Phạm Duy: Vẫn còn đó nỗi buồn
Bích Liên (bên trái), Khánh Ly, Mai Hương, Phạm Duy
và Nguyễn
Thành Vân trong đêm nhạc Văn Cao, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn do Việt Arts
Association tổ chức, San Jose tháng 10.1998.
Trong vài tháng qua có những buổi trình diễn nhạc Phạm Duy ở
Hà Nội. Báo chí trong nước đã viết nhiều về những sinh hoạt văn nghệ này và độc
giả có thể hiểu đó lại như là một cách phô trương chính sách hoà giải của nhà
nước đối với người Việt ở nước ngoài.
Mấy năm trước đây khi nhạc sĩ Phạm Duy quyết định về sống cuộc
đời còn lại của mình trên mảnh đất đã sinh ra ông, tại hải ngoại đã có người
lên án quyết định của ông. Trong nước có nhiều lời khen về sự trở về của người
nhạc sĩ đã “khóc cười theo vận nước nổi trôi” nhưng cũng có những tiếng nói phản
đối cho rằng một nghệ sĩ đã bỏ kháng chiến về thành, rồi vào miền Nam sinh sống,
sáng tác nhiều bài ca mang tính “phản động” thì không đáng được vinh danh.
Sự trở về của Phạm Duy đưa đến một vài quyết định của cơ quan
văn hoá thông tin cho phép phổ biến, tức không còn cấm, một số sáng tác của nhạc
sĩ này. Con số ghi nhận cho đến nay là khoảng 50 bài nhạc Phạm Duy đã được
chính thức cho phép phổ biến lại [1], trong số đó có một số bài được nhiều ca
sĩ thể hiện, qua các CD sản xuất trong nước, như “Ngày xưa Hoàng thị”, “Ngậm
ngùi”, “Tiếng đàn tôi”, “Tiếng sáo Thiên Thai”. Ngoài ra cũng đã có ít nhất hai
chương trình nhạc Phạm Duy được tổ chức tại Sài Gòn, sau đó hãng phim Phương
Nam sản xuất thành DVD phổ biến trong và ngoài nước, trong đó có chương
trình Phạm Duy: Ngày trở về.
Ca khúc "Để lại cho em", phổ nhạc từ thơ Nguyễn Đắc
Xuân
trước năm 1975. Phạm Duy viết lại và phổ biến
tại Hoa Kỳ cuối thập niên
1970.
So với gia tài âm nhạc mà Phạm Duy đã để lại thì 50 bài hát
chỉ là một con số nhỏ. Nhưng quan trọng hơn cả là sự kiện khi lên phát biểu
trong đêm văn nghệ ở Hà Nội mới đây nhạc sĩ Phạm Duy đã phải cầm giấy đọc, như
bạn đọc Thanh Tâm đã nhận xét. Đây không phải lần đầu Phạm Duy cầm giấy đọc trước
khán giả. Trong các chương trình ca nhạc tổ chức ở Sài Gòn vài năm trước đây Phạm
Duy cũng trong tình cảnh đó khi lên sân khấu. Một sự việc mà khán giả nước
ngoài có lẽ chưa bao giờ thấy Phạm Duy làm như thế.
Cuối năm 2003 tôi có dịp phỏng vấn nhạc sĩ Phạm Duy. Bài phỏng
vấn này đăng lần đầu trên tuần báo Việt Mercury ở San Jose, nay đã
đình bản, vào dịp Tết 2004; sau đăng lại trên vietbao.com ngày
9.11.2004 nhân dịp thân hữu miền Nam California tổ chức mừng sinh nhật lần thứ
84 của Phạm Duy.
Khi nhạc sĩ chính thức trở về sống tại Việt Nam thì trang nhà
của Phạm Duy cũng không còn nữa vì thế độc giả không thể tìm đọc hồi ký của ông
qua mạng.
Những năm cuối ở bậc trung học tôi có người bạn thân sống
trong khu cư xá Chu Mạnh Trinh, ngã tư Phú Nhuận, Sài Gòn. Sau những giờ học
chúng tôi hay kéo nhau về những hàng quán ở đầu ngõ cư xá để ăn bò viên, chè
sâm bổ lượng.
Nhiều buổi chiều ngồi ăn uống chúng tôi thấy nhạc sĩ Phạm Duy
thả bộ ra đầu ngõ mua báo, có khi thấy ca sĩ Duy Quang lái xe mẹc-sơ-đéc đi ra,
có khi lại thấy Thái Hiền đạp xe đi đi, về về. Lần đầu tiên thấy người nhạc sĩ
với dáng đi gật gù, anh bạn hất đầu nói với chúng tôi: “Bố Phạm Duy đấy”. Từ đó
trong anh em chúng tôi mỗi khi nhắc đến Phạm Duy thì thường gọi là “Bố” luôn.
Ngày đó ngoài việc học chúng tôi còn hay ôm đàn ghi-ta, nghêu
ngao hát tình ca, hát những lời ca phản ánh tình cảnh quê hương: “Nghìn trùng
xa cách”, “Gia tài của Mẹ”, “Trả lại em yêu”, “Huế Sài Gòn Hà Nội”, “Tóc mai sợi
vắn sợi dài”, “Người già và em bé”, “Để lại cho em”, “Tôi sẽ đi thăm”, “Thà như
giọt mưa”, “Lời chào bình yên”, “Kỷ vật cho em”, “Còn chút gì để nhớ”, “Ca dao
Mẹ”. Những bài hát, lời ca của hai nhạc sĩ Phạm Duy và Trịnh Công Sơn mà chúng
tôi yêu thích nhất. Đó là những nỗi buồn ray rứt của tình yêu, nỗi đau của thân
phận quê hương và cũng là những ước mơ hy vọng của thanh niên lớn lên trong một
đất nước phân chia, mịt mù khói lửa chiến tranh. Những lời nhạc chúng tôi thuộc
phần nhiều nghe được từ những quán cà phê.
Biến cố 30.4.1975 đưa tôi xa rời Việt Nam, chuyên chở trong
tim tình cảm quê hương thương nhớ qua những dòng nhạc của Bố và cứ lo sợ những
lời ca, tiếng nhạc đó sẽ bị mất đi mãi mãi. Lúc biết Bố ở Florida, tôi gửi thư
mua băng nhạc, ấn phẩm của Bố. Tiếng hát giờ chỉ còn Thái Hằng là mẹ, Thái Hiền
là con vì định mệnh đã an bài Thái Thanh cùng những người con trai của Bố phải ở
lại bên kia bờ đại dương. Nhạc in lại do Bố viết tay, nét chữ bay bướm, lả lướt
- bây giờ nét chữ của Bố cũng vẫn thế - có nhiều bài in rời trên những tờ giấy
cứng màu cam, chữ nâu.
Tôi thấy lại Bố trên đất Mỹ khi ban nhạc Gia đình Phạm Duy -
giờ chỉ có Bố ôm đàn cho ba mẹ con Thái Hằng, Thái Hiền và Thái Thảo hát - kéo
nhau đến vùng Vịnh San Francisco “hát xẩm”, tiếng Bố đặt cho những buổi đi
trình diễn trong cộng đồng người Việt thời đó, phần tư thế kỷ trước.
Ngục ca, 20 bài thơ của Nguyễn Chí Thiện do Phạm Duy
phổ nhạc,
Hội Văn hóa Việt Nam tại Bắc Mỹ in năm 1982
Khi Ngục ca ra đời thì Bố đã về miền Nam Cali nắng ấm.
Thơ Ngục sĩ vừa phổ biến ở Mỹ vào đầu năm 1980, không lâu sau Bố phổ nhạc 10
bài, rồi 20 bài Ngục ca. Sinh viên Đại học U.C. Berkeley tiên phong tổ chức
những “Đêm nghe Tiếng vọng từ đáy vực”. Tôi liên lạc và được Bố gửi ngay cho
băng và tập nhạc. Nhạc của Bố thật dễ hát. Sinh viên chúng tôi được ca sĩ Thu
Hà - nay là bác sĩ Nguyệt -của ban Tam ca Đông Phương ngày trước giúp tập dượt
nên chỉ vài ba lần là có thể lên sân khấu trình diễn. Tôi thích nhất “Những thiếu
nhi điển hình chế độ”, “Chuyện vĩ đại bi ai”, “Sẽ có một ngày”.
Theo năm tháng, tôi hân hoan đón nhận những sáng tác, cải tiến
theo thời đại trong nét nhạc của Bố: Bầy chim bỏ xứ, Rong ca, Thiền ca,
Hàn Mặc Tử ca. Những ca khúc trong hai trường ca Mẹ Việt Nam, Con đường
cái quan nay được hòa âm và phổ biến dưới dạng CD giúp sinh viên làm văn
nghệ dễ dàng hơn, lôi cuốn hơn. Tôi cũng thường nghe lại Đạo ca do bố
phổ nhạc từ thơ Phạm Thiên Thư như là những lời nhắc nhở về triết lý nhân sinh
trong cuộc sống.
Cuối năm ta, tôi được tản mạn qua e-mail với Bố.
Bùi Văn Phú: Năm nay Bố bao nhiêu tuổi rồi? Bố cầm tinh
con gì?
Phạm Duy: 82 years young. Tuổi con gà, Tân Dậu.
Nghĩ lại từ ngày Bố có trí nhớ, hình ảnh đầu tiên nào về nước
Việt Nam còn in sâu trong tâm tưởng của Bố?
Việt Nam thanh bình, thành phố lặng lẽ, đồng quê êm đềm, người
dân ở mọi nơi hiền hậu, ai cũng tốt bụng hết.
“Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời người ơi…” Trong
khung cảnh, tâm trạng nào Bố đã sáng tác bản “Tình ca” bất hủ đó?
Năm 1953. Từ kháng chiến trở về Hà Nội, rồi vào Nam đã thấy
mình độc lập rồi, cần đưa ra một bài hát tình tự quê hương trong đó bản sắc quốc
gia nổi bật: người Việt Nam khác người Tàu, người Tây ở tiếng nói, cảnh vật và
con người. Bản nhạc này cũng là tuyên ngôn đầu tiên của tôi. Nghĩa là âm nhạc của
tôi phải “khóc cười theo mệnh nước”, phải khởi hành từ dân ca, phải yêu quý non
sông Việt Nam, phải xót thương người quê, mẹ quê, bé quê. Đó là bài thứ hai
trong loại Tình tự Quê hương, Tình tự Dân tộc. Những bài khác, trước sau là
“Tình hoài hương”, “Bà mẹ quê”, “Em bé quê”, “Vợ chồng quê”, qua những dân ca,
trường ca, tổ khúc rồi liên tục cho tới Minh họa Kiều bây giờ.
Hai bài “Tình ca” và “Việt Nam, Việt Nam” có liên hệ gì với
nhau?
Chỉ là một loại: tình ca quê hương, tình tự dân tộc. Không có
hai thứ “tình” đó thì sẽ cứ loạn ly hoài hoài.
Trong nhạc của Bố, nhiều khi là sông và nước. Đặc biệt bài
“Thuyền viễn xứ” đã là câu hát trên môi đưa Phú rời xa Việt Nam bằng tàu, mắt
nhòa lệ vì không biết trôi dạt đi đâu. Nguồn cảm hứng nào đưa Bố đến với “Thuyền
viễn xứ”?
“Thuyền viễn xứ” ra đời đúng lúc một triệu người - trong đó
có gia đình tôi - di cư vào Nam, ai cũng nhớ miền Bắc với con sông Đà Giang, với
hình ảnh con thuyền, hình ảnh bà mẹ già là những gì tiêu biểu. Lúc đó nhổ neo từ
Bắc vào Nam đã là viễn xứ rồi. Bây giờ mới thực là viễn xứ xa xôi, cánh máy bay
hay thuyền buồm đưa ta ra đi “nghìn trùng xa cách!”
So sánh bài hát trên với bài “54 cha bỏ quê, 75 con bỏ nước”
[2] thì sao?
[Nhạc sĩ Phạm Duy xin không trả lời câu hỏi này.]
Nhiều bài hát khác của Bố cũng có sông, nước, như “Viễn du”,
“Chiều về trên sông”. Bài thứ hai Bố muốn nói đến con sông nào?
Cửu long giang.
Đây cũng là một bài trong Trường ca Mẹ Việt Nam?
Truờng Ca Mẹ Việt Nam là một tác phẩm có tính cách tượng
trưng (symbolic). Những con sông tượng trưng cho các con của Mẹ. Thành ra không
cần mang tên là Cửu long giang, Hồng hà, Sông Lô hay sông gì gì đó.
Gần một phần ba đời, Bố sống ở nước ngoài và có nhiều sáng
tác, trường ca cũng như đoản khúc. Những loại ca khúc nào phản ánh đúng một Phạm
Duy sống lưu vong nhất?
Chúng ta phải theo thuyền viễn xứ ra đi, thấm thoát đã gần 30
năm rồi. Trong thời gian này, có người không chịu thay đổi gì hết, có người
không chịu để tâm hồn bị đóng khung một chỗ. Nhạc Phạm Duy trong 30 năm nay,
nghiên cứu kỹ sẽ là nhạc đa dạng, loại nhạc này, loại nhạc nọ đều phản ánh trung
thực cuộc đời trước mặt.
Giờ xin hỏi Bố về những ca khúc gắn liền với chiến tranh như
“Nhớ người thương binh”, “Tưởng như còn người yêu” và “Kỷ vật cho em”. Ca khúc
sau có người cho là mang tính phản chiến. Nếu so sánh với Trịnh Công Sơn trong
“Cúi xuống thật gần” hay “Hát trên những xác người” thì cũng chỉ là diễn tả những
đau thương có thực, phải không Bố?
Nghệ sĩ thuộc loại giết người thì mới có những bài mang tinh
thần “hiếu” chiến. Nghệ sĩ chân chính là phải biết “khóc” theo hệ lụy của cuộc
đời, là chiến tranh và ly loạn.
“Mang giầy vớ tốt, mang khăn áo lành. Tôi chào đất nước tôi
nay thái bình…” là lời của một Bình ca. Lúc Bố viết bài này, đầu thập niên
70, thì nước mình có hòa bình không?
Trong loại Bình ca này còn có thêm bài “Dường như
là hòa bình”.
Dân Việt mình có bao giờ được hưởng hòa bình chưa?
Dường như là hòa bình mà thôi.
Còn bài “Chúa Hòa bình” có lời rằng: “Nếu có ai giận dữ, nếu
có ai bất hòa, sẽ tát tôi một cái, tôi chìa luôn ngay má kia…” Bố muốn nhắn gửi
gì qua bài hát đó và tại sao Bố lại đề tặng cho Linh mục Đinh Bình Định?
Mười bài bình ca, trong đó có những bài “Chúa Hòa bình”, “Sống
sót trở về”, “Lời chào bình yên” v.v… không nói tới hòa bình trên đất nước, mà
nói tới hòa bình trong lòng người. Hòa bình trong lòng người mới là quan trọng.
Lòng người Việt Nam than ôi, bị chiến tranh và chính trị lũng loạn. Tôi tặng
bài “Chúa Hòa bình” cho Linh mục Đinh Bình Định vì ông rất yêu nhạc Phạm Duy.
Ông mời tôi và các con tôi tới thánh đường để hát bài đó. Lúc đó ông cũng còn
là người đấu tranh chống tham nhũng nữa.
Trong những chuyến đi Việt Nam, Phú được nghe lại “Huyền sử
ca một người mang tên Quốc” vang vang trong một xóm dân lao động; nghe “Nha
Trang ngày về”, “Còn chút gì để nhớ” ở một thành phố biển. Nhạc của Bố có được
phổ biến trong nước không? Hay đây chỉ là những sự tình cờ?
Người dân ở vùng biển đó đã theo đúng khẩu hiệu của tôi ngày
xưa: “đường ta ta cứ đi, nhà ta ta cứ xây, ruộng ta ta cứ cày”. Bây giờ họ chủ
trương: “thuyền ta ta cứ bơi, biển ta ta cứ câu, nhạc hay ta cứ hát”, bất chấp
bài hát bị cấm hát hay được phép hát. Phép vua thua lệ làng mà.
Những bài Đạo ca như “Một cành mai”, “Suối mây hồng”,
“Quán thế âm”, “Đại nguyện” ra đời trong hoàn cảnh nào?
Tạm buông rơi nhạc tình ca, nhạc xã hội năm 1972, tôi làm bạn
với nhà thơ Phạm Thiên Thư để soạn nhạc tâm linh. Đạo ca đã được nối
tiếp bằng Rong ca, Thiền ca, Hàn Mặc Tử ca… vì tôi đã thấy trước việc người
Việt Nam sẽ có ngày trở về với mình, tức là về với tâm linh đó, sau khi cái
“tâm” đã hết bị giao động. Hình như bây giờ là lúc “gạn đục khơi trong,” tâm hồn
lắng xuống, con tim đập đều, nhiều người trong chúng ta đang lắng tai nghe nhạc
tâm linh. Ham đi chùa, ham tới giáo đường tức là đã nghe được tiếng mõ chuông.
Tiếng mõ chuông, tiếng niệm kinh, tiếng cầu kinh cũng là một thứ nhạc tâm linh
đấy.
Tại Đại học Berkeley năm 1995 Phạm Duy đã phát biểu:
"Nhạc
của tôi đi vào lòng người thì dễ, nhưng đi vào
lòng ông Đỗ Mười sao khó thế!"
Trường ca Con đường cái quan Bố viết từ cả nửa thế
kỷ trước. Gần đây Bố có đi lại con đường xuyên Việt đó chứ? Cảm giác của Bố so
với gần nửa thế kỷ trước?
Yes. Tôi đã có hạnh phúc to lớn là được đi lại suốt dọc Con
đường cái quan, chụp ảnh, quay phim những nơi tôi soạn ra những bài hát đầy kỷ
niệm. Ví dụ tới Lạng Sơn, ngồi trên cột Cây số 1, nghe reo lên trong lòng bài
“Nương chiều”, hay bài “Bông lau rừng xanh pha mầu”. Vào miền Trung, tìm về tận
nhà của “Bà mẹ Gio Linh”. Rảo Chơi trên bãi biển Nha Trang hay trên đồi hồng Đà
Lạt để tìm hình bóng xưa, ôi biết bao là thương mến. Tôi thật là có phúc.
Quê hương mình giờ đây có còn gì gợi hứng cho Bố sáng tác?
Soạn nhạc cho quê hương, cho dân tộc, tôi chỉ còn mắc nợ với
ông Nguyễn Du và cô Thúy Kiều 45 phút âm nhạc - mà tôi đang hoàn tất - nữa
thôi. Xong rồi thì tôi giải nghệ hoàn toàn.
Nhạc Phạm Duy với giọng hát Thái Thanh đã được nhiều người mê
thích, sau năm 1975 thì ca sĩ nào thể hiện nhạc của Bố hay nhất?
Nhiều ca sĩ có giọng tốt, nhưng đa số không hiểu linh hồn của
bài ca. Thái Thanh rất intelligent (thông minh), hiểu ngay và đem linh hồn bài
ca vào giọng hát Nàng.
Bố có nhận xét gì về những nhạc sĩ trong nước thời nay như
Dương Thụ, Bảo Chấn, Thanh Tùng?
Tôi không biết một tí gì về các nhạc sĩ đó cả nên không có ý
kiến.
Còn về các ca sĩ như Hồng Nhung, Mỹ Linh, Trần Thu Hà, Lam
Trường thì sao?
Tôi chưa được nghe các ca sĩ đó hát. Chỉ quen biết Hồng
Nhung, ăn cơm với nhau vài lần và nghe vài dĩa hát của nàng. Nàng hát rất khỏe,
hát nhạc Trịnh Công Sơn rất hay, hình như chưa hát nhạc Phạm Duy, thành ra chưa
biết ra sao.
Ca sĩ hải ngoại, ai có triển vọng sẽ mãi mãi đi vào lòng người
Việt hải ngoại?
Tôi ít đi nghe nhạc ở bên Mỹ nên không có ý kiến.
Bố đã sống rất thọ, 82 rồi còn gì. Nhìn lại đời mình, Bố có
gì hài lòng, cũng như thất vọng?
Hài lòng vì được làm những gì mình muốn trong suốt một đời,
nhờ được may mắn có tự do sáng tác. Không có tính tham lam nên chẳng bao giờ thất
vọng cả.
Còn nhìn về đất nước, con người Việt Nam trong suốt cuộc đời
Bố, Bố có nhận xét gì?
Tôi đã về hưu và có lời tạ ơn tất cả dĩ vãng, trong đó có đất
nước và con người, bằng chương 29 trong hồi ký tập 4…, như thế còn cần nhận xét
gì nữa.
Giờ hỏi Bố chuyện ngày xuân. “Xuân trong tôi, đã khơi trong một
đêm vui…” bản “Xuân ca” đó bố viết năm nào?
Tôi có nhiều bài hát về mùa xuân: “Xuân ca”, “Hoa xuân”,
“Xuân thì”, “Xuân nồng”, “Trên đồi xuân”, “Thiền ca xuân”, “Mùa xuân yêu em”,
“Mừng xuân”. Bài “Xuân ca” soạn vào khoảng năm 1953 nói rằng: “mùa xuân đầu
tiên của ta khởi sự vào đêm động phòng của cha và mẹ, sét nổ của cha làm chói
chan lòng mẹ, làm thành mùa xuân của ta!”
Năm con Dê sắp đến Bố có những chương trình sinh hoạt gì?
Vài ba nơi đã mời tôi và các con đi trình bày chương
trình Phạm Duy: một đời nhìn lại. Có nơi mời trình diễn Minh họa Kiều.
Dĩa nhạc Ái Vân hát dân ca Phạm Duy đang trong giai đoạn “final mixing.”
Còn hồi ký của Bố, bao giờ tập kế tiếp sẽ xuất bản?
Hồi Ký tập 4 đã hoàn tất từ năm 2000. Tôi không ấn hành vì in
sách là lạc hậu rồi. Tôi làm thành một thứ E-book và cho lên NET. Mời độc giả đọc
“free” vì tôi đủ sống rồi, không cần tới tiền bản quyền nữa. Mời dzô website:
www.phamduymusic.com
Cuối cùng, cám ơn Bố đã để lại cho đời quê hương và tình người
với biết bao yêu thương, trìu mến.
Sau bài phỏng vấn này ít tháng, nhạc sĩ Phạm Duy phổ biến
trong giới thân hữu hai CD: Hương ca gồm 14 sáng tác mới nhất viết về
quê hương và những ca khúc phổ thơ của thi sĩ trong và ngoài nước, và Minh
họa Kiều 3 là chủ đề mà nhạc sĩ đã liên tục sáng tác trong vài năm qua.
Dù tuổi đời đã 84, hai tác phẩm trên cho thấy sức sáng tạo của
nhạc sĩ Phạm Duy cũng vẫn còn rất phong phú.
DVD Phạm Duy: ngày trở về do hãng phim Phương Nam
sản xuất
năm 2006 [ảnh trong bài của tác giả]
[1] Ghi lại từ báo chí trong nước, những bài hát sau đây của
Phạm Duy đã được nhà nước cho phép phổ biến: Áo anh sứt chỉ đường tà, Bà me Gio
Linh, Bà mẹ quê, Cành hoa trắng, Cây đàn bỏ quên, Chỉ chừng đó thôi, Chiếc kẹp
tóc thơm tho, Chuyện tình buồn, Cỏ hồng, Con đường tình ta đi, Còn gì nữa đâu,
Đố ai, Đưa em tìm động hoa vàng, Đường em đi, Em bé quê, Em lễ chuà này, Gánh
luá, Hoa xuân, Hoa xuân ca, Kiếp nào có yêu nhau, Kỷ niệm, Mộ khúc, Ngậm ngùi,
Ngày đó chúng mình, Ngày trở về, Ngày xưa Hoàng thị, Nghìn trùng xa cách, Nha
Trang ngày về, Nụ tầm xuân, Nương chiều, Ông trăng xuống chơi, Phượng yêu, Quê
nghèo, Rồi đây anh sẽ đưa em về nhà, Tây tiến, Thương tình ca, Thuyền viễn xứ,
Tiếng đàn tôi, Tiếng sáo Thiên Thai, Tìm nhau, Tình ca, Tình Cầm, Tình hoài
hương, Trăm năm bến cũ, Tuổi ngọc, Vợ chồng quê, Vô thường, Xuân ca.
[2]
Một ngày năm bốn, cha bỏ quê xa
Chốn đã chôn nhau, cắt rốn bao nhiêu đời
Một ngày năm bốn, cha bỏ phương trời
Một miền Bắc tối tăm mưa phùn rơi
Một ngày năm bốn, cha bỏ Sơn Tây
Dắt díu con thơ, vô sống nơi Biên Hòa
Dù là xa đó, cũng là nước nhà
Và miền nắng soi vui gia đình ta!
Chốn đã chôn nhau, cắt rốn bao nhiêu đời
Một ngày năm bốn, cha bỏ phương trời
Một miền Bắc tối tăm mưa phùn rơi
Một ngày năm bốn, cha bỏ Sơn Tây
Dắt díu con thơ, vô sống nơi Biên Hòa
Dù là xa đó, cũng là nước nhà
Và miền nắng soi vui gia đình ta!
Một ngày bảy lăm, con bỏ nước ra đi
Hai mươi năm là hai lần ta biệt xứ
Giờ cha lưu đày ở nơi trên đất ta
Và giờ con lưu đày ở đây nơi xứ lạ!
Một ngày năm bốn, cha lià quê hương
Lánh Bắc vô Nam, cha muốn xa bạo cường
Một ngày bảy lăm, đứng ở cuối đường
Loài quỷ dữ xua con ra đại dương!
Hai mươi năm là hai lần ta biệt xứ
Giờ cha lưu đày ở nơi trên đất ta
Và giờ con lưu đày ở đây nơi xứ lạ!
Một ngày năm bốn, cha lià quê hương
Lánh Bắc vô Nam, cha muốn xa bạo cường
Một ngày bảy lăm, đứng ở cuối đường
Loài quỷ dữ xua con ra đại dương!
Một ngày năm bốn, xa mộ ông cha
Với lũy tre xanh, khóm chuối bên sau nhà
Một ngày năm bốn, cha phải chia lià
Cùng mảnh đất, nóc gia cha làm ra
Một ngày năm bốn, ôi Thành Đô ơi!
Tiễn bước cha đi, vẫn giữ tên muôn đời
Hà Nội yêu quý không thể ngăn người
Vì người đã ra đi theo Tự Do
Một ngày năm bốn, cha phải chia lià
Cùng mảnh đất, nóc gia cha làm ra
Một ngày năm bốn, ôi Thành Đô ơi!
Tiễn bước cha đi, vẫn giữ tên muôn đời
Hà Nội yêu quý không thể ngăn người
Vì người đã ra đi theo Tự Do
Một ngày bảy lăm, con bỏ hết giang sơn
Hai mươi năm tình, yêu người yêu cuộc sống!
Giờ nơi nước mình niềm đau thay nỗi vui
Sài Gòn đã chết rồi, phải mang tên xác người
Một ngày dĩ vãng, ôi gần hay xa!
Đất nước hai phen chứng kiến bao chia lìa
Đời của cha con: hai lần vẫy chào
Chào từ giã quê hương trong hận đau
Hai mươi năm tình, yêu người yêu cuộc sống!
Giờ nơi nước mình niềm đau thay nỗi vui
Sài Gòn đã chết rồi, phải mang tên xác người
Một ngày dĩ vãng, ôi gần hay xa!
Đất nước hai phen chứng kiến bao chia lìa
Đời của cha con: hai lần vẫy chào
Chào từ giã quê hương trong hận đau
Đời hai lần ta bỏ quê bỏ nước
Phải nuôi ngày sau về ôm Tổ Quốc.
Phải nuôi ngày sau về ôm Tổ Quốc.
31/3/2009
Bùi Văn Phú











Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét