Nửa đêm sực tỉnh 1
NHỚ LẠI NHỮNG MỐI TÌNH
Em đâu rồi? Tìm em nỏ thấy
Bên cây chợt rộn tiếng em đàn
Ô hay nửa giấc! Đêm sực tỉnh
Nhớ buổi trăng lên, bóng xịch dần...
Chương I
CŨNG CÓ MỘT TÌNH ĐẦU
Một trong hai người bạn gái nhỏ của báo Tuổi trẻ đến
thăm tôi, đột ngột hỏi:
− Đời nhà thơ đã mấy lần yêu rồi, có nhớ hết không?
Một câu hỏi vẻ như đùa, làm tôi sửng sốt, tôi thẫn thờ một
lúc lâu, đâu phải một câu hỏi để mà trả lời.
Tập "Hồi tưởng" của tôi đánh máy đã gần xong,
tôi sẽ đọc lại một lần nữa, rồi trao lại người ngồi cạnh. Cuộc đời và chuyện
văn chương đâu phải dễ dàng đơn giản thế, đâu phải sẵn bút mực, đẩy vài dòng, cứ
hết dòng này tiếp dòng khác cho đến hết một chương lại chấm một dấu hết. Báo
cáo: Chương mối tình đầu đã xong!
Sao tôi thích câu thơ của Chu Mạnh Trinh đến thế, khi động đến
mối tình của Kiều:
Ngàn liễu rung cương sóng gợn tình...
Một cái rung cương trên mình ngựa, mà sóng dậy không bờ: ngàn
cây, vó ngựa, lòng người. Chao ôi! Xa gần, cao thấp, trong ngoài, bốn bể, trời
đất, cỏ hoa, như rung, như gợn... Tôi chẳng nhớ rõ trái tim thơ dại của tôi,
rung cái rung động đầu tiên tự bao giờ. Hẳn không phải là trời giá lạnh đêm
đông lắng, tôi nằm chen vào giữa đám đông các anh tôi, nghe họ cười cười nói
nói với nhau, biết bao say sưa thú vị, mà tôi chỉ nghe mơ màng một hồi là mắt
nhắm ngủ liền.
Cũng chưa hẳn là buổi chiều ấy, một chiều hè, một mình tôi nằm
trên chiếc võng trước hiên nhà, hai chân đưa mãi không thôi; gió phây phẩy vào
ngực vào tóc tôi, như đưa hồn tôi đến tận các vì sao, xa xa lấp loáng những
viên ngọc trai trên núi xanh, lúc bấy giờ tôi đã 12-13 tuổi, lần đầu tiên chạm
đến một câu thơ Kiều:
Có người viễn khách sang chơi
Tôi, một đứa con trai vừa "vỡ giọng", tưởng đang
mang một tâm hồn một cô gái dậy thì.
Thầy tôi là một ông quan hưu, có lần tôi được theo thầy tôi đến
thăm một ông quan huyện nhà, huyện Bố Trạch, lần đầu tiên tôi nghe xầm xì đến
tên hai cô gái của ông huyện, cô chị tên Nguyệt, em là Vân. Hồi đó tôi học lớp
nhất trường tỉnh. Đã thành một thói quen là cứ chiều thứ bảy, Nguyệt, Vân từ tỉnh
về huyện, tôi đứng nép sau cây bên đường đợi chiếc "xe nhà" Nguyệt,
Vân đi qua... Trời mưa lâm thâm, diềm xe che lửng, tôi chỉ thấy phía trên hai
khuôn mặt, hai chiếc kiềng vàng, làm sao tôi quên được những đôi mắt ấy? Đôi mắt
ấy, ai là Nguyệt, ai là Vân? Một phút rung động vào lòng, mà thật ra như đại
dương gợn sóng. Tuy sức học tiếng Pháp còn yếu, tôi tìm đọc cuốn truyện tình nổi
tiếng lúc bấy giờ Graziella của Lamartine, chuyện một nhà thơ Pháp
yêu một cô bé thuyền chài 16 tuổi. Nhà thơ đã viết lên một khúc tình ca da diết.
Ngồi một mình tôi buột miệng ngâm bốn câu thơ tình mà Nguyễn Mạnh Bổng đã dịch
ra:
Ai run rủi cho ta đến đó
Khiến lòng người nhớ độ năm xưa!
Giấc chiêm bao khéo hững hờ...
Người xưa cảnh cũ bây giờ là đâu?
Nhất là câu thơ Mười sáu tuổi xuân, em vội tách miền
dương thế! càng du dương càng lâm ly lòng tôi say sưa thấm thía...
Thủa ấy, tôi đi quanh miền ảo tưởng có lúc tự bịa ra những mối
tình, mơ màng những cuộc gặp gỡ... có bao giờ tôi quyết bước cả hai chân vào
cõi thật? Đúng là tôi phất phơ giữa hai miền ảo − thật và lấy nước mắt
trong chiêm bao làm nước mắt mình mà chẳng bao giờ tự biết!
Bị đuổi khỏi trường Quốc học Huế, tôi lại xin học ở trường
Dòng ở trường Súng, không chịu nổi cảnh dạy ở đây lại bỏ đi lang thang. Bao bận
ghé ăn nghỉ ở nhà cụ Phan Bội Châu, cụ Phan đặt cho biệt hiệu "Hy
ký", "Lư" là lừa không đi chậm như lừa mà ngày phải đi vạn dặm
như ngựa ký... Rồi cuối cùng tôi đến với anh Bình con cụ Võ Liêm Sơn. Và cũng từ
đấy tôi ăn dầm nằm dề ở ngôi nhà cụ Võ ở trên dốc Bến Ngự, cạnh chùa Từ Đàm.
Nghe ông Võ Bình, con trai cụ Võ bảo: "Cứ chờ đấy, sẽ có chuyến đi".
Đi đâu nào biết! Hàng ngày tôi được cụ Võ nói cho nghe những chuyện "hài
đàm" của cụ; nhưng làm say lòng tôi nhất lúc bấy giờ là cuốn tiểu thuyết Cô
lâu mộng do cụ Võ viết... Cụ Võ có một cháu gái tên là Ngọ ở với cụ, cô ta
hồng hào, trắng trẻo, Ngọ không có cái duyên Huế, nhưng có cái mặn mòi xứ Nghệ.
Ngọ thẳng thắn, chân thành, cũng như tôi, Ngọ say đọc truyện Cô lâu mộng,
trong lúc tôi không hiểu hết ý nghĩa của ba chữ Cô lâu mộng thì Ngọ rất
thú vị và đồng tình với cụ Võ: Con gái có đẹp như tiên, rồi cuối cùng chỉ trơ
ra như một bộ xương người! Làm sao một nhà thơ tương lai là tôi có thể chấp nhận
một chân lý thô thiển như thế? Nhưng Ngọ cũng như tôi rất say mê cặp tình nhân
trong truyện, những lời "từ" của người thư sinh bất hạnh là Khái Sinh
trong truyện, nỗi đau thương đồng cảm làm cho tôi đổ bao nhiêu nước mắt, thì cũng
làm cho Ngọ khóc tấm tức bấy nhiêu... Nhất là trước những câu những chữ, có lẽ
cụ Võ cũng phải chuốt nhiều nước mắt mới sáng tạo nên được! Trong chiêm bao có
lẽ Ngọ và tôi gào lên những câu: "Trời khó hỏi, đất khó hỏi sự thế đảo
điên, kiếp người chìm nổi" hay "Thôi, thôi, thôi thánh thần,
thôi tiên Phật, thôi hào kiệt, thôi anh hùng: ngàn năm sự nghiệp nước về
đông...". Ai lòng nấy, nhưng chúng tôi đã gần gụi nhau đến mức nào bây giờ
tôi cũng không nhớ rõ, chỉ biết anh Võ Bình và những người bà con cụ Võ muốn
ghép Ngọ với tôi, hình như điều mà cả hai bên không không ai nghĩ tới. Lúc chia
tay, chúng tôi cứ nghĩ bình thường như mọi người, hôm qua biết nhau mai sau gặp
lại... Đến nay, tôi vẫn không biết Ngọ đi đâu, số phận ghép vào ai, chết hay sống
chốn nào. Có một điều an ủi tôi là mỗi khi tôi nhớ, tôi đọc câu thơ cụ Võ, tôi
tưởng như trong đó có nỗi niềm của cô gái chân thành xứ Nghệ: "Cùng mơ hão
cái đau buồn trong mơ", sao mà gắn bó đến thế!
Tôi từ giã Huế ra Hà Nội học tiếp. Tin xin vào trường Cao đẳng
tiểu học Nguyễn Du, một trường tư, giám đốc là ông Hoàng Cơ Nghị, một tri thức
Hà Nội lúc bấy giờ. Vợ ông ta là bà Esévérie... người Pháp, bà đang giảng về Cinna [a] chương trình lớp đệ tứ, tôi có thích
gì Corneille, tôi đang nghĩ đâu đâu, bà bắt tôi thuật lại, tôi không thuật được,
bà mắng tôi, từ đó, tôi chẳng thấy thú vị gì để ở lại cái trường học này...
Bấy giờ thầy tôi đã mất, các anh tôi làm ra nhiều tiền, sẵn
sàng nuôi tôi ăn học cho đến nơi đến chốn, mỗi môn tôi tìm học một thầy, tôi học
tiếng Pháp với bà giáo có tên là Ghê-jen-nếc. Bà dạy tôi theo cách của bà, tôi
làm theo cách của tôi. Ở thư viện Trung ương, đường Trường Thi, có một phòng
sau khá rộng để bảng chữ to "Văn học nước ngoài" (Littérature
Étrangère) tôi làm quen với Dostoievsky từ đấy, tôi chả hiểu gì lắm, nhưng
"Đốt" đã nắm tóc tôi. Một nhà thơ nữa, nhà thơ Ba Tư Omar Khayam,
người đồng thời của Pascal, một nhà khoa học đồng thời là một nhà thơ lớn, tác
giả 70 bài thơ ngắn nói về rượu, về người đàn bà... đã mê hoặc tôi. "Tất cả
hiểu biết của con người chỉ là những chữ rỗng không". Người đàn đẹp
ư? Omar Khayam gửi vào cuốn sổ nhỏ của tôi, vào hồn tôi, vào đời tôi
một tứ thơ kỳiệu:
Hàng tỷ, hàng tỷ năm mặt trời mọc ở phương Đông.
Hàng tỷ, hàng tỷ năm, mặt trời lặn ở phương Tây.
Hãy nhẹ bàn chân, nhẹ bàn chân với!
Dưới chân, người sẽ đạp phải, đạp phải hạt bụi của mắt người
đẹp nhất trần gian!
Và chính nhà khoa học, nhà tư tưởng lớn Pascal cũng lại bảo: Hãy
ngu xuẩn đi hỡi con người... Và cạn đi hỡi người... giọt nước thánh...
Thế đấy, một cái bánh mì to giòn nuôi tôi mỗi ngày và mỗi
ngày tôi gửi hồn tôi nơi thư viện...
Nhưng rồi tôi cũng không thể giam mình mãi nơi cái phòng giam
đẹp ấy, nơi những nhà thơ nhân loại đã cuốn hút cả tâm tư tôi, cả hồn phách
tôi. Nhà bà giáo Ghê-jen-nếc nơi tôi mỗi tuần tới trả bài và nghe giảng, bà cho
tôi ngồi học ở một căn phòng nhỏ, có một tủ sách. Dưới hầm nhà, học sinh trưa
chiều ngồi vào yên ổn, đọc sách hay làm bài. Tủ sách quá nghèo nàn, ngoài một
ít sách học khô khan, chẳng mang lại cho tôi một hào hứng nào, vì từ bao giờ
cha sinh mẹ đẻ cầm quyển sách trên tay, đâu phải để mài giũa một chút công
thành danh toại?
Nhưng tôi đã gặp ở đây, không phải chỉ những trang chữ mốc
meo, sặc mùi danh lợi, mà là bóng một người con gái... Không phải bóng người mà
là một gương mặt, một mái tóc, một đôi mắt!
Không biết Loan - tên người con gái - đến
đây làm gì? Sau, tôi mới hay là Loan theo một lớp tiếng Anh do bà giáo
Ghê-jen-nếc phụ trách...
Buổi đầu, hai ghế đối diện, cách nhau một cái mặt bàn không rộng...
Loan chỉ nghiêm túc cúi đầu vào trang sách, hay ít ra cũng làm ra vẻ chăm chú đọc
sách... Còn tôi, mắt không rời những trang sách "Những đêm trắng" của
Đốt vừa mượn được ở thư viện Trung ương.
Câu độc nhất Loan ngỏ với tôi là một câu hỏi: Anh chắc giỏi
Anh văn (ông hay anh tôi không nhớ đích). Tôi đáp: Vừa nhập môn... mong chị (chị
hay cô tôi không nhớ rõ) giúp đỡ. Tiếng nói của Loan cũng dễ mến, nhưng giá lặng
im, giá âm trầm "thiền định" thì Loan đáng yêu hơn nhiều... Nhưng
tình thế buộc thế - đối mặt mà lặng im - Tôi biết được nhà
Loan ở 59 phố Hàng Cót, bố có hai vợ, Loan là chị cả; Loan cũng biết gốc tích của
gia đình tôi; ông tôi họ hàng có người làm quan đến Thượng thư trong triều, có
người khoa bảng. Loan hay hỏi tôi về Huế. Cái điều làm Loan đôi chút suy tư là
sao tôi cứ đọc tiểu thuyết Nga, nhất là truyện Dostoievsky. Tôi nói với
Loan "Thằng ngốc" là ai, là gì, tôi không hiểu, nhưng tôi vẫn
thích, Loan sửng sốt, tôi kể với một giọng say sưa... chuyện thằng ngốc mà cũng
là một ông thánh.
Loan cũng biết tôi có viết một vài bài văn nhỏ, nửa như báo,
nửa như thơ, gửi đăng ở tạp chí nào đó... Những bài tôi ký bằng một biệt hiệu,
có vẻ hơi lố... "Tuyết Lư em". Sao không ký là "Em Tuyết"
hay là tên thật của tôi? Thêm chữ "Lư" có vẻ là để khoe với bạn, tôi
cũng có chút gì để làm cho người đời chú ý. Tôi đang ráo riết chuẩn bị thi tú
tài Pháp, mỗi lần viết thư cho các anh, tôi đều nói như thế, không nói thế làm
sao có tiền để mua sắm những bộ complet? Tôi nhớ lúc 17 tuổi, chụp một
"pô" ảnh tại một nhà ảnh người Trung Quốc, tôi ngắm mãi tôi, sao yêu
đôi mắt thật thà sáng trong của mình đến thế! Liệu cô Loan có yêu mình như mình
yêu mình không? Làm sao tôi có thể ngắm vào đôi mắt mình, gương mặt mình được...
Chỉ có thể ngắm ảnh trong gương thôi. Nhưng ảnh chụp và bóng trong gương đâu hẳn
là giống như mình ở ngoài.
Cái tiền đồ thi cử của tôi không gì hấp dẫn, may ra có một
chút tên lên báo để giới thiệu mình với đời... Có thể lúc bấy giờ tôi có chút hợm
mình đó chăng? Được có tên mình trên báo nhất là tờ báo Phụ nữ Thời đàm mà
chủ nhân là ông Nguyễn Văn Sá một nghị viên, một nhà giàu sang, là bố của hai cô,
chị là Xuyến, em là Vân đẹp nổi tiếng... [b] Có được tên dính trên tờ báo ấy,
cũng cho đó là một vinh dự?
Tất nhiên Loan cũng đọc những bài báo nhỏ ấy, lúc bấy giờ tủ
sách của bà Ghê-jen-nếc... không phải chỉ cun cút một bóng người, mà Loan đã
kéo nhiều bạn bè trong đó có Oanh. Loan không giới thiệu tên thật của tôi, mà
thích giới thiệu "Tuyết Lư em". Khi một mình với tôi trong hầm, Loan
có lần đã đùa, gọi tôi chỉ một chữ đuôi: Em.
− "Em" lấy giùm Loan quyển sách...
− "Em" rót giùm tách nước...
− "Em" xem sáng nay hoa hồng bà Ghê-jen-nếc nở
đẹp chưa?
Loan gọi một chữ Em ngọt xớt, mặc dù ít ra Loan cũng kém tôi
3 - 4 tuổi...
Một hôm tôi kể chuyện Năm đêm trắng [c] xong, Loan nhìn sững vào mắt tôi, và
đôi mắt Loan như chớp chớp...
− Đời buồn quá anh nhỉ! Anh nên tìm truyện vui mà đọc.
Loan hỏi thăm tôi về chuyện gia đình, và hay nhìn trộm tôi!
Không hiểu vì lý lẽ gì, mấy hôm nay, Loan không hỏi chuyện, đọc vài trang sách,
gấp lại, lại mở đọc...
Những lần tôi đi qua nhà Loan... không bao giờ thấy Loan ở tầng
dưới... Một hôm gặp Loan cùng mẹ lên chùa... Đầu vấn khăn nhung, trông Loan già
và nền nã hơn... Chuyện gì đã xảy ra, nỗi đau đã hiện đầy trên gương mặt! Giá
thấy tôi, chắc Loan sẽ không cầm được nước mắt!
Ba hôm sau, chờ mãi, đến hôm thứ tư Loan đến, tôi hỏi có chuyện
gì mà trông Loan buồn thế, Loan im lặng.
Hôm sau, Loan đến... Với một bức thư đặt vào giữa trang sách
tôi đang đọc, rồi về ngay...
Thế ra chúng tôi yêu nhau rồi ư? Nào biết Loan đau buồn chuyện
gì, nhưng cái đau buồn của Loan đã lây cả vào hồn tôi!
Bức thư chả dài lắm. Tôi đọc đi, đọc lại đến nát.
"Tuyết Lư em!"
Mở đầu Loan gọi tôi như một lời đùa thế! Lời đùa của mỗi
ngày... Nhưng bức thư thật thống thiết... "Loan có người em gái nhỏ 5 tuổi
không ngờ trở bệnh nhanh bác sĩ đến thì chậm mất rồi! Anh xem cuốn sách hình vẽ
trên bàn... mà chừ Sơn đã nằm dưới đất rồi, em không sao chợp mắt, suốt đêm trố
mắt nhìn bốn cọc màn, giá được khóc với anh!"
Tôi đọc đi rồi đọc lại, bức thư chỉ nói về cái chết đứa em
gái Loan, mà chẳng khác nào một bức thư tình da diết!
Mỗi lần ở "tủ sách" dưới căn hầm của bà giáo
Ghê-jen-nếc Loan như nán lại đến chậm, mỗi phút đợi chờ của tôi đã dài như một
buổi, một ngày; nghe tôi báo là sẽ nghỉ hè về Huế, Loan tỏ ra bồn chồn... Chúng
tôi đã nói đến sự chia ly, và gần như tạo ra cho mình một thứ sầu chia ly... để
mà buồn, mà nhớ...
Chương II
MÂY BỐN PHƯƠNG TRỜI
Ngày tôi trở về quê, càng đến gần, tôi càng buồn mà hình như
Loan cũng có một cái buồn nén đi. Loan hẹn ra tiễn tôi ở ga Hà Nội, lúc ấy tàu
tốc hành Hà Nội - Sài Gòn mở máy vào giờ hoàng hôn. Tôi đưa mắt trông
mãi, không thấy bóng Loan. Tôi đang thất vọng khi không phải Loan mà Hoan, người
bạn gái thân của Loan đến. Hoan cho biết Loan không đến được và ngỏ ý với tôi
là Hoan sẽ cùng đi với tôi đến Huế. Hoan vào tìm Thuần, người yêu của Hoan.
Hoan cho biết buộc phải bỏ nhà ra đi vì gia đình bắt ép Hoan lấy một người công
chức mà Hoan không quen... Đồ đạc quần áo, Hoan mang theo chỉ gồm một "cặp"
nhỏ, tiền bạc không có bao nhiêu. Tôi hỏi Hoan có nên đánh điện vào Huế cho Thuần
không? Hoan rưng rưng nước mắt, không đáp. Tôi bảo quê tôi ở Quảng Bình, tôi phải
xuống ga Ngân Sơn. Đến ga này, chẳng nói chẳng rằng Hoan cứ lẳng lặng xuống
theo tôi. Anh chị tôi ở bên sông. Một chiếc thuyền nhỏ đưa chúng tôi qua sông.
Nước sông phẳng lặng lạ lùng. Không chút sóng gợn. Mặt trời xuống nhanh sau
núi... Hoan nhìn tôi hỏi một câu bằng tiếng Pháp:
− Tôi yêu hoàng hôn. Anh có yêu không?
Tôi sửng sốt, cúi đầu không đáp... Về nhà anh chị, tôi ở lại
một hôm, tôi xin thêm tiền... rồi lại lên tàu, đưa Hoan vào Huế, tôi thuê cho
Hoan một cái phòng nhỏ và xin được về nhà bạn nghỉ... Hoan khóc bảo đất lạ, tôi
vất Hoan một mình ở một nhà hàng hay sao? Tôi buộc ở lại... Đêm, kê ghế nằm nghỉ
không sao ngủ được. Hoan cả đêm cũng không ngủ.
Sáng hôm sau, tôi ngồi viết mấy dòng cho Loan ở Hà Nội kể hết
sự việc xảy ra... Và tất nhiên tôi chân thành... nói nỗi lòng thương nhớ Loan,
đồng thời lại có ý trách Loan vô tình không lên ga tiễn tôi! Viết xong bỏ vào
phong bì không dán, tôi nói với Hoan: Viết thêm mấy chữ cho Loan đi!
Hoan có viết thêm gì không, tôi không rõ. Ý tôi chỉ mong Hoan
đọc được những lời tôi viết cho Loan, rõ được tấm lòng chung thủy của tôi đối với
Loan, có ý nhắc Hoan không nên đi quá giới hạn...
Nhớ câu hỏi: "Em yêu hoàng hôn, anh có yêu không?",
tôi vừa ngượng vừa giận. Lúc nào Hoan nhìn thẳng vào mắt tôi, tôi rất lúng
túng... Một tối, Hoan đòi tôi dẫn đi chơi núi. Tôi từ chối. Hoan mỉa tôi: Nhà
thơ gì, không yêu trăng? Cuối cùng rồi tôi cũng phải dẫn Hoan đi. Khi lên dốc,
Hoan ho, có khi ngồi xuống không bước tiếp được, tôi buộc đưa tay đỡ Hoan đi.
Những ngày ở Huế, tôi mong Thuần ở Quảng Trị đến gặp Hoan, nhưng vẫn không thấy
bóng Thuần, tôi buộc phải dẫn Hoan ra Quảng Trị tìm cho được Thuần. Ông Phủ
thân sinh ra Thuần tiếp chúng tôi quá lạnh nhạt. Thuần sợ bố, cũng không dám nhận
Hoan là người yêu của mình. Hôm chúng tôi trở về Huế, Thuần tránh mặt. Nhưng
Bình, anh của Thuần, đã dám trốn nhà đi theo chúng tôi. Bình là con vợ bé của
ông Phủ nên không được bố đối xử như Thuần. Anh bất chấp thái độ của ông bố và
của Thuần. Bình cũng là bạn của tôi, rất bất bình về thái độ của em mình, khi
trốn theo chúng tôi vào Huế trong túi anh không có một đồng xu... Bình nói với
Hoan: "Bố tôi không từ tôi, thì tôi cũng bỏ nhà". Cũng may, ở Huế chúng
tôi có một người bạn mở hiệu sách "Thắng Thiên" nhận Hoan và Bình làm
công cho mình, thế là tôi được "thoát thân" để trở về quê với các anh
chị tôi. Trong hai tháng hè, mỗi tuần tôi viết cho Loan một thư, có kèm địa chỉ
cho Loan trả lời. Nhưng tuyệt nhiên tôi không được một dòng nào từ Hà Nội. Ở
nông thôn vắng vẻ nên lòng càng suy nghĩ lan man, không hiểu chuyện gì đã xảy đến
cho Loan. Hết hè, tôi trở ra Hà Nội. Trong thư viện bà giáo Pháp, đã đành không
thấy Loan... mà mỗi lần đi qua nhà Loan vẫn không thấy bóng Loan ra vào. Có lúc
đứng thần người một góc phố. Viết thư này, tiếp thư khác vẫn không chút hồi âm.
Tôi nhớ có lần Loan đã nói với tôi là Loan có một người bạn học Luật, người miền
Trung, thường đến nhà chơi. Có lần tôi hỏi một câu hỏi vu vơ: "Bao giờ thì
xác pháo đỏ trước nhà". Loan cười…
Đến bây giờ thì một bức màn bí ẩn như trùm lên tôi từ đầu đến
chân. Tôi không hiểu ra sao cả! Có hôm, tôi ngồi ở một quán nước cách nhà Loan
độ mấy nhà, tôi hỏi ngươi chủ quán: Hè này, phố bà được nghe mấy lần pháo nổ?
Vô duyên! Tôi làm sao mà có thể dám mở miệng hỏi một câu vu vơ như thế?
Loan có một người bạn gái ở đường Sinh Từ tên là Hạnh. Tôi đến
thăm Hạnh. Hạnh thấy tôi, cười hỏi: "Anh giấu Hoan đâu rồi?". Trời sụp!
Tôi lúng túng không biết đáp thế nào… Nhưng câu hỏi của Hạnh cho tôi sức mạnh để
hỏi thẳng điều mình muốn biết. Hạnh, cô gái nhanh nhảu ấy như đọc hết cả lòng
tôi, đã mở miệng trước tôi: "Chim mới ra ràng, có người bắt mất rồi!".
Thấy tôi hoang mang, Hạnh đẩy thêm: "Loan vốn chúa ghét chuyện lăng
nhăng". Thương hại tôi, Hạnh nói thêm: "Ông cụ Loan hai vợ. Loan từng
than rằng: nhà mình chẳng được một ngày yên ổn hạnh phúc!".
Câu chuyện đến thế đủ cho tôi hiểu cả rồi, không cần đi sau
thêm nữa. Mỗi ngày một cái bánh mì, tôi lại ngồi ở thư viện Trung ương, từ trưa
cho đến 9 giờ tối… Về đến nhà, giở cái thư độc nhất ra đọc. Cứ thế, cho đến lúc
cái thư nát bẩn. Có lúc tôi khóc, có lúc tôi như điên lên được. Cuối cùng tôi bấm
vào thịt da mình, kiểm tra lời ăn tiếng nói của mình: quả mình vẫn sáng suốt mà
trái lại, tại sao cứ tưởng tượng như nàng đã tự ý đi vào một nhà điên hay một
nhà tù! Suốt ngày tay nàng nắm những song sắt, và qua song sắt nhìn ra ngoài…
tìm ai…
Không phải hôm nay tôi mới làm thơ, mà từ buổi mười lăm, mười
bảy tôi đã sáng tạo nên cả một chùm thơ mộng:
Xin rước cô em bước xuống thuyền
Thuyền tôi sắp trẩy chốn thần tiên.
Có lúc như cùng với người yêu cùng bay trong mộng. Từ trong mộng,
thuyền bay, sợ chóng mặt lại kêu "thả neo, cắm thuyền lại". Chưa bao
giờ tôi cầm một bàn tay đẹp nào mà tôi đã cứ tưởng tượng, mình có người yêu tên
là Vân, rồi thương, rồi nhớ!
Nhìn đám mây chiều lại nhớ Vân.
Hoặc khi ngồi trên bãi biển, trên cát lấy tay viết một chữ
"Vân" − chờ cho sóng biển tràn vào, xoá đi tên yêu, để rồi
ngồi thương khóc!!!
Có những gặp gỡ và chia ly trong mộng, rồi đến khi tỉnh mộng:
Ta mơ trong đời hay trong mộng
Vùng cúc bên ngoài động dưới sương.
Đó là vùng cúc động dưới sương, và đây là nỗi đau của ta liền
da thịt, nỗi đau của ta không phải là của ai khác:
Ta dí ngón tay vào mảnh kính
Giật mình quên hết cả đau thương.
Sự tác động trở lại quá bất ngờ, nỗi đau của tôi áp vào mảnh
kính − như một viên thuốc thần, làm cho nỗi đau chợt tan sạch.
Cái "sốc" kỳ diệu đầu tiên đó, tôi gọi là tình đầu.
Một thứ tình đối với tôi, nửa mơ nửa thật. Một thứ tình không chăn không gối,
chẳng hẹn bể thề non mà vẫn gọi là: Trăm năm chẳng bạc đầu.
Cái chuyện có thật đó sao thoáng qua như một giấc mơ. Và đâu
phải chỉ một lần mà tôi gọi là "tình đầu". Hà Nội - Huế rồi
Huế - Hà Nội, tôi coi như "môi trường" của cuộc đời mơ mộng
của tôi. Huế… trên hai bờ sông Hương, phượng vĩ đỏ chưa tàn… và tiếng ve rắng rỏi
suốt mùa. Bến đò Thừa Phủ phất phơ những màu áo tím nữ sinh trong những sớm, những
chiều… Một lần từ bên nội thành, tôi qua đò, rồi thẳng đến ga xe lửa. Tàu tốc
hành từ Sài Gòn ra đến Huế vào buổi sáng. Tôi sắp bước lên tàu, thì gặp Miên… một
người bạn quen nhau giữa Hà Nội, nói thân cũng được mà nói sơ cũng chả sai,
nhưng ít nhiều có cảm tình với nhau. Miên đưa một cô em gái lên tàu tốc hành đi
Hà Nội. Miên nói với em: "Nhà thơ đấy! Thế là Cúc có người cùng đi Hà Nội
rồi nhé". Miên quay lại nói với tôi: "Dọc đường giúp em một
chút", một giọng thân tình quá! Chúng tôi cùng lên tàu và ngồi bên nhau, cạnh
một cửa tàu.
Cúc có tiếng nói Huế đài các, có đôi mắt buồn, đồng thời là một
vị thiên thần có má lúm đồng tiền. Suốt đường dài chúng tôi chẳng có gì mà nói
với nhau nhiều, chỉ biết nhìn nhau thôi.
Khi đến Hà Nội, tôi thấy trên mặt Cúc đượm một chút lo… Tôi hỏi:
Cô về đâu, Cúc đáp: 18 Phạm Phú Thứ…
− Ở phía nào?
− Em chưa biết ở mô hết. Lần này lần đầu tiên em ra Hà Nội.
Cúc sợ muốn khóc lên, một cô bé mà! Tôi nói với mình: Thôi
tôi sẽ đưa cô đến tận nơi phố Phạm Phú Thứ.
Có ngờ đâu cái tên ấy đã thành chữ tên khắc vào lòng tôi suốt
một mùa đông. Tôi đưa Cúc lên tận gác, nơi có những người chị, người bạn của
Cúc đang ở. Rồi tôi chia tay với Cúc. Khi vừa xuống gác, ra đến đường thì gặp
Phạm Hầu, người bạn nhỏ của tôi lúc bấy giờ đang học ở trường Cao đẳng Mỹ thuật.
Tôi hỏi: Chú ở đâu?
Hầu chỉ lên một cái gác. Tôi theo Hầu lên gác ấy. Tôi mở cánh
cửa sổ, thì ra bên kia là phòng của Cúc. Tôi giật mình. Tôi nói với Hầu:
"Mình sẽ ở luôn với cậu được không?". Hầu đáp: "Có chi mà không
được! Ở đây, anh cùng ăn cơm tháng với em".
Tôi đặt va-li của tôi cạnh va-li của Hầu, và cẩn thận đóng lại
cánh cửa mà tôi vừa mở.
Ai chọn cho tôi cái cửa sổ này nhỉ? Tôi không thể nào tin
chính là tôi.
Thế là từ đấy, tôi cùng ở một phòng với Hầu, con người mà sau
này tôi gọi là "con nai nhỏ" của tôi… Hầu chỉ biết vẽ, đọc sách và
đôi khi làm thơ rụt rè: thơ cũng như người. Rồi chẳng bao lâu, Hầu như xoá mình
đi hẳn, tôi trở nên người chủ của căn phòng này. Cúc học ở trường Thăng Long,
cùng học với Cúc có chị Hoạt sau này là phu nhân của một vị Đại sứ nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở Liên bang Xô Viết, có chị Thân Trọng Quế cũng
người Huế và là vợ của một bác sĩ y khoa.
Rõ ràng, Cúc đã biết tôi ở bên phòng này bởi lần đầu, khi tôi
mở cửa ra thì đã thấy cửa bên kia rõ ràng là Cúc, cô em nhỏ trên tàu, và bên
này cửa rõ ràng cũng là tôi, người anh "dẫn đường" nàng, trong gần một
ngày… Cặp mắt Cúc mở to, nhìn vào mắt tôi rồi mỉm cười.
Lúc ấy, sau này, thật lạ lùng là mỗi lần khi tôi bất thần mở
cửa sổ, y rằng tôi lại thấy Cúc: khi thì đang ngồi đọc sách ôn bài, khi thì
đang rứt một cánh hoa trên bàn. Có khi Cúc chẳng làm gì, ngồi suy tư hay mơ mộng.
Lại có khi ở trường về, tôi chợt nghe một tiếng ho nhẹ. Tôi nhẹ nhàng mở hé một
cánh cửa. Không phải chúng tôi chào nhau mà nhìn nhau một lát, rồi cúi đầu, e
thẹn. Thường thì Cúc không để cho cái phút nhìn nhau đó được kéo dài. Cúc vụt đứng
lên, rời cửa sổ kèm thêm một tiếng thở dài có vẻ như bực dọc. Tôi nhớ có lần,
khi tôi mở cửa sổ, Cúc không ngước lên nhìn tôi, rồi cứ thế, cho đến lúc cánh cửa
sổ như tự nó lại khép lại. Dầu tôi có viết đoạn "tình sử" này đến một
vài trăm trang, thì cũng bấy nhiêu việc lặp đi lặp lại… Cũng chả có điều gì
khác: Cửa sổ mở rồi lại đóng, đóng rồi lại mở. Thế mà cái nhìn, cái trông, cái
đợi đã thấm vào ruột gan từ ngày nào rồi. Một mùa đông đã trôi qua. Làm sao tôi
nhớ được biết bao lần Cúc đã vào trong giấc mơ của tôi. Nhớ sao hết được những
tiếng ho. Ấy thế mà lại kêu gào lên như giữa một ngàn trùng xa cách:
Em là dải Ngân Hà
Anh là chim Ô Thước
Sẽ bắc cầu nguyện ước
Một đêm một lần qua
Cái gì đã xảy ra vậy? Với cũng chẳng muốn với tới, lui cũng
chẳng thể lui cho. Và qua mấy mùa đông, từ hai đầu dây cũng chỉ còn một kết luận:
Em chỉ là người em gái thôi!
Người em sầu mộng của muôn đời
Tình em như tuyết giăng đầu núi
Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời!
Cúc lại mỗi sáng cắp sách tới trường, ở trường về, ném qua
tôi một cái nhìn đầy sóng gió, có phần như trách giận tôi nhiều lắm. Tất cả tội
lỗi đổ cho tôi hết. Tôi lấy gương nhỏ soi mặt nhìn đôi mắt mình… Vẫn mình đó,
hiền khô. Nếu Phạm Hầu là con nai nhỏ của tôi, thì bây giờ tôi cũng chỉ là con
nai lớn của Phạm Hầu. Tôi nhớ tấm ảnh 17 tuổi của tôi chụp ở Khải Xương… sao mà
vô tội đến thế. Tôi mà làm nên tội cho ai được? Tôi làm bài thơ "Một
mùa đông", chuyện người trong mộng ảo rồi cuối cùng có nỗi đau thật,
có giọt nước mắt thật, nước mắt người!
Quả nỗi buồn đã đến, và có phải, cái buồn đã dẫn tới cái giận?
Dẫu sao tôi cũng đã tìm lời biện hộ cho mình:
Ai bảo em là giai nhân
Cho đời anh đau khổ?
Ai bảo em ngồi bên cửa sổ
Cho vướng víu nợ thi nhân
Lý lẽ đến buồn cười! Làm giai nhân là một cái tội ư? Lý lẽ
còn buồn cười hơn nữa, ngồi bên cửa sổ cũng có thể là một cái tội? Nếu cửa sổ
tôi không mở thì đâu có chuyện thi nhân! Trong Chartreuse de Parme (a) sau này tôi có đọc, tôi thấy giữa
cửa sổ, qua vách có đục, có khoét và có giăng giây giữa anh chàng và chị chàng,
nếu có tội, thì tự ý hai người đã làm nên tội. Còn tình yêu ở đây, có cơ sở lý
luận riêng của mình.
Khi tôi viết:
Anh sẽ theo cánh gió chơi vơi
hoặc:
Anh là mây bốn phương trời.
Thì tôi không phải là mây gió giữa trời nên cuối cùng, đành lấy
tuyết trong mà phủ cho người em gái! Đó là tất cả nguyện ước thật sự của người
ghé chân bên cửa sổ một chiều đông. Mộng và đời là hai sợi chỉ ngang dọc trên
khung cửi. Đời đẻ ra mộng và mộng lại dệt nên đời. Thái Can vừa là một bác sĩ y
khoa vừa là một bạn thơ của tôi. Can cũng là bạn của bác sĩ Cẩm Chương chồng chị
Thân Trọng Quế. Có phải là do hai anh bàn với nhau hay chỉ là một sự ngẫu nhiên
nên có một cuộc đi chơi ở chùa Thầy để rồi kết thúc lạnh lùng một câu chuyện
cũng được gọi là một câu chuyện tình. Khi ấy đến giờ đã hẹn, chúng tôi tập
trung ở chùa Thầy. Từng cặp, từng cặp xuống hang. Tôi thấy Cúc chả đi với ai.
Tôi cũng không biết theo ai. Rồi tôi cũng ngẩn ngơ đi bên Cúc. Đường xuống
hang, trên từng mô đá gập ghềnh mà chúng tôi tưởng như đạp trên mây; tránh mọi
sự đụng chạm vào nhau. Đến trưa chúng tôi mới trở về sân chùa. Chúng tôi trải
giấy nhật trình, bày bữa ăn trưa. Có ít gà quay và vài chai rượu vang Pháp. Thấy
tôi uống, Cúc cũng bắt chước đưa cốc rượu chạm vào môi. Người em gái tuyệt vời
khi trên đôi môi nhuốm màu nho tươi và hồng đôi má, rồi để rơi trên trán vài sợi
tóc cô đơn vô tình tạo thành một hình tượng nghệ thuật khó phai. Cúc nhìn tôi với
nước mắt khẽ rơi, có phải một cơn gió giận đã gieo những giọt lệ vào trong khoé
mắt nàng? Cuối cùng từ trong lòng như có một lời cảnh báo:
Anh muốn van em đừng uống nữa
Lệ buồn sẽ nhỏ trong đêm nay
Tôi có cảm giác như bị dồn ép vào một tình cảm nghẹt thở. Năm
1973, 1974 gì đó, Cúc ở Paris về Hà Nội. Người em gái bé bỏng ngây thơ hôm nào
đã là bà Điềm Phùng Thị, bỏ cả nghề y (bà là một bác sĩ nha khoa) trở nên một
nhà điêu khắc nổi tiếng… Trong bài tựa một cuốn sách nhỏ, bà đã nói nguồn gốc
nghệ thuật của bà. Bà kể lại như một đứa trẻ: "Tôi thăm một người bạn, thấy
đất ướt, bạ đâu tôi vất đấy. Thờ ơ tôi vất đất xuống bộc cửa sổ, đất lấy hình,
đất thành cái này, cái nọ, con này, con nọ"… Những bài thơ thủa nhỏ của
tôi, nói cho cùng, cũng thế thôi: Một chút hồn mộng vất chỗ này một chút, vất
chỗ kia một chút, nó thành hình gì thì nó là cái ấy. Hôm ấy, Hội nhà văn mở tiệc
mừng các tri thức, nghệ sĩ ở nước ngoài về, trong đó có bà Điềm Phùng Thị và hoạ
sĩ Mai Trung Thứ là người đã say vẽ một bức chân dung lúc 17 tuổi của Mừng, - nhân
vật chính của cuốn Hồi tưởng tình yêu này của tôi. Bức chân dung ấy
theo kháng chiến đã tan nát đâu rồi bên những đèo suối nào? Còn Điềm Phùng Thị
tức Cúc là đối tượng của một bài thơ của tôi.
Hôm ấy Nguyễn Tuân dắt Cúc lại ngồi một bàn với tôi và vợ tôi
là Mừng. Tuân cười xì xì: "Đây rồi, đối mặt ngâm gì thì ngâm đi!". Tất
cả chúng tôi cùng cười với nhau vui vẻ, tưởng như cuộc sống, chẳng có điều gì xảy
ra, có khi thật mà như đùa vậy.
Trong đời, có được một câu thơ nào, hình như đều do cuộc đời
gợi ý cho. Tuy vậy, cũng có những bài thơ đôi khi một mình ngâm lại vẫn không
biết từ đâu tới.
Với bài thơ: Khi thu rụng lá, nào có biết mình nhớ
ai, mình thương, mình mong, mình đợi ai? Có thể người chẳng bao giờ gặp, có thể
người đã đi qua như một cái bóng nghiêng nghiêng không nhìn rõ. Cũng có thể lướt
qua, rồi mất hẳn… Bài thơ này không phải là một bài thơ hay của tôi, và chẳng
có vẻ gì sáng tạo rõ nét. Nhưng sao tôi yêu đến thế, khi chỉ một mình, tôi thường
ngâm:
Cười chim cợt gió nào ai biết
Chua chát lòng anh biết mấy tình
Từ trong man mát hư không mà bị chích, bị châm, bị xé, lấy
cái đau xót làm cái đau xót của mình, như một tín đồ lấy đó làm hạnh phúc trời
cho, được triền miên sống trong hạnh phúc yêu thương mãi mãi.
Ngày tháng anh mong chầm chậm lại!
Hững hờ em mặc tháng ngày qua…
Yêu thuần chất, mộng thuần chất, đẻ ra thơ thuần chất… Sẽ đẩy
lui những ý xấu, đắp thêm mộng đẹp cho tâm hồn.
Trong thơ có thu lạnh, có hè ấm để rồi chờ cho đông đến, một
cách đột ngột cướp đi cái bóng yêu vất trả cho nhà chồng…
Mùa đông đến ở bên sông
Vội vã cô em đi lấy chồng…
Em có biết chăng? Ngày hạ thắm!
Tình anh lưu luyến một bên lòng?
Tuổi thơ của tôi thật là tuổi mộng, - đến lúc xin
giơ tay cao: Chào bạn nhé! Vĩnh biệt chào bạn thì anh bạn nhỏ ơi,
tình duyên đâu còn là chuyện đùa bỡn được, nếu khi trong cuộc đời mình một con
người thật đã đến, trên mái tóc thật sự chia sẻ với mình từng nỗi đắng cay.
Sau khi rời nơi có hai khung cửa sổ đầy kỷ niệm, tôi về ở với
hai người bạn mới là Thái Can và Lê Trọng Huyến ở phố Ngọc Hà, Hà Nội. Lê Trọng
Huyến, em nhà học giả Lê Thương, học đâu nhớ đấy, "nói tiếng tây như
gió", nhưng mấy lần đi thi "Bắc một"[b] không thấy khoe đỗ. Huyến là một người
lạc quan lạ lùng, lúc nào cũng đùa giỡn, và muối cà Nghệ rất ngon. Giữa một
ngày hè Hà Nội, Huyến nói cho tôi biết một "cô gái Huế" sắp đến thăm
tôi… Cũng không hiểu sao, Huyến lại bảo cô ấy được coi là cô gái Huế? Và cũng
không hiểu sao Huyến dám quyết đoán là khách của tôi.
Người con gái đó là Thanh Thuỷ, mặc một áo dài trắng và che một
cái ô màu. Thanh Thủy quê ở Hội An, một lần ra Huế, có gặp tôi, cùng với vài
người bạn, chúng tôi đã đi chơi hồ Tịnh Tâm. Đi chơi một vòng quanh hồ, nghe tiếng
chim trên đầu, hai người không nói với nhau một lời. Lúc chia tay, Tài (tên thật
của người con gái) hỏi tôi: Sao anh làm thơ nói chuyện đâu đâu, lại ký tên
"Thanh Thủy", lại dám đăng báo? Tôi cười không biết thế nào mà trả lời...
Tài cũng cười một cách độ lượng, Thanh Thủy cũng hỏi tôi có trở ra Hà Nội
không. Tôi bảo là có. Tôi gửi địa chỉ. Quả, Tài ra Hà Nội thật và tìm đến tôi.
Tài có người anh ở Hà Nội, và Tài ra Hà Nội lần này để quảng cáo cho dầu
"Thanh Thủy" của mình. Nguyên có người quen cũng đã tìm hiểu cách chế
tinh dầu tràm, Tài cũng hùn vốn sản xuất dầu và tung ra thị trường. Tôi cũng chẳng
hiểu gì lắm về sự kinh doanh của Tài. Chỉ biết hôm đi hội chợ ở Đấu Xảo (nay là
cung văn hóa hữu nghị Việt-Xô) chúng tôi cùng đi bên nhau. Bọn trai Hà Nội
tung "xéc-păng-tanh"[c] lên đầu Tài. Tài chỉ nhìn mọi người
một cách độ lượng. Khi Tài ở Hà Nội, ngày nào chúng tôi cũng đi chơi với nhau.
Có lần, tôi đưa cho Tài xem mấy bài thơ mới làm của tôi. Tài đọc một cách thích
thú. Lúc chia tay, chúng tôi cũng chẳng gửi trao một điều gì cụ thể. Tôi bảo, Tết
này, tôi về ăn Tết ở làng. Và tôi lại gửi lại nàng cái địa chỉ của tôi.
Tết tôi về làng. Lệ làng tôi sáng mồng một Tết có lễ "cướp
cù". Làng chia ra hai giáp. Giáp trên cướp về phía trên. Giáp dưới cướp về
phía dưới. Tôi không hiểu động lực gì làm cho người làng say mê hăng hái đến thế?
Có thể nói hàng trăm, hàng trăm người, già có trẻ có, lao vào tranh nhau một
hòn cù to bằng gốc chuối sứ. Nếu có những thanh niên nào, mặc áo sạch sẽ đứng
ngoài xem, tức thì có những ông già và những cô gái trẻ ném bùn vào áo mới của
người thanh niên đó buộc họ nhảy vào cuộc... Có người dũng cảm bám theo hòn cù,
lưng thịt bị nát nhừ, có khi bị đứt tóc, rách mặt mà vẫn ôm níu lấy cù. Là con
quan, thư sinh, tôi cũng không thể đứng ngoài nhìn. Tôi đã xông vào, đến lúc
chiều tối, "thanh la" đã xổ ba hồi, báo kết quả được thua, thì mọi
người mới ra về... Tôi cũng như mọi người, mặt mũi bết bùn, áo quần rách nát.
Tôi nằm chết một nơi trên ổ rơm, không nói được, không đi được, không thở được.
Bỗng em gái tôi chạy lại, một tay cầm một phong thư, một tay lấy nước xối vào mặt
tôi cho tỉnh rồi nói: "Thư anh đây". Tôi xé phong bì, chao ôi, Thanh
Thủy - tóc búi, áo hoa, một kiểu ngồi gần Sài Gòn hơn Huế... càng xa
Bắc. Người còn dính bùn, tôi trố mắt nhìn ảnh nàng rồi tôi ôm vào ngực!
Sau ảnh, kèm mấy chữ: "Chưa đi đâu, mời anh vào nhà chơi
một chuyến. Nhà số 4, đường Nhật Bản, Faifoo".
Vâng! Một tấm ảnh, chưa hẳn là một người thật, nhưng không
còn là ảo mộng!
Mùa hè, tôi đi vào Faifoo [d] của Tài, gia đình Tài
vui vẻ, chân thành tiếp đón tôi. Lần đầu tôi gặp người anh cả của Tài - một
"trợ giáo" có tên trong "sổ đen" đang bị mật thám theo dõi.
Và tôi được gặp người chị gái của Tài là dâu cụ Nguyễn Hiệu, một lãnh tụ của
phong trào Cần Vương, một nhà khoa bảng lớn, đã bị Pháp mang chém ở An Hòa. Tài
có một người bạn tên là Hạnh - một người con gái rất vui, xinh, cười
nhiều hơn nói... Faifoo là một thị xã cổ kính đầy màu sắc Á đông... Thế rồi tại
cái thương cảng cổ xưa ấy tôi và Tài quyết định sống với nhau... Nhà gái yêu cầu
điều kiện thủ tục gì tôi cũng chấp nhận. Trong đám cưới, tôi cũng chịu mặc áo gấm,
đội khăn xếp và lạy bao nhiêu lạy trước ông bà tổ tiên. Cưới được ít lâu, chúng
tôi về Quảng Bình. Chúng tôi có một ngôi nhà nhỏ ở bên sông Gianh, sớm leo núi,
chiều bơi thuyền. Những lúc rảnh, tôi viết. Trong bài Túp lều cỏ tôi
khoe rằng tôi giàu hơn ông Thạch Sùng ngày xưa. Sự sáng tác từ đây cực kỳ phong
phú. Tôi làm thơ, tôi viết tiểu thuyết, viết cả lý luận. Ở núi Ngân Sơn quá hẻo
lánh, sống thanh đạm, khi tiền vốn cạn dần, chúng tôi dọn vào Huế, để mở rộng
xã giao hơn, và để tìm đường sinh sống. Tôi gặp lại Hoài Thanh lúc ấy đang ở Huế
làm một công việc rất khiêm tốn: sửa "mo-rát" cho nhà in Đắc Lập, một
nhà in ở Huế. Ông Cao Xuân Huy, con cụ Cao Xuân Dục, một trung thần triều đình,
chính là giám đốc nhà in này. Những tiểu thuyết và thơ tôi đã viết ở núi Ngân
Sơn tôi đưa cho Hoài Thanh xem. Không ngờ truyện Người sơn nhân lại
gây một ấn tượng mạnh ở Hoài Thanh. Hoài Thanh liền trao cho Cao Xuân Huy, một
người vốn tốt nghiệp cao đẳng sư phạm đồng thời là người đang say Trang Lão. Ông
Huy viết một bức thư cho Hoài Thanh khẳng định đây là một sự sáng tạo mãnh liệt,
lấy tư cách giám đốc, ông Huy sẽ đứng ra bảo lãnh cho quyển sách được in chịu ở
nhà in Đắc Lập. Thế là "Ngân Sơn tùng thư" ra đời và Người sơn
nhân được xuất bản. Cả thơ lẫn truyện ngắn của tôi được tập hợp in sách đều
do Hoài Thanh giới thiệu. Tập truyện ngắn đã được nhiều báo Tây, ta, lúc bấy giờ
hết sức chú ý, nhất là bài phê bình của cụ Phan Khôi [a] đã đưa cuốn truyện của tôi lên tận
mây xanh! Ông Phan Khôi cho rằng văn đoàn đến nay chưa có một tác phẩm nào có
giá trị sáng tạo như thế! Được những lời khen tôi đâm ra hoang mang. Nhưng từ đấy,
tôi cảm thấy con đường văn chương đã rộng mở trước mắt tôi. Cùng lúc ấy những
bài "thơ mới" của tôi cũng đã bước đầu làm xôn xao dư luận. Một hôm
anh bạn Bửu Tuất hiện đang cộng tác với một hãng tiết kiệm lớn của Pháp, ngỏ lời
mời gia đình tôi ra Hà Nội, nơi có một môi trường hoạt động lớn rộng hơn. Như con
chim lông cánh chưa đầy đủ, vừa mới ra ràng chúng tôi đã dám vỗ cánh bay một mạch
ra khỏi tổ ấm.
"Ngân Sơn tùng thư" đã chết yểu nhưng tiếng tăm của
tôi xa gần có người biết tới. Rời Huế chúng tôi kéo cả một tổ ấm treo vào Hà Nội,
không hay gì số phận một chiếc thuyền nan bé nhỏ giữa ngàn sóng đại dương. Hà Nội,
với chúng tôi, là cả một thế giới lạ lùng, nhiều ánh sáng mà đầy bóng tối.
Thích ứng được với dòng nước mới này, con cá cũng phải trầy da tróc vẩy bao
phen... Có lần chúng tôi như ở một địa ngục. Ở trong cái địa ngục ấy, đôi khi
chúng tôi cũng tìm được một dòng Ngân Sơn trong vắt. Giữa Hà Nội, đôi khi chúng
tôi cũng được thấy ánh trăng xanh. Giữa cuộc sống vẩn đục bị đau quật từ bốn
phía, tôi vẫn đi tìm lại những dòng thơ trong sáng nhất:
Còn đâu ánh trăng vàng
Mơ bên làn tóc rối
Chân nâng trên đường sỏi
Hoa lá đổ rộn ràng
Trăng nội vẫn mơ màng
Trên những vòng tóc rối
Đêm ấy xuân vừa sang
Em vừa hai mươi tuổi....
Chương III
TỪ TRONG NỖI ĐAU SINH NỞ
Nói về chuyến đò, chuyến tàu, cũng là một cách nói... Nhưng
cũng có một cách nói khác: một chuyện đau qua, lại nảy ra giữa đời một nỗi đau
mới. Cuộc đời đang "chuyển bụng". Cuộc đời bao giờ chả thế: mãi mãi
chuyển bụng... đẻ ra những đứa con "sinh đôi" đứa tốt, đứa xấu... Khi
chúng nó nhắm mắt ngủ, nhìn thấy đứa nào cũng đẹp, cũng lành, cũng thánh thiện...
Nhưng khi chúng nó tỉnh dậy mỗi đứa đi một đường, đời tôi cũng mang dấu vết của
nhiều đau thương!
Từ Hà Nội ghé về làng, nơi tôi có cái "đụng chạm thiêng
liêng" mà tôi sẽ kể ở chương sau, tôi lại trở ra Hà Nội, lại để làm thơ,
làm văn, làm báo. Tôi đã đụng vào cặn bã của xã hội. Không phải những cặn bã ở
dưới đáy trồi lên, mà từ trên mặt lắng xuống, những cặn bã của tầng lớp
"buôn người mới", buôn văn chương, buôn đạo lý, buôn "thế thái
nhân tình", - giới tôi tiếp xúc nhiều là giới xuất bản, giới
buôn văn!
Cũng có những nhà xuất bản tốt, và những nhà xuất bản xấu. Có
những người thật lòng giúp đỡ gia đình tôi, nhưng cũng có những kẻ biết che
nanh, giấu móng... đón tôi với nụ cười hồ đồ khó hiểu, có người khoác áo
"Mạnh Thường Quân". Chả là lúc bấy giờ sau khi ở Huế tôi cho xuất bản
" Ngân Sơn tùng thư" và bộ ba truyện ngắn của tôi, đã làm
cho cụ Phan Khôi và nhiều nhà phê bình trên báo chí chữ Việt và chữ Pháp khen
ngợi, nhất là khi anh Nhất Linh đã cho in những bài "Phi lộ" của tôi
về "Thơ mới" (kèm theo những bài thơ mới của tôi) trên báo Ngày
nay, thì rõ ràng tôi có một cái tên và bắt đầu tôi trở nên một "món
hàng". Tôi đã gặp nhiều người tìm tôi để mua lúa non! (Mua lúa khi mới trổ
đòng đòng). Có người đưa cho tôi ba trăm đồng Đông Dương, họ nói: "Gia
đình cần mua sắm... ông cầm lấy chút đỉnh...", tôi đã cầm lấy như cả niềm
hạnh phúc bất ngờ trời cho, họ chẳng đòi ở tôi một trang bản thảo nào cả... Họ
nói thêm: "Khi hứng ông viết vài câu để lại cho đời". Với ba trăm đồng
tiền trên, cả gia đình tôi cũng sống tàm tạm một năm!
Những đồng tiền "cố nông" như sau này tôi thường
nói, - "cố nông" là hạng người ở nhà mặc dù rách nát nhưng
khi ra chợ thấy con cá chép, con cá tràu béo là chìa tiền mua luôn... Những tên
địa chủ, phú nông trố mắt nhìn... Cái nhà anh "cố nông" coi đời không
có ngày mai...
"Đời buồn lắm mày ơi!" - Có những nhà
văn, nhà thơ rủ nhau đi đến tiệm ăn, tiệm hút bằng một câu kêu ca như thế. Và
những đêm mưa to gió lớn chúng tôi lại rủ nhau xuống xóm "chị em"
nhìn những bàn tay gọt táo và nghe những khúc "Bến Tầm Dương canh khuya
đưa khách...".
Những tên buôn, khi chúng đánh hơi thấy "đồng tiền nhà
văn", sắp "đội nón ra đi", cái đói, cái thiếu, cái túng đã ngấp
nghé bên ngoài cửa sổ, ấy là lúc bắt đầu "thời kỳ những hợp đồng", - những
hợp đồng "tiền chao cháo múc", rồi những hợp đồng giữa sự túng bấn...
Đồng tiền giữa con người và ma quỷ! Thời kỳ những "hợp đồng nghiệt
ngã!"... Bên những bài thơ trong sạch là một Khói lam chiều, Con voi
già của vua Hàm Nghi, Cầu sương điếm cỏ, v.v... lương tâm nhà văn đã qua
những bước chán chường, mệt mỏi... Tôi sẵn sàng viết những tiểu thuyết để làm
vui lòng những tiểu thư, những "bà lớn", những cô gái tân thời...
Lúc đó, ở châu Âu, những đội quân phát xít Hít-le đã rầm rập
giậm chân trên những biên thuỳ quốc gia lớn bé... Ở Hà Nội quân phát xít Nhật
đã đến. Những ngọn đèn dọc phố đã bị che lại. Tôi được người ta yêu cầu dịch những
tài liệu chiến tranh, nói về chiến tuyến Ma-gi-nô của Pháp, Xi-éo-rép của Đức
Quốc xã. Tiền người ta đưa đã lấy tiêu mà ngòi bút của mình thì cứ chần chờ...
Không nộp những trang bản thảo đúng kỳ, tôi suýt bị kiện, bị tống vào nhà giam,
nếu không có sự giúp đỡ kịp thời của các nhà báo, nhà văn, của các "Mạnh
Thường Quân" già trẻ...
Cả người vợ của tôi lúc bấy giờ cũng không nỡ nhìn tôi loanh
quanh với sự bất lực. Nhờ bạn bè giúp, chúng tôi đã mở cửa hàng ở phố Hàng
Bông, làm đại lý một hãng bán các loại phấn son của Pháp, của Mỹ. Chả sành nghề,
vợ tôi đã thất bại, cũng như tôi đã thất bại... trong cái trò văn chương rẻ tiền
làm vừa lòng các cô gái tân thời... Là nhà văn nhà thơ, chúng tôi không phải
lúc nào cũng cao khiết.
Nhưng những ngày tháng tiếp theo, hết chuyển nhà từ phố này
qua phố khác, từ phố Huế đến Ngã Tư Sở, cam chịu nghèo thiếu mà không dễ dàng tự
túc. Chúng tôi đã làm người khách quen dễ sợ của chú "khách" trọc đầu
ngồi "ghi-sê" nhà "cầm đồ" ở phố Hàng Chiếu.
Lạy Chúa, những ngày giờ khốn cùng ấy, tôi vẫn tiếp tục nhìn
những ánh sao lạc vào cửa sổ và làm những bài thơ, không phải để cầm để bán cho
ai, mà là những bài thơ làm đẹp lòng người...
Thủa ấy, những bài thơ của Xuân Diệu đã làm náo động các ký
túc xá nam nữ. Xuân Diệu phải làm còm-mi Đoan,[a] Vũ Hoàng Chương làm thanh tra xe lửa,
những cái mặt công chức cao cấp đó không phải dễ dàng thêm son phấn cho thơ
mình, mà thơ tự nó là "vàng mười" của cuộc sống, chỉ có thơ thật là
thơ mới đội mũ vinh quang cho nhà thơ!
Sau này, Mừng kể lại với tôi: "Có lúc em ước mơ một điều
tưởng như quái gở thế mà em vẫn tâm niệm: được đi khắp thế giới, được gặp các
nhà thơ, những đứa con "cưng" của Thượng đế, được nhìn, được thưởng
thức những câu những chữ, mà người thường chưa bao giờ thốt ra! Chính đó là
vàng ngọc, thời gian không gì làm hoen rỉ được".
Vì tình yêu đất nước, tình yêu thiêng liêng của con đối với
cha mẹ, tình yêu vợ chồng, tình yêu hoa cỏ trăng sao, v.v... ta đã phong cho họ
hai chữ "nhà thơ".
Vì cái ảo vọng đó, những cô gái nghèo cũng như những tiểu
thư, dầu cách ly trăm tầng cửa khóa vẫn tìm. Họ bắt gặp chút hương nồng của mơ
mộng, của tình yêu...
Họ cũng không biết rằng: có lúc chúng tôi, những nhà thơ giữa
đêm rét, không có một thanh củi để sưởi, phải gom góp đốt những tờ báo, những tờ
nhật trình. Nếu biết những điều này, họ sẽ cảm thông hơn!
Không phải chỉ có những cô gái khuê các mà cả những chị em bất
hạnh ở trên đời cũng muốn gắn mình vào thơ! Đặc biệt với những người bất hạnh
này, chúng tôi đã thành một đội ngũ sống bên lề xã hội, những người "cùng
một kiếp bên trời lận đận", cùng hội cùng thuyền, chúng tôi những nhà văn,
nhà thơ là con "cưng" của họ. Nguyễn Tuân là "ông hoàng" của
chị em! Họ cũng biết chia những đau buồn của chúng tôi, có người trong bọn họ
đã nói với chúng tôi: "Nào chỉ phải các anh, chúng em cũng chọn nhầm thế kỷ".
Ấy thế mà trong những ngày túng thiếu của chúng tôi, có một người đàn ông đến
tìm tôi tận trên gác xép của Ngã Tư Sở nói: "Thơ văn như thế đã đủ, ông
nên chuyển qua một bước ngoặt mới". Bề ngoài ông ta có vẻ trí thức...
nhưng cặp mắt rất sắc, nhanh, thạo làm "áp-phe" trong cái xã hội mới
lúc bấy giờ... Hình như trước khi anh Long (tên người đàn ông ấy) đến gặp tôi,
anh đã điều tra kỹ cuộc sống của tôi ở Hà Nội. Anh tự giới thiệu anh là hiệu
trưởng một trường tiểu học, trường "đạo" của giáo phận Thanh Hóa. Anh
mời tôi vào dạy học ở trường ấy, anh hứa với tôi, là anh bảo đảm cho gia đình
tôi cuộc sống đầy đủ về vật chất, ổn định về tinh thần. Anh lại bảo: "Tuổi
ông không có quyền làm khổ vợ con và đầy đọa thân xác ông nữa...".
Anh lại còn cho tôi biết: Ở Thanh Hóa nhà Chung sẽ mở một trường
Cao đẳng tiểu học, anh sẽ làm hiệu trưởng trường tương lai ấy... anh sẽ gặp Đức
cha Đơ-cơ-man, mọi sự sẽ trôi chảy. Anh Long nói: "Đức cha mà biết có một
nhà thơ như ông sẽ cộng tác với tôi, ngài sẽ rất vui lòng". Thì ra thế,
nhưng ở một trường đạo tôi sẽ dạy gì? Tôi sực nhớ lại sau khi bị đuổi học khỏi
trường Quốc học Huế... tôi đến xin học ở trường Pellerin, một trường đạo và học
được đúng ba tuần thì tôi tếch... Tôi nhớ, cứ đến giờ toán, thầy giáo vừa đọc
xong bài ra, thì độ vài phút sau là ông lấy thước gõ, gõ liên hồi... Thế là học
trò đạp nhau đi nộp bài ngay, còn tôi vẫn ngậm bút, chưa viết được một chữ; tôi
nghĩ: chịu thôi! Suốt ba tuần, đêm nào, ngày nào cũng đọc kinh, luôn luôn chỉ
vào trái tim mình mà thú tội: "Tội của tôi, tội của tôi, tội lớn của
tôi; Péché, Péché o mon grand Péché". Tôi lại nghĩ: Chết thôi,
ngày nào cũng đẻ ra tội mà xưng, người ta bắt tôi xưng tội tổ tông... mà tôi chẳng
hiểu tổ tông là gì? Tôi nghĩ: Tội của tổ tông thì tổ tông xưng, sao lại bắt tôi
xưng? Lại lúc bấy giờ tôi bị đuổi khỏi trường Quốc học Huế, mà tôi là học sinh
được "học bổng", người ta tung tin nhà trường bắt tôi trả lại hết học
bổng mà tôi đã nhận, tôi hoảng... Nhân lúc thầy tôi ốm, rồi thầy tôi mất, tôi
liền tếch ra Hà Nội.
Hôm nay anh Long làm tôi hồi tưởng lại những tiếng thước gõ ở
trường Pellerin. Tôi mỉm cười nói với anh: "Chịu thôi". Nào anh có hiểu
được... tôi "chịu thôi" là chịu cái gì? Tôi nói chịu thôi là chịu
không học, không dạy theo kiểu các trường đạo. Anh ta nói dai như đỉa: Ở Thanh
Hóa đời sống ổn định hơn, mà ông vẫn cứ làm thơ... Chắc anh Long cũng không hiểu
sâu cái số phận của tôi, dạy ở một trường đạo ra làm sao, tôi đã biết mùi rồi,
nhưng cuối cùng tôi cũng không từ chối. Sống trong một trường công giáo đối với
tôi thật ra không phải là điều quan trọng. Nếu không vừa ý, tôi lại đi nơi
khác... Điều quan trọng lúc này là tôi phải rời Hà Nội vào Thanh Hóa... nơi có
anh bạn Bửu Tuất. Anh Tuất đóng trụ sở chính tại Thanh Hóa, vẫn còn bên anh chiếc
xe con và trong xe, hẳn còn nguyên đó... chỗ ngồi của tôi. Lại có những chuyến
đi...
Thanh Hóa còn là nơi đóng đô của người "xê dịch"
Nguyễn Tuân, tôi không hiểu sao số mệnh lại "vất" hắn vào đời tôi...
Nếu có vài điểm giống giữa hắn và tôi, đại để thì tôi là cái mặt trái của Nguyễn
Tuân và ngược lại... Chỗ Tuân rộng lượng dung tha thì tôi ích kỷ; chỗ Tuân ích
kỷ thì tôi dung tha. Nhưng hắn là một trong số người tôi không thể thiếu được.
Tôi vốn ăn thế nào, mặc thế nào cũng được, trái lại Nguyễn Tuân ăn theo kiểu Tản
Đà, chỗ ở phải là tổ của phượng hoàng và mặc thì phải như ông hoàng tây. Một
nghệ sĩ vốn nòi giống "ưu du" (dilettante).[b] Có những lúc giữa hai chúng tôi có
những cuộc xung đột ngấm ngầm ghê gớm! Một bữa tiệc, của những người "bạn
lớn", trên bàn đầy rượu; tôi vốn không uống rượu, chỉ uống khi tôi thích
và uống xong tìm chỗ ngủ, chờ ai đó vạch lên trán một vạch vôi... đến khi tỉnh
rồi, thì tôi chỉ còn là một người thường, chả gì hấp dẫn nữa. Lúc bữa tiệc bắt
đầu... trước mặt người khách, một cái bát không để nguyên không ai đụng tới,
tôi là người đến để ăn. Thấy tôi tự xới cơm, mặt Tuân đỏ lên; tôi bảo: Chưa uống
mà đã đỏ đến thế rồi ư? Tôi tiếp tục bữa cơm của tôi còn Tuân vùng vằng, quay mặt
đi rồi cuối cùng quay mặt lại, cụng chén với ai cụng chén. Nhiều ngày sau chúng
tôi lại gặp nhau, và "hắn vẫn là hắn" mà hắn lại chẳng chịu tôi là
tôi. Tuân cứ trách tôi ăn mặc quá tùy tiện, nhưng cũng có lúc chúng tôi phải
nhân nhượng nhau. Quả thật tôi ăn mặc quá tùy tiện, hắn đã dạy tôi: "Thôi
thì tùy tiện mấy cũng được, cái áo, cái quần của mày có thể nhàu nếp, tóc có thể
rối bồng... mày có thể ngồi xuống cỏ, xuống đất mà chén cũng không sao... Nhưng
phải giữ cái cổ áo sơ-mi cho trắng, cái cờ-ra-vát phải hợp mốt, đôi bít-tất đừng
để rách, và giày đừng để vẹt gót, dây giày phải thắt hết nút và nhất là mũi
giày da thật bóng loáng người ta có thể soi mặt vào đó được..."
Trong phong trần mà giữ được vẻ cao sang là thế đấy. Tôi cũng
chả thèm cãi, vì tôi là tôi. Trước cách mạng, chúng tôi rất khác nhau, mà sao vẫn
"cặp kè" nhau, nhất là những đêm mưa to gió lớn, chúng tôi không thể
đóng cửa trùm chăn... Văn chương của tôi, Tuân cũng chả thú gì, thơ tôi hắn
không thuộc một câu nào. Có lẽ chỉ đoạn văn trong Dòng họ (hồi ký của
tôi) hắn còn tủm tỉm cười khi nhắc đến đoạn "trong buổi kinh chiều xóm
Thanh Lãng, thầy tôi tìm đến ông bạn già nói với nhau vài câu cợt nhả".
Còn Vang bóng một thời của Tuân, đối với tôi chỉ là loại văn chương nửa
ta nửa Tàu, lổm cổm, cầu kỳ.
Sau cách mạng, tôi vẫn là đứa "chồm chồm", Tuân vẫn
là "thằng ngất ngưởng" không thể ngồi bên nhau lâu... Mặc dầu tôi vẫn
phục hắn là tay sành ngôn ngữ. Hắn xử ngôn ngữ như những mũi tên. Sau này hắn
đã xỉa vào đầu thằng cướp Mỹ những mũi tên sắc bén có tẩm độc. Còn thủa ấy, trước
cách mạng, Tuân đang trấn ở tỉnh Thanh Hóa! Tôi muốn về Thanh vì Tuân với Tuất,
còn một lẽ nữa: Thanh Thủy vợ tôi lúc bấy giờ có người chị ruột lấy chồng là
"thư ký" ở sở Cẩm Thanh Hóa. Anh Hà là con trai của ông Nguyễn Hiệu,
một nhà khoa bảng, cầm đầu phong trào Cần Vương ở Quảng Nam và đã bị Tây chém,
người anh em "cọc chèo" với tôi tuy được làm công chức, nhưng vẫn bị
"nhà nước Pháp" nhìn với cách nhìn nào đó... Nhà anh chị Hà khá rộng,
chúng tôi có thể cùng ở chung với gia đình anh chị được. Về Thanh Hóa tôi được
nhà Chung Thanh Hóa chấp nhận là thầy giáo ở một lớp trong trường, ngoài ra tôi
còn được một trường Cao đẳng tiểu học (tư thục) gọi là trường Bắc An Nam mời tới
dạy, mỗi tuần mấy giờ. Anh Long hết sức săn sóc gia đình tôi, có thể nói những
ngày tháng ở Thanh Hóa, chúng tôi đã sống một cuộc đời ổn định, về mặt tinh thần
và cả vật chất. Chúng tôi sống giữa xóm công chức... và thật sung sướng, bề
ngoài có thể tôi là một công chức... ngày đi ra đường, tôi có đội mũ phớt, đêm
tìm tới nhà nào đó đánh mạt chược. Tối thứ bảy hay ngày chủ nhật, ngày lễ...
nhà chúng tôi là nơi quây quần của đám công chức tỉnh lẻ. Vợ tôi tham gia đánh
bài tứ sắc, và tôi cũng có khi ngồi rìa. Anh Long lại dẫn tôi đến gặp Đức cha
Đơ-côn-man. Hẳn là khi nhà Chung mở thêm những lớp Cao đẳng tiểu học, tôi lại
được dạy nhiều giờ. Đời sống khấm khá hơn, cứ nhìn vào đôi mắt của vợ tôi... So
với thời ở Hà Nội có chút gì yên ổn hơn, nhưng chúng tôi vẫn luyến tiếc nhớ một
cái gì ở ngoài ấy. Có lẽ nào tôi dễ dàng trở nên một viên chức? Một điều mà từ
bé đến lớn khôn, tôi chưa bao giờ nghĩ đến. Lúc 7 - 8 tuổi sau khi mẹ tôi mất,
tôi vẫn cùng mấy đứa bé trong xóm, sục sạo, leo trèo bắt tổ chim, chạy ngoài đồng...
Áo quần lem luốc, lại đến khi thầy tôi mất... tôi lại chẳng khác nào một đứa bé
con hoang, một con chim sổ lồng.
Đến khi làm thơ, viết báo, thì hồn tôi lúc này một lần nữa
thêm lông bông. Còn có sợi dây nào buộc nổi chân tôi? Những ngày ở Thanh Hóa,
tôi xem như những ngày nghỉ "cánh": tôi chưa bán, cũng chưa bao giờ định
bán cho ai cái "cốt cách giang hồ". Bửu Tuất vẫn còn những "chuyến
đi" đầy lý thú. Những chuyến đi từ Đạm Thủy đến châu Hòa Lạc. Vẫn có những
"Đêm xòe", rượu cần, cạnh nàng "tiên nâu" do các ông quan
thết đãi... Và Nguyễn Tuân nhà cách nhà tôi mấy phố, Nguyễn Tuân có một
"thư trang" có gia đình ở tỉnh Thanh, Nguyễn Tuân người không biết từ
lúc nào sáng tạo ra hai chữ "xê dịch" thay cho hai chữ "giang hồ"
của tôi... Tôi quên sao được cái chiều hôm ấy hoàng hôn... Tuân kéo tôi đi, bất
chấp sự phản đối của vợ tôi. Đi đâu? Tuân không cho tôi biết, mà tôi cũng chả
đoán được! Tuân kéo tôi lên một góc thành Thanh Hóa kiểu xây như thành Hà Nội.
Tuân chọn một góc thành, Tuân đưa ra một chai rượu mạnh của Pháp, rượu
"rum". Tôi uống bằng nắp chai, còn hắn thì dốc hẳn chai vào miệng ừng
ực, hắn nhìn vào phía tường còn ánh nắng, một làn mây đang bay nhanh. Thế là
tôi cũng uống rượu, cũng nhìn với hắn, nhìn theo mắt hắn, tên giang hồ hụt. Sao
mà mặt mày hắn hào hùng thế?
Sau buổi uống rượu, nhìn mây ở một góc thành tỉnh Thanh, lại
một lần nữa, hắn nhận được một món tiền nhuận bút, kéo tôi đi vào tận Quỳnh
Lưu. Ai cũng biết hồi đó có một tên Tri phủ khét tiếng chọc tiết máu người... Mỗi
lần được thăng chức, là hắn đòi những cô đào đẹp nhất vùng vào tận phủ đường phục
vụ hắn. Chúng tôi vào Quỳnh Lưu, một "xóm" đúng lúc có trát quan đòi,
với những khách như chúng tôi "các chị em" dẫu chưa quen, đã là
"thân quen", đã "cùng một kiếp bên trời lận đận"... Những
chị em tài ba có nhan sắc... thấy chúng tôi tới thăm rất mừng, thấy quan đòi
cũng sợ. Nhưng với cái mũi dùi xuyên tâm, cái tài kể chuyện của Tuân không phải
một hôm, mà ba hôm liền, chúng tôi đã giữ lại những chị em đẹp nhất... chỉ
buông cho tên Tri phủ uy quyền kia vài chị em chưa sạch mặt đi thay cho những kẻ
có tài hoa. Chúng tôi không mất một đồng tiền mà chị em vẫn quấn quít bên chúng
tôi. Và trong một trận đánh không giáp mặt, không gươm đao, chúng tôi đã thắng.
Tuân nói: "Từ ngoài Hà Nội, chúng ta vẫn trấn các địa phương". Cũng
như bao giờ, chúng tôi vẫn đến với những con người bất hạnh nghèo túng, chúng
tôi đến với sự mến thương chân thành. Tuân là người đánh trống cự phách, mắt
Tuân sắc, tướng Tuân oai, đôi tay Tuân dẻo. Tuân là một sự hấp dẫn đối với những
người này.
Một chút sóng gió vẫn tạm yên trong lòng, một cuộc sống im lặng
ở tỉnh lẻ này, nhưng trong mức độ nào còn giữ lại cái chút "động lòng bốn
phương" của nhưng người "xê dịch"?
Thế rồi một hôm, vào buổi chiều (tôi quên ngày tháng) tôi
đang dạy một bài sử Việt Nam ở lớp đệ tam trường Bắc An Nam, mà hiệu trưởng
Phùng Văn Lau cũng là người bạn của tôi, thì người lính lệ đưa cho tôi cái lệnh
của ông Chu Ngọc Liễn, bang tá, một tay có học, anh ruột của nhà viết kịch Chu
Ngọc...
Tôi ngơ ngác, sau anh Phùng Văn Lau giải thích với tôi: có lệnh
trên, tôi bị giải hồi nguyên quán là bị giải về quê tôi ở tỉnh Quảng Bình. Tôi
nhìn đám học sinh bàng hoàng như muốn hỏi: nào trong giờ dạy sử Việt Nam, tôi
có một câu nào thúc giục các em đứng lên... đuổi giặc Pháp không? Trong đám học
sinh có em nhìn tôi, thương cảm, có em cúi đầu để giấu một giọt nước mắt, người
ta còng tay tôi trước mặt học sinh và người hiệu trưởng.
Tôi bước ra khỏi lớp học... nghe như tiếng sách sột soạt kêu
khi xếp lại đồng một lúc để tiễn tôi. Tôi bị giải về Sở Cẩm, nơi người anh
"cọc chèo" của tôi đang làm thư ký cùng với ông Quản Dương là người đồng
thủ trưởng của Sở Cẩm. Đêm ấy, tôi được ăn một bữa cơm tù và bị giam ngay trong
phòng giam của Sở Cẩm... Khuya, người anh em "cọc chèo" mới vào thăm
tôi, mang cho tôi ít tiền. Vì có mặt bọn lính, anh ấy chỉ nháy mắt với tôi như
bảo: anh đã hiểu vì lẽ gì, tôi đã bị bắt... Tôi nghĩ rằng: Anh Long có vào gặp
Đức cha Đờ-cô-man, chỉ có ông này mới có thể can thiệp được. Tôi sực nhớ trước
đây không lâu trường Cao đẳng tiểu học tư thục Lam Sơn ở tỉnh Thanh tạm thời bị
đóng cửa vì trường có khuynh hướng cộng sản. Thế mà tôi chưa bao giờ được may mắn
hiểu thế nào là chủ nghĩa cộng sản!
Bao nhiêu câu hỏi tôi tự đặt ra thật khó giải đáp. Có lẽ do
được tin trường Cao đẳng Lam Sơn bị đột ngột đóng cửa, nhà Chung chưa kịp thời
phải chuẩn bị ngay, mở gấp những lớp cao đẳng tiểu học để đón lấy các học sinh
đang bị rơi vào cảnh lêu lổng không nơi học. Anh Long hỏi ý tôi: "Nên thế
nào?". Tôi chỉ nói: Ai lại thế, các anh bên Lam Sơn dầu sao cũng là bạn
quen của mình, thừa lúc người ta bị hất cẳng mình nhảy vào đón "khách
hàng" sao tiện? Anh Long hoàn toàn đồng ý với tôi và đã gặp các cha lãnh đạo
ở nhà Chung, lấy lý do là chuẩn bị không kịp, phải đợi nghỉ hè xong mới mở...
Có lẽ nào điều này đã đưa đến "họa" cho tôi? Tôi khó tin, nhưng vì lẽ
gì tôi bị đuổi khỏi đất này? Tôi cố nhớ lại những giờ dạy ở các lớp... tôi có
buộc lỗi của Mẫu Quốc, ném một câu, một chữ bất lợi cho tôi? Hay là tên Tri phủ
Hồ Mậu Trinh, một con cưng, một đầy tớ trung thành của Pháp đã ghi tên tôi vào
cuốn sổ đen của hắn. Lại cái tên bang tá trí thức đã từng ngồi với tôi ở bàn mạt
chược, nhân đây muốn có chút tâng công, - vì lẽ này lẽ nọ hay tất cả
những lẽ ấy cộng lại làm nên cái "thải hồi nguyên quán" của tôi. Thải
hồi một con nai hiền lành mà chính quyền Pháp phải mất công đến thế?
Ngày hôm sau, vào giờ xe lửa tốc hành đến ga Thanh, tôi lại
được "còng tay". Vợ tôi và đứa con trai đầu lên sáu, không kịp lên ga
tiễn tôi!
Lại một chuyến tàu, muốn mang tôi đến đâu thì đến. Tôi chẳng
mỉm cười với số phận mà cũng chẳng khóc với nó! Chỉ thương người vợ trẻ và đứa
con thơ đã "vô cớ" tạm thời tách ra khỏi chuyến tàu cô đơn của tôi. Đến
ga Thuận Lý, tôi bị dẫn lên tỉnh lỵ Đồng Hới, được lệnh trên họ dẫn tôi đến Tòa
sứ, và sẽ được trực tiếp gặp Công sứ tỉnh tên là Gây-hay Đuy-ken-ne. Tôi chuẩn
bị để đối đáp với ông ta. Tôi sẽ trình bày hết sự việc đã xảy ra. Ông Công sứ
thoạt thấy tôi, đứng lên bắt tay, nhìn tôi có vẻ như cười cười. Ông nhìn tôi
như một thanh niên quá trẻ, tôi toan trình bày... Nhưng ông xua tay nói:
"Gia đình anh, tôi biết rõ, có lẽ ông La-gờ-re-đơ muốn cho ông về lại tỉnh
nhà... để được tỉnh nhà săn sóc chu đáo hơn". Ông ta nói tiếp: Tôi hiểu,
ông thân sinh ra ông là một cố vấn tỉnh được trọng vọng... Nhìn tận mắt tên
công sứ này, tôi nhớ lại hồi thầy tôi mất, quan tài quàn tại nhà, mặc dù trên bốn
mươi cây số, ông ấy đã đến từ biệt thầy tôi lần cuối cùng. Bấy giờ anh em chúng
tôi mặc áo sô, đầu đội mũ rơm, chống gậy tre, chúng tôi cúi rạp, đầu gối quỳ xuống
đất, rồi lại chống gậy cúi đầu đáp lễ, cái ông công sứ người Pháp...
Cái câu “Về đây để được săn sóc hơn!” thật là ngọt như mía
lùi. Nhìn lại cổ tay đang còn dấu ấn của cái "cùm", tôi vội cướp lời:
Thưa ngài tôi muốn đi đâu cũng tùy ý chứ? Ông Công sứ cười: Vâng, ông muốn đi
vào Nam ra Bắc, đi đâu tùy ý, chỉ trừ việc trở lại đất Thanh Hóa của ông La-gờ-re-đơ...
Dầu sao thì tôi cũng cám ơn ông Công sứ có những lời đẹp đẽ
nói với tôi. Tiếng Pháp không thiếu những từ đẹp. Tôi không về thẳng làng, cách
tỉnh lỵ 40 cây số. Tôi như bay giữa thị xã Đồng Hới, con chim vừa thoát ra khỏi
lồng, nơi tôi đã ở học gần hai năm trời hồi nhỏ.
Tuy là con quan, nhưng là quan nghèo, ở lớp nhì, lớp nhất,
tôi được học bổng mỗi tháng hai đồng Đông Dương, đủ nuôi tôi, nhớ mãi cái dáng
dấp rụt rè của người học trò nghèo lại học giỏi, được thầy cưng. Lúc bấy giờ
hay cụ Phan về nước,[c] từ Nam chí Bắc những cậu học trò, lớn
có bé có, đều sôi động hẳn lên, tôi được cô giáo Trâm, một cô giáo có tư tưởng
mới, gọi tới nhà cùng một số học trò khác đêm đêm cô dẫn ra tận động cát Nhật Lệ.
Trời tối đen như mực, biển thì cứ gào không biết mỏi... Cô xúc động, cứ nói,
chúng tôi chả nhớ rõ cô nói những gì, chúng tôi cứ im lặng lắng nghe, cô
vừa nói vừa khóc, chúng tôi cùng gục vào vai nhau mà khóc to!
Lòng yêu nước lúc bấy giờ đối với chúng tôi là thế, nhưng sau
hai mươi năm, chả hiểu vì sao, tôi đã bị cùm tay, lãnh cái án gọi là "thải
hồi nguyên quán".
Hôm nay một mình ngồi đây trên động cát, trước mặt sóng biển
cứ gào... Rồi sau đây tôi sẽ làm gì? Ở đâu, hỡi cái gọi là "định mệnh",
cái gọi là chính quyền Pháp, cái gọi là "Mẫu quốc". Hỡi người vợ trẻ,
đứa con thơ của tôi, tôi chờ cái gì đây?
Lại nhớ những năm cuối thập kỷ hai mươi, lúc ấy tôi đang học
trường tư ở Hà Nội, trọ ở nhà 42 Hàng Đồng, nghe một tiếng bom nổ, do Ký Con vất
ở bót Hàng Đậu. Rồi một đêm khác, mười ba anh hùng Yên Bái lên đoạn đầu đài. Cô
Giang, cô Bắc, người bị bắt, người tự tử, rồi "Xô Viết Nghệ Tĩnh" bị
đàn áp mà tôi chẳng được kịp hiểu "chủ nghĩa cộng sản" là thế nào? Một
tâm trạng chán chường đã dẫn vào tôi cái nghiệp làm văn, làm báo, dạy học tư...
Những nghề được gọi là "nghề tự do" đấy! Tự do ư? Tôi chỉ là con chim
được tự do bay trong cái lồng. Rã cánh, trầy lông, vẫn cứ mãi bay!
Chương IV
NÚI TẬN SÔNG CÙNG
Tôi biết tin vợ tôi bán đồ đạc và từ Thanh Hóa mang con về Hội
An, quê vợ tôi. Chả biết hôm vợ tôi lên tàu, có những ai ra tiễn… Vợ tôi trong
thư không viết cụ thể. Tôi muốn biết có người học trò nào của tôi ra tiễn không
và ngoài những người thân yêu ruột thịt, có cái ông bang tá ấy không, người đã
có lần đánh "tứ sắc" với vợ tôi hay có đôi lần trao đổi với tôi về một
vài vấn đề thơ văn dân tộc.
Trên đường đi Hội An, tôi có ghé Huế, gặp anh Lưu Kỳ Linh,
người anh ruột của tôi. Ông là rể của một ông quan thanh liêm, suốt đời chỉ
thích nghiên cứu về chữ "Quốc ngữ". Không hiểu sao ông La-gờ-re-đơ,
Công sứ Thanh Hóa, một tay rất phong nhã quen một lúc cả chị lẫn em của một gia
đình vào hàng quý tộc hoàng gia, lại cũng rất thân quen với một ông quan thanh
liêm này.
Anh tôi giục ông nhạc viết thư cho quan sứ tỉnh Thanh xin được
biết về tôi, vì lẽ gì bị thải hồi nguyên quán và có được trở lại tỉnh Thanh nữa
không? Tôi tới thăm ông nhạc của anh tôi, tại huyện Thanh Thuỷ (gần Huế) nơi
ông nhậm chức Tri huyện… ông cho tôi biết là ông La-gờ-re-đơ có trả lời thư
ông, đại ý cho rằng: "Lưu Trọng Lư ở Thanh Hóa được các quan chức không phải
là người Pháp cho hay rằng: anh ta gần gũi những người cộng sản, và tự anh ta
đã tuyên truyền cộng sản". Tôi tuyên truyền cộng sản ư? Tôi chưa bao giờ
được đọc một quyển sách, một trang sách nào của các ngài thuỷ tổ cộng sản cả.
Ông Mao Trạch Đông, tôi còn tưởng là một ông quân phiệt như kiểu Phùng Ngọc Tường,
Trương Trác Lâm, v.v… mà tôi được đọc tên trên báo Thực nghiệp hay Trung
Bắc tân văn. Có một người bạn học ở trường "Noóc-man" quá tin tôi có
lẽ vì thấy tôi khóc khi nghe tin cô Giang chết, mà trao cho tôi một tập tài liệu
khá dày. Anh bảo "kín" đó, giữ cho khéo. Anh còn nói thêm một câu tiếng
Pháp "Phải giữ cho khéo cái lưỡi của mày". Tôi đọc qua mấy tiêu đề,
trong đó có Vấn đề dân cày.[b] Và có một tập tài liệu nào đó có
tên anh Võ Nguyễn Giáp, người bạn của anh tôi. Tôi mừng quýnh, gói cả một gói
đút vào cặp. Nghĩ bụng rằng, chuyến này về ăn Tết ở quê nhà, hẳn là một cái Tết
vui vẻ.
Trong tập sách "Ngân Sơn tùng thư" của tôi,
tôi có đăng một bài về "người ăn mày" không ngờ lập trường bài thơ lại
là lập trường cộng sản… Nói cho cùng, nếu trong bài tôi viết có đôi chỗ, đôi đoạn
nào giống với cái giọng cộng sản là vì tôi đã từng nghe xung quanh, có người
nói về điều này, điều nọ về chủ nghĩa cộng sản, đại thể cộng sản là người khố
rách áo ôm… chống lại mọi áp bức… Tết ấy về quê, tôi không cất tài liệu vào va-li
mà nhét vào cặp xách tay. Khi tàu qua ga Vinh, tôi thấy ở đầu tàu có đèn pin nhấp
nháy. Khách trên tàu xốn xang cả lên: "Cò Tây đang lục khám". Tôi thấy
rõ một thằng cò Tây đang chỉ huy lính… đang lục những va-li đồ đạc, tôi hoảng
quá, chợt thấy phía sau lưng sân ga trời tối đen, tôi bèn vứt tập tài liệu ấy.
Nếu tôi không vứt thì biết đâu tôi có thể đã khác cái "của nợ bông
lông" mà tôi đã gắn mình… Có thể… đời tôi từ lúc bấy giờ… đã nhảy lên
"một chuyến tàu khác". Nghĩ mà buồn cười, không hề biết một chữ
"cộng sản bẻ đôi" mà đã mấy lần đi dạy học bị còng tay, ra báo mấy lần
bị cấm.
Hôm nay được mấy chữ gán cho là "tuyên truyền cộng sản"
và lĩnh vực một cái án "giải hồi nguyên quán" có vẻ như trêu đùa tôi.
Vợ tôi ở Hội An, nơi này cũng có một trường Cao đẳng tiểu học, cũng lại là một
trường tư thục. Về đây tôi gặp một vài bạn mới, cùng làm nghề dạy học tư, nên họ
dễ thông cảm với số phận của tôi, đã đấu tranh với ông giám hiệu để nhận tôi
vào dạy học ở trường của ông. Những ngày tháng dạy học ở trường Viên Minh này,
học trò cũng rất mến tôi…
Tôi thường lành tính nên bọn học trò con gái mỗi lần gặp chào
tôi hay cười cười. Sau này, một em đã trở nên bác sĩ ở nhà thương mắt Hà Nội kể
lại với Mừng, người bạn đời của tôi sau này: Học trò không sao quên nổi cái
chuyện tôi đang giảng bài trên bảng, tôi vô tình đưa cái khăn chùi phấn lên lau
mũi như lau với chiếc khăn "mùi-xoa". Có thể đây là một giai thoại,
chúng bịa ra để tặng tôi. Bấy giờ, tôi viết một vở kịch thơ ngắn nhan đề Ngọc
Du, Ngọc Duệ do chính tôi đạo diễn, và hai cô đẹp nhất lớp đệ tam diễn.
Cuộc sống vật chất của nhà tôi lúc này rất khiêm tốn, không
thể so sánh với đời sống văn thơ ở Hà Nội, nơi có những buổi ăn chơi thả dàn, đồng
thời lại có lúc, có gì cầm lấy để có được một bữa ăn sáng ăn tối bình thường.
Gia đình nhỏ của tôi ở Hội An dồn cả về nhà vợ tôi. Vợ chồng anh Hà, anh của vợ
tôi, chả hiểu vì lẽ gì cũng đổi về đây. Một người chị lớn lấy chồng ở Đà Nẵng
đã có một bầy con, cũng đùng đùng xin bỏ chồng về với cha mẹ đẻ. Người anh cả của
gia đình, bạn cùng nghề của anh Khương Hữu Dụng, cũng dạy học, có tên trong
"sổ đen" chống đối nhà nước, mới được lệnh phải nghỉ việc không
lương, có một bầy con với người vợ trước, lấy vợ mới lại cho ra một đàn con mới,
cũng kéo về Hội An. Nhà vốn chỉ có hai ông bà già với đứa con gái út chưa chồng,
giờ đây tất cả lớn bé chất vào gian nhà trước với gác lầu sau, chật ních.
Những năm trước, bình thường cứ mỗi lần Tết đến, anh chị em
khắp nơi cùng về vui như ngày hội, đèn chong chơi bài tận sáng. Cả nhà kéo nhau
đi cửa Đại tắm biển và ăn cả chục bánh tráng. Nếu mãi được như thế, cuộc đời
đáng sống biết bao nhiêu… Nhưng dần dần cả tổ ấm đông đúc, lúc nhúc những người…
đã trở nên một chiến trường thầm lặng. Những người thân nhìn nhau bằng sự soi
mói, giành giựt nhỏ nhoi về chỗ chơi, nơi nằm. Gia đình nhỏ của tôi đã mất cái
gác đêm có ánh trăng rọi vào cửa sổ bởi sự chen chúc ấy. Và từ trong con mắt của
hai cái đầu bạc bố mẹ vợ tôi (trên 70 tuổi) đã thoáng thấy nhiều lo âu... Đêm
hôm lâu lâu, tôi nghe có đôi tiếng thở dài. Hội An là thành phố xưa cổ kính, những
người Nhật đầu tiên đã đến đây, và những người Minh Hương đến đã trở nên giàu
có, có những phong tục, nề nếp cao sang. Thủa trước ông nhạc tôi còn có chút
quyền hành, tất nhiên là dựa vào những quyền hành đã có từ những liên hệ cao
sang với các gia đình Trung Hoa giàu có.
Bây giờ những gia đình ấy tường vách đã rêu phong và từng
viên gạch tưởng chừng như rữa nát dần... Tôi có một đứa con trai, lại thêm một
đứa con gái nữa. Ở đây không phải như khi ở Hà Nội, bữa cơm sang nghèo không phải
hàng phố ai cũng biết. Dầu muốn dầu không, gia đình nhỏ của tôi đã trở nên một
gia đình tiểu công chức, mỗi lần chắt bóp dè xẻn là một lần nhức nhối...
Nhưng gia đình tôi vẫn là gia đình "lính tính
quan", nói một cách khác, tôi vẫn mang hồn nghệ sĩ. Từ Hà Nội, có được một
món tiền nhuận bút là "đốt" ngay không ngoài một tuần. Dần dà sau
này, mỗi lần tôi đến trường Viên Minh, nơi tôi dạy, không hiểu sao ông giám hiệu
tiếp tôi không vui như những ngày đầu. Một hôm, người anh rể giáo học của tôi
được tên Rây-nơ, chủ sở an ninh gọi lên "dặn dò" và một thời gian sau
tôi cũng được ông chủ sở gọi lên hỏi: Có muốn trở ra Thanh Hóa không? Tôi không
nói gì, nhưng rất hiểu ý của ông ta. Không thể nào ở lại Hội An được nữa. Một
cái tổ quá nhỏ, mà bao nhiêu con chim lạc loài như bị gió bốn phương thổi bạt về.
Thanh Thủy, vợ tôi bảo tôi: đi đâu được cứ đi! Lúc ấy, trên một bãi biển, tôi gặp
được anh Phan Bá Lân. Trong đời tôi, được gặp mọt người như anh Phan Bá Lân,
tôi phải rút ra một bài học xử thế. Ngày nay anh đã trôi dạt ở đâu hay chết mòn
ở một trại tập trung nào, thì tôi cũng vẫn nghĩ đến anh như nghĩ đến một ân
nhân. Anh đã đến gặp tôi lúc khó khăn. Anh có một trường trung học ở Đà Nẵng.
Biết tôi là người có tên tuổi ít nhiều, anh mời tôi về cộng tác với anh. Anh
cho mượn tiền trước (không phải mua lúa non) giúp đỡ chuyển gia đình tôi ra Đà
Nẵng. Có lần Bửu Tuất ghé nhà tôi ở, thấy buồng nằm có chút phong lưu, hắn cười
mỉm mỉm: "Định mệnh cột chân rồi hử". Nói "cột cánh" thì dễ
chịu hơn. Nếu chỉ có đối xử đẹp với một nhà thơ (từ lời nói đến việc làm) điều ấy
chưa đủ để tôi đánh giá một nhân phẩm. Hồi ấy, tôi có nhà gần ga xe lửa. Lính
Nhật cũng có mặt ở đây rồi. Trong lúc này máy bay Mỹ đã nhiều lần thả bom nơi
đây. Tôi thấy trong lúc Mỹ thả bom, thì những người lính Nhật tự cột chân mình
vào cỗ pháo. Một hôm giữa giờ học, máy bay không phát hiện được, còi báo động
chưa có mà bom Mỹ đã nổ. Bom thả ngay quanh trường Chấn Thanh.[c] Tôi thấy anh Lân vẫn chạy xua học
sinh xuống hào. Anh bình tĩnh đi từ nơi ẩn này đến nơi ẩn khác của học sinh. Mọi
người đã xuống hào cả mà anh cứ đi lại như không. Xét người cũng như xét một
người lính, phải từ trong chiến địa. Không có mảy may lo âu với từng sinh mệnh,
con người, từng cái chết sống của học trò mình, làm sao giữa trận địa vẫn ngẩng
cao đầu như thế được? Tôi nói may gặp được anh Phan Bá Lân, người đã đưa tôi về
Đà Nẵng... nhưng cũng có thể nói "không may" khi chúng tôi "dời"
cái số mệnh chúng tôi về đây. Đà Nẵng không phải là tỉnh Thanh. Đà Nẵng là một
thành phố mới, một cảng mới, có thể nói: một Hà Nội nhỏ, một Sài Gòn nhỏ. Tôi
có thể nhìn thấy một xóm chị em "cùng một kiếp bên trời lận đận", một
xóm từ Hà Nội chuyển vào. Những tiếng đàn tiếng trống chói tai người địa
phương, nhưng có thể nói vui lòng một số người khách lạ quê ở miền Bắc...
Lúc này là lúc người ta nói nhiều đến cuộc bầu cử dân biểu, lắm
tên "trưởng giả" xuất đầu, những tay giàu mới lộ diện... thèm khát
danh tiếng hẳn nghĩ rằng: những ông nhà văn nhà báo nhiều mồm mép có thể giúp họ
được chăng. Những áp-phe hợp đồng đã bắt đầu mặc cả ở những nơi ăn chơi. Trong
những người đồng nghiệp của tôi ở trường hoặc một vài bạn mới ở ngành khác đã bắt
đầu quanh quẩn bên nhau trong những đêm trác táng. Tôi nhớ có một người bạn là
anh Trương Đình Cử, - tôi gặp lại ở Sài Gòn giải phóng, và anh đã tặng
tôi mấy quyển sách dịch Dostoievsky của anh.
Thủa bấy giờ tôi đã thấy người dịch "Đốt" ấy một
mình nằm lơ mơ ở một góc nào đó mà không nói một lời. Khi buộc phải nói thì anh
ta chỉ nhỏ nhẹ một câu "Không phá thì làm gì ở cái thời Tây Nhật này".
Nhiều kẻ đã thở ra cái giọng lợm mình ấy... Khi cách mạng đến, một số chúng tôi
rẽ tới con đường khác, thì các anh ấy kẹt lại trong này... để rồi trên sách
trên báo mới có cái giọng đáng sợ: "Đời chua lè, phá!". Thủa ấy khi
người vợ nghiêm chỉnh của tôi, thấy tôi bắt bạn với những "ông ấy"
thì trong mắt có cái nhìn lo âu mà đôi khi không giữ mình được, phát ra những lời
một ngày một nghiêm khắc, cả khi trước mặt bạn bè. Thời kỳ này, tôi thật ra chẳng
có chuyến "xê dịch" nào đáng sợ.... Tôi đã xa Nguyễn Tuân, Bửu Tuất đến
hàng nghìn dặm. Tôi "cô quạnh" ở đây và trong gia đình tôi, vợ tôi
không còn độ lượng. Nhà tôi, ngoài hai vợ chồng, hai đứa con, thêm một người
vú... cũng được gọi là đầy đủ, với một công chức hạng trung. Nhưng bên tôi mỗi
ngày thêm những ông bạn "bốc trời" mới. Có khi ba bốn đêm tôi không về
nhà, ngủ nhờ một người bạn nào đó, sáng hôm sau đi thẳng tới trường. Tôi cũng
ít làm thơ, ngay việc dạy học, tôi cũng không làm tròn nhiệm vụ.
Trong lúc tôi đi vắng, vợ tôi đã cảm lạnh, tại người vú mang ở
chợ về vài món ăn không tươi. Ấy là sau này có người bên hàng xóm nói với tôi
như vậy. Khi tôi về thì bệnh đã nặng hơn. Tôi đưa vào bệnh viện và nhắn cho các
chị tôi ở Hội An ra. Bấy giờ, ông bà đã mất rồi, có vài người ra nhưng đã muộn...
Người vợ vô tội của tôi đã ra đi lặng lẽ, chỉ nhìn lặng lẽ chồng và hai con.
Đám ma một phần nhờ nhà trường bạn bè lo chu đáo. Hai cháu được
các chị tôi cho về bên ngoại ở Hội An.
Tôi ở lại nhà này trong một thời gian. Một hôm, tôi vừa mở
cánh cửa tủ ra, từ trong ngăn áo xông lên một mùi hương cũ. Tôi ngồi xuống bên
cạnh tủ... tưởng chừng không gượng dậy được nữa. Từ trong phấn son trang điểm
còn sót lại một chút hương lòng mà tôi sững sờ. Tôi ăn ngủ ở nhà bạn, khi chỗ
này khi chỗ kia. Áo quần tôi thay ra mắc đó. Có khi người hàng xóm đi qua thường
mang về giặt, rồi phơi ra sân nhà tôi. Cũng có thể có người nói "Tội nghiệp
thầy giáo".
Tôi bán rẻ bán tháo giường chiếu, bàn ghế và các thức đồ đạc...
rồi chẳng bao lâu, tôi từ biệt căn nhà này và không ở lại Đà Nẵng nữa. Sau này
tôi viết bài thơ dài Mười năm tình nghĩa đăng ở Phổ thông bán
nguyệt san, kể lại quãng đời, quãng tình đã qua ấy.
Mỗi con người làm chủ cái thân xác mình. Mỗi chủ nhân gia
đình phải canh giữ lấy hạnh phúc của những người trong nhà. Nhưng không biết từ
lúc nào, có những cái bẫy đã giăng ra... tôi nhớ những ngày còn nhỏ: cùng với
trẻ trong xóm, tôi trét nhựa vào những cành cây rồi chờ nhìn những cô ả chuồn
chuồn... màu sắc rực rỡ vô tình dính cánh vào...
Ôi! Những chiếc cánh ngao du, dần dần đã bị nhựa dính. Sau
khi vợ chết, cái số phận của tôi lúc bấy giờ, có điều cũng giống như thế. Cũng
có thể nói: tôi tự nguyện nộp mình vào các thứ bẫy, sa vào đâu sẽ kẹt đến đấy!
Chương V
TRO TÀN GIẤY BAY
Có phải từ đây, một chương mới của đời tôi đã mở ra? Cuộc đời
đâu phải là chuyện giở từng trang, hết trang này đến trang khác... Đúng ra nên
là dây chuyền, một dây xiềng hết khâu này đến khâu khác. Khâu này đẻ ra khâu
khác. Cái đau này đẻ ra từ trong cái đau nọ. Trong tình cảnh vợ chết, tôi không
có cách gì khác là tạm gửi hai đứa con của tôi lại cho các chị em của gia đình
vợ tôi ở Hội An chăm nom.
Không phải tôi là một người hoàn toàn vô trách nhiệm. Tôi chỉ
để tạm hai con ở đó và tôi ra đi. Đi đâu? Trong ý định của tôi lúc bấy giờ cũng
là tìm cách gì có tiền để gửi về nuôi chúng. Nhưng tìm tiền bằng cách gì?
Lúc này chính quyền Nhật đã thay chính quyền Pháp. Ông Phan
Bá Lân đóng cửa trường Chấn Thanh và đi về hướng nào, làm gì, tôi không rõ. Tôi
chỉ còn trông vào cây bút của tôi để sống. Tôi vẫn làm thơ và có ý đồ viết một
cuốn tiểu thuyết hay hồi ký. Hồi ký thì tôi đã viết Chiếc cáng xanh, lại với
thêm Dòng họ cạn nguồn rồi, mà tôi không có tài viết tiểu thuyết ăn
khách như kiểu Ngựa đã thuần rồi mời ngài lên.[d] Tôi chỉ viết được Huyền không
động rồi Con đười ươi, kịch ngụ ngôn bắt những con cáo, con lợn rừng
làm trò nhân sự. Những chuyện này cũng không ăn khách nữa. Chuyện đời mù mịt,
chuyện làm tiền bế tắc. Tôi cũng không biết viết làm vừa lòng các tiểu thư son
phấn, vừa lòng các chàng công tử rửng mỡ... Chịu! Ngàn lần chịu!
Tôi chỉ còn những vần thơ rạch ruột gan gửi đời. Không phải
là nỗi đau thế kỷ, thì cũng là những bi lụy tình trường. Làm người dân mất nước,
làm người con không nhà, làm cha, làm chồng không trọn. Tựa vào đâu, trốn vào
đâu không biết!
Tuổi ba mươi ngồi tính lại những năm tháng đã qua, chỉ còn là
những trận mưa dài giữa trần thế. Chỉ có cái buồn, cái đau, cái tuyệt vọng để
bán, liệu có ai mua không?
Sau này tôi đọc thơ chữ Hán của Tố Như, mới biết Tố Như cũng
đã có trận mưa dài rả rích quanh giường nằm. Ông đã phải kêu lên: "Không
chịu được nữa rồi". Xõa tóc, hát cuồng đi phương nào, bên này hay bên nọ, phương
nào cũng đi. Ông nhẹ nhàng bảo mình: "Chết được rồi". Vâng, tôi cũng
có những câu thơ rả rích như những hạt mưa đêm gắn mình lại với cuộc đời. Một
hôm, đi qua thị trấn Vĩnh Điện, một thị trấn nhỏ, trên đường Đà Nẵng - Hội An,
nơi tôi có nhiều bạn bè, có một số người quý mến tôi. Trước công chúng không
đông, tôi đã đọc lại một số đoạn, trong vở kịch Ngọc Du, Ngọc Duệ của
tôi. Tôi là người xúc động nhất trước câu thơ thất vọng của tôi. Và trong
giây phút bất thần, tôi sực nhớ đến nhà thơ nổi tiếng của Pháp Alfred de Vigny,
tác giả vở kịch nổi tiếng Chatterton. Một vở kịch nói về số phận nhà thơ
có tài bị cuộc đời, người đời phụ rẫy, không còn một chỗ ngồi, chỗ đứng, một nẻo
đi... chỉ còn cách, tự mình đem đốt tác phẩm của mình để trả thù cuộc đời. Nhớ đến
người xưa tôi không ngăn được nước mắt... Như không tự kiểm soát được mình nữa,
sẵn có bao quẹt trong túi, tôi đốt luôn tập kịch thơ của tôi trên tay.
Giấy đã ra tro, mà kịch chưa hạ màn, tôi không muốn rút lui.
Tôi vốn xưa nay là một người không có tài ứng khẩu... Cũng có bài thơ tôi viết
một mạch, nhưng thường là tôi ngâm đi ngâm lại một mình, tôi bào đi bào lại với
từng ý thơ, dày vò mảnh giấy cho tới khi dập nát. Thế mà không hiểu sao, lúc bấy
giờ như có thần linh hỗ trợ, tôi ứng khẩu đọc cả một đoạn thơ dài như vô tận.
Những điệu vần, lên xuống, đối ứng dập dềnh... chẳng khác nào một cánh chim đập
giữa trời, những vần thơ chìm nổi.
Tôi ứng khẩu xong một đoạn dài nói về số phận của tôi, từng
bước chìm nổi của tôi. Rồi im lặng nhìn lại chút tro tàn đang bay... Tôi ngồi
xuống sàn rồi quay đầu như để giấu đi những giọt nước mắt. Đó là một sự kiện chỉ
xảy ra một lần trong đời văn học của tôi.
Đoạn kịch thơ ứng khẩu đó, cũng không bao giờ tôi cố ghi chép
lại.
Việc này xảy ra với tôi chẳng khác nào như một giấc mộng. Sau
đó các bạn tôi đưa tôi về một gian nhà ngói mới làm ở cánh đồng gần thị trấn
Vĩnh Điện. Anh Đảnh, một người trẻ hơn tôi độ bốn, năm tuổi, là chủ nhân của
ngôi nhà ngói xinh đẹp này, mới làm nhưng đã có một vườn, nhiều hoa và trĩu
trái. Anh Đảnh mồ côi cha khi anh còn trẻ. Anh cũng tập tễnh làm thơ... Anh đã
đọc nhiều thơ của tôi. Nhưng anh quý tôi hẳn không phải chỉ vì thơ. Người
"Mạnh Thường Quân" bé bỏng của tôi rất ít nói ít cười, một gương mặt
hiền lành, phúc hậu. Anh có bước đi rất nhẹ nhàng như con gái, anh sợ đạp lên từng
con ốc con nhái, anh bao giờ cũng nhón nhón gót chân. Anh Đảnh và cả mẹ anh nữa,
tha thiết đòi tôi ở lại với gia đình anh.
Bên một cửa sổ nhìn ra đồng, nơi thường xuyên có ngọn gió đồng
thổi tới, anh Đảnh đặt một cái bàn nhỏ... và anh bảo "bàn nhà thơ" đấy!
Ngày, có thể có những người bạn tới quấy rầy, nhưng đêm chỉ có trăng và ngọn
gió đồng. Nếu cuộc đời là đáng sống, thì cái bàn này quả là một hạnh phúc của
tôi. Anh Đảnh bảo: "Anh viết đi". Nhưng tôi biết viết gì trên những tờ
giấy trắng tinh vô tội này. Anh Xuân, một bạn nữa của tôi, cũng hết lòng săn
sóc tôi, cũng bảo tôi: Viết đi! Nhưng tôi viết gì đây? Viết những gì để trở
thành tro tàn ư? Chữ "nanh vuốt" không phải là chữ của tôi, nhưng cuộc
đời quả có nanh vuốt đó. Bên ngoài cửa sổ, cuộc đời vẫn nhe nanh vuốt nhìn tôi.
Dù phong cốt tôi có nghìn lần giang hồ, tôi không thể không nghĩ đến hai giọt
máu của tôi. Tôi viết lại mấy chữ cho Đảnh, rồi đi xe ra Vĩnh Điện đón xe về Hội
An. Từ khi vợ tôi mất, đây là lần thứ hai, tôi trở về thăm hai đứa con tôi. Lần
trước về chỉ có đau thương thảm thiết, lần này mọi người nhìn tôi một cái nhìn
khó hiểu. Đứa bé nhất không đến bên cha. Hẳn là vì, lần này quá lâu tôi không về
với nó... Cái nhìn của nó vừa mừng vừa trách. Chị Thông một người rất thương
hai cháu, người chị cả trong gia đình đã hỏi tôi về "bác Song" của
hai cháu: "Nghe nói bác ấy bây giờ giàu lắm phải không?". Tôi gật đầu:
Giàu! Vô tâm đến đâu tôi vẫn hiểu ý câu hỏi. Hôm sau tôi đi xe lên Kỳ Lam, nơi ở
của anh Song, người anh ruột của tôi.
Kỳ Lam cách Hội An 20 cây số. Một đêm đi thuyền là đến nơi.
Anh tôi thôi làm công chức mà nhảy vô làm "thầu khoán", kiếm được nhiều
tiền, mua nhà, mua vườn. Nhà khá lớn, vườn khá rộng. Trong nhà chất nhiều chum
đường. Anh em gặp lại, cũng chẳng có điều gì không vui. Nghe tôi tỏ ý muốn gửi
hai cháu lên với hai bác, vì nhà gần trường tiện việc học hành. Anh tôi đưa mắt
hỏi vợ, chị dâu tôi đã tiếp nhận một cách đon đả. Tôi trở về Hội An mang hai
cháu lên, cả nhà coi như một việc đương nhiên. Lúc chúng tôi từ biệt xuống ghe,
các chị của vợ tôi tất nhiên trìu mến, nhất là chị cả, người trực tiếp săn sóc
hai cháu, lo từng miếng ăn, giấc ngủ cho hai cháu, cố giữ vẻ bình tĩnh... nén
đi từng giọt nước mắt... Tình cảnh gia đình bên vợ tôi mỗi ngày một sa sút, dù
có muốn giữ hai cháu cũng không thể nào giữ được, cuộc sống vẫn có những quy luật
tàn nhẫn của nó, không thể cưỡng lại được. Trong nhà, Hài, cô gái út người đen
xấu, ăn nói rất vụng về, có chuyện gì xảy ra không hay, các chị đều đổ lên đầu
người con gái đen đủi bạc mệnh này. Trong phút chia tay, Hài không giấu, không
muốn giấu từng giọt nước mắt, từng cái giày vò đau xót của mình. Người dì bạc mệnh
này muốn giữ chặt hai cháu vào lòng. Hài gặp riêng tôi, chẳng chút sượng sùng,
e lệ nói với tôi: "Không đi đâu hết, cứ để hai cháu đó em nuôi, cha mẹ chết
rồi, em còn được một chiếc kiềng vàng trên cổ. Em sẽ trao cho anh bán đi nuôi
hai cháu". Ngày thường, Hài không phải là người gần gụi, săn sóc hai cháu
nhất. Nhưng trong lúc chia tay này, tôi mới hiểu thế nào là tấm lòng của người
con gái bất hạnh ấy, vì nhan sắc kém cỏi không đẹp như các chị, không được học
hành nhiều, ăn trơn mặc trắng như các chị. Dầu túng thiếu đến đâu, tôi cũng
không thể nào nhận lãnh cái tấm lòng vàng của người em vợ.
Năm 1975 đất nước được giải phóng, tôi vui mừng trở về thăm lại
gia đình ngoại của hai cháu. Hài không còn nữa. Tôi không sao cầm được nước mắt.
Tôi cũng không hỏi, mà cũng chả ai nói cho tôi biết: Hài chết lúc nào, chết ở
đâu, vì lẽ gì? Có lẽ cái chết đến với người con gái, một cái chết tự nhiên như
mọi người thôi. Nhưng khi viết mấy dòng này, tôi có một chút gì như ăn năn hối
hận. Hài ít học, không hiểu gì thơ văn... Nhưng suốt gần 10 năm trời, mỗi lần
tôi ghé vào nhà họ Trương, không một lần tôi đã làm được một việc gì đẹp hay
nói một câu gì ý nghĩa với Hài... Nhưng con người xấu xí, đen đủi bạc mệnh đó
không bao giờ chết trong thương nhớ của tôi.
Có phải đời có những sự bất công mà người đời đã vô tình bỏ
qua, không nghĩ tới khi nhận ra?
Lúc chia tay ở bến sông, Hài chỉ ngồi xuống đất, gục đầu
không muốn nhìn theo. Lúc nằm với hai cháu trên chiếc ghe nhỏ đi Kỳ Lam, cũng
như khi gửi lại hai cháu cho hai bác của cháu, đến bây giờ có nhớ lại, tôi
không sao nhớ được mình đã nghĩ những gì rõ rệt. Nhà anh chị tôi vào loại khá
giả, lúc ấy con cũng chỉ có hai đứa thôi. Hẳn khi bước ra khỏi cổng nhà ít nhiều
tôi cũng có đôi chút yên tâm. Có phải cuộc đời đã đập cho mấy trận, mà tôi vẫn
tin ở cuộc đời! Người đời hay khen tôi là một nhà thơ đãng tính, vô tâm, không
biết thù, không biết hận. Biết đâu vô tâm mà tội lỗi đầy mình!
Thu xếp xong chuyện con cái, có phần rảnh rang, tôi tìm trở về
với anh Đảnh, nơi bên cửa sổ có ánh trăng xanh đang chờ. Khi tôi đã châm lửa, đốt
những gì từ trong gan, trong ruột toát ra, có nàng trăng nào dại dột đến, đập cửa
bên song của tôi? Vẫn có đấy, một vầng trăng mát tươi và dũng cảm.
Chương VI
DƯỚI NGÀN SAO
Chuyện đời, đối với tôi có đổi thay, nhưng số phận của tôi
không thay đổi nổi... Dầu rằng chúng tôi có gang tấc bên nhau, chúng tôi không
dễ dàng với tay được. Nếu tôi có tục huyền thì sự tục huyền của tôi không bao
giờ hướng về cái bóng đẹp đã có lần vụt hiện ra trước mắt tôi, từ cái buổi sáng
ấy. Trong đầu óc, bất kỳ lúc nào, tôi không hề có nơi để tôi đặt vào cái ý nghĩ
ấy. Con đường của kim chỉ dưới đại dương là con đường của ý chí. Con đường nối
chúng tôi chỉ là con đường của vô thức. Cho rằng một ngày gặp nhau trăm lần, vẫn
không dễ đã gần nhau. Nhưng thôi, đó là chuyện tôi sẽ kể ở một chương sau, còn
bây giờ, tôi ngồi sáng tác ở cái bàn anh Đảnh đã xếp đặt. Bạn bè lại đến với
tôi. Quả tình tôi cũng có bạn bè... mà biết bao thứ bạn bè. Có bạn bè gần gũi
như Hoài Thanh, xa như Nguyễn Đỗ Cung... gặp nhau chỉ là nói chuyện văn chương
nghệ thuật, chuyện lịch sử, chuyện ngôn ngữ, chuyện chính trị.
Chị Phan Thị Nga vợ anh Hoài Thanh vốn là người rất nghiêm khắc.
Đến giờ ngủ là phải tắt đèn... Cả những tiếng thì thầm chị cũng không dung thứ...
Đèn tắt rồi, chúng tôi rón rén bước ra ngoài hiên, đóng cửa lại. Trên một manh
chiếu trải ngoài cái hiên hẹp, chúng tôi ngồi khít bên nhau... rì rầm, rì rầm
có khi đến gà đầu gáy. Chúng tôi có ý xách theo cái điếu cày, thủa ấy, cả Hoài
Thanh và tôi đều hút thuốc lào. Khi hút chúng tôi cũng khéo che ngọn lửa và kéo
từng điếu im ro. Tiếng nước trong điếu cũng lọc bọc thì thầm không nghe được.
Có lúc chị Nga nói thẳng với chúng tôi: "Các ông say nhau, say chi mà lắm
thế?"
Thủa dân còn mất nước, ai mà chẳng có cái say chùng say
lén... Chả phải là chuyện bí mật quốc sự, bí mật gì đâu, mà toàn là bấy nhiêu
chuyện trên kia, nói một đời không hết.
Đối với Nguyễn Đỗ Cung, so với Hoài Thanh, tôi không gặp nhiều...
Cung không chỉ là một họa sĩ, mà còn là một nhà bác học nhiều mặt. Có lần tôi
theo anh đến các đình chùa. Tôi hiểu được con rồng Việt Nam là nhờ anh. Khi tôi
ở Đà Nẵng anh có đến thăm tôi. Có lần anh cùng với tôi đi trên bãi biển Sơn
Trà. Thấy một viên sỏi, một hòn đá nhỏ anh cũng nhặt. Anh ngắm mãi trên tay...
Anh ngắm từng mảnh đá đến hàng giờ. Anh thông thái như một nhà địa chất. Nhưng
anh không tư duy địa chất mà tư duy nghệ thuật. Nhân nói về nghệ thuật Trung Quốc
khác với nghệ thuật Việt Nam như thế nào, một kết luận bất ngờ của anh làm tôi
sửng sốt. Anh nói bằng tiếng Pháp cho rõ... "Nghệ thuật Trung Hoa bay bướm,
thiên thần, còn nghệ thuật Việt Nam khỏe, bình lặng như đá". Anh nói thêm
"khỏe, khỏe, nghệ thuật Việt Nam khỏe". Trong lúc tôi đi bên anh trên
bãi cát, tôi đang nhìn mây, nhìn chim, đầu óc tôi đầy những chuyện mơ màng...
Anh Hoài Thanh không bao giờ bước ra khỏi nơi anh đọc sách,
nơi anh dạy học, xa cái giường nghèo nàn đơn sơ của mình. Anh chưa bao giờ tới
"xóm chị em" và cũng không biết chúng tôi làm gì ở những nơi ấy...
Anh Cung đôi khi cũng có mặt ở những nơi trác táng nhưng cũng chỉ nằm nhìn.
Sáng dậy chúng tôi về, anh cùng về với chúng tôi, với đêm trác táng của chúng
tôi, anh giữ một niềm kính mến thủy chung không hề đả kích, phỉ báng.
Đối với Vũ Trọng Phụng, Vũ Hoàng Chương, với hai người này từ
khi còn sống đến khi không còn nữa, tôi vẫn giữ một niềm thương mến. Nhưng nói
chung, từ khi tôi rời Hà Nội, rời Thanh Hóa, Huế, tôi đã cắt đứt với môi trường
văn nghệ sĩ...
Nhưng hôm nay, trong cái thị trấn nhỏ này bên mình tôi chỉ có
những người bạn nhỏ. Thật ra, trong đời tôi, lúc nào tôi lại không có những người
bạn nhỏ như thế? Họ chưa có tên tuổi trong các văn đoàn, nhưng họ yêu văn, yêu
thơ. Không phải chỉ vì họ yêu thơ tôi mà họ đến với tôi... mà vì họ còn yêu nỗi
đau buồn của tôi, yêu cái tính thật thà ngây ngô của tôi nữa.
Chúng tôi quen với họ không phải như đối với Lan Khai, Vũ
Hoàng Chương... gặp ở một cuộc họp tòa soạn báo, ở một nhà xuất bản, ở một quán
ăn, hay "dưới xóm". Những người em nhỏ của tôi, có khi còn ngồi ở ghế
tiểu học, đại học... con quan tuần, con nhà giàu... và có cả những kẻ thất học ở
nông thôn, những người công chức trẻ, những người đi buôn chuyến v.v... thuộc rất
nhiều thơ, trong đó có thơ tôi... Có lúc tôi gọi họ là những "con nai nhỏ"
của tôi... vì họ ngây ngô trong sáng lạ thường.
Ở cái thị trấn nhỏ này, tôi cũng có những người bạn nhỏ như
thế, khi học đọc thơ cho tôi nghe... họ đỏ cả mặt như lần đầu tiên nhìn một cô
gái.
Bình thường tôi ngồi bên bàn, im lặng, năm ba bạn trẻ đến với
tôi. Có khi họ xách cho tôi một nải chuối, một vài cây mía. Có khi một bông hoa
đẹp ngắt từ vườn mình... Có khi vài cuốn tiểu thuyết vừa mua ở hàng sách. Lâu
ngày, thấy tôi chưa kịp thay áo... họ dẫn tôi về nhà, múc từng gáo nước đổ vào
chum... Áo quần tôi thay ra, họ tự giặt và phơi ngoài sân. Có khi họ đánh hơi
thấy tôi sạch túi, họ kéo tôi đi ăn cháo lòng hay cháo lươn, góp từng đồng nhỏ
nhét vào túi áo tôi...
Chả phải họ là những người Tiểu Mạnh Thường Quân của tôi đó
sao? Vài ba anh em bàn về tôi, lặng lẽ lo cho tôi, như thế. Đảnh thường dắt tôi
qua một phố chợ... và chỉ cho tôi nhìn vào cửa hàng thịt lợn, nơi có một
"cô bé" hồng hào, béo tốt. Cô gái có lẽ cũng đã quá tuổi ba mươi.
Khách hàng của cô lúc nào cũng đông... Cô gái múa cái dao trên tay, xẻo từng thớ
thịt đặt lên cân. Có lần anh Đảnh mở miệng hỏi tôi: "Được chứ anh? Chị em
chú bác của em đấy". Xuân, một bạn khác, một hôm nói thẳng với tôi:
"Thằng Đảnh muốn gả người chị họ của nó cho mày đấy. Con một, mồ côi cha,
hai cha mẹ tậu được ba mẫu ruộng".
Những người bạn nhỏ đã rõ tình cảnh của tôi. Họ lo tính sắp đặt
đời tôi như việc nhà của họ. Tôi không nhà cửa, chỉ có hai đứa con không mẹ
đang gửi cả anh chị tôi ở một nơi xa. Cái ăn, cái mặc, cái tiêu phí tôi không
phải lo nghĩ. Vui hứng thì làm vài câu thơ đọc cho bạn bè nghe... Một đời lưng
chẳng lom khom cầu cạnh ai.
Ấy thế mà cái điều giản đơn đó, tôi coi như chưa ai nói với
mình cả. Tôi thầm lặng cảm tạ những người bạn nhỏ của tôi. Sau này đất nước giải
phóng, tôi trở về mong gặp lại những gương mặt nho nhỏ đó của Hầu, Bách, của Đảnh.
Nhưng bao giờ tôi còn được nhìn vào đôi mắt trong trẻo của những con nai nhỏ của
đời tôi nữa? Họ lạc đâu, chết đâu cả rồi? Có ai bên ở bên kia bán cầu nghe tiếng
gọi của tôi không? Hay sóng át lời nói của tôi? Còn những gương mặt đã vui dưới
tầng đất, hẳn không còn bao giờ nữa, mở mắt ra nhìn tôi!
Mất các bạn, nỗi vui đoàn tụ mất đi gần một nửa, các bạn có
biết không? Các bạn là tất cả tuổi trẻ của tôi, và mãi mãi là tuổi trẻ của tôi.
Trong bao đau thương đen tối của đời tôi,các bạn là những điểm sáng.
Tôi nhớ rõ... hôm tôi từ biệt Vĩnh Điện ra Đà Nẵng, rồi từ Đà
Nẵng tôi bước xuống một chiếc ghe bầu để ra Huế, trong cái khăn gói của tôi, chỉ
vài manh áo mỏng, còn thơm mãi cái hương thơm của hơi tay, của hồn trẻ các bạn,
các bạn biết không?
Trên chiếc ghe bầu ra Huế đó, một cụ già cầm lái. Vừa nhìn
sao, vừa đón gió, ông cụ hát tuồng. Chưa bao giờ tôi thấy trên đầu tôi, trời đầy
sao đến thế! Tôi từ biệt những người bạn trẻ, tôi đi tìm chi?
Trong đầu tôi, hình như có một ngôi sao nhỏ dẫn dắt.
Không phải là một chuyện mơ hồ...
Đời tôi đã được thấy một cái bóng... Bóng một người con gái
đã từng bước một vòng cung, đi trước mặt tôi. Một bóng người bước vào thế giới
tâm tư của tôi. Và cũng không phải là trong giấc chiêm bao, có lần tôi đã chạm
đến da thịt của nàng. Cái đụng chạm bất ngờ đó lẽ nào có thành số kiếp trong
cái trống rỗng của hồn tôi, của đời tôi, một ngôi sao nào như từ dĩ vãng xa mờ,
lại xuất hiện, vẫy tay tôi.
Từ đây, tôi đi giữa đời như dưới một bàn tay vẫy nào đó. Có
phải vậy không?
Một cơn gió mới như thổi vào ngực tôi, như thổi vào một cánh
buồm lại căng lên giữa biển khơi.
Chương VII
"MỘT BÓNG NGƯỜI LƯỚT QUA THEO ĐƯỜNG VÒNG CUNG"
Cố gắng đến đâu, không tài nào tôi nhớ được năm nào, tháng
nào, ngày nào, cái bóng người ấy đi qua trong đời tôi. Chỉ nhớ chắc là một buổi
sáng mai, một sáng Huế.
Thủa ấy, sau khi bị đuổi học khỏi Collège Quốc học Huế, tôi
ra học tiếp ở một trường tư thục: trường Nguyễn Du ở Hà Nội. Chả là lúc ấy thầy
tôi đã mất rồi, các anh tôi lúc ấy đang làm ra tiền, sẵn sàng nuôi tôi ăn học.
Muốn học đâu, học đến đâu, tùy... rồi tiện chân tôi bước vào ngành văn ngành
báo lúc nào không hay. Tôi là một người tự do. Nhưng tôi đâu có làm chủ nổi bản
thân tôi. Người dẫn dắt tôi đúng là cuộc sống. Bấy giờ tôi đã viết vài bài báo
và đã là tác giả của một số bài thơ... Thơ đã ở trong hồn tôi. Tôi có người bạn
người Huế dòng hoàng gia yêu tôi chẳng khác nào một người tình, không làm thơ
nhưng anh rất thích thơ. Với tôi, anh là một "Mạnh Thường Quân" nho
nhỏ... Anh làm "thanh tra" của một hãng Tiết kiệm, một hãng Pháp gọi
là "Etdoccapi". Hãng này có nhiều đại lý khắp nơi trên đất nước Việt
Nam. Anh có một chiếc xe Citroel kiểu du lịch... Bất thùng chi thình, nổi hứng
anh xách xe đi, muốn đi đâu thì đi, muốn ngừng lúc nào thì ngừng. Đương nhiên
trong những "chuyến đi" như thế, không mấy khi tôi không có mặt. Anh
bảo: "Không có Lư, chiếc xe cũng đâm ra ngớ ngẩn". Tôi thích được ở
bên anh, còn hơn anh thích được sống bên tôi. Những chuyến đi cơ hồ không định
trước. Chúng tôi săn từng chuyện bất ngờ, từng bóng người đẹp. Tôi thường trao
đổi với anh về một triết lý sống mà anh hoàn toàn chia sẻ. Tôi nói: "Mày
sinh ra tuổi Tuất. Mày là thằng Tuất... Nếu mày ra đời sớm hơn, hoặc chậm hơn,
mày không còn là mày nữa". Cho nên khi xe xuất phát trễ với giờ đã hẹn, đến
hai, ba tiếng đồng hồ hay một vài buổi, anh vẫn đón tôi với một nụ cười. Anh hiểu
rất sâu điều này: Đi chuyến này, thì nghỉ chỗ này, gặp người này, đi chuyến
khác thì nghỉ chỗ khác. Gặp ai là điều mình không thể định được. Nhưng gặp ai
đó hay không gặp ai, là chuyện quyết định cả một đời mình. Người đời hay nói: Một
chuyến đò, một chuyến tàu là thế... Không phải chỉ Hồ Xuân Hương mà người con
gái nào chẳng "lênh đênh chiếc bách giữa dòng". Ôi những chuyến đi trập
trùng của chúng tôi có vẻ như những chiếc thoi đưa trong mầu nhiệm, có vẻ như lạc
biển trệch bờ. Đời tôi xiết bao lần cứ để mặc cho đời trôi dạt, không mất công
tìm hiểu! Có một chuyến đi cũng chẳng hiểu vì sao, anh bạn tôi ghé lại một nhà
thờ ở Quỳnh Lưu. Một vị linh mục quen, béo tốt, hống hào, trẻ, đưa ra một chai
rượu, đãi chúng tôi... Liếc thấy chai "rượu lễ" (vin de messe) bạn
tôi nháy mắt nhìn tôi. Có rượu nào trên đời sánh được với rượu lễ này. Tôi
không hề muốn mượn rượu để làm một người khác, nhưng mấy chén rượu hôm ấy, làm
tôi lâng lâng chập chờn, tôi không còn nhận ra tôi nữa. Ngồi trên xe với tốc độ
100 km một giờ, tưởng chừng như ngồi trên một chiếc "xe mây". Tôi
nói: "Ở đời cứ một lần đi xe bay như thế này cũng thấy đã đời". Tuất
cãi "Sao chỉ một lần? một lần mà chịu à?". Tôi hiểu thêm bao nhiêu là
chuyện nữa về các vị linh mục, giữa cuộc đời. Tôi nhớ lại lúc còn học trường tiểu
học ở Đồng Hới, chiều tối tôi gặp những mục sư một mình đi ra ngoài bãi cát...
Một lần khác... xe đi đến địa hạt huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh:
trước mắt chúng tôi một mặt trời sắp lặn đỏ lạ lùng. Chưa bao giờ tôi thấy một
mặt trời đỏ như thế và to bằng một cái nia! Chúng tôi có ý định vượt Đèo Ngang
lúc chập choạng. Nhưng Tuất dẹp lại ngay cái ý ngông. Tuất cho xe "xịch"
một cái đậu ngay vào sân một quán bên đường. Chúng tôi ăn cơm chiều ở đây... và
đêm, Tuất nhờ chủ quán gọi một đám "nhà trò" cạnh huyện, gồm một kép
già và hai cô đào trẻ ăn mặc theo kiểu tranh tố nữ. Lần đầu tôi được nghe tiếng
hát "nhà trò". Tôi lặng nghe, lặng nhìn, từng khúc hát, từng điệu bộ...
Tôi không rõ họ diễn tích nào... vẫn cứ mở mắt theo dõi. Sáng hôm sau tôi hỏi bạn:
"Sau khi kết thúc, có người "ả đào" quay lưng về phía chúng ta.
Sao mày lấy quạt đập mấy cái "rẹt" vào cái đít núc ních của ả để làm
gì? Tuất cười: Thú thật cả ngày lái mệt quá, tao ngủ một mạch khi tiếng hát vừa
cất lên cao, không sao cưỡng được. Tôi nghĩ như một đứa bé ngây thơ "còn
biết bao giờ mày gặp họ để xin lỗi cho được". Có phải vì thế mà đời tôi
sau này mỗi lần bước vào một "xóm chị em" tôi biết trân trọng ít ra
như vào nơi có "rượu lễ". Lại một lần sáng đi từ Hà Nội, chúng tôi
đêm đến Huế... Tuất có nhà mẹ ở Vĩ Dạ. Sáng hôm sau, Tuất hỏi tôi: "Cậu có
muốn ghé thăm ai ở Huế, mình lái cậu đi". Bất thần từ trong vô thức, tôi
trả lời như điều đã định trước: "Mình có một người bà con xa ở Bến Ngự,
bên chùa Linh Quang", người bà con xa này tôi vẫn nhớ được họ tên... Đỗ xe
ở chùa Linh Quang, rồi chúng tôi leo một cái "dốc đồi", cây trước ngõ
rất xum xuê... chúng tôi bước vào một khoảnh vườn. Một nhà ngói đơn sơ với một
nhà cầu thẳng xuống một nhà ngang. Người bà con xa không già lắm. Khoảng trên
dưới tuổi 50... nụ cười rất duyên dáng, đôi bàn tay trắng trẻo... ông tiếp
chúng tôi trên bộ ngựa... chúng tôi khai lý do cuộc đến thăm, ông vui thật vì
được nhận bà con. Câu chuyện xoay quanh vấn đề âm nhạc ở "Thần Kinh".
Ông cho chúng tôi hay: một quan võ Nhật Bản vừa đến xin nghe mấy điệu đàn quen
thuộc ở Huế... Nghe xong, hai bên chụp với nhau một tấm ảnh. Chúng tôi nói chuyện
với nhau giữa mùi mít vừa chín tới. Ngoài mùi mít chín, chúng tôi chẳng thấy
hương vị nào khác. Có thể chỉ có vài tiếng chim. Tuyệt đối không nghe một tiếng
động, một tiếng ồn từ nhà trên hay nhà dưới... Chợt trong một lúc, cả hai chúng
tôi cùng nhìn về một phía. Thấp thoáng một bóng người con gái đang di chuyển.
Không phải lướt qua giữa sân, gần trước mặt chúng tôi, mà là bóng người rón
rén, nhẹ nhàng lướt giữa hàng cây, xa xa vạch một đường vòng cung...
Một màu áo trắng, một vành nón nghiêng nghiêng và mái tóc dài mướt. Chúng tôi chờ cho bóng người hút qua, mới trở về với câu chuyện... Lúc về, khi ngồi vào xe, tôi mới hỏi bạn: "Thế nào?". Bạn tôi chỉ mủm mỉm cười. Lúc nào, chuyện gì anh cũng mủm mỉm cười như thế. Có vẻ quan tâm, anh hỏi "Tôn thất à? Hệ mấy?". Tôi đùa: "Hệ một trăm", ý nói đi hàng vạn cây số cũng chưa đến được. Còn đối với tôi! Quả là một bóng người con gái như thế, lần đầu lướt qua trước mắt tôi. Thật ra, không phải lần đầu tiên tôi mới biết đến người con gái ấy. Tôi đã biết cả tên nàng, ít nhiều tôi đã nghe các anh tôi nói đến "người bà con xa", đến người con gái ở xóm Trường Cửi. Họ nói đến như một người mệnh bạc nào đó!
Một màu áo trắng, một vành nón nghiêng nghiêng và mái tóc dài mướt. Chúng tôi chờ cho bóng người hút qua, mới trở về với câu chuyện... Lúc về, khi ngồi vào xe, tôi mới hỏi bạn: "Thế nào?". Bạn tôi chỉ mủm mỉm cười. Lúc nào, chuyện gì anh cũng mủm mỉm cười như thế. Có vẻ quan tâm, anh hỏi "Tôn thất à? Hệ mấy?". Tôi đùa: "Hệ một trăm", ý nói đi hàng vạn cây số cũng chưa đến được. Còn đối với tôi! Quả là một bóng người con gái như thế, lần đầu lướt qua trước mắt tôi. Thật ra, không phải lần đầu tiên tôi mới biết đến người con gái ấy. Tôi đã biết cả tên nàng, ít nhiều tôi đã nghe các anh tôi nói đến "người bà con xa", đến người con gái ở xóm Trường Cửi. Họ nói đến như một người mệnh bạc nào đó!
Thầy tôi trước khi cáo quan về dạy học, có mấy năm làm Tri
huyện Phú Lộc thuộc tỉnh Thừa Thiên. Thầy tôi có một nàng hầu ở đây. Người
"thiếp" của thầy tôi chính là con chú con bác của người nghệ sĩ nổi
tiếng ở Huế: Ông Chủ Văn có nhà ở Trường Súng, và năm người con, ba trai, hai
gái đều là nghệ sĩ nhạc truyền thống, nhiều người biết tiếng.
Người tiếp chúng tôi hôm ấy, là con của cụ Chủ Văn, và là người
cha của người con gái... có một cái bóng vừa đi qua, vốn từ trong trứng nước
cũng là một nghệ sĩ. Tên người con gái, đã dội lên trong gia đình tôi, như một
tiếng thân quen. Lúc chưa thấy mặt, cái "số phận" ấy đã len lỏi vào hồn
tôi... Tôi đã nghe các anh tôi nói đến cái nỗi đau thương đã sớm đến với
nàng... Nói đến nỗi lòng tuyệt vọng của nàng...
Nhưng tuyệt đối sáng nay, khi nghe anh bạn hỏi tôi có muốn
thăm ai ở Huế, tôi nhận câu hỏi mà thờ ơ có một câu trả lời như thế, chứ sáng ấy
mảy may tôi không có ý tìm nàng. Tôi cũng từng quan tâm đến từng bóng đẹp đi
qua, nhưng tôi không có ý săn bóng nàng. Điều ấy có lý do... Khi tôi vào khoảng
17-18 tuổi, như trên đã nói, tôi có chụp một cái ảnh hiệu Khải Xương, ở ngã
giữa Đông Ba... Tóc không chải nếp, cổ áo đăng-tông, chẳng chút gì chuẩn bị cho
tấm ảnh 9 x 12 của tôi. Sau này Nguyễn Thị Manh Manh, cô gái Sài Gòn, người đồng
hành quý báu của tôi trong bước đầu của "Phong trào thơ mới", một hôm
ra Huế vào thăm tôi, ở căn nhà tranh trong nội thành, đã xác nhận với Phan Thị
Nga bạn của cô như vậy, về đôi mắt quá ngây thơ của tôi. Nhìn vào ảnh tôi, tôi
cũng có thể nói với tôi như vậy: "không dứt lặng". Tôi yêu cái lành,
cái sáng của đời tôi đến mức tôi không muốn cho hồn tôi động đến một trang giấy
nào đen bóng chữ.
Tôi chỉ muốn tôi thuộc về những hồn ai còn trong sáng tinh
khôi! Tôi không đi tìm những vết thương... Đời Mừng đối với tôi, không phải là
cánh cửa đã mở toang. Lim dim, mắt tôi qua cửa hé, đã thấy chút bóng đen
trùm... sau này tôi không hề tìm hiểu... Nhưng dần dần tôi cũng biết được với
tôi đây là cả một mối tình đầu của Mừng. Mặc dầu trước đó có một người rất yêu
Mừng, người đó là một giọt máu Hoàng gia... một dòng trong hai dòng Vương, đã
được truyền trong câu thơ nổi tiếng Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh đường, nghĩa
là thơ hay đến như ông Tùng, ông Tuy có thể làm mất đời Thịnh Đường. Tùng đây
chính là Tùng Thiện Vương, con trai của vua Minh Mạng, tác giả 2.000 bài thơ để
lại cho đời, không phải chỉ là một bậc thầy trong thi ca, mà là cả một tấm lòng
vàng, đối với những người bất hạnh, đối với nhân dân thống khổ. Sau này, tôi đã
viết một bài giới thiệu thơ người. Và một lần qua Huế, Mừng và tôi có đến thăm
nhà thơ và vái trước chân dung to lớn của người: Hoa có trăm cánh cao thấp khác
nhau, dẫu có xa gần cao thấp vẫn cùng một gốc... Đó là điều cấm kỵ trong luật
vua. Nhưng một bên là một thư sinh, một trí thức, một bên là hoa vừa nở. Sau
này, chúng tôi đã yêu nhau, có lần Mừng nói với tôi: "Trên một chiếc thuyền
sông Hương, có nhiều người đẹp ở Huế, có những cô con dâu các vị đại thần... Em
cũng dự vào ngồi giữa đám ấy...".
Thật ra chẳng có gì phải ngạc nhiên. Quyền uy vua chúa đang
tàn, chút mùi vương giả cũng còn đôi chút phảng phất lưu luyến... Xưa nay, những
chuyện ông hoàng bà chúa với nhau trong cung đình, ngoài có lính gác, ai cũng
biết. Những chuyện thế này, trong Hoàng tộc chẳng ai muốn xé to...
Nhưng một tin đăng trên báo Tràng An gợn lên một
làn sóng bất ngờ trong Tôn nhơn. Cũng chỉ vì những kẻ bình thường trong phủ
cũng sợ một điều: "Tây biết được, không khéo Tây lại bắt mọi người phải nộp
sưu, nộp thuế, như những dân thường", không còn được hưởng chút ân huệ bé
bỏng cuối cùng. Cho nên việc mới dội ra, đã phải tìm cách dập đi! Thật ra, ngay
trong dinh Tùng Thiện Vương, cũng chẳng ai nỡ lòng cản trở... Người dâu của
Tùng Thiện Vương vốn là người mẹ của người đã có ý yêu Mừng, đã từng viết mấy
câu thơ tặng con, tỏ thái độ tán thành kia mà!
"Nghe tin anh chẳng được đi thi
Thôi vậy sang năm cũng kịp thì
Sung sướng trở về cùng hợp mặt
Trăm năm duyên thắm mối tình si"
Cha là người thư sinh chưa đủ tuổi để thi vào đại học canh
nông, người mẹ chúc anh sang năm gắng thi cũng còn "kịp thì" rồi khi
tốt nghiệp xong đại học, hai bên lại họp mặt, - chuyện trăm năm duyên
vẫn thắm nồng.
Một dòng sông bị chắn, lại trở dòng... cũng là câu chuyện
năm, bảy giọt nước mắt để ngăn tờ giấy... trắng tinh.
Sau này có lần vô tình hay hữu ý, Mừng để cho tôi xem một
phong bì với mấy hàng đề địa chỉ người nhận... tôi cũng chỉ liếc qua, như liếc
mắt qua một số phận bên cạnh. Thế thôi! Mãi sau này, khi chúng tôi dẫu chưa
thành đôi lứa, lần đầu tiên tôi nhẹ bước vào thế giới tâm tư của Mừng, và một
hôm tôi nghe Mừng đàn... tôi cũng gợn bâng khuâng... Bài thơ sau này in vào
trong tập Tiếng Thu nhan đề: Hoa lan, nghe rất trang trọng. Thật
ra, có lúc tôi tự nói đùa với mình: Một chuyện "co giật". Lúc này đối
với Mừng, tôi đã có hai câu thơ làm phương châm xử sự:
Ta thương cỏ, ngùi hương phận cỏ
Nguyện ngày mai làm gió bên đường.
Nguyện ngày mai làm gió chớ không phải là kiếp này. Ấy thế mà
một chút ghen giận đã xảy ra. Đêm ấy, tôi ngồi đu đưa trên một cái thang tre, dựa
vào cây cau... Tôi không nhớ Mừng đàn bài gì... Nửa chừng hay đã xong một khúc,
Mừng buông tơ... cúi đầu, không chịu đàn lại nữa... tôi cho rằng: Hồn Mừng đã
xa vắng... Sau này tôi viết:
Hoa lan quên nở bên giàn,
Nhớ ai em để tiếng đàn ngừng đưa...
Tiếc gì em nửa đường tơ!
Cho hoa quên nở, trăng mờ quạnh soi...
Chờ em đêm đã khuya rồi,
Rộn ràng lá rụng, vàng rơi đầy thềm!
Rõ ràng là ý đẹp mà vẫn là cơn giận! Kỳ quặc! Sao tôi lại đòi
ở Mừng một điều tôi đã từng tha thứ cho tôi?...
Và khi Mừng bước vào giấc mơ đầu tiên của mình, Mừng hay đâu
đã có tôi ở trên đời... Giọt nước mắt bật ra khỏi mí mình, đó cũng chỉ là giọt
sương để vướng vào tay áo, khi tôi len lỏi giữa hàng cây.
Giọt sương ấy cũng chẳng khác gì cái dáng người trong sáng ấy,
đã vạch một vòng cung trước mắt tôi. Dẫu tôi có biết chút ít về dĩ vãng của Mừng,
sáng ấy tôi cố thu cái dáng đẹp lướt qua, như một ống kính mắt đã thu giữ sự thật
khách quan. Thế thôi! Một vành nón nghiêng nghiêng, mái tóc dài, sợi dây vòng
vàng trên ngực óng ánh, đã vô tình mở ra một trang đầu của cuốn sách dài hơn ba
phần tư của cuộc đời tự giác của tôi và... mãi mãi, nó sẽ không tàn phai đi
trong cõi ảo mờ...
Nguyễn Du khi ngập ngừng bước vào một cuộc sống mới, đã ghi lại
những hình ảnh tuyệt diệu:
Hộp phấn bằng ngà vừa mở nắp...
Và thêm đó, trong Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng đã viết: "Mày
ai trăng mới in ngần". Tôi muốn tin rằng: dẫu lúc bấy giờ, lòng chúng
tôi chưa "có" nhau, mọi sự đã bắt đầu từ cái giây phút ấy: một dáng
người đã lướt qua trước mắt, đã biến thành "thiên thu". Dáng người đi
sau, mà bóng của người đã chiếu trước vào gương. Tôi ghi lại đây như chuyện một
chiếc bóng đi trước hình vậy.
Chương VIII
MỘT CHỮ THƯƠNG
Lúc tròn mười tuổi, ở trong làng tôi, cách Đồng Hới độ 50km,
cách Huế độ gần 150km, tôi đã nghe thầy tôi nói đến ông Chủ Văn một tài tử
phong lưu… một danh cầm ở kinh đô. Nhà ông là một bảo tàng nhỏ về nhạc Huế. Ông
cũng có một phòng riêng trưng bày nhạc cụ phương Tây, từ nhạc dây đến nhạc gió.
Người ta nói đến cái xe sắt nổi tiếng của ông. Là một chủ sự, một ông quan nhỏ ở
Phủ Tôn Nhơn, xe sắt của ông đi sớm về khuya, từ dinh to đến ngõ hẹp của kinh
thành. Không phải để len lỏi vào những nơi quyền cao chức trọng của triều đình,
chạy chọt chút danh lợi đỉnh chung.
Thuở ấy, cũng có bánh xe cao su, nhưng còn hiếm, với một chiếc
bánh xe gỗ trên đường đá, đã khua động những đêm khuya… Hai ba giờ sáng, trong
cái im lặng của thành phố, người quét đường hay khách chơi khuya còn nghe tiếng
lạch cạch xe ông.
Ông từ cuộc hòa đàn nào ở Hầu Biền hay ông Cả Soạn, hay từ
danh cầm nào đó, bước ra… Hay cũng có thể trăng sắp lặn, gà cồn đã gáy, ông từ
một chiếc đò bên sông bước lên, chia tay một tiếng ca, tiếng hát. Có khi trời
sáng bạch, ông mới về đến ngôi nhà của ông ở Trường Súng, nơi bến có bụi tre là
ngà. Cũng có lúc, từ Trường Súng, không đi đâu xa, lạch cạch đến dốc Nam Giao,
ông lên nhà vườn, một cảnh vườn xum xuê cạnh chùa Linh Quang, dành cho người
con thứ hai của ông, một nghệ sĩ tài hoa, người sinh ra Mừng. Cả nhà đã ngủ rồi.
Mẹ Mừng thức giấc chợt nghe tiếng lạch cạch, kêu lên…: “Ô ông… Ô ông vô”. Bà gọi
tất cả mọi người dậy. Ai nấy không kịp dụi mắt, vội vàng sửa khăn sửa áo đón
ông…. Đã thành lệ, bất kể khuya hay sớm, ông vô là theo lệnh ông phải có cuộc
hòa đàn, kẻ tranh, người tỳ… ông thổi tiêu. Ông người to như hộ pháp, nhưng với
chiếc tiêu nhỏ trên tay. Mừng cũng phải dậy tưng tưng mấy tiếng đàn tranh cho
ông vừa lòng… Tiếng tiêu cũng véo von thăng trầm… Cả người mẹ của Mừng không hề
biết đàn cũng nghiêm túc thành kính ngồi nghe. Cuộc hòa đàn kéo dài đến khuya,
cho đến khi ông cháu mệt mỏi, mọi người nghe tiếng xe lách cách đã xa, mới lên
giương ngủ tiếp. Có khi trên đường đi của ông, ông gọi người con trai là chú Hướng
và người con gái là cô Huyền vào dự cuộc hòa đàn lớn của “Tam đại đồng đường”,
hòa đủ cả năm cây. Ông lúc trẻ có mua một người hầu nít, cũng là để xoa bóp tuổi
già… Nhưng từ lúc nào, cô hầu nít đó học được ông dạy cho đàn, và đã là vợ hầu
của ông và thành một thành viên của đại gia đình nghệ sĩ.
Đến nay, không ai biết rõ người nghệ sĩ hộ pháp ấy làm
cho cả nhà sợ như cọp dữ đã đi đến cây sáo, cây tỳ, cây nguyệt như thế nào.
Nhưng ông có lúc là rể của một gia đình giàu có “địch quốc”. Dưới bến sông của
nhà “địch quốc” đó, quanh năm đầy những bè gỗ quý kéo ngăn cả dòng sông đào xuống
An Cựu. Những đền tạ, những lầu các của vua chúa đã dựng lên một phần. Hẳn nhờ
có gỗ của ông, chở từ các nguồn về…
Người con gái yêu của vị “địch quốc”, đã ở trong danh sách những
cung phi tiến dâng vào cung vua… Sự đời lại không xảy ra như thế. Người con gái
nhà giàu không chịu vào cung nên cha bị vu chứa những đồ quốc cấm. Người sinh
ra nàng đã phải trả giá đắt bằng cả sinh mệnh của mình: ông bị mang ra chém đầu
ở cửa An Hòa, phía Nam kinh thành. Còn người con gái thoát chết trở nên vợ của
một người, bề ngoài không có dáng gì một nghệ sĩ, đó là ông Chủ Văn.
Ông Chủ Văn là một ông quan của phủ Tôn Nhơn, một cơ quan lo
việc nội bộ của những người Hoàng tộc, gồm những kẻ tôn thất từ đời Nguyễn
Hoàng đến những hàng vương tử cao sang gần gũi với những vua Nguyễn đương thời.
Dẫu sao, thì ông cũng cho đời bốn đứa con cũng đều là nghệ
sĩ… Người con trai đầu cây đàn nào cũng biết chơi, mặc dù không thật hay. Người
con trai út, tiếng đàn “nhu mì” khiêm tốn, dễ thương, không hề muốn chơi trội.
Ông chỉ là công chức Tòa sứ tỉnh, con rể người dạy con vua, và chính ông là người
bạn cọc chèo của vua Duy Tân yêu nước bị Tây đày đi xứ lạ.
Người con gái là vợ của một bác sĩ, và nổi tiếng về vụ án ly
dị của bà… Bà thường vào dạy đàn cho bà Từ Cung, vợ của vua Khải Định và là người
mẹ của Bảo Đại (một bà “mẹ vua” của một ông vua ăn lương tháng của Tây). Bà
thích đánh bạc, có khi thua bạc cũng túng thiếu như ai… Cô giáo dạy đàn… với
“tài nghệ” của mình (không phải chỉ về nghệ thuật) đã trở nên người không những
kín đáo đi vay mượn, cầm đồ vàng ngọc cho Từ Cung, mà còn là một người mối lái
biết bán từ cái phẩm chức nhỏ bé cho dân quê đồng thời là một người nghệ sĩ nổi
tiếng trong kinh đô, có những điệu đàn xao xuyến những người tuổi trẻ… Bà chết
trong âm vang tiếng chuông, tiếng mõ của Phật.
Còn người con trai thứ hai tên là Tôn Thất Kiêm sành cả năm
cây, nhưng thường ôm say cây tỳ. Ông là một quan nhỏ bộ Lễ, một nhà nho, một
nhà thơ thường mở rộng giao du với những nhà thơ trẻ tân học. Trên hết mọi sự,
ông là tác giả của một “tác phẩm” sinh động, độc đáo: Mừng. Mừng, người con gái
của ông dầu muốn dầu không đã trở nên “nhân vật” chính của tập “Hồi tưởng” này
của tôi.
Ông Chủ Văn cũng như các nghệ sĩ kinh thành lớp trước đều
trân trọng, trang trọng cái đúng đắn, nghiêm túc của điệu “Nam ai cổ”. Lúc còn
là đứa học trò nhỏ tôi đã nghe các anh tôi nói, đêm mưa, Cả Soạn đàn, bên vách
ngoài thềm như có ma quỷ ngấp nghé nhìn nghe. Có phải cái vẻ hàn lâm cổ điển,
cái nghiêm túc của nghệ thuật xưa đã làm cho thần khóc, quỷ sợ! Trái lại điệu
“Nam ai mới” của ông Thừa Kiêm khác với giọng đàn của ông Chủ Văn, cha mình,
nghe như buông thả, lơ lửng… Ông muốn đẩy hồn ra mà lại như muốn hút tới. Hoài
Thanh có lần đã viết: rất say cái buông lỏng của điệu “Nam ai mới”. Đội Trát một
nghệ sĩ lớn tài ba với một ca nữ nổi tiếng đương thời trên sông Hương đã đàn ca
thể hiện cho chúng tôi nghe cả hai làn điệu cổ, mới đó. Thật ra tôi đều thẫn thờ
trước cả hai làn điệu. Có lần nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba đã phân tách cho tôi một
cách khoa học sự xuất hiện và sự phát triển của một làn điệu nhạc dân tộc. Vấn
đề nghệ thuật là vấn đề tâm hồn, là cái tế nhị ẩn sâu trong đáy hồn của người
thể hiện cũng như của người cảm thụ. Một lần tôi hỏi ý Mừng thích làn điệu nào,
Mừng đáp một câu gọn: “Em thích cái buông lỏng của cha”.
Trong tập “Hồi tưởng” này lẽ nào tôi không dành phần
rộng lớn cho cái tâm hồn khoáng đạt, thoải mái của người cha ấy?
Mặc dầu khi giữa tuổi còn trẻ người nghệ sĩ đã gieo không ít
đau thương cho gia đình, cho người vợ, và cho bầy con thơ dại, trong đó có Mừng.
Giữa cái tuổi xuân của vợ, người nghệ sĩ chợt ra đi, để lại một
mảnh vườn rộng cô quạnh giữa đời, một bầy con dại. Người nghệ sĩ ấy với cây đàn
đã đi đâu?
Từ Huế ông vào tận Lục tỉnh. Đâu có tiếng đàn, tiếng ca, tiếng
tri âm, tri kỷ thì ông đến. Không một bức thư gửi về, không một lời nhắn lại.
Sau này, Mừng kể lại: “Ông thì ở Trường Súng, cô chú thì ở quanh chùa Từ Đàm,
đêm đông ở nhà thật kinh sợ. Nhà vắng, vườn rộng, mẹ con co lại trên manh chiếu.
Mẹ nằm ở giữa, sờ bên phải, bên trái, sờ lên đầu dưới chân, bàn tay không ngủ,
có động đến thịt da, tóc tai bầy con, lòng mẹ mới yên. Cửa chốt chặt mà như giữa
vườn hoang, mẹ con nhiều lúc không ngủ, dò nghe từng tiếng động, từng tiếng
chân đi, tưởng chừng lúc nào kẻ gian cũng vào được”. Người mẹ đã nuôi những đứa
con của mình như thế. Cũng vì thế mà người chồng khi trở về không để cho ai động
đến giấc ngủ của vợ. Nhưng phải ngoài bốn mươi tuổi, người cha, người nghệ sĩ bốn
phương ấy mới trở về. Chỗ ngồi của người lại nguyên như cũ. Trên vách lại đủ
năm cây đàn, và nhờ dòng máu, người nghệ sĩ được trên ban cho ít phẩm trật. Ông
đã thành một quan nhỏ coi lăng tẩm. Những ngày lễ lạt, người khác được vui chơi
riêng ông lại bận rộn nhất. Cả nhà vợ con cũng rộn theo những ngày ấy. Nếu xe của
cụ Chủ Văn bánh còn bằng gỗ, thì ông Thừa Kiêm lại có một chiếc xe nhà bóng
loáng bánh cao su. Chủ yếu ông Thừa Kiêm trông coi Khiêm Lăng, lăng Tự Đức – một
lăng đẹp nhất cách kinh đô độ mười cây số. Đường lên lăng đồi núi trập trùng.
Ông thường cùng với người kéo xe từ nhà đi ra lúc gà đầu chưa đập cánh. Trên đường
đi ông còn gặp những tên ăn trộm đêm, đang trên đường hành nghề, chúng chào ông
như chào một ông quan tuần cảnh.
Mỗi tháng trong hai kỳ sóc vọng như thế, trong chiếc áo xanh
rộng, ông đi lạy các lăng vua, cung kính nghiêm túc bao nhiêu thì khi ngồi một
mình cạnh cây đàn, hai bên những tri âm tri kỷ của ông, ông thoải mái buông
lòng bấy nhiêu. Ông biết buông mình. Khi nỗi đau đến giữa lòng ông, ông như tìm
được ngôn ngữ đời sống. Không phải chỉ có khúc điệu dễ dàng toát ra từ đường
tơ, dưới những ngón tay luyến láy…. mà cũng không phải một chữ, một câu ca thơn
thớt từ trên đôi môi cố vặn duyên dáng mà cuộn từ trong gan ruột lên. Chính lời
ca, lời thơ của ông, ấp ủ và thoát ra từ nỗi đau da thịt của mình. Từ trong
tình cảnh ngang trái mà ông đã trải qua, ông đã viết lên những lời thơ thắm thiết,
da diết để rồi hòa vào từng điệu khúc Nam bình, Nam ai… Sống giữa vợ con bình
thường, ông vẫn chập chờn trong từng cơn sóng mộng, điếng lên vì từng vết
thương do mình tự tạo lấy. Tôi vốn trân trọng điệu Nam bình cất lên trong sóng
gió dòng Hương, nhưng khi giọng Nam bình riêng của ông cất lên, tôi đã thẫn thờ
xao xuyến….
Ngán thay trò tạo đa đoan
Mảnh trần doan (duyên)
Ghẹo người khuê các
Rồi:
Lịu địu đôi đàng
Ấy công đầu ôm cầu thẹn kẻ gieo cầu
Yêu nhau nào biết cho nhau
Xoàng đôi chén đập tan gương sầu
Với người cha của Mừng tôi mới thấm sâu những từ trần
doan (duyên), lịu địu, xoàng đôi chén… cũng chỉ là một mối tình ngang
trái mà trần duyên đưa lại chỉ để ghẹo nhau chơi. Hai bên đều có nơi có chốn đã
lịu địu hai đàng rồi mà “cầu” kia còn cắc cớ ôm gieo thêm cho tội nợ. Thôi thì
đã vậy âu đành vậy, rượu đâu nào ta xoàng với nhau đôi chén, cái mảnh gương sầu
kia ta hãy đập tan ra từng mảnh. Ý tình trên chữ nghĩa thì ai cũng hiểu như thế.
Nhưng trong cái giọng Huế, thì ta nghe như một giọng đùa rỡn với cái đau chết
người…. Bỗng phựt như một tiếng dây đứt một cái bóng phồng lên chợt xẹp lại….
Cái duyên Huế là thế… có khi nghe xong nước mắt bật ra lúc nào chẳng biết.
Ở ông Tôn Thất Kiêm thơ với nhạc như đôi bạn song đôi. Chính
ông là người đẻ ra các khúc điệu song đôi ấy cũng như ông đã sinh ra người con
gái tên Mừng: như một sản phẩm mang nhiều dấu ấn của ông.
Ông quả tình là một nhà thơ trong cảnh vườn này… không phải
chỉ có mùi mít chín mà những đêm hè… một chút hương ngọc lan, bất thần tỏa ra.
Khi ông ngâm những bài thơ Đường và truyền đạt cái đẹp ấy cho người con gái
mình, ông đã mang về đây những vị ngọt ngào hiếm có, rất Việt Nam. Nơi đây
chúng tôi có những đêm thơ, Mừng cất tiếng ngâm:
Tích nhân dĩ thừa Hoàng Hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu…
Hạc vàng ai cưỡi đi đâu
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai (a)
Giọng ngâm nga hồn người con gái cứ man mác, man mác hoài
trong tôi. Những tình cảnh qua lời dịch của Tản Đà, phảng phất cái thi vị Á
Đông mà thơ Tây phương không thể có được, rất Trung Hoa mà cũng rất Việt Nam.
Thương nữ bất tri vong quốc hận
Cách giang do xướng Hậu đình hoa…
Thương nữ biết chăng niềm hận nước
Ý thơ, vì dân, vì nước, chuyển qua Mừng, người con gái ít nhiều
bướng bỉnh này, ngâm lên như một nỗi đau thúc bên hông. Những ngày tháng đi
trên mảnh đất mình, gò đống mình, sông bãi mình, không giật mình sao được. Vì một
nỗi đau thúc bên hông ấy, từ những đầu bạc hay những mái tóc còn xanh…. người
nghệ sĩ này tuy có mặc áo rộng xanh để kiếm sống độ nhật, vẫn không hề biết ton
hót, qụy lụy… trước bất kỳ ai… Ở cái vườn nhỏ này, khi vầng trăng đã treo lên
trước ngõ, khi hai ba bạn thơ cùng xum vầy bên những cốc rượu, có cả không khí
“chụm đầu nhau ngoài lề xã hội”. Tôi có những người anh ruột có tên trong Thi
nhân Việt Nam: [c] Lưu Kỳ Linh,… cũng là một tay gần gũi với
vườn thơ… lúc gặp gỡ, lúc chia tay. Người ra đi (đi đâu người trong cuộc cũng
không biết), để lại một bài thơ, người ở lại, trong trìu mến họa lại một bài.
“Chừ đây” chú lại sắp ra đi,
Chả biết quà đi những món gì
Thôi hái quả trăng mà nhắm rượu
Say sưa tiễn chú một “Cung tỳ”…
“Trăng đang sáng mấy đám mây che lấp...”. Rồi lại
vài hạt mưa thưa, thơ lại tiếp:
Cung tỳ tôi tiễn quá say sưa
Nhỏ giọt bên thềm mấy hạt mưa
Thôi chú ngồi, thêm thêm chút nữa
Đợi cung tỳ dứt hạt mưa thưa…
Khi tôi không còn là người họ xa của gia đình Mừng, có lần mượn
chén rượu, người nghệ sĩ thân sinh ra Mừng đã nói với tôi: “Cụ mự họ sống, các
đời cụ mực sống ra sao mặc họ, chúng mình cứ sống cuộc đời chúng mình”. “Cụ mự”
đây là những vị đại thần trong triều: trước và cả sau cái chuyện tày
đình: “Năm cụ khi không rớt cái ình” [d] xảy ra ở Huế. Đời của chúng mình là
vầng trăng, chén rượu… và vài vần thơ hào hứng!
Người cha không phải là một ông quan áo rộng xanh, mà thật sự,
ông là người thợ vườn. Ông đã để lại cho con cháu một tấm gương lao động chân
tay tuyệt vời.
Mỗi ngày, nhà nghệ sĩ Trường Cửi dậy sớm hơn mặt trời. Khi uống
xong một tuần trà tự mình đun nước và pha lấy mà uống… và đi từng giường đánh
thức các con dậy với lời dặn: “Đi nhè nhẹ nghe con, để cho mẹ ngủ”. Tất cả người
nhà cùng với người giúp việc đều cùng một lúc bắt tay vào lao động với ông. Tự
mình, ông tưới hoa, ông lồng trái, ông bắt sâu, tỉa cành… những việc nặng nhọc
nhất, trước hết thuộc về phần ông.
Ông đào, trục cả hàng tre già để lấy đất trồng dừa, trồng
tiêu… Ông bắt người nhà mua từng bó “bổi”, đào từng hố sâu, ủ gốc cho những
hàng cau. Riêng những bàn tay yếu ớt ông phân cho trồng trầu.
Chỉ có một người ông không bao giờ động tới … đó là người vợ
duyên dáng yêu thương của mình, người luôn luôn có nụ cười trên môi… người
không hề nặng lời với ai, người tưởng như không có việc gì làm trong nhà, nhưng
là người chủ thật sự của gia đình.
“Nào! Nhẹ chân cho mẹ mày ngủ”, trừ người đàn bà ấy đã chịu
nhiều đau thương vì ông, ông nghiêm khắc ra lệnh cho mọi người…
Tất cả mùa hè cũng như mùa đông, mọi người đều phải dậy trước
lúc mặt trời mọc, và không lâu sau mặt trời lặn, phải lên giường… gìn giữ từng
hơi sức cho ngày hôm sau. Tất nhiên mỗi tháng, mỗi tuần, ông cũng giành những
lúc rỗi rảnh, gió mát trăng trong, không oi ả, một mình sửa phím so dây, một
mình tâm sự với mình. Những ngày mưa, ông bắt các con lấy đàn ra họa. Người
mẹ không biết đàn miễn khỏi học đàn. Nhưng những buổi học đàn của con, người mẹ
vẫn ngồi bên cạnh. Mừng sau này kể lại cho tôi: “Khổ nhất là những buổi dạy lên
dây, phân biệt cho từng tiếng nhạc, họ, xự, xàng, xê, líu…”. Mừng cũng không đến
nỗi có lỗ tai điếc đặc… âm nhạc, nên đã qua những buổi học đầu tiên này một
cách trôi chảy và suôn sẻ. Thương nhất người anh và người chị của Mừng, không
sao qua nổi buổi học kéo dài này… Người cha có lúc không giữ nổi bình tĩnh trước
một sự sai lầm hay chậm hiểu của học trò, có lần… đã vất cả con dao vào con
mình. Người mẹ vẫn bình tĩnh như không, chỉ buông nhẹ một câu: “Mỗi đứa một khiếu,
đứa nào không học được đàn thì học cái khác…”; người chồng đành ngồi im.
Mừng sau này có nói với tôi: “Thật ra em từ nhỏ cũng chả
thích gì âm nhạc. Trừ phi vì nghĩ vụ phải xây dựng một tổ ca Huế cho Đài phát
thanh Trung ương… em phải cầm lấy cây đàn…”.
Nhưng dẫu sao, tuổi nhỏ Mừng đi vào âm nhạc dân tộc chẳng
khác nào một việc đương nhiên, một định mệnh.
Chín tuổi biểu diễn ở trường Đồng Khánh. Mừng đã phải dạy đàn
cho những người quý tộc… Có học đàn, Mừng càng yêu ba, hiểu ba hơn. Mừng đã
mang gần nửa tâm hồn người cha nghệ sĩ trong mình. Tiếc rằng, vừa qua tuổi 50,
ông đã vĩnh viễn từ biệt vợ con, cha anh, bạn bè mình… Ông đã chết trên tay Mừng,
người con gái yêu nhất của ông… Những giây phút sau cùng của người cha, Mừng đã
dành cho người những gì đẹp nhất.
Sắp đến giờ liệm, một việc bất ngờ đã xảy ra trong gia đình.
Nguyên trước đây, ông có mua tặng cho con mình một cái áo gấm… Cả nhà muốn lấy
cái áo gấm ấy liệm cho người ra đi. Người ông biết chuyện đã tỏ ý không bằng
lòng, ông nói: “Hà tất cứ phải liệm cho được áo gấm. Áo ấy tao mua cho nó, nay
nó chết rồi, thì dành cho thằng Hường em nó”. Xưa nay ông nói gì như một lời lệnh
ban ra, cả nhà im lặng không dám nói gì. Duy có Mừng vụt đứng lên thưa:
“Thưa ông, cha cháu một đời biết kính thương cha mẹ, hết lòng
dạy dỗ con cái. Nay cha cháu ra đi… Một chiếc áo đẹp ông nỡ nào còn tiếc với
cha cháu”. Người ông chồm lên như một con cọp dữ, nói gọn một câu: “Ta chặt đầu
mi”. Mừng không nao núng, trong nước mắt đi lại bên ông, buông một câu: “Đầu
cháu đây, ông chém đi”. Mọi người có mặt đều hoảng sợ… Người ông đứng sững! Chỉ
có người mẹ của Mừng đi lại bên Mừng, cũng trong nước mắt cúi đầu nói với con:
“Mừng ơi! Mạ lạy con”, hẳn muốn xin con đừng trái ý người ông, nhưng cuối cùng
thì ý nguyện của Mừng được thực hiện.
Mất cha, Mừng mất gần nửa tâm hồn, nhưng từ nay, trọn vẹn Mừng
có mẹ. Người mẹ mà Mừng vẫn coi là một tấm gương sáng của đời… Thuở hai bên
“môn đăng hộ đối”, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, cũng không rõ hai người đến với
nhau như thế nào… Người mẹ không hề động tay đến một tơ đàn… Nhưng có buổi hòa
đàn nào, người chịu thiếu mặt. Tưởng người nghe, ngồi im như pho tượng, nhưng một
bài Nam bình hay một bài phủ lục… từng điệu láy luyến… động đến ruột gan người.
Xưa theo từng tiếng đàn của chồng, nay lại dõi từng tiếng đàn
của con.
Người mẹ không hề lấy nước mắt để đối phó với cuộc đời… Sau
trước vẫn nụ cười ấy trên môi. Ngày rằm, ăn mày đến đầy ngõ, mẹ tự tay với từng
người một, phát từng đồng tiền. Bà con có ai cho con chép, con tràu… cũng bảo
con mang thả xuống sông An Cựu… Cả những lúc tiền lương đã cạn túi, trên mâm vẫn
đủ màu sắc, chỗ nằm vẫn êm ấm… Khách xa khách gần đều muốn ở lại… Đôi khi
thoáng một nỗi lo trên mắt người chủ, nhưng một lát sau, Mừng xách rổ, lẻn đi
phía sau không ai biết. Nhưng lúc về đã thấy bó rau tươi, con tôm con cá đang
quậy…
Với kẻ thân nhất, bà mới có chút thổ lộ: “Hắn ra chợ… thấy
con cá ngon, cũng mua cho mạ thời”… Bà cười: “Không có tiền hắn cũng mua được.
Có lúc túng thiếu, một mình hắn lo liệu, đồng vàng mang đi cầm, đứa khác mỏi miệng
chỉ nhận được một, không nói gì mà nó được mười”.
Sau này, Mừng kể lại với tôi: “Một hôm mạ nói với dì Tôn, em
nghe được: cả nhà dì coi, chỉ một mình nó… không phải chỉ nơi chợ búa mà lúc
nhà gặp bước khó khăn, cũng lại một mình nó lo toan, chạy chọt… Cả nơi quyền
cao chức trọng, nó cũng dám xông vào. Cả nhà này, con Mừng là đứa hiếu thảo nhất!”
Đứa hiếu thảo nhất ư?
“Hiếu thảo nhất mà để rồi sau này hắn đành lòng bứt áo ra đi,
mặc mẹ ở lại, da bọc lấy xương đó!”. Mừng đã bao lần nhắc lại câu nói này của mẹ,
trong một cái mỉm cười mà nước mắt dàn dụa không sao ngăn được.
Hiếu thảo nhất là nó! Và chính từ Mừng bao sóng gió. Cuộc đời
giữa những người thương nhau đến thế lại đùng đùng nổi lên bao sóng gió ư? Cuộc
đời của mấy người như một tờ giấy trắng. Cả đất trời im ắng… Có phải từ mỗi số
phận, mỗi tính cách, mỗi bản lãnh mà sóng gió từ đấy nổi lên?
Người cha đã chết trên tay Mừng và gửi nửa hồn mình lại cho
con, Mừng thường nói thế. Sau khi người nghệ sĩ tài hoa vĩnh biệt ra đi, người
mẹ cứ mỗi chiều trong tiếng chuông chùa Linh Quang lại đi quanh mộ chồng. Mừng
dõi theo từng bước người đi tìm lại lối xưa trong ráng chiều bàng bạc. Vốn
không hay làm thơ Mừng cũng lẩm nhẩm mấy câu:
Chiều xuống, chiều ơi, chiều ơi chiều lại xuống
Bên chùa Linh động tiếng chuông ngân…
Trong tiếng chuông chùa ngân chiều đó, khoan thai man mác buồn…
lòng người mẹ hay lòng người con có bao giờ nghĩ là đang ẩn giấu những sóng
gió?
Đổ cho một sự xung đột nào đó về tư tưởng, chế độ, âu cũng dễ
thôi…
Hai với hai không phải bao giờ cũng bằng bốn. Nhà thơ lớn Gớt
hàng giờ ngắm viên sỏi trong tay, có ai cười ông là ngớ ngẩn?
Viết những trang hồi ký tưởng như vô tình mà vô tận này, tôi
không muốn nghĩ mình đang kể lại chuyện xảy ra gần nửa đời, chuyện một
cành hoa nở trước mặt, hoa nở hai lần, phải chăng sự sống đang tái tạo, mỗi
ngày mới thật là sự sống.
Bạn đọc vô cùng thân mến của tôi.
Tôi mong rằng: Mỗi trang tôi viết ở tôi ra cũng là mỗi trang
sẽ dính vào thịt da các bạn. Giữa chúng ta một sự sáng tạo chung, liên hồi
không thể nào đứt đoạn.
Nhưng những chuyện của thơ văn của nghệ thuật luôn phức tạp.
Ngay người vợ không sành âm nhạc cũng đã để lại trong lòng mình một điệu “phú lục”
của chồng, một điệu “phú lục” mà chồng thường đánh và mình từng thành kính lắng
nghe, rồi kết lại trong hồn mình một kỷ niệm đầy tâm tư, không phai mờ được.
Nhưng nói cho cùng tất cả đây cũng chỉ là những câu chuyện của những tâm hồn, của
những con người… của người ông, người cha, người chồng, người vợ, người mẹ, người
con… trong những mối quan hệ chằng chịt lấy nhau.
Đẹp lắm trên đời những vấn vương
Chao ôi! Thiên lý một con đường
Đi trong trời đất từ duyên ấy
Sớm tối không rời một chữ: THƯƠNG.
Cái gọi rằng buồn, vui, đau, giận, thậm chí ghét thù đi nữa,
tôi cũng coi như là trăm nghìn biểu hiện của cuộc sống, trăm nghìn mối tơ vương
đó thôi. Có nổi, có chìm, có sống, có chết, tôi vẫn gọi nó là tơ tằm. Có nước mắt,
nhưng tôi vẫn gọi là “long lanh nước mắt”.
Viết lại sự thật đã qua có cho người cho là tự truyện. Nhưng
như một nhà văn Pháp đã nói: “Tôi, là một người khác”. Sự xung đột giữa tôi và
người khác vẫn là tôi đó, thì cũng là mối chằng chịt vấn vương giữa con người với
con người, giữa tâm hồn với tâm hồn, giữa tri lự với tri lự, - vẫn là
cái sự thật sống động, khách quan, quen là "cuộc sống" đó thôi.
Chương IX
“CÁI ĐỤNG CHẠM THIÊNG LIÊNG”
Sau buổi gặp cái bóng vút qua sân, tôi không được gặp lại Mừng,
nhưng mỗi mùa xuân trôi qua Mừng lại thêm một tuổi. Những người bà con xa, lại
gần thêm, tôi được những người trong gia đình Mừng gọi bằng “chú”. Người cháu
ruột tôi lấy người chị của Mừng… và thêm người chị con chú con bác với Mừng lại
làm vợ người em của anh rể tôi. Trăm thứ dây mối như chằng chịt thêm. Mừng và
tôi, mỗi con thuyền riêng lẻ đó như chúi theo số mệnh của mình…
Lâu lâu tôi ghé qua nhà, ăn với gia đình một bữa cơm, ngủ lại
nơi nhà vườn ấy một đêm, đọc một vài câu thơ và nghe một tiếng đàn…
Thật ra những năm ấy tôi không ghé ở Huế nhiều. Lúc ở Hội An,
lúc ở Thanh Hóa, lúc ở Hà Nội, tôi làm thơ, viết báo, dạy học, làm chồng rồi lại
làm cha…
Làm thơ, viết báo, dạy học tư, thường tình người ta gọi đó là
những “nghề tự do”. Nhẹ nhàng thế thôi. Như những chương trên tôi đã thuật đầy
đủ… thế nào là một chữ “thơ” một chữ “báo”. Trong một thời đại kỳ quặc mà chúng
tôi đã bảo là đã “chọn lầm” thì làm cái nghề vốn rất nghiêm chỉnh xưa nay là nghề
dạy học, tôi cũng chỉ là một đứa con hoang. Những năm ấy, biết bao lần trời đã
sụp trên đầu, đất đã lở dưới chân. Cả tâm hồn tôi trở nên một cái hang tối
bưng. Dẫu khi có ngọn gió thông thổi qua, một tia sáng chớp vào, mình vẫn không
biết mình là ai, mình ở đâu!...
Lại mấy chữ “gia đình”, quen gọi là tổ ấm, nơi mình che mưa, ẩn
nắng… lại “xã hội”, nơi mình vẫy vùng đôi cánh, ngang dọc mái chèo, đó là một
thứ văn chương hoa mỹ lừa gạt mình không nổi, hoặc đờ đẫn “đi trên chân người
khác”.
Những đêm “giang hồ”, tưởng chừng không phải của mình mà thuộc
về ma quỷ, đến khi mặt trời lên, cuộc đời mới trả lại cho mình đôi chút: ngọn
bút lao lực cày trên từng trang giấy, đầu bút cúi trước những trang sách đẹp.
Lòng muốn trở về với những tình cảm trong sáng, chân thật… muốn được làm con
người, người chồng, người cha… muốn có ngọn đèn suy tư… những vần thơ những ý
nghĩ toát từ da tóc: lay quản bút, tung trang giấy… Quả tình là những ngày
tháng đắng cay, hiu quạnh, trên những tấm ván chòng chành.
Còn Mừng? Những năm tháng qua ấy đối với mỗi xuân qua… Mừng
cũng mất đi những mùa xuân. Mái tóc, tâm hồn, con người vượt quá tuổi hoa mà
không biết. Chẳng mấy khi Mừng và tôi được ngồi chung một khoang thuyền, nhưng
tiếng sóng quanh thuyền Mừng vẫn luôn luôn vọng đến bên tai tôi. Cũng có lúc giật
mình tự hỏi: “Chờ con thuyền ấy đang hướng về phương nào, đã cắm neo bến gần
xa… hay đã cứ để mặc từng làn sóng lăn tăn, rập rềnh đưa đẩy?”
Nếu có lần nào, tôi bị giạt ra Huế, thì tuy cùng một con sông
Hương ấy, kẻ bến này, người bến nọ… chẳng kịp tìm nhau… cái vẫy tay nhau chẳng
có!
Có lần đi qua nhà anh Tôn Thất Dung, mút ở đầu Tràng Tiền,
tôi ngừng lại một lát, để ngắm cái ảnh phóng to, bốn cái nón nghiêng nghiêng, bốn
mái tóc, bốn kiềng vàng, bốn cặp mắt, vẻ nhìn duyên dáng… Ngừng lâu hơn trên
khuôn mặt “người bà con xa” như muốn vào tìm một số phận…
Nhưng ảnh đâu phải là người… Toan chạy vội qua cầu Tràng Tiền,
trở lại thăm vườn Trường Cửi, nhưng chỉ cần gặp một người bạn xa gần nào đó
trên đường là chân để mất hướng đi… Hụt đi một bước chân, lại có thể lạc xa hay
để chậm đi nhiều năm tháng… có khi mất đi cả những mùa nắng hay mùa mưa.
Một lần khác tạt vào Huế, tôi từ Thượng Tứ đi ra, thì một cái
xe nhà đi vào… thành. Một chiếc xe nhà do người kéo. Ở Huế, trên những
chiếc xe như thế, nếu không phải là ông quan khăn đóng, bài ngà, thì cũng là
mái tóc vấn trần hoặc tóc búi, hoặc bím tóc thề buông lỏng. Một vòng kiềng Huế
với màu áo tím nữ sinh. Tôi vừa nhận ra được cái người phu xe đã khuất mà hình
như tôi đã gặp một vài lần. Chiếc xe đã khuất sau cửa thành kiểu Vauban, trong
có thể nhìn ra ngoài mà ở ngoài thì chẳng nhìn vào trong được.
Một phút gặp gỡ bâng quơ… như trong mộng… bắt mình phải
nghiêng lòng trên số mệnh… cái bóng đẹp vút theo đường vòng cung ấy.
Cái thế giới hình tượng là một thế giới không lời, sao mà cả
thời gian có muốn chùi đi cũng không chùi được. Hoặc có chùi lại thì càng sáng
thêm.
Một buổi chiều nào đó, dưới ánh tà, một chiếc lá vàng… lặng lẽ
rơi mà sao không quên được một giọt nước mắt, chợt vương đúng vào tay áo mình
ráo ngay… muốn tưởng tượng cái ngấn ướt lạnh cũng không sao tưởng tượng nổi.
Tuy tôi không hỏi đến số phận của những giọt nước mắt đó, tôi cũng nghĩ rằng:
những giọt nước mắt ấy, cũng như bao nhiêu giọt nước mắt như thế, - cũng
chẳng thể thấm đượm lâu…
Không tìm hỏi mà sao tôi đều như đều biết cả…
Những tin tức về Mừng, đã bay khắp nẻo… cũng chẳng hề lạc mắt
tôi…
Sau cái bóng vút qua, không phải nhìn vào đâu cũng là trống
không lạnh lẽo… Trong nhiều năm tháng, dẫu không gặp lại, tôi vẫn biết Mừng vẫn
là cô gái ở Trường Cửi… Trường Cửi xóm nào, không ai biết tới nhiều nhưng chợ Bến
Ngự, dốc Bến Ngự người ta đều biết tới… gần như cả Huế cũng biết đến người con
gái ấy! Người ta nói tới người con gái ấy… Ra ngoài phố thì ngồi trên xe, nhưng
ở nhà thì là một người thợ làm vườn, một cô gái cần cù, siêng năng. Có việc lao
động nặng nề nào trong nhà mà nàng không làm được!
Mùa mít, nàng là người ngồi lẫn vào giữa những cô chủ hàng
rau quả khác… Người khác chợ chiều vẫn ngồi xua đuổi ruồi nhặng. Nhưng nàng vừa
đặt thúng quả xuống, nháy mắt đã bán xong, rồi một lúc tìm vài miếng thịt, con
cá ngon mua về cho mẹ… bán cũng dễ, mua cũng dễ… Cũng chẳng phải nhờ miệng lưỡi
mà chỉ vì cái duyên, cái số… cái nụ cười tươi trên môi.
Từ ngày cha mất nhà mỗi tháng mất đi đồng lương của cha, mà
cái lộc nhỏ cũng chẳng có, cuộc đời vẫn khó khăn, nhưng cuộc đời vẫn trên đôi
tay… Vẫn là cô giáo dạy đàn, cũng có khi theo người cô vào tận gối bà Từ Cung…
Nhưng không để phai màu dân dã… Trong xóm không ai không biết đến cái tính bướng
bỉnh của Mừng. Một hôm từ trên xe Mừng nhảy xuống đường… can thiệp vào một việc
bên đường. Mừng đã cản một người đàn ông… kéo tóc hắn, lôi ra… để cho một người
đàn bà đứng lên thoát khỏi tay hắn. Tôi chẳng cậy gió, gió vẫn mang về bên tai
tôi những chuyện về Mừng.
Tôi được biết: Mừng vẫn là người con gái đẹp, không phấn,
không son… Nhưng mỗi bước đi ra đều uốn sóng từ sợi tóc trên trán… đi trên đường
vẫn chỉ nhìn thẳng mà bước. Cả khi ngồi trên xe, những người trai quanh xóm,
trên đường vất vào xe Mừng những bức thư ngỏ… Mừng vẫn cung kính nhận. Có một
công chức đã làm nhà trước nhà Mừng để khi đi khi về được gặp mặt nàng. Thấy
chàng vòng tay cung kính chào hỏi, thì Mừng cũng từ trên xe, cung kính cúi mình
đáp lễ… Người ta có cách nghĩ về Mừng thì Mừng cũng có cách nghĩ về người ta.
Nàng không hề quyến rũ người mà cũng không hắt hủi một ai…
Trên đời cũng có ít nhiều biểu hiện tình cảm chân thành trong sáng… Mừng vẫn ngồi
đàn cho ai tha thiết muốn nghe mình đàn… Mừng, bóng một cô gái Huế… có khi ngày
này qua ngày khác, Mừng ngồi cho người vẽ… thu từng dáng nét của mình… Người
giáo sư hội họa vẫn là nghệ sĩ tài hoa… đã gửi niềm say mê của mình vào trong bức
tranh.
Trước khi đi Paris, người họa sĩ ấy gửi lại bức thư nhỏ tỏ
lòng mình… Mừng cung kính mà không đáp lại. Một sự im lặng kéo dài cho đến gần
ba chục năm sau… Người họa sĩ đó đã trở về Hà Nội… thăm lại quê hương. Trong một
bữa tiệc chiêu đãi do Hội nhà văn tổ chức với những văn nghệ sĩ ở nước ngoài về
thăm quê… khi chia tay, người họa sĩ nổi tiếng đó đã bước ra trước, đứng bên cửa
… chờ Mừng đi qua, anh đã xin được một cái hôn trên trán Mừng, Mừng cũng không
nhận, không từ,… để mặc đời. Hôm nay cũng như những ngày còn là người con gái
Huế, Mừng vẫn trân trọng đối với cuộc đời… Mặc dầu lúc nào Mừng cũng vẫn là Mừng…
Thật ra thuở bấy giờ sau những giọt nước mắt nụ cười của Mừng đã đượm ít nhiều
chua chát mỉa mai. Thuở bấy giờ nghe “tiếng” Mừng, có nhiều nhà giàu có từ xa
tìm đến… có cả con cháu của những “người mười vạn” đánh tiếng… Sau này Mừng nói
với tôi:
- Có lúc em muốn “đặt giá” miễn là, sau khi ba không còn
nữa, điều ấy có thể mang lại niềm vui cho mẹ… Cả khi người ông sắp tắt hơi, bắt
em phải lấy một người nào làm chồng, - em đã đùa một câu, em còn nhớ
mãi đến bây giờ: “Ông ưng ai, cháu lấy người ấy.”
Đâu hẳn đó là những lời tuyệt mệnh của một mối tình tuyệt vọng!
Sau những năm những tháng như xa như gần Mừng đó, nàng đã để lại trong hồn thơ
tôi một bóng dáng tuyệt vời. Một Tết, từ Hà Nội về, tôi ghé lại gia đình tôi,
nơi làng quê của tôi thì cũng là cái Tết ấy, Mừng từ Huế ra thăm anh rể và chị
ruột của mình!
Bất ngờ tôi đã được gặp người con gái trên đất mà tuổi trẻ của
tôi đã lớn lên qua từng ngày từng mùa từng năm. Một mảnh đất, trên mỗi bước
chân, đầy những tuổi thơ tôi. Chúng tôi gặp nhau nửa thân, nửa xa, nửa quen, nửa
lạ… Về tôi, tôi có thể nói được gặp lại, sau quãng đời đầy sóng gió… Khi tôi mất
hết vẻ thanh tân… của người trai trẻ, trong đôi mắt không còn tràn đầy những vẻ
ngây thơ… khờ dại… Khi tôi đã là một nhà thơ nặng trĩu những đau thương và hối
hận, trong nhiều năm tháng, tôi đã làm khổ nhiều cho đời lẫn cho tôi. Đã đành…
những biểu hiện về tình cảm của tôi, bao giờ cũng trong sáng chân thành,
có làm khổ, nhưng trái lại cũng bị đời trấn lột trăm điều. Không tính rõ tôi đã
được những gì, nhưng quả tình những cái tôi mất không phải nhỏ… Lòng tôi đã bắt
đầu ngờ vực và đã nhiều lần, tôi đã trở nên người vô trách nhiệm, tôi đã buông
thả lòng mình, buông hồn, buông xác vào những cuộc trác táng, đã đánh lừa mình…
gọi rằng: Thả buông mình những xiềng xích mới… Những xiềng xích cho xác, cho hồn
mình. Tôi đứng trước Mừng, có nhiều ngơ ngẩn, sững sờ, chả biết xưng hô thế
nào… còn Mừng vẫn gọi tôi một điều “chú” ngon lành thoải mái.
Giữa những ngày xuân, anh em chúng tôi rủ nhau lên đỉnh núi Kỳ
Phong, núi cao nhất của làng tôi, để thăm nghĩa trang gia đình lớn của chúng
tôi: thầy mẹ tôi và các anh chị tôi đều nằm ở đây.
Tất nhiên, Mừng, người khách quý của gia đình cũng được mời
đi thăm…
Đường lên núi không có gì mệt nhọc… Tuổi tôi có lớn nhưng
chưa đến ba mươi. Tôi vẫn đi chạy giữa bạn trẻ. Khi đến nơi tôi tách ra ngồi cạnh
một cái giếng gọi là giếng Mây… giếng không sâu, không rộng nhưng nước trong vắt
lạ thường.
Tôi đang soi mình xuống giếng, thì chợt thấy trên đầu tôi, một
chiếc nón nghiêng, một màu áo trắng và ánh sáng trên cổ, sâu thăm thẳm là một
“phông” trời xanh. Trong đáy nước không gợn tôi nhìn vào đáy mắt của Mừng. Mừng
vô tình hay cố ý, đến soi mặt vào dưới đáy giếng Mây? Tuy những cái bóng không
biết nhìn nhau, nhưng chiếc bóng đã chú ý soi đáy giếng. “Giếng Mây” là một kỷ
niệm tuổi thơ tôi.
Tôi nhớ những năm tôi học ở trường Quốc học Huế, nghỉ hè tôi
về làng và mở lớp dạy thêm cho những học trò trong làng hay làng bên cạnh. Tôi
dạy thêm cho chúng về tiếng Pháp, nhưng đồng thời, tôi cũng mang tác phẩm của cụ
Phan Bội Châu dạy cho chúng “ Dậy! Dậy! Bên án một tiếng gà vừa gáy”.
Thầy trò ngâm tập thể những bài như thế, thuở bấy giờ, nào
chúng tôi đã đâu biết hát. Chiều ăn xong, tắm nước giếng, tất cả ra về… Duy tôi
thường hay ở lại một mình… Ngồi một mình nhìn núi, bể xung quanh… dưới ánh sáng
cuối cùng của mỗi ngày. Dãy Hoành Sơn (Đèo Ngang) như sừng sững trước mặt. Lại
phóng một vòng mắt ra biển khơi, ngắm “Cù lao nón” khi những đợt sóng thần
không dứt, hay khi biển như một tấm gương mênh mông phẳng lờ.
Tôi nhìn lớp xanh xanh kia và tự hỏi: “Sau cái xanh xanh đó
là gì?... là gì?”. Tôi ngẩn ngơ trước câu hỏi mà mình đặt ra… Thuở ấy tôi không
còn mẹ, con người thân thiết nhất trên đời. Tôi sẽ sống với ai, tôi sẽ đi đâu?
Từ bản thân tôi, tôi nghĩ đến con người, kiếp người… Nhớ mẹ, tôi hay ngâm lại
hai câu thơ của Lamartine mà Phạm Quỳnh dịch:
Tấm thân đứng giữa trần hoàn
Cầm bằng giọt nước giữa làn biển Đông
Và tôi khóc một mình trong hoàng hôn của núi Kỳ Phong… đến
khi chợt thấy một bầy heo rừng con lúc nhúc theo mẹ ra kiếm ăn, tôi mới hoảng sợ…
trốn chạy về nhà. Đâu phải gần ngay trước mặt, nghĩa trang gia đình tôi cách
nhà tôi cũng đến hai cây số.
Cái nỗi “băn khoăn” siêu hình đã đến với tôi quá sớm. Giọt nước
mắt đầu tiên là khóc mẹ, khóc cuộc đời, khóc mình. Cha tôi sớm từ quan về dạy học.
Hồi hai cụ Phan về nước, hai anh tôi học Quốc học Huế, đều “bãi khóa” bỏ học về
nhà. Đến tôi vào trường Quốc học… Có vào đây nhưng lòng vẫn gửi nơi khác. Tôi
cũng có những bài thơ đầu về đất nước… Nhưng thơ tình của tôi, cũng như những vần
thơ về đất nước của tôi, tôi có thể nói chúng đã được đẻ ra từ cái băn khoăn
siêu hình, đều mang một cái đau buồn và lẽ sống chết của kiếp nhân sinh. Khi
trưởng thành, học ở Hà Nội, phải làm những bài luận về văn hoc, buộc phải đọc
những đoạn văn, trang văn của Hugo, tôi đã dựa vào cái ý của ông thầy này mà
làm nên những câu thơ sau đây:
Đủng đỉnh chiếc thuyền con
Trăng lên đầu ngọn núi
Vũ trụ ngó bao la
Nên cười hay nên tủi
Có lần tôi viết về hồn người con gái Chiêm Thành, hiện hồn về:
“Chỉ nghe gió thổi mà chẳng nghe lời nàng nói”. Đó là những tứ thơ xuất phát từ
bên giếng Mây này.
Hôm nay, vào tuổi 27-28… lại trở về với “giếng Mây”, dáng
người mệt nhọc hồn trĩu nặng đau thương.
Một tình cờ kỳ quặc, nơi đây lại gặp người con gái Huế ấy…
Tôi cũng viết mấy câu, dường như vơ vẩn nói về một người nào đó. Biết Mừng từ
Huế ra và Mừng là máu thịt của cái bóng người lướt một vòng cung ngày nọ… mà lời
thơ tôi sao vẫn chập choạng hồ đồ. Tôi hỏi:
Quê em ở Xá
Tên em là gì?
Rồi cùng dắt tay nhau vào rừng ăn sim, và cùng soi bóng dưới
đáy giếng nước trong. Câu thơ hôm nay có phần như muốn rực sáng lên chăng? Thật
ra tôi cũng chẳng nhớ cụ thể: tôi nghĩ thế nào về Mừng và Mừng nghĩ thế nào về
tôi, trong cái buổi gặp gỡ như thực như ảo này? Giếng Mây là một cái giếng có
thật ở làng tôi mà đối với tôi vẫn như là một cái giếng thần thoại của đời tôi.
Có thật hai bóng người vắt qua bờ giếng. Có thật là bên nàng tôi đang đi lên
thăm ngôi chùa làng, thăm những dấu vết còn lại của Thành Hời (Chiêm Thành).
Vâng, ở đây vẫn còn những tên gọi “phố”, rõ ràng là chúng tôi cùng nhau bước
lên trên những nền hoa đá, những mô đất, xưa kia qua bao thế kỷ có những cô gái
Chiêm Thành đi qua…
Những ngày giờ bên Mừng đây có phải tôi đã đọc vài vần thơ về
giếng Mây cho Mừng nghe? Thế rồi một ngẫu nhiên kỳ quặc nữa lại xảy ra là sau
buổi thăm giếng Mây thăm chùa, chúng tôi cùng mọi người đi trên một chiếc thuyền
tới phiên chợ Đồn. Đêm trăng, chúng tôi cùng ở trong một khoang thuyền… Sự ngẫu
nhiên kỳ quặc là chúng tôi được ngồi kề bên nhau...
Những ngón chân đã đụng những ngón chân và chúng tôi cứ để
yên như thế, coi như là chuyện trời xui đất khiến đưa đẩy. Chúng tôi nhớ lại sự
đụng chạm thiêng liêng đêm ấy như một ân huệ trời Phật ban cho. Mừng như một
chiếc thuyền chúi mũi bởi định mệnh nào đó, còn tôi lại là một chiếc thuyền
khác chúi mũi đến một định mệnh khác.
Trời bể mênh mông sao dám nói chuyện bến bờ gặp gỡ? Khi ở
chùa Trà Am, tôi nhớ có một câu kệ trong kinh Phật: “Qua đại dương trùng điệp,
một sợi chỉ dài tìm đến một lỗ kim”, duy nghe có tiếng nhau, có thấy mặt nhau,
mà ngược xuôi vận mạng… Cuộc hành trình kim chỉ dưới đáy đại dương nào có ai
đưa dẫn? Ấy thế mà bến bờ như chỉ cách nhau nửa mái chèo đưa đẩy! Làm sao có thể
khác được? Phách lạc hồn rơi cũng phải tìm nhau mà đến! Sức hút này nghìn lần mạnh
hơn định mệnh.
Lại Nguyên Ân
Nguồn: Lưu Trọng Lư: Nửa đêm sực tỉnh
(nhớ lại những mối tình), hồi ký, tái bản,
Hà Nội: Nxb. Hội nhà văn, 1996












Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét