Lịch sử vô lý.
Trong tiểu luận Chẳng hát đồng ca (1994), Lý Nhuệ từng
viết: "Từ khi nhà Tần thống nhất cách đo cách cân, vô số người Trung Quốc
chỉ thích cất giọng cùng tập thể, thực đáng chán, khó chịu. Chúng ta liệu có
gan hát solo hay không?". Tiểu thuyết đầu tiên Chốn xưa của Lý
Nhuệ, mở màn cho những bài hát solo đó.
Từ khi xuất hiện trên văn đàn với tác phẩm đầu tay Chốn
xưa đến tác phẩm mới nhất Ngân thành cố sự viết năm 2002, Lý Nhuệ được
phương Tây đánh giá là một trong các nhà văn đương đại tiêu biểu nhất
Trung Hoa. Họ Lý thích sống khép kín, say mê đọc sách và viết không ngưng nghỉ,
những tác phẩm của ông được ấp ủ, thai nghén rất lâu mới đem trình làng.
Chốn xưa cũng vậy, sau chuyến về thăm quê lần đầu tiên,
ông trở về suy nghĩ miên man đến bảy, tám năm, rồi viết tròn một năm mới hoàn
thành. Trả lời phỏng vấn, ông viết: “Chuyến về quê chỉ ít ngày, nhưng ngoảnh
nhìn lại đã thấy lịch sử hàng trăm năm, hàng ngàn năm, thấy rất nhiều sinh mệnh
bị tiêu diệt một cách oan khuất trong dòng chảy của lịch sử… chỉ cần nhắm mắt lại
là thấy con sông nhỏ chảy qua thành phố, trông thấy những ngôi nhà cũ, những mảnh
vườn xưa hoang tàn. Tôi biết chúng đã từng có một lịch sử huy hoàng và đau
thương, biết sinh mệnh của rất nhiều người thân của tôi đã mòn mỏi chết trong
cái huy hoàng và đau thương ấy. Băng giá của thời gian không chút động lòng hóa
thạch những sinh mệnh và tình cảm ấy, sự thô bạo của lịch sử không chút xót
thương biến mọi cố gắng của con người với con người thành rác rưởi… Chợt tôi thấy
tất cả những gì của trăm ngàn năm nay, hàng triệu sinh mệnh sinh ra và chết đi,
đều là sự từng trải của máu thịt tôi, là điều khắc cốt ghi tâm, không bao giờ
quên… tất cả trở thành hạt cơ bản tạo nên tác phẩm của tôi, trở thành động lực
để tôi thổ lộ lòng mình”. (1)
Lý Nhuệ (Li Rui) sinh năm 1950 tại Bắc Kinh, nguyên quán ở Tự
Cống, tỉnh Tứ xuyên. Ông bắt đầu sự nghiệp viết văn từ năm 1970. Các tác phẩm
chính: Tập truyện ngắn Hậu thổ, các tiểu thuyết Cây không gió, Chốn
xưa, Ngàn dặm không mây, Ngân thành cố sự. Lý Nhuệ đạt giải thưởng Truyền
thông văn học Hoa ngữ lần thứ V. Cuốn Ngân thành cố sự đoạt giải thưởng
văn học Mao thuẫn. Ông là một trong ba nhà văn đương đại Trung Quốc được Bộ trưởng
Văn hóa Pháp - Jean Jacques Ailagon trao huân chương kỵ sĩ về văn học và nghệ
thuật.Trên thị trường văn học quốc tế, Lý Nhuệ được chú ý hơn hẳn
các nhà văn khác, bốn trong số năm tác phẩm của ông đã được Goran Malmqvist - Viện sĩ Viện hàn lâm Thụy Điển dịch.
Tác phẩm Chốn xưa được dịch sang tiếng Việt đầu năm
2007, từ khi xuất bản Chốn xưa của Lý Nhuệ đã được nhiều nhà nghiên cứu
trong nước giới thiệu. Tuy nhiên, chỉ là những bài điểm truyện. (2) Trong đó
bài nhận định “Đề tài lịch sử cảm hứng hiện đại” của Vương Trí Nhàn là bài viết
chuyên sâu hơn cả. Chủ yếu tác giả so sánh Chốn xưa và Ngân
thành cố sự trong mạch tìm tòi và cách tân văn học đương đại
Trung Quốc, từ đó suy nghĩ về phương hướng đổi mới trong cách viết. (3) Ngoài
bài viết thiên về nghệ thuật này chưa có bài nào đào sâu nội dung chính của tác
phẩm.
Trên cơ sở tham khảo những nhận định trên, tôi đưa ra một
cách tiếp cận khác nhằm làm sáng tỏ nội dung tác phẩm. Mục đích của việc phân
tích tác phẩm Chốn xưa, ngoài giá trị văn học, còn có ý nghĩa nhận thức về
một lịch sử đã qua, để hướng đến tương lai không chỉ của một dân tộc.
Bối cảnh lịch sử Trung Hoa thế kỷ 20. (4)(5)
Trước khi bước vào tác phẩm Chốn xưa, chúng ta điểm lại
toàn cảnh lịch sử Trung Hoa thế kỷ 20. Bắt đầu từ sau cách mạng Tân Hợi
(1911) đến khi kết thúc “triều đại” Mao Trạch Đông là một
thời kỳ lịch sử vô cùng phức tạp với những cuộc tranh giành đẫm máu giữa rất
nhiều thế lực.
Đó là giai đoạn người Trung Hoa đi tìm lối thoát cho một xã hội
phong kiến cổ hủ đến thời suy tàn. Một bên là Quốc dân Đảng do Tôn Dật Tiên
(Tôn Trung Sơn) khởi xướng, có công trong việc lãnh đạo cuộc cách mạng
Cộng Hòa truất phế chế độ phong kiến Mãn Thanh đầu thế kỷ 20. Sau khi Tôn Trung
Sơn mất, Tưởng Giới Thạch kế thừa, được Hoa Kỳ hậu thuẫn, chủ trương cách mạng
dân tộc dân chủ. Một bên là Đảng Cộng Sản do Mao Trạch Đông đứng đầu có Liên xô
hỗ trợ, chủ trương thành lập nhà nước vô sản. Hai thế lực này là hai bàn cờ
không đơn giản, lúc hợp tác đánh Nhật, chống Tây lúc lại chém giết tranh giành
quyền lực.

Cầm quyền chưa được bao lâu họ Mao lại đưa Trung
Hoa vào cuộc cờ chính trị mới - đó là sự va chạm ý thức hệ và tham vọng cá nhân
đẩy Trung Hoa vào con đường chết chóc bạo liệt chưa từng thấy.
Đầu tiên là chiến dịch “Tập thể hóa ruộng đất” từ 1950 đến
1958, đất đai của các địa chủ và nông dân đều bị tịch thu vào hợp tác xã, của cải
người giàu đem chia người nghèo, đảng cộng sản Trung Hoa bắt đầu kiểm soát giá
cả. Hậu quả hàng triệu người bị đấu tố đến chết. Tiếp đến là chiến dịch “Trăm
hoa đua nở” khuyến khích người dân đóng góp ý kiến, kết quả hơn 500.000 đảng
viên cấp tiến, trí thức lớn bị thanh trừng, đó là quỷ kế để nhận diện
kẻ chống đối, Mao Trạch Đông độc quyền thâu tóm quyền lực.
Tiếp theo là phong trào “Bước đại nhẩy vọt”, cả nước tập
trung sản xuất sắt thép. Tất cả sản xuất thực phẩm tư nhân đều bị cấm đoán, gia
súc và dụng cụ nông nghiệp được tập trung và sở hữu tập thể. Kết quả nông dân của
nhiều tỉnh đã không có đủ ăn, hàng chục triệu người dân bị chết đói trong các
năm 1959 tới năm 1962 và đây là một trong những nạn chết đói lớn nhất của nhân
loại: hơn 37 triệu người.
Sau thất bại phong trào “Bước Đại Nhẩy vọt”, trước viễn cảnh
bị mất địa vị chính trị, họ Mao phản ứng lại bằng cách phát động cuộc “Đại
Cách mạng văn hóa” vào năm 1966, dùng lực lượng thanh niên dưới 20 tuổi gọi là
Hồng Vệ Binh để họ tự lập nên các tòa án xét xử riêng. Mục tiêu loại bỏ những
phần tử “tư sản tự do” để tiếp tục sự nghiệp đấu tranh của tầng lớp cách mạng.
Tuy nhiên, mục đích chính của cách mạng này là một cách để Mao Trạch Đông lấy lại
quyền kiểm soát Đảng Cộng sản Trung Quốc sau cuộc Đại nhảy vọt bị thất bại dẫn
đến sự tổn thất quyền lực đáng kể của Mao Trạch Đông so với đối thủ chính trị
là Lưu Thiếu Kỳ và cũng để loại bỏ những người bất đồng ý kiến như Đặng Tiểu
Bình, Bành Đức Hoài. Cuộc cách mạng này đã đưa tới hậu quả khôn lường, Hồng Vệ
Binh đã tàn phá phần lớn các di sản văn hóa của Trung Hoa, đã hành hạ và nhốt
tù một số rất lớn các cựu đảng viên và các nhà trí thức, đồng thời tạo nên các
tình trạng hỗn loạn về kinh tế và xã hội tại tất cả miền quê. Hơn 20 triệu người
đã bỏ mạng trong giai đoạn này. Cuộc “Đại Cách Mạng Văn Hóa” đã phá nát cả nền
văn hóa mấy nghìn năm rực rỡ của Trung Hoa, giá trị truyền thống tốt đẹp của
con người bị chà đạp, hậu quả sản sinh ra nhiều quái thai trong tâm hồn người.
Suốt thời đại Mao Trạch Đông hàng loạt thanh trừng đã diễn ra trong quân đội và
trong nội bộ Đảng. Sau khi họ Mao qua đời năm 1976, cuộc “Đại Cách mạng văn
hóa” mới thực sự chấm dứt, khép lại một lịch sử kinh hoàng của Trung Hoa.(6) Một
nhà báo của tây phương ví Mao với Tần Thủy Hoàng, Mao đáp: “Tần Thủy Hoàng chỉ
giết có 460 kẻ sĩ. Còn tôi, tôi đã giết 46.000 trí thức, tôi hơn Thủy Hoàng cả
trăm lần chứ!”. (7)
Bắt đầu những năm 80, Trung Hoa chuyển sang kinh tế thị trường
và không đề cao "ý thức hệ Mao ít" khi quyết định các chính sách kinh
tế và chính trị. Bắt đầu từ đây Đặng Tiểu Bình đưa Trung Hoa vào một thời đại mới
ổn định và phát triển.
Tác phẩm Chốn xưa kể về sự thăng trầm của hai dòng
họ Lý, Bạch ở Ngân thành.
Lý Kinh Sinh - tiến sĩ sử học ở Bắc Kinh - trước khi sang Hoa
Kỳ du học, chàng trai họ Lý quyết định trở về nguyên quán để viết lại “Lịch sử
phát triển nghề muối của Trung Quốc” tại Ngân Thành. Bắt đầu từ đây,
quá khứ khốc liệt của một lịch sử xưa được tái hiện qua cuộc đời thăng
trầm của dòng họ Lý.
Mở đầu tác phẩm Chốn xưa là cái chết của 108 phần tử
“phản cách mạng” trong đó có “ba mươi hai người họ Lý, hầu hết là đàn ông đã
trưởng thành, là những người nối dõi của ba chi dòng họ Lý thuộc nhà Cửu Tư Đường”.
Người hành hình là Lưu Quang Đệ, xung phong nổ phát súng đầu tiên, tự tay bắn
chết Lý Nãi Kính trưởng họ Lý, là ông trẻ của anh ta. Bên cạnh pháp trường bắn
tung máu đỏ và óc trắng là hình ảnh dòng Ngân Khê xanh thẫm, lặng lờ chảy qua
thành phố, trên vách núi có khắc ba chữ lớn”Thính Ngư trì”, bút tích của Tô
Đông Pha. Đó là ngày 14/12/1951 vào tiết Sương giáng, mưa thu mù mịt.

Thế nhưng, gia tộc dòng họ Lý hai ngàn năm ấy - tượng trưng
cho xã hội truyền thống Trung Hoa - chỉ trong những năm đầu cuộc “Đại Cách mạng
văn hóa” đã bị san bằng dấu tích.
Cuộc đời của những người dòng họ Lý, Bạch.
Đối diện với lịch sử, con người là gì? Đối diện với thời
gian, rốt cuộc sinh mệnh là gì?...
Lý Nãi Chi sinh năm 1910 thời Tuyên Thống - vị hoàng đế cuối
cùng. Lý Nãi Chi có hai người chị là Lý Tử Hận và Lý Tử Vân. Cha mẹ chết sớm,
chị em Nãi Chi ở cùng với Lý Nãi Kính tộc trưởng họ Lý của Cửu Tư Đường. Năm 17
tuổi, Lý Nãi Chi chứng kiến cái chết của người thầy Triệu Bá Nho bị hành hình
sau cuộc bạo động Thu Thu của nông dân, anh bị chấn động. Vậy là, cuộc thảm sát
tháng 12 năm 1927 ở Ngân Thành đã tạo nên một thanh niên bi phẫn. Trong nhật ký
anh viết: “… Tôi làm thế nào để thoát khỏi cái thế giới này?... Có cần thiết phải
thay đổi cái thế giới bị tê liệt này không?... Sống như thế này không chút hứng
thú, buồn thảm vô cùng! Đọc lại “Gào thét” của Lỗ Tấn, lẽ nào mọi người đều như
kẻ ăn thịt người trong “Nhật ký người điên” cả hay sao?... Nghe chị Vân nói,
tin tức trên tỉnh và ở các tỉnh khác, càng cảm thấy Trung Quốc thật sự vô vọng.” Rời
Ngân Thành lên tỉnh học, Nãi Chi tham gia phong trào sinh viên biểu tình, diễn
thuyết trên đường phố, rải truyền đơn chống Nhật. Cuối cùng, chỉ còn một tháng
nữa tốt nghiệp, anh bị đuổi học. Nãi Chi bình thản từ chối tấm bằng đại học. Được
Cách mạng móc nối anh tham gia hoạt động bí mật, lợi dụng là người nhà với dòng
họ Cửu Tư Đường làm vỏ bọc, anh trở về Ngân Thành trà trộn với những người công
nhân đào muối. Vì lý tưởng anh hiến dâng cả sự sống và tình yêu của mình. Nãi
Chi từ chối mối tình của Bạch Thu Vân, đi hoạt động cách mạng cho đến khi bị Quốc
dân đảng bắt giam kết án tử hình năm 1939. Nhờ người chị thứ hai: Lý Tử Vân - vợ
của tướng Dương Sở Hùng (một vị tướng của Quốc dân đảng) can thiệp, trên pháp
trường xử bắn, “theo mật lệnh của Dương Sở Hùng, viên đạn lẽ ra phải
xuyên tim anh thỉ chỉ bắn gãy xương sườn”, Nãi Chi được hai người chị cứu sống.
Trốn thoát, anh được Bạch Thu Vân chăm sóc, nàng cùng anh tham gia
cách mạng đến ngày thắng lợi. Nãi Chi sống ở Bắc Kinh và sau đó từ Cục trưởng
anh lên Thứ trưởng, đúng lúc thời “Đại cách mạng văn hóa” loại bỏ những phần
tử có lý lịch “tư sản tự do”. Vậy là, Lý Nãi Chi chỉ trong một đêm biến
thành kẻ phản bội, gián điệp nằm vùng cùng mấy thứ trưởng được đưa lên Trường
cán bộ 7/5, cải tạo lao động. Nãi Chi được phân công chăn bò trên nông trường
giá lạnh. Vào một đêm giá rét, trong chuồng bò ở tỉnh Giang
Tây, Lý Nãi Chi bị thổ huyết và chết lặng lẽ khi ngoài trời tuyết
bay trắng xóa. Đến lúc chết Nãi Chi vẫn còn thảng thốt viết chi chít trên tờ
Nhân dân nhật báo một từ: “... cách mạng, cách mạng, cách mạng, cách mạng...
chữ dày ken, chữ nọ nối tiếp chữ kia. Không ai hiểu ông viết thế để làm gì,
không ai hiểu tâm trạng ông khi viết những chữ ấy lên trang báo”. Nó vẫn còn là
một dấu hỏi?
Bạch Thu Vân là con gái của Bạch Thụy Đức, một nhà doanh nghiệp
có thực lực tài chính hùng hậu ở Ngân Thành. Bạch Thụy Đức du học từ Mỹ về đem
theo những kiến thức khoa học kỹ thuật làm thay đổi phương thức sản xuất lạc hậu.
Ông là người đầu tiên đưa cơ giới vào khai thác muối, sản xuất muối theo phương
thức hóa học, cũng là người đầu tiên ở Ngân Thành mua ô tô Ford bốn máy, xây biệt
thự tráng lệ kiểu Tây phương. Gia đình Bạch Thu Vân và biệt thự Bạch Viên trở
thành cảnh Tây trong con mắt người Ngân Thành. Sinh ra và lớn lên trong một gia
đình thương gia giàu có nhưng Bạch Thu Vân là một tiểu thư khuê các có đầu óc cấp
tiến, nàng được gia đình cho lên tỉnh học cùng trường với Lý Tử Vân chị của Lý
Nãi Chi. Biết Nãi Chi yêu mình nhưng từ chối, Thu Vân đau khổ. Về sau, khi Lý
Nãi Chi bị án tử hình vượt thoát, nàng lén trốn gia đình, bỏ học quyết tâm theo
người yêu, không sợ gian khổ, hiểm nguy. Bạch Thu Vân và Lý Nãi Chi sinh được
ba người con Lý Kinh Sinh, Lý Diên An và Lý Tiểu Nhược. Ngày chồng bị bắt cải tạo,
họ để lại cho nàng một tờ “Mệnh lệnh”, bắt nàng phải “triệt để phân rõ ranh giới
với tên phản bội, gián điệp, phải tố giác tội trạng, đồng thời trong một ngày gần
đây sẽ phải tham gia đội lao động cải tạo lũ tà ma quỷ quái, nếu
không sẽ chung số phận không đáng bãi cứt chó như Lý Nãi Chi”. Trương Tài, viên
quản lý đội cải tạo lao động là một công nhân nông nghiệp, rất thô khỏe. Được
làm đội trưởng đội cải tạo anh vui lắm, vì ngày nào cũng nắm trong tay các quan
ông, quan bà. Trong đội, hắn đặc biệt rất khoái Thu Vân, đơn giản vì nàng là
quan to nhất. Vợ thứ trưởng. Ngày đầu tiên, hắn phân công nàng đảo phân ở hai
cái bể lớn để múc phân tưới rau, hành hạ nàng như một thú vui. “Hôm nay đội ta
có thêm một nhân vật cỡ bự, bà phu nhân thứ trưởng, hãy nhìn đôi găng tay này,
trắng qúa! Tôi nghe nói, hiện tại y không được phát lương nữa, tiền tiết kiệm
cũng bị tổ chuyên án giữ, bây giờ thì chúng ta bình đẳng như nhau. Tôi làm lụng
cả đời mà cũng không có nổi đôi găng tay này, vậy bà nghĩ bà là thứ của quý gì?
Bà còn tỏ ra là lá ngọc cành vàng ở đây hay sao, bà cũng như những người kia, mẹ
kiếp bà, bà cũng chỉ là đồ cứt chó!”. Bạch Thu Vân trải qua hai năm cải tạo lao
động, trở thành một công nhân nông nghiệp đúng tiêu chuẩn, làm cỏ, cắt lúa,
gánh nước, quạt thóc, hái bông, phun thuốc trừ sâu… việc gì cũng thạo. Đến một
ngày mệt mỏi tận xương tủy, không chịu đựng được nữa nàng uống thuốc ngủ tự tử,
mong lấy cái chết để chấm dứt cuộc sống tù túng, mòn mỏi và khốn khổ.
Bé Lý Chi Sinh cháu trai của tộc trưởng Lý Nãi Kính khi vừa
chào đời mẹ chết, lại đúng vào lúc cả gia tộc 32 người đàn ông nhà Cửu Tư Đường
bị đem xử bắn “vì là bọn địa chủ phản cách mạng”. Mồ côi cha mẹ, Chi Sinh được
Lý Tử Hận đem về nuôi. Cuộc “Đại cách mạng văn hóa” 1966 Chi Sinh mới là cậu bé
vừa lên trung học, em bị lũ bạn cùng lớp đánh hội đồng vì là “chó con của nhà Cửu
Tư Đường”. Hai hôm sau, lũ bạn học của Chi Sinh, tràn vào bắt “chó con” Chi
Sinh lên cầu “Hồng Vệ” để “tẩy não”. Tất cả những ai bị gọi là “yêu ma quỷ
quái”(từ của Mao chủ tịch viết trong cuốn cẩm nang) đều bị dẫn lên cầu, ném xuống
sông Ngân Khê. Những ngày ấy, quần chúng cách mạng trống giong cờ mở đứng chật
hai bờ sông. Bé Chi Sinh khóc lóc, kêu la thảm thiết cũng chẳng ích gì, em cũng
bị lôi lên cầu và ném xuống sông.
Ông Đông đầu bạc trắng - người gánh nước thuê cho gia đình Cửu
Tư Đường - là tên nô lệ trung thành - vì nhảy xuống sông cứu Chi
Sinh, nên bị đòn hội chợ máu me đầm đìa, ngất xỉu. Cả hai một trẻ một già đều bị
ném trở lại dòng sông cuộn xiết, trong tiếng hò reo rầm trời.
Lý Tử Hận chị cả của Lý Nãi Chi và Lý Tử Vân là một người đàn
bà mang đầy đủ vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ phương Đông. Người con gái
xinh đẹp, mảnh mai nhưng lại có một nghị lực phi thường. Nhẫn nhục hy sinh suốt
cuộc đời vì người thân. Từ năm lên bảy, đã nhận trách nhiệm của người cha căn dặn
trước khi ông mất: “Tử Hận, con đã bảy tuổi, con là chị, có câu này cha dặn
con phải nhớ: tất cả không là gì, chỉ có sự học là cao nhất. Các em con lớn
lên, nhất thiết con phải để các em học hành nên người”. Bắt đầu từ đó nàng đã
gánh trách nhiệm làm cha và cả làm mẹ dạy dỗ hai em. Năm hai mươi bốn tuổi, khi
Lý Nãi Chi và Lý Tử Vân băn khoăn không muốn lên tỉnh học vì lo chị một mình ở
quê nhà,
Tử Hận đã dùng nhan châm tự hủy hoại nhan sắc của mình, ăn chay niệm Phật để cho hai em toàn tâm ý lên tỉnh học, không bận tâm về mình. Khi dòng họ Cửu Tư Đường 32 người từ già đến trẻ bị bắn chết, Tử Hận đem đứa cháu mới sinh mồ côi cha mẹ của dòng họ về nuôi cho đến ngày đứa trẻ bị ném xuống cầu “Tẩy nảo”. Lặng lẽ chôn cất người thân, Tử Hận sống âm thầm và sau đó chết trong ngôi nhà hoang vắng ở Cửu Tư Đường không một ai hay biết.
Tử Hận đã dùng nhan châm tự hủy hoại nhan sắc của mình, ăn chay niệm Phật để cho hai em toàn tâm ý lên tỉnh học, không bận tâm về mình. Khi dòng họ Cửu Tư Đường 32 người từ già đến trẻ bị bắn chết, Tử Hận đem đứa cháu mới sinh mồ côi cha mẹ của dòng họ về nuôi cho đến ngày đứa trẻ bị ném xuống cầu “Tẩy nảo”. Lặng lẽ chôn cất người thân, Tử Hận sống âm thầm và sau đó chết trong ngôi nhà hoang vắng ở Cửu Tư Đường không một ai hay biết.
Kết thúc tác phẩm là cái chết cô đơn của Lý Tử Vân vợ tướng
Dương Sở Hùng - người cuối cùng của nhà Cửu Tư Đường - tại khu chung cư người
già ở bang Virginia, nước Mỹ vào những năm cuối thập kỷ 80 thời Trung Quốc đổi
mới.
Thông qua những cái chết của hai dòng họ Lý, Bạch, tác giả phản
ảnh rõ nét bi kịch con người trong dòng chảy lịch sử Trung Hoa suốt thế kỷ 20.
Ý nghĩa của những cái chết.
Trong một lần phỏng vấn người ta hỏi ông: “Trong tiểu thuyết
của ông có nhiều người bị giết và nhiều cảnh giết người, ông định nói lên điều
gì?”.
Lý Nhuệ trả lời: “Một bộ lịch sử nhân loại cũng có thể coi đấy
là một bộ lịch sử tàn sát. Thông thường, một nhóm người này muốn chứng tỏ và
quán triệt một ý chí này, đã tàn sát một nhóm người khác; sau một thời gian,
nhóm người kia muốn chứng tỏ và quán triệt ý chí, lại tàn sát nhóm người này.
Cuối cùng, lịch sử sẽ vứt bỏ tất cả những cái gọi là ý chí thuộc về con người,
để những số phận bị tiêu diệt tỏ rõ nỗi cô đơn, đau khổ và sự hoang đường vô
lý... Hầu hết những nhân vật chính trong tiểu thuyết của tôi đều chết, họ
không làm anh hùng để chết, họ chết trong dòng chảy của lịch sử... Không thể trốn
chạy cái chết những năm tháng ấy, ý nghĩa của những cái chết và bao năm tháng
cuộc đời mất đi khiến tôi cảm thấy sâu sắc nỗi đau của con người vì con người”.
(8)
Thầy giáo Triệu Bá Nho - tượng trưng cho những nhà nho yêu nước
làm cách mạng thời kỳ đầu say mê và tin tưởng vào lý tưởng của chủ nghĩa Mác mặc
dù biết cuộc khởi nghĩa sẽ thất bại, bản thân không cho phép cậu học trò Lý Nãi
Chi tham gia, nhưng vẫn lãnh đạo cuộc khởi nghĩa nông dân, bình thản
lên pháp trường xử trảm.
Trần Cẩu Nhi - tượng trưng cho tầng lớp nông dân tham gia bạo
lực cách mạng rất nhiệt tình và hiệu quả do lòng đố kỵ và hận thù giai cấp mà
không có chút khái niệm về lý tưởng chính trị nào, loại người có công với cách
mạng nhưng kém hiểu biết cũng nhanh chóng trở thành tai họa của nhân dân.
Lý Nãi Kính tộc trưởng nhà Cửu Tư Đường - tượng trưng cho
thành phần Trung Hoa phong kiến cổ truyền - sống nhân nghĩa, trách nhiệm, khôn
ngoan lèo lái cả gia tộc vượt qua bao thăng trầm binh biến, loạn lạc nhưng cuối
cùng thời “Tập thể hóa ruộng đất” - dòng họ nhiều đời mở hầu bao cứu trợ,
giúp đỡ biết bao người nghèo khổ học hành - lại bị cách mạng đem xử bắn vì
được xem là thành phần địa chủ “phản cách mạng”.
Lý Nãi Chi - một trí thức mới mang khát vọng lớn lao muốn
thay đổi xã hội - dám từ bỏ mảnh bằng đại học, tham gia cách mạng những ngày đầu
để cuối cùng trong “Đại cách mạng văn hóa” vì không chứng minh được lý lịch
“trong sạch” của mình, phải đi cải tạo chăn bò và chết âm thầm trên
nông trường lạnh giá.
Lý Tử Hận - tượng trưng cho giá trị nhân văn cao cả của truyền
thống Trung Hoa - hy sinh suốt cuộc đời vì người thân, rốt cuộc cũng không bảo
vệ được đứa cháu đích tôn bị “quần chúng” vứt xuống sông “tẩy
não”, sau đó chết âm thầm trong ngôi nhà Cửu Tư Đường không ai hay
biết.
Bạch Thu Vân, con gái một thương gia giàu có nức tiếng Ngân
Thành - tượng trưng cho lớp nhà giàu mới, ảnh hưởng Tây học, sẵn sàng vì tình
yêu theo chồng tham gia cách mạng, cuối cùng vẫn bị xem là “tiểu thư thối tha
con nhà tư sản” bị đày ải lao động trên nông trường, mệt mỏi đói khổ đến
cùng cực phải tự tử để thoát khỏi sự khổ ải của kiếp người.
Đó là những bi kịch.
Cái “chân lý” mà biết bao người hy sinh khi đi tìm, không ngờ
đã lần lượt giết chết họ. Đầu thế kỷ 20, khi người Trung Hoa đang
lúng túng đi tìm lối thoát cho một xã hội phong kiến đến thời suy tàn, họ phân
vân giữa nhiều ngã đường - phóng tầm nhìn sang Nhật, sang Tây,.. bất ngờ chạm đến
chủ nghĩa Marx Lenin, cứ ngỡ phát hiện ra “chân lý”, cái gọi là chân lý mang
tính “khoa học” đó đã được Mao Trạch Đông bùa phép cho tham vọng cá nhân và chủ
nghĩa dân tộc- biến Trung Hoa thành một chảo dầu sôi.

Đó còn là sự vô lý trong cách mà mỗi con người lao theo cái
ác với toàn bộ ý chí một cách tự nguyện.
Lưu Quang Đệ, nhân danh bước đi của lịch sử vì quyền lợi của
giai cấp vô sản đạp lên tình nhà hủy hoại giá trị truyền thống Trung Quốc, xung
phong bắn phát súng đầu tiên vào ông trẻ của anh là Lý Nãi Kính- được coi là phần
tử “phản cách mạng”. Tại sao Lưu Quang Đệ người cháu ruột phải tỏ ra hồ hởi ra
tay đối với chính người họ hàng của mình. Người thân tự tay giết người thân - người Trung Quốc giết người Trung Quốc, nhân danh tư tưởng đấu tranh giai cấp
được du nhập từ phương Tây.
Lý Diên An con gái Lý Nãi Chi, một cô gái xinh đẹp, giới trí
thức thành phố. Xung phong ghi tên lên vùng núi Thiểm Bắc để “trở thành một điển
hình”. Cô quyết “làm cho người lấm bùn đất, tay thành chai” để thay
đổi thịt da xương cốt, cải tạo bản thân. Phân rõ ranh giới với bố là một Thứ
trưởng. Tình nguyện lấy Lệch một nông dân chăn cừu, không biết chữ, cả đời
không tắm, hôi thối bẩn thỉu - cốt sao để thế hệ sau của mình là thành phần
nông dân ưu tú của cách mạng như lời Mao chủ tịch: “Sạch sẽ nhất là
công nhân và nông dân, cho dù tay họ đen bẩn, chân họ giẫm vào phân bò thì vẫn
còn sạch hơn giai cấp tư sản, tiểu tư sản và cả trí thức nữa”. Khi nghe tin mẹ
chết, cha chết cô không về thăm, không chịu để tang. Diên An thản nhiên lý lẽ:
“là đảng viên không làm điều lạc hậu, không để chuyện này ảnh hưởng đến công
tác cách mạng xây dựng đồng ruộng Đại Trại của đội, hơn nữa đã phân rõ ranh giới
với gia đình rồi, không về.”
Một người ngu dốt như Lệch còn biết: “Người nhà
quê rất xem trọng hai người: người sinh ra mình, người mình sinh ra. Cha mẹ chết
mà không để tang chẳng hóa ra súc vật hay sao?”
Tại sao một trí thức có học vấn như Diên An lại không hiểu đạo
đức tối thiểu của một con người?
Tất cả sản phẩm đó chính là hậu quả giáo dục con người mới xã
hội chủ nghĩa của Mao Trạch Đông. Dưới thời Mao chủ tịch mọi giá trị truyền thống
Khổng - Mạnh (10) tốt đẹp của Trung Hoa đều bị đào tận gốc, trốc tận rễ, thay
vào đó là tham vọng cá nhân và chủ nghĩa cơ hội. Những con người như Lưu Quang
Đệ, Lý Diên An không phải là cá biệt, giai đoạn đó những người như họ là phổ
quát (11) - họ sẵn sàng phá bỏ những vật cản, ngăn trở bước đường tương lai của
họ, cho dù đó là cha mẹ, vợ chồng, anh em dòng họ. Tất cả những điều đó đã tạo
ra một “xã hội mất gốc” đạo đức cổ truyền bị chà đạp, nhân phẩm con người suy đồi
và tha hóa đến mức “Không có một công thức đạo đức giản dị nào mà nhà trường có
thể chuyển tải”. (12) Chính tác giả Lý Nhuệ cũng từng nhìn nhận: “Nửa thế kỷ trở
lại đây, truyền thống văn hóa Trung Quốc bị tan rã khủng khiếp và thất bại thảm
hại... (...)...Tôi cảm nhận được nỗi khổ về tinh thần của người Trung Quốc, và
tôi dùng tiểu thuyết để biểu thị nỗi khổ ấy” (13)
Chốn xưa mổ xẻ mọi ung nhọt của chủ nghĩa Mao một cách
thẳng thừng.Tác giả vạch rõ bản chất thật của những ngụy tín, hư ảo,
sự ngu dốt của một thể chế đã phá nát nền tảng đạo đức của một đất nước, giết
chết tâm hồn bao thế hệ, hậu quả di hại đến tương lai đời sau.
Với bút pháp lạnh lùng, bạo liệt, Lý Nhuệ vạch trần tường tận
xã hội tàn bạo mà ông từng sống một cách không khoan nhượng: từ đầu đến cuối
tác phẩm toàn là máu người. Mở đầu bằng những cái chết của 108 phần tử phản
cách mạng, óc bắn tung trắng xóa điểm “lốm đốm trắng đỏ như sương mùa thu” trên
bức tường đá; cuộc thảm sát 3.800 nông dân bạo động, người bị bắn người bị chặt
đầu, máu nhuộm đỏ dòng Ngân Khê, 57 đảng viên cộng sản bị chém và bị bêu đầu ở
cổng thành khắp năm huyện suốt một năm ròng, bêu cho đến khi thịt nát tóc
rụng biến thành những cái xương sọ; 10 đội viên xích vệ nông dân bị trói vào cột
gỗ, biến thành mười đống lửa kêu gào thảm thiết... hai hôm sau, có người
còn thấy mười cái thi thể cháy dở co rúm, run rẩy trên những cọc gỗ cháy đen.
Hãy xem tác giả miêu tả cái chết của đội trưởng Xích vệ Trần
Cẩu Nhi và cái chết của thầy giáo Triệu Bá Nho với lối miêu tả tương phản gay gắt:
Trần Cẩu Nhi lãnh đạo đội Xích vệ nông dân bị lột sạch
quần áo, bị trói vào cọc gỗ, đao phủ cắt bộ phận sinh thực rõ to “đã từng được
thưởng thức vô số các bà các cô khắp năm huyện” khi đội Xích vệ tạm thời chiếm
được thành địa phương - Chỉ mới mấy tháng trước những người nông dân đời đời kiếp
kiếp đói nghèo đón chào bạo động tưng bừng như đón Tết, Trần Cẩu Nhi như hung
thần cầm lưỡi hái, đi đến đâu chém sạch đến đấy, “có rất nhiều đầu người đỏ máu
buộc dây treo lủng lẳng, giống như đèn lồng treo khắp đường làng ngõ xóm vào mỗi
dịp Tết đón xuân” - Cẩu Nhi mất cái của đàn ông, máu chảy đầm đìa, mắt nhìn miếng
thịt không còn dùng được nữa bị vứt ra kia, anh ta kêu gào chửi bới... tiếng gào
khản đặc, vỡ vụn không còn ra tiếng gào của con người. Tên đao phủ lại cắt lưỡi
Cẩu Nhi, Cẩu Nhi không nói được nữa, vẫn trừng mắt, giãy giụa trên cái cọc gỗ,
miệng phun từng búng máu - anh ta vẫn đang chửi, vẫn giãy giụa, cho đến khi tên
đao phủ cầm trái tim còn nóng trên tay mới đột ngột dừng lại. Chỉ trong khoảnh
khắc, tất cả mọi người có mặt tại hiện trường đều kinh ngạc, kẻ giết người và
người xem giết người đều
Thầy giáo Triệu Bá Nho bước lên đoạn đầu đài, mặc áo
dài, cái kính vẫn trên sống mũi, vẫn giản dị, nho nhã, dáng vẻ ung dung, bình
tĩnh như mọi khi, thầy vuốt mái tóc rũ xuống trước mặt, lộ rõ khuôn mặt tiều tụy
và nhợt nhạt của kẻ thất bại. Thầy chỉ vào biển người xem ông bị hành hình,
nói: Không thể giết hết quần chúng lao khổ! Không thể giết hết những người
cộng sản!;... Hãy nhìn thế giới ngày mai, phải là thế giới cờ đỏ! Tiếp theo,
ba tên đao phủ nắm chặt hai cánh tay thầy giáo đẩy thầy nằm trên một thớt gỗ vừa
to vừa bẩn, một tên giơ cao lưỡi búa to bản, chỉ nghe thấy một tiếp phập,
chém phăng cái đầu chứa đầy kiến thức và lý tưởng, chứa đầy chủ nghĩa và chân
lý, chứa đầy những câu thơ và ý nghĩ cháy bỏng. (tr 20-21)
Lối viết tương phản, mang tính tượng trưng cao, còn thể hiện ở
cái chết về mặt thể xác của Lý Tử Hận và cái chết về mặt tinh thần của Lý Diên
An.
Cái chết của Tử Hận là sự kết thúc của một giai đoạn lịch sử
đã qua, nhưng giá trị tinh thần nhân văn của nó vẫn mãi trường tồn. Tử Hận chết
nhưng “đức hy sinh” của cô vẫn là tấm gương đẹp cho người đời sau: “Hàng xóm
nói, khi họ phá cửa vào thì thấy bộ xương nằm trên cái giường gỗ đàn
hương có chạm khắc hoa văn, ruồi nhặng ào ào bay ra cửa, ruồi nhặng đen đặc, tưởng
chừng xô ngã cả người.(…)… Tất cả vô cùng ngạc nhiên phát hiện, thi thể bà Sáu
trong trang phục đẹp như cô dâu về nhà chồng. Xung quanh bà toàn lụa là gấm
vóc, những tấm gấm hoa do bàn tay bà tự thêu. Mọi người cùng nín thở, lặng lẽ
nhìn bộ xương được bọc trong gấm vóc, cùng nghĩ đến người đàn bà có một không
hai ở Ngân Thành này. Không ai biết bà chết từ lúc nào, cũng không ai biết bà
chết trong đau khổ hay sướng vui, càng không ai biết tại sao bà lại tô điểm cho
cái chết đẹp như thế, khiến họ phải kinh ngạc và sợ hãi”.
Đến đây, người đọc tinh tế sẽ liên tưởng ngay đến
hình ảnh Lý Tử Hận hàng ngày ngồi bên khung cửa thêu những tấm gấm hoa rực rỡ,
tấm áo cô dâu mà bất cứ người con gái nào cũng ao ước được một lần mặc trong đời.
Thì ra, tuy đã tự mình dùng một bó nhang đang cháy đỏ đâm vào mặt, hủy
hoại nhan sắc để cả đời không nghĩ đến chuyện lấy chồng, cho hai em
toàn tâm toàn ý ăn học, nhưng trong sâu thẳm tâm hồn Lý Tử Hận vẫn luôn ước mơ
về hạnh phúc riêng tư, điều này càng làm tăng thêm ý nghĩa đẹp đẽ của sự hy
sinh đó. Ước mơ “mặc áo cô dâu trong ngày cưới” đã được nàng thực hiện
khi chết. Qua đó, người đọc càng thấm thía hơn sự chịu đựng âm thầm của Tử Hận
suốt những tháng năm dài. Lẽ tự nhiên, bất cứ người con gái nào, sắc đẹp cũng
là điều quan trọng nhất, có ai dám tự hủy hoại dung nhan xinh đẹp của mình? thế
mà Tử Hận đã làm. Tôi nghĩ, tác giả Lý Nhuệ đã phải dụng công rất nhiều cho sự
hy sinh “rất đẹp” này ngay từ những hình ảnh đầu tiên, người đọc tưởng chừng
bình thường nhưng lại ẩn nhiều hàm ý - trong cái chết mục rửa về mặt thể
xác ấy - lại sáng bừng lên một tâm hồn cao cả.

Lần đầu tiên gặp Lệch, biết là anh chăn cừu, không
biết chữ, thành phần bần cố nông thứ thiệt, hôm sau Diên An chủ động gặp và đề
nghị cưới nhau để được… báo chí đưa tin “điển hình”. “Sau khi nhận giấy đăng ký
kết hôn, Diên An đưa Lệch mười đồng và bộ đồ mới, nói Lệch đến nhà tắm công cộng
tắm. Lệch vui lắm, mặt đỏ bừng vì cả đời Lệch chưa tắm bao giờ. (15) Lệch đến
nơi thì nhà tắm đang sửa chữa, tạm nghỉ. Đành lặn lội về thôn, bộ đồ mới vẫn kẹp
nách vì biết rằng đây là bộ đồ động phòng. Hôn lễ đúng như Diên An nói, cách mạng
hóa. Cô dâu chú rể cúc cung bái lạy Mao chủ tịch ba lạy, đọc hai đoạn lời dạy của
Người, sau đấy ông bí thư nói: hai người hát bài Đông phương hồng. Hát
xong, ông bí thư sốt ruột, vỗ tay: Xong rồi, nhập phòng đi thôi. Phòng
ở là một cái hang khoét trong lòng đất trên cao nguyên hoàng thổ, tối đen. Cho
đến khi ăn cơm tối xong, thắp đèn, trải giường trải chiếu. Lệch đành thú nhận
chưa tắm được, xin lỗi vợ nếu mình sợ bẩn để tôi nấu chút nước rửa
qua. Nhưng chậu nước nhỏ chỉ mới rửa được nửa thân trên. “Khi Diên An đẩy cửa
bước vào, Lệch vội lấy tay che nửa người dưới, anh ta nói… Mình… Diên An ngước
lên, rồi vội nhắm mắt lại. Cô không ngờ Lệch to khỏe và bẩn đến thế. Lệch
nói: Mình xem, nửa chậu nước không đủ… Diên An đi sâu vào trong hang, thổi
tắt đèn, lập tức bóng tối bao trùm như trong huyệt mộ bịt kín. Trong bóng tối
dày dặc, Diên An cởi bỏ từng chiếc áo quần rồi nói: Em quyết làm việc này
đến cùng”. Nhưng khi cái cơ thể to khỏe và rắn chắc bao bọc bởi hơi đàn ông và
mùi gây của cừu dê đè xuống, Diên An đau như bị dao đâm, cô đẩy, đánh, kêu
la, giãy giụa.(…) Thế nhưng, sáng hôm sau cô nhìn Lệch và nói: Em nghĩ kỹ
rồi, em sẽ làm việc này đến cùng.”
Tôi nghĩ, Lý Nhuệ đã cố tình miêu tả “chuyện ấy” diễn
ra trong một hang sâu trong lòng đất, tối đen như huyệt mộ, làm người
đọc liên tưởng đến hành động của những động vật cấp thấp.
Đối với người con gái, điều thiêng liêng nhất là sự trong trắng.
Bất cứ cô gái nào cũng mong muốn dâng hiến sự trong trắng của mình cho người
đàn ông mà mình yêu thương, quý trọng. Thế nhưng, Diên An đã làm gì cuộc đời
cô? Tôi nghĩ rằng giây phút hợp hôn chính là giây phút linh hồn cô đã chấm dứt,
chính cô là người chủ động giết chết linh hồn mình.
Thế nhưng, đọc kỹ lại trường đoạn đám cưới, có điều gì
đó bi thảm hơn ẩn sâu từ ngữ lạnh lùng của tác giả, tôi phân vân: có thật Diên
An không yêu quý tấm thân trong trắng của mình, có thật cô không hối
tiếc khi tự dâng hiến đời mình cho một người đàn ông dơ bẩn, ngu dốt mà cô
không hề yêu thương? Tôi không tin, bởi hình ảnh: “… dòng nước mắt
trào ra nóng hổi, rơi lã chã trong đêm đông vắng lặng năm 1969” khi cô đứng
ngoài hang chờ Lệch tắm? Tại sao cô phải cắn răng âm thầm khóc? Có điều gì đó
còn kinh khủng hơn nếu không bằng mọi cách được là người “bần cố nông” .
Đó chính là lời tố cáo khủng khiếp nhất về một thể chế đã biến
con người sống không ra sống, chết không ra chết, hành động như một cỗ máy.
Người xưa nói lịch sử tạo tính cách, quả không sai. Con
người làm sao thoát nỗi dòng chảy của lịch sử.
Chính lối miêu tả lạnh lùng, tương phản này đã gây hiệu ứng cảm
xúc mạnh cho độc giả, tăng tính bạo liệt của sự việc.
Bên cạnh đó, Chốn xưa có nhiều trường đoạn miêu tả lắng
đọng như cảnh Thư ốc Trời Xanh tại Cửu Tư Đường của dòng họ Lý, hay vẻ thơ mộng
và hùng tráng của dòng Ngân Khê xanh thẫm. Đặc biệt, trường đoạn mô tả nghề làm
muối tại thành phố Ngân Thành vừa hoành tráng vừa bi thương: “Hai bờ sông Ngân
Khê là những giá ròng rọc sừng sững, những đường ống dẫn muối dọc ngang, thuyền
mua muối cắm sào đậu san sát nơi bến sông, nghe thấy điệu hát kéo xe quặn lòng
của những người công nhân chở muối. Một trăm tám mươi đàn ông, vai gùi nặng,
người cúi rạp đi về phía trước như những con ngựa thồ hàng. Theo tiết tấu bài
hát, nước muối từ dưới sâu hơn trăm trượng múc lên mặt đất. Điệu hát bắt nguồn
từ những gùi muối trên lưng tạo nên sức mạnh lay động lòng người. Ngồi bên xe
lĩnh xướng là chị em được thuê ở viện Phù dung và lầu Hoa đào, việc các cô làm
được gọi là “ngồi mâm xe”.
Những ngày nắng nóng, các cô ngồi mâm xe để lộ bờ vai tròn lẳn và cặp đùi trắng nõn. Có lúc để an ủi những “ngựa” ở càng xe, chị em cất giọng thỏ thẻ hát điệu “khúc bài” hoặc điệu “áo hồng loan” hoặc “chuồn chuồn ngọc”, hát những bài mà các cô không làm nổi và vĩnh viễn không bao giờ làm nổi: Từ nay đoạn tuyệt lại qua/ Khóa lầu ngọc, tẩy phấn son, không làm con hát/ Lấy anh bán rau cùng vui cuộc sống/ Bỏ mặc chuyện người, chuyên việc mình tôi.” (tr 95-96)
Những ngày nắng nóng, các cô ngồi mâm xe để lộ bờ vai tròn lẳn và cặp đùi trắng nõn. Có lúc để an ủi những “ngựa” ở càng xe, chị em cất giọng thỏ thẻ hát điệu “khúc bài” hoặc điệu “áo hồng loan” hoặc “chuồn chuồn ngọc”, hát những bài mà các cô không làm nổi và vĩnh viễn không bao giờ làm nổi: Từ nay đoạn tuyệt lại qua/ Khóa lầu ngọc, tẩy phấn son, không làm con hát/ Lấy anh bán rau cùng vui cuộc sống/ Bỏ mặc chuyện người, chuyên việc mình tôi.” (tr 95-96)
Với phương pháp lập đi lập lại sự kiện và các mốc thời gian:
cuộc bạo động của nông dân 5 huyện thuộc Ngân Thành tháng 12 năm 1927: 3.800
nông dân bị bắn chết, 57 đảng viên bị chém bêu đầu, 57 bộ xương sọ; vào tiết
sương giáng năm 1951: 108 người bị hành hình, 32 người đàn ông nhà họ Lý... quá
khứ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong Chốn xưa như một vòng xoáy
sai lầm, tạo ám ảnh về tính vô lý của lịch sử, khiến độc giả bị day dứt không
thể nào quên.
Ngoài ra, Lý Nhuệ thường sử dụng tài tình thủ pháp đồng hiện
của điện ảnh. Trong cùng một thời gian tác giả miêu tả nhiều sự việc xảy ra
cùng một lúc ở nhiều không gian cách xa nhau, nhằm mở rộng tầm nhìn bao quát
cho độc giả. Chỉ trong một tích tắt Lý Nhuệ đã đưa người đọc đi từ Ngân Thành đến
Bắc Kinh rồi sang Đài Loan, qua những thước phim ngoạn mục: “Vào lúc óc của
ba mươi hai người đàn ông dòng họ Lý dính đầy bức tường, Lý Tử Hận ngất trong
căn nhà trống rỗng, Lý Nãi Chi cưỡi trên chiếc máy kéo Staline 55 chạy băng
băng trên cánh đồng phì nhiêu và Lý Kinh Sinh oa oa chào đời, nhà họ Lý chỉ còn
một người mặc tang phục kêu khóc thảm thiết, đó là Lý Tử Vân, chị ba của Lý Nãi
Chi. Nhưng Tử Vân không khóc vì gia đình họ Lý mà khóc chồng là tướng Dương Sở
Hùng, khóc vì chồng chết ở nơi đất khách quê người mà lễ truy điệu có long trọng
đến mấy cũng không thay đổi số trời định.” (tr 12)
Lý Nhuệ là nhà văn có lối viết cổ điển, ông viết theo sự dẫn
dắt của nội tâm. Mặc dù sau này tác giả vẫn chưa ưng ý về mặt hình
thức nhưng với tôi, chính vì không áp dụng nhiều kỹ thuật Chốn xưa mang
vẻ đẹp giản dị, tự nhiên của người viết lần đầu mà mọi dồn nén bấy lâu được thỏa
sức tuôn trào.
Trong một lần phỏng vấn, người ta hỏi ông: “Ông có bị ảnh hưởng
thủ pháp kể chuyện (tự thuật) của Borges (16), nhất là cách vận dụng thời gian
và không gian?
Lý Nhuệ trả lời: “Không biết tôi có bị ảnh hưởng của Borges
hay không. Cứ theo lòng mình để suy ra, tôi vẫn chưa bằng lòng về sự cố gắng của
mình đối với hình thức của Chốn xưa. Tôi vẫn nghĩ, về hình thức nên chăng đi xa
hơn nữa?... Xa “tả thực” hơn, gần ngụ ngôn và “tả ý” hơn... ( ) Nhưng tôi cho rằng,
hình thức tuyệt nhiên không phải là một thứ thao tác mang tính kĩ thuật bề
ngoài, hình thức phải tuôn trào rất tự nhiên và chân thành từ trong thế giới nội
tâm nhà văn, ở đấy, bất cứ một chút làm dáng hoặc lên gân nào cũng sẽ chôn vùi
bản thân tác phẩm và tác giả. Thời đại chúng ta rất dễ bị “thời thượng” nhận
chìm, thà rằng tôi tin ở nội tâm và tình cảm mình.” (17)
Đánh giá ngòi bút Lý Nhuệ, nhà phê bình Vương Trí Nhàn viết:
“... Lý Nhuệ gợi lại ấn tượng về một dòng văn xuôi có cái chất sang trọng,
quý phái... Điều mà người ta cần nhớ từ trường hợp Lý Nhuệ, đó là mỗi ngòi bút
phải giữ riêng lấy sự đơn độc tinh thần, không theo đuôi, không bầy đàn, việc
đi tìm cái mới không phải là một trò chơi trội mà cũng thiêng liêng và đầy
thách thức như mọi việc khác của đời sống” (18)
Thật vậy, với văn phong mãnh liệt pha trộn cổ điển và hiện đại,
văn ông mang nặng chiều sâu, với lối viết tương phản, tưởng chừng bình dị nhưng
từng chi tiết đều có dụng ý, mang đầy tính tượng trưng hàm nghĩa bao quát, sâu
rộng. Chốn xưa phảng phất thơ Đường, mang phong vị cổ điển. Điểm xuyết
trong tác phẩm là những hoành phi, câu đối, thơ Đường của Tô Thức, bút tích của
Tô Đông Pha.
Chỉ trong 347 trang, Chốn xưa đã phản ánh chiều dài
lịch sử Trung Hoa cận đại đầy khốc liệt. Bằng cách biểu tượng hóa các giá trị
và lực lượng xã hội thành những con người và sự việc cụ thể, với lối viết không
gian đồng hiện, thời gian lịch đại xếp chồng, lịch sử đã được dồn nén tối đa,
có khi chỉ trong một trang ông đã nén lại cả chiều dài nhiều thập kỷ (19). Đồng
thời, kỹ thuật thể hiện tương phản giúp chuyển tải được đầy đủ tính khốc liệt của
lịch sử, qua đó cho thấy thái độ quyết liệt không khoan nhượng của tác giả,
chính những điều này đã làm nên thành công lớn của tác phẩm.
Đọc Chốn xưa người đọc có cảm tưởng như có hai nước
Trung Hoa, một Trung Hoa đầy tính nhân văn đáng kính và một Trung Hoa bạo liệt,
thổ phỉ. Phải chăng đất nước rộng lớn này kết hợp cả hai nền văn minh lúa nước
và du mục nên đã sản sinh ra một Trung Hoa đầy mâu thuẫn.
Ấn tượng lớn nhất sau khi đọc Chốn xưa, không phải là bi
kịch của từng cá nhân mà là bức tranh toàn cảnh - LỊCH SỬ - lịch sử
vô lý là nhân vật chính trong tiểu thuyết của ông.
Nói như Vương Trí Nhàn, trong khi miêu tả lịch sử, Lý Nhuệ đã
mang lại cho nó một “bộ mặt người”.
Chốn xưa giúp người đọc hiểu rỏ về một thời đại lịch sử
đã qua, từ đó giúp chúng ta tránh lập lại những sai lầm của lịch sử. Chúng ta
hiểu quá khứ để sống cho hiện tại và hướng đến tương lai.
Bên cạnh đó, không loại trừ khả năng cảnh báo những nguy cơ
tiềm ẩn của chủ nghĩa dân tộc cực đoan phục vụ cho các ý đồ chính trị bành
trướng nhất thời của một thể chế, nguy hại không chỉ cho dân tộc Trung Hoa
mà cho cả các dân tộc khác (20). Những thế hệ như Lý Diên An, như Lưu Quang Đệ vẫn
còn, và tác hại của nó sẽ khôn lường.
Nhưng tôi hy vọng, với một dân tộc đã từng có nền
văn minh rực rỡ khiến cả nhân loại phải kính ngưỡng, Trung Hoa sẽ biết cách vượt
qua những giới hạn để phát triển trên tinh thần nhân văn cao đẹp, phù hợp với
xu thế phát triển chung của nhân loại. Thật vậy, không phải ngẫu nhiên trong
đêm khai mạc Thế vận hội Olympic Bắc Kinh 2008, đạo diễn Trương Nghệ
Mưu đã cố tình trình diễn cho thế giới biết tinh thần của dân tộc Trung Hoa qua
chữ “HÒA” và học thuyết KHỔNG - MẠNH chính thức được khôi phục và đề
cao sau hơn 50 năm bị chà đạp.(21)
Với tác phẩm Chốn xưa, Lý Nhuệ chứng tỏ là một nhà
văn tự do, bản lĩnh, ngòi bút ông không quỵ lụy quyền lực, không kỵ húy lịch sử,
ông viết theo tiếng gọi của con tim, như lời ông nói: “Tôi rất ghét cái lịch
sử vô lý, ghét cay ghét đắng cái lịch sử vì “mục đích hợp lý” mà giết người hợp
lý. Có lẽ đó là di sản văn hóa? Nghe đã quá nhiều những lời bịp bợm thiêng
liêng... Cái gọi là “lịch sử khách quan chân thực” chớp mắt trở thành những lời
dối trá. Tất cả những lời dối trá đều coi thường sinh mạng con người. Tôi
muốn vớt những sinh mạng bị chết sặc bởi những lời dối trá lên cho mọi người
xem...” (22)
Xin mượn lời của Lý Nhuệ để kết thúc bài viết này: “Xưa nay,
sự tồn tại của văn học chưa bao giờ giảm bớt nỗi khổ dù chỉ một chút xíu, nhưng
sự tồn tại của văn học luôn chứng minh sự tàn nhẫn của áp bức bóc lột, luôn chứng
minh cái giá của những sinh mạng bị đọa đày đau khổ, luôn chứng minh nỗi buồn của
con người tự trói mình, luôn chứng minh con người nên được hạnh phúc tự do”.
(23)
Ghi chú: Bài viết đã đăng trên Tạp chí Hợp Lưu số 100 tháng
5&6/2008, California Hoa Kỳ, tác giả đăng lại có bổ sung.
Chú thích:
1. Lý Nhuệ, Chốn xưa, (Sơn Lê dịch), nxb Hội
nhà văn, 2007. Trả lời thư phỏng vấn của bà Lương Lệ Phương, Tiến sĩ, Giáo sư
khoa Ngôn Ngữ Đông Á, Đại học Alberta - Canada, in trong phần phụ lục Chốn
xưa, tr 358-359.
2. Trên Evan, Hoàng Mai cho rằng “Chốn xưa” là câu
chuyện kể về những mối tình. http://evan.vnexpress.net/
Minh Tuệ, Chốn xưa và nỗi đau ám ảnh http://www.vtc.vn/; Vân Anh, Chốn xưa một cuốn
sách đáng kinh ngạc nhất về Trung Quốc http://www.laodong.com.vn/
3. Vương Trí Nhàn, Đề tài lịch sử cảm hứng hiện
đại, in trong phần phụ lục Ngân thành cố sự, nxb Hội nhà văn,
2007, tr 341-355
4. Bối cảnh lịch sử Trung Hoa thế kỷ 20, xem tài
liệu: Lịch sử Cộng hòa nhân dân Trung Hoa; Cách mạng văn hóa Trung quốc;
Mao Trạch Đông, nguồn: vi.wikipedia.org;
5. Mao Trạch Đông cuộc đời chính trị và tình dục,
nguyên tác Hoa ngữ: Mao Trạch Đông, tư nhân bác sĩ hồi ký lục, bản tiếng Anh:
The private life of Chairman Mao, tác giả Bác sĩ Lý Chí Thỏa, Trần Trung Đạo
trích lược dịch theo bản tiếng Anh có đối chiếu với nguyên tác Hoa ngữ, nguồn: http://www.uvyd.com/
6. Tổng kết thời kỳ này trong lời tựa tác phẩm “Mao Trạch
Đông - ngàn năm công tội của Tân Tử Lăng, hai tập 700 trang, Nhà xuất bản
Thư tác Phường, Hồng Kông ngày 2 tháng 8 năm 2007), viết:

7. Xem Cách mạng văn hóa Trung Quốc 1966, nguồn:
huongv.wordpress.com/
8. Trả lời thư phỏng vấn của bà Lương Lệ Phương,
sdd, tr 362-366.
9. Lý Nhuệ, Ngân thành cố sự, (Trần Đình Hiến
dịch), Nxb Hội nhà văn, 2007. Chung Hồng Minh phỏng vấn Lý Nhuệ, in trong
phần phụ lục Ngân thành cố sự, tr 331.
10. Học thuyết Khổng Mạnh, Xem tài liệu về Nho
giáo: http://vi.wikipedia.org/
11. “Phổ quát” vì không những ở Trung Hoa, mà còn ở
những nước có thể chế tương đồng như Việt Nam.
12. Angus Foster, Đi tìm bản chất Trung Hoa hiện đại, BBC
News, ngày 3.6.2008
“… Khổng giáo bị Đảng Cộng sản phế bỏ từ sau năm 1949. Nhưng
trong hai thập niên vừa rồi, tại đây nảy sinh ‘cơn sốt quốc học’. Nhà nghiên cứu - ngôi sao Vu Đan trở nên nổi tiếng với cuốn sách về Luận ngữ, bán được hơn 10
triệu bản.
Có thật nhiều nguyên nhân. Những thế hệ mới muốn hiểu về
quá khứ, một số người lo ngại đang có khoảng trống đạo đức sau khi chủ nghĩa cộng
sản bị kinh tế thị trường thay thế. Và tăng trưởng kinh tế dẫn tới biến động xã
hội, buộc hàng triệu người phải bỏ thôn quê đi tìm việc.
Theo giáo sư Spence, “đây là một xã hội khá mất gốc, tiêu biểu
là khoảng 100 triệu người di cư tìm việc. Không có một công thức đạo đức giản dị
nào mà nhà trường có thể chuyển tải.”
“Nhìn theo cách này, Khổng Tử có thể lấp đầy khoảng trống, và
người ta có thể bơm vào nhiều điều khác nhau để đáp ứng nhu cầu.”
13. Chung Hồng Minh phỏng vấn Lý Nhuệ , sdd , tr
333
14. Nhân vật Diên An lấy tên từ địa danh Diên An một
cao nguyên hoàng thổ nghèo của Trung Quốc, cái nôi của Cách mạng, đây là căn cứ
của Cách mạng Trung Quốc từ 1937 đến 1947. Bởi vậy nói đến Diên An người ta
liên tưởng ngay đến thánh địa cách mạng.
Xem tài liệu: http://vietbao.vn/
15. Chi tiết “Lệch chưa bao giờ tắm” và khi “rửa mới
nửa thân trên đã hết nước” trước đêm động phòng, hình ảnh này quá đặc biệt, khiến
bất cứ người đọc nào am tường “thâm cung bí sử” lịch sử đương đại
Trung Quốc đều liên tưởng ngay đến hình ảnh Mao chủ tịch không bao giờ tắm, ông
ta chỉ dùng khăn nhúng nước ấm lau mình và đặc biệt không bao giờ rửa bộ phận của
đàn ông. Tôi tin rằng nhà văn Lý Nhuệ đã cố tình “cài bẫy” chi tiết
này một cách rất thông minh. (Theo hồi ký của Bác sĩ Lý Chí Thỏa, “Mao Trạch
Đông - cuộc đời chính trị và tình dục”, bác sĩ riêng của Mao Trạch Đông viết:
“… Với một đời sống tình dục quá độ như Mao, việc nhiễm bịnh phong tình, hoa liễu
là một việc không thể nào tránh khỏi… Tôi muốn Mao tạm ngưng việc làm tình một
thời gian. Mao chống chế cho rằng vì là bác sĩ, tôi có vẽ trầm trọng hóa vấn đề
chứ bản thân y có cảm thấy đau đớn gì đâu… Tôi đề nghị với Mao rằng ít nhất ông
ta cũng phải cho phép rửa sạch bộ phận đàn ông của y. Hàng đêm các cán bộ phục
vụ vẫn lau người y bằng khăn tẩm nước nóng, Mao chưa hề thật sự tắm rửa. Bộ phận
đàn ông của Mao chưa bao giờ được lau cho sạch. Mao bắt bẻ "tôi rửa bộ phận
của tôi bên trong cơ thể của đàn bà." Nghe Mao nói tôi muốn ói mửa. Sự
khoái lạc xác thịt của Mao vượt khỏi sự chịu đựng của tôi. Mặc dù tôi cố gắng vẫn
không làm sao ngăn chận được căn bịnh nơi Mao, ông ta mang căn bịnh nầy cho đến
ngày cuối cùng trong cuộc đời”. (Trích chương 12. “Những cách ham mê xác thịt
kỳ dị của Mao”) http://www.uvyd.com/
16. Jorge Luis Borges (1899-1986) nhà văn Argentina,người mở
đầu trào lưu tiểu thuyết siêu thực tại Argentina, truyện của ông pha lẫn hiện
thực và mộng ảo, hiện tại và dĩ vãng, thời gian và không gian xa xôi, không rõ
rệt. (theo Từ điển tác gia văn học nước ngoài - Hữu Ngọc).
17. Trả lời thư phỏng vấn của bà Lương Lệ Phương,
sdd, tr 361-362
18. Vương Trí Nhàn, Đề tài lịch sử cảm hứng
hiện đại, sdd
19. Từ đoạn “Vào lúc óc của ba mươi hai người… lòng chợt buồn
vô hạn” (Chốn xưa, tr 12-13)
20. Trung Quốc có thể hướng tới chủ nghĩa phát xít một kiểu
"độc tài với đặc tính chủ nghĩa dân tộc mạnh mẽ". (Nguồn: Tạp chí Kinh
tế Viễn Đông, tháng 6/2008. Bản tiếng Việt của Thông tấn Xã Việt Nam, Tài
liệu tham khảo đặc biệt số 154-TTX, thứ Hai ngày 7/7/08, tr. 18-23). Talawas in
lại, với tựa đề: Trận động đất ở Tứ Xuyên và công cuộc cải tổ của Trung Quốc,
ngày 19.7.2008.
21. Tuy nhiên, tôi cũng không loại trừ khả năng màn trình diễn
trong đêm khai mạc là ý tưởng sáng tạo của riêng đạo diễn Trương Nghệ
Mưu nói lên ước mơ của nhân dân mình, còn chính quyền Trung Hoa lợi
dụng để chơi trò tiểu xảo, ngụy quân tử trước thế giới, nhằm đánh bóng đất nước.
22. Chung Hồng Minh phỏng vấn Lý Nhuệ, sdd, tr
332
23. Chung Hồng Minh phỏng vấn Lý Nhuệ, sdd, tr
339.
Tháng 5/2008 - 8/8/2008
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét