Hà Nội ba mươi sáu phố phường
(*)
Hà Nội ba mươi sáu phố phường,
Lòng chàng có để một tơ vương.
Chàng qua chiều ấy qua chiều khác,
Góp lại đường đi: vạn dặm đường (1)
Hà Nội với gió heo may, với tà áo dài của Mai trên đường Cổ
Ngư một chiều thu trong “Nửa chừng xuân” đã hút hồn tôi từ thuở nhỏ.
Hà Nội trong ký ức tôi đẹp như một bài thơ qua các trang tiểu thuyết diễm tình
của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam…
Tôi đến Hà Nội lần đầu tiên, khi đất nước đã hòa bình hơn 30
năm.
Trời còn rất sớm, tôi háo hức trông chờ ánh nắng đầu tiên của
đất Bắc để đắm chìm trong dòng ký ức tưởng tượng của mình.
Đất Bắc của những vị vua anh linh, nơi xây dựng bờ cõi đầu
tiên của nước Việt. Tôi yêu đất nước mình, nên tôi yêu đất Bắc.
Người đàn bà Bắc đầu tiên tôi gặp là một bà già đã về hưu
đang đi tập thể dục buổi sáng, nghe giọng miền Nam bà sốt sắng dẫn đường đến tận
địa chỉ tôi tìm kiếm. Ký túc xá Đại học Bách Khoa Hà Nội dành cho sinh viên nước
ngoài nhộn nhịp vào cuối tuần, các nhóm sinh viên tụ tập đi dã ngoại. Một sinh
viên Hàn quốc chỉ lối cho tôi, cô bạn gái người gốc Phi tóc xoăn tít đang níu
tay anh, có vẻ nóng lòng vì xe sắp chạy.
Lớp tập huấn thi nâng ngạch chuyên viên chính ngành giáo dục
của cả nước được sắp xếp ở nơi này. Các phòng ký túc xá dành cho sinh viên nước
ngoài đầy đủ tiện nghi, tuy nhiên phòng trọ xây từ thời bao cấp, nên trang thiết
bị đã cũ nhiều. Chúng tôi có một tuần chuẩn bị bài trước khi thi. Mọi người đều
cảm thấy nôn nóng.
Nôn nóng như buổi chiều qua hồ Hoàn Kiếm, tôi chạy dưới cơn
mưa bất chợt tìm nơi trú ẩn, kem Tràng Tiền lạnh băng tan trong tôi. Cầu Thê
Húc người gác dan đuổi du khách vì đến giờ đóng cửa, một nhóm thanh niên đang đập
bài xoành xoạch bên gốc cây cổ thụ cạnh chân cầu. “Trèo qua đây đi em, anh làm
vài phô, địa chỉ ở đâu anh giao tận nơi”. Người chụp ảnh lôi kéo tôi trèo qua
rào để đứng trên cầu chụp hình kỷ niệm. Trời chập choạng tối, và tôi bắt đầu sợ.
Tôi chạy thoát thân ra ngoài đón taxi về ký túc xá. Hai cô bạn cùng phòng nghe
tôi kể cười ngả nghiêng, dẫn tôi đi ăn đêm. Trên vỉa hè thấp thoáng những bóng
đèn “hột vịt”, các sinh viên ngồi lúp xúp húp cháo và ăn hột vịt lộn với rau
ngãi cứu. Sống trong khu này, tôi trở lại thời sinh viên.
Thời sinh viên, những năm 80 với bao kinh ngạc! Khi hỏi một người bạn miền Bắc, ở ngoài này chắc bạn đã đọc nhiều sách của Tự lực văn đoàn, thuộc nhiều thơ tiền chiến trong phong trào “Thơ Mới”? Tôi choáng khi nghe bạn nói chưa bao giờ biết đến tiểu thuyết “Đoạn tuyệt”, “Nửa chừng xuân,”, “Trống Mái”, “Hồn bướm mơ tiên”, Gánh hàng hoa”, “Nhà mẹ Lê”…, chưa từng đọc những bài thơ tình của Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Nguyễn Bính, Đinh Hùng… Ngạc nhiên khi trong chương trình đại học, sách hướng dẫn giảng dạy Văn học lớp mười một phần văn học lãng mạn chỉ giới thiệu bài thơ “Đây thôn Vỹ Dạ” của Hàn Mặc Tử, với lời ghi chú dòng văn thơ tiểu tư sản chỉ tham khảo bài này không giảng dạy trong trường học. Và dĩ nhiên thơ văn Miền Nam trước năm 1975 hoàn toàn vắng bóng. Một lũ thế hệ chúng tôi được rèn luyện lý tưởng sống và chết như Pavel Corsaghin trong Thép đã tôi thế đấy: “Cái quý nhất của con người ta là sự sống. Đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người...”. Và lũ chúng tôi đã tin như vậy.
Thời sinh viên, những năm 80 với bao kinh ngạc! Khi hỏi một người bạn miền Bắc, ở ngoài này chắc bạn đã đọc nhiều sách của Tự lực văn đoàn, thuộc nhiều thơ tiền chiến trong phong trào “Thơ Mới”? Tôi choáng khi nghe bạn nói chưa bao giờ biết đến tiểu thuyết “Đoạn tuyệt”, “Nửa chừng xuân,”, “Trống Mái”, “Hồn bướm mơ tiên”, Gánh hàng hoa”, “Nhà mẹ Lê”…, chưa từng đọc những bài thơ tình của Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Nguyễn Bính, Đinh Hùng… Ngạc nhiên khi trong chương trình đại học, sách hướng dẫn giảng dạy Văn học lớp mười một phần văn học lãng mạn chỉ giới thiệu bài thơ “Đây thôn Vỹ Dạ” của Hàn Mặc Tử, với lời ghi chú dòng văn thơ tiểu tư sản chỉ tham khảo bài này không giảng dạy trong trường học. Và dĩ nhiên thơ văn Miền Nam trước năm 1975 hoàn toàn vắng bóng. Một lũ thế hệ chúng tôi được rèn luyện lý tưởng sống và chết như Pavel Corsaghin trong Thép đã tôi thế đấy: “Cái quý nhất của con người ta là sự sống. Đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người...”. Và lũ chúng tôi đã tin như vậy.
Ở trường, thầy giáo bảo văn chương miền Nam, nhạc vàng sướt
mướt là sản phẩm đồi trụy, dân trí thức là thành phần tiểu tư sản…nông dân,
công nhân là tinh túy của đất nước. Tập thể là trên hết, triệt tiêu cá nhân con
người. Tôi được dạy những bài thơ hùng tráng kiểu như “ngắm thẳng quân thù mà bắn”; những
cuốn tiểu thuyết ca ngợi tinh thần anh dũng kiên cường, giống như “Chị Út tịch”,
một đất nước mà ra ngỏ là gặp anh hùng… về nhà tôi quên hết, tôi trùm mền
đọc thơ tình Xuân Diệu, Nguyên Sa, hát nhạc vàng Ngô Thụy Miên, Trịnh Công Sơn,
thả hồn theo “Vòng tay học trò” của Nguyễn Thị Hoàng. Mơ bay trên thảo nguyên
cùng Quách Tĩnh trong “Thần điêu đại hiệp” của Kim Dung. Như thế, tôi trở thành
sản phẩm của hai chế độ. Của từ chương, giáo điều mà tôi phải học và nền giáo dục
tôi đã hấp thụ trong gia đình ấm áp tuy giữa một miền Nam chiến
tranh. Hai hệ thống giáo dục đánh nhau chan chát. Thế nhưng, văn chương, tiểu
thuyết in ấn trong miền Nam trước 75 đã ngấm vào trong máu thịt
tôi rồi.

Tôi nhớ cái lạnh cắt da của xứ Bắc mà mẹ con Nhà mẹ Lê nghèo
khổ phải nằm trên ổ rơm lấy chiếu cuốn quanh người, tôi nhớ người vợ hy sinh đã
tự thả tay mình chìm dưới dòng nước lũ để người chồng có sức bơi vào bờ
trong Anh phải sống. Tôi nhớ cô hàng xén răng đen lóng lánh gánh hàng rong
e ấp dưới nắng thu. Và tôi mê ba mươi sáu phố phường Hà Nội từ khi đọc Thạch
Lam.
(**)
Tôi lang thang trên phố mong tìm thấy hình ảnh thiếu nữ Hà Nội
duyên dáng xưa, mà các chàng trai vệ quốc quân trên Đường Biên giới đêm đêm vẫn
luôn mơ về Hà Nội bóng Kiều thơm trong bài thơ Tây Tiến của
Quang Dũng. Thật trái ngược, trên các phố tôi chỉ thấy những thiếu nữ tóc “xù
lông nhím”, áo hai dây, khoe ngực và phơi rún nhún nhảy trên đường.
Tôi đến Trường Chu Văn An trên đường Thụy Khuê, vào
phía sau sân trường tìm bãi cỏ nhìn qua Hồ Tây để nhớ đến nụ hôn đầu tiên Kiên
bỡ ngỡ đặt lên môi Phương trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh.
Bãi cỏ xanh mướt ngập đầu lưu giữ tình yêu đầu tiên của Kiên không còn nữa. Nếu
giờ đây, Phương cũng đã đi nước ngoài và lấy chồng ngoại quốc, nụ hôn của Kiên
trao cho Phương, chính tôi nhận và giữ hộ. Tiểu thuyết có sức mạnh kỳ diệu giúp
tôi tiêu thời gian cho sự vĩnh cửu. Bỏ vài ngày đọc một quyển tiểu thuyết, nếu
là văn chương thật, nhân vật và cảnh vật sẽ sống mãi trong lòng mình. Nhưng
ngày nay tuổi trẻ cũng đã hết mê sách như thời Nhất Linh.
Hà Nội thanh lịch, yêu kiều mà tôi yêu, là Hà Nội của một thời
đại khác, của những người đã khuất, giờ đã xa, xa lắm rồi. Những hàng quà của Thạch
Lam trong ba mươi sáu phố phường vẫn còn, nhưng đã biến dạng thành phở quát,
cháo chửi đến không còn nhận ra là các văn nhân tao nhã đã từng ăn ở đây.
Đất Bắc có còn xao xuyến hồn tôi như trong ký ức, bằng tài
hoa của một Thạch Lam hay một Nguyễn Bính.
Hà Nội ba mươi sáu phố phường,
Lòng chàng đã dứt một tơ vương,
Chàng qua chiều ấy qua chiều khác,
Có một người đi giữa đám tang.
(1) Hà Nội ba mươi sáu phố
phường - thơ Nguyễn Bính
(2) Trường Bưởi được Pháp
thành lập từ năm 1908, nhằm đào tạo nhân viên cho bộ máy cai trị tại Bắc Kỳ.
Sau năm 1945 đổi tên thành trường Chu Văn An.
(*) Tranh “Cô gái mùa thu Hà Nội”
- Văn Len
(**) Tranh “Phố cổ Hà Nội” - Bùi Xuân
Phái.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét