Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2015

Võ Phiến - Cảm xúc thời gian

Võ Phiến - Cảm xúc thời gian
Khói lửa mịt mờ vũ trụ
Lửa tàn vũ trụ vào thơ
“Linh hồn nhớ thịt da”
“Trăng đó có tôi đây”
“Thời gian ơi thời gian”
“Rồi cũng bỏ qua thôi”...
Năm 1945, thế giới thôi đại chiến.
Năm 1945, dân tộc Việt Nam chuẩn bị bước vào cuộc đấu tranh giành lại độc lập. “Trước 1945” ta sẽ gọi là “tiền chiến”.
Thời tiền chiến, nếu thích thì nhà văn nhà thơ cứ tha hồ khóc ma cũ than mưa mới.(1) Nhưng thời sau đó, trong tình hình lịch sử dân tộc đang biến chuyển trọng đại, người nghệ sĩ có xu hướng siêu hình không tiện bộc lộ nó ra.
Khoảng 1945 Võ Phiến khởi viết. Trong những trang văn đầu tay có “vũ trụ”, “đất trời” của triết lý xa xôi. Nhưng ngay lập tức “trời đất” bỗng “nổi cơn gió bụi” thật gần! Giữa khói lửa mịt mờ triền miên suốt ba mươi năm, họa hoằn nhà văn rất ưu thời mẫn thế mới trở về với thứ cảm nghĩ hướng ra ngoài cuộc sống từng ám ảnh mình.
Sau 1975, tha hương, thôi bận bịu vì thời sự, Võ Phiến văn chương “siêu hình” thường xuyên hơn.
Những bài thơ (đôi khi mang dạng văn xuôi) chứa nội dung siêu hình có góp thêm một nét độc đáo vào văn nghiệp đặc biệt đa dạng của Võ Phiến. (2)
Sau đây xin thử lược bàn.
Khói lửa mịt mờ vũ trụ
Ðây một đoạn văn xuôi của Võ Phiến thời “chập chững”:
“Có nhiều buổi chiều, ở đây đó, gió im cây lặng. Có cảm giác Vũ Trụ chợt chăm chú cúi xuống nhìn mình như những ngày nhàn rỗi ta cúi nhìn sợi lông trên cánh tay ta óng ánh. Lòng ta rũ hết những bận rộn tủn mủn của cuộc sống hàng ngày (...) Có nhiều buổi chiều, rũ sạch hết lòng ta, để cảnh vật hóa nên trơ trẽn. Và tất cả cùng như ngừng lại sau một cuộc chạy đua dài; đối diện nhau, cùng đánh những cái dấu hỏi trước mặt nhau: ta trước đất trời, đất trời trước mặt ta...” (1946)
Rõ ràng, cảnh núi non hẻo lánh ở quê hương Bình Ðịnh đã ấn tượng mạnh mẽ lên một tâm hồn nhạy cảm, đã khiến những dòng văn chương đầu tiên của một người còn rất trẻ chứa ngay loại ý rất... già!
Nhưng ngay sau đó, gió hết im cây hết lặng, một cuộc “chạy đua dài” khác bắt đầu hết sức khẩn trương, kéo nội dung sáng tác Võ Phiến trở lui về đúng tuổi của người viết.
Suốt gần một phần tư thế kỷ, Võ Phiến như bao nhiêu người Việt Nam khác, miệt mài chuyện nước non.
Mãi đến cuối thập kỷ 1960, chán nản trước tình hình chính trị và xã hội Miền Nam, nhà văn mới lẳng lặng quay về với “đối diện” cũ:
“Ðêm nay, trong khoảnh khắc, chàng giũ hết hiện tại (...) giũ hết tình người như cởi bỏ chiếc áo, chàng cũng đối diện với vầng trăng, thản nhiên, trang nghiêm, hững hờ. Ðối diện như trời rộng với sông dài, như cảnh trí thiên nhiên với một cảnh trí thiên nhiên (...) Ðêm nay, trong khoảnh khắc gặp gỡ, chàng cùng với vầng trăng cùng sáng lên với nhau...” (tùy bút Lúc Dừng Nghỉ).
Chán thì “dừng nghỉ” một đêm, hai đêm, cho đỡ chán, chứ Võ Phiến nỡ nào bỗng lơ hẳn thế sự.
Nói chung, khói lửa chiến tranh đã cơ hồ che khuất những băn khoăn vũ trụ trong một cõi văn vốn khi vừa mở có chứa ý đất trời.
Lửa tàn vũ trụ vào thơ

Năm 1975, Võ Phiến “ra đi”:
“... tuổi chẵn năm mươi
Năm mươi tuổi nữa nào nơi ta về
Ngàn năm mây trắng lê thê.” (1975)
Ði xa, thoạt đầu là nhớ, nên tâm sự với bạn... bốn phương (qua Thư gửi bạnv.v.), nên kể (bằng truyện dài Nguyên vẹn), nên góp sức tái tạo sinh hoạt văn nghệ (làm báo Văn Học Nghệ Thuật).
Ở hải ngoại, chiếm nhiều thời gian của Võ Phiến nhất, là công trình Văn học Miền Nam: cuốn Tổng Quan xuất bản lần đầu năm 1986, mà đến 1999 cuốn chót của bộ sách gần ba nghìn rưởi trang mới bắt đầu phát hành.
Xen kẽ vào nỗ lực biên khảo đòi hỏi rất nhiều thì giờ, công sức, Võ Phiến viếtTruyện thật ngắn, viết tiểu luận, tạp luận, tùy bút, đàm thoại, và làm thơ.
Trong những năm cuối của đời sáng tác, Võ Phiến đã phát huy phần nào cái xu hướng siêu hình xuất hiện từ thời niên thiếu nhưng do hoàn cảnh đã chìm nhiều nổi ít trên những trang văn thơ của ông.
Ðọc một số tùy bút sau này của Võ Phiến, người đọc dễ dàng thấy xu hướng ấy. Tuy nhiên, thơ mới là nơi ông thường chọn để thể hiện cảm nghĩ của mình về những vấn đề rốt ráo.
“Linh hồn nhớ thịt da”
Dĩ nhiên trước Võ Phiến, văn thi nhân Việt Nam đã có người đưa “rốt ráo” vào thơ. Tức như Chế Lan Viên và Huy Cận. Nhưng ba người, mỗi người nhìn vấn đề một cách riêng, không ai giống ai.
Khác Chế Lan Viên, Võ Phiến không bao giờ thắc mắc “Ta là ai?”.
Khác Huy Cận, ông cũng không mấy khi ngước mặt lên “xa biếc” mà “rạo rực”.
Huy Cận xem cơ thể là “bình tội lỗi”. Võ Phiến đối xử với thân xác như một tình nhân, hơn nữa, một người bạn đời. Ông gọi thân xác là Mình và viết sẵn mấy lời tạ từ tha thiết cho phút chia tay với Mình:
“Ta đến từ đâu, đâu biết được
Ðến đây được biết có Mình thôi
Gặp nhau từ thuở ban sơ ấy
Quấn quít nhau không một phút rời.”
Nhờ Mình, ta được thưởng thức trà thơm, bướm đẹp, nước biếc, non xanh, tức được cận kề “xác thân vũ trụ”:
“Có Mình, ta có luôn trời đất
Ðã tuyệt vời chưa Thân Xác ơi.”
Quấn quít tuyệt vời, tất nhiên xa nhau là nhớ:
“Nhớ trời đầy bướm đất đầy hoa
Nhớ con suối lượn con chim hót
Nhớ giọt sương mai ánh nắng tà.
- Lang thang đâu đó ngoài vô tận
Một mảnh linh hồn nhớ thịt da.” (1986)
Ta, đến từ đâu chẳng biết. Ðến đây gặp Mình rồi, ta cùng Mình tung tăng đi trong trần gian, đi say sưa quên cả “tính”:
“Mải miết ra đi, đâu tính đến
Ðến nơi nào?
Bảy tám mươi năm, rồi cũng đến
Ðến rồi sao!” (1998)
Ðến gì mà đến, chính là về đó, về lại chốn từ ấy khi xưa đã đến. Năm 1998 tưởng sắp về, năm 2012 vẫn chưa về, ta với Mình định hành trình đến tận biên giới của “cõi người ta”?(3)
“Trăng đó có tôi đây”
Thơ vũ trụ của Huy Cận về sau đầy “gió” lạ, “hây hẩy thổi tự chùm sao” hay “bay tự hồn ta”. Thơ Võ Phiến chứa thứ gió quen thuộc hơn:
“Nơi vườn xưa những bồn chồn dữ dội,
Những mùa nam gió thổi suốt đêm ngày
Gió thổi ì ầm đất lở đá bay
Thổi rỗng huếch những đêm trăng lồng lộng.
Trời đất say sưa, điên cuồng sự sống.”
Gió dữ “hút” người ra khỏi nhà. Trông lên:
“... trăng vẫn còn nguyên đó.
Trăng vời vợi giữa càn khôn lộng gió
Trăng nhìn tôi: Trăng đó có tôi đây.” (1992)
“Trăng đó (...) tôi đây”, nhưng chớ tưởng trông thấy nhau rồi mừng rỡ, quấn quít. Không đâu, giữa đôi bên vẫn là cái tình huống đối diện trang nghiêm mà trống rỗng, vô cảm, hư tâm.
Cùng ngắm vũ trụ, Huy Cận và Võ Phiến cảm nghe khác nhau nhiều lắm.
Huy Cận thấy vũ trụ có nhiệt độ thay đổi, khi lạnh khi vừa khi ấm. Nhiệt độ của vũ trụ, kỳ diệu thay, lại dường như tương ứng với độ lạnh nồng của xã hội ngay xung quanh nhà thơ!(4)
Trong khi Võ Phiến thấy vũ trụ lúc nào cũng thế: không nóng không lạnh chi hết, tuyệt đối hững hờ. Con người tha hồ lao vào cuộc sống, yêu nhau ghét nhau bắn giết nhau điên cuồng, để một đêm nào đó tạm ngừng yêu ngừng ghét ngừng bắn, ngẩng nhìn lên thấy trăng cũng đang nhìn xuống mình cách hết sức thản nhiên như trên mặt đất đã không hề có chuyện gì xảy ra! Ðừng nói loài người bom pháo nhau khói lửa um sùm, ngay nếu chính quả đất... động thì vũ trụ cũng không vì thế mà mảy may tăng nhiệt độ.
Hình như cách cảm nghe có ảnh hưởng đến hình ảnh của “ngoài kia” trong mắt mình. Trời đêm Huy Cận nhiều hình ảnh sống động ngộ nghĩnh. Còn trời đêm Võ Phiến chỉ có “trăng sáng” thôi.(5)
“Thời gian ơi thời gian”
Võ Phiến nhìn không gian dửng dưng, nhưng nhìn thời gian lại với cảm xúc hết sức đậm đà.
Bắt đầu là thời gian “khoa học”. Võ Phiến chia xẻ với Chế Lan Viên chút tò mò, thích thú về diễn tiến khoa học. Trong thơ ông có phi thuyền:
“Sao khỏi nghĩ đến lúc đám người lưu lạc
Ðứng thơ thẩn ngõ sau, chợt nhớ về quả đất
Ðáp phi thuyền thăm lại cố hương
Thăm cái nghĩa địa lang thang
Mang đầy hài cốt của một loài sinh vật
hai chân mà bay mải miết
Trong cõi vô thủy vô chung mịt mù biền biệt
Ôi nghìn sau, biết mấy bùi ngùi.” (1992)
có tuổi của nhân loại:
“Hai triệu năm rồi đứng mỏi lưng
Nhìn quanh lạc lõng giữa mông lung
Nghĩa đời tám hướng tìm đâu thấy
Cuối mắt đen ngòm lỗ huyệt không.” (1994)
Nhân loại hai triệu năm rồi vẫn còn đây, nhưng từng con người thì bất quá chỉ độ trăm năm là phải “về”. Về đâu không biết, chỉ biết có người về đó xong lại muốn trở về trái đất! Như Chế Lan Viên. Và như Võ Phiến.
Võ Phiến tưởng tượng lắm cách thăm lại trần gian. Có khi ông làm “con ó lượn từng không”, làm “con nhện nước trật trờ mặt ao”, làm “gió lao xao đùa giỡn với hàng rào tre”, làm “con tu hú tưng bừng vui cây vui nắng” v.v. Có khi ông là trời:
“Có khi vào buổi nắng hanh
Ta là một mảnh trời xanh năm nào...”(3) (1993)
“... năm nào...” Năm nào... Cảm xúc thời gian đấy.
“Năm nào...” Năm nào...
Cảm xúc thời gian đang đòi tràn ngập không gian đấy!
Thời gian, có lẽ những lúc lâm trọng bệnh là lúc con người ta dễ “cảm” nó nhất. “Ở bệnh viện một lần qua cơn nguy kịch”, Võ Phiến chợt “nghe”:
“Tưởng chừng như nắng vừa cất tiếng cười.
Một tia nắng xinh, ngập tràn hạnh phúc,
Giữa thinh không bỗng chốc reo vui?
Tôi ngẩng nhìn quanh
Trên lá cành thao thiết trời xanh.” (1992)
Dĩ nhiên nắng không biết cười. Vừa cất tiếng, ấy là một niềm vui xưa cũ, thuở có “em”. “Thao thiết trời xanh”, hay chính “thao thiết thời gian”!
Vẫn cái tia nắng, vào dịp khác:
“Như tia nắng lọt qua khe vách
Qua khe hở một thập niên xa
Có đôi ánh mắt còn thiết tha
Gửi đến ngày nay tia nhấp nháy.” (1993)
Thời gian cũng có khe hở!
Cố nhìn qua khe thời gian, ta có thể thấy... chính ta:
“Chợt nhớ về cặp Anh-Em buổi ấy
Em hỏi, bâng khuâng: Họ ở đâu rồi?
Tôi giật mình, bối rối, bồi hồi...
Cái nắng trưa bỗng thơm mùi gần gũi
Bao nồng nàn xưa bỗng chờn vờn theo
                                               câu em hỏi
Loáng thoáng đâu đây hơi hướng thịt da.” (1993)
Võ Phiến thường lui tới trong cái khung một đời người.
Ðời người với thời gian, khác nào “cơ thể nhỏ” với “cơ thể lớn”.
Huy Cận ngắm một bầy ong “trại” mà thấm cái lạnh của Bao La. Còn Võ Phiến ôn lại một xác đời ngắn ngủi mà cảm nhận cái hững hờ của Dằng Dặc:
“Ngẩng mặt, mây bay trời bát ngát
Ta vỗ lên cái thi thể sắp lạnh của
                           một đời người mà hát:
Thời gian ơi thời gian.” (1993)
Võ Phiến có những cách hình dung thời gian thật kỳ lạ, chẳng hạn khi ông tả một buổi chiều:
“Vào những ngày đông, hoặc có hôm, tách cà-phê mới khuấy đường xong, tôi cầm trọn vào lòng bàn tay để hưởng hơi ấm, một lát, sắp sửa đưa lên môi, tình cờ ngẩng đầu, bắt gặp nó ngay ngoài khung cửa. Nó là buổi chiều.
Bên ngoài cửa, cành cây, lá cây, cây cao, cây thấp, bờ rào, vách tường v.v. tất cả phăng phắc. Trời thì xám ngoét một khung. Xám như tro.
Buổi chiều chợt dừng lại trước cửa, trong một chờ đợi lặng lẽ. Tôi giữ tách cà-phê trong tay, ngần ngại (...)
Hoặc có hôm, một mình, ngồi nhai mấy hột lạc rang, tay vói về phía ly bia, chợt trông thấy... (...) Khung trời xám tro bất động, vô cảm, đăm đăm hướng vào tôi (...)
Mùa đông, nhiều hôm, buổi chiều dừng lại trước cửa, im lặng đợi chờ.”(1999)
Lại có lần ông viết thế này, về một “lên đường” kỳ dị nào đó:
“Bấy giờ vào cuối mùa đông. Ðã hơn bốn giờ chiều. Ðang cắm cúi xuống trang giấy, đột nhiên cảm thấy xung quanh có gì đổi khác. Như thể sịch một cái con tàu vừa ngừng lại trước sân ga. Như thể vụt cái một đàn sáo vùng bay tung lên trời. Như thể cả buổi chiều vừa đột ngột đổi hướng. Có gì xảy ra mà tôi không được thông báo.
Tôi bỏ bút, mở cửa bước ra hiên sau, ngơ ngác. Quả nhiên. Lệnh đã ban hành (...) Không một chiếc lá nào còn tiếp tục rơi (...) Trên con đường đèo cuối tầm mắt (...) một chiếc xe màu đen lẩn lút trốn nhanh, không một tiếng động. Trên sợi dây điện bên nhà, con sóc cuối cùng vội vã phóng chạy bay biến, thoắt cái mất tiêu.
Chậm trễ hơn cả là lũ quạ, chúng cũng đang hối hả rút lui. Quạ vừa kêu vừa xô nhau bay hoảng loạn tít tận cuối xóm. Quạ kêu gấp gấp, đi ngay đi ngay. Tiếng quạ đã xa: “À. Thế à? Thế à? À, à, à...” Quạ kêu xa nữa “À, à... Á, á, á...” Quạ xa thêm nữa “Á, á, á...”.
Thôi, hết. Cả xóm trống rỗng hoàn toàn. Tất cả đã lên đường. Giữa sân cỏ, vạt nắng cuối cùng nhợt nhạt, mỏng dính, teo tóp dần, vô phương cứu vãn.
Sự còn lại mình tôi hoặc là một sơ sót, một lầm lẫn chăng? Tôi sợ hãi, nhẹ bước lén lút rút lui vào nhà, rón rén khép cánh cửa. Nén thở, trông ra cái trống rỗng bao la sau cuộc lên đường. Tôi run rẩy cài cửa, ngăn chận Mênh Mông.” (1994)
Chận làm sao được, đến quạ cũng đã “lên đường” rồi, tôi từ đây đành một mình trong Mênh Mông, và trong Dằng Dặc!
“Rồi cũng bỏ qua thôi”...
Huy Cận cảm khôn nguôi về không gian.
Võ Phiến cảm cũng khôn nguôi về thời gian.
Thời gian là gì?
Nhiều người nghĩ đó là một ý niệm do không gian liên tục thay đổi mà nẩy sinh trong óc con người.
Vũ trụ uy nghi đây, nhưng vũ trụ không tĩnh mà động, và chính bản thân cái động của vũ trụ nó cũng uy nghi. Trong cái Lớn Vô Cùng Vô Tận chẳng có vật gì đáng kể. Mà trong cái Dài Vô Thủy Vô Chung cũng chẳng có việc gì không thể “bỏ qua”:
“Vũ trụ thiền hành tiết điều hơi thở
Vũ trụ mỉm cười tiến lên thong thả
Vũ trụ vận hành êm ả thảnh thơi
Chuyện gì rồi cũng bỏ qua thôi.” (1993)
Bỏ qua tất cả rồi, thế nhưng cái “mảnh linh hồn” ấy tuy “lang thang đâu đó ngoài vô tận” vẫn cứ tha thiết nhớ chút “thịt da” có lần đã gặp.
Ví dụ tái ngộ với da thịt (dĩ nhiên khác), lại làm người, hồn có cảm nghe y như kiếp trước chăng, có “thời gian ơi thời gian” như trước nữa chăng?
(1) Chế Lan Viên “khóc” ma Chàm và Huy Cận “than” Buồn Ðêm Mưa.
(2) Thơ Võ Phiến một số đã in vào tập Thơ thẩn (An Tiêm, Paris, 1997).
(3) Truyện Kiều: “Trăm năm trong cõi người ta”.
(4) Xem bài “Huy Cận - Cảm xúc vũ trụ”. (TT)
(5) VP có tác phẩm nhan đề Ðêm Xuân Trăng Sáng.
Thu Tứ
Theo http://www.gocnhin.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Bình Ngô Đại Cáo Bản dịch của Ngô Tất Tố Thay trời hành hóa, hoàng thượng chiếu rằng, Từng nghe: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, ...