôi mỗi sớm mỗi chiều vẫn nhìn vào nhau, nồng thắm.
Hoặc giả cuộc đời không còn thiên đường, không địa ngục, không tiếng gọi, tiếng ơi! không bóng, không hình, không trách nhiệm?
Một buổi sáng, như sau một đêm không ngủ, tỉnh giấc đã lâu mà cứ nằm im rồi quay lưng lại. Mừng nước mắt dàn dụa rồi nấc lên một tiếng!
Mừng nói với tôi: “Không thể như thế này được nữa! Em phải về thôi!”. Mừng muốn khóc ré lên như một đứa trẻ. Nhưng đâu phải là một tiếng khóc ré, và sau tiếng khóc ré là một ngón tay đưa gạt đi giọt nước mắt, trở về với nỗi buồn xa mẹ? Thật ra nỗi buồn này chưa hẳn là nỗi buồn không dứt của Mừng. Đúng ra thì tôi còn nợ Mừng một vần thơ chưa trả xong.
Từ ba hôm nay Mừng như vướng vào một tâm trạng. Thì ra hôm Mừng đi chợ tận bên kia sông, Mừng đã gặp một cô bạn của Mừng ở Huế vào. Cô bạn đã nhắc lại lời nhắn của mẹ hôm cô lên nhà chơi: “Muốn làm gì thì mặc, phải cứ về đã”. Và theo lời người bạn, đã lâu bà không ăn được, không ngủ được, không đi đâu, chỉ nằm trên một cái giường con với cái ống nhổ bên  mình. Bệnh ho của bà lại tái phát. Và một điều mới nữa, Mừng đã sung sướng rỉ vào tai tôi: “Cụ Hồ Chí Minh đã về ngoài ấy!”. Tôi giật mình: Không phải Mừng chỉ mê văn thơ tiểu thuyết, Mừng vẫn lắng tai thành kính nghe những chuyện thời sự. Mừng còn kể: Ở gần điện Hòn Chén (trên sông Hương), một đêm dân có nghe tiếng súng. Mừng kết luận: Tình hình này, đâu đâu rồi cũng thế cả. Nhìn lên tôi, Mừng nói thẳng: “Em sẽ về Huế để xem ra sao! Em chẳng sợ! Em về trước rồi em sẽ trở vào đón anh và dần dần đón các con!”. Tôi cũng bình tĩnh nhìn Mừng nói: “Tôi sẽ đi với Mừng”. Mừng còn nói thêm: “Em tin cách mạng sẽ đến, em sẽ đứng trước tòa án cách mạng, em bảo vệ tình yêu của em”. Chẳng chút do dự, một hôm chúng tôi vượt đèo Hải Vân. Và trong lúc chờ đợi một ngày mai, chúng tôi tạm thuê một chiếc đò trên sông Hương. Sau một đêm ở đó, sớm Mừng chào tôi về thăm mẹ, Mừng nói chỉ đi hai hôm. Nhưng hai hôm rồi vẫn chưa thấy Mừng quay trở lại.
Ngồi dưới thuyền, bỗng tôi nghe thấy tiếng kèn cách mạng rân rân vòng quanh khắp phố phường. Nhạc xôn xao từ chợ Đông Ba đến cửa Đồ. Bên tả ngạn, nhạc xôn xao từ ga Trường Súng đến Đập Đá. Trẻ con khắp nơi thấy có đoàn người biểu tình đi qua, vỗ tay reo hò. Mặt hai vợ chồng chị lái đò có thể nói tươi như hoa.
Cách mạng về đến Huế mình rồi đây ư? Tôi cũng không hiểu gì hơn vợ chồng chị lái đò. Họ thảng thốt hỏi tôi mọi điều cũng như tôi dò hỏi họ trăm thứ. Tôi muốn chạy lên xóm Trường Cửi tìm Mừng, nhưng tôi vẫn không dám đi. Tôi cứ quanh quẩn ở đầu cầu Tràng Tiền! Khi ở mút bên này, khi ở mút bên kia.
Thành phố lên đèn đã lâu. Tôi đứng nhìn xuống sông, hứng ngọn gió thì nghe có tiếng trống nhịp khúc hát hành quân. Tôi ngẩng lên… bàng hoàng không tin ở mắt mình. Người cầm cờ đi trước… một cô gái mặc áo thô đen trông giống Mừng, và tôi phóng mắt nhìn kỹ lại: Mừng! Tôi không chạy tới Mừng. Tôi cũng chẳng kêu to tên Mừng. Tôi cứ thế, bước theo đám biểu tình như những đứa trẻ…
Sau cuộc biểu tình Mừng xuống đò, tìm về với tôi! Mừng cho hay phụ nữ xóm Trường Cửi đã bắt mối với Mừng. Tổ chị em Trường Cửi dường như muốn đi đầu trong cách mạng. Tổ đang làm văn nghệ kiếm tiền giúp “thương binh” (thương binh nào?) phải múa hát, đóng kịch để thu nhiều tiền. Mừng bảo: “Mừng đã đóng vai thầy phù thủy”. Mừng cũng biết “bắt quyết”, cũng biết “phì phà” như ông phù thủy. Trai gái trong xóm thấy Mừng trở về đóng vai phù thủy mọi người cười sung sướng.
Tôi hỏi: “Còn mạ?”
Mừng nghẹn ngào không sao trả lời được. Cuối cùng Mừng chỉ nói được một câu: “Chỉ còn da với xương thôi!”. Mừng nằm vật xuống khoang thuyền như một cái xác lạnh.
Chuyện tình của chúng tôi có phải sẽ kết thúc ở đây, hay từ đây sẽ mở ra những trang mới?
Đêm khuya trên chiếc thuyền, chờ cho mặt trăng le lói tắt cho hết, chúng tôi mới đi nghỉ, để rồi sáng hôm sau, chúng tôi dậy thật sớm, đón ngọn gió đầu tiên trên sông Hương. Từ phía Cồn Hến, trên những bụi tre xanh, một mặt trời đỏ rực đột ngột chui ra.
Tôi cùng ngồi bên Mừng, quay về phía Tre Cồn, nói với Mừng: “Chà! Nàng đang chải tóc!” Nàng? Ai? Mừng hay mặt trời? Sáng ấy, mặt trời có cái cười rất tươi và tóc tai mặt mày diêm dúa. Chúng tôi bảo chị lái: gió lên rồi đấy, giăng buồm lên. Chúng tôi ngồi thả chân xuống nước.
Thuyền lướt qua hoàng thành, những ngôi sao cuối cùng đã bạc thếch trên trời, như ngày nào vẫn chiếu xuống nước hàng hàng trôi ngược dòng sông!
Tình yêu bao giờ chẳng thế?
Tình yêu trong nỗi đau buồn đứt ruột hay trong hạnh phúc tái sinh, vẫn long lanh nửa như thực, nửa như ảo.
Chu Mạnh Trinh nhà thơ mê Kiều đi vào giữa sông núi Hương Tích, đã viết:
Chợt bên tai nghe một tiếng chày kình
Khách tang hải giật mình trong giấc mộng
Tình yêu của chúng tôi khi xa ngàn dặm hay khi bên gang tấc, cả khi đã đậu hoa sai trái, chúng tôi vẫn có những cái “giật mình” trong giấc mơ như thế.
Có phải vì “đẹp quá khó mà thật được”, như Shakespeare đã nói: “Đau thương hay yên vui quá không dễ mà thực được”.
Đúng như Mừng đã đoán trước, Mừng sẽ bị đưa ra tòa.
Sau khi ở cửa Ngọ Môn, Bảo Đại, ông vua cuối cùng nhà Nguyễn đã tuyên bố thoái vị để được làm người dân của một nước Việt Nam độc lập tự do, thì một hôm người con gái cũng ở trong hoàng tộc được gọi ra trước một tòa án, trước công chúng đông đảo, trẻ trung, và nàng đã dõng dạc tuyên bố:
− Người chồng chưa cưới của tôi là một người đáng quý trọng. Nhưng duyên chẳng đưa, phận không đẩy. Tôi bị ép một bề. Tiền dạm hỏi, tôi xin trả lại… Bây giờ cách mạng đến rồi. Tôi yêu ai tôi lấy người ấy. Đó là việc của tôi. Xin cảm ơn cách mạng đã mở ra tòa án này cho tôi được nói rõ lòng tôi.
Quần chúng vỗ tay… Nhìn lên các quan tòa, người nào người nấy mặt mày đều hớn hở.
Mừng về báo cho tôi biết: Mừng thắng rồi.
Thắng ư? Nhưng hôm nay, chúng tôi vẫn nằm trên một chiếc đò, bềnh bồng. Trái đất xum xuê, rộng lớn. Chúng tôi vẫn chưa xây nổi cho mình một chiếc tổ ấm! Nhưng từ nay, sao chẳng được gọi là hạnh phúc, khi đôi chim nhỏ trong ngọn gió mênh mông, mỗi sáng mỗi chiều vẫn nhặt được một que rơm, một cọng rác.
Thiếu nghèo còn là số phận, nhưng điều chủ động, điều chắc là hạnh phúc của chúng tôi, chúng tôi từ nay tự làm lấy cho mình.
Nhớ lại những ngày đêm không ra đêm, ngày không ra ngày, nhớ không ra nhớ, thương không ra thương, gần chẳng ra gần, xa chẳng ra xa… bao giờ cũng như sống núp, yêu lén thì bây giờ đây, so với những ngày ấy, quả chúng tôi sung sướng yên vui hơn nhiều. Tôi nhớ có một lần không sao chịu nổi, tôi đã buột ra những câu chua chát đắng cay:
“Có đêm không ngủ được, chong mắt đợi qua cửa chờ bình minh. Khi thì trời sáng bạch mà con tắc kè trên cây bên cửa sổ vẫn tắc kè, tắc kè hoài. Lại đến khi trời chưa rạng, sông nước còn tối đen, thế mà từ hàng cây phượng vĩ: ve ve đến sốt ruột”.
Dứt không ra dứt, nối không ra nối; ở cũng chẳng thèm ở mà dứt ra đi cũng chẳng dám dứt ra đi. So với những đêm những ngày ấy, bây giờ chúng tôi là một đôi tiên nhỏ, dầu chiếc nhẫn cuối cùng cũng đã mang cầm cho cô cầm đồ ở Gia Hội. Cái cô nữ xinh xinh, cứ thấy tôi đến, không dám ngẩng đầu nhìn tôi. Cứ luôn miệng hỏi: “Nhà thơ cần bao nhiêu tiền?” Thì ra cô ấy cũng có đọc vài câu thơ của tôi. Chiếc nhẫn của chúng tôi thật ra không có giá. Bởi vì, từ bao giờ, tôi thường nhận món tiền cao hơn mấy lần cái giá thật của chiếc nhẫn của chúng tôi. Cô ấy tên gì tôi không rõ. Có thể cách mạng sẽ đóng cửa hàng của cô nhưng làm sao tôi có thể quên được cái vị “ân nhân” nhiều duyên dáng và đầy tình thương người ấy.
Xin được ngưng lại đây để nói đôi chút về những ngày độc lập đầu tiên của chúng tôi trước khi trở lại với những chương cuối cùng của tập hồi tưởng tình yêu chúng tôi.
Chương XVI
NHỮNG NGÀY ĐỘC LẬP ĐẦU TIÊN
Hồ Chí Minh ở quảng trường Ba Đình đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Sau này tôi có đọc một lời nhận xét của một học giả Nhật Bản: “Bản tuyên ngôn độc lập ở Ba Đình là một bản tuyên ngôn ở một góc trời Đông Nam châu Á, - một bản tuyên ngôn độc lập của các dân tộc nô lệ trên trái đất, lần đầu tiên được dõng dạc tuyên ngôn mình được độc lập trước các dân tộc khác. Đường hoàng đối diện với các nước lớn với các loại kẻ thù. Rằng mình không cúi đầu nữa, đã hất cao mái tóc, đã ngẩng cao đầu nhìn mặt trời”.
Lúc bấy giờ tuy hay làm thơ, nhưng tôi vẫn thích đọc lịch sử thăng trầm của các dân tộc trên thế giới. Khi còn trên ghế nhà trường, tôi có biết Tuyên ngôn nhân quyền của cách mạng Pháp, cũng có biết Thần Tự Do ở Mỹ. Cách mạng tháng Mười với Lê-nin, tôi cũng nghe nói đến và đọc trên sách báo. Còn chuyện nước Nga cùng với Đồng Minh đã chiến thắng chủ nghĩa phát xít Đức, Ý, quân phiệt Nhật Bản, mở ra triển vọng lớn lao cho các dân tộc nhược tiểu, thú thật tôi chưa quan niệm rõ. Nhưng một điều tôi có thể khẳng định với mình: với tuyên ngôn Ba Đình, hai chữ “Việt Nam” đã bắt đầu dội lên khắp các đại dương. Điều này quả tình trước đây tôi chưa bao giờ nghe ai nói, chưa bao giờ thấy ai viết.
Sự độc lập của Việt Nam, tôi đã biết có cái thật và cái giả. Như cái kiềng vàng, có thể vàng mười, cũng có thể vàng giả 100%.
Hôm Nhật dựng lên chính phủ do Trần Trọng Kim lãnh đạo, với Trần Trọng Kim tôi đã từng gặp gỡ hoặc thư từ qua lại, tôi thấy ở nhà học giả này có nhiều suy tư nghiêm túc chân thành nhưng tôi không thể gởi ngay lòng tin đầu tiên cho "tiên sinh". Tôi cũng có mặt ở đây, khi nội các Trần Trọng Kim với lá cờ chữ “ly” kéo lên…
Tôi có anh bạn bác sĩ tên là Thái Can, vốn cũng là một nhà thơ có hồn, đã từng cộng tác với tôi và Hoài Thanh trong cái tùng thư gọi là “Ngân Sơn tùng thư” của tôi. Một hôm, anh gặp tôi, báo cho biết là anh đảm nhiệm bộ biên tập báo Tân Việt Nam ra ở kinh thành. Anh bảo tôi tham gia viết và tôi nhận lời ngay. Tôi nhận lời một cách rất chân thành và nghĩ rằng: tiền nhuận bút sẽ trả rất cao.
Tôi viết một bài xã luận nói về nền Độc lập đất nước, cũng như ông Phan Anh và những người trí thức khác, đã thét lên hai tiếng đó! Nhưng tôi còn thêm mấy chữ bên cạnh: “Độc lập chân chính chứ không phải là Độc lập người khác ban cho.” Ấy thế mà bài của tôi được đăng trang trọng trên trang báo, được in đầy đủ không thiếu dấu phẩy. Tôi mang về khoe với Hoài Thanh. Điều tôi thờ ơ nói ra, không ngờ là chân lý, mỗi ngày một rạng rỡ!
Tuy tôi chưa có ý thức đầy đủ về bản Tuyên ngôn độc lập ở Ba Đình, nhưng tôi đã thấy, ít ra, nước Việt Nam đã được độc lập, và đố là sự thật, không còn nghi ngờ gì nữa.
Một hôm trước cửa Thượng Tứ, tôi đứng chờ đoàn biểu tình từ nội thành ra, những kỹ sư từ các công sở chạy ra, giơ cao tay và thét lớn. Trái lại từ khi có tiếng súng nổ, những đoàn biểu tình hầu hết lại từ xóm làng, họ mang cơm đùm cơm nắm đi biểu tình, thét lên từ trong cái niềm vui hân hoan của mình. Họ nhìn những lầu cao đèn lớn, những bức thành nguy nga đồ sộ với những con mắt vừa ngạo nghễ và tự hào. Họ xoa những cột rồng ở Đại nội, nơi vua quan thiết triều, họ vào tòa khâm sứ quét bụi nằm lăn… Họ cảm thấy mình là ông chủ bà chủ thật sự.
Tôi nhìn họ lại càng không thể quên cái đêm Mừng đi đầu trong đoàn biểu tình, áo dài trên mình như ngọn gió mới sông Hương! 
Ở cửa Ngọ Môn, vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị để được làm người dân một nước tự do. Cờ đỏ sao vàng kéo lên đài cờ, hàng ngàn hàng vạn người dân rầm rộ, dọc ngang trên mảnh đât nhà vua và bọn bảo hộ thực dân.
Chính trong thời kỳ đó, ở trong một phiên tòa cách mạng Mừng được mời ra trả lời về vụ kiện “bỏ nhà và lật hôn” nổi tiếng ở Huế. Trước quan tòa Mừng đã tuyên bố: “Tôi chẳng có gì tội lỗi hết, phong kiến bắt tôi bỏ người tôi yêu để lấy người tôi không yêu. Mặc dầu đối với người gọi là “vị hôn phu” tôi vẫn kính trọng. Cách mạng đã giải phóng đất nước, lẽ nào chẳng giải phóng trái tim tôi”. Mừng kể lại với tôi là Mừng đã nói như thế, chẳng run sợ chút nào và được quần chúng vỗ tay.
Mừng đã tham gia đóng kịch cách mạng, đóng vai Phồn Y trong vở kịch Lôi Vũ của Tào Ngu, một nhà văn nổi tiếng của Trung Quốc. Và thú vị hơn cả, lần này là lần đầu tiên chúng tôi được gặp “những con người cách mạng’. Như một luồng gió cách mạng thổi tới, tôi được gặp anh Nguyễn Chí Thanh và anh Tố Hữu. Anh Thanh một người xông xáo, chân thành chân thật, không những thế, các anh là những con người rất trẻ, rất nhanh nhẹn, linh hoạt, có nhiều tài năng. Những con người của mọi tình thế. Mới gặp tôi, chẳng khác nào các anh đã đặt tôi vào lòng! Chẳng có gì phải dè chừng với những người như thế.
Riêng Tố Hữu, mũm mĩm trắng trẻo, nhút nhát, ít nói như một thư sinh – có thể là một học sinh cần cù dễ mến. Không có gì gió bụi. Ai biết được rằng hai lần anh vượt ngục, anh nhanh như sóc, gan lỳ, và anh là trưởng ban khởi nghĩa Thừa Thiên - Huế.
Tôi chỉ loáng thoáng, nghe bọn trẻ nói đến anh, đến thơ anh một cách đầy ngưỡng mộ. Học sinh đọc thơ anh nhiều và bí mật tuyên truyền thơ anh. Ở nhà Mừng, mấy đứa cháu gần cháu xa của tôi cũng truyền đọc cho nhau thơ anh.
Một hôm, một đứa cháu của tôi, theo yêu cầu của tôi đưa cho tôi tập thơ chép tay của anh. Tôi có đọc qua, nhưng vì người cháu cho tôi mượn đọc có vẻ lo sợ, tuồng như nóng ruột muốn lấy lại, tôi “tự ái’ không đọc nữa trả ngay! Chả là lúc bấy giờ tôi đã là một nhà thơ nổi tiếng rồi. Tôi nhớ khi phụ trách tờ Hà Nội báo cho tôi in truyện vừa Khói lam chiều,[a] Tố Hữu xem xong có làm bài thơ tặng tác giả Khói Lam chiều  ký tên Nguyễn Kim Thành. Đến lúc ấy, tôi vẫn không hiểu được một cách sâu sắc thơ Tố Hữu và con người Tố Hữu. Hiểu được thơ Tố Hữu với tôi là cả một quá trình. Dầu sao những bài thơ nói về người vú nuôi và Tiếng rao đêm đã đập mạnh vào tâm tư tôi, nếu chưa thấy được cái dũng cảm, cái tinh thần cách mạng của anh thì tôi đã bị hút ở cái tình thương người của anh.
Bấy giờ anh đã đến với tôi như một thư sinh – lành trai, có phần nhu mì, tôi chẳng chút đắn đo, trút ngay tin yêu của tôi vào anh.
Tôi đã đi vào gia đình cách mạng, gia đình các anh ấy như vào gia đình của tôi. Mừng cũng như tôi rất tin vào cách mạng. Chả thế, một hôm chúng tôi đang từ dưới thuyền bước lên, các anh ngừng xe lại, lấy va-li của chúng tôi đặt vào xe của các anh, và chở chúng tôi đến nơi các anh đã lo tính trước. Từ nay, tôi dứt khỏi cuộc sống lang bạt. Các anh ấy đã bàn với Mừng và hai chúng tôi đồng ý đi vào cái trật tự mới: trật tự cách mạng. Một trật tự dễ chịu làm sao! Tôi cùng với Chế Lan Viên và các anh khác tham gia “nhóm Xây dựng” do anh Tố Hữu đề xướng. Chúng tôi đã ở trong cơ quan tuyên truyền Việt Minh Trung Bộ. Chúng tôi ở chung, ăn chung với anh Lưu Quý Kỳ và các anh chị “tuyên truyền ” khác. Dẫu lúc bấy cái vốn Mác-Lê của tôi không hơn gì trước bao nhiêu, giá có ai đeo vào ngực tôi một cái bài nào đó tôi cũng để yên. Anh Trần Hữu Dực và anh Nguyễn Duy Trinh đang làm việc tại tòa Khâm cũ. Hai anh ấy về chức vụ hành chính là cao nhất ở Trung Bộ. Tôi nghĩ bụng hai anh ấy cũng giống như ông Chánh phó “khâm sứ” ngày xưa. Tôi nhớ chuyện tướng Cuốc-bê không chịu đi cửa bên, nhà vua phải mở cửa chính Ngọ Môn cho hắn bước vào, làm nhục vua quan quá thể. Lại nghĩ câu chuyện đăng trên báo Pháp ở Sài Gòn, chuyện khâm sứ Lơ-phôn có con với bà Hoàng hậu, tôi buồn cười. Bây giờ đây, ở chỗ quan khâm ngồi ngày xưa đó, anh Trần Hữu Dực và anh Nguyễn Duy Trinh đã tiếp tôi và Chế Lan Viên phụ trách cái gọi là “Tủ sách công dân”.
Thật ra tôi không thể nghĩ đó là chuyện trong chiêm bao được. Tôi, với tinh thần hết sức nghiêm chỉnh, lãnh một phần trách nhiệm “cao cả” đối với dân với nước. Tôi đâu dám đùa! Nhưng tôi xoay sở làm sao đây để có được những cuốn sách chính trị kinh tế, văn hóa, văn học, để đặt vào tay người dân… những người cũng như tôi, cũng đang mở mắt bàng hoàng trước cái nhiệm vụ mới: nhiệm vụ người dân có nước!
Những cuộc họp bàn với các vị thủ trưởng cao cấp đó, chẳng chút nghi lễ, chẳng nhiều hình thức rườm rà.
Thuở đó, các anh ấy còn trẻ, tôi cũng mới tuổi ba mươi, lòng đến với cách mạng cũng thoải mái chân thành như đối với tình yêu.
Bàn việc nước việc dân mà như bàn việc xóm việc làng, việc nhà việc họ, gần gũi thoải mái. Bàn xong, trên dưới, khách chủ ra lãnh một cái bát, một đôi đũa, đâu có chỗ ngồi thì ngồi vào! Cái thuở mũ cánh chuồn đã bị hạ bệ mà quan mới đại cán chưa kịp lên chân.
Cái khoảng cách thời gian đó, mà lịch sử đã ngờ nghệch bỏ quên, thật sự đã cho tôi một thiên đường trần thế. Tiếc rằng cái khoảnh khắc thiên đường không thể kéo dài vô tận được. Có chức rồi phải có quyền, một quy luật không phân chia chế độ. Dầu sao đó là những kỷ niệm tuyệt vời của nhà thơ đi vào chính quyền nhân dân.
Tôi nhớ, trước khi tôi nhận việc, anh Trần Hữu Dực có nhã ý cho tôi ra Quảng Trị, và ra đất Nghệ đi một vòng “hành hạt” cho được mắt thấy tai nghe cái đất nước quê hương mình bấy lâu úp đầu cúi mặt, nay được mở mặt mở mày.
Anh Trần Hữu Dực giới thiệu anh Trần Đức Hinh, một nhà trí thức và tôi một nhà thơ ra thăm tỉnh Quảng Trị quê hương của anh.
Chúng tôi được cụ Nguyễn Đình Luyện, chủ tịch Quảng Trị tiếp, cụ ở Côn Đảo về và người ta giới thiệu với tôi, cụ đã là cử nhân khóa cuối cùng, và cũng là một nhà thơ! Tôi cũng ngại nếu cụ biết tôi là người đề xướng phong trào “thơ mới” đã từng mỉa mai cái trò “rung đùi” giũa gọt từng câu từng chữ của các cụ. Tiến sĩ Nguyễn Đức Nhu đòi chém tôi, cụ thân sinh anh Xuân Diệu giơ guốc doạ tôi, liệu cụ Luyện có đón tôi như hai cụ trên không? Trái lại, cụ rất ghét cái trò đối đáp “Chó đi xuôi, mèo đi ngược”! Cụ bảo người thư ký của cụ “Dắt hai vị qua chuồng ngựa tùy các vị tự chọn lấy ngựa…”. Chao ôi! Vinh dự biết mấy, nhớ lại, lúc thầy tôi làm quan, tôi quá nhỏ, mỗi lần theo mẹ tôi về quê thăm ngoại, chỉ được ngồi trong cáng diềm xanh; tôi cũng có người bà con bên ngoại, anh Thừa Lưu, con nhà giàu, mỗi lần đến thăm thầy mẹ tôi, đều phóng ngựa qua rừng. Thừa những lúc anh Thừa hầu chuyện với mẹ tôi, anh em chúng tôi thay nhau phóc lên ngựa phi một vòng, hồi đó cũng bị ngựa đá ngược mấy lần, bị ngựa cất móng mấy lần, mấy lần bị ngã ngựa, vì thế tôi cũng được ít nhiều dạn ngựa… Khi chúng tôi ra chuồng ngựa, anh Trần Đức Hinh chọn một con có vẻ lành, còn giao cho tôi một con có vẻ cứng đầu… Điều trái lại đã xảy ra: con ngựa có vẻ lành của anh Hinh anh chưa kịp lên yên nó đã cất vó như điên. Còn con ngựa của tôi, trong bụng nghĩ thầm, nó có vẻ ra oai với mình đây; tôi đóng yên cương, nó cứ để yên ngoan ngoãn, cái dây bụng quá lỏng, nhảy lên yên bỗng tụt xuống bụng ngựa, tôi lo nó sẽ lôi tôi đi. Nhưng không, nó đợi tôi buộc chặt lại, đến khi ngồi chắc trên yên nó mới đường hoàng cất vó. Lúc đầu từng bước thong thả ung dung, đến khi tôi quất mấy roi nó vọt lên, cứ thế, tôi phóng tầm mắt nhìn xung quanh, băng qua đồng, lội qua suối, tầm mắt phóng một cái nhìn thật sự chủ nhân! Làm sao mà tả hết được niềm tự hào của tôi trên lưng ngựa?
Tôi đi tới đâu, chim chóc hót chào, không phải ngọn gió mênh mông đuổi sau lưng tôi, mà cả một luồng gió nâng lên một cánh buồm rộng lớn trong hồn tôi. Cả cái dĩ vãng nặng nề âm u của đất nước nô lệ làm tôi bàng hoàng nhớ lại mấy câu thơ “mưa mãi, mưa hoài, buồn cả một đời xuân”, một ngày mưa dầm ở Huế, ngồi tính sổ lại cuộc đời. Đang lan man suy nghĩ thì con ngựa đứng phắt lại, chợt tỉnh, thấy anh bạn đã bỏ xa mình lúc ấy mới ra roi đuổi kịp. Chiều ấy, chúng tôi đến Gia Đẳng, biển của tôi đây rồi, chúng tôi được tắm biển, được cùng mấy anh cán bộ địa phương ăn những con cá bạc má, luộc tươi với bánh tráng. Quây quần với bà con nông dân và ngư dân trong xóm, lần đầu chúng tôi uống rượu với nhau, và gọi nhau bằng hai tiếng “đồng chí", chưa bao giờ quen nhau mà bên ni bên nớ nhìn nhau bằng ánh mắt bà con ruột thịt!
Đó là ngày độc lập đẹp đẽ nhất, ý nghĩa nhất của tôi kể từ ngày trên cột cờ Ngọ Môn lấp lánh tung bay ngôi sao năm cánh trên một nền đỏ rực!
Có hôm cụ Luyện hỏi tôi: Nhà thơ đã sướng chưa? Tôi đáp: Sướng!
Cái sướng này quả là một hạnh phúc diệu kỳ, đặc biệt chỉ có ở kẻ mất tự do mới thật sự cảm nhận được một cách đầy đủ. Sực  nhớ đến tiếng mõ thúc giục đóng thuế ngày nào ở làng Cao Lao của tôi, bà con nông dân nghèo, sưu cao thuế nặng, có khi không đủ mấy quan tiền nộp thuế, chân bị cùm hoặc nó treo người lên, v.v… thật là cái cảnh đau lòng giữa con người với con người, làm tôi nổi da gà khắp mình. Nhưng hôm nay nỗi vui sướng lấy lại đất nước đến rồi, có gì đảo ngược được!
Tại Huế tôi được phân công phụ trách tử sách công nhân, địa điểm ở ngã tư Âm hồn, cùng với anh Chế Lan Viên và vợ là chị Giáo, anh Hoàng Trọng Miên, chúng tôi chia nhau ra làm việc. Khi anh Viên và tôi được mời ra Hà Nội họp Văn hóa toàn quốc, ở nhà Mừng gần đến ngày sinh! Một việc mà tôi nhớ mãi hôm đó ở Hội Quảng Tri ở Huế tổ chức văn nghệ lấy tiền mua vải vóc may áo quần cho anh em giải phóng quân. Người trong ban phụ trách là chị Lý, đến tiết mục ngâm thơ, người ngâm thơ hôm ấy bị ốm, thế là chị Lý vào nói với Mừng thay, lúc đó thật khó nghĩ vì cái bụng gần ngày sinh, to tướng. Sau chị Lý bảo sẽ làm cái động, Mừng đứng ở trong cho lấp cái bụng mà ngâm. Sáng hôm sau Mừng chuyển dạ, Hải con đầu lòng của tôi đưa Mừng ra nhà hộ sinh của chị Lý, chị Lý hết lòng giúp đỡ, và đã đánh điện ra Hà Nội cho tôi: “Mừng khỏe và cho ra đời một giải phóng quân!”
Ở Huế mới hôm nào, những tên lính Nhật đứng gác ở đầu cầu Tràng Tiền ai đi qua cũng thấy lành lạnh, chỉ muốn đi qua nhanh, tránh xa. Nhưng mấy ngày này, chúng đã biến đâu cả rồi, những em bé trai 14 -15 tuổi đã xung vào đội tự vệ đêm hôm tranh nhau đi bắt lính Nhật.
Những chàng trai cô gái đang lớn vùn vụt, thằng tiểu công dân trong gia đình tôi cũng đang lớn lên từng ngày một, nó có biết đâu giữa những bước đi chập chững trên đời cũng là những bước đi, bước chạy trong cách mạng. Từ ngày mới lọt lòng mẹ, nó đã bò, tập từng bước đi trong gian truân, trong bom đạn, trong tình thương của mọi người, cùng với cha mẹ, trèo đèo, lội suối! Mừng thường nựng con: Tội nghiệp con tôi! Con có biết bà ngoại là ai không? Rồi con người có tâm hồn rất cứng cỏi đó, cũng phải quay mặt vào tường, lau hai dòng nước mắt….
Chương XVII
TIẾNG ĐÀN Ở LĂNG TỰ ĐỨC
Tôi được giấy triệu tập ra họp Hội nghị Văn hóa cứu quốc tại Hà Nội. Lúc bấy giờ bọn thực dân Pháp, từ nước Pháp đã được giải phóng, núp sau quân Anh trở lại Sài Gòn, chúng đổ bộ ở Hải Phòng, vào tận Thủ đô, nơi Bác Hồ đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập.
Ở giảng đường đại học Đông Dương, chúng tôi, những nhà thơ nhà văn, nhà nghệ thuật bàn về sự nghiệp văn hóa của đất nước!
Súng đã nổ ở đâu đó ngoài phố, trên trời có tiếng rú máy bay. Hồ Chủ tịch vẫn đến với chúng tôi. Bác Hồ nói về ngôn ngữ Việt Nam, lâu lâu chêm vào câu đùa dí dỏm.[a]
Họp xong tôi từ Hà Nội về Huế bằng xe lửa. Như tôi đã nói, trong lúc tôi đi vắng, Mừng đã cho gia đình tôi một nam công dân đầu tiên. Thằng bé ra đời hình như mang theo trên mặt cả cái gian truân của đất nước và cái chìm nổi của một mối tình. Cháu không được bàn tay của bà ngoại ấp ủ, nhưng chính cách mạng trên đôi tay đã đỡ cháu ra đời, trong tiếng đại bác của quân thù.
Bọn lính viễn chinh Pháp đã chiếm nhiều căn cứ ở bờ nam sông Hương. Cuộc chiến đấu giữa hai bên bắt đầu khá ác liệt. Mười ba chiến sĩ của ta đã chiếm sở lục lộ, bị chúng xối dầu đốt cháy, hy sinh một cách anh dũng. Mười ba anh em học sinh, trong đó có máu tuổi trẻ hoàng gia đã hy sinh để bảo vệ Huế! Chúng chiếm nhà hàng “Morin Pières”. Bộ đội ta còn giữ tòa Khâm cũ. Từ một khe tường nứt, tôi nhìn qua sân “Morin”, còn đầy xác chết của tụi Pháp, mùi máu mùi thịt người sặc tanh. Trên đôi bờ sông Hương, quạ đâu về kêu quang quác, bay đen cả trời.
Cả gia đình của tôi còn ở trong thành nội; sợ Mừng lo, tôi cứ truyền đi một tin đồn, tên đại tá “Cốt” chỉ huy của quân đội Pháp đã bị bộ đội ta bắt được, bị trói vào một cột đình. Chiều nay bộ đội ta có chủ trương đưa súng thần công lên mặt thành bắn qua “Morin”. Mừng vừa sinh xong, chưa thật “lên cạn”, tôi sợ Mừng đòi đi xem bắn súng thần công, tôi dọa: đại bác từ thuở chúa Nguyễn, chúa Sãi, chúa Thượng, xọc xạch như răng bà già, nó tụt hậu một cái, khi không chết vô duyên! Đùa vậy thôi chứ tôi biết Mừng đâu có đi. Cảnh nhà tôi vắng tanh.
Mấy khẩu đại bác của Tây giúp cho nhà Nguyễn đã được “phong thần”, vừa ho vừa khạc, làm chi nên chuyện. Thằng con đầu từ khi súng nổ đã theo làm liên lạc cho một chú nào rồi, chẳng thấy mặt mũi đâu cả! Người công dân nhỏ của chúng tôi khóc cả ngày; giặt tã lót, cơm nước cả nhà, một mình Mừng lo toan tất cả! Mừng sinh con “so” mà bà con chị em không ai đến hỏi thăm, tôi biết Mừng nghĩ đến mẹ, muốn chặn nước mắt, không sao ngăn nổi!
Từ khi hai bên nổ súng, tôi say mê công tác tuyên truyền. Tôi phải bám “thần công”, chứng kiến tận mắt, kịp thời sáng tác vài câu ca dao đưa vào "loa". Đại bác thần công là một cỗ xe có bánh, xúm nhau đẩy, cuối cùng cũng hè nhau kéo lên tận mặt thành trước cửa Thượng Tứ, xê xế ngang nhà hàng Morin, nơi lính Pháp đang đóng.
Sợ thần công nổ loạn xạ, sợ nổ tụt hậu, tôi chỉ đứng xa nhìn, cũng chả hiểu mấy ông du kích ta nhét đạn, châm ngòi ra sao. Canon đi thẳng, nhưng chỉ rơi vài cái tõm tõm trên mặt nước sông Hương. Mà tiếng vỗ tay hoan hô còn nghe “dòn" hơn đạn Pháp!
Mừng hỏi tôi: các ngài Thần Công đã lâm trận chưa? Sao chẳng thấy ho hen gì hết? Tôi cười đáp: Tụt hậu cả rồi
Mừng lại hỏi: Còn thằng Đại tá Cốt?
− Nó cũng tuột mất rồi.
− Sao lại để nó tuột?
− Nào có ai bắt được nó đâu, mà bảo nó chả tuột?
− Chi lạ rứa?
Tôi lại cho Mừng biết có tin đồn: ở trường dòng Pellerin bộ đội mình chiếm ở tầng dưới, dồn tất cả chúng nó lên lầu lấy rơm và ớt cay đốt chúng.
− Chúng nó chết cháy cả rồi chứ? - Mừng hồn nhiên hỏi.
− Mình xông khói, ớt muối làm cho chúng sặc, chảy cả nước mắt nước mũi, không thấy đường nào mà đi, thế là ta nhào lên tóm… lần từng đứa một.
Mừng cười, ôm bụng mà cười và kêu:
− Trời ơi! Đánh giặc kiểu lạ đời, cười đau thắt cả bụng.
Rồi tôi phải kể thật khi ta xông lên lầu chẳng có mống nào hết. Mừng lại càng ôm bụng cười.
Lính Pháp tiếp viện sắp đổ bộ vào cửa Thuận An. Chúng từ trong Huế nống ra, ngoài xáp vào, mình sẽ bị kẹt ở giữa. Không thể trì hoãn. Chúng tôi phải bồng bế nhau đi. Mừng vừa sinh xong chưa đầy tháng, thế mà tay bồng con thơ, tay dắt con bé Nguyệt. Tôi nhớ rõ hành trang của chúng tôi, chỉ có chiếc xe nôi mây, gói gọn ít quần áo cả gia đình, một cây đàn tranh, một bức chân dung của Mừng khi mười bảy tuổi do một họa sĩ nổi tiếng vẽ, và một cuốn album.
Chúng tôi ra cửa An Hòa và đi đến ga Văn Xá, cứ đi về phía Bắc. Còn về phía Nam sông Hương, ở xóm Trường Cửi, người mẹ còn ở lại, cùng người anh trai, hai người em của Mừng với một khu vườn trù phú, những quả mít to sắp chín tới, hàng chục buồng cau, trầu… Chúng tôi không hiểu tình hình sẽ ra sao. Tôi tránh không dám nhìn mặt Mừng, có thể Mừng đang khóc, khóc vì lẽ gì? Khóc vì những cảnh gian truân mà chúng tôi đang dấn bước, dầu chúng tôi đã là những kẻ chiến thắng trên mặt trận “tình yêu”!
Tôi đã đoán nhầm, thực ra Mừng đã không có một giọt nước mắt, không buồn không đau, Mừng chỉ có lo và tủi! Trong lúc này, giá có người mẹ bên cạnh thì đã có những nụ cười, những giọt nước mắt đẹp và nhiều hạnh phúc!
Chúng tôi ở Văn Xá được mươi hôm thì anh Lương, em ruột người bạn thân của tôi cho hay, từ ngày súng nổ ở Huế, mẹ của Mừng đã lên tránh ở lăng Tự Đức.
Tôi dịu dàng nói với Mừng: Đi tìm mẹ đi! Thấy vẻ lưỡng lự của Mừng tôi nói thêm: “Từ ngày Chương Dương ra đời chưa được bà ẵm”, anh Lương lấy cơ hội, đề nghị sẵn có chiếc đò nhỏ của anh, anh sẽ chở cả nhà lên lăng Tự Đức luôn thể. Em ruột của bạn tôi, sao mà hết lòng giúp đỡ chúng tôi đến thế? Thấy anh nhiệt tình, nên anh bảo gì chúng tôi cũng nghe. Thế là một mình anh Lương đã đưa chúng tôi đến lăng, chúng tôi bước lên bến Benvede, anh Lương từ biệt, hẹn sẽ gặp lại! Chắc ý anh Lương cũng không muốn có mặt trong cái buổi đoàn tụ có vẻ "cấn cái" này. Chúng tôi vừa đến cửa ngoài lăng, chợt thấy chúng tôi các cô Phụng, Trực reo lên “cô Mừng, cô Mừng”, cô chạy ra đỡ lấy cháu Dương ẵm, cô chạy vào báo tin với mẹ Mừng. Tôi đợi bóng bà bước ra, nhưng cửa vẫn không mở, chỉ hé ra cho Mừng và hai con bước vào, rồi cửa lại đóng kín. Người ta vẫn để tôi ngồi một mình ở gian ngoài với một ông “hoạn già” nhăn nheo, móm mém. Triều đại Tự Đức huy hoàng đã đi qua, đã tàn lụi hết rồi, ông hoạn còn đâu xiêm y rực rỡ? Ôi! Chỉ có thế thôi ư? Một manh áo, một vành khăn đã bạc màu thời gian còn sót lại để che một tấm thân gầy “ái nam ái nữ” mà thần chết đã tha cho! Ông hoạn quan nằm không cựa quậy trên một tấm ván, và bên một giường khác đối diện, dễ chính là nơi tôi sẽ ghé thân trong thời gian gia đình tôi nấn ná ở lại đây?
Nhưng sau người ta đưa ông già đó đến một phòng bên cạnh, còn cái gian phòng này sửa sang lại giường ghế đón tôi! Tôi xưa nay vẫn thế: ở đâu ngả lưng được là tôi nằm, sang hèn chi tôi chẳng lấy làm điều. Mừng cũng được cái tính rất xuề xòa như vậy. Chúng tôi ở đâu, có được sống bên nhau, đó là hạnh phúc! Không cần đòi hỏi gì nhiều.
 Hàng ngày Mừng vẫn hái những đóa hoa rừng làm đẹp cho gian phòng. Mừng kể cho tôi nghe bà ngoại đùa và ẵm bé Dương.
Tôi tưởng tượng như có lần như nghe tiếng Mừng nói xẵng với mẹ… Có phải trước đây mạ “giam” con, giờ mạ lại giam anh ấy… Tôi biết là tôi đang bị giam lỏng. Những hôm chờ cho Dương ngủ say, Mừng dẫn tôi dạo quanh rừng thông ở làng. Không ở đâu nước trời thiên nhiên hòa với đôi bàn tay nhân tạo như ở đây! Và không nơi nào như ở đây “cái sống” “cái chết”, càng quyện với nhau. Hương khói, bàn thờ, cái chết, phảng phất, sát kề bên chỗ ngồi đọc sách, câu cá, soi gương, xem hát bình thơ.
Chúng tôi ngồi đây nghe tiếng thông reo quyện vào gió, bên nhau hàng giờ… Và khi sao mọc, hoa rơi, Mừng chẳng để tôi một mình lẻ loi.
Từ lâu, Mừng chưa có được một tấm áo mới, cái áo đen dài cũ, đã nhạt màu bùn, nhưng khi đi qua Lâu Kính, Mừng không thể, không giữ tay tôi lại, ngừng lại ở đây, lâu một chút… trước tấm gương lớn đã mờ nét thủy, Mừng quen tay sửa mái tóc mai… Thiếu, nghèo, cũng phải diêm dúa chứ! Cũng như khi đi qua cầu, Mừng không thể, trong chốc lát, không soi mình xuống dòng nước…
Từ hôm vào lăng đến nay, mẹ Mừng vẫn chưa chịu giáp mặt tôi, mẹ còn giận tôi đến thế ư? Mẹ càng giận tôi, càng làm cho Mừng thêm đau khổ!
Ngày lại ngày, chúng tôi cầm tay nhau thơ thẩn dưới hàng thông, ngập ngừng Mừng hỏi: Trong hoàn cảnh này tại sao anh không làm thơ? Gió thổi dọc hành lang như thổi vào giữa lòng Mừng, phảng phất mùi mít chín. Không còn nhớ mình đang ở giữa cuộc chiến tranh. Ngày mai rồi ngày kia, chồng con mình sẽ ở đâu? Đâu phải Mừng sợ súng đạn, Mừng chỉ sợ chia ly hay tan vỡ…
Tôi thẩn thơ nhìn Mừng bước đến bên cây đàn tranh treo bên cửa sổ, tay trái vịn vào đàn, ngón trỏ gảy từng dây: Họ, xự, xàng, xê, cống, ở nốt trầm, đến các nốt trung, cao, Mừng như dồn đau uất rạch một đường tơ, hai mắt Mừng ướt lệ!
Tôi nâng cây đàn, dìu Mừng ngồi bên cửa sổ… Mừng im lặng ngồi phủi bụi bậm, lên dây, dạo mở đầu, ngập ngừng… Mừng đàn bài “phú lục”, tôi biết Mừng đàn bài này là bài người mẹ thích nhất. Bên kia tường người mẹ lại được nghe con đàn, cái khúc đàn xưa của người đã mất, bản đàn với tất cả luyến láy của người ngày xưa! Người cha tuyệt vời, người cha thi sĩ, người cha nghệ sĩ, bây giờ người đang ở nơi đâu? Cha có biết hết tất cả nỗi niềm đau xót của con, và của mẹ nữa?
Bài phú lục đang nửa chừng thì người bạn, anh Lương, là người đã đưa chúng tôi đên sở lăng này, trở lại làm chúng tôi giật mình… Anh Lương bình tĩnh cho chúng tôi hay rằng: bọn lính Pháp đổ bộ ở cửa biển Thuận An, đang tiến tới thành phố Huế, anh ấy đề nghị chúng tôi phải trở lại vùng phía Bắc sông Hương, ở đó có việc gì ta sẽ tìm đường đi ra Nghệ An, ở trên này chúng tôi sẽ bị kẹt…
Một ý kiến rất hay, vừa tránh cho chúng tôi khỏi bị giặc bao vây, vừa cứu cho tôi khỏi một tình thế  khó chịu, khó xử, ở nơi lăng vua này. Rốn lại nơi đây, chắc Mừng cũng chẳng muốn, trước sau tôi đối với bà, chẳng một chút tự ái, một mảy may oán giận. Tôi yêu Mừng, làm sao tôi đối với người sinh ra Mừng khác được? Tôi bứt rứt khổ sở, đến giờ phút này chúng tôi sắp ra đi… Tôi toan xô cửa vào quỳ trước mặt bà, nhưng người ngăn lại chính là Mừng! Mừng ra lệnh cho tôi: “Anh xuống bến trước đi!” Tôi đành cùng với anh Lương đẩy chiếc xe nôi xuống bến trước.
Trong gian phòng kia đang diễn ra buổi chia ly của Mừng và mẹ, biết đâu: đó là sự vĩnh biệt cuối cùng của hai mẹ con Mừng trên cõi đời!
Sau này Mừng thuật lại cho tôi nghe cái buổi chia ly não nuột cuối cùng đó. Trong nước mắt, Mừng bậm môi, không cho tiếng khóc bật ra. “Ừ, cho là mẹ không hiểu gì về văn thơ, mẹ cũng chả quý gì cái con người được gọi là nhà thơ; nhưng đối với đứa con yêu quý nhất, lẽ nào có thể hờ hững, ruồng rẫy cái giọt máu mà mẹ đã sinh ra, và cái giọt máu đó nó đang mang trong mình. Giá mà mẹ cứ giận một bề, nhưng mỗi khi mẹ nhìn cháu, em càng giận, muốn giật nó khỏi tay mẹ… Nhưng làm sao em có thể xử sự như thế được? Hai mắt tuôn xối xả, nghẹn lời, em muốn gào to lên: Vì ai, vì ai? Vì ta ư? Vì mẹ! Vì xã hội phong kiến? Thôi nói cho cùng, tất cả vì cuộc đời anh! Vì sự nghiệp thơ văn của anh! Đó mới thật là cốt lõi, vì tình yêu chân chính nhất!” – “Anh cũng vậy, nếu chẳng thật lòng yêu em, thì làm sao anh có thể yêu mẹ được?” Anh yêu! Anh yêu vô cùng! Tự bao giờ nào anh có biết, yêu em, anh yêu cả Huế này, hay nói trái lại vì anh yêu Huế, từng chân tơ kẽ tóc anh yêu thương tất cả đời em!
Em biết không? Anh rời khỏi lăng Tự Đức mà lòng anh như đứt đoạn… Cái chuyện phải rời khỏi cái cảnh núi sông tuyệt đẹp đó, mà chẳng biết bao giờ trở lại nữa, làm sao khỏi chết lạnh từng tế bào của hồn mình! Khi anh đến “Benvêde” (cái bến sông đẹp tuyệt vời này) anh ngồi để chờ em và các con! Ôi con bé Nguyệt, có đôi mắt lành, đen lạ lùng, mới lên 6 lên 7 tuổi lúc nào cũng không rời khỏi tay em. Với đôi chân bé nhỏ Nguyệt đã lội bao suối, trèo bao đèo, và bao giờ cũng níu lấy chéo áo của em mà đi… Có lần Nguyệt đi hơi xa, hai chân bé nhỏ mỏi dừ, Nguyệt nắm lấy bàn tay chút xíu của em mà nói: “Cái thằng chó Dương này, bao giờ cũng được ẵm bế trên tay, còn chị thì hai chân không buồn bước!”
Thấy tôi ngồi chờ trên một tảng đá ở “Benvêde” Mừng đến bên tôi, anh Lương, có lẽ cũng đọc được ý nghĩ của chúng tôi, đưa tay đỡ thằng Dương trên tay Mừng: “Chị đưa cháu tôi bế”, và gọi Nguyệt: “Đi theo chú, chú hái cho bao hoa đẹp nì… để cha mẹ ngồi nghỉ tý…”.
Mừng và tôi cùng ngồi lại tảng đá cao này. Nhìn lại trùng trùng đồi núi và thấy xa xa từng cửa Tam quan của “99 chư sơn”… có núi là có chùa… Lần đầu tiên được đi bên nhau, đâu nghe có cảnh chùa đẹp là chúng tôi đến… Chùa Viên Thông, chùa Trà Am, chùa Từ Hiếu, Trúc Lâm, Bảo Quốc, Tháp Thiên Mụ, v.v... Có nơi danh lam thắng cảnh nào mà chúng tôi không dắt nhau đi tới, có những vị hòa thượng rất sành thơ văn, dưới mái chùa, phảng phất hoa anh trảo, hoa ngọc lan, đọc bình thơ. Những bữa cơm đạm bạc, đàm đạo với nhau về sự đời!
Có thể nói chúng tôi đã sống, đã yêu nhau trong tiếng chuông chùa “nện không”, không phải là tiếng chuông nhà thờ giục giã, sôi sục, mà là từng tiếng ngân nga, thăm thẳm, man mác…
Tôi nhắc lại với Mừng: Em có nhớ đêm Quy Lai, ra đi trong tiếng chuông chùa Diệu Đế, lúc về đến bến đò Trường Súng em sắp bước lên bờ là tiếng chuông chùa Bảo Quốc!
Mừng mỉm cười nói với tôi:
− Hôm sớm bên tai em chỉ có tiếng chuông chùa… Nhớ anh, yêu anh cũng trong tiếng chuông chùa! Cả cái hôm trên người em đầy những lằn roi, nước mắt dàn dụa, bên tai một mình cũng chỉ có tiếng chuông chùa, những hồi chuông chùa ấy đã kết tinh lại một tòa sen mà anh và em đã tới được cái cõi “Nát bàn” mà dưới cõi đời này biết bao chúng sinh, biết bao sư vãi hằng mong ước!
Tôi bâng khuâng, Mừng cầm mạnh tay tôi: “Kìa, anh xem khúc sông này một chút! Sông Hương đâu chỉ là: Kim Luông, Đập Đá, Gia Hội, Đông Ba, Cồn Hến anh nhỉ? Sông Hương chính là nơi đây…” Tôi và Mừng nhìn xuống khúc sông Hương trước mặt đẹp lạ lùng… Đôi mắt Mừng đắm đuối…
Bỗng một tiếng khóc đòi mẹ… xa xa… Thôi chúng ta  xuống thuyền các con đang chờ… Mừng chùi vội những giọt nước mắt… Khi xuống bến, anh Lương cũng như muốn chiều Mừng, chần chừ một hồi lâu, mới đẩy thuyền rời bến… Anh nói:
− Chắc anh chị cũng biết, đoạn này lên một chút qua bên kia sông là lăng vua Minh Mạng…
Và cứ ngược mãi lên phía Tuần tận Dương Mông là lăng Đức Cao Hoàng nằm giữa trời, Mừng ngẩng nhìn anh tưởng như thầm ngỏ một lời biết ơn!... Anh Lương là một kỹ sư lục lộ, anh ruột là anh Kỷ, một “quan hai” hàng hải dân dụng Pháp. Chúng tôi thường gặp nhau ở trên sông Hương, Kỷ không biết nay trôi dạt nơi đâu. Còn Lương vẫn theo cùng chúng tôi, nhất là trong gian khổ! Anh Lương sống giản dị, có tài câu cá, chèo đò… Tôi tuy quen nhưng không hiểu nhà cửa của anh ở đâu, chỉ biết trong lúc chúng tôi thiếu thốn, khó khăn là có mặt anh, hết lòng giúp đỡ…
Anh thấy chúng tôi ở lăng Tự Đức rất nguy hiểm, kẻ thù bất ngờ lùng đến, cho nên đã đưa thuyền chở gia đình chúng tôi về Văn Xá, trong lòng tôi đoán như vậy, rất xúc động với tấm lòng bạn bè với nhau… Trở về lại Văn Xá cũng là điều bất đắc dĩ thôi… Trước khi chiến tranh nổ ra, ở hai bên, hầu hết anh chị em văn nghệ sĩ ở cơ quan tuyên truyền đã được chuyển dần ra Nghệ An, Thanh Hóa. Anh Bửu Tiến, anh Phan Khoan còn nấn ná ở lại cùng tôi, nhưng rồi anh Bửu Tiến cũng lại đi bộ ra Quảng Bình, còn anh Phan Khoan, theo đề nghị cuả anh ấy xin được về với gia đình ở trong thành Huế. Bửu Tiến, con quan của triều đình Huế, dòng hoàng phái, trí thức, không chịu về với gia đình; tôi rất mến thái độ dũng cảm của anh ấy; còn với anh Phan Khoan tôi cũng thông cảm… Còn chúng tôi cứ chần chừ, đi ra khu 4 không muốn, mà ở lại đây, không biết sẽ ra sao? Anh Tố Hữu, từ trước chiến tranh bùng nổ đã được điều ra trung ương công tác. Anh Nguyễn Chí Thanh vẫn ở đây phụ trách mặt trận quân sự, cơ quan đã rút vào "bí mật". Có kẻ nói với tôi có gặp anh Thanh vẫn đi xe “jeep” ở đường số 1 từ Phú Lộc đến Mỹ Chánh đi ra Huế, cũng có kẻ bảo là anh cải trang đội nón lá miệng ngậm cái khăn che nửa mặt ngồi ở các quán nước bên đường… Anh Hoàng Thượng Khanh là người ở cơ quan tuyên truyền thường đi lại với tôi, đến nay vẫn không thấy? Hôm từ lăng Tự Đức trở về Văn Xá là cốt chờ mong được liên lạc với đoàn thể.
Vừa rồi chuyến đi lên lăng Tự Đức, giặc Pháp ít nhiều còn ở thế “co lại” nhưng khi từ lăng Tự Đức trở về này, chúng tôi đã nghe nhiều loạt súng ở xa vọng lại… Có những loạt súng ở ven sông dội tới, trên trời lại xuất hiện máy bay “bà già” do thám của giặc Pháp.
Trong mưa lâm thâm, gió thổi rét, Chương Dương trong lòng mẹ, môi tái xanh, Nguyệt nép vào nách Mừng, chiếc đò của anh Lương lại cứ như chòng chành, có khi như muốn sát vào bờ chĩa mũi thuyền vào một nơi nào đó. Mừng lo ngại, có ý lo sợ nhìn tôi. Chúng tôi nghĩ bụng: xin cứ phó mặc cho trời đất…
Dầu sao chúng tôi cũng đã về đến Văn Xá, khi trời còn sớm. Đến nay tôi còn nhớ mãi cái hình ảnh… đoàn quân xơ xác trở về… Vẫn là Mừng ẵm cậu bé tiểu công dân, Nguyệt vẫn níu chéo áo Mừng chạy theo, anh Lương đẩy cái xe nôi, trên xe vẫn mấy thứ: cây đàn tranh, cuốn an-bom, và bức tranh ấy… Còn tôi đi sau cùng, tay xách một đãy túi áo quần… chúng tôi rời biệt quê hương, con sông của mình như thế… Sau này, nhớ lại cảnh này, Mừng nói với tôi: “Hôm em rời mẹ, rời Huế, rời con sông Hương có bến đò Thừa Phủ… ruột đau như đứt từng khúc…”
Trong xóm thấy chúng tôi trở về, bà con vui mừng, các cô gái dành nhau ẵm Chương Dương, các em bé bằng tuổi Nguyệt soạn đồ chơi, nào búp bê bằng vải vụn, những xoong nồi chút xíu, bán hàng… Chúng tôi cảm nhận lòng thương yêu của đồng bào, rồi đây con đường đi với cách mạng còn lắm gian nguy, nhưng sao lòng chúng tôi thanh thản lạ thường!
Thật ra, suýt chút nữa, con đò của chúng tôi từ lăng Tự Đức trở về, không hướng về hướng sao Bắc Đẩu… mà có thể chỉ bạt vài mái chèo, con đò đã dạt vào một bến nào khác…
Anh Lương mà đến nay, đôi khi nhớ tới, tôi vẫn không biết đánh giá thế nào cho đúng. Từ khi anh đến, đưa đón chúng tôi, đôi khi chúng tôi bất chợt nhìn thấy ánh mắt anh có vẻ gì khang khác… Về Văn Xá, trong khi ngồi chơi, nước thuốc, quà bánh, chúng tôi vẫn như muốn chờ anh nói, hỏi điều gì…
Mãi đến khi chúng tôi đi ra cánh đồng, anh đi theo nhìn vào mắt tôi mà nói:
− Bà Từ Cung đã về ở Tiềm Để, rồi ông Đốc Hy, bà Giáo Xuân, cũng đã trở về cả rồi, có người đã ra mắt đồng bào, tuyên bố này nọ. Pháp đã đổ bộ ở cửa Thuận An, chỉ vài ngày nữa thôi, chúng từ trong thành nống ra, từ dưới biển tiến lên, hai bên xáp lại với nhau… Bộ đội mình đã “chôn súng”, cán bộ bỏ chạy ra Vinh… Anh chị ở lại đây thế nào chúng cũng tóm được. Đối với anh là bạn thân của anh Kỷ tôi, tôi coi anh như anh ruột. Cách mạng không thắng được đâu! Có thân mình phải liệu trước, chị lại mới sinh, mà lại là người hoàng phái, anh lại là nhà thơ có tiếng tăm, Pháp nó sẽ trọng dụng mà…
Cái đề nghị  của anh ta đối với tôi quá bất ngờ, tôi cứ ngơ ngẩn nhìn anh. Cuối cùng tôi chợt nghĩ ra một câu hỏi:
− Thế từ đây về Huế, đồn nào bốt nào là của Pháp? Nhỡ chúng nó hỏi, biết làm thế nào mà trả lời?
Mắt Lương như sáng rực lên:
− Anh không lo!
Nói xong anh bèn lật vạt áo lên: một mảnh cờ bé bằng một hột ngô ba sắc dính vào nẹp áo trong.
– Anh chị có cái này đi đâu cũng lọt, cứ đưa ra là được đón tiếp tử tế…
Tôi bình tĩnh cám ơn anh, rồi đưa tay nhận cái hạt ngô ba sắc từ tay anh trao…
Rồi tôi có vẻ lưỡng lự nói:
− Bấy lâu nay anh có lòng giúp đỡ vợ chồng tôi, xin cám ơn! Nhưng thật tình chúng tôi không thể trở về.
Anh Lương chồm lên nói với tôi: Cách mạng sẽ thua thôi, tôi cam đoan với anh, “cái đầu” của tôi đấy!
Thế rồi từ ngoài đồng trở về, anh Lương đi rất nhanh, về tới nhà, anh chào Mừng, ôm hôn Chương Dương, từ biệt. Nhìn thái độ gấp gáp của anh, Mừng đưa mắt hỏi tôi, tôi mỉm cười không nói! Trong lòng nghĩ, có lẽ anh ta sợ mình tố giác, nên vội vàng thoát thân! Nhìn anh đi chúng tôi áy náy lạ thường!
Tối đến, Mừng gặng hỏi, tôi liền thuật đầu đuôi câu chuyện cho Mừng nghe. Mừng cứ cười một mình. Sau khi biết âm mưu của anh Lương, Mừng có vẻ lo sợ, giục tôi phải rời xóm này sớm, làm như chốc nữa Tây sẽ đến ngay đây, trói bắt chúng tôi, quẳng chúng tôi lên xe…
Thế là anh Lương, từ hôm đó, chúng tôi không bao giờ thấy mặt nữa! Khi đang viết mấy dòng này, không hiểu anh có còn ở Huế? Sống hay chết, hay đang ở tận một nơi xa xăm nào! Nếu anh Lương còn sống, anh biết cho chúng tôi điều này… Anh khẳng định cách mạng sẽ thua! Nào tôi có bao giờ nghĩ đến cách mạng sẽ thắng hay bại? Chúng tôi tự nguyện đến với cách mạng, đến với những con người vì con người, một tình thương chia sẻ ngọt bùi, chúng tôi không bao giờ bỏ họ được!
Cũng có thể, anh Lương có phần nào thương quý chúng tôi, nhưng thực ra anh ấy “suy bụng ta ra bụng người”. Vả lại đồng bào thân quý của chúng tôi, chả mấy ai nghĩ như anh ấy cả. Mặc dầu tin đồn giặc sắp ập đến xóm chúng tôi ở. Có người ở Huế về dám nói chắc rằng, tại Thanh Thủy, tai họ nghe quân Pháp trong thành nống ra, ở cửa Thuận, tiến lên, đã thổi kèn chào nhau rôm rả lắm… Vệ quốc đoàn sợ hai gọng kìm kẹp lại, bị kẹt không ra được, nên họ đã “lên xanh” cả rồi, những anh nào lạc mất đơn vị thì chôn súng vất áo mũ, sống lẫn với đồng bào. Trong xóm có cai  tổng X., có hai đứa con trước là công chức của Tây đánh hơi thấy tình hình… liền lục bằng cấp, sách chữ Pháp ra phơi phóng… Tuy tin đồn thế, mà đồng bào vẫn đêm đêm dưới ánh trăng giã gạo quân lương, các em gái 15 -17 vẫn gọi nhau í ới, gánh gạo tiếp tế cho vệ quốc đoàn.
Thanh niên vẫn tập “đi đều bước”. Tôi vẫn làm những câu ca dao viết lên giấy, dán lên vách đình làng, bên cây đa, giếng nước. Ở đâu tụ tập đông người là tôi đọc thơ yêu nước, động viên bà con hăng hái giết giặc…
Một hôm được lệnh, không biết lệnh từ đâu ra các tự vệ phải tập hợp ở đình làng, bà con vừa lo, vừa mừng…
Anh chị em đã đến đầy đủ vây quanh một người ra vẻ cấp trên, mặc áo vệ quốc đoàn, bên hông đeo khẩu súng “côn”. Không dài lời, vị chỉ huy ra lệnh: nữ tự vệ về lo gạo, muối cho vô bao bì, chờ anh em về nhận, tự vệ nam ở lại, người nào có súng thì phải kiểm kê lại có bao nhiêu đạn, không có súng thì cũng có dao phay, rựa, thật sắc bén, lựu đạn…
Anh chỉ huy chỉ tay phía bên phải gốc mít:
− Ai quyết tử thì đi ra phía bên phải gốc mít, còn ai sợ thì đứng tại chỗ! Chưa thấy bóng dáng thằng Tây mà đã chạy, chôn súng rồi. Tôi nói anh em có nghe không? Ai muốn chết cho đất nước thì đứng qua phải gốc mít này.
Chẳng ai nhúc nhích.
Thật ra, anh em tự vệ chưa thấy hiểu hết ý của anh chỉ huy nên hỏi lại: “Đã đành là quyết tử nhưng quyết tử cho ai? Ở đâu?”
Anh chỉ huy lại hét to: “Rụt cổ lại, rồi sao?”
Một ông độ 50 tuổi, lưng thắt sợi dây bò trên tay cầm cái mác, đứng ra mỉm cười đi về phía tay phải của gốc mít nói:
− Bầy tui không sợ đâu, không sợ cái chết thì sợ chi cái thằng Tây cướp nước? Có điều mặt trận ở chỗ mô, tôi đã từng gánh hai bó rơm không, lại đùm một lon ớt bột, xông vô tận trường “Giòng” cùng bà con đốt lên un khói… Chúng nó ở trên lầu chẳng nghe tiếng hắc xì hơi… Cũng chẳng có tiếng súng bắn xuống…
Anh chỉ huy bật cười…
− Có đứa nào trên trường Giòng mô mà bảo nó hắc xì hơi...
Cả đám tự vệ, bà con đứng quanh đó cười rúc rích, anh chỉ huy đợi cho họ cười thả sức, mới nghiêm chỉnh hỏi:
− Bây giờ có giặc thật, có đánh không? Hay là chạy?
Lại thêm mấy anh thanh niên đi về gốc mít. Anh chỉ huy nhìn đồng hồ… Mãi sau lại có một người, thêm hai người, thế là cả mười hai người đi về phía gốc mít.
Anh chỉ huy hô: Ai biết hát “Đoàn giải phóng quân?” hai ba nào!
“Đoàn giải phóng quân một lòng ra đi
Là có mong chi đâu ngày trở về
Ra đi, ra đi, theo hồn sông núi
Ra đi, ra đi thà chết chớ lui…”
Một điệp khúc hào hùng làm cho bà con rơm rớm nước mắt!
Lại một giọng hô to: “Thôi!”. Anh chỉ huy nhìn vào bác già 50 tuổi xung phong trước tiên:
− Tôi xin giao chức tiểu đội trưởng, bác nhận chứ?
Bác ta liền ra khỏi hàng, đứng lên đầu hô: “Bên phải quay!”. Anh chỉ huy hét: Tất cả vào xóm, mang được bao nhiêu tùy sức, nửa giờ sau có liên lạc dẫn lên xanh. Anh quay lại nói với tôi: “Nhà thơ xin hãy chờ tại chỗ, đúng một tuần, kể từ ngày hôm nay, sẽ có liên lạc đón”.
Sáng hôm ấy, tôi vừa buồn lại vừa vui, về thuật lại quang cảnh vừa qua, Mừng nghe rất cảm động! Người chỉ huy đó tôi chưa bao giờ gặp, không quen… Nhưng tôi rất tin ở những lời anh ấy nói, tôi nghĩ thầm, đúng là người của đoàn thể!
Ngày nào, đêm nào gần đến ngày hẹn, chúng tôi cũng mỏi mắt chờ liên lạc. Hôm nay là ngày thứ tám, sốt ruột tôi nói với Mừng, nghe có người ở trong xóm nói: có người ra Phong Lai Nịu, Phong Lai Hà, tới chợ gặp mấy anh cán bộ của mình, cả cái anh bộ đội đứng đầu (tôi đoán, có lẽ là anh Trần Chí Hiền chăng). Tôi định ra chợ xem có gặp ai không!
Cũng như tôi, từ ngày có tiếng súng nổ giữa hai bên, không một lần nào Mừng bàn bạc xem ai sẽ thắng… Chúng tôi chỉ biết một điều là ăn ở với nhau sao cho có thủy có chung... Xa Huế một ngày, cách Huế một tấc Mừng như đứt ruột, nhưng hễ có ai bảo “thôi về lại Huế đi” thì Mừng chỉ lắc đầu. Ở xóm Trường Cửi, vây quanh cái vườn của gia đình Mừng là những người nghèo, sống bằng những gánh củi, hay những gánh lá thông khô, đến mùa thuế khóa Mừng đã tận mắt nhìn một người đàn ông bị treo cổ, vì không có tiền đóng thuế thân; gia đình Mừng là dòng họ nhà vua, Tây cho miễn thuế. Gần bên nách vườn Mừng ở là chùa Linh Quang, chính tay Mừng đem tờ khế vay tiền của vị sư trụ trì tên là ông Phúc Hậu, cho vay lãi 3 phân.
Ngày 14 tháng 7 mỗi năm Tết độc lập của Tây, Mừng đi xem lễ, tận mắt thấy những cây roi da của những tay sai của giặc Pháp, gọi là Cu-lít quất từ trên đầu xuống chân những bà con nông thôn ngơ ngẩn đứng xem thiếu trật tự…
Những hình ảnh đó đã ăn sâu vào Mừng, cô bé 13 -14 tuổi, nhà lại ở gần vườn cụ Phan Bội Châu, có hôm Mừng đòi ra thăm cụ Phan, mẹ Mừng hoảng hồn: “Mày muốn tù rục xương à!”
Vì thế mà hôm nay Mừng bảo với tôi: Về nơi ấy có ở nhà vàng em cũng không chịu!
Không đợi được người liên lạc mà cái ông chỉ huy hẹn, tôi bàn với Mừng phải đi tìm…
Mặt trời lên độ cây sào, rạng rỡ như một người con gái mười bảy phấn son, áo mớ ba mớ bảy… Nhưng mới ló mặt được một lúc, thì lại âm u, một luồng gió lạnh ùn ùn thổi tới. Trên mình mặc một áo vải mỏng, với cái quần đùi lao vào trong cát, hôm nay tôi mới nếm mùi, mới biết thế nào là cơn rét lộc tháng ba. Giữa trưa, trời mờ mịt, cồn cát cao như những mái nhà, lần đầu tiên trong đời tôi mới biết thế nào là trận gió cát; đi, hai mắt phải nhắm nghiền, gặp được một mô đất, một lùm cây, lại ngồi nghỉ, tránh gió… Đi suốt một ngày, mà chỉ được hơn mười cây số, trời nhá nhem tối, may quá, có một xóm nhà, tôi liền bước vào một túp lều, le lói một ánh đèn, một bà mẹ, hoảng hốt, đứng sững nhìn tôi, hồi lâu thấy tôi cóng rét mẹ bảo:
− Ngồi gần vào bếp đây, để mẹ cho củi thêm, hơ tay cho ấm!
Mẹ đoán là tôi đang đói, lấy một củ sắn dài lùi vô trong bếp… Mẹ kể cảnh nhà, có hai thằng con trai cỡ bằng tôi đã “lên xanh” đến hơn tháng, mà chẳng có tin tức gì của tụi nó…
Tây nó chưa đến, nhưng ban đêm, nghe ai động rèm cũng hết hồn! Mẹ lót một ổ rơm cho tôi ngủ, cũng là lần đầu, một nhà thơ như tôi được ngủ ổ rơm. Cả ngày đi, chống chọi với gió cát, đặt mình xuống là không hay biết gì, ngủ thẳng một lèo. Mẹ đánh thức tôi khi gà mới bắt đầu gáy sáng, mẹ đã lùi sẵn một củ sắn nóng hổi thơm phức, một bát nước chè xanh! Cả đêm mẹ không ngủ, hẳn là mẹ thức canh giấc ngủ cho tôi!
Mẹ lục tìm trên bàn thờ, hai tay nâng cuốn Kiều, mẹ nhắm mắt, khấn thầm hồi lâu, ngón tay trỏ mẹ chỉ vào một câu, mẹ bảo: Con đọc đi cho mẹ, xem cô Kiều bảo ban mẹ cái gì?
Tôi hỏi mẹ, thế mẹ khấn điều gì? Mẹ đáp: Khấn gì thì con sẽ biết!
Tôi đọc:
Xót con lòng nặng chì chì
Trước yên ông đã nằng nì thấp cao…
Mẹ lại giục tôi đọc tiếp đi…
Chút thân yếu liễu tơ đào
Rớp nhà nên nỗi mắc vào tôi ngươi
Từ đây góc bể bên trời
Nắng mưa thui thủi quê người: một thân…
Mẹ khóc khi tôi đọc câu cuối, Nắng mưa thui thủi quê người một thân… tự nhiên tôi cũng không cầm được nước mắt! Mẹ nhìn trìu mến, tôi gạt nước mắt, cố lấy lại bình tĩnh:
− Chắc cụ mình (Bác Hồ) sắp thương lượng với Pháp… Cụ mình nói thắng là thắng, cấm có sai!
Sáng ấy tôi đã tìm ra được chợ Phong Lai. Hơn tháng trời tôi cứ ngồi chết lạnh một nơi, chờ mong, trông, ngóng…
Tới đây, không khí khác hẳn, gặp rất nhiều người quen, trong các quán, anh em ăn uống, tôi đã gặp anh Trần Chí Hiền, anh mừng rỡ, đưa đi ăn cháo “bánh canh”. Tôi hỏi nhỏ tình hình, anh ghé vào tai tôi nói:
− Anh Nguyễn Chí Thanh, anh Nguyễn Sơn đang còn ở đây, cả anh Hoàng Anh nữa!
− Có phải bộ đội chôn súng không?
Anh đáp: Có, chôn…
− Nhưng anh Hà Văn Lâu, anh Trần Quý Hai vừa nhổ đồn Đất Đỏ, bắt tù binh Pháp,  mấy chú bé liên lạc nghe tin, vứt dép lên trời, ôm nhau cười đã!
Tôi lại hỏi:
− Có phải nhiều xã, cán bộ mang ấn tín chạy vọt ra Vinh rồi không?
− Có cả, có, nhưng anh Nguyễn Chí Thanh đang tập trung các cán bộ cơ sở ở khít sát đồn giặc, anh chị em đã thề bám chặt cơ sở, không ai chạy nữa.
Tôi nghe tin, mừng lắm; anh Trần Chí Hiền nói với tôi:
− Các anh đã bàn đưa anh chị các cháu cùng gia đình anh Phạm Doãn Điềm ra Vinh, cứ chờ, thôi gửi lời hỏi thăm chị Mừng…
Tôi trở về Văn Xá, thuật lại câu chuyện gặp bà mẹ ở cồn cát, gặp các anh ở chợ Phong Lai. Mừng không tỏ ra vui hay buồn. Mừng bảo:
− Anh ra Vinh thì cứ đi, còn em ở lại đây.
Tôi thấy thế rất lạ, tại sao Mừng thay đổi tính nết… chắc có chuyện gì đây…
Hồi lâu, Mừng thấy tôi buồn, không nói năng chi, liền báo cho tôi cái tin… Hải đi liên lạc đã bị Tây bắt giam tại lao Thừa Phủ!
− Trời! Thằng bé hơn mười tuổi mà chúng không tha à?
Bé Nguyệt mắt buồn thiu, cầm hai tay em Chương Dương…
Tôi an ủi Mừng, Hải con nít, biết gì mà làm chính trị, tụi nó giam vài hôm sẽ thả ra thôi!... Mừng vẫn thơ thẩn thở dài…
Ba hôm sau, anh Hoàng Thượng Khanh đã tìm chúng tôi báo tin, anh Phạm Doãn Điềm sẽ vào Đà Nẵng, anh chị chẳng phải đi đâu nữa. Tối nay sẽ có người đưa anh chị và các cháu lên chiến khu Hòa Mỹ.
Chương XVIII
“LÊN XANH”
Hôm đó, đường vượt qua để “lên xanh” có động, thành ra tôi đi trước, còn Mừng và các con sẽ ở lại, lên sau… Đường trơn, bấm chặt, thế mà vẫn cứ trượt lên trượt xuống, rất may chuyến đi trót lọt, qua bao đồn bót, mà chẳng bị chúng phát hiện, cuối cùng tôi đã đặt chân đến chiến khu Hòa Mỹ. Tôi còn phải ở tạm trạm gác ngoài chiến khu, có một hàng binh Nhật và thêm một tù binh Pháp.
Anh bạn Nhật, tôi không biết tên, người thấp, lưng hơi gù, mặt hiền khô, đôi mắt trong sáng, rất lễ độ, lâu lâu lại cầm chổi quét dọn, – tôi thấy nhà không có rác bẩn, hỏi anh bạn “sao anh cứ quét nhà mãi thế?”. Anh trả lời:
− Bác Hồ bảo là “phải luôn luôn quét rác”.
Bên mình anh ta luôn luôn có cây kiếm dài, nhưng anh ta hẳn không phải là một tay võ sĩ đạo, chẳng hề mổ bụng ai! Anh ta không phải là tù binh như tên Rơ-nê người Pháp mà là hàng binh tự nguyện tìm đến quân đội vệ quốc đoàn.
Tôi ăn gì, anh ăn nấy, có khoai ăn khoai, nằm đâu cũng được… anh tâm sự, chỉ muốn ở lại Việt Nam làm lính cụ Hồ, nhưng rồi cũng phải bị bắt về nước. Không hiểu hôm nay anh còn sống hay đã chết? Nếu tôi gặp lại anh, không chừng anh đã là một tỷ phú Nhật Bản.
Còn Rơ-nê người tù binh Pháp cao to, bắt được ở đồn Đất Đỏ, chờ chuyển ra Vinh, anh được cấp bộ đồ vải mới, để đưa ra vùng tự do, phòng khi gặp được những nhà báo nước ngoài phỏng vấn.
Mấy anh quân trang bở hơi tai với cái anh tù binh này, vì quân trang chỉ có may quần áo quân đội cỡ số 1, 2, 3, giờ đi cắt may cho một tên người Pháp quá cỡ mặc phải đúng mốt… Rơ-nê thích kể chuyện, kể đi kể lại về một cô em gái – “Em tôi xinh lắm, hôm em tôi tiễn tôi vào quân viễn chinh Pháp, nó ngây thơ lắm, nó tưởng tiễn anh nó đi ra biển hứng gió, nó có biết là tôi sống giữa bùn lầy, không bao giờ ra khỏi vùng thép gai. Em tôi nay chắc đã lấy chồng, có con rồi!”
Tôi thương hại cái thằng tù binh Pháp, nghĩ thầm, tao đoán được cái số phận của mày ra sao, khi cái nước Pháp nhà mày vẫn mãi mãi là tên thực dân đế quốc!
Chờ vài hôm, tôi tạm biệt cái anh hàng binh, với tên tù binh để vào trụ sở báo Giết Giặc - vì là cơ quan in ấn nên phải đóng sâu ở chiến khu 6.
Tôi tạm ở với Hoàng Thượng Khanh, anh này đến buồn cười, cứ đến ngày lễ hay chủ nhật, anh lôi bộ đồ tây ra vuốt vuốt cho thẳng nếp, mặc vào, đi lui đi tới trên bờ suối, hai tay khi thì thọc túi quần bên trái, khi thì bên phải! Ngắm nghía một mình, cười một mình. Gặp tôi, các anh Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Anh hỏi thăm Mừng và các cháu, có lẽ thấy tôi ăn mặc phong phanh các anh nói với bà Quế cán bộ hậu cần của cơ quan xuất mấy thước ka-ki màu be, đưa cho anh em quân trang may cho tôi một bộ. Anh em đo cắt may hai hôm, nhắn tôi đến mặc thử… Các anh nhìn tôi cười trìu mến: “Ồ, nếu có chị Mừng trên này, ngắm nhà thơ”.
Mặc bộ ka-ki mới, tôi ngược lên một bờ suối ít người qua lại ngồi nhớ Mừng…
Áo quần cuả người nữ sinh trường Đồng Khánh Huế, nay chỉ còn lại một bộ đồ đen bạc màu…
Lúc còn ở Huế, Mừng thường dạy đàn cho các bà mệnh phụ hay con gái các quan Thượng thư, tôi hay gặp Mừng ngồi trên xe nhà gọng đồng sáng choang, khi thì áo màu cổ đồng, quần xa-tanh trắng xếp “ba con”, hôm thì áo màu đọt chuối non v.v… thế mà chừ đây chỉ còn một bộ đồ vải thô đen…
Sau này, Mừng kể lại cho tôi biết cái đoạn nằm chờ ở xóm Rú… Mỗi lần nghe có tụi Tây đi cách xa xóm là mấy mẹ con niệm Phật. Mừng cười: Tuy là em bỏ ăn chay từ khi đi hoạt động phụ nữ, thế mà nhờ có niệm Phật nó cũng đỡ sợ phần nào…
Tôi nóng ruột, muốn đề nghị đi công tác một chuyến xem tình hình của Mừng ra sao!
Rất may định đề đạt ý kiến với các anh, thì có đoàn áp tải lên có thư Mừng:
“Ngày nào ba mẹ con cũng lên cồn nhìn “lên xanh”, không biết giờ này anh đang làm gì? Hải đã về được với anh chưa? Hay còn bị giam? Ăn ngày hai bữa sắn là chủ yếu. Xóm ấp cho bao nhiêu ăn bấy nhiêu. Chiều hoàng hôn xuống, ba mẹ con ra săn “bọ vừng”, Nguyệt có hôm cũng quật được vài con. Đem về nướng mấy mẹ con ăn với nhau, thịt thơm quá! Ngày nào, từ sáng sớm, ba mẹ con cũng dắt nhau ra ngoài rừng cắt chổi ràng ràng. Cái giường có những cái vạt cong queo nằm cấn lưng em không ngủ được. Thế là phải đi bứt chổi ràng lót dày mới êm lưng ngủ một mạch. Có ngày, ra ngoài rừng hái được một ít quả sim, cho Dương. Dương mừng quá! Nhìn Nguyệt ăn sim tím cả môi. Hôm nào nhà chú Hoạch nấu cháo tấm với củ khoai môn, hương bốc lên, em nhìn vào nồi cháo thèm quá! Em phải kéo chúng ra, cho chúng khỏi nhìn con chú Hoạch ăn. Thằng Dương khóc đòi ăn, em thương quá không sao chịu được! Anh đi 28 ngày rồi mà chưa có tin, ba mẹ con em đến bao giờ “lên xanh” được?”
Nhưng rồi Mừng cũng sắp “lên xanh” được với tôi. Tin này, anh Nguyễn Hồng, nhạc sĩ đem về. Ai nghe cũng mừng cho tôi! Nguyễn Hữu Chỉnh, Lê Khánh Căn, Ẩn, Mô, Khanh… mình đầy ghẻ ruồi, thân hình người nào người nấy lép như ve, nghe tin Mừng lên cũng mừng rối rít. Từ chiến khu 6 tôi ra tận Hòa Mỹ để đón Mừng và các con!
Tôi xuống “dốc bà Quế” tôi tưởng như trước mắt được gặp lại Mừng đang lên dốc. Tôi sợ gặp Mừng tôi sẽ rụng rời tay chân không đi được. Từ ngày chúng tôi trốn ra đi với nhau có thể nói chúng tôi lúc nào cũng ở cạnh nhau! Trong một chiếc thuyền, hay trong một ổ rơm, chúng tôi đều ở bên nhau, tay kề, đầu gối, khi nắng, khi mưa, khi no, khi đói, chúng tôi vẫn không rời nhau…
Nhưng từ ngày tôi tạm biệt Mừng đi lên chiến khu trước, kể đến hôm nay đã 30 ngày 30 đêm rồi chúng tôi xa nhau, không có nhau.
Từ sâu trên núi xanh, tôi vẫn nhìn về đường số Một và tự hỏi: “Những tên lính lê dương đã sục tới chưa?” Có đứa nào đã sục vào nhà em ở? Xóm em ở “tề” đã xuất hiện chưa? Chúng có cho em một giấc ngủ yên? Lại còn bữa cơm em ăn, con ăn, lại manh áo em mặc, con mặc… Tưởng như lúc nào anh cũng có thể mất em, mất con… không mất trong tay giặc thì cũng có thể mất trong cái đói, cái lạnh! Có những đêm anh không ngủ được, ra khỏi lều nhìn quanh chỉ thấy cây là cây. Nhìn lên, may ra mới thấy được “một con đường trở lên trời”. Cuối đường thăm thẳm chỉ còn thấy được vài ngôi sao! Trời xanh và hai vì sao như hai viên ngọc bích! Ôi! Một sự cô quạnh đầy hào quang. Càng nhìn lên các vì sao, càng thấy cô đơn lạnh lẽo. Và những đêm ùn ùn từng cơn gió – rừng tối đen một màu. Tiếng suối ào ào như đổ vào dưới chân lều. Những cây đổ từ bốn phía, bất thần có thể đè lên lúc nào đó…
Sau này, Mừng cho biết, cũng có những ngày, những đêm hãi hùng như thế: “Tiếng giày đinh như đã bước vào trước sân. Khi chúng đã bước xa rồi mà tưởng như chúng còn đứng đâu sau lưng mình. Mình cứ thu người lại, ngồi khơi que củi bên bếp lửa”.
“Lại có đêm dông, “mưa mô, gió nấy”, cứ phải dời đi, tránh chỗ động vào chỗ yên. Ai qua tưởng đang lách qua “bốt” giặc. Hải có trốn được không? Có tin rằng: con đã bị bịt mắt, bị bắn rồi. Sống khôn, chết thiêng con hãy phù hộ cho mợ…”
Gần nhau thì đất rung, trời sập cũng chả sợ. Xa nhau một chiếc lá rơi, một cái que động cũng giật mình sợ hãi. Tưởng lúc nào cũng có thể chết được, có thể mất nhau. Tưởng tượng cái lúc tiếng súng lặng yên về tìm nhau…
Thương cái thương, nhớ cái nhớ, tưởng tượng cái thương cái nhớ của người về mà bóng người xưa không thấy! Cầu Trời cầu Phật đã cho thương, cho nhớ, cho gối cho chăn, sao lại bày ra mưa ra bão?
Thật ra chúng tôi chỉ xa nhau không hơn một tháng trời, mà tưởng như nhiều năm tháng đã trôi qua!
Từ hôm qua, anh Hồng nhạc sĩ đã bảo là: hôm nay một chuyến gạo bí lên. Mừng đi theo chuyến đó, tôi cứ xôn xao ngồi đứng không yên…
Tôi tưởng như trước mặt, Mừng đang tiến vào cửa chiến khu. Vẫn là thế đấy. Mừng ẵm thằng Dương, Nguyệt níu chéo áo Mừng. Còn cái xe bốn bánh ấy ai sẽ đẩy giùm. Trên xe vẫn cái cuốn an-bom, bức tranh của nhà họa sĩ không biết sống chết đâu rồi… Và cái đàn tranh vẫn đủ phím dây. Tất cả những cái đó chỉ là chuyện trong mơ. Sự thật chỉ có một mình Mừng với Dương trên tay, đã tiến lên trước mặt tôi, Nguyệt đâu? Cây đàn tranh, cái bức tranh? Tất cả đâu rồi? Tôi chỉ đưa mắt hỏi. Mừng chỉ biết đáp lại bằng một cái nhìn khó hiểu. Cuối cùng như sau cuộc hành trình quá sức mình Mừng ngồi trệt xuống và chỉ biết khóc…
Chương XIX
EM LUYỆN CHO BAO CHÂU NGỌC SẼ VỀ VỚI CHỊ
Tặng người bạn thơ vong niên Nguyễn Lưu từ trời Paris đầy tuyết vẫn đêm ngày khắc khoải hướng về quê hương một tiếng hát đầy nhớ thương không đứt đoạn.
Lưu Trọng Lư.
Lên chiến khu tôi làm việc ở báo Giết Giặc. Mừng phụ trách kho bí. Cơ quan in báo phải đóng ở kín sâu trong rừng. Kho bí nơi Mừng làm việc ở lưng chừng núi, gần Hòa Mỹ, nơi tiếp xúc giữa chiến khu và đồng bằng.
Tuy làm việc hai nơi nhưng chúng tôi vẫn ở chung một lều trên cây. Có người gọi là một ổ uyên ương. Tôi gọi là “ổ ác là”. Chả hiểu sao tôi gọi vậy. Có lẽ là để nhớ lại cái thời thơ ấu, tôi theo mấy đứa trẻ trong xóm, trèo tận ngọn cây đa phá những ổ ác là, “phá” cho vui thế thôi. Khi tôi ở đồng bằng tôi học viết ca dao, chừ tôi ngồi trên lều cao, nhìn sao rơi làm thơ đánh giặc. Mừng đã từng là cô gái làm vườn, không sợ lao động, nhưng việc nhà nông cái gì cũng phải học. Học sàng học sảy, học chít khăn bao tóc cho khỏi bụi cám.
Tôi không hiểu do đâu, Mừng thích ứng rất nhanh với cuộc sống chiến khu. Tôi nhìn Mừng và nuốt cơm mốc với “nước ruốc” khuấy lỏng một cách ngon lành. Có lúc không có gạo, chỉ có sắn. Sắn “dính” một ít cơm, cúng tôi gọi là “sắn cõng cơm”. Tôi nhiều lần gặp Mừng, khi còn ở Huế, ngồi trên chiếc xe nhà bóng loáng. Bây giờ Mừng chỉ còn một bộ đồ áo đen cũ đã bạc màu, không biết Mừng có nhớ gì về những ngày ấy không? Nước da Mừng nay đã ngả màu xanh tàu lá chuối: “sốt rét” chả kiêng nể một ai. Vì nó, có cô gái đã điên. Mừng có cái gương trong túi, không dám giở ra soi, khi qua suối cũng ngại ngắm mình lâu.
Mừng hay đọc mấy câu thơ của tôi về O tiếp tế để đùa tôi:
Mặt soi xuống nước
Cúc áo vội cài
Nhém lại tóc mai
O vừa chợt thấy
Xuân gày ba bảy
Da tuyết vàng khè
O sợ chồng chê
Nhưng O vẫn bước
Mình lo việc nước
Chồng chê “mược” chồng!
Mừng nói: “Mược” nghe Huế quá, khuyên nghìn cái khuyên trên chữ “mược” ấy cũng đáng.Thật ra đau phải là chuyện một chữ “mược”! Mừng cũng không hẳn giấu được chút gợn buồn khi soi vào dòng nước hay nhìn vào gương. Khổ mấy rồi cũng quen, nhưng để rơi đi tuổi xuân, người con gái còn gì?
Có lần Mừng nói: “Nửa đêm chợt tỉnh dậy thấy một bóng trắng đến bên mình chưa kịp mơ màng bâng khuâng, đôi mắt đã ríu lại”. Chả là vì cả ngày làm việc nhiều, đêm mệt quay ra ngủ. Cứ độ 15 hôm có chuyến bí đỏ tải từ đồng bằng lên. Chiến sĩ cán bộ bị sốt rét, mặt người nào người nấy xanh xao. Bí đỏ là thuốc “hồi sinh” và hồi xuân mang lại sắc hồng tươi cho các cô gái các chàng trai. Sáng dậy mẹ Thẩm móc nôi của cháu Dương vào giàn bí. Trên nôi mẹ treo một chùm chìa khóa kêu leng keng cả ngày. Thằng bé mở mắt ra, tai nghe tiếng chìa khóa, quên khóc, quên đòi mẹ. Còn Mừng như một bác sĩ lên giàn xuống giàn, đi hết vòng này qua vòng khác “khám” từng con bệnh. Mừng thương giàn bí chẳng khác nào bầy con dại của mình. Đứa thì đứt cuống, đứa thì trầy da, đứa bị thâm bên hông, đứa bị thối từ dưới bụng. Ngoài việc chăm sóc giàn bí, Mừng còn giúp anh Hòa phơi phóng những xiêm áo mũ mãng của các vua quan Nam triều mang cất giấu nơi đây. Hia hốt có bụi bậm thì Mừng lau chùi…
Việc chính vẫn là chịu trách nhiệm về từng sinh mạng quả bí.
Tôi hỏi đùa: “Cả ngày đã bí đêm lại nằm chiêm bao thấy bí hóa người”. Mừng cười như nắc nẻ: “Sẽ đến lúc hóa bí, sẽ ngu đần”. Thật ra đâu phải thế, sống giữa cây giữa đá giữa khe, lòng thanh thản lạ thường. Ngày nắng, tôi nằm phơi trên tảng đá, chân chao dưới nước, nghe vài tiếng chim hót, những lúc như thế con người với sự suy nghĩ của mình, thật là lớn lao. Sáng tác thơ văn đưa lại cho mình nhiều hứng thú. Thiên nhiên ban phát cho con người, con người trả lại cho thiên nhiên. Cuộc sống được điều hòa, sao không gọi được đó là hạnh phúc? Khi ở đồng bằng, bắt được con bọ vừng nướng lên cả trời đất thơm phức. Lên trên này câu được một con cá, luộc đi, chấm một tí nước muối, không bữa cơm trần gian nào sánh nổi!
Anh Hoàng Anh, chủ tịch tỉnh Thừa Thiên bắn được một con kỳ đà kêu đúng tên Mừng trao tận tay. Người cho vui không kém người nhận. Không có mỡ lấy mỡ nó chiên nó. Thịt nó thơm hơn thịt gà.
Một hôm bộ đội bắn được một con bò tót. Cả chiến khu đang thèm mỡ vui được một bữa hả hê. Ba hôm sau bộ đội lại hạ một lúc ba con voi to. Cả chiến khu khắp trên những tảng đá đâu đâu cũng đem phơi những thịt voi ăn không hết. Trong bụng một con voi cái có cả một con voi gần bằng một con “heo rừng”, da nó láng xầy, “đỏng” chân nó ăn dòn như xương cá đuối.
Sau khi hạ ba con voi đó, đúng ba hôm sau trên đường đi từ kho bí ra Hòa Mỹ, trên một đường mòn tôi chợt thấy mấy bị muối tung tóe. Tôi nghĩ bụng Tây phục kích ư? Tôi ép mình vào một thân cây nín thở. Chợt có một ngọn gió làm lao xao cành lá. Trước mặt tôi tiến lên một con voi rồi hai ba con, rồi mười con, như những ngôi nhà di động. Đất dưới chân tôi rầm rầm rung chuyển.
Ngày hôm sau chúng tôi được tin, để trả thù cho ba con voi bị bắn, bầy voi kia chỉnh tề hàng ngũ đã tiến về phía văn phòng chính trị tiểu đoàn. Chúng đã phá nát cơ quan tiểu đoàn bộ. Không phải chỉ có những con thú khổng lồ đó mới làm chúng tôi kinh hãi. Con vắt, con mọt lá, rắn rết có khi còn làm cho chúng tôi ớn lạnh hơn là cặp nanh voi bằng ngà, cái vòi nhổ từng gốc cây làm nên trận gió. Cái ban ngày sáng bạch tưởng như không có gì đáng sợ cả, nhưng khi cái bóng đêm dày đặc kéo về từng vạt thảm lân tinh trải rộng làm cho mình hoảng sợ cả nơi mình quen sống. Đêm nằm lều quá vắng không ngủ được nghe ngoài rừng từng cơn gió ầm ầm như có đại đội binh mã tiến lên. Từng hàng cây mục ào ào đổ, một cuộc “sát phạt nhau không thương tiếc”, có thể bất kỳ lúc nào từng cây to sắp ngã xuống đè bẹp cái lều bé nhỏ của mình. Đêm đốt bao nhiêu lửa cũng thấy không yên lòng.
Sau này có lúc Mừng nói với tôi: khi tôi đi vắng, có đêm thú dữ đến cà lưng vào “cột lều”. Lại có khi trời im ắng, một tiếng côn trùng mà như náo động cả không gian.
Đã bốn hôm rồi, trong túi tôi đã có giấy triệu tập ra họp ở ngoài khu ủy. Ra khu ủy rồi có thể sẽ ra tận Việt Bắc. Một chuyến đi mất ba bốn tháng liền cũng nên. Cái lều cao nơi tôi đã từng ngồi nhìn trời sao làm mấy vần thơ, cái lều ấy tôi sẽ gửi cho cả cho Mừng với mụn con thơ ư? Mừng không thiếu dũng cảm, tôi biết, nhưng một phụ nữ đêm đêm giữa một cõi vắng tanh như thế, nghĩ tới tôi không thể không rùng mình. Tôi chẳng muốn rời cái lều cao này dẫu chỉ là một đêm. Khi hai người bên nhau, những ngôi sao trên trời là những ngọn nến, nhưng khi quạnh vắng một mình, sông Ngân Hà là dòng sông ma quỷ.
Tôi đã nghe biết bao chuyện anh hùng của những người con gái cùng tuổi với Mừng vùng chiến tranh, nhưng họ là họ chứ không phải là Mừng. Nếu tôi khuyên Mừng nên sống tập thể ở một gian phụ nữ thì hẳn là điều Mừng không thể tha thứ cho tôi.
Thuở ấy cái gì cũng thuộc về tập thể, không phải tùy tiện đánh giá sự anh hùng của tập thể. Tôi nhớ ngày đọc Trường ca hận của Bạch Cư Dị có câu thơ tả cô gái đẹp Dương Quý Phi “Kiều vô lực” − đẹp quá đến nỗi không cất tay nhấc chân đứng lên đi lại được. Người con gái trong mơ ước của nhà thơ càng mỏng manh, càng mảnh khảnh, càng thướt tha, càng mê mẩn.
Chả phải có người nhìn mười ngón tay người đẹp sần sùi đi vì lao động mà thương đó sao? Mỗi lần nhìn Mừng ngồi giữa đám gái quê cùng tuổi, tôi thấy tiếng cười, nước mắt, cách nói, cách ăn của họ lẫn vào nhau như từ cùng một mẹ sinh ra. Họ thực giống nhau mà khi họ ngủ, càng giống nhau… Cả ngày làm việc mệt, tối kê đầu lên cánh tay mà ngủ, cái khác nhau có lẽ là cái đang lắng sâu trong tâm hồn chưa tĩnh lại.
Vâng, cái khác nhau đó, đang ngủ, chỉ vài lần hiếm hoi tôi mới chợt thấy được giọt nước mắt gạt rất nhanh trên tay người nữ sinh hôm qua. Tôi sợ khi tôi đi vắng sẽ có cái giây phút mái tóc xanh ấy bất ngờ tỉnh dậy kinh hoàng giữa rừng lạ.
Tuy vậy, khi Mừng đã biết rõ tôi sắp đi xa Mừng vẫn thanh thản ngồi vá lại những chỗ sờn rách trên tấm áo tôi. Thật ra tôi quên rằng: Vợ tôi đã qua nhiều ngày tháng gian khổ. Khổ phiền cho tôi là có những người xung quanh vẫn chỉ muốn thương hại những kỹ sư dược dĩ và cả bầy con gái mảnh khảnh thướt tha trong ty bào chế.
Trước khi tôi lên đường, một người bạn tôi ở Hòa Mỹ vào tận lều thăm chúng tôi.
Anh Lê Trọng Nghĩa cùng với một nhóm cán bộ trí thức các cơ quan văn hóa tuyên truyền ở chiến khu là những người đã dựng lên một cái nhà gọi là “nhà đại chúng”. Đa số những người này là những học sinh đi kháng chiến, trong đó có người có tài năng, có học vấn. Lê Khánh Căn còn là một chàng trai búng ra sữa mà đã nắm được nhiều vấn đề, trình bày thông suốt hấp dẫn. Nguyễn Hữu Chỉnh thường chỉ tỏ ra say toán học, khoa học, nhưng bây giờ đã khéo giấu miệng lưỡi sắc sảo khi bình những vấn đề quốc tế lớn lao và biết giấu sâu hơn nữa những câu thơ tình không phải chỉ là ướt át. Có những nhà thơ như Vĩnh Mai viết những bài thơ trào phúng dí dỏm sâu sắc. Tất cả bị cái gian khổ chiến khu làm cho mình mẩy róc khô đen đủi ghẻ lở. Nhưng tất cả chẳng khác nào đã lộ những đóa hoa tươi rói. Quên sao được nhạc sĩ Nguyễn Hồng, một tâm hồn trong sáng, vừa là cánh hoa mà cũng là giọt sương. Giữa một sáng thu, cả cái tài năng mơn mởn ấy bị một viên đạn “văn minh” nhằm trúng, cả một cành hoa gãy ngang ngay giữa chiến trường vào cái giờ sương vừa đọng lại… Không phải là bà con mà họ sống với nhau như ruột thịt một nhà, thương yêu nhau, ôm ấp nhau, che chở nhau. Một sự đầm ấm thiêng liêng như chưa bao giờ tôi được thấy giữa cuộc đời từ ngày lớn lên trong lòng mẹ. Tất cả là người miền Trung, riêng anh Lê Trung Nghĩa là người Lục tỉnh dạt tới đây và đóng một vai trò đặc biệt.
Anh là phóng viên nổi tiếng của một tờ báo chữ Pháp ở Sài Gòn. Anh vừa viết báo vừa có khiếu vẽ. Hình như ông thân sinh ra anh là một viên quan trong triều có một đồn điền cách Huế độ 50 cây số. Anh có người vợ lai Pháp và có một đứa con gái độ mười tuổi. Trong trận nhổ đồn Đất Đỏ anh có cộng tác với trung đoàn 101. Anh ở lại Hòa Mỹ và trở nên một người kháng chiến địa phương. Anh lo việc hành chính, vợ anh mở một quán hàng. Anh người Sài Gòn mà có vẻ phong lưu quý tộc, đối với phụ nữ anh rất lịch sự. Anh vào tìm chúng tôi trên tay một gói nhỏ: “Kencờ đu-xưa cho chị Mừng”. Một tiếng Pháp “dẻo deo” rất miền Nam. Thì ra anh tặng Mừng một gói kẹo ngọt do chị Nghĩa chế biến. Dọc đường anh đã ngắt được một cành hoa tím và khi bước lên lều, anh trân trọng tìm cắm vào một “lọ đạn”.
− Xin tặng người công chúa Huế!
Mừng đáp lại vẫn với cái giọng thẳng thắn thật thà:
− Tôi đâu phải là công chúa! Cũng có máu hoàng gia đấy, từ đời chúa Nguyễn xa xề, ba tôi vẫn khấn “Gia Miêu ngoại trang Thanh Hóa”. Chúa Nguyễn từ Thanh Hóa vào nhưng tôi có bao giờ biết Thanh Hóa là ở mô?
 “Công chúa” nhìn cách ăn mặc nghèo thiếu của mình rồi cũng cười với mọi người. Mừng cũng đã qua những cơn sốt rét, da dẻ đã ngả màu. Anh Nghĩa đỡ lời:
 − Trông chị Mừng bao giờ cũng diêm dúa.
Trong những ngày gian khổ nhất Mừng không bao giờ để một mái tóc rối tung mà không chải, một miếng áo rách mà không vá đẹp, một cái khuy lơi mà không cài. Mừng từng cãi lại anh Nghĩa: “Nếu ông trời chẳng nới hầu bao thì mình chả có gì đâu”. Thật vậy, cái duyên trời chẳng có cho, làm sao mình tự làm lấy được!
Anh Nghĩa không phải "thừa ưa" mà mở một lời khen nịnh. Anh có cả một triết lý ở đời. Anh nói:
− Từ khi có các chị ở Ty bào chế lên đây, màu áo tím hồng của các chị ấy có phấp phới giữa núi rừng, lòng người thêm vui. Tôi ở rừng quen khi có chút nắng hửng, ngồi nhìn hội bướm bên khe, mình cũng như được vui với bướm.
Mừng gật đầu. Anh Nghĩa nói thêm với tôi, nên bớt đi những tiếng thét giết giặc mà thêm nhiều màu áo xanh tím. Chúng tôi đều cười sung sướng… Thật vậy trong bom đạn núi rừng, trong gian nan cơm muối mà có nhiều nụ cười duyên dáng của chị em, nhiều tà áo phấp phới, nhiều câu thơ tình, cuộc đời đáng sống! Anh Nghĩa thường dùng một câu nói lịch sự dễ thương: “Cám ơn, cám ơn các chị, các em, các công chúa, các tiểu thư”, ai muốn hiểu sao thì hiểu. Riêng đối với Mừng, có lần anh đã nói: “Chị Mừng có cả một bầu trời xanh ngắt, những dòng suối trong veo, kinh đô của nhà vua không cao sang bằng chiến khu này, những thân cây đủ dáng đẹp, những tảng đá như ngai vàng, có bầy chim tấu nhạc chúng mình có cả một triều đình ở đây, đủ các cung tần mỹ nữ, cỏ lạ hoa thơm. Nếu kháng chiến kéo dài cả trăm năm, nghìn năm tôi không sợ”. Những lời nói đẹp ấy đã làm cho ai nấy vui trẻ. Vì thế chúng tôi đã có một ngôi nhà “đại chúng” ở ngoài chiến khu. Ngày chủ nhật hay ngày lễ, nơi đây có ca nhạc, có ngâm thơ, có tranh luận văn học, v.v…
Cái không khí ấy đã làm cho những con người ở đây tuy thiếu thốn đủ mọi thứ, cơm sắn còn lưng bụng, áo thô chưa đủ ấm cật, mà lại đủ sức anh hùng giết giặc. Kẻ thù của chúng tôi rất văn minh, rất hoa lệ. Nhưng chúng tôi cũng có ở đây một nền văn hóa của mình. Thật là kinh khủng, khi hôm nay trong một buổi họp, một bữa cơm, một chuyện đùa bên suối rồi ngày mai một giọng nói một nụ cười, một dáng đi không trở lại, không bao giờ trở lại nữa! Nhưng dù sao chúng ta qua mỗi ngày, qua mỗi sáng qua mỗi chiều vẫn đọc nổi một trang sách đẹp, vẫn rửa rất sạch một đôi đũa, một cái bát, vẫn nuốt đẹp một bữa cơm "cõng sắn" và tối đến chúng ta vẫn ngẩng lên nhìn những vì sao…
Anh Nghĩa, anh có biết không, sáng qua không biết là sáng thứ mấy, những nàng công chúa của anh nghiêng đầu trên những cuốn an-bom đã rách nát đổ từng giọt nước mắt trên ảnh một chiếc áo tím nữ sinh? Vâng, họ là những cô gái đang nghèo thiếu nhưng họ cao sang như những thiên thần vì họ có hào quang cách mạng lấp lánh trên mái tóc. “Hãy cám ơn họ” − tôi nghĩ trong bụng như thế. Và sáng nay tôi xốc ba-lô lên vai, bay trên bao đèo suối với đôi cánh đại bàng. Tôi vốn là một thư sinh bé nhỏ, ra đi nhẹ nhõm không ngoảnh lại. Có thể Mừng sáng nay cũng chả bế con nhìn theo. Tôi chỉ biết tôi để lại đằng sau một túp lều cây “đạo sĩ”. Mỗi ngày tôi dậy đi với mặt trời cho đến khi mặt trời lặn là tôi nghỉ.
Đó là trạm mỗi ngày của tôi, và sẽ không biết bao nhiêu trạm “mỗi ngày” như thế tôi sẽ trải qua!
Công việc chung gọi đằng trước, nhưng tôi cũng mong được trở lại sớm với cái lều rất tội nghiệp kia. Tôi nghĩ đến chuyện phải rút ngắn dặm đường. Tôi nảy ra quyết tâm đi đường biển. Từ núi xuống biển tôi phải chạy qua đường quốc lộ Một. Chỗ chúng tôi đi qua là giữa hai cái đồn Pháp đóng, người dẫn đường dặn tôi: “Chớ nghe tiếng súng mà vội chạy, có khi chúng nó ngủ, thức dậy bắn vu vơ thế thôi, chỉ khi nào thấy tôi chạy anh mới chạy theo nghe không?” Vào khoảng chập choạng, chúng tôi vượt qua quốc lộ Một. Giờ này có thể là giờ bất ngờ nhất. Chân tôi vừa đạp xuống đường nhựa mà sao mát mẻ sung sướng thế chân ơi!
Tôi nghĩ giá có cách gì dọc theo đường số Một đi một mạch đến khu Bốn đất tự do thì sướng thật. Vút như một tên bắn chúng tôi đã rẽ ngang đường nhựa. Từ đó đi bộ 4 - 5 cây số nữa chúng tôi đến Chợ Cạn, đến biển xanh rồi. Ở đây ban ngày bề ngoài giặc kiểm soát, ban đêm ta làm chủ. Trên cát trắng dưới ánh nắng chiều vàng tôi thấy từng vệt máu đỏ, vệt máu đỏ của nhân dân tôi dưới làn đạn giặc!
Năm 1946, từ ngày 2/9 đến bây giờ tôi mới biết được khí trời, khí biển. Tôi vốc cát, tôi nhảy với sóng, tôi vẫy vùng chân tay lặn hụp, hoàn toàn trong  nước. Tôi thấm cái vị chát chát trên môi, tắm xong tôi nằm như chết trên bãi biển. Tôi lại nhớ cái buổi chiều năm nào tôi lên thăm Mừng ở Trường Cửi, Mừng múc chuyển từng gàu nước giếng mát rượi vào trong chậu cho tôi gội, tôi tắm. Giờ phút này tôi một mình trên biển, còn Mừng cũng giờ phút này ở sâu trong núi xanh một mình, tìm từng ngôi sao trên trời. Kia một góc trời, đây một biển cả. Tôi nhìn lên trời nhớ câu thơ của Nguyễn Du “Mày ai trăng mới in ngần”. Tôi nhớ Mừng quá, cứ như tay vẫy một cái là cái “trăng ngần” kia, cái “mày ngài” ấy rơi vào lòng tôi ngay.
Sau này tôi kể lại với Mừng là tôi có làm một bài thơ về vầng trăng Chợ Cạn đêm ấy, nhưng trọn cả bài thơ tôi không sao nhớ nổi. Trong đầu óc tôi chỉ còn lại trơ trụi hai câu:
Đêm, mắt nhìn quanh bốn phía
Nhìn phương mô cũng thấy lược em cài.
Những mảnh trăng khắp nơi như sắp rơi xuống bãi cát mênh mông này, rơi trên khắp người tôi, giữa ngực tôi. Sau một đêm nằm với biển sóng, sáng mờ mờ trong sương mù chúng tôi xuống thuyền, cầu mong sao cho sương mù dày đặc lâu tan để thuyền chúng tôi ngang dọc giữa biển khơi. Nhưng thuyền dong được một giờ thì sương mù tan nhanh. Một mặt trời đỏ đáng sợ hiện ra trước mặt chúng tôi… Làm sao thổi tắt được cái đèn khổng lồ đó!
Bất ngờ cách thuyền chúng tôi độ ba bốn trăm thước một chiếc tàu nhỏ của giặc sừng sững cứ như tiến thẳng trước thuyền của chúng tôi. Cả thuyền chúng tôi như chòng chành vì hoảng sợ. Tôi cùng với anh huyện đội trưởng dân quân huyện hội ý, anh liền đứng lên dõng dạc ra lệnh: “Cứ thẳng mũi, tiến tới về phía tàu”. Rồi thuyền chúng tôi cứ đường hoàng rẽ sóng thẳng tiến thẳng tới tàu giặc. Rồi tàu giặc cứ đi hướng của nó còn thuyền chúng tôi đi theo hướng chúng tôi… Vượt ra khỏi nguy hiểm cả tàu mới tỉnh hồn. Giữa lúc ấy chúng tôi chòng chành do dự có ý tránh né thì có lẽ chúng nghi ngờ mà ra lệnh cho thuyền chúng tôi đến gần để chúng tóm hết. Chúng tôi nắm chắc rằng đang đến hải phận Quảng Bình. Thuyền băng được mấy dặm nữa thì gặp một đám thuyền vùng địch đang bủa lưới. Họ là hai thuyền buồm, chợt thấy thuyền chúng tôi là thuyền có ba buồm liền nói to: “Có phải Hồ Chí Minh không?”. Chúng tôi đáp: “Hồ Chí Minh”. Tất cả đồng bào vỗ tay hô to: Hồ Chí Minh muôn năm! Chẳng khác nào một cuộc biểu tình trên biển. Đồng bào bèn bảo chúng tôi phải tạm lánh vào bãi dương ngay, sợ rằng giờ này là giờ ca-nô giặc đi tuần, thấy thuyền ba buồm là chúng tóm ngay!
Chúng tôi theo lời bà con, tạm lánh vào một bãi dương xanh hoang mang không biết biển ta hay “tề”? Vào đến bãi dương, chúng tôi thấy vài bóng đàn ông đi qua, chúng tôi chưa dám hỏi, đợi có một phụ nữ đến gần, chúng tôi hỏi đây có phải là vùng tề? Chị cười xòa đáp: “Tề mô ở đây, đây là “miềng” hết!”. Giọng quê Quảng Bình trăm phần trăm. Chúng tôi mừng quá. Một lúc sau, bà con chạy ra đón chúng tôi, mang cho cá mực và một chai rượu, chúng tôi nhậu với nhau. Cũng chả biết tên thôn này là gì, bà con đều lạ mặt nhưng biết chúng tôi là cán bộ cụ Hồ rất mừng ôm nhau chẳng khác nào ruột thịt!
Đến tối chia tay đồng bào, có những bàn tay nắm chặt! Thuyền chúng tôi lại dong buồm. Trời chưa sáng tỏ, thuyền đã ra khỏi vùng kiểm tra của giặc Pháp, rồi vượt luôn đèo Ngang, đến đất Kỳ Anh, rồi vào cửa Nhượng Bạn, tới đất tự do của mình rồi!
Chao ôi! Mới có hai năm mà nơi đây, ăn ra ăn, ngủ ra ngủ, nói ra nói, cười ra cười. Có người trong bọn tôi nói: “Mới hai năm sống nơi “địch hậu” mà tưởng như dài một nửa đời người”. Ra đến nơi khu ủy đóng, cũng có đến trên trăm cây số. Ba-lô lên lưng tôi thênh thang trên quốc lộ nhịp nhàng mà săn dòn chân bước. Ngày hôm sau, lặp lại y như ngày hôm trước mà vẫn dạt dào hào hứng! Ra Nghệ An ít hôm lại tiếp ra Thanh Hóa, rồi lại tiếp tục đi, qua sông Mã, qua sông Đà, qua sông Hồng. Từ Phú Thọ đến Tuyên Quang, vào tận an toàn khu thủ đô Việt Bắc, thế rồi bất ngờ cuộc họp hoãn, chúng tôi quay 180 độ, ba lô trên vai trở về nơi mình ra đi.
Từ Việt Bắc, thủ đô xanh của Việt Nam dân chủ cộng hòa, về lại chiến khu Hòa Mỹ của tôi mấy nghìn cây số? Ai đo, ai biết được? Vì đâu phải con đường thẳng tắp mà có thể đo được, là đường rừng khúc khuỷu quanh co, khi đèo khi suối, khi không giặc thì cứ thẳng mà đi, khi động giặc phải vào, ra, tiến, lùi, lên, xuống, phải tùy cơ đối phó. Có khi chỉ một khúc đường ngắn, chỉ lách vài mái chèo mà lại phải đợi chờ trốn tránh đến 5 - 7 hôm, hay bỏ ngắn mua dài không ai tính được! Lại cơn mưa lụt bất ngờ, đang nghỉ nơi này, lại phải băng qua chỗ khác. Có điều chắc chắn là mỗi ngày khi ba-lô khoác lên vai, mỗi tối là phải hạ ba-lô tới một trạm khác. Đường đi không thể đo bằng cột mét, mà phải tính bằng ngày đêm đã trải qua!
Tôi nhớ từ thủ đô Việt Bắc, mới đi được hai ngày hai đêm đến trạm nghỉ, vừa mới đặt ba-lô xuống, cởi áo ngồi hơ bên bếp lửa đỏ rực thì báo động: Bọn giặc ở Trung Hà sắp sửa hành quân, không hiểu chúng sẽ đi lùng sục ở hướng nào. Trong lúc anh em đang xôn xao người khoác ba-lô, kẻ dập tắt bếp củi, thì chợt có ai gọi đúng tên tôi… Hoạch ở ban quân giới từ “Bình Trị Thiên khói lửa” trên đường đi Việt Bắc, vừa mới ra đến đây, Hoạch trao tôi cho tôi một phong thư. “Mừng đây rồi!” – Hoạch nói rồi chào tôi đi ngay cho kịp đoàn. Tôi toan bóc thư ra, thì có lệnh: mọi người phải phân tán theo kế hoạch; tôi cũng đành hành quân gấp về phía Hòa Bình. Đi được một lúc, trời đổ mưa như trút. Đường lầy trơn, người đi sau phải níu áo người đi trước, trời tối như mực, lâu lâu có ánh chớp, và nhờ có cây đèn pin trời nhấp nhoáng, chúng tôi mới chớp nhìn thấy nhau. Rồi lại như sợi dây vô hình cột chúng tôi lại với nhau, mắt khi nhắm mà chân cứ bước tới. Tuy mưa, chúng tôi cũng đến được một trạm mới. Sáng hôm sau chờ mặt trời lên, tôi chạy xuống suối, đưa tay vóc vài vóc nước vỗ vào mặt.
Tôi ngồi trên một gốc cây, với một hạnh phúc nằm trọn trên bàn tay. Bức thư có lẽ đã qua bao ngày tháng gió mưa mới đến được với tôi, chẳng phong trong nắng gió, chẳng ướp trong hoa sương, nhưng đây mới gọi là một bức thư tình. Vì lẽ nhiều gian khổ nhiều nhớ mong.
Bức thư viết sau khi tôi đã đi năm ngày, tôi đi được ba ngày, thì chúng nã pháo vào Hòa Mỹ. Rồi từ đồng bằng bọn lính lê dương tràn lên, lại có bọn giặc từ trên trời nhảy xuống.
Chúng đã bắn pháo vào dân vào núi, giết nhiều đàn bà, ông già, trẻ nít. Chúng đốt lều quán và nhà “đại chúng” của cán bộ, của nhân dân thành tro. Một mái nhà tranh thôi, nhưng chúng tôi hát ở đây, nhảy ở đây, ngâm thơ và nói chuyện văn hóa ở đây. Biết bao tâm tình ấm lạnh!
Tới tận một xó rừng này, nước Pháp “văn minh” đã tự bôi nhọ mình như thế. Lê Trung Nghĩa người trí thức đã đóng từng viên gạch, từng câu chuyện vui, từng tiếng cười, từng bức tranh vẽ, nơi đây, đã bị giặc bắt và mang về đồn Sơn Quả, một đồn dữ. Người trí thức ấy đã hô to ba tiếng: Hồ Chí Minh.
Mừng viết: “Nào biết anh Nghĩa nằm mô, cắm cho anh một đóa hoa tím”.
Tôi nghĩ bụng: Hãy đến đầu nguồn sông Ô Lâu nơi anh ngồi và từng nói với tôi: “Chao ôi! Bao giờ đại bác vắng lặng, đắp nơi đây một đập thủy điện nho nhỏ”. Biết bao con người tri thức đã bỏ mình trên đầu ghềnh cuối suối mà không thực hiện được những giấc mơ của mình, có khi chỉ là mảnh giấy con con nằm trong túi áo. Biết bao gian khổ ngày tháng đìu hiu mà lòng thương hoa mến cỏ chẳng lúc nào vơi! Hôm anh lên thăm, không ngờ là hôm vĩnh biệt chia tay với những người bạn. Mừng viết: “Giặc đến, đạn bay vèo vèo trên đầu lều nhỏ em vẫn ra rừng ngắt cho được một cành hoa tím để cắm vào lọ lựu đạn của anh chút gửi theo hương hồn anh!”
“Cô gái Huế ơi! Cô có cả một triều đình nơi đây, đầy hoa thơm cỏ lạ, những mỹ nữ cung tần.”
Trên thư mấy chữ mực nhòa, do mưa gió dọc đường hay do nước mắt của chính cô gái Huế ấy?
Thư Mừng viết: “Mặc cho giặc nổ pháo, núi rừng chiến khu vẫn đông vui, vẫn có vòng trong vòng ngoài, những chiến sĩ trực. Từ dưới suối bến khe, tiếng người vẫn vọng bên tai em: “Chúng tôi vẫn canh gác giấc ngủ cháu Dương, chị Mừng ơi! Hãy yên giấc! Đêm nay thế, đêm mai vẫn thế!”. Từ dưới bên khe suối, vẫn vọng lên tiếng chào, tiếng hỏi: “Hãy ru cháu ngủ đi! Chúng em vẫn vòng trong vòng ngoài gác canh lều cao của chị!”
Cả một đất trời tình nghĩa! Dầu gió mây ở cách xa anh đến nghìn dặm mà mẹ con em vẫn yên lòng vẫn như tình người ruột thịt. Em tin cho anh biết: Hải bị giặc bắt đem bắn đã trốn về được. Giặc đến Hòa Mỹ, Hải lại theo chân bộ đội chuyển xuống đồng bằng chặn đường lui của giặc. Và giấu anh sao được nữa: Anh Và thương binh vừa về Huế, từ Huế đã vượt các đồn bót trở về lại chiến khu. Anh Và cho biết vườn Trường Cửi đã tan hoang”.
Mấy đứa con vì việc dân việc nước, mỗi đứa tản mát một nơi. Chỉ còn người mẹ da bọc xương – và cô đơn đã trút hơi thở cuối cùng! Anh Và còn mang lên chiếc đàn tranh truyền thống không biết anh ấy lấy ở đâu. Thế là cuốn anbom với chiếc ảnh cuối cùng đã rách nát. Cả bức tranh kia cũng không biết lưu lạc nơi đâu. Mai Trung Thứ người họa sĩ đang bị “vây hãm” giữa tuyết Paris có thể nào đoán được cái số phận của đứa con mình ra sao giữa một đất trời bom đạn.
Thư Mừng viết tiếp:
“Giặc đến Hòa Mỹ, Yến “cô gái tiểu đoàn” vẫn ngang nhiên đi giữa bom đạn giặc mà mắt chúng chả trông thấy. Khi tỉnh, Yến vẫn tới đùa với Dương, khi mê, vẫn chạy khắp rừng. Yến vừa tới với em, vừa chợt thấy một ngấn nước trên mi em lại lấy cành lá phấp phới trên tóc em và hát: “Em luyện cho mọi châu ngọc sẽ về với chị”.
Tiếng hát của Yến cả chiến khu ai mà không biết tới? Mừng viết:
“Chao ôi! Còn gì nữa để về với chị hỡi em?” Người mẹ yêu thương cũng đã vĩnh viễn ra đi. Chị mất nhiều, nhưng ai tính hết những gì chị được”.
Trong vòng đạn giặc, khi trên trời, sao ngọc chưa ngủ, những con người bình thường, những con người ấy còn chịu trăm điều thiếu thốn bên khe bên suối vẫn canh gác cho em tôi, cho con tôi, từng giấc ngủ đó sao?
Tôi đọc thư này của Mừng ở một góc rừng như thế đó. Đọc xong bức thư lại gói vào mảnh ni-lông và chốc nữa, tôi sẽ lại lên đường.
Rồi mỗi sáng tôi dậy với mặt trời, ba-lô xốc trên vai, mỗi chiều mặt trời lặn, tôi lại hạ ba-lô xuống sàn cùng lặn với mặt trời…
Nghìn dặm cách xa, mà chỉ như một ngày xa cách.
Trạm mặt trời nghỉ, cũng là trạm nghỉ của tôi, tôi mất hẳn khái niệm thời gian.
Mỗi ngày, một chùm hoa đỏ, một dòng nước xiết ngang, mỗi bước dấn lên đèo, mũi của người đi sau chạm gót chân của người lên trước! Chục ngày, trăm ngày như một ngày.
Sáng dậy, vẫn chùm hoa đỏ bên suối. Trưa là dòng suối xiết, cơn lũ vừa qua, cành cây còn vương đầy rác rưởi… Và chiều khi mặt trời sắp tụt xuống núi là những làn khói sàn, tiếng chày giã gạo bắt đầu, tiếng léng kéng của đôi hoa tai của các chị em dân tộc, tận mãi đêm khuya… Đường đi băng ngàn đạp suối, mà giống như những bước thần thoại: cất mình trong chiêm bao.
Vượt Ba Rền, U Bò từ lúc nào không rõ nữa, một chiều tôi đã về đến bến sông Ô Lâu. Tôi tưởng đứng nơi nào đâu đấy đã nhìn thấy “Lầu của nàng”, nỗi mừng không sao nói hết được!
Chợt một bàn tay vỗ nhẹ vào vai tôi! “Chị Mừng, sau trận Hòa Mỹ, các anh lãnh đạo đã đưa xuống đồng bằng, hiện nay chị đang tạm mở một quán xôi chè trên đường Phong Điền chiến khu”. Tôi nghe mà như chết đứng tại chỗ!
Như một kẻ mộng du tôi vẫn cứ đi về phía “Chiến khu” nơi tổ ấm tôi ở trước khi tôi ra Việt Bắc. Tôi đang xuống khỏi một sườn núi, thì gặp anh Lục ở quân giới, anh reo lên “Thiêng quá, đoàn quân chiến thắng ở đồng bằng vừa trở lên kho bí đấy…”. Tôi nghe Lục nói mà không tin ở tai mình. Thấy tôi bỡ ngỡ anh Lục liền khẳng định: “Chị và các cháu khỏe cả, lại thêm một thành phần mới, một em bé chăn trâu, chủ ác quá liền trốn theo chị, gánh một gánh sách đàn, quần áo nồi niêu…”
Tôi mừng quá, quên bắt tay cám ơn Lục. Từ xa bên suối, tôi nhìn thấy một làn khói sàn nhẹ, tôi bước lên thang, cố không làm xáo động. Nhưng mới vài nấc thang Mừng đã chạy vội xuống thang đón tôi, hai mắt ươn ướt, đỡ ba-lô trên lưng tôi xuống. Thật ra từ lúc bấy giờ, Mừng làm gì tôi không rõ. Trên lều mọi vật vẫn như cũ, nhưng trên phên treo một cây đàn tranh. Hẳn là cây đàn Mừng đã nói trong thư…
Thế gian, có đêm tình người đời quen gọi “đế vương”. Lụa nhung tầng tầng chất cao như núi, nến sáng như sao trời, nhưng đâu phải đó là thứ hạnh phúc huy hoàng, của chúng tôi. Giữa thời gian bom đạn sau một chuyến đi băng rừng vượt suối mà tôi quen gọi “một chuyến đi thần thoại”, tôi đã về nơi đây. Khe bên bếp, lều trong cây, lại hoa rừng, và chồng sách nát. Và khi ba-lô hạ xuống, người yêu đã trước mặt. Đâu phải là gối ấm chăn êm, sạp nằm còn hăng mùi nhựa lá. Từng nhánh cây cong queo đâm vào da thịt, ấy thế mà tưởng tượng như sao trời buông ánh nến xuống tận trần gian. Chúng tôi đã bao phen lau nước mắt cho nhau, nhưng đâu phải chúng tôi chỉ có gian nan buồn tủi, ăn khổ mặc thiếu. Chúng tôi chỉ tâm niệm một điều: giặc sẽ bị đuổi hết, máu trong lành nuôi hoa dưỡng trái, mọi bất bình đạp phăng. Con người tự do nở đều khắp đất nước trong ngoài, bùn dơ rửa sạch. Tiếng súng im, chim trăm tiếng trở về, rộn lên từng góc rừng. Mừng thường nói với tôi: con chim non hót trong lồng làm sao mà hay được? Một đời chỉ lo chuyện chồng con, chuyện xóm giềng. Sinh vào cửa nghệ thuật truyền thống mà không chỉ chăm lo nghề nghiệp, chuốc lời khoe ngón. Hãy cho đàn thoát khỏi mọi bận rộn hàng ngày! Vâng, đúng như thế! Con oanh chỉ hót khi đang bay hay khi trên cành vừa tỉnh giấc.
Có đêm sực tỉnh không thấy Mừng, gọi không có người thưa. Trong lều trăng đầy. Đứng sững một lúc tôi mới dứt khỏi cơn mê. Tôi thấy bóng Mừng nghiêng mình trên cây đàn. Nhìn xuống, quanh Mừng, mẹ Thẩm, Oanh, anh Và, Cam, Quýt, Lục, Yến, Diên, và cả một rừng cây nghiêng bóng. Cả một khoảng không gian chỉ rộn lên tiếng đàn của Mừng thôi. Tôi đứng yên không thở được. Người nghệ sĩ bẩm sinh đó không phải lúc nào cũng bắt được cái luồng cảm thần diệu ấy.
Tôi ghi cái phút giây thần diệu ấy trên bốn câu thơ:
Em đâu rồi? Tìm em nỏ thấy!
Bên cây chợt rộn tiếng em đàn
Ô hay nửa giấc! Đêm sực tỉnh
Nhớ buổi trăng lên, bóng xịch gần…
Chú thích:
[a] Cinna (1641) vở kịch của nhà văn Pháp P. Corneille (1606-84)
[b] Theo một số tài liệu về lịch sử báo chí Quốc ngữ, thì Phụ nữ thời đàm là báo tư nhân của ông bà Nguyễn Văn Đa, tòa soạn đặt ở số 11-13 phố Sông Tô Lịch, nay là Hàng Lược (Xem: Nguyễn Thành, Từ điển thư tịch báo chí Việt Nam, Hà Nội, 2001, Nxb. VHTT, tr. 429; hoặc Sơ thảo lịch sử báo chí Hà Nội 1905-2000, Hà Nội, 2004, Nxb. Chính trị quốc gia, tr. 439).- L.N.Â.
[c] Năm đêm trắng (chính xác là Những đêm trắng), 1848, truyện của nhà văn Nga F. M. Dostoievsky (1821-81)
(a) ‘Tu viện thành Parme’ (1839), tiểu thuyết  của nhà văn Pháp Stendhal (1783-1842)
[b] ‘Bắc một’: ý nói kỳ thi baccalauréat (Tú tài) thứ nhất.
[c]  serpentin: cuộn giấy xoăn.
[a] Bài của Phan Khôi, ký Chương Dân: Tiểu phê bình về sách vở: ‘Người sơn nhân’ của Ngân Sơn tùng thư, tác giả Lưu Trọng Lư// Phụ nữ thời đàm, tập mới, Hà Nội, s. 5 (15/10/1933); lúc này Phan Khôi là chủ bút Phụ nữ thời đàm; sau bài này, ông còn cho đăng (s. 15, ngày 24/12/1933)  bài của Thụy An tranh luận với ý kiến Nguyễn Thị Kiêm về Người sơn nhân  trên Phụ nữ tân văn (S.G., s. 226).  
[a] commis: tham tá; doune:  thuế quan, sở thuế.
[b] dilettante: kẻ tài tử.
[c] Phan Bội Châu (1867-1940) bị Pháp bắt cóc ở Thượng Hải đưa về nước (1925) xử chung thân, sau bị an trí tại Huế; Phan Châu Trinh (1872-1926) từ Pháp về Sài Gòn tháng 6/1925, đến 24/3/1926 thì mất.
[b] ‘Vấn đề dân cày’ (1938) sách viết chung của Qua Ninh và Vân Đình (tức Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp).
[c] Trường Chấn Thanh: nguyên từ 1936 là trường Thành Chung, từ 1941 đến 1943 là trường Chấn Thanh, đóng tại 16 Thái Phiên, Tp. Đà Nẵng. Ngày 25/12/2003, Sở VHTT Đà Nẵng đã tổ chức khánh thành bia di tích lịch sử địa danh này, gắn với trường tiểu học Thành Chung (1936-1939), trường Chấn Thanh (1941-43), cơ quan Thanh niên cứu quốc Đà Nẵng (1945-46). - theo trang:www.danang.gov.vn, 27/12/2003  
[d] Ngựa đã thuần rồi mời ngài lên - tiểu thuyết của Lê Văn Trương (1906-64), in Phổ thông bán nguyệt san của Nxb. Tân dân, s. 31 (trong năm 1939).
(a) Hai câu đầu là nguyên văn chữ Hán của Thôi Hiệu. Tiếp đó là bản dịch Hoàng Hạc lâu của Tản Đà (B.T.)
(b) Trích trong bài “Bạc Tần Hoài” của Đỗ Mục đời Đường. Hai câu trên là nguyên văn chữ Hán, hai câu sau là lời dịch.
[c] Ý nói cuốn ‘Thi nhân Việt Nam 1932-1941’ , Hoài Thanh, Hoài Chân biên soạn, do Nguyễn Đức Phiên xuất bản lần đầu tại Huế, 1942, là một tuyển tập về phong trào thơ mới tiếng Việt.
[d] Câu đầu bài thơ Đường luật của Nguyễn Trọng Cẩn, ghi lại sự kiện năm 1933: nhằm cải cách triều chính, vua Bảo Đại cách chức một lúc 5 Thượng thư: bộ Lại (Nguyễn Hữu Bài), bộ Hình (Tôn Thất Đàn), bộ Binh (Phạm Liệu), bộ Lễ (Võ Liêm), bộ Công (Vương Tứ Đại).
[a] Ý câu này nhấn mạnh: thời điểm này đã là sau 1940, khi quân Nhật (lính Thiên Hoàng) đã vào Đông Dương, cùng quân Pháp (lính Pétain) đóng trên đất này.
[a] Người thầy đầu tiên (1962), truyện của nhà văn Kyrgystan Chinghiz Aitmatov (1928-2008)
(1) Nghĩa là: Khi nào cuộn chỉ thời gian dần dần tự tháo ra. (ghi chú của tác giả)
[a] Thật ra, Hà nội báo (1936-37) tuy đăng rất nhiều tác phẩm của Lưu Trọng Lư, nhưng không đăng truyện Khói lam chiều, vì trước đó truyện này đã đăng Tiểu thuyết thứ bảy các số từ 53 (1/6/1935) đến 56 (22/6/1935) dưới nhan đề Tiếng địch trong rừng sim. (N.S.T.)
[a] Cuối năm 1946 tại Hà Nội có 2 hội nghị lớn của giới hoạt động văn hóa văn nghệ: một là đại hội nghị Văn hóa cứu quốc toàn quốc lần thứ hai (từ 11 đến 13/10), hai là Hội nghị văn hóa toàn quốc (24/11). Qua báo chí đương thời (ví dụ tạp chí Tiên phong số 22, ngày 1/11/1946, s. 24, ngày 1/12/1946), có thể biết chắc Lưu Trọng Lư dự đại hội nghị Văn hóa cứu quốc. Tuy vậy, cũng theo các tin tức tường thuật kể trên thì trong hai sự kiện trên, Hồ Chủ tịch chỉ tham dự và phát biểu khai mạc Hội nghị văn hóa toàn quốc. Phải chăng nhà thơ Lưu Trọng Lư tham dự cả hai sự kiện, và trong hồi ức ông đã gộp cả hai làm một? (L.N.Â.) 
Lại Nguyên Ân  
Nguồn: Lưu Trọng Lư: Nửa đêm sực tỉnh 
(nhớ lại những mối tình), hồi ký, tái bản, 
Hà Nội: Nxb. Hội nhà văn, 1996
Theo http://lainguyenan.free.fr/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Trần Bảo Định, cây bút đặc sắc trong dòng văn học sinh thái Không tính 6 tập thơ “thù tạc” bày tỏ ân nghĩa với quê hương, ba...