Lạc bước tịnh tâm
chiêm ngưỡng Nguyệt du cung
Nguyệt Du Cung
là nơi đâu và nơi đây thờ tự ai mà sao ngàn đời ai cũng biết?
Nguyệt Du Cung hay còn gọi là đền Cây Đa Bóng, di tích này nằm trong quần
thể di tích lịch sử - văn hóa Phủ Dầy (xã Kinh Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh
Nam Định). Đây là nơi thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh - một vị thánh mẫu biểu tượng
cho người phụ nữ Việt Nam gồm đủ đạo nghĩa: trinh – hiếu – từ vẹn toàn.
Huyền thoại đền xưa dưới
bóng đa
Du cung Nguyệt Lãng sáng
muôn nhà
Đêm xuân vọng tiếng thơ
ngâm vịnh
Hòa nhạc chầu văn Mẫu tỏa
xa.
Hình thành từ tín ngưỡng thờ
Mẫu
Từ xa xưa, dân quan có quan
niệm mọi vật đều sinh ra từ Mẹ. Chính vì thế, tín ngưỡng thờ Mẹ (thờ Mẫu)
đóng vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người Việt. Tại Phiên
họp Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11
của UNESCO diễn ra tại thành phố Addis Ababa, Cộng hòa dân chủ Liên bang
Ethiopia, di sản “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã
chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể.
Thánh Mẫu Liễu Hạnh được
coi là Mẫu Nghi Thiên Hạ. Bà là một trong ba vị thánh mẫu được tôn thờ (Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải). Đồng thời, Bà cũng là một trong bốn
vị thánh bất tử của dân tộc (Tản Viên Sơn Thánh, Phù Đổng Thiên Vương, Chử
Đồng Tử và Thánh Mẫu Liễu Hạnh). Vì thế, thờ mẫu thần, thờ mẫu tam
phủ, tứ
phủ là hiện tượng khá phổ biến và có nguồn gốc lịch sử và xã hội
sâu xa từ đó.
Thánh Mẫu Liễu Hạnh là ai?
Tương truyền, Thánh Mẫu Liễu
Hạnh là con gái Ngọc Hoàng được cắt cử trông coi cung điện thứ hai nên có
tên là tiên Chúa Đệ nhị Quỳnh Nương. Trong một buổi yến tiệc ở thiên
đình, Đệ nhị Tiên Chúa nhỡ tay làm vỡ chén ngọc. Ngọc Hoàng nổi giận bèn
đầy xuống trần gian làm giáng tiên. Trong khoảng thời gian giáng trần,
Thánh Mẫu trải qua hai lần đầu thai. Riêng lần thứ hai đầu thai đúng
vào ngày rằm tháng tám trời trong như ngọc, đất tựa dát vàng,
hoa nở bừng tươi, hương bay ngào ngạt… Hai mươi mốt năm sau, vào ngày
mùng 3 tháng 3 năm Đinh Sửu (1577) tiên chúa trở về Trời. Phần mộ của
nàng được nhân dân an táng tại cồn cây tươi tốt ở khu Mưỡu tại cánh đồng
xứ Cây Đa. Ở trên thượng giới, Tiên Chúa vẫn ngày đêm khắc khoải không
sao quên được tình nghĩa trần gian, Ngọc Hoàng biết chuyện, thương tình
phong cho nàng là Liễu Hạnh công chúa và cho phép nàng được thăm lại chốn
cũ người xưa ở trần gian. Từ đó, vào những đêm trăng sáng đầy
trời, Liễu Hạnh công chúa lại dẫn một đoàn tiên nữ xuống quây quần múa
hát bên gốc cây đa. Dân làng thầm lặng dõi theo dần dần nhận ra đây là điềm
linh thiêng, linh ứng mới bàn nhau lập miếu thờ dưới gốc cây đa nên thường
gọi là đền Cây Đa Bóng hay Phủ Bóng. Sau này, người dân thường thấy Tiên
Chúa và tiên nữ múa hát dưới trăng lại đặt tên đền là Nguyệt Du
Cung.
Nghệ thuật của một công
trình hoàn hảo
Nguyệt Du Cung toạ lạc
ở phía Tây Nam lăng Thánh Mẫu Liễu Hạnh, cửa phủ hướng về Lăng Mẫu. Đây
là một công trình kiến trúc khang trang với 4 cung trùng thềm điệp ốc.
Phía ngoài sân đền là Tam quan mái cong rất ấn tượng, nổi lên lầu chuông
thật uy nghi. Nơi đây còn lưu giữ pho tượng Mẫu cổ bằng đồng, cao khoảng
60 cm đặt tại cung Đệ Nhất.
Chiếc trống đồng cổ được
đúc theo kiểu trống da, có tang và đai trống, nhưng âm thanh chẳng khác
gì trống đồng Đông Sơn. Chiếc trống này được đúc thời Vua Thành Thái, tức
năm Giáp Thìn (1904) do tri phủ Nguyễn Hưng Trần Tướng Công cùng phu nhân
cống tiến. Trong đền có một số cổ vật quý như đôi chéo có khắc chữ chìm.
Bát hương lớn bằng sứ cao
50cm được tráng men xanh họa tiết đôi rồng chầu uốn lượn trong mây lửa và
in chìm dòng chữ “Tiên Hương – Nguyệt Du Cung”…
Nguyệt Du Cung còn lưu giữ
nhiều bia đá có giá trị. Hai tấm bia đá được khắc vào năm Bảo Đại thứ 4
(1929) là “Nguyệt Du Cung bi ký” và Nguyệt Du Cung từ bi ký. Bia “Khải
Thánh từ bi ký” ở đền Khải Thánh Tiên Hương khắc năm Bảo Đại thứ 13
(1938).
Năm 1911, đồng quan Trần Vũ
Thực ở Nguyệt Du Cung đã cùng dân làng mở rộng thêm hai cung ngoài ở Đông
tỉnh linh từ. Hai cung ngoài trùng thiềm, mặt tiền xây ba cửa cuốn. Trên
mái cung đắp cuốn thư có đề ba chữ Hán: “Thủy Tiền Từ” (đền Mẫu Thoải).
Gian giữa đặt tượng và điện thờ Thánh Mẫu thủy cung.
Năm 1930, Lăng Mẫu được đệ
tử Đào chi ở Huế xin được tôn tạo. Năm 1936, Lăng Mẫu được phép xây dựng
bằng đá. Được sự giúp đỡ của Đồng quan Trần Vũ Thực, năm 1938, lăng đá
Thánh Mẫu Liễu Hạnh được hoàn thành.
Trên các cột đá trong lăng
có khắc hơn 60 câu đối. Trong đó, 50 câu là của đệ tử Đào chi họ Huế. Đầu
cột đá đều đặt hoa sen đá màu hồng. Các câu đối đều ca ngợi và tôn vinh
Thánh Mẫu Liễu Hạnh
Theo các nhà Phong thủy học
nhận xét khu di tích địa linh này như sau: Phía trước Đền là tiền đường
có hướng chầu vào khu lăng mộ Đức Thánh Mẫu. Phía đằng sau dựa vào đỉnh
núi Côi. Hai bên tả hữu đều có Thanh Long, Bạch Hổ cân bằng. Bên tả Thanh
Long có thế uốn lượn hiền hoà, ôm bao. Hữu Bạch Hổ có thế cao đầy, vun
vút. Nhìn từ xa xa, Nguyệt Du Cung trông giống hệt như một chiếc Ngai
Quan lớn rất vững trãi và uy nghi nằm ở ngay trung tẩm của Quần thể Phủ
Dày. Tiếp đến thời Nhà Nguyễn – Thành Thái (1889 – 1906) cụ Đồng quan Trần
Vũ Thực đã để tâm xây dựng và mở rộng, Nguyệt Du Cung có điện thờ nguy
nga, tráng lệ. Bởi thế các nhà nho, nhà thơ thời bấy giờ đã tốn không ít
giấy mực đề thơ, câu đối vịnh cảnh đẹp tại khu Đền này:
“Thiên bản địa linh lưu
Thánh tích
Nguyệt Du thuỷ hoạt tố tuyên nguyên”
Dịch nghĩa là:
Thiên
bản đất thiêng in dấu Thánh.
Nguyệt Du nước chảy dõi nguồn tiên.
Các nhà quản lý, nghiên cứu
văn hóa nhận xét đền Cây Đa Bóng Nguyệt Du Cung không chỉ là Di sản
Văn hóa có giá trị lịch sử độc đáo, đặc sắc mà còn có vị thế của một
trung tâm tín ngưỡng thờ Mẫu nằm trong quần thể Phủ Dầy. Đặc biệt, trong
cuốn “Đạo Mẫu Việt Nam” xuất bản năm 1996 của GS.TS Ngô Đức Thịnh khẳng định
Phủ Bóng thờ Hội đồng các bóng, các giá. Người có đồng phải trình đồng ở
đây trước khi hầu đồng ở các di tích trong quần thể Phủ Dầy.
Có thể nói, đến Nguyệt Du
Cung, ta không cảm thấy sự xa xôi, thần bí của thế giới tâm linh với dòng
chảy cuộc sống. Nơi đã khơi dậy sự đồng cảm, đồng điệu với người xưa và
trái tim của mỗi con người thực sự rung cảm trước những trang huyền thoại
mới. Chính sự gần gũi, ấm áp mà đầy ắp nhân văn mà khách thập phương đã
nhớ tới Nguyệt Du Cung như một điểm hẹn văn hóa tâm linh, với lòng tôn
kính và tình cảm đặc biệt.
Hồng Liên
Theo http://www.nguoihanoi.com.vn/
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét