Từ một giấc mơ đã trở thành
Trong những câu chuyện có tính lịch sử viết về các bậc tiên đế,
các danh thần và các anh hào nhân kiệt một thời từ xửa xưa cho đến các triều đại
sau này, người ta thường dựa vào các dữ liệu của lịch sử, dã sử, các thần tích
thần phả, giai thoại, huyền thoại, truyền miệng dân gian, thậm chí có cả sự suy
luận, hư cấu của nhiều tác giả nữa …
Ai cũng biết rằng truyền miệng thì tam sao thất bản mà chuyện
lịch sử, dã sử thì toàn là các nhà sử đời sau viết và bàn về các vương triều
trước cả thôi.
Chuyện tôi kể sau đây cũng nằm trong khuôn khổ đó.
Tin? không tin? đúng! sai?… là tùy thuộc ở mỗi người. Xin
hãy đọc rồi phân tích suy luận một cách logic cho riêng mình. Đừng vội phán
xét, vì đây cũng chỉ là một cách đặt vấn đề mà thôi.
Nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, không ít người
đặt câu hỏi: "Lý Thái Tổ mơ Rồng vàng bay lên ở đâu?", Đâu là nơi Người
đọc "Thiên Đô Chiếu?". Lịch sử đất nước xây nền độc lập đã đi qua được
trọn nghìn năm, trong khi sử sách không một dòng ghi chép về sự kiện trọng
đại này. Việc tìm lời giải đáp chắc chắn không phải dễ!
Lý Công Uẩn sinh ra trong một hoàn cảnh thật đặc biệt. Từ bé,
ông đã có tư chất thông minh, vẻ người tuấn tú khác thường. Ông được sư Vạn Hạnh
dạy dỗ nên người, nhà sư đã phát hiện thấy ở ông sau này sẽ "làm bậc minh
chủ, có thể gỡ rối giải nguy thiên hạ".
Dưới triều Lê Long Đĩnh, ông đã được phong tới chức Thần Vệ,
Điện tiền chỉ huy sứ. Các quần thần đều thấy ông là một vị tướng tài, trung
quân ái quốc, đáng tin cậy.
Cuối năm 1009, sau khi vua Long Đĩnh tức Lê Ngoạ Triều băng,
được sự hỗ trợ đắc lực và đầy hiệu quả của Đào Cam Mộc cùng các quan đại thần
trong triều nhất ứng suy tôn, Lý Công Uẩn lên ngôi chấp chính, mở đầu triều đại
các vương triều Lý. Lý Thái Tổ có tầm nhìn xa trông rộng, Người nhận thấy đất
Hoa Lư chật hẹp, không có điều kiện để mở mang phát triển. Vào đầu năm 1010,
vua cùng các cận thần bí mật "vi hành" tìm về thành Đại La, nơi Cao
Biền đã cho dựng thành đắp lũy từ những năm 864 đến 874. Thực chất cuộc hành
hương lần này là Người hướng trở về quê hương mình. Bên kia sông Nhĩ Hà, Rừng
Báng (châu Cổ Pháp) bên dòng Tiêu Tương chỉ cách thành Đại La một sải chim bay.
Người biết rất rõ Đại La là miền đất "nhất cận thị, nhị cận giang", mảnh
đất "trước nước sau núi", có "rồng phục hổ ngồi", có thể là
kế sách lâu dài xây dựng giang sơn trường tồn thịnh vượng.
Đoàn thuyền của Người ngược sông Hát (nay là sông Đáy) qua eo
Tân Lang thuộc đất Hà Nam bây giờ vào địa phận Ứng Hòa - Thanh Oai rồi Hoài Đức.
Khi thuyền đến đoạn Yên Sở (Hoài Đức), màn đêm buông xuống, đôi bờ chìm vào màu
lam thanh vắng, chỉ còn lại ánh sao khuya. Bỗng thuyền gặp một con xoáy nước,
thuyền nhà vua cứ "đôi hồi" vòng quanh tại chỗ. Đoàn tuỳ tùng đã cố hết
sức mà không sao đưa thuyền tiến lên phía trước được. Người nghĩ có lẽ đây là
điềm trời xui khiến. Nhà vua bèn hạ lệnh neo thuyền nghỉ lại trên khúc sông này
chờ khi con nước trở lại bình yên rồi tính sau. Chính trong cái đêm sông nước
mênh mang và kỳ bí trên đường hạnh lộ ấy, Lý Thái Tổ đã chìm vào giấc ngủ sâu
trong tâm trạng cảm khoái lâng lâng mơ về ngày mai tươi sáng cho xã tắc muôn
dân … Bỗng Người thấy một Rồng vàng từ xoáy nước bay lên trời, Rồng vàng bay
lên chỉ là một giấc mơ huyền diệu, một điều lành hay sự ký thác từ hồn thiêng
sông núi cho Người? Giấc mơ đã làm Người bừng tỉnh cũng là lúc bình minh ửng hồng
ở phương Đông. Lý Thái Tổ cùng đoàn tuỳ tùng tiếp tục rong ruổi cuộc hành trình
tìm miền "đất hứa" mong cho sơn hà bền vững muôn đời.
Sau này từ giấc mơ ấy, Lý Thái Tổ lấy hình tượng Rồng vàng
bay lên đặt tên mới cho thành Đại La là thành Thăng Long.
Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng điều kiện trong ngoài, địa hình địa
vật và mối lương dân nơi đất mới, Lý Thái Tổ trở lại Hoa Lư. Người gấp rút chuẩn
bị mọi mặt một cách lặng lẽ và thận trọng. Sau khi Lê Ngoạ Triều mất, nội cung
luôn xảy ra tình trạng bất an hàng ngày hàng giờ đang rình rập, khiến Người phải
ra sức đề phòng để khỏi hỏng việc.
Mùa thu, tháng 10 năm 1010, Lý Thái Tổ quyết định dời Hoa Lư
làm một cuộc "Thiên Đô" lịch sử. Khác với cuộc đi thăm dò lần trước,
khi dời đô chính thức, vẫn theo con đường sông nước ấy, khi đến đoạn Cổ Bản (Cầu
Mai Lĩnh bây giờ), Người quyết định chuyển quân đi theo đường bộ. Ngựa xe đã được
chuẩn bị từ trước, khi qua Do Lộ đến Tam La Kiều hay còn gọi là Ba La Trang
(ngã ba Ba La bây giờ), nhà vua đăng đàn tế cờ và tuyên đọc "Thiên Đô Chiếu",
định đô đất Thăng Long. Câu cuối cùng trong chiếu "Thiên Đô", vua hỏi
"Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các ngươi nghĩ thế nào?".
Đáp lại lời Người, muôn tiếng tung hô "Vạn Tuế" vang dậy cả đất trời.
Đoàn triều thần muôn người một ý hộ tống vua thẳng tiến đất Đại La, mở đầu kỷ
nguyên "Thăng Long" dựng nghiệp lớn, nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.
Sau khi ổn định mọi bề trên đất đế đô mới, vua Lý Thái Tổ tổ
chức một cuộc hành hương trở về thăm lại mảnh đất Yên Sở xưa, nơi Người đã có
giấc mơ lịch sử "Rồng lên" trên xoáy nước năm xưa. Nhà vua quyết định
ngủ lại nơi điền dã ấy. Chính trong đêm ấy tại làng Yên Sở, Người cũng có một
giấc mộng khác, vua bắt gặp một người lạ xuất hiện trong giấc mộng. Người lạ có
dung nhan quắc thước, áo quần đen xạm tả tơi đượm mùi khói bụi xa trường.
– Ngươi là ai? Vua hỏi. Người ấy quỳ trước mặt vua tâu:
– Muôn tâu đức vua anh minh tôn kính, tôi là Lý Phục Man, một
tướng thời Lý Nam Đế, đã tử trận tại mảnh đất này.
– Nhà ngươi cần gì ở ta? Vua hỏi.
– Thưa! Từ khi chúng tôi nằm lại nơi đây, lang thang vất vưởng
không chốn nương thân, không người chăm sóc khói hương, chúng tôi đói lắm.
Lý Thái Tổ tỉnh giấc trong tâm trạng bùi ngùi, man mác buồn.
Vua ban lệnh cho dân làng Yên Sở dựng miếu thờ muôn đời và phong Lý Phục Man
làm Thành Hoàng làng. Tại bên con xoáy nước "đôi hồi" thuyền vua quẩn
quanh không ra được. Ở chỗ mơ Rồng vàng bay lên năm trước, vua cho dựng một
ngôi chùa và đặt tên là chùa Đôi Hồi để tưởng nhớ công ơn Trời Phật đã ban cho
Người giấc mơ thần diệu ấy. Hiện nay chùa Đôi Hồi vẫn còn..
Và tiếp tục cuộc hành hương về Ba La Trang nơi Vua tuyên chiếu
"Thiên Đô" và Cổ Bản nơi chuyển từ thuyền lên bộ Vua được biết một
người tên là Thiết Du, viên tướng khác của Lý Nam Đế tử trận tại Ba La xưa vào
năm 546. Người phong cho ông làm Thành Hoàng làng Văn La (nay thuộc phường Phú
La, Quận Hà Đông). Đã được nhân dân tôn thờ cho đến tận bây giờ.
Vua cùng vợ thăm lại Cổ Bản, Do Lộ và cho dựng ở những làng
này ngôi Bảo Tháp Tự, Thiên Quang Tự để báo ơn trời phật. Tiếc thay, nay dấu
tích xưa đã phai nhoà theo thời gian, chỉ còn lại trong tâm tưởng xa mờ mong
manh vời vợi của người dân nơi đây với hai câu thơ như thực như mơ của thời khởi
nguyên ấy:
Lối thơ là lối về phương ngọc
Đường đến kinh thành Cổ Bản lai.
Nếu tính từ thời Lý Vạn Xuân tồn tại vẻn vẹn 6 năm (541 -
547) đến Lý Thái Tổ lập nền Đại Việt trường tồn trên 226 năm (1009 - 1225) như
có một sợi dây vô hình, huyền ảo từ trong xưa lắng đọng về. Thành Đại La từ
"con xoáy nước đôi hồi" Yên sở - Lý Phục Man, từ Tam La Kiêu tuyên
chiếu "Thiên Đô"- Thiết Du. Lịch sử như một định mệnh, diệu kỳ xuyên
suốt những trang lịch sử vẻ vang của nước nhà.
Kỷ niệm 1000 nămThăng Long - Hà Nội ta càng thêm kính phục và
biết ơn các bậc Tiên Đế, ta càng thêm tôn kính đức vua Lý Thái Tổ, Người dựng
nghiệp Đại Việt trường tồn ngàn năm.
Ngàn năm qua, đất nước khi thịnh khi suy thời nào cũng có. Dưới
ngọn cờ Đại Việt, dân tộc Việt Nam thái thịnh thái an trường tồn cho con cháu
muôn sau, để đến hôm nay chúng ta được sống, được tự hào kiêu hãnh trước bạn bè
năm châu bốn biển.
19/8/2010
Nguyễn Địch Long




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét