Cấu trúc hình tượng không gian
trong tiểu thuyết Sông Côn mùa
lũ
của Nguyễn Mộng Giác
Bộ tiểu thuyết trường thiên lịch sử Sông Côn mùa lũ của
Nguyễn Mộng Giác được viết năm 1978 - 1981, Nhà xuất bản An Tiêm (Mỹ) phát hành
năm 1991. Đây là một cuốn tiểu thuyết lịch sử gây nhiều sự chú ý của công
luận, trước hết bởi nó có một số phận đặc biệt gắn với số phận của tác giả. Mặt
khác, giữa những khuynh hướng viết tiểu thuyết lịch sử trái cực gây bàn cãi
không dứt thì sự xuất hiện của Sông Côn mùa lũ như là một sự trung
hoà giữa những lối viết. Nó đem đến cho người đọc một cảm giác vừa lạ vừa quen -
lạ không đến nỗi gây sốc và quen nhưng không nhàm chán.
Cuốn sách viết về phong trào Tây Sơn từ lúc khởi đầu đến khi
vua Quang Trung băng hà, đấy là thời kỳ ngắn ngủi và bi tráng nhất trong lịch sử
phong kiến Việt Nam. Viết Sông Côn mùa lũ, Nguyễn Mộng Giác không bị
những cái lớn lấn át như chiều kích của những trận đánh lịch sử, những nhân vật
anh hùng, mà ông hướng về nhân sinh, nhân thế bằng sự hiện diện sống động của
các nhân vật lịch sử, các sự kiện lịch sử. Như vậy, Sông Côn mùa lũ là
một cuốn tiểu thuyết mang “một quan niệm mới cả về tiểu thuyết và cả về lịch sử”
(Mai Quốc Liên).
Bên cạnh những thành công về xây dựng hình tượng nhân vật, có
thể nói, không gian cũng là một hình tượng nghệ thuật đặc sắc đem lại thành
công lớn cho cuốn tiểu thuyết lịch sử này. Trong Sông Côn mùa lũ, Nguyễn
Mộng Giác xây dựng một không gian không đơn giản là tái hiện lại một bối cảnh lịch
sử ở nước ta mà không gian đó còn có ý nghĩa “phải đặt chúng ta vào để hình
dung nhân vật của chúng ta. Cái khung cảnh đó chỉ đơn giản là một trong những
hoàn cảnh quyết định kinh nghiệm của nhân vật chính, sự giải thích của anh ta về
cuộc đời” [3, tr. 165], tức là không gian đó không còn mang tính khách quan nữa
mà mang tính chủ quan của nhà văn. Do đó, cấu trúc hình tượng không gian
trong Sông Côn mùa lũ là một hình tượng nghệ thuật chứa đựng nhiều ý
nghĩa.
Vợ chồng nhà văn Nguyễn Mộng Giác
với bản thảo Sông Côn
mùa lũ - www.talawas.org
Hình tượng không gian trong tác phẩm văn học là một cấu trúc
nằm trong cấu trúc bề sâu của tác phẩm. Đó là một cấu trúc phức tạp bao gồm nhiều
tầng lớp, hình thành theo từng cặp đối lập nhằm thể hiện một mô hình về thế giới
hiện thực, mặt khác, nó còn thể hiện một tư duy đặc biệt của nhà văn về thế giới
hiện thực đó.
Không gian trong tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ cấu
trúc theo từng cặp đối lập: không gian lịch sử và không gian đời
thường, không gian bên trên và không gian bên dưới, không
gian bên ngoài và không gian bên trong, không gian mở và không
gian khép… Các cặp không gian đối lập ấy biểu hiện một quan niệm riêng về thế
giới của nhà văn Nguyễn Mộng Giác.
Không gian lịch sử là không gian gắn với các sự kiện lịch sử,
với các nhân vật lịch sử, nó là không gian của đời sống chính trị - xã hội.
Không gian này bao trùm cả một thời kỳ lịch sử của dân tộc (năm 1765 - 1792), gắn
với sự sinh thành và huy hoàng của một triều đại, một gia đình, một gốc gác Quy
Nhơn. Nhưng không gian của Sông Côn mùa lũ muốn làm sống lại lịch sử
với chủ ý, chủ quan hơn những tiểu thuyết lịch sử trước đó bởi nhà văn đã biến
không gian này thành một “mùa lũ”, một “trận bão”. Con người ở đây cũng không
phải là những con người “đã sống” mà là những con người “đang sống” (Milan
Kundera ), đang chịu đựng và vượt qua một mùa bão lũ điên cuồng. Mùa bão lũ
đang đến, một không gian Quy Nhơn đang nổi sóng: “từ trạm dưới chân đèo An Khê,
nghĩa quân ùa xuống đồng bằng theo hai cánh (…), họ tiến nhanh quá, đến nỗi bọn
hào lí vừa choàng thức dậy đã thấy nghĩa quân kéo đến đông chật cả sân trước...”
[2, tr. 282]. Một không gian Gia Định ngập ngụa trong bùn lầy với “từng đống
xác bê bết máu, mặt mũi biến dạng vì lấm bùn hoặc sững lại ở những nét đau đớn
kinh hãi tột độ”. Một không gian Phú Xuân đang bồng bềnh, “đường phố lúc nào
cũng toả bụi mù mịt. Gần như mọi người đều lên cơn say. Không thể ngồi yên ở
nhà, họ chạy ra đường, đi lên đi xuống... Mạch máu đập mạnh hơn, trí não căng
thẳng, chân tay bứt rứt" [2, tr. 932]. Và một không gian Thăng Long đang
ngả nghiêng chao đảo: “cảnh hối hả tấp nập, chen chúc rộn rã gần như mất hết trật
tự, cảnh ba quân tuôn chảy như nước lũ dưới bóng cờ đào phất phới, cảnh voi ngựa
gươm giáo, đêm trừ tịch, nghe tiếng quân reo tở mở vang động khắp vách núi,
…”[2, tr. 1371]. Tâm bão và rốn lũ ấy bắt nguồn từ Quy Nhơn rồi sau đó lan tràn
ra cả một nước, hoành hành cả một cõi.
Trong Sông Côn mùa lũ, nhà văn Nguyễn Mộng Giác quan tâm
đến không gian đời thường hơn là không gian lịch sử. Không gian đời thường là
không gian gắn với đời sống sinh hoạt thường nhật. Bên cạnh không gian lịch sử
gắn với những trận đánh, những cuộc hội kiến lịch sử thì không gian đời thường
mở ra những cảnh đời, những vùng đất, những vùng văn hóa sinh động và đa dạng.
Cho nên bên dòng chính của lịch sử, có lúc câu chuyện dừng lại ở cảnh sống
trong một ngôi chùa với chuyện cây cảnh, nhân tình thế thái; có lúc là cảnh dân
thường tò mò đi xem và luận anh hùng, cảnh đôi vợ chồng già lâu ngày gặp nhau,
cảnh đôi vợ chồng trẻ chia tay nhau, cảnh một bến tắm ngựa, một bến đò chở cả
trí thức lẫn con buôn, đàn ông và đàn bà, cảnh sinh hoạt của một gia đình nhà
nho trí thức. Ngay cả trong không gian lịch sử - không gian cung đình, nhà văn
lồng vào không gian sinh hoạt đời thường của một ông vua với viên thư ký, với
người vợ, với người tình cũ; cảnh hoàng hậu và người yêu cũ của nhà vua gặp mặt
nhau - những người đàn bà với câu chuyện rất đàn bà… Chính không gian đời thường
đã mang đến cho chúng ta “nhiều tài liệu phong phú về vùng đất
phía Nam cuối thế kỷ XVIII [1, tr. 232].
Cặp không gian lịch sử và không gian đời thường đan kết vào
nhau cho ta một bức tranh toàn cảnh về đời sống con người Việt nửa cuối thế kỷ
XVIII, giữa một thời điểm lịch sử biến động dữ dội, giữa các cuộc tranh giành
quyền lực đẫm máu, cuộc sống vẫn hiện ra quen thuộc, giản dị với những nỗi vui
buồn muôn thuở của kiếp người, của nhân tình thế thái.
Cấu trúc không gian trong Sông Côn mùa lũ còn được
tạo lập ở hai mảng không gian bên trên và không gian bên dưới. Không gian bên
trên gắn với “tầng trên” bao gồm các nhân vật chèo lái lịch sử, quyền lực, cung
đình, bão và lũ. Không gian bên dưới gắn với các nhân vật là nạn nhân của lịch
sử, với đời thường.
Cặp không gian này đối lập với nhau về trạng thái, về tính chất.
Ở trong tác phẩm, người đọc được nhìn thấy một không gian bên trên, ở cung vua
phủ chúa trang nghiêm, phép tắc, xa hoa, tráng lệ, “cây cối um tùm, các giống
chim quý đua nhau hót, vườn hoa nở rộ đưa hương thoang thoảng. Hành lang, lan
can quanh co nối tiếp nhau. Những người lính giữ cửa, lính nội hầu đi lại như mắc
cửi. Ngoài cửa cung, vệ sĩ canh gác cẩn mật". “Mọi đồ nghi trượng đều sơn
son thếp vàng, chạm trổ tinh vi... đủ kiểu lạ mắt” [2, tr. 1001]. Ngược lại ở
không gian bên trên, người đọc lại thấy được một không gian khác ở bên dưới,
cũng ở Thăng Long, “phố xá buồn thiu, xơ xác (…) những xác chết vô thừa nhận nằm
lây lất khắp nơi, máu loang thành vũng kéo đến hằng hà sa số ruồi nhặng. Những
con chó hoang đến kề mõm ngửi vào xác chết, do dự gần như bần thần, chán ngán
[2, tr. 978].
Ở Phú Xuân, làm nền cho không gian bên trên là đạo quân Tây
Sơn “rầm rập tiến vào thành mỗi lúc một đông, gươm giáo, gậy gộc, xe cộ, voi
pháo chen chúc nhau” [2, tr. 925], làm nền cho không gian bên dưới là “những
vũng máu loang lổ, rây rắc đây đó trên mặt cỏ”, “quạ đen tranh nhau chổ đậu thuận
tiện để bổ nhào xuống những xác chết nằm la liệt đây đó” [2, tr. 925].
Trong Sông Côn mùa lũ, người đọc được chứng kiến hai đám
tang của hai ông vua và nhiều đám tang của dân thường. Đám tang của vua Lê Hiển
Tôn và vua Quang Trung thuộc không gian bên trên, nghiêm trang và kính cẩn.
Ngay cả khi nhà Lê mạt vận người ta cũng không cho phép thái độ khinh thường
len lỏi vào. Một cử chỉ suồng sã cũng có thể bị chém. Đám tang vua Lê “đồ tế lễ
tuy đơn sơ, giản dị nhưng lễ nghi thì đều đầy đủ không thiếu sót gì”. Nguyễn Huệ
tự cưỡi voi và đem theo ba ngàn quân hộ tống. Đến đám tang vua Quang Trung,
“quân đi rầm rập, giáo mác tua tủa”, lệnh nghiêm được ban ra “tuyệt đối không
ai được qua lại ranh giới. Ai vi phạm lệnh cấm sẽ bị chém tại chỗ”. Trong khi
đó, ở không gian bên dưới, có những cái chết được chôn vội vã, như cái chết của
Lợi, diễn ra trong khung cảnh chiều tàn ảm đạm, hiu hắt và thê lương. Đám tang
của những kẻ “bề dưới”, nếu có, thì cũng sơ sài, nhếch nhác và lặng lẽ. Cảnh một
lính Trịnh bị chết thật thảm
thương, “người ta dùng dây dừa cột hai
tay và hai chân người chết lại với nhau, đoạn xỏ đòn tre vào khiêng đi như
khiêng một con heo bị chọc tiết. Cái đầu thõng xuống lúc lắc theo nhịp bước, mớ
tóc bết vôi rủ xuống tua tủa như bẹ chổi cùn. Hai ông già khiêng xác bước chậm
chạp trong chiều vàng vọt" [2, tr. 938].
Không gian bên trên còn gắn với bầu trời có những đám mây đen
kịt đang vần vũ, sương mù lạnh lẽo và những trận cuồng phong dữ dội. Không gian
bên dưới lại gắn với mặt đất đầy rác rưởi, xác chết và bóng tối.
Như vậy, cặp không gian bên trên và không gian bên dưới tồn tại
như một tất yếu, nó gắn chặt với nhau, đối lập nhau. Không gian bên dưới như là
hệ quả của những thay đổi, tác động của không gian bên trên.
Vừa là lịch sử, vừa là thế sự, không gian trong Sông Côn
mùa lũ còn được cấu trúc thành hai thế giới không gian kín bên trong và
không gian mở bên ngoài.
Không gian bên ngoài với tính chất mở là không gian của đám
đông, không gian của sự kiện. Còn không gian bên trong với tính chất khép kín
là không gian của cá nhân, của riêng tư. Không gian bên ngoài là một không gian
hết sức sôi động, xa lạ và lạnh lẽo, thù nghịch, ngược lại không gian bên trong
tĩnh lặng, thân thuộc, ấm áp và yên ổn. Dù ở Quy Nhơn, Gia Định, Phú Xuân hay
Thăng Long, lúc nào cũng cảnh cờ phướn phấp phới rực rỡ cả một góc trời và những
đống xác chết ngập ngụa, tanh rình; cảnh quân chiến thắng ồn ào trong men say
và cảnh quân chiến bại sợ hãi chui rúc lẩn trốn. Đâu đâu cũng có những hiểm
nguy rình rập. Ngay cả khi chiến thắng vang dội, ngồi ở ngay tại trung tâm quyền
lực Thăng Long, Nguyễn Huệ vẫn cảm thấy như ngồi trên một khúc sông “trên mặt bập
bềnh bèo dạt, còn dưới mặt nước là sóng ngầm, là đá nhọn, là rắn rít. Đã quen
chế ngự sự bất ổn và hỗn loạn, lần này Nguyễn Huệ ít tự tin hơn.” [2, tr. 988].
Trong khi đó, không gian bên trong, không gian không hẹn mà ai cũng hướng về là không gian An Thái - An Thái quê hương, An Thái của những kỷ niệm. Đó là nơi vỗ về, che chở, an ủi những đứa con xa quê những khi lo âu, buồn phiền, cô độc hay thất thế. Chỉ là một cây gạo “thơm tho” ở bến sông, một chái nhà học, một ngôi nhà quay mặt về hướng tây trông như đang ngái ngủ, một cái miễu cô độc giữa đồng trống, ánh đuốc canh lúa lập lòe… nhưng từ giáo Hiến cho đến Huệ, An, Kiên, Lãng, mỗi người đều giữ cho mình một An Thái với những cảm xúc khác nhau. Khi An Thái được giải phóng, đặt chân trên nền đất tổ tiên của gia đình, lòng Huệ “hân hoan”, “bồi hồi”, “lâng lâng buồn vui lẫn lộn”. Còn An và Lãng thì “nôn nao”, “bùi ngùi”, “mắt cay cay” khi tìm thấy dấu vết những kỷ niệm trên nền đất cũ. Như vậy, những khi có cơ hội, Huệ, An, Lãng... tìm về An Thái như tìm lại chính mình, tìm lại sự yên ổn trong lòng trước những bão tố của cuộc đời.
Trong khi đó, không gian bên trong, không gian không hẹn mà ai cũng hướng về là không gian An Thái - An Thái quê hương, An Thái của những kỷ niệm. Đó là nơi vỗ về, che chở, an ủi những đứa con xa quê những khi lo âu, buồn phiền, cô độc hay thất thế. Chỉ là một cây gạo “thơm tho” ở bến sông, một chái nhà học, một ngôi nhà quay mặt về hướng tây trông như đang ngái ngủ, một cái miễu cô độc giữa đồng trống, ánh đuốc canh lúa lập lòe… nhưng từ giáo Hiến cho đến Huệ, An, Kiên, Lãng, mỗi người đều giữ cho mình một An Thái với những cảm xúc khác nhau. Khi An Thái được giải phóng, đặt chân trên nền đất tổ tiên của gia đình, lòng Huệ “hân hoan”, “bồi hồi”, “lâng lâng buồn vui lẫn lộn”. Còn An và Lãng thì “nôn nao”, “bùi ngùi”, “mắt cay cay” khi tìm thấy dấu vết những kỷ niệm trên nền đất cũ. Như vậy, những khi có cơ hội, Huệ, An, Lãng... tìm về An Thái như tìm lại chính mình, tìm lại sự yên ổn trong lòng trước những bão tố của cuộc đời.
Không gian bên ngoài tuy rộng lớn nhưng ẩn chứa nhiều bất trắc,
lưu trú trong không gian ấy chỉ là tạm bợ, không gian bên trong tuy an toàn
nhưng lại chật hẹp. Vì thế, con người muốn thoát khỏi sự chật hẹp để đến với
môi trường rộng lớn hơn, nhưng lại choáng ngợp trước cái rộng lớn bên ngoài nên
tìm về với môi trường bé nhỏ quen thuộc. Con người sống giữa cuộc đời này như
là một cuộc chạy trốn những hiểm hoạ nhưng ở đâu cũng chỉ là tạm bợ. Từ dân thường
cho đến những bậc đế vương, sống chết, được mất rốt cục cũng như nhau, chỉ là
hư danh giữa đời thực.
Như vậy, cấu trúc của không gian văn bản nghệ thuật Sông
Côn mùa lũ được nhà văn Nguyễn Mộng Giác xây dựng trở thành mô hình cấu
trúc của không gian thế giới. Các mảng không gian đan cài nhau, đối lập nhau:
trên - dưới, cao - thấp, xa - gần, trong - ngoài, rộng - hẹp, mở - khép, động -
tĩnh… thể hiện sự vận động của thế giới: lên hoặc xuống, sinh hoặc diệt. Quan
niệm của nhà văn về cuộc sống là vĩnh hằng, tuân theo một quy luật nằm ngoài sự
chi phối, sự hiểu biết của con người. Kết thúc của cái này lại là khởi đầu của
cái khác, lịch sử như một cái nền trên đó cuộc sống cứ nối tiếp, triều đại này
qua đi, triều đại khác lên thay thế, cuộc sống bên dưới vẫn cứ an bằng, vĩnh cửu.
Bằng kinh nghiệm đã trải qua trong những cơn biến động lịch sử, nhà văn Nguyễn
Mộng Giác có một cái nhìn hết sức bình tĩnh, sâu sắc về lịch sử, về đời sống và
về số phận con người trong mối quan hệ với lịch sử. Cái nhìn đó được ông chia sẻ
nhằm làm cho con người hôm nay thoát khỏi việc trở thành những tín đồ cuồng
danh, bị lôi kéo vào trò chơi của lịch sử.
Chú thích:
1. Phan Cự Đệ (2001), Tuyển tập (Tập 1), Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
2. Nguyễn Mộng Giác (2003), Sông Côn mùa lũ, Nxb
Văn học và Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Hà Nội.
3. Kate Hamburger (2004), Logic học và các thể loại
văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
4. Milan Kundera (2001), Tiểu luận (Nghệ thuật tiểu
thuyết - Những di chúc bị phản bội), Nxb Văn hóa thông tin và Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét