Mùa sen nở
Mùa hạ là mùa sen nở. Ở Việt Nam hầu hết
các đầm, hồ lớn từ ngàn đời xưa đều có trồng sen. Riêng Hà Nội khi chưa bị thu
hẹp thì Hồ Bảy Mẫu, Hồ Thiền Quang trên, Hồ Thiền Quang dưới và cả Hồ Gươm và
nhất là Hồ Tây mùa hạ sen bát ngát, hương thơm làm dịu khí hậu của cả một vùng.
Trong bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm có
những câu hay như:
Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cũng như sen
Mùa hạ là mùa sen nở. Ở Việt Nam hầu hết các
đầm, hồ lớn từ ngàn đời xưa đều có trồng sen. Riêng Hà Nội khi chưa bị thu hẹp
thì Hồ Bảy Mẫu, Hồ Thiền Quang trên, Hồ Thiền Quang dưới và cả Hồ Gươm và nhất
là Hồ Tây mùa hạ sen bát ngát, hương thơm làm dịu khí hậu của cả một vùng. Ngày
nay sen bị dọn nhiều chỉ còn lại ở Hồ Tây. Dù sao hình ảnh sen vẫn đậm nét
trong tâm hồn người Việt, nên ai cũng thuộc câu ca dao cổ:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Bài ca dao hiền hòa, ngợi ca hoa sen trước hết
là về vẻ đẹp nhiều sắc nhiều mầu của cụm hoa, nhưng không chỉ thế, câu ca dao
còn ngụ ý ca ngợi phong cách, tiết tháo của loài hoa qúi này, ở sát ngay cạnh
bùn mà chẳng chút nào chịu dính mùi tanh tao.
Tất nhiên đây là điều mà nhiều người đã nhân
ra, không chỉ ở ta mà cả ở nước ngoài. Như ở Trung Quốc, đại văn hào đời Tống
là Chu Đôn Di có viết một bài văn bàn về sen nhan đề Ái liên thuyết, trong
đó có câu: Liên hoa chi quân tử có nghĩa Sen là người quân tử. Thì ra
ở đâu ai cũng quý hoa sen nên dùng hình ảnh hoa này để sánh với những hình ảnh
cao quí. Cho nên từ kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ đã có câu ca dao:
Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ
Hoa sen thanh thoát tinh khiết thật đáng được
trân trọng. Hơn thế nữa không chỉ đẹp một cách dịu dàng, không chỉ vững vàng
khí phánh và tiết tháo, sen thực ra còn cống hiến toàn bộ thân thế, thân phận
mình cho con người: Ngó sen là một thuốc bổ đồng thời là một món
ăn xào với thịt bò ngon lành, nhị sen để ướp trà tuyệt hảo, hạt
sen vừa là vị thuốc vừa là thức ăn ngon, chè hạt sen mùa hạ mê hoặc nhiều
người, ngay cả cái tim của hạt sen tức là tâm sen cũng lại là một dược
liệu an thần, còn lá sen dùng để gói cốm cho hạt cốm thêm hương, thêm
mát. Rõ ràng là từ đầu tới cuối, sen đã cống hiến cho con người không tiếc một
bộ phận nào.
Sen đã cống hiến cho con người không tiếc bộ
phận nào
Tất nhiên riêng cuộng sen thì không
là thực phẩm và dược liệu nhưng lại là một thi liệu của thơ ca Nguyễn Du từng
viết: Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng, tơ sen vương vấn không dứt tượng
trưng cho tình cảm luyến lưu gắn bó không dời, cũng như hương sen vốn đã thành
thi liệu từ ngàn xưa. Thương em thương đến vô cùng, hương sen càng ngát nỗi
lòng càng vương.
Hoa sen thơm và thanh khiết không chỉ đi vào
ca dao và thơ hiên đại mà đã đi vào thơ Việt Nam cùng với …Nguyễn Trãi
(1380-1442). Ở thế kỷ 15 mà Nguyễn Trãi từng viết về sen bằng thơ Nôm với tứ
thơ đặc sắc còn được lưu trong Quốc âm thi tập:
Làm nhơ chẳng bén tốt hồ thanh
Quân tử kham khuôn được thửa danh
Gió đưa hương đêm nguyệt đỉnh
Trinh làm của có ai tranh
Có thể câu ca dao “gần bùn mà chẳng hôi tanh
….” có từ thời Nguyễn Trãi vì ý của câu thứ nhất trùng với ý của câu ca dao kia
tức là sen chẳng bén mùi bùn mà lại có hương thanh khiết. Câu thứ hai nêu lên một
lời khuyên bảo là muốn làm người quân tử thì phải kham khuôn, hai chữ cổ
có nghĩa là bắt chước, thì mới giữ được danh tiếng, mới nổi danh, tức là
người quân tử, người tử tế, không để mình nhuốm bùn rất sẵn có trong cuộc đời ô
trọc. Câu thứ ba đặc biệt ca ngợi hương sen toả trong đêm có ánh trăng tĩnh lại.
Thì ra càng về đêm hương sen càng ngát. Và cái hương sen đó giúp cho người ta
giữ được tấm lòng trung trinh, một tấm lòng cao cả mà không ai tranh được của
ai, vì đó là điều thuộc về bản chất trong người.
Và nói tới Nguyễn Trãi lại nhớ đến Nguyễn Du
(1765 - 1820), nhà thơ kỳ tài của dân tộc cũng yêu sen. Thời thanh niên ông từng
đến Hồ Tây đắm mình trong vùng sen. Những kỷ niệm về sen ăn sâu trong tâm hồn
thi hào đến nỗi ba, bốn chục năm sau, khi đã làm quan đại thần của Triều đình
Huế mà trong một giấc mơ ông vẫn thấy hiện lên mồn một kỷ niệm cùng cô bạn gái
đi hái sen ở Tây Hồ một ngày thu tàn.
Tỉnh dậy ông viết bài thơ Mơ được hái
sen (Mộng đắc thái liên). Trong bài thơ ông kể rằng buổi sang đó ông hẹn
người bạn, cùng lên Hồ Tây để hái sen, chuyện trò cười nói đùa vui. Là lúc thu
đã chớm về nên hoa sen chỉ còn lưa thưa vài bông cuối mùa, còn nhiều bông gương
đã ngậm hạt. Dẫu sao cả hai người đều hái cả hai loại sen đó và câu thơ Nguyễn
Du vang lên:
Thái thái Tây Hồ liên
Hoa thực câu thượng thuyền
Hoa dĩ tặng sở úy
Thực dĩ tặng sở thương
Nghĩa là:
Hái hái sen Tây Hồ
Gương, hoa chất đầy thuyền
Hoa tặng người mình sợ
Gương tặng người mình thương
Thì ra Nguyễn Du cũng có người để mà sợ nên
những bông hoa sen cuối mùa quí giá ông sẽ phải đem tặng người đó, còn người
mình yêu thương thì chỉ nhận được những gương sen ấp ủ những hạt sen ngon lành
chứ không thể là hoa đẹp. Thì ra Nguyễn Du cũng có người để mà sợ, để mà phải
dành hoa quí làm tặng phẩm.
Như vậy hoa sen là báu vật của người Việt ở đồng
bằng, nhưng liệu ở miền núi và cao nguyên có hoa sen phổ biến như ở đồng bằng
hay không và các dân tộc ít người, anh em ở các vùng đó có thưởng thức, có cảm
nhận hoa sen với một mỹ cảm như người vùng đồng bằng không.
Nguyễn Vinh Phúc





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét