Thứ Sáu, 23 tháng 5, 2025

Hô thần

Hô thần

“Vẫn phó Nhan à. Thằng phải gió từ nửa đêm cứ sang lại về, uống nửa tích nước ra tưới gốc gạo. Nhồi thuốc, châm lửa xong ngồi đần thối ra. Tốn đóm!”.
Bến đò Bùm tinh mơ đã rậm rịch. Bên kia sông chợ Phao Sơn vào ngày phiên, kéo đàn người bên này gồng gánh sang. Cây gạo đầu mom thắp lửa đỏ rực trên ngọn. Quán nước chói tai tiếng điếu rít. Tay buôn bè phả khói lên mái lá chuối thủng thẳng “Chắc lại gánh việc trọng, được hay bị chẳng biết thôi bà đừng chấp”.
“Thì vẫn hay tay ấy tài. Nhưng sáng ra cái mặt ám quẻ”, mụ quán làu nhàu, vơ miếng giấy đốt vía. Phó Nhan ngơ ngơ như thằng dở đặt đít chả nói năng. Xung quanh dạt ra vì mùi người gã, chun mũi ghê tởm hoặc tỏ dấu thuơng hại. Thường ngày đâu đến nỗi nào, giờ thành mụn giẻ lau ban thờ ngoài đình cuối năm, ra giếng mắt rồng giặt xong còn ghê tay.
Làng Bùm có Xiển “rồ”. Gã trai đẹp con nhà khá giả này lắm cô tơ tưởng, năm ngoái phải cơn sốt rung giường, khỏi thì bỏ nhà lang thang, nhặt lá bánh ngoài chợ liếm láp. Nay phó Nhan và đồ Hượu, toàn tay kỳ tài, sắp thành người dở, chả có nhẽ “động”?
Năm nào chả nhớ, giặc Tộ tràn qua biên ải cướp bóc. Giáo nhọn hoắt xỉa vào đống rơm, rút ra ròng ròng máu. Gạo tiền chúng cướp hết. Đàn bà son chạy chậm bị đè ngửa. Trong đám rừng rực có con lợn cháy dở, chúng xẻo thịt ăn tươi, nhe răng đỏ lòm. Quan quân thất thế bỏ chạy cả. Những trai làng tụ lại vót gậy hóp nhặt tên vãi, hợp từng đội cầm cự. Nhưng không xuể. Cháy lan mãi qua đê, đình Bùm oằn oại đến nửa đêm thì sụp. Người chết đâu mà nhiều, xác đông hơn người sống, chôn chả kịp chảy nước thối chuột không dám khoét.
Rồi có người dám đứng lên. Mỗi. Chàng cướp giáo dài tên cầm đầu xiên nó lên ngọn tre, đánh dạt một tụi rồi một tụi. Tụi nữa do tráng đinh hàng tỉnh diệt. Dũng khí dần lấy lại. Lòng hận thù khiến những đàn ông thêm sức lực đoàn kết nhau, đòn cuốc cầm lên đương đầu quân ác. Chúng bỏ chạy, tranh nhau qua sông Bùm chết đuối vô số. Xóm làng gượng dậy, chôn cất người thân, lợp mái rạ cháy dở. Đau thương vùi xuống, dần dần bãi dâu lên xanh tằm nhả kén. Thanh bình hiện ra, lạ thay, có khi chỉ là tiếng vòi ăn con trẻ.
Sống sót đấy, thì phải nhớ ơn cái người đầu tiên. Không thể quên! Thờ phụng nhỏ bé, không tòa ngang dẫy dọc cũng được, kẻo mờ mịt rồi hóa bùn. Đấy, binh lửa mới tắt dăm năm, hội làng nhóm lại chỉ thấy rặt nô nghịch. Bọn nam thanh nữ tú chèo thuyền ra giữa sông kín nước sạch sẽ về tắm bài vị Ngài chỉ mong xong việc sớm còn động cỡn. Không nhắc chóng vợi rồi sang đời con chúng nó chả biết đằng kính tín, khấn vái vô hồn, bội bạc thay. Tri huyện, chánh tổng bên trên cùng lý trưởng, hương chức dưới Bùm đều đinh ninh thế, nên chạy tiền, tìm người lo một tòa cụ thể, dù chỉ tiềm tiệm.
Nhưng đấng can đảm ấy là ai, bố mẹ sinh thành ra nao, táng đồng nào thì chả ai biết. Có đống mối đùn bên đường cái quan, chúng đi chợ đặt vui “Mả Ông Tướng đấy”, người khác dâng bát hương, ai ai qua lại thêm mảnh sành hòn sỏi dần thành gò, truyền nhau thiêng lắm. Lại “nhớ ra” manh giáp ngọn cây sung, đống máu gần chuồng dê chả biết tự nảo nào, chúng sinh đến xì xụp. Nhưng quan phụ mẫu rằng “Xằng bậy”, cho dẹp bỏ. Công phu lần tìm người anh hùng đến bến sông thì thấy dấu vết. Lão canh điếm, sáng dứt tao loạn ấy gặp thớt ngựa lảo đảo, trên lưng có bóng người hùng vĩ, giáo gác ngang bụng nhưng không đầu. Cứ sừng sững ngoảnh sang bên kia, bóng giặc chạy tao tác, cổ máu me phát tiếng khà khà sảng khoái. “Đã đến đây thì nghỉ lại đây”, lão hãi quá chỉ thầm thì. Mà Ngài nghe được, bèn ngả xuống nhẹ nhõm. Người ấy giờ nằm dưới nấm này. Đích thị! Mọc lên mái lá lơ phơ, bài vị vạc vài nét ngắn ngủn, cuối năm mới có người dọn chân nhang thắp hương mới.
Tích này được truyền nhau, cho là đáng tin nhất. Tổng, phủ báo lên trên, chép vào sử rằng Ngài đuổi giặc xong rồi hóa. Triều đình  sắc phong Hạ Đẳng Thần, lời bình giản đơn vì chả mấy bằng cớ. Dân Bùm chọn ngày lành làm giỗ, giao gia đình mười phân vẹn mười nuôi lợn béo cung tiến. Nhưng nhìn nấm mộ lùn giữa bãi ngô thấy côi cút thế nào. Phải có ngôi miếu. Nên bọn phú hào góp bạc, làng chọn xoan ngâm làm đòn, lên rừng ngả lim đóng bè xuôi dựng kèo cột, cất nóc xong to uỵch. Phải ghi công chàng thật dầy, cho mà xứng, hiếm hoi có dịp ý quan lòng dân gặp nhau. Nhưng bài vị ghi “Đại vương đánh tan giặc Tộ đến nơi này ngã xuống” thì sơ sài quá. Chả bằng những làng nấy tổng nọ, các vị chỉ đem về nghề đan quạt đẽo cày đã được phụng thờ nguy nga.
Xưa nay, Bùm độc những miếu, quán loi thoi giản tiện, ban thờ bày mâm xôi phẩm oản đã hết chỗ, có bao giờ được hãnh diện. Nên chi, Ngài phải hiển thân ra, có hình hài, gọi là “tượng”, để chúng sinh Bùm chiêm bái kính thương. Chứ chả nhẽ chỉ xì xụp xuông, sắc phong bộ Lễ ban cất vào đâu, rồi kẻ độc miệng được thể dèm pha bịa tạc. Được chọn, chả ai khác ngoài phó Nhan, tay thợ nổi danh tạo tác cỗ kiệu tám tráng đinh khiêng ngự đình làng, rồng phượng điểm nhãn xong như đang vút lên trời. Bạo chi cũng phải cố.
Nhẽ nữa, bên Phao Sơn có phủ Bà Chúa nguy nga, con nhang đệ tử đổ về nườm nượp. Cách dòng sông, đêm đêm còn thấy lửa đốt mã ngùn ngụt như đám cháy nhà, trống phách lên đồng vẳng sang dậm dật, bao nhiêu công đức giọt dầu đè chết người. Tưởng ra đầy tớ thủ từ mỗi sáng đổ mấy tải tiền ra đếm nhỏ máu mắt chưa hết, tức giận thay. Có tiền thành sang cả, đứa ăn mày dạt đến xin quét lá kín nước gặp tiên chỉ bên này, mặt cứ vác lên đài các.
Phó Nhan xấu người, một tay xách nặng, mắt hấp háy, những ngón tay lại to và khéo léo. “Bì sao bì phấn với vôi, là anh con một còn tôi con đàn”, thợ nơi nơi than thế khi so tài mình với gã. Làng giao việc trọng, gã được mụ vợ cả vú lấp miệng chồng cho buông hẳn vó bè ngoài sông. Sáng đôi chén tối cả cút, thịt thà ê hề xẻ trộm cho lũ trẻ háu đói. Người làng người họ chốc cho khúc cá kho nhát rá ổi mỡ. Được chiều thế mà tay thợ khéo mặt đăm đăm khó hệt táo bón, lượn lờ khắp nơi như thằng rồ, lúc về ngẩn ngơ chả nhận ra cổng tre nhà. Nhan qua sông Bùm ngày vài bận, bà quán bị ám quẻ đốt vía mãi, còn rủa thầm cho ngã xuống nước chết quách.
Cùng cảnh ngộ là đồ Hượu, mấy bận thi Hương ngã oạch, phẫn chí về gõ đầu trẻ vẫn là bồ chữ cả vùng. Được giao soạn văn tế Ngài dịp hô thần nhập tượng, lão cũng sướng hóa lẩn thẩn. Có bận hai kẻ đồng bệnh mang bọc thịt chó ra quán bến đò ngồi thối thây. Bà quán đuổi đi, bèn ngả dưới gốc gạo ngồi im phắc, các thức bỏ cho kiến tha.
Là vì các nhà người đứng trước núi mong mỏi lớn quá, lại rất oái oăm. Vốn dĩ phó Nhan tưởng ra thần thái giản dị, người đàn ông bận võ phục mang gươm, mặt chép lại các quan tướng được thờ nơi nơi: hàm vuông mày rậm mắt hổ, râu xoăn từ mang tai chồm xuống ngực. Đống đất sét ẩm ướt tượng hình xong, thử thôi, bác thợ cày vứt thịch ách trâu lầm bầm “Ngài sao có đầu được”. “Cưỡi trên lưng ngựa, bên dưới bệ thật cao nhìn lên mới kính ngưỡng”, chàng thư sinh phán. Rồi lão đánh dậm bìu dái đen xì, tay thợ rèn mặt nhọ chảo…, khiến Nhan chả dám ra chợ, đến đám cỗ cứ rúm tứ túc.
Đồ Hượu thì lo biết Ngài chui ra từ lỗ nẻ nào mà kể ra, đang không dựng thành có thế nào giời cũng phạt. Văn tự, chỉ là chữ viết trên giấy mà có hồn vía cả, kinh lắm. Nghệ nhân, kẻ sĩ rụt lại cả. Đâm một kỳ tiên chỉ tụ tập, chánh tổng sinh nộ khí. “Lắm mồm! Biết cái gì! Oi bức cứ bâu lại như lũ ruồi. Để yên cho chúng nó chọn”. Mới im im.
Ngay đêm ấy nhà phó Nhan nhộn nhịp. Cụ chánh  tươi cười bảo không phải nước nôi, ngó hòm gian thạp gạo, xuống bếp soát hũ muối. “Đạm bạc nhỉ”, nói rồi trầm giọng: “Ta có đứa con phải đậu mùa, mặt rỗ hoa. Nó sớm bỏ đi, thương lắm, muốn được in vào hình hài Ngài, chú xem xem…”.
“Nhưng Ngài không có đầu”, Nhan lúng búng. Cụ chánh ngẩn ra rồi quyết: “A, bận đánh nhau trong xới bạc nó bị chém xả cánh tay. Cứ thế mà làm, Ông Tướng có mồm đâu mà cãi. Thiên hạ phẩm bình thế nào đều là cứt chó, sợ cái đếch. Nhược bằng không nghe, ta cho nhà chú ba cái hạn lính thú, rồi ra chém tre đẵn gỗ trên ngàn tha hồ sướng, chứ lỵ!”. Nói xong về, bỏ lại nùi giẻ gói đôi khuyên  vàng.
Vợ Nhan đang khấp khởi ướm thì thầy lý rẽ bụi chuối bước ra, người còn đẫm sương. Nói ngay “Bàn chân trái anh có sáu ngón, muốn được lưu lại”, ra đi “quên” vuông lụa khổ rộng, đủ cho lũ trẻ xúng xinh đón hội Xuân.
Rồi là những trai cày gái góa, lũ lượt mà bí mật cho rượu, gạo, chục trứng gà, con trắm đen, thảy đều muốn in vào Ngài để được thiên hạ xì xụp. “Lo hão huyền, cái nhà anh gan thỏ đế”, mồm miệng cứ trơn tuồn tuột. Bô bô nhất là mụ dưa cà ngoài chợ, “Cái vại sành này muối nén muối xổi đều ròn sật, vàng ươm, không bao giờ bị kháng. Chú để cạnh tượng, đích thị Ngài thích ngửi chua chua”.
Gần sáng tưởng hết rậm rịch thì gã cung văn phủ Bà Chúa bên Phao Sơn hổn hển vào, vai thờ nặng trĩu tấm vàng tâm. “Năm kĩa cụ nhà đi anh ở xa khóc hết nước mắt, còn áy náy lắm. Sắp ngày sang cát, chú đem khúc này xẻ ra đóng cỗ quách, cụ nằm sẽ mát mẻ”. Tay này đàn ngọt hát hay, điệu chầu văn đang đằm bỗng đảo phách dậm dật hút hồn mẹ buôn chuyến, ả chồng đang canh giữ biên ải, đi đâu cũng sẵn vợ. Ý nguyện là Ngài mặc khăn chầu áo ngự nhang nhác thanh đồng cung văn. Còn chuyện Ngài là võ tướng phải giáp phục, chen thế nào đành nương vào tài khéo của Nhan.
“Cho quà lớn quá không dám nhận. Vả Ông Tướng không hóa bên ấy”. Nghe Nhan chối, tay cung văn tươi cười đến khéo: “Tôi đâu dám đút lót cậu. Không phải tốt lễ dễ kêu đâu. Đây còn là lòng thành của thanh đồng, thủ từ phủ Bà Chúa bên tôi kính dâng Ông tướng. Phao Sơn với Bùm, chả gì cũng cảnh chung gốc”. Rồi biến.
Hỡi ôi, bao nhiêu lộc nặng trĩu bấy gửi gắm, khiến tay thợ khéo cười xong lại khóc. Gốc gạo bến đò trưa ấy đồ Hượu cũng tiền rủng rỉnh mà thần sắc ngẩn ngơ. Đôi kẻ cùng cảnh ngộ không biết cách nào thoát ra, đang đần thối thì Xiển “rồ” lượn tới.
Gió đến a í a gió ơi thì lành
Nàng chua chanh ối a thì anh ối a
Bùm bùm là chát xình xình, thì anh hái phứa
Nghe câu hát dở hơi, thợ khéo bồ chữ nhìn nhau cả cười.
Ngày khánh thành miếu Ông Cụt, bến sông Bùm thành đám vỡ chợ. Ba gian mới chữ “Đinh” mọc lên còn thơm mùi gỗ, nhỏ bé chỉ ngả được mươi mâm cỗ nhưng ngùn ngụt khói nhang, hơi người đặc quánh. Đồ lễ đặt lên, dù vái xong phải hạ ngay vẫn không đủ chỗ, nên kê thêm dãy án ngoài sân, tín chủ tha hồ quỳ khấn. Thế mà người sau phải vái lưng người trước, kẻ xa quá châm bó hương ngùn ngụt ném phứa vào xin lấy được. Chinh xu tương rào rào nhặt mỏi lưng. Khói đốt mã đen góc trời. Đông chật, hỗn loạn, mà hương chức Bùm rạng rỡ hơi đồng, đều thầm cảm tạ. Tấu lạy Ông Tướng, chinh chiến, thương tích đâu đâu chả biết, lại chọn đất chúng con mà ngã.
Vậy mà chính điện, chỗ “chuôi vồ” lại im ắng tôn nghiêm. Ông Tướng vận giáp phục uy nghi, ngực vạm vỡ tấm hộ tâm, tay phải dựng cây giáo nhọn, tay trái cụt thõng thượt hồng hồng “máu”. Từ ngực trở xuống chả giống ai. Một chân trong hài, chân kia để trần, tinh ra đếm được sáu ngón. Áo quần nhiều lớp, thếp lụa mềm thếp óng ánh xếp như những tầng mây lại quấn quýt rồng phượng, nhang nhác bộ thanh đồng, cung văn bên Phao Sơn bận khi hầu bóng. Trên dưới “cãi nhau” vậy nhưng tượng được tạo tác công phu đấy, đất sét để ráo lại thếp vàng đủ chín lớp, vài trăm năm thần thái chắc chắn không suy xuyển.  Bên cạnh có vại dưa, chưa kể những tích nước bình vôi thậm vớ vẩn.
Không đầu nên chả biết Ông Tướng tức giận hay bằng lòng. Nhược bằng chẳng thì Bùm chúng con cũng điếc ạ.
“Tùng beng beng”. “Beng beng tùng tùng”.
Chiêng trống inh ỏi. Bãi sông đen đặc người. Vòng trong quan viên quỳ lậy, đứng lên xong sụp xuống, bên ngoài đoàn nữ quan mũ áo đỏ choét tiến hai lùi một. Mãi cũng đến lúc ắng lặng, để chủ tế cao giọng chúc văn. “Thuở Ngài sinh ra hoa ưu đàm nở thơm nức. Gia đình vốn bậc thi thư lại có nòi võ nghệ. Phải thế chăng, nên thuở bé khôi ngô dĩnh ngộ, lớn lên hàm vuông mắt hổ râu xùm xòa… Đuổi giặc đến bến sông Bùm thì đã mất đầu, bèn ngã xuống, thăng cho một giải được yên bình”.
Những nhời cảm động quá. Con đen con đỏ sắp hàng xì xụp, thành kính không thể tưởng. Lễ đặt, dù bề bộn mâm xôi gà sáu cựa ngậm hoa dâm bụt hay chỉ phẩm oản, gói bỏng, nhoáng cái phải hạ cho phần kẻ sau. Mặt hương chức hể hả, hòm công đức thoắt đã đầy, đổ ra cả tạ tiền với vòng xuyến. Phen này bên phủ Bà Chúa tha hồ tỵ mà chúng ông đây được nhờn mép.
Ngoài ruộng ngô, phó Nhan cùng đồ Hượu ngồi im phắc. Mâm rượu thịt thủ, đủ lá sung và mắm tôm mụ quán chanh chua biện cho chả động đến. Bái vọng Ông Tướng, cả đôi rống thầm “Lạy Ngài chúng con sợ ạ”, xong nắm tay nhau khóc khóc cười cười.
22/12/2024
Trần Chiến
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Còn đó ân tình

Còn đó ân tình Cuối cùng thì cô cũng phải ngã xuống với cái thân thể trong lượng nhẹ tênh, cân đo chỉ vừa đúng 36 ký lô so với chiều cao 1...