Tống
biệt là một bài "Từ" nổi tiếng của Cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu. Ông được
xem như một trong những người mở đường cho Thơ mới sớm nhất.
Tống biệt được
trích trong vở Chèo Thiên Thai do Ông sáng tác năm 1922. Nội dung vở diễn tích
hai chàng thư sinh là Lưu Thần & Nguyễn Triệu đời nhà Hán, nhân Tết Đoan Ngọ
(nhằm ngày 5 tháng 5 Âm lịch), vào núi Thiên Thai (nay là tỉnh Triết Giang)
hái thuốc, rồi bị lạc lối về. Hai chàng bất ngờ gặp được tiên nữ, rồi kết làm vợ
chồng, sống hạnh phúc được nửa năm, thì cả hai nhớ nhà, muốn về thăm. Các Nàng
ngăn cản không được 2 Chàng, vì biết ra đi là lạc lối về. Lưu, Nguyễn về làng
thấy quang cảnh khác xưa, hỏi ra thì mới biết đã xa nhà đến 7 đời. Buồn bã, 2
Chàng trở lại Thiên Thai, thì đã không còn thấyTiên cảnh đâu nữa... Kể từ đấy, họ
đi vào Núi rồi mất biệt...
Ở Việt Nam ta thì có chuyện Từ Thức:
Từ Thức người Tống
Sơn, nay là Hà Trung (Thanh Hóa), làm tri huyện Tiên Du (Bắc Ninh), nhân đi
chơi Hội đã cởi áo gấm giúp một cô gái xinh đẹp gặp tình huống éo le. Thời gian
sau chàng từ quan, tìm thú vui nhàn tản. Một lần ra cửa biển Thần Phù (Ninh
Bình), Từ Thức đi qua núi và thấy một chiếc động, được Động chủ gả cho Giáng
Hương, chính là người chàng đã cứu thuở nào. Sống với nhau được một năm, dù rất
hạnh phúc, Từ Thức chợt nhớ nhà, xin được về thăm. Cảm thông nỗi niềm của chồng,
Giáng Hương sắm xe và gài sẵn phong thư kín nói lời Ly biệt. Khi đến quê, tất cả
đều đổi thay, Từ Thức hỏi một cụ già râu tóc bạc phơ thì mới biết đó là cháu nội
của mình. Chàng đã đi quá lâu. Từ Thức muốn trở lại cõi tiên với vợ, nhưng chẳng
còn dịp may … trước cửa động Từ Thức, bây giờ dây leo chằng chịt đan kín.
Ở bài
Tống Biệt, tác giả chỉ nói đến cảnh Chia biệt đầy Lưu luyến của Lưu-Nguyễn với
2 nàng Tiên, hay là Từ Thức với Giáng Hương (?) để qua đó thầm gửi gắm "Niềm
thương tiếc của mình đối với cái đẹp không bao giờ có thể tìm lại được, nếu
không biết giữ gìn, để qua đi mai một.
Tống biệt
Lá đào rơi rắc lối thiên
thai,
Suối tiễn oanh đưa luống ngậm ngùi!
Nửa năm tiên cảnh,
Một bước trần ai,
Ước cũ duyên thừa có thế thôi!
Đá mòn,
rêu nhạt,
Nước chảy,
huê trôi,
Cái hạc
bay lên vút tận trời!
Trời đất từ đây xa cách mãi.
Cửa động,
Đầu non,
Đường lối
cũ,
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi.
(1922)
Bản Dịch:
Tiến sĩ Vũ Đình Đỉnh
Leaving Paradise Peach petals were sprinkled along the Paradise path
As
clear creeks and golden orioles all came to bid farewell!
Half a year of
blissful life in Paradise,
One step of miserable existence on Earth,
Olden vow
and little love were just that and no more!
Stones are cut, mosses turn brown,
Water runs deep,
flowers float around,
And cranes fly high,
Disappearing into
the blueish sky!
Now Heaven and Earth are again forever separated,
The grotto
gate,
The mountain top,
The beaten path,
Reminiscences of a thousand years of
A
moon-washed celestial stroll.
Tống Biệt là bài Từ khúc theo điệu Hoa phong lạc,
rút từ vở chèo Thiên Thai, có thể coi là một bài toàn bích. Vì đây là Vĩnh biệt
(từ đây xa cách mãi), cho nên bài Thơ (và ngay cả bài Nhạc) có nhịp chân bước
quyến luyến mà chậm rãi, dường như ung dung. Văn khí trong Thơ thay đổi luôn,
câu ngắn thì như nấc như nghẹn, câu dài thì như tiếng than não nuột của một cặp
Tình nhân chia tay nhau giữ cảnh Trời đất mênh mông... Võ Đức Thu phổ Nhạc (từ
bài Thơ), không chê vào đâu được.
Giới thiệu bài Thơ này, Bùi Giáng có lời
bình: "Lá rơi - Hình ảnh của lìa tan, của ly biệt... Người đi. Khách phàm
trần đã lên đây, đem lên đây tình yêu của hạ giới, gây bàng hoàng cho lòng xanh
tiên nữ, để giờ đây chia biệt, đem tình về hạ giới, cho lòng xanh tiên nữ lại
bâng khuâng... Lời tiễn đưa vang nhè nhẹ giữ Đào Nguyên trăng sáng rộng vô ngần.
Như hồn xuân đêm yểu điệu. Như ngậm ngùi tình vương vấn thiên thai. Như gió lùa
thổi vào tâm hiu hắt...
Sực tỉnh rồi... còn đâu nữa mộng lòng xuân. Nụ hồng giữa
vườn xuân không hé phơi lần nữa. Đá mòn. Rêu nhạt. Nước chảy-Huê trôi. Cái hạc
bay lên vút tận trời...đem đi mộng cũ của lòng ta... Tình của người lặng đi giữa
bốn bề câm nín. Lạnh mang mang vây ám mãi nghìn năm. Đường lối cũ, nơi đầu non
cửa động. Trăng chơi vơi còn sáng mãi, hững hờ. Mộng Thiên Thai võ vàng, đã mòn
mỏi...
Bài thơ quả là có mang ý nghĩa tượng trưng đó.
Tống biệt? Vĩnh biệt
Thiên Thai là vĩnh biệt hồn thơ của tuổi mộng-Tuổi mộng không ở mãi với hồn
thơ, để thắm mãi giữa đời....".
Nhà nghiên cứu Thạch Trung Giả viết:
... "Ngậm ngùi" là nỗi buồn sâu xa thấm thía, tuy không mãnh liệt đốt
xét lòng người nhưng dư vang bất tuyệt. Trong cuộc tiễn đưa, bốn người đã ngầm
biết không bao giờ gặp lại nên tình cảm của họ lắng sâu như thiên cổ.
"Nửa
năm tiên cảnh,
Một bước trần ai"...
Diễn tả nỗi bàng hoàng của người thấy
cuộc vui qua mau như giấc mộng. Trần ai xuất từ kinh Phật ví cõi đời ô trộc và
vô thường. Để rồi từ đó mạch thơ chuyển sang thơ
"Đá mòn, rêu nhạt
Nước chảy,
huê trôi"
cốt nói thêm rằng cuộc tan vỡ này không phải là ngẫu nhiên mà là
theo định luật chung của vũ trụ. "Cái hạc" không những chỉ chiếc xe
tiên mà còn ám tỷ hạnh phúc từ đây hoàn toàn mất hút. Tiếng "thơ thẩn"
như tả một người đi lẻ loi. "Bóng trăng" có thể coi như là một linh hồn
trầm tư cúi xuống chứng kiến nơi đã ghi dấu một cuộc tình duyên đẹp nhất và
cũng bi thương nhất... Về mặt nghệ thuật, chữ dùng tinh vi, gợi cảm đến mức cuối
cùng...". Thơ
Thâm Tâm
Tống Biệt Hành
Đưa người, ta không đưa qua sông,
Sao có tiếng sóng
ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt
trong?
Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng...
- Ly
khách! Ly khách! Con đường nhỏ,
Chí nhớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao
giờ nói trở lại!
Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.
Ta biết ngươi buồn chiều hôm
trước.
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị, hai chị cùng như sen
Khuyên nốt em
trai dòng lệ sót.
Ta biết ngươi buồn sáng hôm nay;
Giời chưa mùa thu, tươi lắm
thay,
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay...
Người
đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say.
(1940)
Thơ Đường
Nguyên Tác Vương Duy
Tống Biệt
Sơn trung tương tống bãi
Nhựt mộ yểm
sài phi
Xuân thảo niên minh lục
Vương tôn qui bất qui
Tiễn Biệt
Bản Dịch: Phí
Minh Tâm
Tiễn biệt nhau xong giữa núi đồi
Khép cửa thanh bần trời đã tối
Mùa
xuân muôn cỏ xanh trở lại
Người có về không với núi đồi.
Dịch nghĩa:
Giữa núi cùng ngưng tiễn biệt
Trời tối đóng cửa nhà
Mỗi năm vào xuân cỏ lại
xanh tươi
Vương tôn có trở lại hay không?
Ghi chú:
Nhật mộ: ngày tối
Yểm: đóng
Sài phi: cửa nhỏ làm bằng củi gổ của nhà nghèo.
A PARTING
Friend, I have watched
you down the mountain
Till now in the dark I close my thatch door....
Grasses
return again green in the spring,
But O my Prince of Friends, do you?
300 Tang
Poems
We bid each other farewell beside the hill,
As day meets dusk, I close
the wooden gate.
Next year, in spring, there will be green grass again,
But
will my honoured friend return?
Thích Nữ Huệ Như
Tính Âm Nhạc trong Ca khúc Tống Biệt của Hoằng Nhất Đại Sư Có
lẽ với giới tu sĩ, khi nói đến Âm nhạc tưởng chừng như là điều xa lạ, thế nhưng
đối với người biết thưởng thức, am hiểu thì âm nhạc là nghệ thuật, một loại nghệ
thuật biểu đạt âm thanh, biểu đạt lời lẽ của con người đối với con người, với bạn
bè chí hữu, với tình yêu cuộc sống. Hơn nữa, âm nhạc còn là tiếng lòng muốn nói
thay lời biệt ly hay sự đoàn viên. Do vậy, túp lều nhỏ ven đường, cùng con đường
làng quen thuộc là nhân chứng cho sự “Tống Biệt” mà Đại sư Hoằng Nhất đã sáng
tác khi tiễn bạn...
Tất cả mọi cuộc tiễn đưa điều không thể hẹn ngày tao ngộ,
nhất là trong thời loạn lạc, mỗi sự tiễn đưa như là sự vĩnh biệt. Vì thế, Đại
sư Hoằng Nhất không phải ngẫu nhiên mà viết lời ca từ xúc động lòng người đến
thế. Có lẽ với Đại sư bạn hữu là tri âm! Tri âm trong cuộc đời không phải chỉ
là sự hiện hữu mà là sự cảm nhận cái hay cái đẹp trên tinh thần nhân văn, tri
âm tri kỷ không phải ai cũng có được, tri âm tri kỷ bắt nguồn từ câu chuyện Bá
Nha - Tử Kỳ. Bá Nha là người đánh đàn tài giỏi. Tử Kỳ chỉ là người câu cá.
Nhưng chỉ có Tử Kỳ mới thấu hiểu tài đánh đàn của Bá Nha. Khi Tử Kỳ chết, ba
năm sau đó Bá Nha đã trở lại khúc sông xưa tìm lại bạn tri âm, biết người tri kỉ
không còn, Bá Nha đã đập đàn và nói rằng trên đời này chẳng còn ai nghe được tiếng
đàn của ông ta nữa.
Ngoài những tính nhân văn ấy, âm nhạc còn là một bộ phận
không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Âm nhạc không chỉ là một hình thức
giải trí tiêu khiển, nó còn có thể chia sẻ với chúng ta rất nhiều điều, giải
quyết những khó khăn trong cuộc sống, vơi đi những hờn giận vu vơ, đưa người về
dĩ vãng, tìm lại tuổi thơ xưa, nghe lòng bồi hồi, xao xuyến với tình yêu quê mẹ,
với nắng ấm quê cha, với những người đã sớm rời xa Tổ quốc mà chưa được một lần
về lại chốn xưa, khát vọng ấy đã khiến con người dùng âm nhạc để biểu đạt thay
cho sự khát khao đồng thời đã làm sống dậy lòng tự hào dân tộc, khát vọng tìm về
chân lý… Ngay từ thời thượng cổ, âm nhạc đã được ra đời cùng với đời sống sinh
hoạt và lao động sản xuất. Kể từ đấy, âm nhạc đã không ngừng được phát triển và
hoàn thiện cùng năm tháng. Quả thật, nó có sức ảnh hưởng lớn đến con người, đến
sự hình thành và phát triển nhân cách nơi mỗi người. Tất cả các loại hình nghệ
thuật khác đều phản ánh cuộc sống hiện thực. Còn nét đặc thù riêng của âm nhạc
là phản ánh hiện thực cuộc sống một cách ước lệ và trừu tượng. Âm nhạc mô tả sự
vật, hiện tượng và chuyển tải tư tưởng cuộc sống con người. Có người hỏi Đại sư
Hoằng Nhất rằng: Ngài là một người xuất gia đầu Phật sao lại có những tình cảm
sướt mướt như vậy? Nhưng điều đơn giản và dễ hiểu đó là Đại sư đã thể hiện rõ
tính nhân văn trong cuộc sống của mình. Trước khi xuất gia, như trên đã nói, Đại
sư là một vị tài hoa, yêu thơ mến nhạc, nhưng với một người văn nghệ sĩ, ít nhiều
ý chí cũng thoát phàm, Đại sư đã sáng tác bài ca “Tống biệt” với một tâm hồn
hoàn toàn xúc động trước cảnh sắc cổ kính của thiên nhiên, một phong cảnh hùng
vĩ bao la, bạc ngàn đồi núi và ẩn tàng sâu trong những ngọn núi hùng vĩ kia là
những mái chùa cổ kính, Đại sư mượn thiên nhiên để biểu đạt lòng người, vì cảnh
sắc và âm thanh là một loại sức mạnh có nhiều sự cuốn hút, ở đâu con người cũng
nghe thấy âm thanh. Âm thanh trong tự nhiên: tiếng gió thổi, tiếng lá cây xào xạc,
tiếng gà gáy, tiếng chim hót. tiếng suối chảy, nước reo, tiềng tù và, tiếng gọi
nhau í ới cúa những chú mục đồng lùa trâu trở về làng khi bóng hoàng hôn đã dần
khuất … Đặc biệt với bài “Tống Biệt” Đại sư Hoằng Nhất mượn mái liều nhỏ ven đường,
cùng con đường làng cổ kính bên thảm cỏ thơm xanh biết tận chân trời, dưới rặng
núi Nhạn Đãng, hòa cùng cơn gió muộn màng thổi qua như nâng âm thanh vi vút của
hàng dương liễu quyện với tiếng lòng của kẻ ở người đi:
“Trường đình ngoại, cổ
đạo biên
Phương thảo bích liên thiên
Vãn phong phù liễu địch thanh tàn
Tịch
dương sơn ngoại sơn
Thiên chi nhai, địa chi giác
Tri giao bán linh lạc
Nhất hộc
trọc tửu tận dư hoan
(“长亭外
古道边,芳草碧连天,
晚风拂柳笛声残,
夕阳山外山,
天之涯 地之角,
知交半零落,
一斛浊酒尽余欢,
今宵别梦寒.”)
Đại sư
diễn tả cảnh người ra đi khi bóng hoàng hôn dần dần lặn xuống sau rặng núi, nơi
chân trời góc biển kia, mấy kẻ tri ân có nhớ mình. Một bình rượu đơn sơ của kẻ
trần thế đêm nay sẽ biệt ly bao ước mộng mà không biết ngày tao ngộ. Cách hỏi
như tự phản vấn, cũng là tự nhắc mình có nhớ tri âm chăng! Một cách hỏi vô cùng
ý tứ và sâu sắc có lẽ Đại sư tự hỏi lòng mình chứ không phải hỏi người bạn sắp
giã biệt! Xem ra, Ngài quả là vị tài hoa trong lĩnh vực thi, thơ, nhạc, họa. Một
tâm hồn yêu cảnh mến người. Quả thật, với Đại sư âm nhạc như một sự gởi gắm tâm
hồn. Đồng cảm với những tâm hồn yêu thơ mến nhạc, thế hệ sau Ngài như Trịnh
Công Sơn, cũng mượn âm nhạc thay cho sự nhắn nhủ con người bằng hai chữ “vô thường”
đang từng sát na canh cánh bên chúng ta. Nói thế không có nghĩa là chúng ta
không quan tâm đến cảnh vật hay tình người vì cho sự vật là vô thường mà là tỏ
rõ cội nguồn của vô thường, của từng sự vật, từng thời cuộc. Không chỉ thế, nhạc
sĩ Nguyễn Văn Thương lại gởi tâm tư vào tác phẩm “Đêm Đông” như lời chia xẻ với
những người tha phương, không có cơ hội trở về nơi chôn nhau cắt rốn. “đêm đông
có ai thấu tình cô lữ đêm đông không nhà”. Đứng ở góc độ thế gian nhìn nhận thì
bài “Tống Biệt” có vẻ như phảng phất âm hưởng của một con người tài hoa lãng tử,
một tình cảm luyến lưu có phần chấp thủ; nhưng đứng ở góc độ xuất thế thì lời lẽ
của bài “Tống Biệt” hoàn toàn mang tính nhân văn, sâu đậm tình người, cái chân
lý sâu mầu của sự giải thoát nó không ở cảnh giới cao siêu nào cả mà là ngay
trong những lời lẽ bình dị của cuộc sống thường nhật. Nếu đại sư Hoằng Nhất mãi
mang tâm hồn luyến lưu thì sao Đại sư có thể nói “một hủ rượu đơn sơ được làm từ
sản phẩm của những người nông dân sẽ là nhân chứng cho việc tiễn đưa vĩnh viễn
cái ảo giác mơ tưởng ngày tao ngộ hàn huyên”? Hơn nữa, một người tài trí và có căn
duyên sâu dày với đạo Phật, ắt hẳn Đại sư không lạ gì cái lý “Vô thường”. Một sự
vô thường trong gang tấc thì làm sao có chuyện mộng hàn huyên. Thế nhưng ca từ
trong bài nhạc, nếu chúng ta tinh ý sẽ thấy ngay Đại sư muốn ám chỉ nỗi vô thường
gang tấc trong cuộc thế không hẹn cùng người, biệt ly hôm nay biết là biệt ly,
còn chuyện mai sau có hội tụ hay không là chuyện của ngày mai. Điều này thấy rõ
cái quan trọng của âm nhạc là sự đánh giá thực tại trên quan điểm mỹ học, có
nghĩa là đánh giá các sự vật, hiện tượng nhưng không phụ thuộc vào cách nhìn nhận
thực tiễn, thực dụng về đối tượng ấy. Ví như khi ngắm nhìn cảnh mặt trời mọc,
chúng ta thích ngắm nhìn nó vì nó đẹp chứ hoàn toàn không có ý nghĩ là mặt trời
sẽ cung cấp năng lượng cho chúng ta, mặt trời sẽ sưởi ấm cho ta… Cách đánh giá
trên quan điểm mỹ học là một cách đánh giá “vô tư”. Cách nhìn nhận sự vật đưa Đại
sư đến sáng tác âm nhạc là trên tinh thần mỹ học, hoàn toàn thoát khỏi sự vướng
mắc của phàm tình. Nay nhắc đến Đại sư không phải chỉ nói riêng đến âm nhạc mà
là âm nhạc không có nghĩa là vắng mặt đối với tầng lớp xuất gia. Điều này cho
thấy, khi xưa đức Phật còn tại thế, các vị Thánh đệ tử cũng dùng âm nhạc để ca
tụng công hạnh của Phật bằng hình thức dùng âm nhạc như một sự ca tụng, cụ thể
trong Đại Chánh Tạng, các tác phẩm: “Âm nhạc văn học tín ngưỡng Di Lặc Tịnh độ”,
“Âm nhạc văn học Thiền tông Đôn Hoàng” và “Âm nhạc văn học khái thuật Mật giáo
Đôn Hoàng”… Trong số các loại được nêu ra trên, đặc biệt tác phẩm “Đôn Hoàng
thi ca”, “Đôn Hoàng biến văn” là một loại văn thể có nói có xướng, được phổ cập
trong tín ngưỡng Tịnh độ Phật giáo.
Ngày nay, không ít các nhà khoa học nghiên
cứu lĩnh vực âm nhạc và họ đã vận dụng âm nhạc trong quá trình trị liệu đối với
bệnh nhân và cho thấy hiệu quả vô cùng khả quan, cho nên y học cũng gọi là “Âm
nhạc trị liệu”. Xem ra, Đại sư Hoằng Nhất cũng là một vị y sư, Đại sư không chỉ
để lại cho đất nước Trung Hoa sự tự hào về một nhân vật văn, thi, từ, phú, một
tay thư pháp có hạng về chữ Triện. Các tác phẩm của Đại sư nay được coi là món
gia bảo quý hiếm. Sư thông thạo thư pháp thời Lục Triều, từng xuất dương qua Nhật
học chuyên ngành mỹ thuật tại trường Thượng Dã, đồng thời nghiên cứu âm nhạc,
sáng lập Xuân Liễu kịch xã, mở phong trào vận động tân kịch nghệ ở Trung Hoa.
Sau đó Đại sư về nước, dạy tại Thiên Tân Công Nghiệp Học Ðường, rồi đến Thượng
Hải làm chủ bút báo Thái Bình Dương, mượn thư, họa, văn tự để tuyên truyền chống
Nhật. Trong thời gian này, Sư cũng dạy về hội họa, âm nhạc tại trường sư phạm
Triết Giang. Qua những lần tiếp xúc với Tổ Ấn Quang, cơ duyên tiền kiếp đã nảy
nầm hội ngộ, cùng sự ngưỡng mộ sâu xa phong thái của một vị Cao Tăng đức hạnh.
Đã khiến Đại sư một con người hết sức nghệ sĩ, hào phóng, vứt bỏ tất cả những
phù hoa, danh lợi thế tục, xuất gia đầu Phật vào năm 1918 tại chùa Linh Ẩn
(Hàng Châu), được ban pháp danh là Diễn Âm, hiệu Hoằng Nhất và Đại sư phát nguyện
trọn đời tinh nghiêm trì giới.
Xã hội ngày nay không ngừng phát triển, âm nhạc
cũng đồng hành với con người để xoa dịu những khủng khoảng tinh thần sau những
phút giây mỏi mệt vì công việc. Do vậy có thể nói tính âm nhạc trong ca khúc “Tống
Biệt” thật sự có ích khi chúng liễu triệt được nội dung của ca từ, và có cái
nhìn mỹ quan mang tính nhân văn đối với mọi sự vật hiện tượng; thì dù là tu sĩ
hay nhạc sĩ đều có thể dùng âm nhạc đưa con người đến với chân thiện, giúp họ
thoát khỏi sự trói buộc chấp trước đối với các pháp. Pháp thiện hay bất thiện đều
do nhãn quan của con người mà sanh, bản chất thật của các pháp là thanh tịnh vô
nhiễm, không hề bị nhốm màu đau khổ. Do vậy, ca khúc “Tống biệt” tùy theo góc độ
nhận thức của mỗi con người mà nó trở thành bất hủ với thời gian, mang đậm tính
nhân văn và giàu giá trị đạo đức. Với Đại sư Hoằng Nhất, những năm tháng rau
dưa đạm bạc, cũng là thời gian Đại sư dốc toàn tâm lực nghiên tầm giáo lý sâu mầu
của đạo Phật và Đại sư đã để lại cho hậu thế những tác phẩm kinh điển đồ sộ
như: Di Ðà Nghĩa Sớ Hiệt Lục, Tứ Phần Luật Tỳ Kheo Giới Tướng Biểu Ký, Thanh
Lương Ca Tập, Hoa Nghiêm Liên Tập, Giới Bản Yết Ma Tùy Giảng Biệt Lục, Tứ Phần
Hàm Chú Giới Bản Giảng Nghĩa, Nam Sơn Ðạo Tổ Lược Phổ v.v… Tất cả được xếp vào
Hoằng Nhất Ðại Sư Pháp Tập. Không ngờ, ngoài những tác phẩm kinh điển lưu lại
cho hậu học, Đại sư lưu lại một tác phẩm âm nhạc bất hủ đối với đất nước Trung
Hoa, và đã được bảo tồn như là tác phẩm có giá trị vượt không gian và thời
gian, với câu từ bất hủ trong lòng người Trung Hoa cho đến ngày nay. Nơi ngọn
núi Nhạn Đãng, tỉnh Triết Giang, ai ai cũng nhớ đến ca khúc Tống biệt như sự hiện
hữu của Đại sư Hoằng Nhất. một con người hoàn thiện trong mọi lĩnh vực đạo đời. TNTH








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét